1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên

162 362 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, chuyên đề, tiểu luận, bài tập, đề tài, ngân hàng, tài chính, vốn, đầu tư, tín dụng, cổ tức, tài chính, cổ phần

Trang 1

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình tự do hoá thương mại, hội nhập WTO và hội nhập khu vực,hợp tác song phương mang lại nhiều lợi ít chung cho nền kinh tế, trong đó cócác doanh nghiệp Quá trình đó đã mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp tiếpcận với công nghệ mới và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhưng cũngđặt các doanh nghiệp trước sự cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp nướcngoài trên cả thị trường trong và ngoài nước

Việc đổi mới tổ chức quản lý và nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp là một vấn đề đang được các doanh nghiệp đặcbiệt quan tâm Đối với các công ty cổ phần, để góp phần nâng cao chất lượngquản trị doanh nghiệp, một mặt phải hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán, mặtkhác phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thông tin kế toán, giúpcho các nhà quản trị trong công ty cổ phần đánh giá thực trạng sản xuất kinhdoanh, đặc biệt là hoạt động tài chính của công ty Vì vậy, công tác phân tíchtình hình tài chính của doanh nghiệp là một trong những việc làm rất quantrọng Thông qua việc phân tích tình hình tài chính các nhà quản trị doanhnghiệp có một cái nhìn sâu hơn về thực trạng tài chính của doanh nghiệp, để

từ đó đưa ra các quyết định quản lý chính xác nhằm nâng cao được hiệu quảsản xuất kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp phát triển một cách bền vững haynói cách khác là giúp cho doanh nghiệp duy trì và đứng vững trên thị trường,

mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo được công ăn việc làm và nâng cao đờisống cho người lao động

Cũng như các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, đối vớiCông ty Cổ phần Lương thực Bình Trị Thiên, việc nghiên cứu, phân tích vàđánh giá quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình sử dụng các

Trang 2

nguồn lực trở nên cấp bách và cần thiết; trong đó nội dung phân tích tìnhhình tài chính để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính choCông ty có một vị trí hết sức quan trọng Xuất phát từ đó tôi chọn đề tài:

“Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Lương thực Bình Trị Thiên” làm

sở khoa học nhằm nâng cao năng lực tài chính của Công ty cổ phần Lươngthực Bình Trị Thiên

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử;phương pháp phân tích thống kê; phương pháp thống kê so sánh; phươngpháp số chênh lệch; phương pháp thay thế liên hoàn; phương pháp chuyêngia, chuyên khảo và một số phương pháp khác

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tình hình tài chính của Công ty

Cổ phần Lương thực Bình Trị Thiên và các vấn đề có liên quan

Trang 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Phân tích tài chính của Công ty giai đoạn từ năm 2006đến năm 2008 và đề xuất một số giải pháp đến năm 2010

- Về không gian: Công ty Cổ phần Lương thực Bình Trị Thiên

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảoluận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về tài liệu

Chương 2: Thực trạng về tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Lươngthực Bình Trị Thiên

Chương 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực tài chính tại Công ty Cổ phần Lương thực Bình Trị Thiên

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU

1.1 NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÀI

CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP

1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, hoạt độngtrong mọi lĩnh vực, thuộc mọi thành phần kinh tế, tồn tại dưới mọi hình thức

sở hữu được thành lập nhằm mục đích lợi nhuận hay các mục đích khác

Ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế

có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanhtheo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinhdoanh - tức là thực hiện một, hoặc một số hoặc tất cả các công đoạn quá trìnhđầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thịtrường, nhằm mục đích sinh lợi

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tiến hành hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình cần có một lượng vốn nhất định Quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng là quá trình hình thành, phân phối

và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quá trình đó, các luồngtiền tệ phát sinh gắn liền với hoạt động đầu tư và các hoạt động kinh doanhthường xuyên của doanh nghiệp, các luồng tiền tệ đó bao gồm các luồng tiền

đi vào doanh nghiệp và các luồng tiền đi ra khỏi doanh nghiệp tạo thành sựvận động của các luồng tài chính của doanh nghiệp

Tài chính được đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền

tệ với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất giữ trong quátrình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ đại diện cho sức mua nhất định của cácchủ thể kinh tế - xã hội

Trang 5

Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở trong hệ thống tài chính quốc gia.Đây là tụ điểm của các nguồn tài chính gắn với hoạt động sản xuất kinh doanhhàng hoá hay dịch vụ.

Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trongquá trình phân phối các nguồn tài chính, gắn liền với việc tạo lập và sử dụng

và các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp, phục vụ yêu cầu kinh doanh của doanhnghiệp Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơbản hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu: Tối đa hoá lợi nhuận, tối

đa hoá giá trị doanh nghiệp hay mục tiêu tăng trưởng, phát triển

Các mối quan hệ của tài chính doanh nghiệp:

Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Nhóm quan hệ nàyphản ánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị, nảy sinh trong quátrình phân phối và tái phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dângiữa ngân sách Nhà nước với các tổ cức doanh nghiệp Trong điều kiện tồn tạinền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của nước ta hiện nay, nhóm quan hệnày cũng được biểu hiện dưới mức độ và phạm vi khác nhau, tuỳ thuộc vàohình thức sở hữu của mỗi thành phần kinh tế cũng như cơ chế quản lý vĩ môcủa nhà nước

- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Thịtrường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn Quan hệ tàichính với thị trường vốn: Mối quan hệ này thể hiện thông qua quá trình huyđộng vốn của doanh nghiệp như: phát hành cổ phiếu, trái phiếu để bán ra thịtrường nhằm thu hút vốn Còn trong trường hợp đầu tư vào các doanh nghiệpkhác để kiếm lời thì doanh nghiệp mua trái phiếu, cổ phiếu của những doanhnghiệp này Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tiền tệ: quan

hệ này được thể hiện thông qua việc vay tiền và trả lãi vay cho ngân hànghoặc của các tổ chức tín dụng hoặc cá nhân, đối tượng khác

Trang 6

- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường hàng hoá dịch vụ:Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp vừa đóng vaitrò là người mua, vừa đóng vai trò là người bán Với tư cách là người mua,doanh nghiệp phải sử dụng vốn, quỷ của mình để mua máy móc, thiết bị, vật

tư, lao động phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn với tưcách là người bán, doanh nghiệp bán sản phẩm làm ra, tái tạo vốn cho quatrình sản xuất kinh doanh tiếp theo

- Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Biểu hiện của mối quan

hệ này là sự luân chuyển vốn trong doanh nghiệp, đó là quan hệ tài chính giũacác bộ phận sản xuất kinh doanh với nhau, giữa cổ đông và người quản lý,giữa các thành viên trong doanh nghiệp

Như vậy hoạt động tài chính doanh nghiệp chính là cơ sở cho phân tíchtài chính doanh nghiệp Quá trình này đóng vai trò hết sức quan trọng đối vớinhà quản lý để từ đó có quyết định phù hợp và đúng đắn cho doanh nghiệpcủa mình Đối với nhà đầu tư, nó là cơ sở để xem xét ra quyết định đầu tư

1.1.2 Ý nghĩa và mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánhgiá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho các nhà quản trị đưa rađược quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đógiúp cho các đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tàichính của doanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích củachính họ Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tàichính của doanh nghiệp Mỗi đối tượng lại quan tâm theo giác độ và mục tiêukhác nhau Do nhu cầu về thông tin tài chính doanh nghiệp rất da dạng, đòihỏi phân tích tài chính phải được tiến hành bằng nhiều phương pháp khácnhau để từ đó đáp ứng nhu cầu của các đối tượng quan tâm Chính điều đó đãtạo điều kiện cho phân tích tài chính ra đời, ngày càng hoàn thiện và pháttriển, đồng thời cũng tạo ra phức tạp của phân tích tài chính.10,5-6

Trang 7

Thông qua phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặctrưng, các thông tin về mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sáchNhà nước, với thị trường và với nội bộ doanh nghiệp, phân tích tài chính chothấy những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Nhờ đó, những người quan tâm đến hoạt động của công ty sẽ

có các biện pháp và quyết định phù hợp

Phân tích tài chính cung cấp những thông tin hữu ích giúp kiểm tra,phân tích một cách tổng hợp, toàn diện, có hệ thống về tình hình sản xuất kinhdoanh, tình hình thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp Những người quản

lý tài chính khi phân tích tài chính cần cân nhắc tính toán tới mức rủi ro và tácđộng của nó tới doanh nghiệp mà biểu hiện chính là khả năng thanh toán,đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinhlãi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tiếp tục nghiên cứu vàđưa ra các dự đoán về kết quả hoạt động kinh doanh nói chung, mức doanhlợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Ngoài ra, phân tích tài chínhcòn cung cấp những thông tin số liệu để kiểm tra giám sát tình hình hạch toánkinh doanh, tình hình chấp hành các chính sách chế độ kinh tế tài chính củadoanh nghiệp Cùng với sự phát triển của xã hội thì việc phân tích tài chínhcàng trở nên quan trọng, bởi công tác phân tích tài chính ngày càng cho thấy

sự cần thiết của nó đối với sự phát triển doanh nghiệp Phân tích tài chính chothấy khả năng và tiềm năng kinh tế tài chính của doanh nghiệp, do đó sẽ giúpcho công tác dự báo, lập kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn, dễ dàng đưa

ra các chính sách tạo điều kiện cho công ty hoạt động

Trước đây, việc phân tích tài chính chỉ để phục vụ cho nhu cầu cho cácnhà đầu tư và các ngân hàng Hiện nay việc phân tích tài chính được rất nhiềuđối tượng quan tâm Tùy theo mục đích khác nhau của người sử dụng màphân tích tài chính sẽ có những vai trò khác nhau:

Trang 8

- Đối với những người quản lý doanh nghiệp

Hoạt động phân tích tài chính của những người quản lý doanh nghiệpđược gọi là phân tích tài chính nội bộ Do ở doanh nghiệp họ nắm được đầy

đủ và chính xác các thông tin, kèm theo sự hiểu rõ về doanh nghiệp nên họ cólợi thế để phân tích tài chính một cách tốt nhất Phân tích tài chính có ý nghĩa

để dự báo tài chính và là cơ sở cho các nhà quản lý đưa ra quyết định phù hợpkhông chỉ trong vấn đề tài chính mà còn nhiều vấn đề khác Phân tích tàichính nội bộ thực sự cần thiết để xác định giá trị kinh tế, các mặt mạnh, yếu

và đưa ra những quyết định đúng đắn cho sự phát triển của một doanh nghiệp

- Đối với các cơ quan chức năng, cơ quan Nhà nước có liên quan

Dựa vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phân tích đánh giá,kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động tài chính tiền tệ của doanhnghiệp có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước hay không, có tuân theopháp luật hay không đồng thời sự giám sát này giúp cơ quan thẩm quyền cóthể hoạch định chính sách một cách phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệphoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả Giúp Nhà nước đưa những kếhoạnh phát triển ở tầm vĩ mô sao cho mang lại lợi ích thiết thực nhất

- Đối với các nhà đầu tư

Các nhà đầu tư là các doanh nghiệp và cá nhân quan tâm trực tiếp đếncác giá trị của doanh nghiệp vì họ là người đã giao vốn cho doanh nghiệp và

có thể phải chịu rủi ro Thu nhập của họ là tiền chia lợi tức và giá trị gia tăngthêm của vốn đầu tư Hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ vọngcủa doanh nghiệp Các nhà đầu tư thường không hài lòng với lợi nhuận màdoanh nghiệp đạt được theo tính toán trên sổ sách Dự kiến trước lợi nhuận

sẽ đạt được là mối quan tâm thực sự của nhà đầu tư Thông qua sự phân tíchdựa trên các báo cáo tài chính, phân tích khả năng sinh lời, mức độ rủi ro và

sự phân tích diễn biến giá cả, các nhà đầu tư sẽ đưa ra các quyết định củachính mình

Trang 9

- Đối với ngân hàng, Các nhà cho vay tín dụng, các đối tác kinh doanh

và các tổ chức khác

Những đối tượng này quan tâm đến khả năng thanh toán công nợ, khảnăng hợp tác liên doanh của doanh nghiệp, cho nên cũng cần phân tích và đánhgiá thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt đối với các chủ

nợ, họ quan tâm tới khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp nếu đó là cáckhoản vay ngắn hạn, đối với khoản vay dài hạn họ phải tin chắc khả năng hoàntrả khi xem xét khả năng sinh lời của doanh nghiệp Song quan trọng nhất đó là

cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay Các đốitác kinh doanh còn xem xét đến khả năng hợp tác của doanh nghiệp thông quatình hình chấp hành các chế độ, khả năng, tiềm năng kinh tế tài chính củadoanh nghiệp

- Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp

Những người hưởng lương trong doanh nghiệp cũng quan tâm đến tìnhhình tài chính, bởi lợi ích của họ gắn liền với hoạt động tài chính của doanhnghiệp Người lao động quan tâm đến các thông tin và số liệu tài chính để đánhgiá, xem xét triển vọng của nó trong tương lai Những người đi tìm việc đều cónguyện vọng được vào làm việc trong các công ty có triển vọng với tương lailâu dài để hy vọng có mức lương xứng đáng và chỗ làm việc ổn định

Những nhà phân tích tài chính nghiên cứu và đưa ra các dự đoán về kếtquả của hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng trong tương lai Phântích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính Ngoài ra phân tích tài chính đượcứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: Đưa ra quyết định phục vụ nghiên cứuhay để kiểm tra giám sát chặt chẽ hơn Hiện nay với sự phát triển lớn mạnhcủa doanh nghiệp cùng với quá trình cạnh tranh khốc liệt thì phải có chiếnlược kinh doanh cụ thể hợp lý và chính xác Phân tích tài chính sẽ có tác dụngtrong việc thực hiện điều đó

Trang 10

Như vậy, có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính củadoanh nghiệp dưới những gốc độ khác nhau Song nhìn chung họ đều quantâm đến khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanhtoán và mức lợi nhuận tối đa Bởi vậy, việc phân tích tình hình tài chínhdoanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu nhất định:

- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp cho các chủ doanh nghiệp,các nhà đầu tư, các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin khác trongviệc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào, ra và tìnhhình sử dụng có hiệu quả nhất vốn kinh doanh, tình hình khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp

- Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp phải cung cấp những thôngtin về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả quá trình hoạt động sảnxuất kinh doanh, sự kiện và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và cáckhoản nợ của công ty

1.2 TỔ CHỨC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.2.1 Tổ chức phân tích tài chính trong doanh nghiệp

Tổ chức phân tích tài chính trong doanh nghiệp là việc thiết lập trình tựcác bước công việc cần tiến hành trong quá trình phân tích tài chính Để phântích tài chính trong doanh nghiệp thực sự phát huy tác dụng trong quá trình raquyết định, phân tích tài chính phải được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợpvới đặc điểm kinh doanh, cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp và phùhợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng Mỗi đối tượng quan tâm vớinhững mục đích khác nhau, nên việc phân tích đối với mỗi đối tượng cũng cónhững nét riêng Song nói chung, phân tích tài chính trong doanh nghiệpthường được tiến hành qua các giai đoạn sau:

- Lập kế hoạch phân tích: Đây là giai đoạn đầu tiên, là khâu quan trọng,ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tác dụng của phân tích tài chính

Trang 11

Lập kế hoạch phân tích, bao gồm việc xác định mục tiêu, xây dựng chươngtrình phân tích Kế hoạch phân tích phải được các định rõ nội dung, phạm viphân tích, thời gian tiến hành, những thông ti cần thu thập, tìm hiểu.

- Giai đoạn tiến hành phân tích: Đây là giai đoạn triển khai, thực hiệncác công việc đã ghi trong kế hoạch Tiến hành phân tích bao gồn các bướccông việc sau: Sưu tầm số liệu, xử lý số liệu; tính toán các chỉ tiêu phân tích;xác định nguyên nhân và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng của các nhân tốđến các chỉ tiêu phân tích; xác định và dự đoán những nhân tố kinh tế xã hộitác động đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp; tổng hợp kết quả, rút ranhận xét, kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp

- Giai đoạn kết thúc: Đây là giai đoạn cuối cùng của phân tích Tronggiai đoạn này cần tiến hành những công việc cụ thể sau: Viết báo cáo phântích; hoàn chỉnh hồ sơ phân tích

1.2.2 Hệ thống thông tin và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2.2.1 Những thông tin cần thiết cho phân tích tài chính doanh nghiệp

Thông tin liên quan đến doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng Một

số công khai, một số chỉ dành cho những người có lợi ích gắn liền với sự sốngcòn của doanh nghiệp Có những thông tin được báo chí hoặc các tổ chức tàichính công bố, có những thông tin chỉ trong nội bộ doanh nghiệp được biết

Do vậy để có những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình phân tích tàichính, các nhà phân tích tài chính phải sưu tầm đầy đủ và thích hợp nhữngthông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp

1.2.2.1.1 Thông tin bên ngoài

Là những thông tin bao gồm thông tin liên quan đến tình hình Kinh

tế-Xã hội (cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất ngân hàng; thông tin vềngành kinh doanh; thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế,

cơ cấu ngành, tình trạng công nghệ, thị phần và các thông tin về pháp lý,

Trang 12

kinh tế đối với doanh nghiệp) Nguồn thông tin này được phản ánh trong cácvăn bản pháp quy của Nhà nước, các số liệu thống kê, tin tức hàng ngày trêncác phương tiện thông tin đại chúng, hoặc các tài liệu ấn phẩm của từng cơquan, từng ngành.

Nhân tố bên ngoài còn ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanhcũng như hoạt động của doanh nghiệp Thường là các thông tin về tình hìnhkinh tế xã hội, về sự tăng trưởng hoặc suy thoái kinh tế trong nước cũng nhưtrên thế giới Những thông tin này đều góp phần xây dựng các dự báo kếhoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn cho doanh nghiệp, góp phần tạo điều kiệncho doanh nghiệp cũng như những đối tượng quan tâm khác đến doanhnghiệp đưa ra quyết định phù hợp và đúng đắn

1.2.2.1.2 Thông tin bên trong

Thông tin bên trong của một doanh nghiệp là mọi nguồn thông tin liênquan đến doanh nghiệp đó, thí dụ: Thông tin về thị trường của doanh nghiệp,thông tin về nhân sự Trong đó hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo kế toánquản trị của doanh nghiệp, sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán thông tin

về kế toán là nguồn thông tin đặc biệt cần thiết, mang tính bắt buộc Thông tin

kế toán phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của doanh nghiệp tạithời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trongnhững thời điểm nhất định Thông tin kế toán cũng giúp cho các đối tượng sửdụng thông tin tài chính nhận biết đựợc thực trạng tài chính, tình hình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó ra quyết định phù hợp Sản phẩmcuối cùng của chu trình kế toán số liệu là hệ thống báo cáo kế toán của doanhnghiệp Bởi vậy, thông tin kế toán được phản ánh đầy đủ trong hệ thống báocáo kế toán của doanh nghiệp Vì vậy phân tích tài chính tức là phân tích hệthống báo cáo kế toán doanh nghiệp

Hệ thống báo cáo tài chính được Nhà nước quy định có tính chất bắt

Trang 13

buộc về biểu mẫu, phương pháp lập, đối tượng và phạm vi áp dụng cũng nhưthời gian nộp báo cáo.

Hệ thống báo cáo tài chính được quy định trong chế độ tại Quyết định

số 15/2006/QĐ- BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Để tiếnhành hội nhập với kế toán quốc tế, phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc

tế, hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam đã được sửa đổi tại các thông tư

+ Bảng cân đối kế toán ( mẫu số B01- DN): Bảng cân đối kế toán là

báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có

và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định(thời điểm lập báo cáo)

Theo quy định tại chuẩn mực số 21 " Trình bày báo cáo tài chính" từđoạn 15 đến đoạn 32, khi lập và trình bày Bảng cân đối kế toán phải tuân thủcác nguyên tắc chung về lập và trình bày báo cáo tài chính, nhưng khôngđược áp dụng" Nguyên tắc bù trừ" Trên bảng cân đối kế toán, các khoản mụctài sản và nợ phải trả phải được trình bày riêng biệt thành ngắn hạn và dàihạn, tùy theo thời hạn của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp

+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu B02-DN): Báo cáo

kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tóm lược tìnhhình chi phí, doanh thu và kết quả từng loại hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp trong một kỳ kế toán Khác với Bảng cân đối kế toán, Báocáo kết quả hoạt động kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trongquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép đánh giá hiệuquả hoạt động, khả năng sinh lời cũng như khả năng hoạt động của doanhnghiệp trong tương lai

+ Cơ sở số liệu để lập báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

trong kỳ là báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh kỳ trước Phần lãi

lỗ thực hiện nguyên tắc khấu trừ lùi để tính toán toàn bộ kết quả hoạt động

Trang 14

kinh doanh Mỗi kết quả trung gian tính được là một chỉ tiêu tài chính trunggian được sử dụng để phân tích tài chính doanh nghiệp.

+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( mẫu B03- DN): Báo cáo lưu chuyển tiền

tệ cung cấp thông tin về những luồng tiền vào, ra của tiền và coi như tiền,những khoản đầu tư ngắn hạn có tính lưu động cao ( thời gian thu hồi hoặcđáo hạn không quá 3 tháng kể từ ngày mua khoản đầu tư đó) Báo cáo lưuchuyển tiền tệ còn cho biết tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanhnghiệp trong từng thời kì

+ Thuyết minh báo cáo tài chính (mẫu B09 - DN): Thuyết minh báo cáo

tài chính cung cấp các thông tin về doanh nghiệp như: Đặc điểm hoạt động củadoanh nghiệp, niên độ kế toán sử dụng, chế độ kế toán áp dụng, việc tuân thủcác chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam Thuyết minh báo cáo tàichính còn bổ sung các thông tin rõ ràng, chi tiết cho các khoản, mục tổng hợptrình bày trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh

Bên cạnh hệ thống báo cáo tài chính, các báo cáo của kế toán quản trịcũng được coi là tài liệu không thể thiếu được trong phân tích tài chính Báocáo kế toán quản trị đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc của doanhnghiệp Báo cáo kế toán quản trị thay đổi theo quyết định của người quản lýdoanh nghiệp và được lập một cách thường xuyên theo yêu cầu quản trị doanhnghiệp Hệ thống báo cáo kế toán quản trị của một doanh nghiệp bao gồm:Báo cáo tổng hợp giá thành sản phẩm, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhtừng bộ phận, mặt hàng, báo cáo khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành;báo cáo khối lượng sản phẩm dịch vụ tiêu thụ, báo cáo tình hình sử dụng laođộng và năng suất lao động Báo cáo một số chỉ tiêu phân tích tình hình tàichính của doanh nghiệp, báo cáo về sử dụng vật tư

Thông tin của các báo cáo quản trị mang lại là cơ sở quan trọng để chocác nhà quản lý ra quyết định kinh doanh ở khâu như lập kế hoạch, tổ chức

Trang 15

thực hiện, kiểm tra đánh giá mặt khác chúng giúp nhà quản trị trong quátrình xử lý, phân tích thông tin lựa chọn phương án và ra quyết định kinhdoanh phù hợp Kết hợp báo cáo tài chính và báo cáo quản trị làm thành một

hệ thống thông tin tương đối đầy đủ và đáng tin cậy để doanh nghiệp có thểtiến hành phân tích tài chính đạt hiệu quả chính xác

1.2.2.2 Phương pháp phân tích tài chính trong doanh nghiệp

Để phân tích tài chính doanh nghiệp, người ta có thể sử dụng một haytổng hợp các phương pháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp phântích tài chính doanh nghiệp Những phương pháp phân tích tài chính sử dụngphổ biến là: Phương pháp so sánh, phương pháp liên hệ đối chiếu, phươngpháp phân tích nhân tố, phương pháp đồ thị, phương pháp biếu đồ, phươngpháp toán tài chính kể cả các phương pháp phân tích các tình huống giã định

* Phương pháp đánh giá: Đây là phương pháp luôn được sử dụng trongphân tích tài chính doanh nghiệp, đồng thời được sử dụng nhiều trong nhiềugia đoạn của quá trình phân tích Thông thường để đánh giá, người ta sử dụngcác phương pháp sau:

- Phương pháp so sánh: Để thực hiện phương pháp này: Thứ nhất, phảitồn tại hai đại lượng, các đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được Đó

là sự thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán,thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường Thứ hai, gốc so sánh tuỳ thuộcvào mục đích của phân tích Gốc so sánh có thể các định tại từng thời điểm,cũng có thể từng thời kỳ Thứ ba, kỷ thuật so sánh thường được sử dụng là sosánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối

- Phương pháp phân chia: Đây là phương pháp được sử dụng để chianhỏ quá trình và kết quả thành những bộ phận khác nhau phục vụ cho mụctiêu nhận thức quá trình và kết quả đó dưới những khía cạnh khác nhau phùhợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng trong từng thời kỳ

Trang 16

- Phương pháp liên hệ đối chiếu: Là phương pháp phân tích sử dụng đểnghiên cứu xem xét mối liên hệ kinh tế giữa các sự kiện và hiện tượng, đồngthời xem xét tính tương đối của các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình thực hiệncác hoạt động Sử dụng phương pháp này cần lưu ý đến các mối quan hệmang tính nội tại, ổn định, chung nhất và được lặp đi lặp lại, các liên hệngược, liên hệ xuôi, tính cân đối tổng thể, cân đối từng phần.

* Phương pháp phân tích nhân tố: Là phương pháp thiết lập các côngthức tính toán các chỉ tiêu kinh tế tài chính trong mối quan hệ với các nhân tốảnh hưởng Trên cơ sở mối quan hệ giữa các chỉ tiêu được sử dụng để phântích và các nhân tố ảnh hưởng mà sử dụng các phương pháp xác định mức độảnh hưởng của từng nhân tố và phân tích tính chất ảnh hưởng của các nhân tốđến chỉ tiêu phân tích

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC PHÂN TÍCH TÀI

CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.3.1 Nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp

Điều kiện sản xuất kinh doanh và quy trình hoạt động của doanh nghiệp:Mỗi doanh nghiệp có đặc điểm riêng về quy trình hoạt động cũng như sảnphẩm, dịch vụ mà nó sản xuất ra Do vậy, các thông tin thu nhập từ ngay bảnthân quá trình sản xuất, kinh doanh cũng mang những đặc điểm riêng, đòi hỏingười phân tích phải tổng hợp, xử lý phân tích một cách linh hoạt Những yếu

tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp là:

- Đặc điểm của sản phẩm kinh doanh;

- Đặc điểm của quá trình sản xuất, kinh doanh;

- Đặc điểm của quá trình cung ứng hàng hoá, vật tư đầu vào;

- Đặc điểm của mạng lưới tiêu thụ;

- Đặc điểm của loại hình doanh nghiệp

Trang 17

Nhân sự: Yếu tố con người ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của côngtác phân tích tài chính doanh nghiệp Nếu không có đội ngũ cán bộ dồi dàokinh nghiệm và trình độ, quá trình thu nhập và xử lý thông tin sẽ không đượctiến hành hoặc được tiến hành một cách trệch hướng, ảnh hưởng không nhỏđến các quyết định của các nhà quản lý Nhân sự trong phân tích tài chínhdoanh nghiệp hiện nay vẫn chủ yếu thuộc bộ phận kế toán doanh nghiệp Dovậy, doanh nghiệp không những phải có chính sách đúng đắn trong tuyểndụng và đào tạo mà còn phải có chính sách đãi ngộ hợp lý để các cán bộ nhânviên của phòng tài chính kế toán yên tâm làm việc và phát huy hết khả năngcủa mình, với chính sách đãi ngộ hợp lý, doanh nghiệp còn có thể thu hútđược nhân tài từ nơi khác về làm việc và cống hiến.

*Hỗ trợ các phương tiện kỹ thuật: Công tác phân tích tài chính doanhnghiệp sẽ đạt hiệu quả rất cao nếu doanh nghiệp kịp thời ứng dụng các thànhtựu khoa học kĩ thuật – hệ thống phần mềm tài chính kế toán chuyên dụng

* Những nhân tố chủ quan phát sinh chi phối bản thân doanh nghiệpcũng có tác động đối với quá trình phân tích tài chính Chẳng hạn, doanhnghiệp đang tiến hành cắt giảm chi phí hoặc đang tập trung vào việc mở rộngquy mô hoạt động Trong những kế hoạch như vậy, hiển nhiên hoạt độngphân tích phải tính đến những tác động việc thực hiện kế hoạch đến các chỉtiêu tài chính

1.3.2 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Hoạt động tài chính luôn được đặt trong môi trường kinh doanh, hệthống pháp luật cùng những quy định của nó Doanh ngiệp phải làm chủ và

dự đoán được trước những thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với

nó Thông tin là đầu vào cần thiết cho bất cứ mục tiêu phân tích gì Trongphân tích tài chính, thông tin bên trong (báo cáo kế toán) hay thông tin bênngoài (thông tin về đối thủ cạnh tranh, thông tin của toàn nghành, thông tin về

Trang 18

các chính sách thay đổi của Nhà nước ) đều có vai trò hết sức quan trọng.Các thông tin thu nhập phải đầy đủ cả về số lượng và chất lượng, kịp thờiphản ánh sát thực tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

1.4 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH

NGHIỆP

1.4.1 Khái quát về nội dung phân tích

Phân tích tài chính doanh nghiệp được nghiên cứu từ rất nhiều nhà lýluận cũng như các nhà quản lý trong và ngoài nước Nội dung chính của cácnhà nghiên cứu đều xuất phát từ mục tiêu của phân tích tài chính là giúpngười sử dụng thông tin có căn cứ để lựa chọn phương án kinh doanh tối ưunhất, tuy nhiên quan điểm về nội dung phân tích tài chính còn nhiều quanđiểm khác nhau Có thể nêu ra một số quan điểm sau:

* Quan điểm của tập thể tác giã: PGS TS Nguyễn Năng Phúc; PGS TSNghiêm Văn Lợi; TS Nguyễn Ngọc Quang, trong cuốn “Phân tích tài chínhcông ty cổ phần” 31, 44-45, thì phân tích tài chính gồm những nội dung sau:

- Phân tích tình hình biến đổi về quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốncủa doanh nghiệp;

- Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp,tình hình đảm bảo nguồn vốn lưu động cho việc dự trữ tài sản lưu động củadoanh nghiệp;

- Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp;

- Phân tích tình hình thanh toán với ngân sách nhà nước của doanhnghiệp;

- Phân tích tình hình đầu tư và nguồn vốn tài trợ của doanh nghiệp;

- Phân tích tình hình rủi ro về tài chính của doanh nghiệp;

- Phân tích tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 19

*Quan điểm của tác giả Nguyễn Tấn Bình Trong cuốn “ Phân tích hoạt động doanh nghiệp’’cho rằng phân tích tài chính có thể xem gần như phân

tích báo cáo tài chính Phân tích báo cáo tài chính thông qua các thông tinđược thiết kế sẳn cũng như thông qua hệ thống chỉ tiêu được xây dựng dựatrên các báo cáo tài chính để đánh giá tình hình tài chính (phân tích các nhómchỉ tiêu chủ yếu (nhóm chỉ tiêu thanh toán , nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụngvốn, nhóm chỉ tiêu lợi nhuận, và nhóm chỉ tiêu cơ cấu tài chính) và phân tíchbáo cáo lưu chuyển tiền tệ 2,205-206

* Quan điểm của TS Phạm Thị Gái Nhà khoa học của khoa kế toán Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội đã cụ thể nội dung phân tích bao gồm:

-20,246-247

+ Đánh giá khái quát tình hình tài chính;

+ Phân tích cơ cấu nguồn vốn và tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh;

+ Phân tích tình hình khả năng thanh toán;

+ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn;

+ Dự báo nhu cầu tài chính

* Quan điểm của các chuyên viên Vụ chế độ kế toán và kiểm toán - Bộtài chính cho rằng phân tích tài chính gồm những nội dung không khác nhiều

so với các nhà khoa học của khoa kế toán - Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội

8,425, cụ thể phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm:

+ Đánh giá khái quát tình hình tài chính;

+ Phân tích nguồn vốn và chính sách huy động vốn ;

+ Phân tích tình hình khả năng thanh toán ;

+ Phân tích hiệu quả kinh doanh;

+ Dự báo nhu cầu tài chính

Trang 20

* Quan điểm của PGS.TS Phạm Văn Được, trưởng khoa kế toán - Kiểmtoán, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, trong cuốn “ Phân tíchhoạt động kinh doanh” 19,279 thì: Nội dung phân tích đi từ khái quát đến cụthể, bao gồm các nôi dung sau:

- Đánh giá khái quát tình hình tài chính;

- Phân tích tình hình và khả năng thanh toán;

- Phân tích hiệu quả sử dụng vốn;

- Phân tích hiệu quả kinh doanh

Theo tôi, mục đích quan trọng nhất của phân tích tài chính là giúp cácnhà quản lý doanh nghiệp, các nhà quan tâm đến tình hình tài chính củadoanh nghiệp đánh giá được chính xác tình hình tài chính doanh nghiệp, nắmvững tiềm năng, xác định khả năng thanh toán và hiệu quả kinh doanh, và rủi

ro trong tương lai, dự báo được tình hình tài chính đề ra quyết định chính xác,

vì vậy phù hợp với nội dung phân tích tình hình tài chính sử dụng trong luậnvăn này bao gồm:

1/ Phân tích khái quát tình hình tài chính;

2/ Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và tình hình đảm bảonguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh;

3/ Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp;

4/ Phân tích tình hình luân chuyển hàng hoá tồn kho;

5/ Phân tích hiệu quả kinh doanh;

6/ Phân tích khả năng sinh lợi;

7/ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và các nhân tố ảnh hưởng;

8/ Dự báo nhu cầu tài chính và phân tích rủi ro tài chính

1.4.2 Đánh giá khái quát tình hình tài chính

Đánh giá khái quát tình hình tài chính Là việc xem xét, nhận định sơ

bộ bước đầu về tình hình tài chính của doanh nghiệp Việc đánh giá này cungcấp thông tin một cách tổng quát về thực trạng và sức mạnh tài chính của

Trang 21

doanh nghiệp, từ đó biết được mức độ độc lập về mặt tài chính và những khókhăn mà doanh nghiệp đang phải đương đầu.

Đánh giá khái quát tình hình tài chính được thực hiện bằng cách tính ra

và so sánh giữa kỳ phân tích và kỳ gốc các chỉ tiêu sau:

+ Tổng số nguồn vốn

Tổng nguồn vốn phản ánh toàn bộ nguồn hình thành tài sản hiện có củadoanh nghiệp đến cuối kỳ hạch toán, nó cho biết khả năng huy động vốn từcác nguồn khác nhau của doanh nghiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh.Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào sự tăng lên hay giảm đi của tổng nguồn vốn giữacuối kỳ với đầu kỳ thì chưa thể đánh giá sâu sắc và toàn diện tình hình tàichính của doanh nghiệp được

Chỉ tiêu này cho biết mức độ đầu tư vốn chủ sở hữu vào tài sản dài hạn

là bao nhiêu Trị số của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản dài hạn chủ yếuđược đầu tư bằng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Tuy nhiên chỉ tiêu nàyquá cao cũng là không tốt vì khi đó, do vốn đầu tư chủ yếu vào tài sản dài

Trang 22

hạn, ít sử dụng vào kinh doanh quay vòng để sinh lợi nên hiệu quả kinh doanhkhông cao.

+ Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn là tiền mặt và các dạng tài sản có tính thanh khoảncao (dễ chuyển thành tiền) Nợ ngắn hạn là những khoản nợ cần phải thanhtoán trong thời gian ngắn Một doanh nghiệp sáng suốt cần phải duy trì đủ tàisản ngắn hạn để đảm bảo thanh toán kịp thời các khoản nợ ngắn hạn Hệ sốkhả năng thanh toán nợ ngắn hạn chính là thước đo khả năng thanh toán cáckhoản nợ ngắn hạn của nhà nước với tổng số tài sản ngắn hạn hiện có Nếuchỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn củadoanh nghiệp là cao và tình hình tài chính là bình thường hay khả quan;ngược lại, nếu nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn củadoanh nghiệp là thấp

Trang 23

Tổng giá trị thuần của tài sản ngắn hạn

Tổng nợ ngắn hạn

+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Tài sản ngắn hạn không phải lúc nào cũng dễ dàng chuyển đổi thànhtiền, khả năng thanh toán của doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng nhiều nếu giátrị hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn và nhiều khả năng không thể bán lấy tiềnmặt hoặc tỷ lệ khoản phải thu cao Do đó, để kiểm tra khả năng thanh toánmột cách chặt chẽ hơn, các nhà phân tích thường dùng chỉ tiêu “Hệ số khảnăng thanh toán nhanh” Chỉ tiêu này cho biết với số vốn bằng tiền hiện có(tiền mặt, tiền gửi ngân hàng ) và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn,doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không.Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 0,5 thì doanh nghiệp được coi là đủ khả năng thanhtoán Nếu trị số của chỉ tiêu này nhỏ, thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăntrong việc thanh toán công nợ

Tiền, các khoản tương đương tiền vàkhoản đầu tư tài chính ngắn hạn

Tổng nợ ngắn hạn

+ Hệ số khả năng thanh toán của tài sản ngắn hạn :

Chỉ tiêu này cho biết khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản ngắnhạn, từ đó biết được doanh nghiệp có đủ tiền để thanh toán các khoản nợ ngắnhạn của mình hay không

Tiền và các khoản tương đương tiền

Tổng giá trị thuần của tài sản ngắn hạn

Nói chung, chỉ tiêu này quá cao hay quá thấp cũng đều không tốt vì nếuquá cao, tiền và các khoản tương đương tiền quá nhiều, doanh nghiệp thừakhả năng thanh toán nhưng gây ứ đọng vốn, và ngược lại, nếu quá thấp sẽkhông đảm bảo khả năng thanh toán

Hệ số khả năng

Thanh toán nợ ngắn hạn =

Hệ số khả năngthanh toán nhanh =

Hệ số khả năng thanh toán

của tài sản ngắn hạn =

Trang 24

+ Tỷ suất đầu tư

Tỷ suất đầu tư phản ánh tỷ trọng của tài sản dài hạn chiếm trong tổng

số tài sản, nó phản ánh cấu trúc tài sản của doanh nghiệp Tỷ suất này cao haythấp là phụ thuộc chủ yếu vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.Chẳng hạn với ngành công nghiệp thăm dò và khai thác dầu khí hay ngànhluyện kim thì tỷ suất này tương đối lớn trong khi đó, ở ngành công nghiệp chếbiến thực phẩm tỷ suất này thấp hơn rất nhiều

Tài sản dài hạn Tổng tài sản

+ Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và đượccác nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định đầu tư vào doanh nghiệp,

nó cho biết một đơn vị vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh thì đem lại mấyđơn vị lợi nhuận sau thuế Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mụctiêu quan trọng

Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu bình quânKhi tính chỉ tiêu này, nhà phân tích sử dụng vốn chủ sở hữu bình quânchứ không phải là vốn chủ sở hữu vì đây là kết quả của một kỳ kinh doanhnên không thể lấy trị số của vốn chủ sở hữu tại một thời điểm mà phải sửdụng trị số bình quân của kỳ

1.4.3 Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn

* Phân tích cơ cấu tài sản

Phân tích cơ cấu tài sản giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi vềgiá trị, tỷ trọng của tài sản qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắtnguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh

Tỷ suất đầu tư =

Suất sinh lờicủa chủ sở hữu =

Trang 25

doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiếnlược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không Ngoài ra,việc phân tích này còn cung cấp cho nhà phân tích nhìn về quá khứ tìm kiếmmột xu hướng, bản chất sự biến động tài sản của doanh nghiệp.

Khi phân tích cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh sự biến động trên tổng

số tài sản và từng loại tài sản (tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, các khoản phảithu ngắn hạn, hàng tồn kho, ) giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phântích còn tính ra và so sánh tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tổng số,

từ đó thấy được xu hướng biến động và mức độ hợp lý của việc phân bổ

Giá trị của từng bộ phận tài sản

Tổng số tài sản

* Phân tích cơ cấu nguồn vốn

Phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm giúp nhà phân tích tìm hiểu được sựthay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ Sự thay đổi nàybắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuấtkinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ tàichính, khả năng tận dụng, khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt độngsản xuất kinh doanh hay không cũng như có phù hợp với chiến lược, kế hoạchsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không ? Phân tích có cấu nguồnvốn cung cấp thông tin cho người phân tích sự thay đổi nguồn vốn, một xuhướng cơ cấu nguồn vốn hợp lý trong tương lai

Việc phân tích có cấu nguồn vốn cũng được tiến hành tương tự nhưviệc phân tích cơ cấu tài sản Cùng với việc so sánh tổng nguồn vốn cũng nhưtừng loại nguồn vốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còntính ra và so sánh tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số,

Tỷ trọng của

từng bộ phận

tài sản

Trang 26

từ đó thấy được xu hướng biến động, mức độ hợp lý và tính tự chủ tài chínhcủa doanh nghiệp.

Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn

Tổng số nguồn vốn

* Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn.

Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giátrị tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinhdoanh Phân tích mối quan hệ này giúp nhà phân tích phần nào nhận thứcđược sự hợp lý giữa nguồn vốn doanh nghiệp huy động và sử dụng cùng trongđầu tư, mua sắm, dự trữ, và sử dụng có hợp lý, hiệu quả hay không

Khi phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, nhà phân tích cầntính ra và so sánh các chỉ tiêu sau:

+ Hệ số nợ trên tổng tài sản

Nợ phải trảTổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết sử dụng một đồng vốn kinh doanh thì có baonhiêu đồng nợ vay Thông thường các chủ nợ thích hệ số này nhỏ và vừa phải

vì hệ số an toàn cao Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp ưa thích hệ

số nợ cao vì họ vì chỉ cần bỏ ra một lượng vốn nhỉ nhưng lại được sử dụngmọt lượng tài sản lớn Hệ số nợ cao, mức độ an toàn tài chính giảm đi, mức

độ rủi ro cao hơn và có thể doanh nghiệp sẽ bị lỗ nặng nếu hoạt động sản xuấtkinh doanh không ổn định, nhưng doanh nghiệp cũng có khả năng thu lợinhuận cao khi điều kiện kinh tế thuận lợi Dù vậy, nếu hệ số này quá cao thìdoanh nghiệp sẽ dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và không thểkiểm soát được hoạt động của mình Vì vậy, để vừa đảm bảo khả năng giatăng lợi nhuận cao vừa giảm thiểu rủi ro khi đưa ra các quyết định tài chính,doanh nghiệp cần xem xét mức độ cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận

Tỷ trọng của từng

Hệ số nợ trêntổng tài sản =

Trang 27

+ Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu

Tài sản

Vốn chủ sở hữuĐây là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằngvốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, chứng tỏ tài sản củadoanh nghiệp được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu càng ít làm cho khả năng độclập về tài chính của doanh nghiệp càng kém và ngược lại

1.4.4 Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh

Bất kỳ một doanh nghiệp nào để đi vào hoạt động thì cũng phải huyđộng được một lượng vốn chủ sở hữu đảm bảo cho nhu cầu thiết yếu về tàisản ngắn hạn và tài sản dài hạn Quá trình hoạt động của doanh nghiệp sẽ tiếptục hình thành nên các khoản chiếm dụng vốn tạm thời, vốn vay ngắn hạn,vốn vay dài hạn đồng thời với sự tích luỹ dần về vốn chủ sở hữu Thực chấtcủa phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh là việc xemxét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản, nói cáchkhác là việc phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp

* Phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần cótài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Nguồn tài trợ tương ứngcho hai loại tài sản này là nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn Nguồnvốn ngắn hạn trong doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, còn nguồnvốn dài hạn bao gồm nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu Nguồn vốn dài hạn trướchết được đầu tư để hình thành tài sản dài hạn, nguồn vốn ngắn hạn và phần dưcủa nguồn vốn dài hạn được đầu tư vào tài sản ngắn hạn

Trong mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sẽ là hợp

lý nếu tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn vì điều này chứng tỏ doanhnghiệp giữ vững mối quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn,

Hệ số tài sản trên vốn chủ

Trang 28

sử dụng đúng mục đích nợ ngắn hạn Đồng thời nó cũng chỉ ra một sự hợp lýtrong chu kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn với chu kỳ thanh toán nợ ngắn hạn.Ngược lại, nếu tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn thì đây là dấu hiệu chothấy một phần nguồn vốn ngắn hạn đã được đầu tư vào tài sản dài hạn Khi

đó, chu kỳ luân chuyển tài sản khác với chu kỳ thanh toán nên dễ dẫn đếnnhững vi phạm nguyên tắc tín dụng và có thể đưa đến một hệ quả tài chínhkhông tốt

Trong mối quan hệ giữa tài sản dài hạn với nợ dài hạn, nếu tài sản dài

hạn lớn hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp từ vốn chủ sở hữu thì làđiều hợp lý vì khi đó doanh nghiệp đã sử dụng đúng mục đích nợ dài hạn vàvốn chủ sở hữu Tuy nhiên nếu phần thiếu hụt được bù đắp bằng nợ ngắn hạnthì lại bất hợp lý vì nó làm mất cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.Nếu tài sản dài hạn nhỏ hơn nợ dài hạn thì chứng tỏ một phần nợ dài hạn đãđược chuyển vào tài trợ tài sản ngắn hạn Điều này vừa làm lãng phí chi phílãi vay nợ dài hạn vừa thể hiện sử dụng sai mục đích nợ dài hạn

Ngoài ra, khi phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn,

người phân tích cũng cần chú trọng đến vốn hoạt động thuần (còn gọi là vốn

ngắn hạn thường xuyên) là số vốn mà doanh nghiệp không cần phải vaymượn hay đi chiếm dụng, được sử dụng để duy trì những hoạt động bìnhthường, diễn ra thường xuyên tại doanh nghiệp Vốn hoạt động thuần có thểtính theo một trong hai cách sau:

Vốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn

Hoặc:

Vốn hoạtđộng thuần

Nguồn tài trợthường xuyên

Tài sảndài hạnTrong đó, nguồn tài trợ thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp

sử dụng thường xuyên lâu dài, bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay, nợ dàihạn, trung hạn trong hạn

Trang 29

-Nếu vốn hoạt động thuần lớn hơn 0 thì đây là dấu hiệu tài chính bìnhthường hay khả quan, thể hiện sự cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nguồn vốnngắn hạn hoặc cân đối giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản dài hạn Cân bằngtài chính trong trường hợp này gọi là cân bằng tốt.

Ngược lại nhỏ hơn 0 sẽ thể hiện một sự mất cân đối giữa tài sản ngắnhạn và nợ ngắn hạn và mất cân đối giữa nguồn tài trợ thường xuyên với tàisản dài hạn Điều này chỉ ra rằng doanh nghiệp dùng nguồn tài trợ tạm thờicho cả tài sản dài hạn và nếu tình trạng này kéo dài thì có thể dẫn đến tìnhtrạng tài chính của doanh nghiệp có thể mất dần và đi đến bờ vực phá sản Vàtất nhiên, cân bằng tài chính trong trường hợp này là cân bằng xấu

* Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh.

Để phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh, nhàphân tích cần tính ra và so sánh các chỉ tiêu sau:

+ Hệ số tài trợ thường xuyên

Nguồn tài trợ thường xuyên

Hệ số tài trợ thường

Hệ số tài trợ tạm thời =

Trang 30

Tương tự như hệ số tài trợ thường xuyên, hệ số tài trợ tạm thời cho biết,

so với tổng nguồn tài trợ, nguồn tài trợ tạm thời chiếm mấy phần Trị số củachỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tính ổn định về mặt tài chính của doanh nghiệpcàng thấp và ngược lại

+ Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thưòng xuyên

Vốn chủ sở hữu Nguồn tài trợ thường xuyênThông qua chỉ tiêu này, nhà phân tích thấy được trong tổng số nguồntài trợ thường xuyên, số vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu Trị số của chỉ tiêunày càng lớn thì tính tự chủ và độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệpcàng cao và ngược lại

+ Hệ số nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn

Nguồn tài trợ thường xuyên

Tài sản dài hạnChỉ tiêu này cho biết mức độ tài trợ của tài sản dài hạn bằng nguồn vốnthường xuyên Trị số của chỉ tiêu càng lớn thì tính ổn định và bền vững về tàichính của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại

+Hệ số tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạnVới chỉ tiêu này người phân tích biết mức độ tài trợ tài sản ngắn hạnbằng nợ ngắn hạn là cao hay thấp Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1 thìtính ổn định và bền vững về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại

1.4.5 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán

* Phân tích tình hình thanh toán

Chất lượng hoạt động tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu phụ thuộcchủ yếu vào tình hình thanh toán của doanh nghiệp Nếu hoạt động tốt, doanh

Hệ số vốn chủ sở hữu so với

nguồn vốn tài trợ thường xuyên =

Hệ số nguồn vốn tài trợ thường

xuyên so với tài sản dài hạn =

Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so

Trang 31

nghiệp sẽ có ít công nợ, ít bị chiếm dụng vốn và cũng ít đi chiếm dụng vốn.Ngược lại, nếu hoạt động tài chính kém, doanh nghiệp sẽ phải đương đầu vớicác khoản công nợ kéo dài Phân tích tình hình thanh toán là việc xem xét tìnhhình thanh toán các khoản phải thu, phải trả của doanh nghiệp, qua đó có thểđánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động tài chính.

Để phân tích tình hình thanh toán các khoản phải thu, nhà phân tích

trước tiên cần xem xét sự biến động các khoản nợ phải thu trên tổng số cũngnhư trên từng khoản nợ phải thu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc nhằm đánhgiá chung tình hình thanh toán của doanh nghiệp Sau đó tính ra tỷ lệ cáckhoản phải thu so với tổng số các khoản nợ phải thu, phải trả

Nợ phải thu Tổng số các khoản nợ phải thu, phải trảĐây là chỉ tiêu nhằm đánh giá mối quan hệ giữa các khoản nợ phải thuvới tổng số các khoản nợ phải thu, phải trả Nó cho biết, trong tổng số cáckhoản nợ phải thu, phải trả thì nợ phải thu chiếm bao nhiêu % Nếu tỷ lệ nàylớn hơn 50%, nghĩa là các khoản phải thu lớn hơn các khoản phải trả thìdoanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn Ngược lại thì doanh nghiệp đangchiếm dụng vốn của người khác Chiếm dụng vốn và bị chiếm dụng vốn tronghoạt động kinh doanh là điều bình thường, tuy nhiên cần xem xét tính hợp lý

để có biện pháp quản lý công nợ tốt hơn

Để phân tích tình hình thanh toán các khoản nợ phải trả, nhà phân tích

cần so sánh các khoản nợ phải trả trên tổng số cũng như trên từng khoản nợphải trả kỳ phân tích so với kỳ gốc cả về số tuyệt đối và số tương đối, đồngthời phân tích thời hạn của các khoản nợ Trên có sở đó, xác định nguyênnhân làm khê đọng các khoản công nợ và kiến nghị các giải pháp thiết thựcnhằm giải quyết Sau đó, tính ra tỷ lệ các khoản phải trả so với tổng số cáckhoản phải thu, phải trả:

Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với

tổng số các khoản nợ phải thu, phải

trả

Trang 32

Nợ phải trả

Tổng số các khoản nợ phải thu, phải trảThực chất, chỉ tiêu này là nghịch đảo của chỉ tiêu “tỷ lệ các khoản nợphải thu so với tổng số các khoản nợ phải thu, phải trả”, nó phản ánh so vớitổng số các khoản nợ phải thu, phải trả thì các khoản nợ phải trả chiếm baonhiêu %

Việc tiến hành phân tích đồng thời các khoản phải thu, phải trả sẽ giúpdoanh nghiệp cân đối công nợ, tiến tới làm chủ tình hình tài chính của mnình

* Phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chínhgiữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanhtoán trong kỳ Phân tích các khả năng thanh toán giúp nhà quản lý biết đượcsức mạnh tài chính hiện tại, tương lai, cũng như dự đoán được tiềm lực trongthanh toán và an ninh tài chính của doanh nghiệp Tình hình tài chính lànhmạnh có nghĩa doanh nghiệp có khả năng thanh toán được các khoản nợ ngắnhạn, các khoản nợ đến hạn và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp tốt.Việc không đảm bảo khả năng thanh toán có thể dẫn đến việc doanh nghiệpphải ngừng hoạt động hoặc gặp những vấn đề khó khăn như: hạn chế sự pháttriển của doanh nghiệp, không tận dụng được các cơ hội tốt và có thể bị mấtquyền kiểm soát; mất lòng tin với các chủ nợ, và có thể phải đối mặt với cácvấn đề pháp lý; khi lâm vào tình trạng thiếu khả năng thanh toán, doanhnghiệp có thể phải thay đổi các chính sách và điều kiện tín dụng thương mạilàm ảnh hưởng đến doanh thu và thị phần

Như vậy, việc duy trì và đảm bảo khả năng thanh toán là cơ sở đểdoanh nghiệp tăng thêm uy tín đối với các chủ nợ ngắn hạn (ngân hàng, nhàcung cấp ) đảm bảo các nhu cầu thanh toán, các cam kết trả nợ khi đến hạn,

Tỷ lệ các khoản nợ phải trả so với tổng

Trang 33

giảm chi phí tài chính khi có nhu cầu về vốn Tuy nhiên, việc duy trì mứcthanh toán cao sẽ làm giảm khả năng sinh lời, do đó doanh nghiệp cần xácđịnh một định mức thanh toán hợp lý để vừa bảo đảm được khả năng thanhtoán vừa đạt tỷ lệ sinh lời cao nhất Điều đó phụ thuộc vào hoạt động phântích tài chính trong doanh nghiệp.

Các hệ số thành toán sẽ cung cấp cho nhà phân tích về khả năng thanhtoán của doanh nghiệp ở một thời kỳ Để phân tích khả năng thanh toán, ngoàicác hệ số thanh toán như: hệ số khả năng thanh toán hiện hành, hệ số khảnăng thanh toán nợ ngắn hạn, hệ số khả năng thanh toán nhanh các nhà phântích còn sử dụng hệ số khả năng thanh toán:

Khả năng thanh toán

Nhu cầu thanh toán

“Khả năng thanh toán” là số tiền có thể dùng để thanh toán; còn “Nhucầu thanh toán” là số tiền phải thanh toán Hệ số khả năng thanh toán phảnánh mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán của doanhnghiệp Hệ số khả năng thanh toán là cơ sở để đánh giá khả năng thanh toán

và tình hình thanh toán của doanh nghiệp

Nếu hệ số này lớn hơn 1, chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng trang trảihết công nợ, tình hình tài chính là ổn định khả quan Ngược lại, nếu nhỏ hơn

1, doanh nghiệp không có khả năng trang trải hết công nợ, thực trạng tài chínhcủa doanh nghiệp là không bình thường, tình hình tài chính của doanh nghiệpgặp nhiều khó khăn và hoạt động tài chính bắt đầu có những dấu hiệu khônglành mạnh Trị số của chỉ tiêu càng nhỏ hơn 1, doanh nghiệp càng gặp nhiềukhó khăn mất dần khả năng thanh toán và thậm chí có nguy cơ phá sản

Để đánh giá khả năng thanh toán sử dụng các chỉ tiêu: Hệ số thanh toán

nợ ngắn hạn và hệ số thanh toán nhanh Các chỉ tiêu này được tính theo côngthức sau:

Hệ số khả năng thanh toán =

Trang 34

Hệ số khả năng Tổng giá trị thuần của tài sản ngắn hạn thanh toán =

nợ ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn

Tổng tiền và các khoản tương đương tiền Tổng nợ ngắn hạn

1.4.6 Phân tích hiệu quả kinh doanh

* Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trì độ sử dụngcác nguồn vốn của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình kinhdoanh với tổng chi phí thấp nhất Phân tích hiệu quả kinh doanh giúp các nhàquản lý có thể đánh giá được chính xác khả năng sinh lời và thực trạng tàichính của doanh nghiệp

Để phân tích hiệu quả kinh doanh, ngoài việc xem xét, kiểm tra, đốichiếu và so sánh số liệu về kết quả kinh doanh hiện hành với quá khứ, nhà phântích còn phải sử dụng hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh cho phùhợp Về mặt tổng quát, các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

+ Sức sản xuất: chỉ tiêu này cho biết một đơn vị yếu tố đầu vào thì đem

lại mấy đơn vị kết quả sản xuất đầu ra Trị số của chỉ tiêu này càng cao thìhiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại

Đầu ra phản ánh KQSX

Yếu tố đầu vàoTrong công thức trên, “Đầu ra phản ánh kết quả sản xuất” có thể là:tổng giá trị sản xuất, doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng, tổng số luânchuyển thuần ; còn “Yếu tố đầu vào” bao gồm lao động, tư liệu lao động, đốitượng lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay Việc sử dụng chỉ tiêu nào là tuỳthuộc vào mục đích cả nhà phân tích Trị số của yếu tố đầu vào thường đượcxác định là trị số bình quân của kỳ phân tích và được tính như sau:

Sức sản xuất =

Hệ số thanh

toán nhanh =

Trang 35

Trị số đầu kỳ + cuối kỳ của từng yếu tố

2

+ Sức sinh lợi: Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị yếu tố đầu vào đem

lại mấy đơn vị lợi nhuận Trị số của chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ khả năngsinh lời càng cao, từ đó kéo theo hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại

Đầu ra phản ánh lợi nhuậnYếu tố đầu vào hay đầu ra phản ánh KQSX

+ Suất hao phí: Đây là chỉ tiêu cho biết để có một đơn vị đầu ra phản

ánh kết quả sản xuất hay đầu ra phản ánh lợi nhuận thì cần mấy đơn vị yếu tốđầu vào Trị số của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh càngthấp và ngược lại

Yếu tố đầu vàoĐầu ra phản ánh KQSX hay LNTrên cơ sở các chỉ tiêu tổng quát trên, nhà phân tích có thể xây dựngđược hệ thống chỉ tiêu chi tiết phản ánh hiệu quả sử dụng từng yếu tố, từngloại tài sản cũng như từng loại vốn

Từ chỉ tiêu tổng quát “Sức sản xuất”, nhà phân tích có thể tính được cácchỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của các yếu tố đầu vào như: sức sản xuất củatổng tài sản, sức sản xuất của tài sản dài hạn, sức sản xuất của tài sản cố định,sức sản xuất của tài sản ngắn hạn, sức sản xuất của vốn chủ sở hữu, sức sảnxuất của vốn vay Chẳng hạn sức sản xuất của tổng tài sản được tính như sau

Tổng giá trị sản xuất hoặc doanh thu thuần

Tổng tài sản bình quânTuỳ thuộc vào nguồn tài liệu và mục đích phân tích, nhà phân tích sẽxác định những chỉ tiêu cần thiết phục vụ cho việc phân tích

Trị số bình quân củatừng yếu tố đầu vào =

Sức sinh lời =

Suất hao phí =

Sức sản xuất của

tổng tài sản =

Trang 36

Tương tự như vậy, từ chỉ tiêu tổng “Sức sinh lợi”, nhà phân tích cũngtính được các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của các yếu tố đầu vào như:sức sinh lời của tổng tài sản, sức sinh lời của tài sản dài hạn, sức sinh lời củatài sản cố định, sức sinh lời của tài sản ngắn hạn, sức sinh lời của vốn chủ sởhữu, sức sinh lời của vốn vay Ví dụ, sức sinh lời của vốn chủ sở hữu đượctính theo công thức :

Lợi nhuận thuần trước thuếVốn chủ sở hữu bình quânCuối cùng, từ chỉ tiêu tổng quát “Suất hao phí”, nhà phân tích tính đượccác chỉ tiêu phản ánh về sức hao phí của các yếu tố đầu vào như: sức hao phícủa tổng tài sản, suất hao phí của tài sản dài hạn, suất hao phí của tài sản cốđịnh, suất hao phí của tài sản ngắn hạn, suất hao phí vốn chủ sở hữu, suất haophí của vốn vay Ví dụ, suất hao phí của tài sản ngắn hạn được tính như sau:

Tổng GTSX (tổng doanh thu thuần hoặc lợi nhuận)

Tài sản ngắn hạn bình quân

Ngoài việc xem xét các chỉ tiêu chủ yếu trên phần I Báo cáo kết quảkinh doanh, khi tích hiệu quả kinh doanh, chúng ta cần phân tích tỷ suất lợinhuận trên doanh thu và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

Các chỉ tiêu này được xác định qua công thức:

Tổng lợi nhuận trước thuế

Doanh thu thuần

Tổng lợi nhuận trước thuế

Tổng tài sản

* Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản

Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản là một nội dung quan trọng trongphân tích hiệu quả kinh doanh nói riêng và phân tích tài chính nói chung Căn

Trang 37

cứ vào phần lý luận về phân tích hiệu quả kinh doanh kết hợp với đặc điểmkinh doanh của Công ty, nên phân tích hiệu quả sử dụng tài sản trên cơ sở cácchỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của tổng tài sản cũng như của từng thành phầntài sản như sau :

a) Các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của tổng tài sản

+ Số vòng quay của tổng tài sản (vòng)

Tổng doanh thu thuần trong kỳ

Tổng tài sản bình quân trong kỳ

+ Thời gian một vòng quay tổng tài sản (ngày)

Thời gian kỳ phân tích (ngày)

Số vòng quay của tổng tài sản

Nếu số vòng quay của tổng tài sản càng lớn và số ngày một vòng quaycàng nhỏ thể hiện khả năng thu hồi vốn của Công ty càng nhanh Điều này tạođiều kiện giúp Công ty hạn chế bớt vốn dự trữ cũng như ít bị chiếm dụng vốn.Ngược lại nếu số vòng quay của tài sản càng nhỏ hoặc số ngày một vòng quaycàng lớn thì khả năng thu hồi vốn của Công ty càng chậm, dẫn đến việc Công

ty bị chiếm dụng, khó thu hồi vốn và khó có điều kiện tích luỹ

1.4.7 Phân tích tình hình luân chuyển hàng hoá tồn kho

Số vòng luân chuyển hàng tồn kho: là số lần mà hàng hoá tồn kho bìnhquân luân chuyển trong kỳ Số vòng hàng tồn kho càng cao thì việc kinhdoanh đánh giá càng tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng hoá tồn khothấp nhưng vẫn đạt doanh số cao Số vòng quay hàng tồn kho được xác địnhtheo công thức:

Giá vốn hàng bán

Số vòng quay hàng tồn kho =

Hàng hoá tồn kho bình quân

Số vòng quay củatổng tài sản =

Thời gian một vòng quay (ngày) =

Trang 38

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho: Phản ánh số ngày trung bình mộtvòng quay hàng tồn kho Được xác định theo công thức sau:

Số ngày của một vòng quay Số ngày trong kỳ

hàng tồn kho Số vòng quay hàng tồn kho

1.4.8 Phân tích tỷ suất sinh lời (ROS)

ời gian kỳ phân tích (ngàyL Lãi ròng

Số vòng quay của tổng t Doanh thu

Lãi ròng ở đây được hiểu là lợi nhuận sau thuế, hệ số lãi ròng hay còngọi là suất sinh lời của doanh thu (ROS) thể hiện một đồng doanh thu có khảnăng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng

Lợi nhuận trước thuế + lãi vay

Hệ số chi trả lãi vay =

Lãi vay

Hệ số này cho biết mức độ lợi nhuận của doanh nghiệp đảm bảo khảnăng trả lãi hàng năm như thế nào Việc doanh nghiệp không trả được cáckhoản nợ thể hiện khả năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản

Nếu hệ số này nhỏ hơn 1, nghĩa là tử số nhỏ hơn mẫu số thì khi đó, lợinhuận trước thuế nhỏ hơn 0, doanh nghiệp kinh doanh bị lỗ, lợi nhuận thuđược không đủ chi trả lãi vay

Nếu hệ số này bằng 1, tuy doanh nghiệp chỉ trả được lãi vay nhưngkhông còn để nộp Ngân sách và chia cho các thành viên nữa

Cuối cùng, nếu hệ số này lớn hơn 1, doanh nghiệp kinh doanh có lãi,lợi nhuận thu được bù đắp được lãi vay, vừa còn để nộp ngân sách, có thể còndôi ra để tích luỹ và chia cho các thành viên

1.4.9 Phân tích khả năng suất sinh lời của tài sản (ROA)

Hệ số suất sinh lời của tài sản - ROA: Chỉ số này là thước đo cho biết tàisản được được sử dụng hiệu quả như thế nào, đồng thời cho biết việc thực hiện

Hệ số lãi ròng =

=

Trang 39

chức năng của ban quản lý trong việc sử dụng để tạo ra tài sản Hệ số này càngcao thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản càng hợp lý và hiệu quả.

Suất sinh lời của tài sản

Lợi nhuận sau thuế

ROA =

Tổng tài sản bình quânChỉ tiêu này rất quan trọng đối với người cho vay bỡi lẽ đây là mộttrong những chỉ tiêu để các cổ đông và các nhà tài trợ ra các quyết định nênhay không đầu tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.4.10 Phân tích tình hình và khả năng sinh lợi của VCSH (ROE)

1.4.10.1 Phân tích tình hình chung

Khi phân tích chung cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu, căn cứ vào nguồnvốn chủ sở hữu thực tế có phát sinh tại doanh nghiệp rồi lập biểu so sánh đểphân tích nhằm xác định sự tăng giảm về số tiền, tỉ lệ, tỷ trọng của cơ cấunguồn vốn Từ đó nhận xét sự biến động giữa các nguồn vốn có hợp lý haykhông ta sử dụng chỉ tiêu sau:

Hệ số bảo toàn hoặctăng trưởng VCSH =

Vốn chủ sở hữu cuối kỳ

Vốn chủ sở hữu ban đầuNếu hệ số trên > 1 được đánh giá là tốt nhất, và < 1 thì đánh giá là khôngbảo toàn được vốn chủ sở hữu

1.4.10.2 Phân tích khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE)

Thông qua chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu,giúp cho người phân tích có thể đánh giá được khả năng sinh lợi và hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp

1.4.10.2.1 Đánh giá chung

Vì đây là một trong những nội dung phân tích được nhà đầu tư, các nhàtín dụng quan tâm đặc biệt, nó gắn liền với lợi ích của họ cả về hiện tại vàtương lai Để đánh giá khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu cần tính ra và so

Trang 40

sánh chỉ tiêu Hệ số doanh lợi của vốn chủ sở hữu giữa kỳ phân tích với kỳgốc Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sinh lợi của chủ sở hữu.

Hệ số doanh lợi của

Lãi ròng trước thuế(LN)Vốn chủ sở hữu bình quân Trong đó vốn chủ sở hữu bình quân được tính theo phương pháp bìnhquân giản đơn, ngoài ra người ta còn xem xét thêm các chỉ tiêu sau:

Hệ số quay vòng của vốn chủ sở hữu: là chỉ tiêu phản ánh vốn chủ sởhữu trong kỳ kinh doanh quay được bao nhiêu vòng

Lợi nhuận thuầnDoanh thu thuầnSuất hao phí của vốn: Là chỉ tiêu phản ánh việc doanh nghiệp đầu tưbao nhiêu đồng vốn để có một đồng doanh thu thuần

Suất hao phí của vốn = Vốn chủ sở hữu bình quânDoanh thu thuần

1.4.10.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố

đến khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu.

Từ công thức tính “Hệ số doanh lợi của vốn chủ sở hữu” và mối quan

hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng ta có:

Hệ số doanh lợi của vốn chủ

Lợi nhuậnVốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu Doanh thu thuần

= của vốn chủ sở hữu xHệ số quay vòng doanh thu thuầnHệ số doanh lợi

1.4.11 Phân tích đòn bẩy tài chính

Tổng số nợ vay

=

Ngày đăng: 04/08/2013, 21:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Sơ đồ t ổ chức bộ máy của Công ty (Trang 56)
Bảng 2.2: Tình hình lao động của Công ty giai đoan 2006-2008 - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.2 Tình hình lao động của Công ty giai đoan 2006-2008 (Trang 61)
Bảng 2.4  Phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty qua các năm - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.4 Phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty qua các năm (Trang 69)
Bảng 2.5: Phân tích cơ cấu nguồn vốn của công ty qua các năm - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.5 Phân tích cơ cấu nguồn vốn của công ty qua các năm (Trang 72)
Bảng 2.8 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn của Công ty - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.8 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn của Công ty (Trang 77)
Bảng 2.9 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn của Công ty qua các năm - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.9 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn của Công ty qua các năm (Trang 78)
Bảng 2.11 Phân tích tỷ trọng các khoản thanh toán của Công ty - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.11 Phân tích tỷ trọng các khoản thanh toán của Công ty (Trang 82)
Bảng 2.12  Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của công ty - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.12 Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của công ty (Trang 83)
Bảng 2.13 Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty qua các năm - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.13 Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty qua các năm (Trang 87)
Bảng 2.16  Chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của tổng tài sản của công ty qua các năm - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.16 Chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của tổng tài sản của công ty qua các năm (Trang 92)
Bảng 2.17  Các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của tài sản ngắn hạn của Công ty qua các năm - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.17 Các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của tài sản ngắn hạn của Công ty qua các năm (Trang 93)
Bảng 2.19 Các chỉ tiêu hệ số lãi ròng, suất sinh lời  của tài sản, đòn bẩy tài chính - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.19 Các chỉ tiêu hệ số lãi ròng, suất sinh lời của tài sản, đòn bẩy tài chính (Trang 97)
Bảng 2.20 Các chỉ tiêu  khả năng sinh lợi vốn chủ sở hữu của Công ty qua các năm - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.20 Các chỉ tiêu khả năng sinh lợi vốn chủ sở hữu của Công ty qua các năm (Trang 99)
Bảng 2.22 : Ảnh hưởng của vốn kinh doanh và hiệu suất sử dụng vốn - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
Bảng 2.22 Ảnh hưởng của vốn kinh doanh và hiệu suất sử dụng vốn (Trang 101)
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN - Phân tích tài chính tại công ty cổ phần lương thực bình trị thiên
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN (Trang 133)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w