1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN_2

86 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Doanh nghiệp Nhà nước DNNN nói chung và “ DNNN hoạt động vì mục tiêu công ích gọi tắt là doanh nghiệp công ích - DNCI hoạt động theo các chính sách xã hội của

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này được viết và hoàn thành sau một thời gian nghiên cứu nghiêm túc của tôi Kết quả nghiên cứu này chưa từng được bất kỳ cá nhân nào công bố trước đó

Tất cả các số liệu dẫn chứng, kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn chính xác và trung thực Những thông tin tham khảo được thể hiện rõ nguồn gốc và khách quan

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm với kết quả nghiên cứu này

Hải Phòng, ngày 12 tháng 02 năm 2016

Trang 2

Hải Phòng, ngày 12 tháng 02 năm 2016

Tác giả

Cao Thị Hương

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vii

LỜI MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH 12

1.1 Cơ sở lý luận về doanh nghiệp công ích 12

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp công ích 12

1.1.2 Sự hình thành vị trí vai trò của doanh nghiệp công ích 12

1.1.3 Bản chất và tính đặc thù của doanh nghiệp công ích 15

1.1.4 Sản phẩm dịch vụ công ích 16

1.1.5 Hàng hóa công cộng ( HHCC) 17

1.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của DNCI 22

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và DNCI nói riêng 22

1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh 22

1.3.2 Về chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của DNCI: 24

1.3.3 Phương pháp thực hiện đánh giá hiệu quả hoạt động DNCI 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HẢI PHÒNG 27 2.1 Giới thiệu chung 27

2.1.1 Tên, địa chỉ, phạm vi hoạt động, lịch sử hình thành phát triển của Công ty 27

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty 30

2.1.3 Chức năng nhiệm vụ của Công ty 38

2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất - kinh doanh của Công ty 39

2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011 - 2015 40

2.2.1 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của Công ty năm 2011 - 2015 40

2.2.2 Đánh giá tình hình thực hiện khối lượng phục vụ của Công ty giai đoạn 2011- 2015 42

2.2.3 Đánh giá tình trạng phương tiện thiết bị phục vụ công tác thu gom vận chuyển và xử lý rác thải 43 luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 3 of 95.

Trang 4

2.2.4 Đánh giá tình hình kinh phí hoạt động theo định mức chuyên ngành của Công ty

giai đoạn 2011-2015 44

2.2.5 Đánh giá tình hình thực hiện lao động - tiền lương giai đoạn 2011-2015 47

2.3 Đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính và hiệu quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011-2015 49

2.3.1 Đánh giá thu chi tài chính của Công ty giai đoạn 2011-2015 49

2.3.2 Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp của Công ty giai đoạn 2011-2015 51

2.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của Công ty đoạn 2011-2015 53

2.3.4 Đánh giá tình hình thực hiệu các dự án của Công ty đoạn 2011-2015 55

2.4 Đánh giá kết quả giám sát tài chính và xếp loại doanh nghiệp của Công ty 58

2.5 Đánh giá chung kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 60

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HẢI PHÒNG 64

3.1 Tiêu chí của biện pháp nâng cao hiệu quả 64

3.2 Mục tiêu mong muốn 66

3.3 Định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới 67

3.3.1 Phương hướng chung của ngành Môi trường Việt Nam 67

3.3.2 Phương hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới 68

3.4 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo vệ sinh môi trường của Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hải Phòng 69

3.4.1 Nhóm biện pháp về kỹ thuật 69

3.4.2 Nhóm biện pháp về xã hội 73

3.4.3 Nhóm biện pháp về tài chính 75

3.2.4 Nhóm biện pháp về con người 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 5 of 95.

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh 23

2.4 Bảng nguồn vốn sự nghiệp theo khối lƣợng công việc đƣợc

2.5 Bảng tính toán lao động theo định mức chuyên ngành của bộ

2.7 Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp của công ty

3.2 Những chỉ têu chủ yếu sau khi áp dụng các biện pháp nâng

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 Cơ cấu lao đô ̣ng theo trình đô ̣ năm 2015 48 2.2 Tình hình tăng giảm lao động qua các năm 48 2.3 Biểu đồ lương bình quân lao đô ̣ng 49

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 7 of 95.

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) nói chung và “ DNNN hoạt động vì mục tiêu công ích (gọi tắt là doanh nghiệp công ích - DNCI) hoạt động theo các chính sách xã hội của nhà nước phục vụ cho lợi ích trực tiếp của toàn xã hội hay lợi ích công cộng như: Cung ứng hàng hóa công cộng (HHCC) theo kế hoạch hay đơn đặt hàng của nhà nước như các hàng hóa về quốc phòng, an ninh, y tế công cộng

và văn hóa Mặc dù nhóm hàng hóa công cộng được coi là hàng hóa đặc biệt này chiếm tỷ trọng không lớn trong nền kinh tế nhưng có vai trò quan trọng và tính đặc thù của nó đối với nền kinh tế”

“Vấn đề hiệu quả của DNNN là đặc biệt quan trọng, vì đã là doanh nghiệp kinh doanh đương nhiên phải có hiệu quả thì mới tồn tại, phát triển Việc xem xét, đánh giá hiệu quả của DNNN cần có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đó lấy lợi suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của DNCI” Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển của cả nước, thành phố Hải Phòng cũng đạt được những thành tựu vô cùng to lớn “Là thành phố cảng biển quốc tế, đô thị loại 1 trung tâm Quốc gia, cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc, cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Hải Phòng đang trên đà phát triển mạnh từng bước trở thành một trong những trung tâm công nghiệp, thương mại dịch vụ và du lịch của cả nước, diện mạo thành phố thay đổi từng ngày Sự tập trung cao các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ nảy sinh các nguy cơ đối với môi trường sống của Thành phố”

Là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, do UBND Thành phố làm chủ sở hữu, Công ty TNHH MTV Môi Trường Đô Thị Hải Phòng đã khẳng định rõ vị trí chức năng nhiệm vụ quan trọng của mình trong công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải đảm bảo vệ sinh môi trường

Với đặc thù là doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực công ích không vì mục tiêu lợi

Trang 9

nhuận nên các tiêu chí về hiệu quả sản xuất kinh doanh được tính bằng chất lượng phục vụ, nâng cao hiệu quả quản lý chất thải trên địa bàn thành phố, đây cũng

chính là lý do tôi chọn thực hiện đề tài: “Biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Một thành viên Môi trường Đô thị Hải Phòng” làm cơ sở để đề xuất các biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề liên

quan đến công tác đảm bảo vệ sinh môi trường đô thị hiện nay của thành phố Hải Phòng

2 Mục đích đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đề tài được đưa ra nghiên cứu nhằm thực hiện các mục đích sau:

- Hệ thống hoá những vấn đề cở sở lý luận cơ bản về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp công ích

- Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, cho thấy được những thuận lợi, khó khăn, hạn chế từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác vệ sinh môi trường

- Đưa ra một số biện pháp cụ thể để áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả đảm bảo

vệ sinh môi trường và nâng cao đời sống cho người lao động trong Công ty

* Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi hoạt động thu gom vận

chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn thành phố tại Công ty TNHH MTV Môi Trường Đô Thị Hải Phòng Trong đó luận văn tập trung nghiên cứu về biện pháp nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo vệ sinh môi trường giai đoạn 2011 – 2015

3 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Nhằm thu thập thông tin đầy đủ về đảm bảo hiệu quả công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố Việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn đô thị hiện nay đã được thực hiện trên địa bàn thành phố nhưng chưa thật sự có hiệu quả cao Trong đó vấn đề đô thị hóa sẽ kéo theo nhiều nhu cầu sống, gia tăng dân số kéo theo nhu cầu đất ở, gia tăng khối lượng sản phẩm cũng như nảy sinh nhiều vấn

đề ô nhiễm môi trường, vấn đề chính là rác thải ngày càng nhiều Vì vậy cần nêu hiện trạng quản lý chất thải rắn đô thị tại Hải Phòng để đảm bảo lượng chất thải luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 9 of 95.

Trang 10

rắn được thu gom một cách triệt để và giữ gìn vệ sinh công cộng, đem lại nguồn nguyên liệu tái chế, tái sử dụng rác hiệu quả góp phần đem lại mỹ quan đô thị cho thành phố nói riêng và lợi ích môi trường nói chung

* Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trong khuôn khổ điều kiện và thời gian cho phép, tôi đã chọn phương pháp thích hợp với các nguồn lực hỗ trợ sau:

Thu thập và chọn lọc các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại thành phố Hải Phòng Thu thập tư liệu về hiện trạng môi trường đô thị (lượng phát sinh, thu gom, vận chuyển, xử lý)

Phương pháp thống kê số liệu, nhằm tổng hợp tất cả các số liệu thu thập được, chỉnh lý, thống kê lại và lập bảng biểu sơ đồ cần thiết

Phương pháp phân tích tổng hợp, kết hợp tất cả các số liệu thu được và phân tích mối quan hệ giữa chúng, từ đó thấy được vấn đề cần quan tâm và giải quyết trong giai đoạn hiện nay

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

* Ý nghĩa khoa học

Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản, cơ sở lý luận về hiệu quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp công ích Góp phần làm cơ sở lý luận chung cho việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV Môi Trường Đô Thị Hải Phòng nói chung và các doanh nghiệp cùng ngành nói riêng

* Ý nghĩa thực tiễn

Qua phân tích và đánh giá tìm ra được những khó khăn hạn chế, từ đó đưa ra những biện pháp nâng cao công tác vệ sinh môi trường của Công ty, góp phần xây dựng đô thị Hải Phòng ngày càng xanh, sạch, đẹp và văn minh, khẳng định vị thế của Công ty trong quá trình hội nhập và phát triển của thành phố thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

5 Kết cấu của luận văn

Để hoàn thành các vần đề nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo kết cấu luận văn được chia làm 3 chương:

Trang 11

Chương 1: Cơ sở lý luận về Doanh nghiệp công ích và hiệu quả sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp công ích Chương 2: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV Môi

trường Đô thị Hải Phòng Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công

ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hải Phòng luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 11 of 95.

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH

CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH

1.1 Cơ sở lý luận về doanh nghiệp công ích

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp công ích

Tại Nghị định số: 56/CP ngày 2/10/1996 của Chính phủ, DNCI được quan niệm như sau: “DNNN hoạt động công ích là DNNN độc lập hoặc DNNN là thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm

vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận”

1.1.2 Sự hình thành vị trí vai trò của doanh nghiệp công ích

1.1.2.1 Sự hình thành doanh nghiệp công ích

Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tính chất bao cấp nặng nề và tràn lan,

do đó chưa có sự phân biệt DNNN hoạt động công ích và DNNN hoạt động kinh doanh Từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp Nhà nước ngày 20/4/1995, Nhà nước

đã phân DNNN thành hai loại: DNCI và DNNN hoạt động kinh doanh Trên cơ

sở Luật DNNN, Chính phủ đã ban hành Nghị định 56/CP ngày 2/10/1996 xác định cơ chế quản lý đối với DNCI Như vậy từ năm 1995 ở Việt Nam mới có khái niệm DNCI và DNCI được thừa nhận về mặt pháp lý, nhưng trên thực tế trước năm 1995 đã có nhiều DNNN hoạt động với tính chất là DNCI

Nhìn chung các DNCI ra đời là phù hợp và thực hiện được mục đích thành lập, hoàn thành được nhiệm vụ kế hoạch hoặc đơn đặt hàng của Nhà nước, góp phần phục vụ đời sống và phục vụ quốc phòng, an ninh quốc gia Chất lượng sản phẩm và dịch vụ của nhiều DNCI có tiến bộ, phục vụ tốt khách hàng và phần lớn các DNCI có lãi Cơ cấu lĩnh vực hoạt động công ích ở nước ta hiện nay: lĩnh vực giao thông công chính chiếm 16%; lĩnh vực quản lý, khai thác, duy tu đường, dịch vụ giao thông vận tải chiếm 20%; lĩnh vực khai thác công trình thủy lợi

Trang 13

chiếm 20%; giống cây trồng 20%; phục vụ quốc phòng an ninh 14%; còn lại 10% thuộc các lĩnh vực khác

1.1.2.2 Vị trí của doanh nghiệp công ích

Ở Việt Nam, trong cơ chế tập trung bao cấp thời kỳ trước, kinh tế Nhà nước được xác định giữ vai trò chủ đạo nhưng với nghĩa là kinh tế Nhà nước phải chiếm

tỷ trọng lớn cả về số lượng và giá trị trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Với cách hiểu như vậy, DNNN với tư cách là một bộ phận cấu thành quan trọng của kinh tế Nhà nước phát triển tràn lan trên mọi ngành nghề và lĩnh vực mà không chú ý tới hiệu quả hoạt động từ đó trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nước

Ngoài những lĩnh vực then chốt, DNCI đảm đương những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư kinh doanh Mặc dù vậy, những lĩnh vực mà DNCI nắm không phải cố định mà thay đổi linh hoạt, khi các thành phần kinh tế khác chưa sẵn sàng đầu tư kinh doanh vào những lĩnh vực cần thiết đối với sự phát triển kinh tế thì Nhà nước mở đường bằng cách thành lập các DNCI, khi vai trò mở đường này không còn thì có những biện pháp chuyển đổi chức năng và hình thức sở hữu thích hợp

Như vậy, DNCI cùng các cơ quan hành chính Nhà nước và một số cá nhân,

tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác hợp thành hệ thống các tổ chức cung cấp các HHCC cho xã hội, hệ thống này phục vụ những nhu cầu chung của xã hội, đảm bảo cho mọi mọi hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra thông suốt và an toàn Nhưng DNCI không chỉ cung cấp các HHCC mà còn cung cấp cả những hàng hóa cá nhân mà khu vực tư nhân không muốn hoặc không được kinh doanh Do vậy, xét toàn diện hơn DNCI cùng với các DNNN hoạt động kinh doanh hợp thành

hệ thống các DNNN, các doanh nghiệp này vừa thực hiện chức năng kinh tế vừa thực hiện chức năng xã hội theo nhiệm vụ được Nhà nước giao Hệ thống DNNN đến lượt nó lại cùng các tổ chức kinh tế phi doanh nghiệp của Nhà nước như dự trữ quốc gia, ngân hàng Nhà nước, kho bạc Nhà nước hợp thành hệ thống kinh tế Nhà nước, đây là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước điều tiết kinh tế - xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, công bằng và ổn định

luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 13 of 95.

Trang 14

1.1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp công ích

Vai trò của hệ thống DNNN gắn liền với việc tham gia vào hoạt động kinh tế của Nhà nước Vai trò này thể hiện trên 3 khía cạnh: kinh tế, chính trị và xã hội

Như chúng ta đều biết: "chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế" Nền chính trị

của Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo nhằm đưa nước ta tiến lên Chủ nghĩa

Xã hội, thực hiện "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Các doanh nghiệp ở nước ta, trước hết là DNNN cũng phải phục vụ cho nhiệm

vụ này

Thời kỳ từ năm 1990 đến nay, đất nước ta phải đối mặt với những khó khăn gay gắt, có những năm trong tình thế hiểm nghèo Đầu những năm 90, mặc dù gặp phải hoàn cảnh hết sức khó khăn khắc nghiệt như: Mô hình Xã hội Chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ; Mỹ thực hiện chính sách bao vây cấm vận; khủng hoảng kinh tế - tài chính khu vực năm 1997 - 1998 tác động mạnh; thiên tai liên tiếp xảy ra; việc chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa có những thời cơ, thuận lợi mới và cả những thách thức, khó khăn song với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân chúng ta vẫn đạt được những thành tựu to lớn Các DNCI bước đầu đảm bảo cung ứng những sản phẩm dịch vụ quan trọng theo kế hoạch của Nhà nước giao, giải quyết được nhu cầu thiết yếu về HHCC Những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa của đất nước ngày càng nhanh, phát sinh nhiều vấn đề phải giải quyết như: Xây dựng và quản lý các dịch vụ công cộng, vệ sinh đô thị, duy tu bảo dưỡng cơ

sở hạ tầng… Chính các DNCI là phương tiện chủ lực của Nhà nước để giải quyết các vấn đề này đáp ứng phục vụ ngày càng tốt hơn cho cuộc sống xã hội

Các DNCI đã có nhiều đóng góp tạo tiền đề thúc đẩy nền kinh tế phát triển: thu nộp ngân sách, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên ở các doanh nghiệp, tạo thêm việc làm cho người lao động Cơ cấu tài sản của DNCI cũng phát triển theo hướng tích cực, giá trị tài sản cố định phục vụ cho các hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp được tăng lên Hiệu quả sử dụng đồng vốn của các DNCI được tăng lên Số DNCI làm ăn thua lỗ có xu hướng giảm dần

Trang 15

1.1.3 Bản chất và tính đặc thù của doanh nghiệp công ích

1.1.3.1 Bản chất của doanh nghiệp công ích

DNNN nói chung, DNCI nói riêng cũng có những đặc trưng về kinh tế và pháp lý như các loại hình doanh nghiệp khác: Là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân (được thành lập một cách hợp pháp, có tài sản riêng và chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản đó, có quyền quyết định độc lập về các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, có quyền nhân danh mình trong các quan hệ pháp luật) đảm nhận việc sản xuất, cung ứng, tiêu thụ và trao đổi hàng hóa trên thị trường Trên tư cách là một DNNN, DNCI là doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư vốn, tổ chức quản lý và kiểm soát, hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận Nhưng chính mục tiêu hoạt động là đặc trưng quan trọng nhất thể hiện bản chất của nó Ở nước ta DNCI nhằm mục đích phục vụ ngày càng tốt hơn những nhu cầu về HHCC, dịch vụ công cộng của mọi thành viên trong xã hội

1.1.3.2 Tính đặc thù của DNCI được quy định bởi những lý do sau:

Thứ nhất: Trong cơ cấu hàng hóa, có một bộ phận hàng hóa cá nhân với tính chất đặc thù của loại hàng hóa này là tính cạnh tranh và tính loại trừ Một bộ phận hàng hóa khác không thể do thị trường cung cấp vì nhiều lý do hoặc nếu thị trường cung cấp thì cũng không đủ số lượng và không đáp ứng yêu cầu, hoặc thị trường không muốn cung cấp, đó là HHCC J.E.Stiglitz (người Mỹ, từng được giải Nôbel về Kinh tế năm 2001) cho rằng, HHCC có hai đặc tính quan trọng là:

"Thứ nhất, chúng không bắt cá nhân nào phải trả thêm tiền khi hưởng lợi HHCC hay chi phí cận biên bằng 0 khi tăng lên một đơn vị cá nhân sử dụng Thứ hai, nói chung thật là khó hoặc không thể không cho các cá nhân hưởng lợi từ HHCC" Với đặc điểm trên, thị trường không cung cấp hoặc không thể cung cấp

HHCC vì chi phí quá lớn, thu hồi vốn chậm hoặc khó thu hồi Có những lĩnh vực, HHCC có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng nếu để thị trường đầu tư thì các doanh nghiệp tư nhân không thấy hết tầm quan trọng của hàng hóa

mà trước hết là tính đến mục tiêu lợi nhuận Nếu chỉ tính đến lợi nhuận sau khi

bỏ vốn đầu tư sẽ không bảo đảm mục tiêu sử dụng HHCC của Nhà nước Và với đặc điểm chi phí bằng 0 khi tăng thêm một đơn vị người sử dụng thì Nhà nước luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 15 of 95.

Trang 16

cung cấp loại hàng hóa này tốt hơn tư nhân Điểm tốt hơn ở đây không chỉ ở chỗ Nhà nước đóng vai trò trong việc phân phối HHCC mà vì nếu tư nhân đầu tư thì

họ sẽ thu tiền tăng thêm khi tăng thêm một cá nhân sử dụng, như vậy người tiêu dùng sẽ không muốn sử dụng hàng hóa này dẫn tới tình trạng HHCC được sử dụng dưới mức trung bình

Thứ hai: N hững lĩnh vực mà khu vực tư nhân không muốn, không thể hay không được cung ứng Những hàng hóa mà cá nhân không muốn cung ứng

vì độ rủi ro cao (như chuyển muối lên vùng cao) và tính phi lợi nhuận của nó; có những hàng hóa tư nhân không thể làm được vì không đủ vốn hay trình độ công nghệ quá cao đối với một doanh nghiệp (điển hình như các công trình lớn thuộc kết cấu hạ tầng kỹ thuật) hay những hàng hóa mà tư nhân không được tham gia do pháp luật quy định đối với lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt đến sự

ổn định, trật tự an toàn xã hội

1.1.4 Sản phẩm dịch vụ công ích

“Hiện nay, theo quan niệm mới tại Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ cho rằng: SP, DVCI là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc đảm bảo quốc phòng, an ninh mà việc sản xuất, cung cấp theo cơ chế thị trường thì khó có khả năng bù đắp chi phí đối với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ này; do đó được Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định”[1]

Đối với DNCI, trước đây do chưa xác định rõ tiêu chí DNNN hoạt động công ích và sản phẩm, dịch vụ công ích đã dẫn đến tình trạng mở rộng quá nhiều danh mục (có tới 30 nhóm sản phẩm dịch vụ thuộc loại sản phẩm, dịch vụ công ích), được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, làm cho số DNNN làm nhiệm vụ công ích phát triển tràn lan Hơn nữa, do không phân biệt việc cung ứng các SP, DVCI với xếp loại doanh nghiệp làm nhiệm vụ công ích nên doanh nghiệp làm nhiệm vụ công ích được bao cấp khá nhiều so với DNNN làm nhiệm vụ kinh doanh Khắc phục tình trạng trên, Nghị định số: 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ đã quy định rõ danh mục Sản phẩm, dịch vụ công ích Danh mục

Trang 17

này không cố định mà căn cứ vào tình hình thực tế, có thể điều chỉnh cho phù

hợp Ngoài phụ lục kèm theo, Nghị định còn quy định rõ: "trong từng thời kỳ, Bộ

Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc sửa đổi, bổ sung danh mục sản phẩm, dịch vụ công ích " Danh mục được chia làm ba loại theo thứ tự A, B, C; trong đó quy định

rõ các phương thức cung ứng SP, DVCI và nguyên tắc lựa chọn

1.1.5 Hàng hóa công cộng ( HHCC)

1.1.5.1 Quan niệm về HHCC ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay:

Trong những năm đổi mới, thuật ngữ HHCC đã dần dần được sử dụng và hiện nay trở thành khái niệm tương đối thông dụng trong nghiên cứu khoa học và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, đến nay vấn đề này vẫn khá mới mẻ và nhiều điểm chưa thống nhất cả về lý thuyết cũng như thực tế

Có hai góc độ tiếp cận về HHCC ở Việt Nam: góc độ thuần túy lý thuyết và góc độ chính sách - cơ chế quản lý Hai góc độ tiếp cận này phát triển song hành từ đầu thập kỷ 90 và ngày càng hoàn thiện cùng với sự phát triển của công cuộc cải cách

- đổi mới tư duy kinh tế và sự xâm nhập, phát triển các quan niệm kinh tế thị trường Hai góc độ tiếp cận này không mâu thuẫn nhau mà bổ sung cho nhau Với góc độ tiếp cận lý thuyết, giáo trình Kinh tế công cộng Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và sách tham khảo của Học viện Hành chính quốc gia: HHCC được

xem xét như một đối tượng của quản lý khu vực công cộng Coi "HHCC là những loại hàng hóa mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó" Các

định nghĩa, đặc điểm, nguyên lý cơ chế quản lý và tổ chức sản xuất đều tham khảo kế thừa các tài liệu nước ngoài Do vậy, có đủ căn cứ để kết luận rằng, quan niệm về HHCC dưới góc độ lý thuyết ở nước ta hầu như nhất trí hoàn toàn với quan niệm của kinh tế học hiện đại của thế giới

Dưới góc độ chính sách - cơ chế quản lý, quan niệm về HHCC được phát triển xuất phát từ nhu cầu tổ chức lại và đổi mới cơ chế quản lý đối với các doanh nghiệp chuyên cung ứng HHCC (các DNCI) đã và đang tồn tại trong nền kinh tế từ thời bao cấp Do vậy, bản thân tên gọi cũng sử dụng thuật ngữ có luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 17 of 95.

Trang 18

tính kế thừa Các dịch vụ quốc phòng, an ninh và các hàng hóa chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh mặc dù không được xếp vào nhóm HHCC nhưng các doanh nghiệp cung ứng chúng được coi là DNCI và có quy chế quản lý giống như đối với HHCC Như vậy có thể thấy, dưới góc độ chính sách, quan niệm về HHCC ở Việt Nam hiện nay vừa rộng hơn vừa hẹp hơn so với quan niệm lý thuyết về HHCC trên thế giới

Có nhiều cách quan niệm khác nhau về HHCC: Một số ý kiến cho rằng HHCC là loại hàng hóa được cung cấp mà người tiêu dùng nó không phải trực tiếp trả tiền Một số ý kiến khác lại cho rằng dịch vụ công là mọi hoạt động thực thi các chức năng của Nhà nước, bao gồm cả chức năng cai trị của bộ máy Nhà nước đối với xã hội và chức năng cung cấp các hàng hóa và dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu của công dân còn HHCC chỉ là một bộ phận của dịch vụ công, HHCC xét theo nghĩa này chỉ gồm những hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho những nhu cầu tối cần thiết của cộng đồng, do các tổ chức của Nhà nước hoặc các chủ thể được Nhà nước ủy quyền và tài trợ đứng ra cung cấp, không bao gồm các hoạt động mang chức năng cai trị Mặc dù vậy, trước xu hướng hiện nay

là thu hẹp dần phạm vi của các loại hàng hóa và dịch vụ không phải trực tiếp trả tiền, quan niệm về HHCC như cách thứ nhất không phản ánh được đầy đủ tính sâu sắc của khái niệm HHCC

Thuật ngữ HHCC theo cách quan niệm thứ hai và được xem xét trên khía cạnh những thuộc tính cơ bản của nó: tính không kình địch và tính không loại trừ Đây là những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội, đảm bảo lợi ích chung của cả cộng đồng HHCC được chia làm các loại:

- Nhóm HHCC thuần túy: những hàng hóa và dịch vụ không thể chia nhỏ và

không thể quy định mức độ sử dụng đối với các đối tượng khác nhau Nói cách khác đó là các hàng hóa và dịch vụ mà nếu thêm một người sử dụng thì không ảnh hưởng đến việc người khác sử dụng (tính không kình địch) và khi chúng được sản xuất ra không thể ngăn cấm ai đó muốn tiêu dùng (tính không loại trừ) Các HHCC thuần túy điển hình: hệ thống đê điều phòng chống lụt bão, hệ thống các

Trang 19

biển báo đường sông, đường biển, đường bộ, hệ thống vệ sinh môi trường và cảnh quan đô thị, hệ thống các phát minh khoa học Loại HHCC này rất khó có thể tính toán các chi phí để sản xuất ra đồng thời cũng không thể phân bổ lượng tiêu thụ

cụ thể cho mỗi thành viên của xã hội (hội việc một ai đó sẽ hưởng bao nhiêu hàng hóa chiếu sáng công cộng), từ đó cũng không thể định giá cho người sử dụng (ai

sử dụng nhiều thì phải trả nhiều tiền)

- Nhóm các HHCC không thuần túy: nhóm này mang những thuộc tính

gần giống HHCC thuần túy nhưng ở mức độ khác Một số loại không thể loại trừ nhưng việc một người sử dụng có thể ảnh hưởng đến người khác Ví dụ như trong dịch vụ cấp giấy phép, mọi công dân đều có quyền đòi hỏi được cung cấp nhưng

do năng lực có hạn, cơ quan có trách nhiệm chỉ có thể làm việc với từng người một nên nó có phần nào tính kình địch Một số loại khác không có tính kình địch nhưng lại có thể loại trừ nhưng trên thực tế việc loại trừ rất tốn kém và không đáng để loại trừ Như với một cây cầu mọi người có thể đi qua mà không ảnh hưởng tới việc cũng đi qua cầu của người khác và hoàn toàn có thể tiến hành thu phí qua cầu nhưng để thu được một khoản lệ phí nào đó lại phải bỏ ra những khoản chi phí lớn hơn nhiều Hay như trong giáo dục bậc tiểu học và chăm sóc sức khỏe có thể loại trừ nhưng để tạo ra sự công bằng tối thiểu cho các công dân Nhà nước không muốn loại trừ

1.1.5.2 Về mô hình tổ chức, cung cấp các hàng hóa công cộng

Trên cơ sở tiêu chí phân định HHCC, xác định các mô hình tổ chức quản lý sản xuất và cung cấp HHCC nhằm tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt được hiệu quả

xã hội cao đòi hỏi phải rất linh hoạt, xuất phát từ thực tế có nhiều cách tổ chức quản lý cụ thể như:

- Một là: Nhà nước trực tiếp cung cấp thông qua hoạt động của các cơ quan

Nhà nước, các DNCI Một số tổ chức nằm trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước hay các tổ chức sự nghiệp của Nhà nước đảm nhiệm cung cấp các dịch

vụ thuộc hạ tầng xã hội như giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cungMột số được tổ chức theo mô hình các doanh nghiệp cung cấp các loại hàng hóa và dịch vụ do luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 19 of 95.

Trang 20

Nhà nước đặt hàng hoặc giao kế hoạch thực hiện theo giá phí Nhà nước quy định, đây chính là các DNCI Có loại hình này là do quy trình cung cấp của một

số HHCC tương tự như quy trình cung cấp các hàng hóa và dịch vụ thông thường: nghĩa là đã có những quy định rõ về việc mỗi người phải làm, các đầu vào đầu ra

đã có quan hệ xác định, từ đó hoàn toàn có thể tính được chi phí và mở ra khả năng hoàn thành nhiệm vụ với chi phí thấp nhất Do vậy, nó phải được vận hành theo nguyên lý doanh nghiệp, hạch toán kinh doanh nhưng không phải với bất kỳ chi phí nào Bởi vậy các DNCI cung cấp các HHCC thường hoạt động trong các lĩnh vực thuộc hạ tầng kỹ thuật, chiếu sáng công cộng, vệ sinh môi trường, sửa chữa đường sá

- Hai là: Nhà nước không trực tiếp sản xuất, tùy theo khả năng và điều kiện cụ

thể, khu vực kinh tế tư nhân cũng có thể tham gia dưới các hình thức cơ bản như: trợ cấp cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp các HHCC theo đúng yêu cầu của Nhà nước: giá cả, chất lượng, đối tượng phục vụ đồng thời đảm bảo được lợi ích của các chủ thể cung cấp Thông qua đấu thầu ký hợp đồng với các chủ thể cung cấp, đây là hình thức Nhà nước mua lại các HHCC và giữ quyền kiểm soát thông qua hợp đồng Chuyển một số lĩnh vực sang cho khu vực tư nhân cung cấp trên cơ sở hạn chế độc quyền, thông qua quá trình cổ phần hóa, bán, cho thuê DNNN Khuyến khích và tạo điều kiện cho các cá nhân và tổ chức, đặc biệt là các tổ chức phi chính phủ hay các tổ chức từ thiện, tham gia cung cấp các HHCC trên cơ sở không vì lợi nhuận

Xét trên khía cạnh các hàng hóa cá nhân với tư cách là bộ phận nằm ngoài các HHCC nói trên, nghĩa là có cả hai đặc điểm kình địch và dễ loại trừ:

Nhóm những cá nhân có tính công cộng: những hàng hóa và dịch vụ này thường ít có tính kình địch nhưng có thể loại trừ và việc loại trừ là cần thiết do chi phí gia tăng khi thêm một người tiêu dùng là lớn như: điện, nước, viễn thông, khí đốt Đặc điểm của các ngành này là thường có lợi thế nhờ quy mô do đó dễ dẫn tới độc quyền, loại bỏ cạnh tranh gây tổn hại đến người tiêu dùng; mặt khác đây là những ngành có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế

Trang 21

của mỗi quốc gia Với loại hàng hóa này, Nhà nước thường nắm hoặc kiểm soát chặt chẽ việc cung cấp và nhằm hướng tới sự công bằng chỉ có thể đảm bảo cung cấp một lượng nhỏ như nhau cho tất cả mọi người (thông qua các dịch vụ giá rẻ) còn nếu muốn sử dụng nhiều hơn phải trả tiền nhưng nếu sử dụng ít hơn thì không được hoàn lại hay khấu trừ phần chưa sử dụng; hoặc áp dụng giá phí khác nhau đối với những vùng có mức sống chênh lệch Với mục tiêu xã hội này, việc thành lập các DNCI nhằm cung cấp một phần các hàng hóa dịch vụ nói trên là phù hợp

Có nhiều địa bàn khu vực tư nhân không muốn cung cấp do sức mua quá thấp hoặc chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, ví dụ như cung cấp các hàng hóa cho vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo (ở Việt Nam có các chương trình cung cấp muối I-ốt, thuốc chữa bệnh, dầu hỏa, giấy viết cho đồng bào dân tộc) Để đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng và thiết lập công bằng xã hội DNCI là tổ chức thích hợp để đảm đương nhiệm vụ này

Một số loại hàng hóa khác Nhà nước không muốn khu vực tư nhân tham gia cung cấp do chúng có tính hai mặt: lợi và hại, trong đó cái hại đặc biệt nguy hiểm: sản xuất các chất độc, chất cháy, vũ khí, các loại thuốc bào chế từ các loại ma túy Việc Nhà nước nắm lấy độc quyền cung cấp là cần thiết nhưng không thể kinh doanh vì lợi nhuận, do vậy hình thức DNCI sẽ là sự lựa chọn hợp lý

Ngoài ra, DNCI còn đảm nhận các lĩnh vực hoạt động có tính chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: cung cấp các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, đặc biệt là trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật: giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch, thoát nước, chiếu sáng công cộng, bưu chính viễn thông; kết cấu hạ tầng xã hội: giáo dục, y tế, công viên - cây xanh - vườn thú, môi trường đô thị, nghiên cứu khoa học cơ bản và trong lĩnh vực đảm bảo quốc phòng an ninh DNCI góp phần quan trọng khắc phục những khiếm khuyết của thị trường, … những ngành, lĩnh vực có độ rủi ro cao, đòi hỏi đầu tư lớn nhưng lại chậm thu hồi vốn, những ngành có lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên vốn thấp và đặc biệt là những ngành luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 21 of 95.

Trang 22

mà Nhà nước cấm Những ngành này mặc dù rất cần thiết và tạo điều kiện cho phát triển sản xuất nhưng các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư, hoặc không

đủ khả năng, chưa đủ điều kiện triển khai thì DNCI là bộ phận đảm đương nhiệm

vụ này tạo nên sự cân bằng cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho tái sản xuất được trôi chảy, góp phần đắc lực vào quá trình CNH, HĐH đất nước

1.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của DNCI

Nhằm đáp ứng những yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNCI, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Yêu cầu tạo lập cơ chế sử dụng tài sản sở hữu toàn dân có hiệu quả trên cơ sở gắn lợi ích, trách nhiệm của cá nhân người lao động và lãnh đạo doanh nghiệp với hiệu quả phục vụ cộng đồng Yêu cầu nâng cao hiệu quả vai trò chỉ đạo, điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường thông qua đặt hàng, đấu thầu cung cấp các SP, DVCI Yêu cầu xã hội hóa các SP, DVCI trên cơ sở sử dụng có hiệu quả ngân sách Nhà nước và huy động của các thành phần kinh tế tham gia cung cấp các SP, DVCI mà xã hội cần nhưng Nhà nước không cấm là những vấn đề cấp thiết đang đặt ra

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, DNCI là một bộ phận của DNNN, do đó cũng phải đặt chung trong chỉnh thể của quá trình đổi mới quản lý đối với khu vực kinh tế nhà nước Yêu cầu đổi mới DNNN nhằm tạo lập môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp phát huy cao độ quyền tự chủ, năng động trong sản xuất kinh doanh Thúc đẩy và định hướng các hoạt động kinh tế của khu vực kinh tế nhà nước theo cơ chế thị trường định hướng

Xã hội chủ nghĩa Có chính sách và cơ chế giải quyết đúng đắn mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước - doanh nghiệp - người lao động; quản lý bằng hệ thống pháp luật và điều chỉnh thông qua hệ thống các đòn bẩy kinh tế

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và DNCI nói riêng

1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh

Trang 23

Bảng 1.1 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh

a Sức sản xuất của tài sản

Doanh thu Tài sản bình quân

Tài sản bình quân

c Sức sản xuất của tài sản ngắn hạn

Doanh thu Tài sản ngắn hạn bình quân

a Sức sinh lời của tài sản ngắn hạn

c Sức sinh lời của tài sản dài hạn

Lợi nhuận Tài sản dài hạn bình quân

d Sức sản xuất của tài sản cố định

Doanh thu Tài sản cố định bình quân

e Sức sinh lời của tài sản cố định

Lợi nhuận Tài sản cố định bình quân

3 Hiệu quả sử

dụng vốn chủ

sở hữu

a Sức sản xuất của vốn chủ sở hữu

Doanh thu Vốn chủ sở hữu bình quân

b Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu

Lợi nhuận Vốn chủ sở hữu bình quân

Trang 24

1.3.2 Về chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của DNCI:

“Theo Thông tư 158/2013/TT-BTC về việc hướng dẫn một số nội dung về giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước thì “căn cứ kế hoạch tài chính hàng năm của công ty do Hội đồng thành viên/Chủ tịch Công ty phê duyệt (sau khi đã được chủ sở hữu và cơ quan tài chính cùng cấp rà soát và chủ sở hữu có

ý kiến chính thức bằng văn bản); chủ sở hữu xem xét và giao chỉ tiêu đánh giá để làm căn cứ đánh giá và xếp loại doanh nghiệp”

Doanh thu và thu nhập khác:

Chỉ tiêu này bao gồm doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ cộng (+) doanh thu hoạt động tài chính công (+) thu nhập khác Đối với DN sản xuất sản phẩm chủ yếu của nền kinh tế gồm: Điện, Than, Dầu khí, Xi măng thì tính theo sản lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ; Đơn vị để tính sản lượng của sản phẩm dầu thô, than, xi măng là tấn; điện là KWh và khí là m3

* Lợi nhuận thực hiện và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu:

Lợi nhuận thực hiện bao gồm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác Chỉ tiêu này được xác định từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,

mã số 50 (Mẫu số B02 – DN); Tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn chủ sở hữu được tính bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận thực hiện so với vốn chủ sở hữu bình quân trong năm của DN

* Nợ phải trả quá hạn và khả năng thanh toán nợ đến hạn;

Nợ phải trả quá hạn: Là các khoản nợ đã quá thời hạn cam kết thanh toán cho chủ nợ Việc xác định nợ phải trả quá hạn căn cứ vào thời hạn thanh toán ghi trên khế ước vay nợ, hợp đồng kinh tế hoặc các chứng từ cam kết khác

Khả năng thanh toán nợ đến hạn: Là khả năng thanh toán hiện thời được xác định bằng tỷ lệ giữa tài sản ngắn hạn hiện có so với nợ ngắn hạn

* Tình hình chấp hành chế độ, chính sách pháp luật:

Bao gồm các lĩnh vực về thuế, thu nộp ngân sách, tín dụng, bảo hiểm, bảo vệ môi trường, lao động, tiền lương, chế độ tài chính, báo cáo tài chính và báo cáo khác, việc thực hiện kết quả thanh tra, kiểm tra

Trang 25

* Tình hình thực hiện sản phẩm dịch vụ công ích:

Đây là chỉ tiêu đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công theo chính sách của Nhà nước thông qua hình thức đấu thầu hoặc nhận đặt hàng, hoặc nhận nhiệm vụ Nhà nước giao

Các chỉ tiêu trên được xác định và tính toán từ số liệu trong các BCTC, báo cáo giám sát tài chính và các báo cáo khác theo quy định Khi xem xét được loại trừ các yếu tố tác động do nguyên nhân khách quan như thiên tai dịch bệnh, chiến tranh, do Nhà nước điều chỉnh giá (Đối với sản phẩm do Nhà nước định giá) làm ảnh hưởng đến doanh thu; Do đầu tư mở rộng phát triển sản xuất theo quy hoạch

do cấp có thẩm quyền phê duyệt làm ảnh hưởng đến lợi nhuận trong hai năm đầu

kể từ năm đưa công trình đầu tư vào sử dụng

1.3.3 Phương pháp thực hiện đánh giá hiệu quả hoạt động DNCI

 Đánh giá hiệu quả hoạt động của DNCI căn cứ vào các chỉ tiêu sau:

* Chỉ tiêu 1: Doanh thu và thu nhập khác: DN xếp loại A khi doanh thu

thực hiện bằng hoặc cao hơn kế hoạch (KH) được giao; Xếp loại B khi doanh thu thực hiện thấp hơn nhưng tối thiểu bằng 90% so với KH được giao; Xếp loại C khi doanh thu thực hiện đạt dưới 90% KH được giao

* Chỉ tiêu 2: Tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn chủ sở hữu: DN xếp

loại A khi tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn chủ sở hữu thực hiện bằng hoặc cao hơn KH được giao; Xếp loại B khi thực hiện thấp hơn nhưng tối thiểu bằng 90%

KH được giao; Xếp loại C khi đạt dưới 90% KH được giao

Đối với những DN có lỗ kế hoạch: nếu lỗ thực hiện thấp hơn lỗ KH: Xếp loại A; nếu lỗ thực hiện bằng lỗ KH xếp loại B; nếu lỗ thực hiện cao hơn lỗ KH xếp loại C

* Chỉ tiêu 3: Nợ phải trả quá hạn và khả năng thanh toán nợ đến hạn

DN không có nợ phải trả quá hạn và có hệ số khả năng thanh toán nợ lớn hơn 1: xếp loại A; DN không có nợ phải trả quá hạn và có hệ số khả năng thanh toán nợ

từ 0,5 đến 1: xếp loại B; DN có nợ phải trả quá hạn hoặc hệ số khả năng thanh toán

nợ nhỏ hơn 0,5: xếp loại C

luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 25 of 95.

Trang 26

* Chỉ tiêu 4: Tình hình chấp hành các quy định pháp luật hiện hành

DN không có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về vi phạm cơ chế, chính sách nêu trên hoặc bị cơ quan có thẩm quyền nhắc nhở nhưng chưa đến mức bị xử phạt hành chính: xếp loại A; tùy mức độ vi phạm DN bị xếp loại B hoặc C theo quy định

* Chỉ tiêu 5: Tình hình thực hiện sản phẩm dịch vụ công ích:

DN hoàn thành hoặc hoàn thành vướt mức KH về sản lượng với chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ theo tiêu chuẩn quy định: xếp loại A; tương tự nếu hoàn thành tối thiểu 90% KH: xếp loại B; Nếu hoàn thành dưới 90% KH: xếp loại C

- DN loại B là DN còn lại không được xếp loại A hoặc loại C

- Xếp loại viên chức DN được quy định gắn với kết quả xếp loại DN và kết quả thực hiện chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn chủ sở hữu

- “Hàng năm Chủ sở hữu thực hiện đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh

là công ty mẹ tập đoàn, công ty mẹ tổng công ty Hội đồng thành viên Công ty mẹ căn cứ tiêu chí đánh giá phân loại DN và viên chức quản lý DN để thực hiện đánh giá, xếp loại DN và viên chức quản lý tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ”

- “Hàng năm chủ sở hữu vận dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động đối với DN do Nhà nước làm chủ sở hữu để thực hiện đánh giá xếp loại đối với

DN có vốn Nhà nước, đặc biệt là đối với DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ Kết quả đánh giá hoạt động sẽ là căn cứ để chủ sở hữu xem xét việc đầu tư,

mở rộng đầu tư hay rút bớt vốn Nhà nước tại DN… làm căn cứ để xét khen thưởng cho tập thể và cá nhân”

Trang 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH

DOANH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HẢI PHÒNG

2.1 Giới thiệu chung

2.1.1 Tên, địa chỉ, phạm vi hoạt động, lịch sử hình thành phát triển của Công ty

* Tên, địa chỉ

Công ty Môi trường đô thị Hải Phòng được thành lập theo Quyết định số 556/QĐ-TCCQ ngày 2/12/1976 của UBND TP và chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hải phòng theo quyết định số 1019/QĐ-UBND ngày

29/6/2010, UBND Thành phố Hải Phòng là chủ sở hữu

Tên đầy đủ: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HẢI PHÒNG

Tên viết tắt tiếng Việt: CÔNG TY MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HẢI PHÒNG Tên giao dịch Quốc tế: HAIPHONG URBAN ENVIRONMENT LIMITTED COMPANY Tên thương mại: HPURENCO

Địa chỉ trụ sở: Số 1 Lý Tự Trọng P Minh Khai Q.Hồng Bàng – TP.Hải Phòng Điện thoại: 0313.747.787

Email: ctymtdt@haiphong.gov.vn Website:www.urencohp.com.vn

* Phạm vi hoạt động

Thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải, tưới rửa đường chống bụi, tổ chức thu phí vệ sinh trên 4 quận nô ̣i thành ( Lê Chân, Ngô Quyền, Hồng Bàng, Hải An), vận chuyển và xử lý rác thải cho các khu công nghiệp và một số xã, thị trấn huyện An Dương và xử lý rác quận Kiến An, quản lý vệ sinh và hạ tầng kỹ thuật dải trung tâm thành phố

* Lịch sử hình thành và phát triển của công ty

Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hải Phòng nguyên trước đây là Đội quản lý công trình công cộng được thành lập từ những ngày đầu Hải Phòng giải luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 27 of 95.

Trang 28

phóng Trong quá trình vận động và phát triển từ những ngày thành lập đến nay, lịch sử Công ty có thể chia thành từng giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1: Từ năm 1956 – 1975

Sau khi tiếp quản Thành phố Hải Phòng, chính quyền đã tổ chức và động viên tổng vệ sinh các đường phố, thu dọn các đống rác khổng lồ đầu sông Tam Bạc

và các khu chung cư ngõ xóm Công nhân vệ sinh được khuyến khích trở lại làm việc với tinh thần của những người công nhân làm chủ thành phố Được sự quan tâm của chính quyền về điều kiện làm việc và sinh hoạt, đội ngũ những người lao động đã ý thức được trách nhiệm của mình Nhiệm vụ của đội quản lý công trình công cộng lúc đó là: Thu gom chất thải đô thị, giữ gìn sạch đẹp đường phố, khơi thông cống rãnh, gắn vá đường hè, điện chiếu sáng công cộng, nước công cộng, phun nước rửa đường chống bụi,… duy trì cuộc sống sinh hoạt hàng ngày cho người dân thành phố góp phần xứng đáng vào quá trình xây dựng nếp sống văn minh đô thị dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa trên mành đất “đầu sóng ngọn gió”, đồng thời tích cực tham gia vào các công việc khắc phục hậu quả của cuộc chiến tranh chống Mỹ

- Giai đoạn 2: Từ năm 1976 – 1981

Theo Quyết định số 566/TCCQ ngày 22 tháng 12 năm 1976 của UBND Thành phố Hải Phòng về việc hợp nhất Đội quản lý công trình công cộng sát nhập với đội vệ sinh thành một đơn vị sự nghiệp phục vụ trực thuộc lãnh đạo Sở nhà đất

- Công trình đô thị lấy tên là “Công ty vệ sinh đô thị Hải Phòng”

Giai đoạn 3: Từ năm 1982 – 1984

Thành phố thí điểm phân cấp quản lý công tác thu dọn phân, rác về cho 3 quận nội thành và ở mỗi quận có một Công ty vệ sinh trực thuộc quận Công ty đã đảm bảo được nhiệm vụ được giao và được đón nhận huân chương lao động hạng

3 và nhiều phần thưởng của ngành, thành phố

- Giai đoạn 4: Từ năm 1985 – 1992

Theo Quyết định số 776/TCCQ ngày 7 tháng 8 năm 1984 về việc giải thể các Công ty vệ sinh và công trình công cộng thuộc UBND ba quận nội thành, thống

Trang 29

nhất quản lý tổ chức, nhiệm vụ của các Công ty này về Công ty vệ sinh đô thị thuộc Sở nhà đất và công trình đô thị thành phố quản lý vẫn lấy tên “Công ty vệ sinh đô thị Hải Phòng”

- Giai đoạn 5: Từ năm 1993 – 1999 Thực hiện theo Quyết định số 468/QĐ-TCCQ ngày 14 tháng 8 năm 1993 của UBND Thành phố về việc đổi tên Công ty vệ sinh đô thị thành Công ty môi trường đô thị Hải Phòng Thực hiện theo Quyết định số 393/QĐ-UB ngày 28 tháng

5 năm 1994 của UBND Thành phố về việc thành lập Công ty Môi trường đô thị Hải Phòng từ hình thức doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh tế sự nghiệp sang doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh dịch vụ có thu

Năm 1996 Công ty được Thành phố tách phần quản lý hệ thống thoát nước thải ra thành lập công ty mới là Công ty Môi trường đô thị Hải Phòng, nhiệm vụ duy tu bảo dưỡng đường hè nội thành được chuyển sang cho Công ty công trình đô thị Hải Phòng

- Giai đoạn 6: Từ năm 2000 – 6/2010 Thực hiện Quyết định số 1175/QĐ/UB ngày 23 tháng 6 năm 2000 của UBND Thành phố về ciệc chuyển Công ty môi trường đô thị Hải Phòng từ doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh dịch vụ có thu sang doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích theo Nghị định 56/CP ngày 2 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ

- Giai đoạn 7: Từ tháng 7/2010 đến nay Thực hiện Quyết định số 1019/QĐ – UBND ngày 29 tháng 6 năm 2010 của UBND Thành phố Hải Phòng về việc chuyển đổi Công ty môi trường đô thị Hải Phòng thành Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hải Phòng theo Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 của Chính phủ

Quá trình hình thành hoạt động và phát triển của Công ty đã trải qua các giai đoạn với nhiều thử thách khó khăn xong dưới sự lãnh đạo của Đảng Ủy, Ban Tổng Giám đốc Công ty cùng với sự quan tâm của các cấp, các ngành trong Thành phố,

sự quyết tâm cao của tập thể cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty, đã chủ luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 29 of 95.

Trang 30

động phát huy nội lực vượt qua khó khăn, thử thách, tìm ra nhiều giải pháp có hiệu quả, tạo nên những chuyển biến tích cực trong công tác thu gom, vận chuyển và xử

lý chất thải đô thị

Công ty đã từng bước kiện toàn lại công tác tổ chức, xây dựng cơ chế sản xuất, quy chế làm việc theo chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận, xây dựng định mức nội bộ, các quy trình nghiệm thu đánh giá chất lượng sản phẩm theo từng công đoạn sản xuất, sắp xếp lại bộ máy quản lý, điều hành sản xuất theo hướng gọn nhẹ hiệu quả, phân rõ trách nhiệm cho từng tập thể, cá nhân, giữ vững ổn định trong sản xuất và ngày một phát triển đi lên khiến Thành phố trở thành biểu tượng xanh sạch đẹp của cả nước

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty

Tổng số CBCNV: 1.403 CBCNV

o Trong đó + Khối gián tiếp, lao động khác: 336 người

+ Khối trực tiếp: 1.067 người Chủ tịch Công ty: 01 người

Tổng Giám đốc Công ty: 01 người Phó Tổng Giám đốc: 01 người Kiểm soát viên: 01 người

13 phòng, ban nghiệp vụ, 16 xí nghiệp trực thuộc

Theo quy chế tổ chức, quản lý và hoạt động của Công ty, nhiệm vụ, trách nhiệm quyền hạn các chức danh được quy định như sau:

* Nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của Chủ tịch công ty

- Trong công ty, Chủ tịch là người đứng đầu công ty, nhân danh chủ sở hữu công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty; thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ sở hữu công ty về thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao

- Đảm bảo tổ chức sản xuất kinh doanh dịch vụ thông qua ký kết hợp đồng kinh tế, kiểm soát, quản lý tài chính và duy trì hoạt động của công ty theo nhiệm

vụ của chủ sở hữu và pháp luật

Trang 31

Sơ đồ bộ máy hoạt động của Công ty

Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy hoạt động của Công ty

Kiểm soát viên

Đảng Ủy

Công đoàn

Đoàn Thanh Niên

Hội cựu chiến binh Phó Tổng giám đốc

Phòng

Kế Toán Tài

Vụ

Phòng

Kỹ thuật – CN Môi Trường

Phòng Kinh Doanh

`Phòng Thanh Tra

Phòng Quản Lý Phương Tiện Thiết

Bị

Phòng Vật

Dự

Án

Ban CNTT &

1

XN

MT

ĐT Ngô Quyền

3

XN

MT

ĐT Hải

An

2

XN DVMT

An Dương

XN Dịch

Vụ Môi Trường

XN

DV QL&

XLCT Xây Dựng

XN

QL

&

XLCT Đình

Khu Liên Hợp XLCT Tràng Cát

XN Vận Tải

Cơ Khí

& Xây Dựng

Trung Tâm Dịch

Vụ Môi Trường

luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 31 of 95.

Trang 32

- Chỉ đạo quản lý công ty theo chức năng nhiệm vụ quyền hạn đã quy định trong Điều lệ công ty (Điều 19) đã ban hành kèm theo quyết định số 1128/QĐ-UBND ngày 25/5/2015 và Luật doanh nghiệp hiện hành

* Nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của Tổng Giám đốc công ty

- Tổng Giám đốc công ty là người điều hành hoạt động hàng ngày của công

ty theo mục tiêu hoạch và các nghị quyết, quyết định của Chủ tịch và Chủ sở hữu công ty tại Điều lệ công ty; Chịu trách nhiệm trước Chủ tịch, trước pháp luật về các quyền hạn và nhiệm vụ được giao

- Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty

- Quản lý, điều hành hoạt động hàng ngày của công ty theo chức năng nhiệm vụ quyền hạn đã được quy định trong Điều lệ công ty (Điều 20) đã ban hành kèm theo quyết định số 1128/QĐ-UBND ngày 25/5/2015 và Luật doanh nghiệp hiện hành

* Nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của các Phó Tổng Giám đốc

- Các Phó Tổng Giám đốc Công ty là người giúp việc cho Tổng Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Chủ tịch, Tổng Giám đốc Công ty về việc được phân cấp quản lý và chịu trách nhiệm cá nhân trước Tổng Giám đốc và pháp luật trong lĩnh vực được phân cấp

- Thay mặt Tổng Giám đốc điều hành các mặt hoạt động của Công ty khi được uỷ quyền

* Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm Soát viên công ty:

Kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chủ sở hữu công ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình

Nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm soát viên được quy định tại Điều 21- Điều

lệ công ty được ban hành kèm theo Quyết định 1128/QĐ- UBND của ủy ban nhân dân thành phố ngày 25/5/2015

* Nhiệm vụ, trách nhiệm của Trưởng phòng, Giám đốc xí nghiệp

Trưởng phòng:

- Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Phòng theo quy chế Công ty; Chịu

Trang 33

trách nhiệm trước Chủ tịch, Tổng Giám đốc về kết quả công tác của phòng;

- Quản lý cán bộ nhân viên của phòng theo phân công, phân cấp của Công ty;

- Ký các văn bản theo quy định của quy chế và uỷ quyền của Tổng Giám đốc Công ty Phối hợp chặt chẽ với các phòng nghiệp vụ khác trong công tác tham mưu, đề xuất

* Chức năng, nhiệm vụ của các Phòng - Ban nghiệp vụ

Phòng Tổ chức Hành chính

Tham mưu cho Ban điều hành Công ty về các lĩnh vực: Hồ sơ, lý lịch của cán bộ - công nhân viên, bảo quản và sử dụng con dấu, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước, lưu trữ công văn đi, đến Quản lý tài sản Công ty, thiết bị văn phòng, dụng cụ hành chính…

Phòng Kế hoạch Tổng hợp:

- Tham mưu cho Ban điều hành Công ty về các lĩnh vực: Quàn lý thực hiện công tác kế hoạch, công tác thống kê, quỹ tiền lương và thanh toán lương, phân tích tổng hợp thông tin và xử lý thông tin Hoạch định kế hoạch, điều hành tác nghiệp sản xuất Kiểm tra, giám sát, hướng dẫn nghiệp vụ, quản lý nghiệp vụ

- Căn cứ vào các phương hướng, chủ trương của Chủ tịch, Tổng Giám đốc

và từ kế hoạch của các đơn vị trực thuộc Công ty, phòng Kế hoạch tổng hợp có trách nhiệm tổng hợp, xây dựng dự thảo kế hoạch chi tiết hoạt động của Công ty theo định kỳ hàng năm

Phòng Kỹ thuật - Công nghệ Môi trường

- Tham mưu cho Ban điều hành Công ty quản lý các lĩnh vực sau:

luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 33 of 95.

Trang 34

- Công tác kỹ thuật, định mức kinh tế, kỹ thuật phục vụ công tác sản xuất, quản lý để mở rộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ Công tác quản lý, giám sát kỹ thuật chất lượng công nghệ môi trường Thiết kế, lập dự toán các công trình kỹ thuật theo chức năng ngành nghề của Công ty và nhiệm vụ được giao

- Nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới về thu gom, vận chuyển, và Xử

lý chất thải rắn Nghiên cứu, áp dụng các quy trình, tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành về quản lý và xử lý chất thải rắn

- Chủ động quan hệ với các đơn vị tư vấn, các cơ quan khoa học kỹ thuật của ngành của thành phố để nắm bắt những thông tin về khoa học và kỹ thuật, công nghệ mới áp dụng vào tình hình thực tế tại Công ty Tham mưu cho Ban Lãnh đạo về việc

tổ chức quản lý, chỉ đạo công tác khoa học công nghệ và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ… trong lĩnh vực vệ sinh môi trường

Phòng Kế toán Tài vụ

- Tham mưu cho Ban điều hành Công ty trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác tài chính, kế toán, thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế ở Công ty Phản ánh và kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng vốn của công ty

- Tham gia hoạch định công tác tài chính của Công ty Thông qua công tác quản lý tài chính, tham mưu cho Chủ tịch, Tổng Giám đốc Công ty về công tác chăm lo đời sống, vật chất và tinh thần cho CBCNV trong Công ty

- Ghi chép, kiểm tra cung cấp tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn quá trình và kết quả các hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hĩnh sử dụng kinh phí của Công ty Tổ chức hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị trực thuộc Công ty về việc chấp hành pháp lệnh kế toán - thống

kê Hướng dẫn và kiểm tra công tác hạch toán - kế toán, thống kê ở các cơ sở

Phòng Kinh doanh

- Lập danh bạ quản lý khách hàng theo nhóm đối tượng phục vụ và theo địa bàn phục vụ là đơn vị phường, quận Khai thác khách hàng, trình ban Giám đốc ký

Trang 35

kết hợp đồng về công tác thu gom - vận chuyển và xử lý các loại rác thải cho mọi đối tượng có nhu cầu Tiếp nhận và xử lý các thông tin từ khách hàng như: chất lượng dịch vụ, khối lượng chất thải thu dọn - xử lý, giá cả dịch vụ vệ sinh

- Tư vấn các dịch vụ vệ sinh môi trường khi khách hàng yếu cầu - Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các hợp đồng dịch vụ vệ sinh môi trường của các xí nghiệp thuộc Công ty Quản lý và vận hành hệ thống máy móc và phần mềm vi tính quản

lý khách hàng nhằm đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ mà Công ty giao

- Quản lý, khai thác và phát triển khách hàng giao cho các đơn vị sản xuất tổ chức phục vụ và thu tiền dịch vụ vệ sinh Tiếp thị và cung cấp các dịch vụ, phương tiện và thiết bị vệ sinh môi trường đô thị cho các đối tượng có nhu cầu

- In ấn, phát hành hóa đon thu tiền dịch vụ vệ sinh cho toàn bộ khách hàng thuộc các đối tượng phục vụ của Công ty Lập kế hoạch chiến lược phát triển ngành nghề kinh doanh của Công ty

Phòng Quản lý Phương tiện và Thiết bị:

- Tham mưu với Ban điều hành Công ty việc tổ chức thực hiện quản lý toàn

bộ các loại máy móc thiết bị vận tải, thiết bị chuyên dùng phục vụ sản xuất kinh doanh của Công ty

- Lập hồ sơ theo dõi, quản lý toàn bộ phương tiện máy móc, trang thiết bị phục vụ công tác sản xuất và quản lý của Công ty Xây dựng kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ phương tiện, thiết bị chuyên dùng của Công ty Lập phương án

và đề xuất mua sắm trang thiết bị đúng trình tự, thủ tục quy định của Nhà nước Kiểm tra, giám sát, đánh giá lại tình trạng phương tiện, trang thiết bị theo định kỳ

và đột xuất

Phòng Quản lý Vật tư

- Tham mưu với Ban điều hành Công ty về việc tổ chức thực hiện công tác quản lý toàn bộ vật tư kỹ thuật, giải quyết kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ Lập hồ sơ, chứng từ, hệ thống sổ sách theo dõi và quản lý tất cả các loại vật tư kỹ thuật, phục vụ công tác sản xuất của Công ty Tổng hợp, xây dựng kế hoạch mua sắm vật tư, nguyên, nhiên liệu: Xăng, dầu, dầu mỡ phụ, các loại hóa luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 35 of 95.

Trang 36

chất, chế phẩm, phạ gia

- Tổ chức thực hiện việc mua sắm nguyên, nhiên liệu, vật tư kỹ thuật đúng trĩnh tự, thủ tục, tiếu chuấn quy định; Tổ chức phối họp cung ứng vật tư kịp thời, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục Xây dựng và trình Ban Tổng Giám đốc Công ty duyệt các quy định về cấp phát vật tư, định mức sử dụng vật tư ở các đơn vị

Phòng Thanh tra Môi trường đô thị:

- Phòng Thanh tra môi trường đô thị có chức năng thanh tra, kiểm tra và xử

lý các vi phạm về lĩnh vực công tác giữ gìn trật tự vệ sinh môi trường đô thị trên địa bàn thành phố Hải Phòng theo quyền hạn và trách nhiệm được giao

- Hoạt động trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước, quy định của UBND và điều lệ, nội quy của Công ty TNHH Một thành viên Môi trường đô thị Hải Phòng

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát, xử lý việc thực hiện quy trình sản xuất và nội quy làm việc của Công ty đối với các Xí nghiệp Môi trường và các Xí nghiệp

- Thường trực 24/24h tiếp nhận và giải quyết thông tin qua đường dây nóng

về công tác trật tự vệ sinh môi trường đô thị

Phòng Tiền lương - Tiền công

- Tham mưu cho Ban điều hành Công ty công tác quản lý Quỹ tiền lương- tiền công, tiền thưởng và thanh toán tiền lương, tiền thưởng;

- Quản lý ngày công lao động khối gián tiếp, đơn vị trực tiếp sản xuất; Kiểm tra, giám sát, hướng dẫn nghiệp vụ cho các đơn vị

- Xây dựng kế hoạch quỹ tiền lương, phân bổ và thanh toán tiền lương- tiền công; xây dựng định mức nội bộ, đơn giá tiền lương trình cấp có thẩm quyền xét duyệt

- Hoàn thiện, xây dựng và ban hành Quy chế, Quy định về quản lý nghiệp vụ tiền lương- tiền công, tiền thưởng trong Công ty Theo dõi ngày công khối gián tiếp, đơn vị trực tiếp sản xuất, lập báo cáo định kỳ tình hình sử dụng ngày công lao

Trang 37

động, quản lý và thanh toán tiền lương ở các đơn vị về Ban Lãnh đạo Công ty

- Lập báo cáo định kỳ tình hình thực hiện ngày công lao động và thu nhập theo mẫu quy định của cơ quan quản lý cấp trên và Công ty

Trạm Y tế:

- Theo dõi hồ sơ bệnh nhân của cán bộ công nhân viên công ty, khám và điều trị ban đầu, cấp phát thuốc theo bệnh cho người lao động Công ty

- Theo dõi và tổ chức phun thuốc khử trùng tại các khu xử lý rác

- Lập hồ sơ cá nhân theo dõi bệnh nghề nghiệp của người lao động, tổ chức khám, chữa bệnh và giới thiệu kịp thời người bệnh nặng lên tuyến trên để điều trị Duyệt ngày nghỉ ốm cho người lao động theo danh mục loại bệnh của bộ Y tế ban hành Kết hợp với các cơ quan Y tế chuyên ngành để điều trị bệnh cho người lao động

- Tổ chức khám bệnh định kỳ hành năm, là thành viên hội đồng bảo hộ và an toàn lao động và phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng Thành phố để phun thuốc khử trùng định kỳ tại văn phòng làm việc Công ty và các xí nghiệp thành viên; Phun thuốc khử mùi định kỳ tại các khu xử lý chất thải

* Ban Công nghệ thông tin và tuyên truyền cộng đồng

- Tham mưu, giúp Ban điều hành Công ty thực hiện quản lý nhà nước về công nghệ thông tin và tuyên truyền cộng đồng

- Báo cáo định kỳ trình Chủ tịch, Tổng Giám đốc Công ty các công việc được giao

* Ban Quản lý các dự án môi trường đô thị

- Nghiên cứu, tiếp cận, triển khai các dự án theo các nội dung văn bản đã ký kết của thành phố và của công ty;

- Tham mưu cho Ban lãnh đạo công ty về công tác quản lý các dự án môi trường đô thị, quản lý và xử lý chất thải rắn hiệu quả, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường thành phố; Đề xuất xây dựng các dự án về lĩnh vực vệ sinh môi trường

đô thị theo định hướng phát triển công ty;

* Các Xí nghiệp có Chức năng, nhiệm vụ:

- Tổ chức duy trì vệ sinh đường hè, ngõ xóm trên địa bàn được giao, tổ chức luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 37 of 95.

Trang 38

thu gom phế thải đô thị đảm bảo giữ gìn vệ sinh sạch đẹp theo quy định của Thành phố và theo phân cấp của Công ty

- Tổ chức thu nộp tiền phí vệ sinh đối với các tổ chức cơ quan, đơn vị, cá nhân trên địa bàn được giao theo quy định của ủy ban nhân dân Thành phố đảm bảo doanh thu Công ty giao hàng năm.- Thực hiện các hợp đồng dịch vụ vệ sinh môi trường theo thỏa thuận của Công ty với đối tượng phát sinh chất thải

- Phối hợp với các chính quyền địa phương, các tổ chức liên quan trên địa bàn, tuyên truyền vận động, hướng dẫn nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh về trật tự vệ sinh môi trường đô thị để hoàn thanhg nhiệm vụ

- Kết hợp chặt chẽ với Xí nghiệp Vận tải - Cơ khí & Xây dựng và các đơn vị sản xuất khác, điều phối hợp lý các phương tiện làm nhiệm vụ vận chuyển rác trên địa bàn được giao quản lý

2.1.3 Chức năng nhiệm vụ của Công ty

Công ty TNHH MTV Môi trường đô thi ̣ Hải Phòng hoa ̣t đô ̣ng chủ yếu trong lĩnh vực quản lý, xử lý chất thải của thành phố Cùng với sự phát triển của kinh tế , lượng rác thải sinh hoạt và kinh doanh cũng ngày càng lớn, sự phát triển của các khu đô thi ̣ mới , các khu công nghiệp , rác thải nông thôn đang là vấn đề cấp thiết đối với công tác vê ̣ sinh môi trường Đối tượng khách hàng của công ty không ngừng mở rô ̣ng , không chỉ là các hô ̣ gia đình mà còn mở rô ̣ng ra các cơ quan , doanh nghiê ̣p, nhà máy Chức năng, nhiê ̣m vu ̣ cơ bản nhất của công ty là thu gom,

vâ ̣n chuyển và xử lý chất thải đô thi ̣ ; phun nước rửa đường chống bu ̣i ; thu phí vê ̣ sinh đô thi ̣

Công ty có trách nhiệm như sau:

- Thu gom, xử lý các loại rác đô thị;

- Thu gom, xử lý rác sông, cảng biển và công nghiệp;

- Quản lý, vận hành bãi rác thành phố;

- Tưới rửa đường chống bụi;

- Quản lý các nhà vệ sinh công cộng;

Trang 39

- Thiết kế, cải tạo nhà vệ sinh;

- Thu phí vệ sinh môi trường

2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất - kinh doanh cu ̉ a Công ty

Công ty TNHH MTV Môi trườ ng đô thị Hải Phòng là doanh nghiê ̣p 100% vốn Nhà nước, hoạt đô ̣ng trên lĩnh vực công ích là thu gom, vâ ̣n chuyển, xử lý rác thải theo quy trình hoạt động cơ bản gồm các bước:

Bước 1: Hàng ngày Công ty thực hiê ̣n duy trì vê ̣ sinh trên 2900 km đường hè

phố, diê ̣n tích quét do ̣n khoảng 1,7 triê ̣u km2

, tiến hành thu gom rác thải sinh hoa ̣t từ các hô ̣ dân, cơ quan, đơn vi ̣ kinh doanh theo phương thức thủ công bằng xe đẩy tay

Bước 2: Tâ ̣p kết rác ta ̣i điểm tiếp nhâ ̣n, tiến hành chuyển lên ô tô ép rác Trung

bình Công ty tiếp nhâ ̣n và vâ ̣n chuyển trên 900 tấn rác thải /ngày, cùng với hơn 300m3 nước rỉ từ rác, đồng thời điều hành Nhà máy xử lý chất thải rắn với công suất 150 tấn/ngày, vớ i trên 800 công nhân lao đô ̣ng và 60 xe ô tô vâ ̣n tải các loa ̣i hoạt động liên tục

Bước 3: Vâ ̣n chuyển rác thải xuống 2 khu xử lí chất thải Tràng Cát và Đình

Vũ, xử lý rác thải theo quy trình đã được Bô ̣ Xây dựng phê duyê ̣t Hiê ̣n Công ty sử dụng quy trình xử lý rác theo công nghê ̣ hợp vê ̣ sinh ; quy trình xử lý rác thải theo công nghê ̣ vi sinh hiếu khí sản xuất mùn compost ta ̣i Nhà máy xử lý rác Tràng Cát ; quy trình xử lý nước thải bãi rác theo công nghê ̣ hóa lý được duy trì chă ̣t chẽ, kiểm soát nghiêm ngặt

Quy trình hoa ̣t đô ̣ng liên tu ̣c trong ngày , diễn ra trên pha ̣m vi rô ̣ng toàn thành phố đă ̣t ra cho yêu cầu phải có sự tính toán chi tiết toàn diê ̣n và chính xác trong công tác lên kế hoa ̣ ch tổ chức , đảm bảo hoa ̣t đô ̣ng sản xuất kinh doanh diễn ra thông suốt, bởi chỉ mô ̣t sự tru ̣c tră ̣c nhỏ cũng có thể có ảnh hưởng lớn đến toàn bô ̣ quá trình Quy trình kinh doanh di ̣ch vu ̣ của Công ty tương đối đơn giản : dựa trên hợp đồng đã kí với các hô ̣ gia đình, doanh nghiê ̣p, cơ quan, hàng quý đội ngũ nhân viên thu ngân của công ty sẽ đến thu phí ta ̣i từng đơn vi ̣ khách hàng

luan van thac si - luan van thac si kinh te - luan an tien - luan van 39 of 95.

Trang 40

2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011 - 2015

2.2.1 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của Công ty năm 2011 - 2015

Qua bảng tổng hợp tình hình thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của Công ty từ năm 2011 – 2015 (bảng 2.1), nhìn chung có thể thấy các chỉ tiêu chủ yếu đều ở mức tăng, do lĩnh vực kinh doanh của Công ty là di ̣ch vu ̣ công ích , ít chịu ảnh hưởng của biến đô ̣ng thi ̣ trường nên hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty phát triển ổn định

 Chỉ tiêu khối lượng: Phản ánh khối lượng rác Công ty đã thu gom từ đầu

nguồn, vận chuyển đến bãi chôn lấp và xử lý với số lượng rác ngày một tăng từ 225.725 tấn năm 2011 lên 358.162 tấn năm 2015 trung bình 3.000 tấn/ năm, trên

900 tấn/ngày theo quy trình chôn lấp hợp vệ sinh tại Đình Vũ và Tràng Cát, xử lý rác thải y tế trong lò đốt tiêu chuẩn với công suất 500kg/ca, tái chế xử lý vi sinh sản xuất phân bón Compost với khối lượng 150 tấn/ ngày Bên cạnh đó công tác khử trùng bãi rác được Trung tâm Y tế dự phòng thành phố đảm nhiệm theo hợp đồng đã ký với Công ty với chu kỳ 7 ngày/lần

 Lao động tiền lương: Với đặc thù phục vụ trên địa bàn rộng nên số lượng

lao động của Công ty khá lớn trên 1.000 lao động, chủ yếu là lao động nữ trong đó 80% là lao động trực tiếp Để đảm bảo đời sống cho người lao động quỹ lương của Công ty tăng đều qua các năm cụ thể năm 2011 là 34,094 triệu đồng đến năm 2015 tăng lên 62,293 triệu đồng tương đương mức lương bình quân của người lao động tăng từ 2,500 ngàn đồng lên 3,700 ngàn đồng năm 2015

 Các chỉ tiêu tài chính: Đối với doanh thu từ hoạt động công ích bao gồm:

Ngân sách cấp bù và nguồn thu phí để lại Hàng năm trên cơ sở khối lượng phục

vụ tại thông báo kế hoạch nguồn vốn sự nghiệp kỹ thuật hàng năm của Liên Sở Xây dựng – Tài chính phê duyệt và cấp kinh phí hoạt động

Ngày đăng: 20/05/2018, 11:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w