Một số nhà khoa học cho rằng: Bộ tiêu chí bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội - an ninh…, thực hiện Bộ tiêu chí nghĩa là làm một chương trình phát triển nông thôn toàn diện, n
Trang 11
MỘT SỐ Ý KIẾN BỔ SUNG, SỬA ĐỔI
BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Đó là những nội dung định hướng và cũng là những đặc trưng định tính của nông thôn mới nước ta giai đoạn 2010-2020 Định tính đó đã được cụ thể hóa, lượng hóa bằng 19 tiêu chí quốc gia nông thôn mới (theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ)
Cần nói thêm rằng, ở giai đoạn dự thảo, khi lấy ý kiến tham gia của các nhà khoa học, nhà quản lý ở nhiều Bộ, ngành và các địa phương cũng không phải là không có ý kiến khác nhau Một số nhà khoa học cho rằng: Bộ tiêu chí bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội - an ninh…, thực hiện Bộ tiêu chí nghĩa là làm một chương trình phát triển nông thôn toàn diện, như thế sẽ là quá tham vọng và rất khó thành công Hoặc, không nên đề ra một Bộ tiêu chí vì sẽ dẫn đến phát triển nông thôn theo “khuôn mẫu” cứng nhắc, không phù hợp với đặc thù nước ta… Vì vậy, mặc dù đã có quyết định ban hành của Thủ tướng Chính phủ nhưng trước khi thực thi trên diện rộng, Bộ tiêu chí nông thôn mới đã được tổ chức thực nghiệm tại 11 xã điểm đại diện cho các vùng đặc thù trong cả nước (do Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ đạo)
Kết quả thử nghiệm và thực tiễn hơn 5 năm qua (2010-2015), Bộ tiêu chí đã thể hiện rõ sự cần thiết cho xây dựng nông thôn mới: Giúp cho cán bộ và nhân dân các địa phương hiểu rõ nội dung cụ thể của xây dựng nông thôn mới Là căn cứ để đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới của một xã, một huyện, một tỉnh và cả nước qua từng mốc thời gian Bộ tiêu chí đã là công cụ quan trọng giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới khi tổng kết giai đoạn (2010-2015) dịp cuối năm 2015 vừa qua
Tuy nhiên, trải qua thực tế với sự biến đổi của nhiều yếu tố kinh tế xã hội, Bộ tiêu chí cũng bộc lộ một số vấn đề cần phải xem xét, điều chỉnh mới phù hợp với yêu cầu thực tiễn và đáp ứng được yêu cầu nâng cao tiến độ, chất lượng xây dựng nông thôn mới theo yêu cầu mục tiêu đã đặt ra
II NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI BỘ TIÊU CHÍ TRONG THỰC TIỄN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Trang 22
1 Nhóm tiêu chí hạ tầng
a) Về giao thông (tiêu chí số 2)
Theo Quyết định 491/QĐ-TTg nội dung tiêu chí là: “2.1 Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông Vận tải”; “2.2 Tỷ lệ đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn, xe cơ giới đi lại thuận tiện”
Trong hướng dẫn tiêu chuẩn kỹ thuật của Bộ Giao thông Vận tải lại quy định:
“đường trục xã, liên xã có mặt rộng 3m trở lên” (Bộ Giao thông Vận tải giải thích đây
là quy định mặt rộng tối thiểu) nhưng các địa phương đều hiểu đó là quy định cứng, chỉ
cần có đường trục xã, liên xã đạt 3m rộng, bê tông hoặc nhựa hóa là được công nhận đạt chuẩn Các tuyến đường cấp liên xóm, liên gia đương nhiên là nhỏ hơn Do đó, ở nhiều
xã ngay khi được công nhận đạt chuẩn thì tiêu chí này đã bộc lộ bất cập, nhất là những nơi dân cư đông, kinh tế phát triển, vận chuyển bằng cơ giới tăng nhanh Trong khi đó,
ở các xã miền núi, nhất là khu vực Tây Bắc hoặc biên giới, hải đảo – dân cư thưa thớt, địa hình phức tạp, lưu thông bằng ô tô còn chậm phát triển Nếu phải phấn đấu đạt chuẩn về giao thông theo quy định chung như khu vực đồng bằng thì chưa cần thiết và
sẽ rất tốn kém nguồn lực
Có thể nói quy định về “chuẩn giao thông” trong Bộ tiêu chí và hướng dẫn của Bộ Giao thông Vận tải hiện nay là vừa thiếu, vừa thừa do không tính đến yếu tố đặc thù của các vùng kinh tế - xã hội trước mắt gây lãng phí nguồn lực và lâu dài sẽ không đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong tương lai
b) Về thủy lợi (tiêu chí số 3)
Theo quy định, nội dung tiêu chí thủy lợi là: “3.1 Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh” “3.2 Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa”
Mục tiêu của tiêu chí này là định hướng và thúc đẩy các xã xây dựng hệ thống thủy lợi đạt đến trình độ: cơ bản tưới tiêu chủ động cho các loại cây trồng, cho yêu cầu nước của thủy sản và chăn nuôi; cấp nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân (trừ trường hợp thiên tai) Tuy nhiên, chỉ tiêu 3.1 không có yêu cầu định lượng cụ thể nên rất khó đánh giá đầy
đủ chất lượng, hiệu quả của công tác này Chỉ tiêu 3.2 về kiên cố hóa kênh mương thì chỉ
là một giải pháp để thực hiện mục tiêu Khi đưa vào tiêu chí nó đặc biệt không phù hợp với điều kiện đồng ruộng miền núi nhỏ hẹp, độ dốc cao; cũng không phù hợp với Đồng bằng sông Cửu Long; các vùng trồng cây công nghiệp ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Ngay cả vùng đồng bằng, những nơi sản xuất nông nghiệp công nghệ cao sử dụng tưới bằng đường ống theo phương pháp tiết kiệm thì giải pháp kiên cố hóa kênh mương cũng không con ý nghĩa Do đó không chỉ gây lúng túng cho cơ quan chuyên môn khi hướng dẫn thực hiện và đánh giá kết quả mà còn làm cho nhiều địa phương dù không cần kiên
cố hóa kênh mương nhưng để đạt chuẩn vẫn phải tốn nguồn lực cho công việc này
Ở một khía cạnh khác, trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng hiện hữu thường xuyên, gây tổn thất ngày càng lớn cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn nước ta thì yêu cầu chủ động chuẩn bị các điều kiện để phòng, chống thiên tai nhằm giảm thiểu các thiệt hại là rất cần thiết Do đó, cần bổ sung chỉ tiêu này vào tiêu chí thủy lợi như một yêu cầu
bắt buộc đối với tất cả các địa phương (các nội dung cụ thể của chỉ tiêu này sẽ do cơ
Trang 33
quan chuyên môn nghiên cứu đề xuất giống như quy định “4 tại chỗ” đã rất hiệu quả trong phòng chống lụt bão của các tỉnh Bắc và Bắc Trung Bộ nhiều năm trước đây)
c) Về chợ nông thôn (tiêu chí 7)
Sau khi có hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và PTNT, những năm gần đây, hầu hết các xã đã hiểu không phải mỗi xã có một chợ mà chợ theo quy hoạch được cấp huyện phê
duyệt (huyện có 20-30 xã có khi chỉ quy hoạch 5-7 chợ)
Với quy định của tiêu chí “chợ theo quy hoạch, đạt chuẩn theo quy định” Đạt chuẩn ở đây là theo quy chuẩn của Bộ Xây dựng với yêu cầu diện tích tối thiểu 3000m2,
có đủ các phân khu chức năng, thì nhiều xã hoàn thành tiêu chí chợ phải tốn phí khoảng 6-7 tỷ đồng Tuy nhiên trong thực tế, xu thế chung của các địa phương nhất là khu vực đồng bằng, thì một huyện chỉ cần 1-2 chợ đầu mối là cần có quy mô lớn theo quy chuẩn của Bộ Xây dựng, còn lại là không cần Qua khảo sát một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng
và Đồng bằng sông Cửu Long khi làm nông thôn mới, giao thông rất thuận lợi Ở các giao lộ ngay tại thôn, bản, ấp đều hình thành một số tụ điểm các hộ dịch vụ: bán quần áo, may mặc, sửa chữa điện tử, ăn uống, mỹ phẩm, làm đẹp v.v chưa kể nhiều nơi còn phát triển hình thức xe ô tô nhỏ chở hàng công nghệ phẩm và rau quả, thực phẩm đi bán dạo đến tận các xóm Vì vậy, mô hình chợ quy mô lớn ở xã, cụm xã có xu hướng giảm dần
hiệu quả (không ít chợ to ở các xã đạt chuẩn đã chỉ sử dụng hết một phần diện tích)
Nhiều địa phương đã nhận thức ra điều này và đã có chuyển hướng (Vĩnh Phúc đã cắt giảm tới 60% chợ quy hoạch so với thời kỳ đầu)
Chợ thực sự cần ở nông thôn hiện nay chính là chợ “mini”, tồn tại ở hầu hết (95%)
ở các thôn, bản, ấp với diện tích khoàng 500-1000 m2, họp buổi sáng và buổi chiều Chủ yếu bán rau quả thực phẩm, phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của nhân dân Tuy nhiên, loại chợ này lại ít được lãnh đạo địa phương quan tâm, dường như để ngoài tiêu chuẩn nông thôn mới nên đa phần nhếch nhác, mất vệ sinh, họp lấn ra đường gây ách tắc giao thông (chỉ có một số ít địa phương ở Vĩnh Phúc, Hải Dương đã quan tâm quy hoạch, chỉnh trang loại chợ này như: tôn nền, bê tông đường nội bộ, có mái che, có hệ thống thoát nước, nhà vệ sinh, hàng rào, có người quét dọn) Tuy nhiên qua đánh giá thực tế cho thấy trong nhiều năm qua, loại hình này sẽ vẫn phù hợp với nhu cầu thiết thực của người dân nông thôn Do đó giai đoạn 2016-2020 rất cần được bổ sung vào nội dung tiêu chí chợ thay vì quy hoạch xây các chợ to mà hiệu quả thấp
2 Nhóm tiêu chí về giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường
Trong thực tế, trừ khu vực miền núi, vùng sâu, biên giới, hải đảo còn lại thì dù có trang bị đầy đủ thì việc sử dụng cơ sở vật chất ở trạm y tế xã cũng kém hiệu quả do điều kiện nhân lực và niềm tin của người dân Không chỉ các xã lân cận, các bệnh viện huyện, bệnh viện khu vực mà ngay cả các khu vực khác, do giao thông, phương tiện đi lại thuận tiện người dân cũng có xu hướng bỏ qua trạm y tế xã đến khám điều trị tại các tuyến trên Công việc thiết thực của các trạm y tế chủ yếu chỉ là: Sơ cứu, đỡ đẻ, làm y tế dự phòng
Trang 44
(tiêm chủng, phòng dịch ) Vì vậy, rất cần phải điều chỉnh lại quy định cơ sở vật chất trạm y tế xã cho phù hợp với thực tế này nhằm tránh lãng phí nguồn lực
b) Về vệ sinh môi trường (tiêu chí số 17)
Nội dung cơ bản của tiêu chí này vẫn là phù hợp Tuy nhiên, còn một số vấn đề
“nóng” về vệ sinh môi trường nông thôn lại chưa được thể hiện rõ và cụ thể hóa vào tiêu chí như: Tỷ lệ hộ có 3 công trình thiết yếu (nhà tiêu, nhà tắm, bể nước sạch) hợp vệ sinh;
tỷ lệ hộ có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh Hoặc chưa đề cập đến vấn đề sản xuất, chế biến, kinh doanh rau quả thực phẩm phải đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm đã gây lúng túng, khó khăn cho chỉ đạo thực hiện và khi đánh giá thẩm định đạt chuẩn Do
đó, trong điều kiện hiện nay, chúng tôi thấy rằng rất cần bổ sung những nội dung này vào tiêu chí môi trường nông thôn mới
III NGUYÊN TẮC CẦN CÓ KHI ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG TIÊU CHÍ NÔNG THÔN MỚI
1 Nội dung xây dựng nông thôn mới (theo quyết định 800/QĐ-TTg) bao trùm nhiều lĩnh vực nhưng không phải tất cả các vấn đề kinh tế - xã hội - an ninh - quốc phòng diễn
ra ở nông thôn đều thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới1
2 Mỗi tiêu chí nông thôn mới thể hiện một nội dung quan trọng trong mục tiêu nông thôn mới Tiêu chí chỉ phản ánh kết quả mục tiêu tổng hợp Để có kết quả tổng hợp phải có nhiều giải pháp Vì vậy không nên nhầm lẫn giải pháp và kết quả mục tiêu dẫn đến đưa giải pháp làm tiêu chí
3 Tiêu chí phản ánh kết quả mục tiêu cần phải cụ thể hóa, lượng hóa để thuận lợi cho tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả, không đưa ra những chỉ tiêu chung chung, không có định hướng2
1 Theo chúng tôi, việc một số Bộ, ngành đề nghị đưa thêm nội dung: tuyển quân, giáo dục quốc phòng, xây dựng dân quân tự vệ, quản lý lực lượng dự bị động viên vào tiêu chí : “QUỐC PHÒNG, AN NINH” hoặc bổ sung nội dung giáo dục pháp luật thành tiêu chí “CHÍNH QUYỀN VỮNG MẠNH VÀ TIẾP CẬN PHÁP LUẬT” là không phù hợp
Trang 5IV MỘT SỐ TIÊU CHÍ CẦN BỔ SUNG ĐIỀU CHỈNH
Thực tế 5 năm qua cho thấy hầu hết các tiêu chí trong bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới vẫn phù hợp, đáp ứng được yêu cầu mục tiêu của Chương trình Tuy vậy, cũng
có một số tiêu chí bộc lộ hạn chế và bất cập Loại này có thể chia ra thành hai nhóm:
- Nhóm các tiêu chí có nội hàm đúng nhưng chưa được các Bộ, ngành chuyên môn hướng dẫn rõ ràng, phù hợp nên dẫn đến hiểu không đồng nhất hoặc khó cho áp dụng ở các vùng đặc thù (như: giao thông, chợ, cơ sở vật chất, y tế, văn hóa);
- Nhóm các tiêu chí nội dung không phù hợp cần phải thay đổi hoặc thiếu các nội dung cần thiết, phải được bổ sung (như: thủy lợi, môi trường, an ninh )
Trong khuôn khổ bài này, chúng tôi chỉ đề xuất một số tiêu chí thuộc nhóm cần bổ
sung, điều chỉnh như sau:
MỘT SỐ TIÊU CHÍ CẦN BỔ SUNG, ĐIỀU CHỈNH
đổi)
Tiêu chí Nội dung sửa đổi, bổ sung
3.1 Diện tích sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản) được chủ động cấp
và tiêu nước hiệu quả: 80%
3.2 Tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương do xã quản lý: 70%
3.2 Đảm bảo đủ điều kiện quy định về phòng chống thiên tai tại chỗ: 100%
2 Có loại ý kiến đề xuất điều chỉnh tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa (tiêu chí 6) thành “6.1 Có nơi sinh hoạt văn hóa, thể thao xã phục vụ cộng đồng” và “6.2 xã có 100% thôn có nơi sinh hoạt văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng” Theo chúng tôi, sửa đổi như vậy sẽ làm giảm chất lượng, yêu cầu văn hóa nông thôn, nhất là cấp thôn, bản, ấp, đồng thời sẽ khó khi so sánh đánh giá kết quả thực hiện
3
Có một số ý kiến đề xuất chia ra 2 loại tiêu chí cứng, tiêu chí mềm “Tiêu chí cứng” là xã nào cũng phải có; “tiêu chí mềm” là xã có, xã không Sau điều chỉnh lần này, thực tế chắc chắn sẽ diễn ra như vậy nhưng theo chúng tôi trong quyết định của TT Chính phủ, không nên phân ra loại “cứng”, “mềm” vì sẽ dẫn đến tâm lý: coi “mềm” là không quan trọng, sẽ ít quan tâm đầu tư và chất lượng nông thôn mới sẽ vì thế mà giảm đi
Trang 6đổi)
Tiêu chí Nội dung sửa đổi, bổ sung
Môi trường xanh, sạch, đẹp
17.1 (Giữ nguyên nội dung
theo quy định hiện hành)
17.2 Các cơ sở sản xuất – kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường
17.2 (Giữ nguyên nội dung
theo quy định hiện hành)
17.3 Không có hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh – sạch – đẹp
17.3 (Giữ nguyên nội dung
theo quy định hiện hành)
17.4 Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
17.4 (Giữ nguyên nội dung
theo quy định hiện hành)
17.5 Chất thải nước thải được thu gom và sử lý theo quy định
17.5 (Giữ nguyên nội dung
theo quy định hiện hành)
17.6 Tỷ lệ hộ có 3 công trình
vệ sinh thiết yếu (hố xí, nhà tắm, bể nước sạch): 100%
Theo hướng dẫn của
Bộ Y tế
17.7 Tỷ lệ hộ có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh: 100%
Theo hướng dẫn của
Bộ nông nghiệp
và PTNT
17.8 Tỷ lệ cơ sở sản xuất – chế biến và kinh doanh rau quả thực phẩm đủ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm : 80%
Theo hướng dẫn của
Bộ nông nghiệp
và PTNT
và an toàn
xã hội
19.1 Không có tệ nạn trộm cắp
Theo hướng dẫn của
Bộ Công an
Trang 7đổi)
Tiêu chí Nội dung sửa đổi, bổ sung
19.2 Tệ nạn rượu chè, cờ bạc,
ma túy được đẩy lùi 19.3 Không có trọng án 19.4 Không có khiếu kiện đông người kéo dài
V MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỚI BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIAI ĐOẠN 2016-2020
1 Vì Bộ Tiêu chí Quốc gia đã qua 1 lần sửa đổi bổ sung (Quyết định TTg), nay cũng có 1 số tiêu chí cần sửa đổi bổ sung, bởi vậy Thủ tưởng Chính phủ có thể ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia NTM thay thế QĐ 491 và QĐ 342 để áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020
342/2013/QĐ-2 Chỉ nên điều chỉnh bổ sung một số tiêu chí đang có nội dung chưa phù hợp với
thực tế cần phải thay đổi hoặc thiếu các nội dung cần thiết phải kịp thời bổ sung (như tiêu
chí thủy lợi, môi trường, an ninh đã phân tích ở trên) Các tiêu chí còn lại, giao các Bộ,
ngành liên quan rà soát, quy định các quy chuẩn, tiêu chuẩn phù hợp thực tiễn nhất là các vùng đặc thù, đồng thời hướng dẫn chi tiết, đầy đủ hơn để các địa phương áp dụng
Giao Bộ Nông nghiệp và PTNT tập hợp hướng dẫn của các Bộ, ngành để phát hành cuốn “Hướng dẫn thực hiện các tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2016-2020” nhằm giúp cho cán bộ, nhân dân thuận tiện tra cứu, áp dụng
3 Để chống “bệnh thành tích” đang có xu hướng lan rộng, ngoài việc cấp trên tăng cường giám sát việc xét đạt chuẩn của cấp dưới thì rất cần bổ sung thêm điều kiện (bắt buộc) khi xét xã, huyện đạt chuẩn nông thôn mới là: (1) Mức đọng nợ xây dựng cơ bản;
(2) Tỷ lệ hài lòng của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn (Mức
cụ thể giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu đề xuất)
3 Cần có nghiên cứu xác định nội dung, mức độ tiêu chí nông thôn mới đối với các xã, huyện đã đạt chuẩn để tạo động lực cho các địa phương này tiếp tục vươn lên Đồng thời, cần sớm nghiên cứu mô hình nông thôn văn minh để định hướng phát triển cho những năm tiếp theo, nhất là cho những địa phương đã đạt chuẩn./
Trang 8I TỔNG QUAN KẾT QUẢ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC GIAI ĐOẠN 2010-2015
1 Công tác quy hoạch nông thôn mới
Đến tháng 12/2015 toàn khu vực đã có 99% số xã hoàn thành quy hoạch chung (tỷ
lệ xấp xỉ bình quân chung cả nước) Tuy nhiên chất lượng quy hoạch nhìn chung chưa
đáp ứng được yêu cầu, đa số mới chỉ xong quy hoạch chung, thiếu các quy hoạch chi tiết
Trong đó mới có 27% số xã có làm quy hoạch sản xuất nông nghiệp và 38% số xã có công bố quy hoạch
Nguyên nhân chính là do:
a Địa bàn xã miền núi thường có diện tích lớn gấp nhiều lần các xã vùng đồng bằng, tài liệu đo đạc khảo sát gốc phần lớn là thiếu; để có căn cứ quy hoạch thì rất cần phải khảo sát, đo đạc, tuy nhiên với kinh phí nhà nước hỗ trợ 150 triệu đồng/xã cho công tác quy hoạch thì chỉ đủ cho quy hoạch chung nên không có kinh phí cho thực hiện các quy hoạch chi tiết; cũng thiếu kinh phí cho cắm mốc chỉ giới các công trình hạ tầng sau quy hoạch nên việc người dân xây dựng hoặc lấn chiếm vào đất quy hoạch vẫn là hiện tượng phổ biến ở nhiều địa phương
b Nhiều huyện MNPB chưa có quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn
2010 – 2020 nên thiếu căn cứ cho các xã quy hoạch sản xuất, quy hoạch hạ tầng có kết nối vùng
c Thiếu các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp và có kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới Đồng thời công tác tập huấn cho đội ngũ cán bộ cấp xã (chủ thể) và cấp huyện
về công tác này còn rất hạn chế nên đến nay phần đông số cán bộ này vẫn còn lúng túng trong triển khai công tác quy hoạch, lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện chương trình
2 Về lập đề án xây dựng nông thôn mới
Đã có 63% số xã lập xong đề án xây dựng nông thôn mới (bình quân chung cả
nước là 90%) Tuy nhiên tình trạng phổ biến là đề án chưa bám sát quy hoạch, nặng
về đầu tư xây dựng hạ tầng, chưa chú trọng tới phát triển sản xuất, văn hóa và bảo vệ
môi trường Giải pháp thực hiện đề án (nhất là nguồn lực) chưa chú trọng đến huy
Trang 9Tuy nhiên, hạ tầng của khu vực vẫn còn khó khăn và đang ở mức thấp so với các vùng khác trong cả nước Về giao thông, hiện cả nước có 149 xã chưa có đường giao thông đến trung tâm xã thì khu vực MNPB chiếm 80% số xã; tỷ lệ xã đạt tiêu chí
về giao thông (16,14%), điện (64,1%), nước sạch (24%), cơ sở vật chất văn hóa
(18,7%) đều thấp xa so với kết quả chung của cả nước Nhìn chung, hạ tầng nông thôn
các tỉnh MNPB (nhất là các tỉnh vùng Tây Bắc) là thiếu và chất lượng thấp nhất so
với các vùng trong cả nước đang là yếu tố quan trọng hạn chế phát triển kinh tế - xã hội của khu vực
4 Về Phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất
a) Về phát triển sản xuất
- Lợi thế: Khu vực MNPB có tiềm năng lớn về phát triển nông, lâm, ngư nghiệp Thực hiện Nghị quyết 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, khu vực MNPB tiếp tục được ưu tiên thụ hưởng một số chính
sách đặc thù (Chương trình 30a; Chương trình 135 giai đoạn II; Chương trình khoa học
kỹ thuật miền núi; chính sách tái định cư Thủy điện Sơn La…) đã tạo động lực góp phần
thúc đẩy sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp trong vùng Vì vậy, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp vẫn tiếp tục có bước phát triển, nổi bật là:
+ Về trồng trọt: Hình thành ngày càng rõ nét hơn một số vùng cây hàng hóa tập trung chiếm
tỷ trọng khá so với toàn quốc (chè : 65,7%; cây ăn quả : 23%; ngô : 36%)
+ Về chăn nuôi: Đàn trâu có 1,56 triệu con (chiếm 58% cả nước); đàn bò có 0,95 triệu con (chiếm 17%); đàn dê có 0,53 triệu con (chiếm 43%)
+ Về Lâm nghiệp: Sản lượng gỗ khai thác bằng 30% cả nước; diện tích khoán bảo vệ rừng các huyện 30a đạt 1.549.700 ha (bằng 64% diện tích giao khoán bảo vệ rừng toàn quốc được bố trí vốn từ ngân sách Nhà nước) Trong 5 năm 2010-2015, các tỉnh MNPB đã trồng 45.822 ha rừng phòng hộ (49% diện tích cả nước); 304.093 ha rừng sản xuất (51,7%); nhiều thiết bị kỹ thuật về giống, nhiều đồ án tái cơ cấu, nâng cao chất lượng rừng đã được triển khai
và bước đầu có kết quả tốt Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã và đang tạo chuyển biến mạnh đối với việc bảo vệ, phát triển rừng, đã tạo nguồn kinh phí đáng kể cho đầu tư phát triển rừng (năm 2015 đã thu được 1.171 tỷ đồng, xấp xỉ với ngân sách Trung ương đầu tư thực hiện kế hoạch bảo vệ phát triển rừng
Tuy nhiên, sản xuất nông – lâm nghiệp vẫn đang còn ở trình độ thấp, lạc hậu, năng suất lao động, đất đai đều còn ở mức thấp so với các vùng khác:
- Giá trị sản xuất nông lâm, thủy sản toàn vùng chỉ chiếm 9,2% cả nước
Trang 1010
- Giá trị rừng trồng còn thấp, cơ chế chính sách cho người làm nghề rừng chưa tạo ra cho người dân làm giàu từ nghề rừng nên tình trạng người dân phá rừng để lấy đất trồng cây khác vẫn xảy ra thường xuyên
- Khu vực MNPB có nhiều diện tích hồ lớn (Thác Bà, Sơn La, Na Hang, Hòa Bình
…) với gần 100 ngàn ha có thể nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, quy mô nuôi trồng thủy sản
còn nhỏ lẻ, phân tán, quảng canh và đối tượng nuôi chủ yếu vẫn là truyền thống nên năng suất và hiệu quả nuôi đều rất thấp
- Thu nhập của nông thôn khu vực miền núi phía Bắc năm 2015 là 16,2
triệu/người/năm (tăng 1,7 lần so với năm 2008 nhưng mới chỉ bằng 64,6% bình quân
chung cả nước)
- Tỷ lệ hộ nghèo 24% (tuy có giảm nhưng cao gấp 2,4 lần BQ chung cả nước)
b) Về phát triển và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất
- Đến tháng 8/2015, khu vực MNPB có 5.357 tổ hợp tác trong lĩnh vực nông – lâm – thủy lợi Thực tế sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp hàng hóa khu vực MNPB còn kém phát triển, nặng về tự cấp, tự túc thì hình thức tổ hợp tác sẽ hiệu quả hơn HTX nhưng do không có tư cách pháp nhân nên các tổ hợp tác khó tiếp cận vốn và nguồn lực, hợp tác giữa các thành viên lỏng lẻo… Vì vậy đang khó phát triển, xu thế chung là tổ hợp tác trong khu vực ngày càng giảm đi
- Về hợp tác xã:
+ Khu vực MNPB có 1.702 HTX (trong đó 92,4% HTX nông nghiệp; 6,2% HTX thủy sản và chỉ có 1,4% HTX lâm nghiệp) So với năm 2010, số HTX tăng 14% nhưng về quy mô thì nhỏ đi rất nhiều, có HTX chỉ có 12-15 xã viên; 51% HTX quy mô thôn Phần lớn chỉ thực hiện 1-3 dịch vụ (thủy lợi, giống, phân bón); có 4% số HTX có tổ chức dịch
vụ được khâu tiêu thụ sản phẩm và 3% là dịch vụ tín dụng
+ 48% số HTX đảm bảo được thu bù chi hoặc có lãi thấp, còn lại đều thua lỗ, 16% HTX có đăng ký nhưng thực chất không hoạt động
Hiện có một số HTX làm ăn có hiệu quả, điển hình như: HTX 19/5 (Hòa Bình); Nhữ Hán (Tuyên Quang); Vĩnh Lại (Phú Thọ); Tân Cương (Thái Nguyên); Tiến Bình (Bắc Giang)… các HTX này đều có tổ chức sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản nhưng rất khó nhân rộng những mô hình này
Theo đánh giá của các tỉnh, loại hình HTX khó phát triển là do:
- Thiếu cán bộ có trình độ, nhất là người điều hành;
- Khó tiếp cận vốn tín dụng;
- Có ít doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nên khó tạo ra vùng nguyên liệu tập trung, khó giải quyết khâu chế biến và tiêu thụ nông sản nên không tạo ra được cầu nối cho HTX phát triển
- Thiếu các phương án phát triển mô hình liên kết sản xuất giữa hộ nông dân với
các thành phần kinh tế ở nông thôn (trang trại, HTX, doanh nghiệp, khoa học, thương
mại, hiệp hội ngành hàng) phù hợp với điều kiện của vùng MNPB Đồng thời do hầu hết
các tỉnh đều còn khó khăn về ngân sách, nên chính sách hỗ trợ cho kinh tế tập thể nói chung và HTX nói riêng còn hạn chế
Trang 1111
Do vậy, nhìn chung phát triển kinh tế tập thể, phát triển quan hệ liên kết giữa nông dân, các đối tác kinh tế khác trong sản xuất – chế biến – tiêu thụ nông sản để thúc đẩy sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân khu vực MNPB vẫn chậm và khó khăn hơn các vùng khác
5 Về giáo dục, văn hóa, xã hội và môi trường
- Kết quả công tác đào tạo nghề (Quyết định 1956/QĐ-TTg) cho nông dân của các tỉnh trong khu vực còn hạn chế, một số địa phương còn chậm triển khai Hầu hết các Sở Nông nghiệp và PTNT đều lúng túng, nhất là về nội dung quản lý nhà nước và cách thức
tổ chức triển khai công tác này sau khi nhận chuyển giao công tác này từ Sở Lao động – Thương binh và xã hội
- Do đặc thù của khu vực MNPB, tổ chức hệ thống khuyến nông nhà nước đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người dân Hệ thống khuyến nông đã được tăng cường với 14.608 cán bộ (bao gồm khuyến nông tỉnh, huyện,
xã, thôn/bản) và đã góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, xóa đói giảm nghèo cho khu vực
Tuy nhiên, hiện nay có bất cập là: sau Nghị định 02/2010/CP, hàng năm ngân sách Trung ương cấp cho mỗi tỉnh bình quân là 2,2 tỷ đồng, ngân sách tỉnh phải bổ sung tương đương từ 1,9 đến 2 tỷ đồng/năm cho công tác này nhưng do khó khăn về ngân sách nên khoảng 50% số tỉnh trong khu vực không cấp đủ và chỉ tính riêng trong 3 năm qua, tổng kinh phí khuyến nông khu vực này giảm so với trước Nhiều tỉnh không có kinh phí cho khuyến nông hoạt động nên hàng ngàn cán bộ khuyến nông “thất nghiệp”, dẫn đến lãng phí nguồn lực, trong khi nông dân trong vùng rất cần được hỗ trợ để phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo
- Về văn hóa – xã hội:
Miền núi phía Bắc là khu vực có truyền thống bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc, nhất là các tỉnh khu vực Tây Bắc Trong điều kiện khó khăn, nhưng vẫn duy trì hàng ngàn đội văn nghệ thôn/bản Tuy nhiên, nhìn chung cơ sở vật chất nhà văn hóa thôn/bản
còn thiếu và nghèo nàn, hiện chỉ có khoảng 18,7% xã đạt chuẩn (bằng 54% bình quân
chung cả nước) Nguồn lực xây dựng đời sống văn hóa nông thôn còn hạn hẹp; việc xây
dựng đời sống văn hóa tinh thần, đẩy lùi các hủ tục lạc hậu còn ít chuyển biến; đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa cơ sở còn thiếu và phổ biến là còn yếu
- Về môi trường:
Trọng điểm của công tác môi trường khu vực MNPB là hướng vào phát triển nước sinh hoạt hợp vệ sinh, phát triển 3 công trình vệ sinh thiết yếu cho hộ và xây dựng công trình cấp nước hợp vệ sinh Sau 5 năm xây dựng nông thôn mới, tỷ lệ hộ có sử dụng nước
hợp vệ sinh tăng 4% nhưng tỷ lệ chung của toàn vùng vẫn còn thấp (57%); tỷ lệ hộ có đủ 3 công trình vệ sinh mới đạt gần 60% (chỉ cao hơn khu vực ĐBSCL); tỷ lệ hộ có khu chăn nuôi
hợp vệ sinh mới đạt gần 30% Việc vận động đóng góp xây dựng công trình cấp nước tập trung, cải tạo nơi ở, vườn ao, cổng ngõ để tạo cảnh quan sanh sạch đẹp từ mỗi gia đình, ngõ xóm nhìn chung còn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của cấp ủy, chính quyền các cấp và sự vào cuộc của các đoàn thể chính trị - xã hội
6 Về hệ thống chính trị và an ninh trật tự ở nông thôn
Trang 1212
Sau 2 kỳ Đại hội Đảng vừa qua (năm 2010 và năm 2015), ở các cấp, hệ thống chính trị ở cơ sở đã sớm được củng cố và kiện toàn nhằm đáp ứng yêu cầu về nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; các cấp ủy Đảng đều có Nghị quyết và chương trình hành động trong xây dựng nông thôn mới Hoạt động của Đảng bộ cơ sở đều chú trọng đến công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, thuyết phục vận động người dân tham gia xây dựng nông thôn mới Do
đó nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng nông thôn mới được nâng lên; phấn khởi tin tưởng, tích cực tham gia đóng góp ngày công, hiến đất, ủng hộ vật chất; một số các doanh nghiệp đã có nhiều hoạt động thiết thực hưởng ứng Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng phát động
Tuy nhiên, nhận thức của một bộ phận cán bộ, nhân dân về xây dựng nông thôn mới chưa đầy đủ, vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào nhà nước Đội ngũ giúp việc cho Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các cấp còn thiếu và yếu, hầu hết là kiêm nhiệm nên hiệu quả công việc chưa cao
7 Tình hình huy động các nguồn lực cho thực hiện Chương trình
Trong 5 năm, theo báo cáo chưa đầy đủ, tổng nguồn vốn huy động cho xây dựng nông thôn mới các tỉnh MNPB đạt 151.229 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách là 41%; vốn nhân dân đóng góp là 5,7%; vốn doanh nghiệp khoảng 9%
8 Về kết quả đạt các tiêu chí nông thôn mới
Đến tháng 12/2015, bình quân các xã khu vực MNPB đã đạt 9,3 tiêu chí, tăng 6,1 tiêu
chí so với năm 2010 (bình quân cả nước đạt 12,9 tiêu chí, tăng 8,2 tiêu chí)
Số xã đạt 19 tiêu chí là 7,2% (cả nước là 17,5%)
Số xã đạt 15 – 18 tiêu chí là 6,7% (cả nước là 15,4%)
Số xã đạt 10 – 14 tiêu chí là 22,3% (cả nước là 35,6%)
Số xã đạt 5 – 9 tiêu chí là 45,1% (cả nước là 28,5%)
Số xã đạt dưới 5 tiêu chí là 18,7% (cả nước là 6%)
Đến tháng 12/2015, cả nước có duy nhất tỉnh Bắc Kạn không có xã nào đạt chuẩn nông thôn mới Số xã dưới 5 tiêu chí của cả nước còn 536 xã thì đại bộ phận thuộc khu vực miền núi Phía Bắc (426 xã)
Kết quả trên phản ánh tuy rằng nhân dân – cán bộ các tỉnh miền núi Phía Bắc đã có cố gắng nhưng kết quả đạt được còn thấp hơn nhiều so với bình quân chung cả nước
II MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG XÂY DỰNG NTM Ở KHU VỰC MNPB
- Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào rộng khắp trong nhân dân, kể cả
đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa Đội ngũ cán bộ (nhất là cán bộ cơ sở) đã có bước
trưởng thành lớn trong nhận thức, khả năng vận động quần chúng và trình độ tổ chức quản lý xây dựng nông thôn mới
Trang 13a Do đặc điểm địa hình hiểm trở, kinh phí đầu tư cho hạ tầng cao hơn các khu vực
khác, dân cư ở phân tán; khả năng đóng góp của cộng đồng dân cư thấp; điều kiện hỗ trợ từ ngân sách có hạn Sau 5 năm xây dựng nông thôn mới, hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn của MNPB đã có bước phát triển vượt bậc Tuy nhiên, tỷ lệ phát triển hạ tầng của khu vực vẫn thấp nhất cả nước, nhất là giao thông, thủy lợi, nước sạch, cơ sở văn hóa… và đang
là “điểm nghẽn” chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực
b Dân cư phân tán, trình độ dân trí thấp, nhiều tập tục lạc hậu còn nặng nề (ăn ở thiếu
vệ sinh, tảo hôn, ma túy, di dân tự do ) , tỷ lệ hộ nghèo của khu vực MNPB còn cao (24%);
tỷ lệ xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ huyện 30a thuộc loại cao nhất trong cả nước Vì thế, công cuộc xóa lạc hậu, giảm nghèo là nhiệm vụ cao nhất và cũng là “gánh nặng” nhất trong tiến trình xây dựng nông thôn mới của các tỉnh trong khu vực
c MNPB là khu vực có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp (bao gồm cả nông – lâm – ngư nghiệp) nhưng do đặc thù chung là đất đai rộng lớn nhưng bị chia cắt phân tán, hạ
tầng phục vụ sản xuất còn thiếu và lạc hậu, thời tiết biến đổi thất thường gây nhiều rủi ro bất lợi cho sản xuất, trình độ dân trí thấp, tập quán sản xuất lạc hậu, quy hoạch sản xuất nông nghiệp chưa gắn với đầu tư tương thích nên sản xuất hàng hóa khu vực vẫn còn rất khó khăn
và chậm phát triển:
- Rừng chiếm 35% diện tích cả nước nhưng năng suất rừng trồng còn rất thấp Các chính sách hiện hành chưa tạo điều kiện lôi cuốn các nguồn lực xã hội vào đầu tư phát triển rừng Người dân được giao rừng chưa làm giàu được từ nghề rừng nên chưa gắn bó với phát triển, bảo vệ rừng
- Nông nghiệp có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp hàng hóa, thực tế đã hình
thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung (cả trồng trọt và chăn nuôi) nhưng năng suất cây
trồng – vật nuôi đều còn thấp, sản xuất vẫn phổ biến là lạc hậu, nông sản có “thương hiệu” còn thiếu
- Về thủy sản: Là khu vực có nhiều hồ chứa nước lớn, không chỉ có tiềm năng du lịch
mà còn rất lợi thế cho phát triển thủy sản (cả thủy sản, đặc sản) Tuy nhiên diện tích mặt
nước phần lớn bỏ hoang; một số vùng nuôi năng suất rất thấp và chủ yếu là sản phẩm truyền thống nên hiệu quả không cao
Tổng giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp của khu vực hiện mới chỉ chiếm 9,2%
Trang 14- Với đặc thù địa bàn rộng, dân cư phân tán (nhiều xã rộng bằng 1 huyện ở vùng đồng bằng nhưng dân cư chỉ bằng 1/20) Do đó việc xây dựng các công trình hạ tầng công cộng ở tuyến xã sẽ ít thiết thực với người dân so với ở thôn bản Người dân sẽ không có điều kiện hưởng thụ, không thấy rõ lợi ích nên ít tích cực tham gia (tỷ lệ đóng góp của người dân, tính
cả công sức của khu vực Miền núi 5 năm qua mới đạt khoảng 5,7% chỉ bằng gần 40% so với khu vực đồng bằng)
Một số mô hình thành công tại Lào Cai, Lai Châu… cho thấy cách làm lấy thôn bản làm trung tâm, ưu tiên làm thôn bản trước rồi làm xã sau đều cho thấy hiệu quả Tuy nhiên các mô hình trên còn chưa được nghiên cứu điều chỉnh
- Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho xây dựng nông thôn mới khu vực miền núi tuy có được ưu tiên nhưng hầu hết các tỉnh đều áp dụng chia bình quân cho xã Trong tình trạng là phần “nội lực” của các xã (nhất là các xã đặc biệt khó khăn) còn hạn chế thì tất yếu dẫn đến vốn phân tán và lãng phí, đáng tiếc đây là thực trạng chủ yếu của nhiều địa phương
- Nhiều chính sách hỗ trợ giảm nghèo cho đồng bào khu vực Miền núi như 134, 135,
39 a… đều chủ yếu là cấp vốn cho không (không lãi suất, không thu hồi gốc) Thời hạn hỗ trợ ngắn, thường là 1-2 vụ sản xuất đã dẫn đến thực trạng là: người được cho chưa kịp tiếp thu kỹ thuật sản xuất mới thì đã hết kỳ, nảy sinh tâm lý ỷ lại vào Nhà nước, muốn nghèo tiếp
để được cho… vô hình chung nó làm thui chột ý chí phấn đấu vươn lên làm giầu của đồng bào Một số nơi sinh ra suy tỵ, mất đoàn kết nội bộ nhân dân…
Đó là những vấn đề rất cần phải thay đổi về chính sách, cách làm mới đẩy nhanh tốc
độ và chất lượng xây dựng nông thôn mới của các tỉnh
Công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng, của tỉnh, của huyện và xã đều mang tính định hướng, thiếu chi tiết dưới dạng các dự án cụ thể nên rất khó cho tổ chức thực hiện ở cấp xã, thôn, bản
III ĐỀ XUẤT NHIỆM VỤ CẦN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÙNG MNPB THỜI GIAN TỚI VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
3.1 Những nhiệm vụ cần tập trung giải quyết
Phương châm:
- Tập trung giải quyết những khó khăn đang là “điểm nghẽn” trong xây dựng nông thôn mới ở khu vực để tạo chuyển biến đột phá thúc đẩy phát triển chung
- Phát triển nông thôn bền vững phải có bước đi vững chắc do đó phải điều chỉnh lại và
đề ra mục tiêu đạt chuẩn phù hợp (nên ở mức 15% xã đạt chuẩn cho năm 2020)