Luận văn, khóa luận, chuyên đề, tiểu luận, bài tập, đề tài, ngân hàng, tài chính, vốn, đầu tư, tín dụng, cổ tức, tài chính, cổ phần
Trang 1PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hơn 20 năm thực hiện công cuộc "đổi mới", Việt Nam đã thu được nhữngthành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế luôn là vấn đề nóng hổi nhất
và là mục tiêu quan trọng nhất của cả đất nước và mỗi người dân
Trong một thời gian dài, con người chỉ được nhìn nhận như một trong nhiềunguồn lực cho tăng trưởng kinh tế hơn là mục tiêu phát triển thật sự của tăng trưởngkinh tế Mọi nguồn lực, trong đó có con người, được huy động một cách tối đa đểphục vụ phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế được xem là "cứu cánh" giải quyếtmọi vấn đề của con người, của xã hội
Đến những năm 90 của thế kỷ XX, cách tiếp cận coi con người là trung tâmcủa sự phát triển bắt đầu được nhìn nhận ở Việt Nam, xã hội từng bước nhận thứctốt hơn và đồng thuận cao hơn về tầm quan trọng của sự phát triển con người Trongtrường hợp này, là mở rộng phạm vi lựa chọn của con người với mục đích là để conngười sống: 1)cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, 2) được giáo dục, 3) được tiếp cậnđến các nguồn lực cần thiết cho một mức sống cao hơn.Vì vậy, Việt Nam đã chú ýhơn đến "tăng trưởng bền vững" và đã triển khai thực hiện một số chương trìnhquốc gia về xóa đói giảm nghèo và các lĩnh vực xã hội khác Tuy nhiên, phải đếnnăm 2001, các chương trình mục tiêu quốc gia mới được chú ý hơn và được nângtầm bằng việc hoàn chỉnh cơ chế, tập trung nguồn lực cho quá trình thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo được ra đời trong bốicảnh đó với mục tiêu nhằm làm thay đổi căn bản chất lượng giáo dục - đào tạo củanước ta; một cách khác, là mở rộng khả năng của con người Chương trình cónhững ưu tiên cho vùng khó khăn, thực hiện công bằng xã hội qua việc phân bổnguồn lực
Quảng Bình là một tỉnh nghèo, tỷ trọng nông nghiệp - nông thôn thuộc hàngcao của cả nước, 6/7 huyện, thành phố có vùng đặc biệt khó khăn Hạn chế về
Trang 2nguồn lực cho phát triển là vấn đề quan trọng đối với chính quyền, doanh nghiệp,người dân Quảng Bình Vì vậy, tham gia chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục
và đào tạo là cơ hội để Quảng Bình xây dựng hệ thống giáo dục - đào tạo một cáchtoàn diện, cải thiện các chỉ số về giáo dục, qua đó, nâng cao chỉ số phát triển conngười, góp phần phát triển một cách bền vững
Tuy nhiên, hạn chế về khả năng quản lý, điều hành và sự đóng góp của ngânsách địa phương và một số nguyên nhân khác nên hiệu quả quản lý, sử dụng vốnchương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo không đạt được như kỳ vọng
Để góp phần nghiên cứu vấn đề này một cách có hệ thống, tìm ra nguyên nhân và
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn chương trìnhmục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo, tác giả chọn đề tài: "Quản lý vốn chươngtrình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo tại Quảng Bình"
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là khái quát hóa, hệ thống hóa và bổ sung những vấn đề
lý luận chung liên quan đến nội dung của đề tài thuộc lĩnh vực chi tiêu công cho giáodục đào tạo Trên cơ sở đó, luận văn này nhằm vào các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Tổng hợp được các vấn đề lý luận, các văn bản pháp quy liên quan tới quản
lý, sử dụng vốn chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
- Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng vốn chương trình mục tiêu quốc giagiáo dục và đào tạo ở Quảng Bình
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụngvốn chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo ở Quảng Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Công tác quản lý và sử dụng vốn chương trình mục tiêu quốcgia giáo dục và đào tạo
- Phạm vi: + Vốn chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo của
tỉnh Quảng Bình;
+ Thời gian đánh giá thực trạng từ năm 2002-2006;
+ Các giải pháp đề xuất từ năm 2007-2010
Trang 34 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu thứ cấp theo thời gian;
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp từ các đơn vị cơ sở, sử dụngcác phép kiểm định thống kê và phân tích số liệu đa biến nhằm xác định nhữngnhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng hiệu quả vốn chương trình mục tiêuquốc gia giáo dục - đào tạo
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, danh mục các tài liệu thamkhảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm:
Chương 1: Tổng quan về quản lý, sử dụng vốn chương trình mục tiêu quốcgia giáo dục và đào tạo
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý, sử dụng vốn chương trình mục tiêu quốc giagiáo dục và đào tạo tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2002-2006
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn chương trìnhmục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo tại tỉnh Quảng Bình từ nay đến năm 2010
Trang 4PHẦN THỨ HAI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Tài chính công
Vốn nhà nước đóng một vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hộicủa một đất nước hay địa phương Đầu tư từ nguồn vốn này có hai bản chất: 1) lànguồn “vốn mồi, vốn bảo đảm, vốn đối ứng” nhằm thu hút đầu tư từ các nguồn kháctrong xã hội, 2) đi vào xây lắp, cung ứng các dịch vụ công cộng, dịch vụ xã hội, hạtầng cơ sở có tính nền tảng, những lĩnh vực mà các nguồn vốn khác ít tham gia, đểtạo điều kiện cho một sự phát triển hài hòa, ổn định và bền vững [44]
Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo, một trong các trườnghợp đó, bao gồm nhiều dự án khác nhau nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đápứng ngày càng tốt hơn cho nhu cầu của xã hội Vốn chương trình nằm trong cơ cấuchi ngân sách nhà nước (NSNN) - bộ phận chủ yếu của tài chính công, vì vậy, việcnghiên cứu hiệu quả quản lý, sử dụng vốn chương trình phải được xem xét ở góc
độ là một bộ phận của chi NSNN và tài chính công
Dựa theo một số tiêu thức nhất định, hệ thống Tài chính quốc dân được phânloại thành Tài chính công và Tài chính tư
Tài chính công là một thuật ngữ mới xuất hiện tại Việt Nam, vì vậy, có rấtnhiều cách tiếp cận nghiên cứu về tài chính công Xét theo ý nghĩa và phạm vi,thuật ngữ tài chính công được hiểu là sự hợp thành bởi ý nghĩa và phạm vi của 2
thuật ngữ: Tài chính và Công (hay công cộng) Từ góc độ đó, tài chính công là tổng
Trang 5thể các hoạt động thu, chi bằng tiền do nhà nước tiến hành, nó phản ánh các quan
hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ công nhằm phục vụ thực hiện các chức năng của Nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội [15]
Tài chính công có những đặc trưng cơ bản sau:
- Về mặt sở hữu: các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong tài chính côngthuộc sở hữu công cộng, mà nhà nước là đại diện, thường gọi là sở hữu nhà nước
- Về mặt mục đích: các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong tài chính côngđược sử dụng vì lợi ích chung của toàn xã hội, của cả cộng đồng, vì các mục tiêukinh tế vĩ mô, không vì mục tiêu lợi nhuận
- Về mặt chủ thể: các hoạt động thu chi bằng tiền trong tài chính công do cácchủ thể Công tiến hành Các chủ thể Công ở đây là Nhà nước hoặc các cơ quan, tổchức được nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các thu, chi đó
- Về mặt luật pháp: các quan hệ tài chính công chịu sự điều chỉnh bởi các
"Luật công", dựa trên các quy phạm pháp luật mệnh lệnh - quyền uy; khác với tàichính công, các quan hệ tài chính tư được điều chỉnh bới các "Luật tư", dựa trên cácquy phạm pháp luật hướng dẫn, thỏa thuận
Tùy theo các cách tiếp cận khác nhau dựa trên các tiêu thức khác nhau có thể
có các cách phân loại khác nhau về hệ thống tài chính công Theo nội dung quản lý,
có thể phân chia tài chính công bao gồm:
- Ngân sách Nhà nước;
- Tín dụng Nhà nước;
- Các quỹ tài chính nhà nước (TCNN) ngoài ngân sách nhà nước
Trong đó, ngân sách Nhà nước là khâu quan trọng nhất giữ vai trò chủ đạotrong tài chính công
Điều đáng chú ý là, tài chính của các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp
và tài chính của các doanh nghiệp nhà nước mặc dù có nguồn gốc từ NSNN hoặcthuộc sở hữu nhà nước đều không được xếp vào hệ thống tài chính công do không
có đầy đủ các đặc trưng cơ bản nêu trên (về chủ thể, mục đích)
Trang 6Các quỹ TCNN ngoài NSNN Tài chính tư
đã thoát ly ý nghĩa ban đầu và mang nội dung hoàn toàn mới Cho tới nay, khi bànluận về khái niệm ngân sách cũng có nhiều quan điểm khác nhau Từ điển thuật ngữ
tài chính tín dụng (1996) của Viện Nghiên cứu Tài chính cho rằng: "Ngân sách được hiểu là dự toán và thực hiện mọi khoản thu nhập (tiền thu vào) và chi tiêu (tiền xuất ra) của bất kỳ một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, gia đình hoặc cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)".
Từ khái niệm về ngân sách, có thể hiểu ngân sách Nhà nước là dự toán (kếhoạch) thu - chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định(thường là một năm)
Luật Ngân sách Nhà nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002, có hiệu lực thi hành từ
năm ngân sách 2004 quy định: "NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước"[29].
Chu trình ngân sách hay còn g i l quy trình ngân sách dùng ọi là quy trình ngân sách dùng để chỉ à quy trình ngân sách dùng để chỉ để chỉ ch ỉ
to n b ho t à quy trình ngân sách dùng để chỉ ộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho ạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho độ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho ng c a m t ngân sách k t khi b t ủa một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho ộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho ể chỉ ừ khi bắt đầu hình thành cho ắt đầu hình thành cho đầu hình thành cho u hình th nh cho à quy trình ngân sách dùng để chỉ
t i khi k t thúc chuy n sang ngân sách m i M t chu trình ngân sách g m ết thúc chuyển sang ngân sách mới Một chu trình ngân sách gồm ể chỉ ộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho ồm
Trang 73 khâu n i ti p nhau, ó l : l p ngân sách, ch p h nh ngân sách v quy t ết thúc chuyển sang ngân sách mới Một chu trình ngân sách gồm đ à quy trình ngân sách dùng để chỉ ập ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết ấp hành ngân sách và quyết à quy trình ngân sách dùng để chỉ à quy trình ngân sách dùng để chỉ ết thúc chuyển sang ngân sách mới Một chu trình ngân sách gồm toán ngân sách.
Chấp hành
NS năm n+2 Quyết toán NS năm n+2
LậpNS(n+3)
Chấp hành
NS nămn+3
Quyết toán NS năm n+3
6/n 1/n+1 1/n+2 1/n+3 1/n+4 1/n+5 6/n+5
Hình 1.2: Chu trình ngân sách Việt Nam
Chu trình ngân sách thường bắt đầu từ trước năm ngân sách và kết thúc saunăm ngân sách; trong một năm ngân sách đồng thời diễn ra cả 3 khâu của chu trìnhngân sách (Hình 1.2)
1.1.3 Chi ngân sách nhà nước
1.1.3.1 Khái niệm chi ngân sách nhà nước
Đứng về phương diện pháp lý, chi ngân sách Nhà nước là những khoản chitiêu do Chính phủ hay các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được mục tiêucông ích, chẳng hạn như: Bảo vệ an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh
Chi ngân sách Nhà nước có quan hệ chặt chẽ với thu ngân sách Nhà nước.Thu ngân sách Nhà nước là nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu chi ngân sách nhà nước,ngược lại sử dụng vốn ngân sách Nhà nước để chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tếlại là điều kiện để tăng nhanh thu nhập của ngân sách Nhà nước Do vậy việc sử
Trang 8dụng vốn ngân sách Nhà nước, chi tiêu ngân sách một cách tiết kiệm, có hiệu quả làmột bộ phận không thể tách rời của vấn đề nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xãhội và tăng sản phẩm Quốc gia.
Chi ngân sách Nhà nước gắn liền với việc thực hiện các chính sách kinh tế,chính trị, xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ Điều này chứng tỏ các khoản chicủa ngân sách nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hộicủa một Quốc gia [18]
1.1.3.2 Đặc điểm chi ngân sách nhà nước
- Chi ngân sách Nhà nước là một trong những công cụ để Nhà nước thựchiện chức năng quản lý kinh tế - xã hội Chi ngân sách nhà nước gắn liền với cácchương trình mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước đề ra nhằm thực hiện chức năngquản lý của mình Do đó, chi ngân sách Nhà nước thường là những khoản chi cótính ổn định trong một khoảng thời gian dài Vì vậy, các chương trình kinh tế - xãhội Nhà nước đảm nhận càng nhiều, phạm vi càng rộng thì các khoản chi càng lớn,phức tạp, đa dạng và chi ngân sách Nhà nước càng gắn chặt vào tiến trình kinh tế
- Chi ngân sách Nhà nước có quy mô lớn, phạm vi rộng, chủng loại chi đadạng Bên cạnh đó sự khác biệt về chủ sở hữu ngân sách người trực tiếp sử dụngtiền chi và đối tượng phục vụ trực tiếp của chi ngân sách Nhà nước càng làm choquá tình này phức tạp hơn, đòi hỏi phải có một chế độ quản lý chặt chẽ nhằm hạnchế và ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực như: lãng phí, tham ô, biển thủ tiền củangân sách Nhà nước
- Đa phần các khoản chi ngân sách Nhà nước đều mang tính chất không hoàntrả Do đó, việc đánh giá chi ngân sách Nhà nước cần được tiến hành trên góc độ vĩ
mô của toàn bộ nền kinh tế - xã hội
1.1.3.3 Vai trò của chi ngân sách nhà nước
- Chi ngân sách Nhà nước là nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo và duy trì sựhoạt động bình thường của hệ thống chính quyền các cấp từ TW đến địa phương.Hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp, không chỉ nhằm mục đích thống nhấtquản lý các hoạt động của nền kinh tế quốc dân mà còn nhằm đảm bảo sự ổn định
về chính trị: Một trong những nhân tố có vai trò quyết định đến sự thành bại của
Trang 9công cuộc cải cách kinh tế Để có một nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định và vữngchắc cần phải có bộ máy chính quyền có năng lực, trong sạch và có nguồn vật chất
đủ mạnh để chính quyền các cấp có thể thực thi được các nhiệm vụ của mình
- Chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Nhà nước, đặc biệt là chi xâydựng hệ thống cơ sở hạ tầng có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế,
vì nó tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của doanhnghiệp hay nói cách khác, đầu tư của Chính phủ tạo ra sự khởi động ban đầu, kíchthích quá trình vận động vốn để hướng tới sự tăng trưởng
- Trong trường hợp đặc biệt, chi ngân sách nhà nước trợ cấp cho một sốdoanh nghiệp cũng góp phần không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế Kinhnghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy việc thay thế các quy chế ưu đãi bằngcác khoản trợ cấp có tác dụng rất lớn trong việc khuyến khích phát triển sản xuấtkinh doanh, hơn nữa nó còn giảm một số thủ tục rườm rà do quy định miễn, giảmthuế gây ra
- Một trong những mục tiêu chính sách ngân sách nhà nước là đảm bảo côngbằng xã hội Bên cạnh việc sử dụng thu ngân sách nhà nước để thực hiện công tác này,chi ngân sách Nhà nước cũng có một vai trò hết sức quan trọng Cơ chế thị trường tạo
ra sự phân hoá giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấptrong xã hội Để làm giảm khoảng cách đó, Nhà nước phải sử dụng các hình thức trợcấp từ ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó các khoản trợ cấp cho giáo dục, y tế có ýnghĩa lớn đối với việc nâng cao dân trí và đảm bảo sức khoẻ cho dân cư
- Chi ngân sách Nhà nước có tác động nhất định đến việc thực hiện mục tiêu
ổn định kinh tế Trường hợp chi vượt quá thu nhiều sẽ dẫn đến lạm phát Vì vậy, đểkiềm chế lạm phát phải khống chế tiêu dùng của Chính phủ, đặc biệt đối với nhữngnước đang phát triển, nơi lạm phát thường ở mức độ cao Đồng thời, chi ngân sáchNhà nước có vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế thông qua hỗtrợ phát triển khả năng sản xuất, cung cấp thích ứng nguồn nhân lực và nghiên cứukhoa học kỹ thuật
Như vậy, phát triển kinh tế, xã hội ổn định, công bằng và văn minh, một dân
số thông minh và đầy triển vọng tất cả những vấn đề này đều có liên hệ mật thiết
Trang 10đến chi tiêu ngân sách nhà nước và phụ thuộc vào mức độ chi tiêu ngân sách Nhànước trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.
1.1.3.4 Phân loại chi ngân sách nhà nước
Phân loại chi ngân sách nhà nước là sự sắp xếp các khoản chi thành nhữngnhóm theo những tiêu thức nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác nghiêncứu, phân tích kinh tế, quản lý và định hướng chi ngân sách Nhà nước Thôngthường phân loại chi ngân sách nhà nước được dựa trên các tiêu thức chủ yếu sau:
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động:
+ Chi đầu tư kinh tế;
+ Chi cho Y tế;
+ Chi cho giáo dục;
+ Chi cho phúc lợi xã hội;
+ Chi cho quản lý hành chính;
+ Chi cho an ninh và quốc phòng
- Căn cứ vào tính chất sử dụng:
+ Chi cho lĩnh vực sản xuất vật chất;
+ Chi cho lĩnh vực phi sản xuất vật chất
- Căn cứ vào chức năng quản lý của nhà nước:
- Căn cứ vào các yếu tố thời hạn tác động của các khoản chi:
+ Chi thường xuyên: Là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn, baogồm: Chi lương và các khoản có tính chất tiền lương, chi bổ sung quỹ hưu trí, chicông vụ phí, chi mua sắm hàng hoá và dịch vụ cho nghiệp vụ và cho sửa chữathường xuyên, chi trợ cấp, dự bị phí, chi trợ giá, chi hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội
Trang 11+ Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi có thời hạn tác động dài, baogồm: Chi đầu tư các dự án phát triển, chi chuyển giao vốn đầu tư cho các doanhnghiệp nhà nước hoặc các địa phương, chi bổ sung dự trữ nhà nước
+ Chi trả khác: Bao gồm, chi cho vay (như: cho vay cá nhân và các tổ chứcphi lợi nhuận, cho vay các tổ chức nhà nước, cho vay nước ngoài ) trả lãi và nợgốc (vay trong nước, vay ngoài nước), chi viện trợ
1.1.3.5 Cơ cấu chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam
Theo luật pháp về ngân sách nhà nước hiện hành ở nước ta, chi ngân sáchnhà nước ở Việt Nam bao gồm:
a) Chi thường xuyên về
- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế xã hội, văn hoá thông tin, vănhọc nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác:
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế;
- Quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội;
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước;
- Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao độngViệt Nam, Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hội Cựu chiến binh Việt Nam,Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam;
- Trợ giá theo chính sách của nhà nước;
- Phần chi thường xuyên của các chương trình mục tiêu (CTMT) quốc gia,
dự án nhà nước;
- Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội;
- Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;
- Trợ cấp cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổchức xã hội - nghề nghiệp;
- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật;
b) Chi đầu tư phát triển
Trang 12- Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không cókhả năng thu hồi vốn;
- Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tàichính của Nhà nước; Góp phần cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnhvực cần thiết có sự tham gia của nhà nước theo quy định của pháp luật;
- Chi bổ sung dự trữ Nhà nước;
- Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước;
- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật
Chi đầu tư phát triển
Các khoản chi khác
Hình 1.3: Cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam
c) Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay.
d) Chi viện trợ của NSTW cho các Chính phủ và tổ chức ngoài nước.
đ) Chi cho vay của NSTW.
e) Chi trả gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc ngân sách cấp tỉnh theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.
g) Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính theo quy định.
h) Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.
i) Chi chuyển nguồn từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau (Nghị định số 60/2003/NĐ-CP [9].
1.2 CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA 1.2.1 Chương trình mục tiêu quốc gia
Trang 13a) Bối cảnh
Trọng tâm của quá trình phát triển đang chuyển từ tăng trưởng kinh tế sangmục tiêu vì con người Hàng thế kỷ trước đây, trước nạn đói nghèo nghiêm trọng,thế giới đã phải tập trung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tính cách là công cụ cảithiện mức tiêu dùng của người dân và xóa đói giảm nghèo Tốc độ tăng trưởng caocũng được xem là một tiền đề tốt cho việc huy động nguồn vốn đầu tư trong nước
và nước ngoài để tiếp tục phát triển đất nước và nâng cao đời sống người dân
Tuy nhiên, do quá tập trung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nên một chừngmực nào đó, các chính sách phát triển đã bỏ qua hoặc còn đánh giá thấp vai trò củacon người Con người thường chỉ được nhìn nhận như nguồn lực cho tăng trưởng
hơn là mục tiêu phát triển thật sự của tăng trưởng kinh tế Trong khi đó, mặc dù rất
cần thiết, tăng trưởng kinh tế lại không phải là điều kiện đủ cho sự phát triển toàn
diện, vì hai lý do Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế chỉ nắm bắt hiệu ứng thu nhập ở
cấp độ tổng thể, trong khi bỏ qua nhiều khía cạnh xã hội của sự phát triển Nếukhông có giải pháp hợp lý, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở cấp độ vi mô
có thể trở nên nghiêm trọng hơn Một số lập luận có thể cho rằng tái phân phối làcần thiết nhằm bổ sung cho tăng trưởng kinh tế; song ngay theo nghĩa đó, tái phânphối hiệu quả phải được đặt ngang bằng với tăng trưởng kinh tế để tạo cơ hội công
bằng cho mọi người cùng phát triển Thứ hai, tăng trưởng kinh tế có thể đạt được
nhờ khai thác quá mức các nguồn tài nguyên (không tái tạo được) như môi trường,tài nguyên thiên nhiên, mà người trả giá chính là các thế hệ tương lai [43]
Cách tiếp cận coi con người là trung tâm của sự phát triển mang tính toàndiện hơn, do đó, cũng thích hợp hơn Từ những năm 1990, các nhà nghiên cứu, cácnhà hoạch định và tư vấn chính sách, các nhà thực thi chính sách đã có nhận thứctốt hơn và đồng thuận cao hơn về tầm quan trọng của sự phát triển con người Nhưđược định nghĩa trong Báo cáo phát triển con người toàn cầu đầu tiên của Chương
trình Phát triển Liên hiệp Quốc (UNDP) năm 1990, phát triển con người là "quá trình mở rộng sự lựa chọn của con người Điều quan trọng nhất của phạm vi lựa chọn rộng lớn đó là để con người sống một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, được
Trang 14giáo dục và tiếp cận đến các nguồn lực cần thiết cho một mức sống cao"[10] Xét theo năng lực, phát triển con người có thể định nghĩa là "quá trình mở rộng khả năng của con người, tập hợp những lựa chọn sẵn có cho con người, và cuối cùng là quyền tự do con người có được để xác định hạnh phúc của mình" [23].
Không nằm ngoài quy luật đã phân tích ở trên, sau một thời gian dài tậptrung các nguồn lực cho phát triển kinh tế, giữa thập niên 90 của thế kỷ trước, ViệtNam đã quan tâm hơn đến "tăng trưởng bền vững", vì vậy, đã triển khai thực hiệnmột số chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo và các lĩnh vực xã hội khác[.Tuy nhiên, phải đến năm 2001, các chương trình mục tiêu quốc gia mới được chú ýhơn và được nâng tầm bằng việc hoàn chỉnh cơ chế, tập trung nguồn lực cho quátrình thực hiện
b) Khái niệm về chương trình mục tiêu quốc gia
Chương trình mục tiêu quốc gia là tập hợp các mục tỉêu, nhiệm vụ và giảipháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường, cơ chế, chínhsách, tổ chức để thực hiện một hoặc một số mục tiêu đã được xác định trong Chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước trong một thời gian nhất định [33]
Một chương trình mục tiêu quốc gia gồm nhiều dự án khác nhau để thực hiệnmục tiêu của chương trình Đối tượng quản lý và kế hoạch hóa được xác định theochương trình, việc đầu tư được thực hiện theo dự án Dự án thuộc chương trình mụctiêu quốc gia là một tập hợp các hoạt động để tiến hành một công việc nhất địnhnhằm đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể đã được định rõ trong chương trìnhvới nguồn lực và thời hạn được xác định
c) Tiêu chuẩn lựa chọn chương trình mục tiêu quốc gia
- Các vấn đề được chọn để giải quyết bằng chương trình mục tiêu quốc giaphải là những vấn đề có tính cấp bách, liên ngành, liên vùng và có tầm quan trọngđối với sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước, cần phải được tập trungnguồn lực và sự chỉ đạo của Chính phủ để giải quyết
- Mục tiêu của chương trình quốc gia phải rõ ràng, lượng hóa được và phảinằm trong chiến lược chung của quốc gia
Trang 15- Thời gian thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phải được quy địnhgiới hạn, thường là 5 năm, hoặc phân kỳ thực hiện cho từng giai đoạn 5 năm.
- Các vấn đề xã hội mà Chính phủ Việt Nam cam kết với quốc tế thực hiệntheo chương trình chung của thế giới hoặc khu vực
d) Nội dung chương trình mục tiêu quốc gia
- Thực trạng tình hình của lĩnh vực thuộc chương trình mục tiêu quốc gia;những vấn đề cấp bách cần được giải quyết bằng chương trình mục tiêu quốc gia
- Phạm vi, quy mô và mục tiêu chung của chương trình; các chỉ tiêu cơ bảnphải đạt được trong từng khoảng thời gian cụ thể; các dự án của chương trình
- Tổng mức kinh phí của chương trình bao gồm cả kinh phí cho việc xử lýcác vấn đề về khoa học, công nghệ (nếu có), mức kinh phí theo từng năm, phươngthức huy động các nguồn vốn
- Cơ chế, chính sách thực hiện chương trình
- Yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực thực hiện chương trình
- Những vấn đề về khoa học, công nghệ xử lý (nếu có)
- Hiệu quả kinh tế - xã hội chung của chương trình và của từng dự án
- Khả năng lồng ghép với các chương trình khác
- Kế hoạch, tiến độ tổ chức thực hiện chương trình
- Hợp tác quốc tế (nếu có)
- Kế hoạch và thông số kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện chương trình
đ) Danh mục chương trình mục tiêu quốc gia
Danh mục chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001-2005 được Thủtướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 04/5/2001, gồm:
- Xóa đói giảm nghèo và Việc làm;
- Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
- Dân số và Kế hoạch hóa gia đình;
- Phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS;
- Văn hóa;
- Giáo dục và Đào tạo
Trang 161.2.2 Cơ chế tài chính các chương trình mục tiêu quốc gia
Cơ chế tài chính các chương trình mục tiêu quốc gia thực hiện theo LuậtNSNN, các quy định khác có liên quan của nhà nước về chi NSNN và các văn bảnliên quan đến danh mục, quản lý, điều hành chương trình mục tiêu quốc gia [4],[31], [33] Theo đó, việc kế hoạch hóa nguồn lực, phân bổ vốn và giao kế hoạch(thể hiện tại sơ đồ 1.4 và 1.5), như sau:
- Hàng năm Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ, cơ quan Trung ương và UBNDtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ tiêu tổng kinh phí của các chương trình mụctiêu quốc gia; trong đó, gồm có kinh phí xây dựng cơ bản và kinh phí sự nghiệp
- Thủ tướng Chính phủ ủy quyền Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao các
Bộ, cơ quan Trung ương và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương các chỉtiêu hướng dẫn về các mục tiêu, nhiệm vụ hàng năm của từng chương trình
- Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính giao dự toán chi tiết và cấp trực tiếp kinh phí
đã được cân đối trong dự toán chi ngân sách Trung ương hàng năm cho các Bộ, cơquan Trung ương để thực hiện nhiệm vụ của chương trình mục tiêu quốc gia doTrung ương quản lý
Bộ Tài chính cấp bổ sung có mục tiêu cho các tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương theo kế hoạch phân bổ kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia thựchiện trên địa bàn do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bố trí
- Hàng năm cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia lập kế hoạchmục tiêu và nhu cầu kinh phí để thực hiện chương trình, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, Bộ Tài chính Trên cơ sở tổng mức kinh phí dự kiến bố trí cho các chương trìnhđược cấp có thẩm quyền thông báo, cơ quan quản lý chương trình dự kiến phân bổcho các Bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, gửi
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để xem xét, tổng hợp trình Thủ tướng Chínhphủ quyết định; cơ quan quản lý chương trình không giao kế hoạch và không thôngbáo kinh phí của chương trình cho các cơ quan ngành dọc ở tỉnh, thành phố
Trang 17Cơ quan quản lý chương trình hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, phối hợpvới Bộ Tài chính hướng dẫn các định mức chi tiêu thống nhất cho các Bộ, cơ quanTrung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để chủ động thực hiện;chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện chương trình.
Đề xuất nhiệm vụ, mục tiêu và nhu cầu kinh phí:
Thông báo dự kiến tổng mức kinh phí:
Hình 1.4: Sơ đồ kế hoạch hóa nguồn lực
- Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ triểnkhai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn; chủ động lồng ghépcác chương trình, bố trí mức kinh phí và kế hoạch phân bổ kinh phí cho từngchương trình cụ thể; huy động thêm các nguồn vốn khác theo quy định để bổ sungcho việc thực hiện các chương trình; hàng quý, năm báo cáo việc thực hiện cácchương trình cho cơ quan quản lý chương trình, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tàichính; đồng thời phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc sử dụng có hiệu quảnguồn vốn này
Bộ Tài chính Bộ Kế hoạch
và Đầu tư
Cơ quan quản
lý chương trình Chính phủ
Trang 18Dự kiến phân bổ kinh phí: ; Hướng dẫn chuyên môn:
Giao chỉ tiêu mục tiêu, nhiệm vụ, tổng kinh phí:
Giao dự toán chi tiết: ; Hướng dẫn định mức chi tiêu:
Giao các chỉ tiêu hướng dẫn về các mục tiêu, nhiệm vụ:
Hình 1.5: Sơ đồ phân bổ vốn và giao kế hoạch
Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-BKH-BTC ngày 06/01/2003 của liênBộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính hướng dẫn thực hiện, gồm 5 phần:
- Công tác kế hoạch hóa các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Cơ chế tài chính các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Phân công, phân cấp quản lý và điều hành các chương trình mục tiêu quốc gia;
Các Bộ, cơ quan TW
UBND các tỉnh, TP
Trang 191.2.3 Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
1.2.3.1 Mục tiêu, nội dung, phạm vi và trách nhiệm thực hiện
Theo Quyết định số 26/2003/QĐ-TTg ngày 17/02/2003 của Thủ tướng Chínhphủ, các nội dung chủ yếu của chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đàotạo như sau:
a) Mục tiêu của Chương trình
* Mục tiêu chung:
- Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, đưa nền giáo dục nước
ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu so với các nước phát triển trong khu vực, tiếp cận vớitrình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng vùng, từng địa phương
- Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấphọc, bậc học và trình độ đào tạo; phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu vừatăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
- Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt, chú trọng nhân lực khoahọc - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuậtlành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanhtiến độ thực hiện phổ cập trung học cơ sở
* Các mục tiêu cụ thể:
- Thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong cả nước vào năm 2010,trong đó, đến năm 2005 hoàn thành ở 30 tỉnh, thành phố
- Đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa
- Nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40% tổng số lao động trong độ tuổiquy định vào năm 2010, trong đó, đạt 30% vào năm 2005; điều chỉnh cơ cấu đào tạonhân lực về bậc đào tạo, ngành nghề và lãnh thổ phù hợp với nhu cầu công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước; đẩy mạnh đào tạo cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường
b) Nội dung của Chương trình
Chương trình gồm 7 dự án thành phần như sau:
- Dự án Củng cố và phát huy kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mùchữ, thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở
Trang 20- Dự án Đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa.
- Dự án Đào tạo cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường, đẩy mạnh dạyngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân
- Dự án Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ giáo viên, tăng cường cơ sở vật chấtcác trường sư phạm
- Dự án hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng có nhiềukhó khăn
- Dự án Tăng cường cơ sở vật chất các trường học, các Trung tâm kỹ thuậttổng hợp - hướng nghiệp; xây dựng một số trường đại học, trung học chuyênnghiệp trong điểm
- Dự án tăng cường năng lực đào tạo nghề
c) Phạm vi triển khai thực hiện Chương trình
Chương trình được triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc, gồm:
* Trung ương: triển khai thực hiện ở 50 Bộ, ban ngành và đơn vị xuống đếncác trường và các đơn vị trực thuộc trong cả nước Trong đó, Bộ Giáo dục và Đàotạo gồm Văn phòng Bộ, 48 trường và đơn vị trực thuộc trong cả nước; Bộ Lao độngThương binh và Xã hội gồm Tổng cục dạy nghề, 7 trường và đơn vị trực thuộc; 48
Bộ, ban ngành, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị trung ương cùng tham gia thực hiện
* Địa phương: triển khai thực hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước
và xuống đến tận cấp huyện, xã
d) Trách nhiệm thực hiện Chương trình
- Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan có trách nhiệm quản lý, điều hành vàtổng hợp chung toàn bộ tình hình thực hiện chương trình; chủ trì, phối hợp với các
Bộ, ngành liên quan và các địa phương quản lý, tổ chức thực hiện các dự án từ dự
án 1 đến dự án 6
- Bộ Lao động Thương binh và Xã hội có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với
Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ, ngành liên quan và các địa phương tổ chức thựchiện dự án 7 [34]
Trang 211.2.3.2 Cơ chế quản lý, điều hành chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
Căn cứ vào nhiệm vụ, mục tiêu của các dự án thuộc Chương trình, Bộ Giáodục và Đào tạo chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đề xuấtmức cân đối ngân sách cho CTMT quốc gia Kinh phí thực hiện CTMT quốc giaGD&ĐT được cân đối trong dự toán chi ngân sách trung ương và được sử dụng chocác nội dung hoạt động của chương trình [4]
Nguồn kinh phí được Bộ Tài chính cấp bổ sung có mục tiêu cho ngân sáchđịa phương và được cân đối vào ngân sách địa phương ngay từ đầu năm để tỉnh,thành phố có kế hoạch phân bổ, thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án trênđịa bàn
Việc cấp phát, quản lý, thanh quyết toán kinh phí từ ngân sách trung ươngcho CTMT quốc gia GD&ĐT thực hiện theo các quy định hiện hành của Luật Ngânsách Nhà nước [33]
Việc quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí huy động khác như: nguồn đónggóp tự nguyện của các cá nhân, các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước,
bổ sung từ ngân sách địa phương và kinh phí của các Bộ, ngành để thực hiện các
dự án của CTMT quốc gia GD&ĐT được quản lý như đối với nguồn ngân sáchtrung ương
Đối với kinh phí của Chương trình dành cho XDCB, chấp hành theo trình tự,thủ tục đầu tư XDCB; việc cấp phát vốn, nghiệm thu, thanh quyết toán; lập, thẩmđịnh và phê duyệt báo cáo quyết toán công trình hoàn thành, bàn giao đưa vào sửdụng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, quy chế đấu thầu vàcác văn bản khác có liên quan
Nội dung, mức chi và quản lý kinh phí thực hiện theo Thông tư liên Bộ: Tàichính, Giáo dục và Đào tạo số 81/2003/TTLT/BTC-BGD&ĐT ngày 14/8/2003
Trang 221.3 HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.3.1 Quan niệm về hiệu quả quản lý, sử dụng vốn chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước nói chung và vốn chương trình mụctiêu quốc gia giáo dục và đào tạo nói riêng là không hoàn trả, vì vậy, rất khó có thểđánh giá chính xác hiệu quả quản lý, sử dụng vốn
Hiện nay, công tác đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng vốn chương trình mụctiêu quốc gia giáo dục và đào tạo dựa trên nguyên tắc quản lý theo dự toán (hàngnăm) được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và theo các khoản mục chi (mục lụcngân sách) do pháp luật quy định; nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả căn cứ theo cáctiêu chuẩn, định mức và hiệu quả được đánh giá thông qua mức độ ảnh hưởng của
nó đến lĩnh vực giáo dục – đào tạo và các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội
Trên thực tế, công tác đánh giá chỉ được thực hiện dựa trên dự toán, khoảnmục và định mức; việc đánh giá mức độ ảnh hưởng bị vô hiệu hóa do thiếu các
hệ thống tiêu chí cũng như các quy định về chế độ giám sát, đánh giá, thông tin,báo cáo
Phương thức quản lý này được một số nhà khoa học gọi là quản lý ngân sáchtruyền thống hay quản lý ngân sách theo khoản mục đầu vào [47], [48] và đã bộc lộnhiều yếu kém như sau:
- Không chú trọng đến các đầu ra và kết quả trong việc thực hiện dẫn đếntình trạng nguồn tài trợ cho chương trình không được quan tâm đúng mức dẫn đếnhụt hẫng về tài chính nên nhiều công trình, dự án phải chờ kinh phí, đầu tư dàn trảinên càng giảm hiệu quả
Trong quá trình dự toán ngân sách, kiểm soát các khoản mục đầu vào đượccoi trọng hơn cải thiện kết quả hoạt động Các thông số đầu ra cũng như về kết quảthường ít được quan tâm nên ngân sách thiếu thực tế, dễ bị điều chỉnh và tạo ra các
Trang 23kết quả ngoài ý muốn Phân bổ ngân sách theo khoản mục đầu vào đã tạo nên điểmyếu cơ bản là không khuyến khích các đơn vị tiết kiệm ngân sách, vì nó không đặt
ra yêu cầu ràng buộc chặt chẽ giữa số kinh phí được phân bổ với kết quả đạt được ởđầu ra do sử dụng ngân sách đó
- Dự toán ngân sách thiếu mối liên kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội trung hạn với nguồn lực trong một khuôn khỗ kinh tế vĩ mô được dự báonên dẫn đến các kết quả ngân sách nghèo nàn
Do ngân sách được soạn lập theo chu kỳ hàng năm, nên nó không được đánhgiá, xem xét sự phân bổ nguồn lực gắn kết với những chương trình phát triển kinh tế
- xã hội dài hạn Nguồn lực của ngân sách phân bổ mang tính dàn trải; thiếu vắng hệthống các tiêu chí thích hợp để xác định thứ tự ưu tiên chi tiêu
Ngân sách lập hàng năm vừa tốn thời gian, nhân lực và tiền bạc, vừa khôngtiên đoán hết các biến cố trung hạn có thể ảnh hưởng đến dự toán Ngân sách nămsau được lập trên cơ sở năm trước mà ít xét tới thực tế, “công thức ngân sách nămnay bằng năm trước nhân với một tỷ lệ, như thế là chia ngân sách chứ không phảiphân bổ ngân sách” [52] Tính minh bạch và trách nhiệm không thực hiện nghiêmtúc, hạn chế sự tham gia của xã hội trong quy trình ngân sách
Cuối cùng, hệ thống chỉ tiêu thực hiện, chế độ thông tin, báo cáo đi kèmtheo những yếu kém của phương thức quản lý ngân sách truyền thống là những trởngại cho công tác đánh giá hiệu quả
Vì v y, ập ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết để chỉ đ ánh giá hi u qu qu n lý, s d ng v n Ch ệu quả quản lý, sử dụng vốn Chương trình ả quản lý, sử dụng vốn Chương trình ả quản lý, sử dụng vốn Chương trình ử dụng vốn Chương trình ụng vốn Chương trình ương trình ng trình
m c tiêu qu c gia giáo d c v ụng vốn Chương trình ụng vốn Chương trình à quy trình ngân sách dùng để chỉ đà quy trình ngân sách dùng để chỉ ạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho o t o m t cách có h th ng v chính ộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho ệu quả quản lý, sử dụng vốn Chương trình à quy trình ngân sách dùng để chỉ xác, đầu hình thành cho đủa một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho y nh t, c n d a trên nguyên t c qu n lý ngân sách theo ấp hành ngân sách và quyết ầu hình thành cho ựa trên nguyên tắc quản lý ngân sách theo đầu ra; ắt đầu hình thành cho ả quản lý, sử dụng vốn Chương trình đầu hình thành cho u ra; trên c s ó, ánh giá theo các ơng trình ở đó, đánh giá theo các đầu ra, kết quả và các tác động, có thể đ đ đầu hình thành cho u ra, k t qu v các tác ết thúc chuyển sang ngân sách mới Một chu trình ngân sách gồm ả quản lý, sử dụng vốn Chương trình à quy trình ngân sách dùng để chỉ độ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho ng, có th ể chỉ xây d ng quy trình n y d a trên mô hình Giám sát & ánh giá c a B ựa trên nguyên tắc quản lý ngân sách theo đầu ra; à quy trình ngân sách dùng để chỉ ựa trên nguyên tắc quản lý ngân sách theo đầu ra; Đánh giá của Bộ ủa một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho ộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho
ph n Phát tri n Xã h i – Ngân h ng Th gi i [24] nh sau: ập ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết ể chỉ ộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho à quy trình ngân sách dùng để chỉ ết thúc chuyển sang ngân sách mới Một chu trình ngân sách gồm ư
ĐẦU VÀO
Trang 24Các nguồn lực tài chính, nhân sự, sử dụng trong các dự án của Chương trìnhCÁC HOẠT ĐỘNG
Các hoạt động triển khai thực hiện các dự án của Chương trình
ĐẦU RA
- Số phòng học, thiết bị, tài liệu được đầu tư xây dựng, cung cấp
- Số khóa đào tạo được tổ chức, số cán bộ, giáo viên được đào tạo
KẾT QUẢ
- Mức độ cải thiện quy mô mạng lưới, điều kiện cơ sở vật chất của ngành giáodục
- Mức độ cải thiện chất lượng đội ngũ giáo viên
- Mức độ cải thiện về số lượng, chất lượng và các vấn đề liên quan đến học sinhTÁC ĐỘNG
- Góp phần phát triển con người (HDI), giảm nghèo (HPI) và bình đẳng giới(GDI)
- Cung cấp nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Hình 1.6: Quy trình đánh giá công tác quản lý, sử dụng vốn
chương trình mục tiêu quốc gia GD&ĐT theo đầu ra
Hiệu quả quản lý, sử dụng vốn chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục vàđào tạo được xem xét qua các nội dung sau:
- Dưới góc độ lĩnh vực: xem xét hiệu quả qua việc đầu tư tăng cường cơ
sở vật chất, nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, qua đó, nâng cao mọi mặt chấtlượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo và được thể hiện qua các tiêu chí liên quanđến học sinh
- Dưới góc độ phát triển kinh tế - xã hội: đánh giá tác động của chương trìnhthông đối với xã hội thông qua đánh giá mức độ cải thiện giáo dục, thành phần quantrọng trong các chỉ số về phát triển con người (HDI, HPI, GDI) và cung cấp nguồnnhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả quản lý, sử dụng vốn chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
a) Các chỉ tiêu về ngân sách
Trang 25Để đánh giá về công tác quản lý ngân sách, các chỉ tiêu thường được sử dụnglà: cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu và tỷ trọng vốn theo các dự án, tỷ lệ thực hiện so với
dự toán Các chỉ tiêu này được chi tiết theo quy định của pháp luật và các cơ quanquản lý, thực hiện chương trình như khoản mục, nội dung,
Tỷ lệ lớphọc/phòng học
Trang 26Tổng số dân từ 10 tuổi trở lên
Tổng số lao động qua đào tạo
= x 100% (1.3.6)
Tổng số lao động trên địa bàn
b) Các chỉ số liên quan đến phát triển con người
- Chỉ số Phát triển con người (HDI):
Trang 27Chỉ số phát triển con người là thước đo tổng hợp về sự phát triển của con người trên phương diện sức khỏe, tri thức và thu nhập Ba chỉ tiêu thành phần phản ánh các khía cạnh sau đây:
+ Cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, được đo bằng độ tuổi trung bình tính từ lúc sinh
+ Kiến thức, được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ (với quyền số 2/3) và tỷ
lệ đi học các cấp giáo dục (với quyền số 1/3).
+ Mức sống đo bằng GDP thực tế đầu người theo sức mua tương đương tính bằng đô la Mỹ (USD PPP)
Quy tắc chung để tính các chỉ số thành phần là sử dụng các giá trị tối thiểu vàgiá trị tối đa (còn gọi là các giới hạn đích hay các giá trị biên) và áp dụng cho côngthức sau:
Giá trị thực tế - Giá trị tối thiểu
Giá trị tối đa – Giá trị tối thiểuTheo Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc, các giá trị biên để tính HDIcủa Việt Nam như sau:
Bảng 1.1 – Các giá trị biên để tính HDI của Việt Nam
(Nguồn: Báo cáo Phát triển con người Việt Nam 1999-2004,
Những thay đổi và xu hướng chủ yếu)
Trong đó, chỉ số thu nhập được tính như sau:
Trang 28log (USD PPP) – log (100)
log (40.000) – log (100)
- Chỉ số Nghèo khổ tổng hợp (HPI)
Trong khi HDI đo thành tự trung bình về phát triển con người thi HPI-1 (áp
dụng cho các nước đang phát triển) đo sự thiếu thốn, bần hàn hay không có khả năng bảo đảm được ba khía cạnh cơ bản của sự phát triển con người như đã nêu
trong chỉ số HDI, thể hiện ở các chỉ số sau:
+ Không có khả năng bảo đảm một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh - phảnánh ở tính dễ bị tổn thương dẫn đến cái chết ở độ tuổi tương đối trẻ và được đo bằng
tỷ lệ người không kỳ vọng sống quá tuổi 40
+ Thiếu thốn về tri thức: thể hiện ở sự bị loại trừ ra khỏi thế giới của những người biết chữ và có khả năng giao tiếp, được đo bằng tỷ lệ người lớn mù chữ.
+ Thiếu thốn về vật chất, không tiếp cận tới những nhu cầu sinh hoạt tối thiểunhư nước sạch, vệ sinh Chỉ tiêu này được đo bằng tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thiếu cân,suy dinh dưỡng và tỷ lệ người dân không được sử dụng các nguồn nước sạch
HPI-1 = [1/3(P α + P α +P α )]1/α (2.2.1)
P1 = tỷ lệ người không kỳ vọng sống đến tuổi 40 (%)
P2 = tỷ lệ mù chữ của người lớn (%)
P3= trung bình đơn giản của tỷ lệ % dân số không tiếp cạn được nước sạch
và tỷ lệ % trẻ em suy dinh dưỡng cân nặng theo độ tuổi
α = 3
- Chỉ số Phát triển giới (GDI)
Trong khi chỉ số HDI đo thành tựu trung bình, chỉ số GDI lại điều chỉnh các
thành tựu trung bình đó để phản ánh sự bất bình đẳng giữa nam và nữ theo các
thước đo tương tự như 3 chỉ tiêu thành phần của HDI
Chênh lệch giữa phụ nữ và nam giới có thể được thể hiện trong tất cả cáckhía cạnh trên của cuộc sống và GDI sẽ cố gắng thể hiện sự chênh lệch đó
Các chỉ số thành phần tương tự như HDI nhưng tính riêng cho phụ nữ vànam giới, đồng thời, bổ sung chỉ tiêu tỷ lệ phụ nữ trong tổng dân số
Trang 29Cách tính GDI:
Bước 1: Tính riêng các chỉ số thành phần cho nữ và nam theo công thức (2.1.1).
Bảng 1.2 – Các giá trị biên để tính GDI của Việt Nam
(Nguồn: Báo cáo Phát triển con người Việt Nam 1999-2004,
Những thay đổi và xu hướng chủ yếu) Bước 2: Xác định các chỉ số phân bổ công bằng thành phần trên cơ sở các
chỉ số thành phần cho riêng nữ và nam ở Bước 1 để phản ánh chênh lệch giữa nam
và nữ:
Chỉ số phân bổ công bằng = {[tỷ lệ dân số nữ(chỉ số nữ1- € )] +
+ [tỷ lệ dân số nam(chỉ số nam1- € )]}1/1-€ (2.3.1)Trong đó: € là hệ số phản ánh mức độ thiệt hại (về phương diện phát triểncon người) mà xã hội phải gánh chịu do sự bất bình đẳng (€ áp dụng cho VN = 2)
Bước 3: Tính GDI bằng cách tổng hợp các chỉ số phân bổ công bằng thành
một giá trị bình quân phi gia quyền
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1.4.1 Công tác xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách
Việc xác lập các mục tiêu đúng đắn, các nhiệm vụ cụ thể, kế hoạch thực hiệnphù hợp và nguồn tài trợ khả thi là điều kiện tiên quyết cho sự thành công củachương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo Đồng thời, để nâng cao hiệuquả quản lý, sử dụng vốn chương trình, công tác này phải đảm bảo:
Trang 30- Phù hợp với môi trường, bối cảnh và gắn liền với kế hoạch phát triển kinh
- Đảm bảo đúng các quy định của pháp luật;
- Xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách phải gắn kết với kiểm tra, báo cáothực hiện; giữa đo lường công việc thực hiện và các kết quả; giữa hệ thống kế toánvới hệ thống đo lường thực hiện;
1.4.2 Công tác triển khai thực hiện chương trình
Nếu công tác xây dựng kế hoạch, dự toán ngân sách mang tính chuẩn bị mọimặt của chương trình thì việc triển khai thực hiện chính là việc thực hiện các nhiệm
vụ để đạt được mục tiêu đã xác định Tác động của công tác thực hiện đối với hiệuquả quản lý, sử dụng vốn thể hiện qua các mặt:
- Triển khai thực hiện theo đúng nội dung, tiến độ và ngân sách đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt;
- Đồng bộ giữa các dự án, giữa các hoạt động và phù hợp với hoạt động pháttriển kinh tế - xã hội chung, phù hợp với lịch dạy và học của các trường, cơ sở đào tạo
- Đúng các quy định về thủ tục, định mức và khoản mục chi phí
1.4.3 Quy mô đóng góp, phối hợp ngân sách từ các nguồn khác
Nguồn ngân sách nhà nước tài trợ cho chương trình bị hạn chế, vì vậy, việchụt hẫng về tài chính là điều khó tránh khỏi, dẫn đến làm giảm hiệu quả của chươngtrình Vì vậy, việc phối hợp của các nguồn khác là hết sức quan trọng, nhất là cácnguồn lực tại các địa phương, điều đó phụ thuộc vào:
- Mức độ phát triển của nền kinh tế - xã hội, thu nhập, đời sống của người dân
- Mức độ, hiệu quả phối hợp với các chương trình, dự án khác
1.4.4 Thông tin và minh bạch tài chính
Trang 31Chế độ báo cáo tốt sẽ cung cấp kịp thời các thông tin liên quan đến chươngtrình cho cơ quan quản lý để có những điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với những thayđổi trong quá trình thực hiện, đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ, gópphần nâng cao hiệu quả chương trình cũng như quản lý sử dụng vốn chương trình.
Minh bạch tài chính sẽ giúp cho công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quanchức năng, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể và của người dân được thuận lợi,qua đó, phát hiện kịp thời những sai phạm, bất hợp lý, đảm bảo cho việc thực hiệnmục tiêu của chương trình không bị chệch hướng và tuân thủ các quy định của phápluật, thực hiện tốt nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả
1.4.5 Công tác quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị và nguồn nhân lực sau khi hoàn thành các hoạt động, dự án
Đầu tư từ chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo nhằm tăngcường cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, từ đó, hướng tới nângcao chất lượng, hiệu quả mọi mặt của lĩnh vực giáo dục - đào tạo Vì vậy, quá trìnhthực hiện chương trình thực chất là cải thiện các điều kiện, việc phát huy hiệu quảcòn phụ thuộc vào việc quản lý, sử dụng các nguồn lực này một cách hợp lý và thựchiện chương trình phải gắn với việc nâng cao khả năng đó và có các cơ chế để đảmbảo việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nhất
Trang 32Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Quảng Bình là tỉnh Bắc Trung bộ, toạ độ địa lý vào khoảng 16056’-18005’ vĩ
độ Bắc, 105037’-107010’ độ kinh Đông, có diện tích đất tự nhiên là 8.051,5 km2.Phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh với chiều dài 136,495 km; phía Nam giáp tỉnh QuảngTrị với chiều dài 78,8 km; phía Đông giáp Biển Đông với chiều dài 116,04 km; phíaTây giáp tỉnh Khăm Muộn nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với chiều dài201,87 km
Nơi rộng nhất của tỉnh là 89 km (từ cao điểm 1090 thuộc xã Dân Hoá, huyệnMinh Hoá đến thôn Hải Đông, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch) Nơi hẹp nhất
là 40,3 km (từ cao điểm 1002 giữa ranh giới huyện Bố Trạch, Quảng Ninh, KhămMuộn đến cửa biển Nhật Lệ, TP Đồng Hới) [37]
Địa hình Quảng Bình hẹp và thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành bốnvùng sinh thái khác nhau: Vùng núi cao; vùng đồi và trung du; vùng đồng bằng;vùng cát ven biển Các vùng này có nhiều tiềm năng phát triển đa dạng các ngànhnông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Đất đồng bằng chỉ chiếm 11%.Đất nông nghiệp tập trung chủ yếu ở các huyện Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, Thành phốĐồng Hới, Bố Trạch, Quảng Trạch Đất đồi núi chiếm 85% tổng diện tích đất tựnhiên tập trung chủ yếu ở huyện Minh Hoá và Tuyên Hoá 4% diện tích đất còn lại
là núi và cát ven biển Tài nguyên đất được chia thành hai hệ thống chính: đất phù
sa ở vùng đồng bằng và hệ pheralit ở vùng đồi núi đất đỏ vàng chiếm hơn 80% diệntích đất tự nhiên
Về khí hậu, thuỷ văn: Cũng như các tỉnh miền Trung Trung Bộ, Quảng Bìnhnằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có sự phân hoá của địa hình và ảnh hưởng
Trang 33mạnh mẽ của sự nhiễu dải hội tụ nhiệt đới Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt: mùakhô và mùa mưa Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 9 đầu tháng 10 cho đến đầu tháng
3 năm sau, chủ yếu tập trung vào tháng 9, 10, 11 Thời gian có lượng mưa lớn làtháng 10, chiếm gầm 30% tổng lượng mưa của cả năm Mưa và bão trùng hợp làhiện tượng phổ biến xảy ra, gây nên lũ lụt, làm thiệt hại nhiều mặt nhưng cũng cóthuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp
Ảnh 1: Bản đồ địa lý tỉnh Quảng Bình
Quảng Bình nằm ở vị trí trí trung độ của cả nước, có các trục lộ lớn quốc giachạy xuyên suốt chiều dài của tỉnh như Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ12A nối liền với nước bạn Lào thông qua cửa khẩu quốc tế Cha Lo, có tuyến đườngsắt Bắc Nam chạy qua trung tâm Thành phố Đồng Hới Sân bay Đồng Hới đượckhôi phục, xây dựng lại và hoàn thành, đưa vào sử dụng vào tháng 6/2008
Trang 34Với những đặc diểm điều kiện tự nhiên như vậy, Quảng Bình là nơi giao thoanhững điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội giữa hai miền Nam Bắc Đây làvùng đất có bề dày lịch sử và văn hoá đa dạng phong phú, đặc sắc cùng với truyềnthống cách mạng vẻ vang.
2.1.2 Đặc điểm về nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội
2.1.2.1 Tài nguyên thiên nhiên
a) Tài nguyên đất
Diện tích đất tự nhiên của Quảng Bình là 805.186 ha, trong đó:
- Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: 1.767 ha chiếm 0,2%
- Đất chưa sử dụng: 206.841 ha chiếm 25,7%Trong diện tích đất tự nhiên có gần 170.000 ha đất vùng gò đồi, phù hợp vớitrồng cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày, cây lâm nghiệp và chăn nuôi Vùng cátven biển có điều kiện để xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế và nuôi trồngthuỷ hải sản Trong 206.841 ha đất chưa sử dụng thì đất bằng và đất đồi có khoảng125.000 ha Đây là địa bàn để phát triển, mở mang sản xuất nông – lâm nghiệp vàphân bổ các cơ sở công nghiệp mới Ngoài ra, có khoảng 2.000 ha mặt nước lợ,nước ngọt chưa được khai thác, sử dụng
b) Tài nguyên rừng
Quảng Bình có diện tích đất có rừng 491.300 ha, độ che phủ rừng là 62,5%,trong đó rừng tự nhiên có trên 440.000 ha, rừng trồng gần 40.000 ha Tổng trữlượng gỗ rừng tự nhiên khoảng 30,9 triệu m3, trong đó:
- Rừng giàu có khoảng 13,4 triệu m3 gỗ, chủ yếu phân bổ ở vùng núi cao
- Rừng trung bình có khoảng 10,8 triệu m3 gỗ
- Rừng nghèo có khoảng 5 triệu m3 gỗ
- Rừng phục hồi có khoảng 2,6 triệu m3 gỗ
Trang 35Có khoảng 250 loại lầm sản, nhiều loại gỗ quý hiếm như mun, lim, gụ, lát,trầm… Lâm sản dưới tán rừng khá đa dạng, phong phú và có giá trị cao như song,mây, trầm kỳ, sa nhân và các dược liệu quý khác Đã phát hiện thêm cây bách xanhvới số lượng khá lớn, có trong sách đỏ của thế giới.
Thú rừng có nhiều loại như voi, hổ, gấu, bò tót, sơn dương, khỉ… Tài nguyênsinh vật bao gồm nhiều khu hệ động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quýhiếm Đặc trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng karst Phong Nha - KẻBàng
c) Tài nguyên biển
Quảng Bình có bờ biển dài 116,04 km, với vùng đặc quyển kinh tế khoảng20.000 km2 Có 5 dòng sông chính tạo nguồn cung cấp phù sa, sinh vật có giá trịcho việc phát triển nguồn lợi thuỷ sản Ngoài khơi có 5 hòn đảo nhỏ tạo ra nhữngvịnh có vị trí thuận lợi cho các hoạt động kinh tế biển như Hòn La Bờ biển cónhững bãi tắm đẹp là một thế mạnh để kết hợp phát triển kinh tế Biển Quảng Bình
có hầu hết các loại hải sản có mặt ở Việt Nam, có nhiều loại có giá trị kinh tế caonhư: Tôm hùm, tôm sú, mực ống, mực nang…
d) Tài nguyên khoáng sản
Quảng Bình có nhiều loại khoáng sản khác nhau, được phân bố nằm rải rác ởcác huyện Tài nguyên khoáng sản có 02 nhóm:
- Nhóm khoáng sản kim loại: có nhiều loại như sắt, chì, kẽm, vàng… nhưngtrữ lượng thấp và phân tán
- Nhóm khoáng sản phi kim loại: than bùn, đá vôi, cao lanh, cát thạch anh cótrữ lượng lớn, là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển ngành sản xuất vật liệu xâydựng, đặc biệt là sản xuất xi măng, gạch ngói
đ) Tài nguyên sông ngòi
Quảng Bình có 5 con sông chính, tính từ Bắc vào Nam: sông Ròon, sôngGianh, sông Lý Hoà, sông Dinh và sông Nhật Lệ Tất cả các con sông ở QuảngBình đều có chung đặc điểm là ngắn và dốc (sông dài nhất là sông Gianh với chiều
Trang 36dài 138 km, sông ngắn nhất là sông Lý Hoà có chiều dài 22 km), diện tích lưu vựccác sông bé Hệ thống sông ngòi ở Quảng Bình có vị trí rất quan trọng trong việcphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đó là:
- Sông ngòi cung cấp nguồn nước cho nhu cầu sản xuất và đời sống Vớitổng diện tích lưu vực 7.977 km2, sông ngòi là nơi tạo ra nguồn sinh thuỷ lớn vàcung cấp nước cho mọi nhu cầu của đời sống xã hội
- Sông ngòi phục vụ giao thông vận tải
- Sông ngòi tạo nguồn trữ năng cho các công trình thuỷ điện Theo tính toán,tổng trữ năng lý thuyết có 561.900 kw, trữ năng kỹ thuật 237.200 kw, trữ năng vềkinh tế 118.600 kw Có khả năng bố trí 5 công trình: Rào Trổ 25.000 kw; Rào Nan46.000 kw; Long Đại 56.000 kw; Bang 10.000 kw, Vực Tròn 1.000 kw
e) Tài nguyên du lịch
Quảng Bình là khu vực chuyển tiếp của văn hoá các miền trên cả 3 chiều Bắc– Nam và Đông – Tây, đồng thời cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử Quảng Bìnhkhông đa dạng như các vùng khác trong nước, nhưng có tính độc đáo về mặt nhânvăn, lịch sử và vẻ đẹp tự nhiên
Về văn hoá lịch sử có: đường mòn Hồ Chí Minh; Thành luỹ Đào Duy Từ vàQuảng Bình quan; Di tích Trịnh - Nguyễn phân tranh và nhiều di tích khác như khu
di tích Xuân Sơn, sở chỉ huy Bộ Tư lệnh 559, di tích Bàu Tró…
Về du lịch danh thắng có các điểm nổi tiếng: Đèo Ngang, đèo Lý Hoà, cửabiển Nhật Lệ, khu du lịch sinh thái Phong Nha - Kẻ Bàng, suối nước nóng Bang Bờbiển có một số bãi tắm và điểm nghỉ ngơi giải trí kỳ thú như: cửa Nhật Lệ, cảngGianh, vịnh Hòn La, bãi tắm Đá Nhảy, khu du lịch Sun Spa Resoft…
Trong các danh thắng thiên nhiên, động Phong Nha bao gồm một hệ thốnghang động, được Hội nghiên cứu hang động Hoàng Gia Anh đánh giá có giá trịhàng đầu thế giới và đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới
Du lịch ra nước ngoài có thể qua cửa khẩu Cha Lo trên quốc lộ 12A sangLào và Thái Lan Đường Hồ Chí Minh đi qua Quảng Bình được phân thành 02
Trang 37nhánh: Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn là một lợi thế để phát triển kinh tế vàphát triển du lịch.
2.1.2.2 Nguồn nhân lực
Theo xu hướng phát triển dân số của cả nước nói chung, qua các thời kỳ lịch
sử, tình hình dân số Quảng Bình có sự thay đổi về tốc độ phát triển, về tỷ lệ tăng tựnhiên cũng như cơ cấu dân số và phân bố dân cư trên địa bàn
Dân số Quảng Bình tính đến năm 2006 là 846.020 người trên diện tích 8.055
km2 Trong đó có hơn 17 vạn người thuộc các dân tộc ít người Mật độ dân số bìnhquân 104 người/km2, trong đó có khoảng 14% sống ở thành thị và 86% sống ở nôngthôn, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2006 là 1,034% [14] [37]
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2006)
Sự phát triển về dân số dẫn đến có sự tăng nhanh về nguồn lao động.Trong giai đoạn 2002-2006, do quy mô dân số tiếp tục tăng, dân số đang có xuhướng trẻ hoá cho nên số lao động trẻ chiếm tỷ lệ cao, bổ sung vào lực lượng laođộng dồi dào
Trong những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhânlực đã đạt được những kết quả quan trọng Chất lượng nguồn nhân lực từng bướcđược cải thiện, trình độ dân trí được nâng cao, đội ngũ lao động kỹ thuật tăng Sốlao động trẻ có trình độ văn hoá chiếm tỷ lệ ngày càng tăng cao Tỷ lệ lao động qua
Trang 38đào tạo tăng từ 11,38% năm 1996 lên 17,8% năm 2002; 20% năm 2005 và 21,3%năm 2006 [37], [41].
Đa số cán bộ, viên chức, công nhân được đào tạo, đào tạo lại, nâng cao taynghề, bản lĩnh chính trị vững vàng Đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước các cấp, cácngành từng bước được đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, trình
độ chính trị Lực lượng lao động một số ngành, lĩnh vực từng bước được chuẩn hoá.Một bộ phận lao động nông thôn bước đầu có khả năng tiếp thu và ứng dụng khoahọc kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
2.1.3 Đặc điểm về kinh tế – xã hội
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhân dânQuảng Bình đã nỗ lực phấn đấu, khai thác các tiềm năng, lợi thế phát huy các nguồnlực và có bước phát triển khá Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giaiđoạn 2002 -2006 đạt trên 8,85%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nôngnghiệp; Cơ sở hạ tầng được đầu tư đáng kể, đặc biệt là hệ thống giao thông, các khu
du lịch, khu kinh tế và các khu công nghiệp, cảng biển Các lĩnh vực văn hoá – xãhội có nhiều chuyển biến tích cực; đời sống nhân dân nói chung và những vùng khókhăn từng bước được cải thiện; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội đượcđảm bảo Bức tranh kinh tế - xã hội của tỉnh có nhiều khởi sắc lạc quan, được thểhiện trên các lĩnh vực sau:
- Nông nghiệp: Cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã có bước chuyển dịch tíchcực theo hướng tăng hiệu quả kinh tế, đã chú trọng trên cả hai lĩnh vực trồng trọt vàchăn nuôi Trong trồng trọt, ngoài cây lương thực tỉnh đã chú trọng phát triển một
số loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như: cao su, hồ tiêu, lạc… cung cấpnguyên liệu cho công nghiệp chế biến Thực hiện chuyển đổi những diện tích đấtlúa, màu hiệu quả thấp sang nuôi tôm, cá, trồng các loại cây trồng có giá trị kinh tếcao hơn
- Lâm nghiệp: đã tập trung vào đầu tư xây dựng vốn rừng, chăm sóc và bảo
vệ rừng Phần lớn diện tích rừng, đát rừng được giao cho các đơn vị, các tổ chức và
Trang 39cá nhân quản lý nên được bảo vệ chặt chẽ hơn, hạn chế được tình trạng khai tháctrái phép, đốt phá rừng.
Bảng 2.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn phân theo ngành kinh tế
Đánh giá của Bộơng trìnhn v tính: tri u ị tính: người ệu quả quản lý, sử dụng vốn Chương trình đồmng
Ngành kinh tế 2002 2003 2004 2005 2006 Tổng giá trị sản
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2006)
- Thuỷ sản: Sản lượng khai thác bình quân mỗi năm tăng 9,05% Diện tíchnuôi trồng hiện có 2.275 ha; trong đó thuỷ sản nước lợ có 1,128 ha đã hình thànhmột số vùng nuôi tôm công nghiệp có quy mô lớn như: Quảng Phúc, Quảng Thuận,Quảng Phú, Phú Trạch, Bảo Ninh… Cơ sở phục vụ chế biến thuỷ sản phát triểnnhanh, ngoài ba cơ sở Nhà nước quản lý có công suất 2.100 tấn/năm còn có hàngtrăm cơ sở chế biến của các thành phần kinh tế khác
Trang 40- Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: đã có bước phát triển quan trọng, nănglực sản xuất tăng đáng kể Khu công nghiệp Tây Bắc Đồng Hới đã được hình thành
và đang triển khai xây dựng khu công nghiệp Cảng biển Hòn La, khu kinh tế cửakhẩu Chalo… nhằm thu hút đầu tư, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế Giá trịsản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 18-20%
Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp đã chuyển dịch theo hướng phát triển cácngành công nghiệp có lợi thế của tỉnh như: Công nghiệp vật liệu xây dựng, côngnghiệp chế biến nông lâm thuỷ hải sản… Tiểu thủ công nghiệp được khuyến khíchphát triển, nhiều doanh nghiệp tư nhân được thành lập, tổ hợp tác tập trung pháttriển sản xuất ở các lĩnh vực chế biến nông lâm thuỷ hải sản, xây dựng, phát triểnnghề thủ công truyền thống, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
- Thương mại: phát triển khá về số lượng, đa dạng về thành phần, ngànhnghề phục vụ và phủ kín hầu hết các địa bàn dân cư Tổng mức bán lẻ hàng hoá vàdịch vụ tiêu dùng xã hội tăng lên, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội
- Kinh tế đối ngoại: được tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả Tuy vậy, dođặc điểm của tỉnh có nhiều khó khăn nên ít thu hút được các dự án đầu tư nướcngoài, tỉnh đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi để kêu gọi các nhà đầu tư đầu tưtrên địa bàn tỉnh, nhất là các khu công nghiệp, các lĩnh vực về du lịch, dịch vụ…
- Du lịch: có bước phát triển tích cực và ngày càng thể hiện rõ là một ngànhkinh tế quan trọng, tỉnh đã quan tâm ĐTPT hạ tầng các khu du lịch, mở thêm tour,tuyến nên lượng du khách đến tỉnh ngày càng đông
- Dịch vụ vận tải: ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hàng hoá
và đi lại của nhân dân Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm được nâng cao
về chất lượng và mở rộng về quy mô
- Hoạt động tài chính, ngân sách: có nhiều tiến bộ Thu ngân sách tăng khá,
tỷ lệ huy động đạt 100% GDP Chi ngân sách được điều hành khá chặt chẽ, đúngquy định, ưu tiên chi ĐTPT Tích luỹ nội bộ từ nền kinh tế có tăng