1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng ở Công ty Cổ phần Thanh niên Hải Phòng_2

108 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 5,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò - ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng.. Không phân loại chi phí một cách chính xác thì việc tính giá

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng luôn tìm và đưa

ra những giải pháp nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm với mục tiêu cơ bản nhất của các doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận, nó thực sự chi phối đến mọi hoạt động của doanh nghiệp Nhưng để làm được điều này thì không phải

là đơn giản mà doanh nghiệp nào cũng làm được, nó đòi hỏi bên cạnh việc đi tìm hướng đi đúng đắn cho mình còn phải có một chế độ kế toán hợp lý, phải phù hợp với thực tế, đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp mình Bởi vậy việc tính toán chi phí tính ra giá thành sản phẩm quyết định đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và việc tăng hay giảm chi phí giá thành sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu kinh tế

Nhận thấy rõ được tầm quan trọng trên, trong quá trình thực tập, nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Thanh niên Hải Phòng em đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài:

"Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng ở Công ty Cổ phần Thanh niên Hải Phòng"

Ngoài phần mở đầu và kết luận của đề tài, nội dung chuyên đề sẽ kết cấu thành ba phần như sau:

Chương I: Lý luận chung về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xây dựng ở doanh nghiệp xây dựng trong điều kiện hiện nay

Chương II: Tình hình thực tế tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng ở Công ty Cổ phần Thanh niên Hải Phòng

Chương III: Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng tại công ty cổ phần Thanh niên Hải Phòng

Trang 2

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÁC

DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG

I TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC HẠCH TOÁN CHÍNH XÁC CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VỚI HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ

Việc tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm giúp cho việc phản ánh đúng đắn tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp, xác định đúng đắn kết quả tài chính, tránh hiện tượng lãi giả, lỗ thật Hoàn thiện hệ thống kế toán nói chung và phân hệ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nói riêng nhằm cung cấp thông tin trong sạch, chính xác cho quản lý luôn là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp

1 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng tác động đến tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1.1 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng trong ngành xây dựng:

Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân Nó làm tăng sức mạnh về kinh tế, quốc phòng, tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội Một đất nước có một cơ sở hạ tầng vững chắc thì đất nước đó mới có điều kiện phát triển Như vậy, việc xây dựng cơ sở hạ tầng bao giờ cũng phải tiến một bước

so với ngành khác Muốn cơ sở hạ tầng vững chắc thì xây dựng là một ngành không thể thiếu được Vì thế một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích luỹ nói riêng, cùng với vốn đầu tư tài trợ từ nước ngoài có trong lĩnh vực xây dựng cơ bản

Sản phẩm xây dựng là các công trình sản xuất, hạng mục công trình công trình dân dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật, giao thông, thủy lợi có đủ điều kiện để đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng sản phẩm của ngành xây dựng cơ

Trang 3

bản luôn được gắn liền với một đặc điểm nhất định nào đó Địa điểm đó là đất liền, mặt nước vì vậy ngành xây dựng cơ bản khác hẳn với các ngành khác Các đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây dựng và quá trình tạo ra sản phẩm của mình Đặc điểm của sản phẩm xây dựng được thể hiện

cụ thể như sau:

Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng dài

và có giá trị rất lớn Nó mang tính cố định, nơi sản xuất ra sản phẩm đồng thời là nơi sản phẩm hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Nó mang tính đơn chiếc, mỗi công trình được xây dựng theo một thiết kế kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng và tại một địa điểm nhất định Điều đặc biệt sản phẩm xây dựng mang nhiều ý nghĩa tổng hợp về nhiều mặt kinh tế, chính trị, kỹ thuật, mỹ thuật

Quá trình từ khởi công công trình cho đến khi hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng thường là dài, nó phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công thường được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau Khi đi vào từng công việc

cụ thể, do chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết khí hậu làm ngừng quá trình sản xuất và làm giảm tiến độ thi công công trình Sở dĩ có hiện tượng này vì phần lớn các công trình đều được thực hiện ở ngoài trời, do vậy mà điều kiện thi công không có tính

ổn định, luôn biến động theo địa điểm xây dựng và theo từng giai đoạn thi công công trình

Các công trình được ký kết tiến hành thi công đều được dựa trên đơn đặt hàng, hợp đồng cụ thể của bên giao thầu xây dựng Cho nên nó phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó Khi có khối lượng xây dựng hoàn thành, đơn vị xây dựng phải đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết

kế kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình

1.2 Yêu cầu của công tác quản lý tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành trong các doanh nghiệp xây dựng

Do đặc thù của xây dựng và của sản phẩm xây dựng, nên việc quản lý về đầu

tư xây dựng cơ bản có khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác Chính vì thế trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Trang 4

- Công tác quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo ra những sản phẩm, dịch vụ được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả, chất lượng đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ

- Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân

- Huy động và sử dụng có hiệu qủa cao nhất các nguồn đầu tư, khai thác tốt tiềm năng lao động, tài nguyên đất đai và mọi tiềm lực khác nhằm động viên tất cả các tiềm năng của đất nước phục vụ cho quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái

- Xây dựng theo quy hoạch kiến trúc và thiết kế kỹ thuật được duyệt đảm bảo bền vững mỹ quan Thực hiện cạnh tranh trong xây dựng nhằm đáp ứng công nghệ tiên tiến bảo đảm chất lượng và thời hạn xây dựng nhằm đáp ứng với chi phí hợp

lý và thực hiện bảo hành công trình

Từ trước tới nay xây dựng là một "lỗ hổng lớn" làm thất thoát nguồn vốn đầu

tư của Nhà nước Để hạn chế sự thất thoát này, Nhà nước thực hiện việc quản lý xây dựng thông qua ban hành các chế độ chính sách về giá các nguyên tắc phương pháp lập dự toán và các căn cứ (định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá xây dựng cơ bản, xuất vốn đầu tư) để xác định tổng mức vốn đầu tư, tổng dự toán công trình và

dự toán cho từng hạng mục công trình

Giá thành công trình (hoặc dự án) là giá trúng thầu Các điều kiện ghi trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và đơn vị xây dựng Giá trúng thầu không được vượt quá tổng dự toán và tổng mức đầu tư được duyệt

Đối với các doanh nghiệp xây dựng, để đảm bảo thi công đúng tiến độ, đúng

kỹ thuật, đảm bảo chất lượng của các công trình cho chi phí hợp lý Bản thân các doanh nghiệp phải có biện pháp tổ chức quản lý sản xuất quản lý chi phí sản xuất chặt chẽ, hợp lý có hiệu qủa

Hiện nay trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phương đấu thầu giao nhận thầu xây dựng Để trúng thầu một công trình, doanh nghiệp phải xây dựng một giá đấu thầu hợp lý cho công trình đó dựa trên cơ sở các định mức đơn giá xây

Trang 5

dựng cơ bản do Nhà nước ban hành trên cơ sở giá cả thị trường và khả năng của bản thân doanh nghiệp Mặt khác phải đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi

Để thực hiện các yêu cầu trên, đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công tác quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý chi phí sản xuất quản lý giá thành, trong đó trọng tâm là công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1.3 Nhiệm vụ công tác quản lý tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng

Xác định đúng đắn đối tượng chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, thoả mãn yêu cầu quản lý đặt ra, vận dụng các phương pháp tập hợp chi phí và phương pháp tính giá thành một cách khoa học hợp lý đảm bảo cung cấp một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác các số liệu cần thiết cho công tác quản lý Cụ thể là:

- Xác định đúng đối tượng chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức sản xuất ở doanh nghiệp, đồng thời xác định đúng đối tượng tính giá thành

- Phản ánh đầy đủ, chính xác kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh

- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, vật tư nhân công sử dụng máy thi công và các dự toán sản phẩm khác Phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại mất mát, hư hỏng trong sản xuất để đề ra các biện pháp ngăn chặn kịp thời

- Tính toán chính xác kịp thời giá thành sản phẩm xây dựng các sản phẩm là lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp

- Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng công trình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm lao vụ vạch ra khả năng và các mức hạ giá thành một cách hợp lý có hiệu qủa

- Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây dựng hoàn thành Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo nguyên tắc quy định

- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất, trong từng thời

kỳ nhất định Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và tính giá thành

Trang 6

công tác xây dựng Cung cấp chính xác nhanh chóng các thông tin hữu dụng về chi phí sản xuất và giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo

1.4 Vai trò - ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng

1.4.1 Vai trò

Hạch toán kinh tế thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động, động viên các nguồn

dự trữ nội bộ của doanh nghiệp và đảm bảo tích luỹ tạo điều kiện mở rộng không ngừng sản xuất trên cơ sở áp dụng kỹ thuật tiên tiến nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng và nâng cao phúc lợi của quần chúng lao động

Hạch toán kinh tế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiêm khắc chấp nhận các

kế hoạch sản xuất sản phẩm về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị, chấp hành nghiêm túc các tiêu chuẩn đã quy định về tài chính

Đối với doanh nghiệp xây dựng, việc hạch toán sẽ cung cấp các số liệu một cách chính xác, kịp thời đầy đủ phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đề ra các biện pháp quản lý và tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu hạch toán

Hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng là vấn đề trung tâm của công tác hạch toán trong xây dựng Tập hợp chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật

tư, nhân công là bao nhiêu so với dự toán và kế hoạch Từ đó xác định được mức tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất nhằm đặt ra biện pháp thích hợp Việc tính giá thành công tác xây dựng thể hiện toàn bộ chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của đơn vị

1.4.2 Ý nghĩa

Giúp cho việc quản lý chặt chẽ và sử dụng hiệu qủa nguồn vốn đầu tư của Nhà nước Đáp ứng yêu cầu quản lý thông qua việc cung cấp đầy đủ, chính xác kịp thời các thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 7

2 Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng:

2.1 Nội dung và phân loại chi phí sản xuất xây dựng

2.1.1.Nội dung chi phí sản xuất trong doang nghiệp xây dựng

Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng là toàn bộ chi phí về lao động sống, lao động vật hoá đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định, được biểu hiện bằng tiền

Giá trị của sản phẩm xây dựng được biểu hiện:

GXD = C + V + M

Trong đó: GXD: Giá trị sản phẩm xây dựng

C: Là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất tiêu hao trong quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng như: khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu được gọi là lao động vật hoá

V: Chi phí tiền lương tiền công phải trả cho người lao động tham gia quá trình xây dựng tạo ra sản phẩm xây dựng, nó được gọi là hao phí lao động cần thiết

M: Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình xây dựng tạo ra sản phẩm xây dựng

Về mặt lượng chi phí xây dựng phụ thuộc vào hai yếu tố:

- Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã bỏ ra trong quá trình xây dựng ở một thời kỳ nhất định

- Giá cả nhiên liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất xây dựng và tiên lượng của một đơn vị lao động đã hao phí

Trong điều kiện giá cả thường xuyên biến động thì việc tính toán đánh giá chính xác chi phí sản xuất chẳng những là yếu tố khách quan mà còn là yêu cầu hết sức quan trọng trong việc cung cấp thông tin cần thiết cho nhu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện hiện nay doanh nghiệp phải tự chủ hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh doanh phải có lãi và bảo toàn được vốn

2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng

Trong doanh nghiệp xây dựng, các chi phí sản xuất bao gồm loại có nội dung kinh tế và công dụng khác nhau Yêu cầu quản lý đối với từng loại chi phí cũng

Trang 8

khác nhau Việc quản lý sản xuất, tài chính quản lý chi phí sản xuất không những dựa vào số liệu tổng hợp về hợp lệ chi phí sản xuất mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng loại chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình trong từng thời

kỳ nhất định

Không phân loại chi phí một cách chính xác thì việc tính giá thành công tác xây dựng theo từng khoản mục chi phí không thể hiện được trong doanh nghiệp xây dựng, việc phân loại chi phí sản xuất được tiến hành theo các tiêu thức sau:

2.1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí

Theo tiêu thức phân loại này, căn cứ vào tính chất nội dung kinh tế của chi phí giống nhau xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực nào, ở đâu

Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng được chia thành các yếu tố sau:

- Chi phí nguyên vật liệu bao gồm toàn bộ chi phí về các loại đối tượng lao động như: nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, vật liệu thiết bị xây dựng

- Chi phí nhân công là toàn bộ tiền công, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và các khoản phải trả cho người lao động trong doanh nghiệp xây dựng

- Chi phí khấu hao tài sản cố định là toàn bộ phải trích khấu hao, trích trước chi phí sửa chữa lớn trong tháng (trong kỳ) đối với tất cả các loại tài sản cố định trong doanh nghiệp

- Chi phí dịch vụ mua ngoài là số tiền phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài (trừ tiền lương công nhân sản xuất) phục vụ cho sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng như: Chi phí thuê máy, tiền điện, tiền nước v.v

- Chi phí khác bằng tiền là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài bốn yếu tố chi phí trên như: chi phí bằng tiền mặt, chi phí tiếp khách

Trang 9

Phân loại chi phí theo tiêu thức này giúp ta biết được kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho yêu cầu thông tin và quản trị trong doanh nghiệp để phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau

2.1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mục đích công dụng của chi phí

Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng được chia thành:

- Chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm xây dựng là toàn bộ chi phí liên quan đến việc xây dựng, chế tạo sản phẩm cũng như các chi phí liên quan đến hoạt động quản lý và phục vụ sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, bộ phận tổ đội sản xuất, chi phí sản xuất Chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm xây dựng được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

+ Chi phí trực tiếp là những chi phí có liên quan trực tiếp đến việc chế tạo sản phẩm xây dựng bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp

* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (đã tính đến hiện trường xây dựng) của các vật liệu chính vật liệu phụ kết cấu vật liệu luân chuyển (ván khuôn cốp pha giàn giáo) bán thành phẩm cần thiết để tạo nên sản phẩm xây dựng

* Chi phí nhân công trực tiếp gồm tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp lương không ổn định hoặc không thống nhất trong các vùng tỉnh thành phố nếu chưa được tính tốt trong đơn giá xây dựng cơ bản sẽ được hình thành một khoản riêng trong dự toán công trình trong giá thành kế hoạch, giá trị thực tế của công trình vào khoản mục chi phí nhân công Với khoản chi phí tiền lương của công nhân điều khiển máy thi công được tính trong đơn giá xây dựng cơ bản cũng tính vào chi phí nhân công trực tiếp Chi phí tiền lương của cán bộ quản lý công trình (bộ phận gián tiếp) được tính vào chi phí sản xuất chung mà không tính vào chi phí nhân công trực tiếp

+ Chi phí gián tiếp còn gọi là chi phí sản xuất chung là những chi phí phục vụ quản lý sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình xây dựng tạo ra sản phẩm hoặc thực hiện các loại lao vụ dịch vụ ở bộ phận tổ đội sản xuất

Trang 10

- Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí phục vụ và quản lý chung các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng như các chi phí về sản xuất kinh doanh, quản lý hành chính và các chi phí khác

- Chi phí hoạt động khác là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động khác ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp xây dựng bao gồm: Chi phí về hoạt động tài chính và chi phí hoạt động bất thường Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mục đích, công dụng của chi phí

có tác dụng xác định số chi phí đã chi cho từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm xây dựng và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng Theo cách phân loại này chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm sẽ là những chi phí cấu thành trong giá thành của sản phẩm xây dựng hoàn thành

2.1.2.3 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ sản xuất trong kỳ

2.1.2.4 Phân loại chi phí theo thẩm quyền quyết định

+ Chi phí kiểm soát được

+ Chi phí không kiểm soát được

Việc xem xét chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được có ý nghĩa thực tế khi đặt nó ở một phạm vi, một cấp quản lý nào đó và được các nhà quản trị ứng dụng để lập báo cáo kết quả lỗ lãi của từng bộ phận trong doanh nghiệp

2.1.2.5 Phân loại chi phí theo sự lựa chọn phương án

+ Chi phí cơ hội

+ Chi phí chìm

+ Chi phí chênh lệch

Trang 11

Cách phân loại này có tác dụng rất lớn đối với các nhà quản trị trong việc lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, tìm ra được cho doanh nghiệp mình phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao nhất, tiết kiệm chi phí và làm tăng lợi nhuận

2.2 Nội dung và phân loại giá thành sản phẩm xây dựng

2.2.1.Nội dung giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng

Giá thành sản phẩm xây dựng là toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm chi phí vật liệu Chi phí nhân công chi phí sử dụng máy thi công chi phí trực tiếp khác tính cho từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây dựng hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã hoàn thành nghiệm thu bàn giao và được chấp nhận thanh toán ở doanh nghiệp xây dựng giá thành mang tính chất cá biệt Nên mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây dựng sau khi hoàn thành đều có một giá thành riêng

Biết được giá bán trước khi có sản phẩm hoàn thành, trước khi biết được giá thành thực tế Do vậy giá trị thực tế của công trình đó quyết định tới lỗ lãi của công

ty Tuy vậy trong điều kiện hiện nay, để đa dạng hoá hoạt động sản xuất kinh doanh được sự cho phép của Nhà nước, một số doanh nghiệp đã chủ động xây dựng một số công trình (chủ yếu là công trình dân dụng như nhà ở, văn phòng, cửa hàng) sau đó bán lại cho đối tượng có nhu cầu sử dụng với giá cả hợp lý thì giá thành sản phẩm xây dựng cũng là một yếu tố quan trọng để xác định giá bán

2.2.2 Bản chất chức năng của giá thành sản phẩm

Các chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm luôn được biểu hiện ở mặt định tính và mặt định lượng Mục đích bỏ ra chi phí của doanh nghiệp là tạo nên giá trị sử dụng nhất định để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội Trong điều kiện nền kinh tế thị trường doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây dựng nói riêng luôn quan tâm tới hiệu qủa của chi phí bỏ ra để với chi phí bỏ ra ít nhất, thu được giá trị sử dụng lớn nhất và luôn tìm mọi biện pháp để hạ thấp chi phí nhằm mục đích thu lợi nhuận tối đa Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác quản lý giá thành sản phẩm là chỉ tiêu đáp ứng được nội dung thông tin trên

Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có bên trong của

nó là chi phí sản xuất đã chi ra và lượng giá trị sử dụng thu hồi được cấu thành

Trang 12

trong khối lượng sản phẩm công việc lao vụ xây dựng cơ bản hoàn thành Như vậy bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào sản phẩm xây dựng công việc lao vụ nhất định đã hoàn thành

Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu: chức năng thước đo bù đắp chi phí và chức năng lập giá

Toàn bộ chi phí mà các doanh nghiệp chi ra sẽ hoàn thành một khối lượng công tác xây dựng, một công trình hạng mục công trình phải được bù đắp bằng chính số tiền thu về do quyết toán công trình hạng mục công trình và khối lượng công tác xây dựng đó Việc bù đắp các chi phí đầu vào chỉ có thể đảm bảo được quá trình tái sản xuất giản đơn Mục đích sản xuất và nguyên tắc kinh doanh trong

cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải đảm bảo trang trải bù đắp mọi chi phí đầu vào của quá trình sản xuất phải có lãi Trong cơ chế thị trường giá bán sản phẩm lao vụ phụ thuộc rất nhiều vào quy luật cung cầu vào sự thoả thuận giữa công ty và khách hàng Giá bán của sản phẩm xây dựng là giá nhận thầu Vậy giá nhận thầu xây dựng biểu hiện giá trị của công trình hạng mục công trình phải dựa trên cơ sở giá thành dự toán để xác định, thông qua việc tiêu thụ bán sản phẩm hàng hoá Giá bán sản phẩm lao vụ là biểu hiện giá trị của sản phẩm, lao vụ phải dựa trên cơ sở giá thành sản phẩm để xác định Thông qua giá bán sản phẩm mà đánh giá được mức độ bù đắp chi phí và hiệu qủa chi phí

2.2.3 Các loại giá thành sản phẩm xây dựng

2.2.3.1 Giá thành dự toán

Sản phẩm XDCB có giá trị lớn thời gian thi công dài mang tính đơn chiếc

Do đó, mỗi công trình hạng mục công trình đều có giá trị dự toán của từng công trình hạng mục công trình để xác định được giá thành dự toán

Giá trị dự toán của CT, HMCT =

Giá thành dự toán của CT, HMCT + Lãi định mức

=> Giá thành dự toán = Giá trị dự toán - Lãi định mức

Với lãi định mức là số phần trăm trên giá thành xây dựng do Nhà nước quy định đối với từng loại hình xây dựng khác nhau, từng sản phẩm xây dựng cụ thể

Trang 13

Gía thành dự toán được xác định trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá của nhà nước

2.2.3.2 Giá thành kế hoạch

Gía thành kế hoạch do doanh nghiệp đề ra phù hợp với tình hình thực tiến của doanh nghiệp, giá thành kế hoạch là cơ sở để phấn đấu hạ giá thành công tác xây dựng trong giai đoạn kế hoạch Nó phản ánh trình độ quản lý giá thành của xí nghiệp

Giá thành kế hoạch công tác xây dựng =

Giá thành dự toán công tác xây dựng -

Mức hạ giá thành

kế hoạch (Tính cho từng công trình, hạng mục công trình)

2.2.3.3 Giá thành thực tế

Là biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi phí thực tế (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung) mà doanh nghiệp xây dựng đã bỏ ra để hoàn thành một đối tượng xây dựng nhất định Nó được xác định theo số liệu kế toán cung cấp Giá thành thực tế không chỉ bao gồm những chi phí trong định mức mà còn bao gồm những chi phí thực tế phát sinh không nằm trong kế hoạch dự toán như: thiệt hại phá đi làm lại, thiệt hại về ngừng sản xuất những mất mát hao hụt vật tư do nguyên nhân chủ quan của bản thân doanh nghiệp xây dựng

Giữa ba loại giá thành trên có mối quan hệ về mặt số lượng thể hiện như sau: Giá thành dự toán  Giá thành kế hoạch  Giá thành thực tế

Việc so sánh các loại giá thành này được thể hiện trên cùng một đối tượng tính giá thành (từng công trình, hạng mục công trình hoặc khối lượng xây dựng hoàn thành nhất định)

Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây dựng, để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong xí nghiệp xây dựng Giá thành công tác xây dựng hoàn chỉnh và giá thành của những công trình hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao được chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán Chỉ tiêu này cho phép đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu qủa sản xuất, thi công trọn vẹn cho một công trình, hạng mục công trình

Trang 14

Để đáp ứng yêu cầu quản lý và chỉ đạo sản xuất kịp thời đòi hỏi phải xác định được giá thành khối lượng xây dựng quy ước (nếu quy định thanh toán khối lượng hoàn thành theo giai đoạn quy ước)

Khối lượng xây dựng hoàn thành quy ước là khối lượng hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và thoả mãn các điều kiện sau:

- Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng kỹ thuật

- Khối lượng này phải xác định một cách cụ thể và được bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán

- Phải đạt được đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý giá thành khối lượng sản phẩm hoàn thành quy ước Phản ánh kịp thời chi phí sản xuất cho đối tượng xây dựng

Từ đó giúp cho doanh nghiệp phân tích kịp thời chi phí đã chi ra cho từng đối

tượng để có biện pháp quản lý thích hợp

3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt của quá trình sản xuất Chúng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau vì nội dung cơ bản là sự biểu hiện bằng tiền của những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm Chi phí sản xuất là cơ sở hình thành nên giá thành sản phẩm Tuy nhiên giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất cũng có sự khác nhau Do vậy chúng ta cần phân biệt rõ ràng chi phí sản xuất

và giá thành sản phẩm xây dựng Sự khác nhau được thể hiện:

Về phạm vi: Chi phí sản xuất chỉ tính trong một thời kỳ, còn giá thành sản phẩm lại bao gồm cả chi phí khối lượng xây dựng dở dang kỳ trước chuyển sang nhưng lại loại trừ đi chi phí thực tế của khối lượng xây dựng dở dang cuối kỳ Chi phí sản xuất được tập hợp theo từng thời kỳ nhất định còn giá thành xây dựng là chi phí sản xuất được tính cho một công trình hạng mục công trình hay khối lượng xây dựng hoàn thành

Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng cũng có điểm giống nhau, bởi vì chúng có cùng bản chất là đều phản ánh những chi phí hao phí trong quá trình sản xuất Giá thành sản phẩm xây dựng và chi phí sản xuất của công tác xây dựng thống nhất về mặt lượng trong trường hợp, đối tượng tập hợp chi phí sản

Trang 15

xuất và đối tượng tính giá thành là một công trình hạng mục công trình được hoàn thành trong kỳ tính giá thành hoặc giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ bằng giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ

II QUY TRÌNH KẾ TOÁN:

Quy trình kế toán là các bước công việc kế toán kế tiếp nhau theo một trật tự nhất định trong thực tiễn làm kế toán Quy trình kế toán rất quan trọng ở bất kỳ doanh nghiệp nào Vậy quy trình kế toán bao gồm những bước sau:

Bước 1: Nghiệp vụ kinh tế phát sinh:

Nghiệp vụ kinh tế phát sinh là những công việc phát sinh hàng ngày tại doanh nghiệp có liên quan đến tài chính của Doanh nghiệp Ví dụ như sau:

- Nghiệp vụ Chi tiền tạm ứng cho Cán bộ công nhân viên đi công tác

- Nghiệp vụ bán hàng cho khách hàng mà chưa thu tiền

Bước 2: Lập chứng từ kế toán:

Sau khi có một nghiệp vụ kinh tế xảy ra, kế toán tiến hành lập chứng từ kế toán, đây là căn cứ pháp lý, chứng minh cho sự phát sinh và hoàn thành các giao dịch Bước 3: Ghi sổ sách kế toán:

Căn cứ vào chứng từ kế toán, ghi chép Sổ sách kế toán Sổ sách kế toán gồm sổ nhật ký chung, sổ cái, sổ chi tiết

Bước 4: Cuối kỳ (Thực hiện bút toán cuối kỳ và bút toán kết chuyển)

Cuối kỳ, thực hiện bút toán cuối kỳ và thực hiện bút toán kết chuyển đồng thời khóa

sổ kế toán Đây là công việc cuối tháng bắt buộc kế toán phải làm ngoài các nghiệp vụ phát sinh hàng ngày đã được ghi sổ Mục đích của Công việc này nhằm xác định số dư của tài sản và nguồn vốn cũng như xác định được lãi lỗ trong kỳ của công ty

Bước 5: Lập bảng cân đối số phát sinh:

Dựa vào Sổ cái và sổ chi tiết được khóa sổ tại bước 4 Kế toán tiến hành Lập bảng cân đối số phát sinh để có cái nhìn Tổng quát về toàn bộ sổ cái phát sinh tại doanh nghiệp gồm những loại sổ cái nào và đã đúng chưa Sau đó, kế toán kết hợp Bảng cân đối số phát sinh+Sổ cái+ Sổ chi tiết tiết để tiến hành thực hiện bước 6

Trang 16

Bước 6: Lập báocáo tài chính, quyết toán thuế

Kế toán sẽ dựa vào sổ cái và sổ chi tiết để tiến hành lập báo cáo tài chính gồm

4 biểu mẫu (Bảng cân đối kế toán, kết quả kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính) Đồng thời kế toán sẽ lập báo cáo quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp và quyết toán thuế TNCN để nộp cho cơ quan thuế Thời hạn nộp báo cáo tài chính và quyết toán thuế cho Cơ quan thuế là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính Nếu nộp quá thời hạn sẽ bị Cơ quan thuế phạt về hành vi chậm nộp Bước 7: In sổ sách, đóng quyển, lưu kho

Đây là công việc cuối cùng của một kế toán, việc lưu trữ các sổ sách, số liệu kế toán là điều cần thiết, giúp dễ dàng hơn trong việc tra cứu các vấn đề liên quan ở các năm sau

III NỘI DUNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM CÔNG TÁC XÂY DỰNG

1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm công tác xây dựng

1.1 Đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm Khi xác định đối tượng chi phí ở doanh nghiệp cần căn cứ vào tính chất sản xuất, loại hình sản xuất địa điểm phát sinh quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm đặc điểm tổ chức sản xuất

Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng trình độ quản

lý, trình độ hạch toán của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp xây dựng, do đặc điểm về sản phẩm, về tổ chức sản xuất và quá trình sản xuất nên đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường được xác định từng công trình, hạng mục công trình hay theo từng đơn vị đặt hàng Việc xác định đối tượng chi phí sản xuất xây dựng đúng

và phù hợp có ý nghĩa rất to lớn trong việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết

1.2 Đối tượng tính giá thành

Đối với tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc lao vụ, do công ty xây dựng sản xuất ra đòi hỏi phải tính được giá thành và giá thành đơn vị Xác định đối

Trang 17

tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây dựng là công trình hạng mục công trình, khối lượng xây dựng hoàn thành bàn giao các sản phẩm lao vụ khác đã hoàn thành (nếu có)

1.3 Phân biệt đối tượng chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm xây dựng

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ để mở các tài khoản, sổ chi tiết,

tổ chức ghi chép ban đầu tập hợp chi phí sản xuất chi tiết theo từng công trình, hạng mục công trình Còn việc xác định đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây dựng lại là căn cứ để kế hoạch lập các bảng biểu chi tiết giá thành sản phẩm và tổ chức công tác giá thành theo đối tượng tính giá thành

Trên đây là đặc điểm khác nhau song giữa hai đối tượng này có mối quan hệ mật thiết với nhau Về bản chất chúng đều là phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí

số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm xây dựng hoàn thành Trong doanh nghiệp xây dựng đối tượng chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành thường phù hợp với nhau Đối tượng chi phí sản xuất là công trình hạng mục công trình Còn đối tượng tính giá thành là hạng mục công trình đã hoàn thành

2 Phương pháp kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng

2.1.Các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất

2.1.1 Phương pháp trực tiếp

Được áp dụng đối với những chi phí trực tiếp Chi phí trực tiếp là chi phí chỉ liên quan đến một đối tượng chi phí sản xuất Khi có chi phí phát sinh thì căn cứ vào các chứng từ gốc ta tập hợp chi phí cho từng đối tượng

2.1.2 Phương pháp phân bổ gián tiếp

Để phân bổ cho các đối tượng, cần phải chọn tiêu thức phân bổ và tính hệ số phân bổ chi phí:

Trang 18

Mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng: Ci = H x Ti

Trong đó: Ci: Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng i

Ti: Đại lượng của tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i

Trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là đội thi công hay công trường thì chi phí sản xuất phải tập hợp theo đội thi công hay công trường Cuối kỳ tổng số chi phí phải được phân bổ cho từng công trình, Hạng mục công trình để tính giá thành sản phẩm riêng

2.2 Trình tự kế toán chi phí sản xuất trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên

2.2.1 Kế toán chi phí vật liệu trực tiếp

Chi phí nguyên liệu, vật liệu cho công trình gồm nhiều loại khác nhau như: giá trị thực tế của vật liệu chính (gạch, vôi, cát, đá, xi măng ), vật liệu phụ như sơn, công

cụ dụng cụ trong giá thành sản phẩm, chi phí vật liệu chiếm tỷ lệ lớn nhất

Giá trị vật liệu được hạch toán vào khoản mục này, ngoài giá trị thực tế người bán hàng cung cấp còn có cả chi phí thu mua, vận chuyển từ nơi mua tới nơi nhập kho hay xuất thẳng tới công trình

Vật liệu sử dụng cho xây dựng công trình, Hạng mục công trình nào thì phải tính trực tiếp cho công trình Hạng mục công trình đó trên cơ sở chứng từ gốc, theo giá thực tế vật liệu và theo số lượng thực tế vật liệu đã sử dụng

Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán chi phí sản xuất thì không thể hạch toán trực tiếp vào các đối tượng sử dụng thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan Tiêu thức phân bổ có thể là định mức chi phí nguyên vật liệu hoặc số giờ máy chạy hay theo khối lượng sản phẩm công việc đã hoàn thành

kỳ

Trị giá NVLTT còn lại đầu

kỳ

Giá trị NVLTT còn lại cuối kỳ

Trị giá phế liệu thu hồi (nếu có)

2.2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp (NCTT)

Trang 19

Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất, thi công như tiền thưởng tiền lương, tiền công các khoản phụ cấp, tiền BHXH, BHYT, KPCĐ

Việc hạch toán tiền lương của công nhân thì dựa trên bản chấm công theo dõi cho từng tổ sản xuất, cho từng đội xây dựng Bảng chấm công cho biết ngày làm việc thực tế, số ngày ngừng nghỉ của từng người, sau khi đã được kiểm tra, xác nhận ở các đội sản xuất, các phòng ban, bảng chấm công được chuyển lên cho phòng lao động tiền lương ghi chép, theo dõi Sau đó chuyển về cho phòng kế toán làm căn cứ để tính lương và phân bổ tiền lương

Về nguyên tắc chi phí NCTT cũng được tập hợp giống như đối với chi phí NVLTT

Trường hợp cần phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ có thể là tiền công, giờ công định mức hoặc công thực tế

2.2.3 Kế toán chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung là những chi phí liên quan đến phục vụ, quản lý sản xuất chung, trong phạm vi các phân xưởng, tổ đội sản xuất như: chi phí về tiền lương nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí về vật liệu, công cụ dụng cụ dùng cho quản lý các phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ Các chi phí sản xuất chung thường được hạch toán chi tiết riêng theo từng địa điểm phát sinh chi phí: phân xưởng, tổ đội sản xuất sau đó mới tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí liên quan Việc phân bổ cũng được tiến hành dựa trên các tiêu thức phân bổ hợp lý như định mức chi phí sản xuất chung, chi phí trực tiếp phân bổ theo từng loại chi phí

2.2.4 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công

Tài khoản 623 dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây dựng công trình

Tài khoản này chỉ sử dụng để hạch toán chi phí sử dụng xe, máy thi công đối với trường hợp công ty xây dựng thực hiện xây dựng công trình theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy

Trường hợp công ty thực hiện xây dựng công trình hoàn toàn theo phương pháp bằng máy nhưng không sử dụng TK 623 - chi phí sử dụng máy thi công mà

Trang 20

công ty hạch toán các chi phí xây dựng trực tiếp vào các TK 621, 622, 627 không hạch toán vào TK 623 khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên lương phải trả công nhân sử dụng máy thi công

2.2.5 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất.

Với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng công trình riêng biệt nên Công

ty sử dụng phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là phương pháp trực tiếp theo từng công trình Các chi phí sản xuất liên quan trực tiếp đến công trình nào thì được tập hợp trực tiếp cho công trình đó

Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp (theo phương pháp kê khai định kỳ thường xuyên)

(1) - Kết chuyển chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp

(2) - Kết chuyển chi phí Nhân công trực tiếp

(3) - Kết chuyển chi phí Sản xuất chung

(4) - Ghi giảm chi phí vật liệu không dùng hết nhập kho, phế liệu thu hồi

Trang 21

(5) - Ghi giảm chi phí sản phẩm, vật tư, thiết bị…

(6a) - Giá thành thực tế sản phẩm hoàn thành nhập kho

(6b) - Giá thành thực tế sản phẩm hoàn thành gửi bán

(6c) - Giá thành thực tế sản phẩm hoàn thành xuất bán thẳng

2.3 Trình tự kế toán chi phí sản xuất trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ

Sử dụng TK 631: Giá thành sản xuất

Bên Nợ: - Kết chuyển chi phí sản xuất lao vụ dở dang đầu kỳ và các chi phí phát

sinh trong kỳ liên quan tới việc chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ Bên Có: - Kết chuyển chi phí sản xuất của lao vụ dở dang cuối kỳ vào TK 154

Giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm lao vụ hoàn thành

Dư cuối kỳ: Cuối kỳ không có số dư và nó được hạch toán chi tiết theo từng đối tượng chịu chi phí

* Phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ kinh tế phát sinh chủ yếu:

1 Đầu kỳ kết chuyển chi phí sản xuất của sản phẩm làm dở dang đầu kỳ:

Nợ TK 631 : Giá thành sản xuất (chi phí theo từng đối tượng)

Có TK 154 : Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

2 Cuối kỳ kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh trong kỳ:

Nợ TK 631 : Giá thành sản xuất

Có TK 621 : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

3 Cuối kỳ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp trực tiếp cho đối tượng chịu chi phí:

Nợ TK 631 : Giá thành sản xuất

Có TK 622 : Chi phí nhân công trực tiếp sản xuất

4 Cuối kỳ phân bổ và kết chuyển chi phí sản xuất chung cho các đối tượng chịu chi phí:

Nợ TK 631 : Giá thành sản xuất

Có TK 627 : Chi phí sản xuất chung

5 Trường hợp có phát sinh sản phẩm không sửa chữa được, phải tùy theo kết quả

xử lý của cấp có thẩm quyền đề nghị:

Nợ TK 611 : Mua hàng (giá trị phế liệu thu hồi nhập kho)

Trang 22

Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp

(theo phương pháp kê khai định kỳ)

(1) - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ (2) - Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (3) - Kết chuyển chi phí Nhân công trực tiếp (4) - Kết chuyển chi phí sản xuất chung (5) - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ

Trang 23

(6) - Kết chuyển chi phí mua hàng (7) - Kết chuyển giảm chi phí sản phẩm vật tư thiếu hụt

(8) - Tổng giá thành sản xuất của sản phẩm hoàn thành

3 Đánh giá sản phẩm làm dở dang trong doanh nghiệp xây dựng

Sản phẩm làm dở trong công trình xây dựng là các công trình, hạng mục công trình dở dang chưa hoàn thành hay khối lượng công tác xây dựng là công trình, HMCT, công trình dở dang chưa hoàn thành hay khối lượng công tác xây dựng trong kỳ chưa được bên chủ đầu tư nghiệm thu, chấp nhận thanh toán

Đánh giá sản phẩm làm dở là tính toán xác định phần chi phí sản xuất trong

kỳ cho khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo nguyên tắc nhất định Muốn đánh giá sản phẩm làm dở một cách chính xác, trước hết phải tổ chức kiểm kê chính xác khối lượng công tác xây dựng hoàn thành theo quy ước ở từng giai đoạn thi công

để xác định khối lượng công tác xây dựng dở dang, phát hiện tổn thất trong quá trình thi công

Chất lượng công tác kiểm kê khối lượng xây dựng dở dang có ảnh hưởng đến tính chính xác của việc đánh giá sản phẩm làm dở và tính giá thành Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng có kết cấu phức tạp nên việc xác định đúng mức độ hoàn thành của nó rất khó Khi đánh giá sản phẩm làm dở kế toán cần kết hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật, bộ phận tổ chức lao động để xác định độ hoàn thành của khối lượng xây dựng dở dang một cách chính xác Dựa trên kết quả kiểm kê sản phẩm làm dở đã tập hợp được kế toán tiến hành đánh giá sản phẩm làm dở

Đối với các công ty xây dựng thường áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm sau:

3.1 Phương pháp đánh giá theo chi phí dự toán

Theo phương pháp này, chi phí thực tế của khối lượng xây dựng dở dang cuối

cuối kỳ theo

dự toán

CFKLXLHT bàn giao trong

kỳ

+

CFKLXL DD cuối kỳ theo dự toán

x

Trang 24

3.2 Phương pháp đánh giá theo giá trị dự toán

Theo phương pháp này, chi phí thực tế khối lượng xây dựng dở dang cuối kỳ được xác định theo công thức sau:

Chi phí thực tế

CF thực tế KLXLDDĐK +

CF thực tế KLXL thực hiện trong kỳ

Giá trị DTKLXL hoàn thành bàn giao trong kỳ

+ Giá trị dự toán KLXLDDCK Ngoài ra đối với một số công việc sửa chữa hoàn thiện hoặc xây dựng các công trình có giá trị nhỏ, thời gian thi công ngắn theo hợp đồng, được bên chủ đầu

tư thanh toán sau khi hoàn thành toàn bộ công việc Lúc này giá trị sản phẩm dở cuối kỳ là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh từ khi thi công cho đến thời điểm kiểm kê đánh giá

4 Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây dựng

Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây dựng là phương pháp sử dụng số liệu về chi phí xây dựng để tính ra tổng giá thành và giá thành thực tế của sản phẩm xây dựng Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây dựng là phương pháp

sử dụng số liệu về chi phí để tính tổng giá thành và giá thành thực tế của sản phẩm xây dựng đã hoàn thành theo các yếu tố hoặc các khoản mục giá thành trong kỳ tính giá thành đã được xác định, trong đó, kỳ tính giá thành xây dựng là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tính giá thành cho các công trình, HMCT

Tuỳ theo đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành mà kế toán phải lựa chọn sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp thích hợp để tính giá thành cho một hoặc nhiều đối tượng và ngược lại Trong các doanh nghiệp xây dựng thường

áp dụng các phương pháp giá thành sau:

4.1.Các phương pháp tính giá thành

4.1.1 Phương pháp giản đơn (phương pháp tính giá thành trực tiếp)

Phương pháp này là phương pháp tính giá thành được phổ biến rộng rãi trong các công ty xây dựng hiện nay, vì sản xuất thi công mang tính đơn chiếc, đối tượng chi phí sản xuất phù hợp với đối tượng tính Hơn nữa, việc áp dụng phương pháp này cho phép cung cấp kịp thời số liệu giá thành cho mỗi kỳ báo cáo và cách tính đơn giản dễ thực hiện

Trang 25

Theo phương pháp này, tất cả các chi phí sản xuất phát sinh trực tiếp cho một công trình hoặc HMCT từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thành thực tế của công trình HMCT đó Có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm

và hệ số kinh tế kỹ thuật cho từng công trình HMCT nhằm tính giá thành thực tế cho hạng mục công trình đó

Trong trường hợp công trình HMCT chưa hoàn thành mà có khối lượng xây dựng hoàn thành bàn giao thì cần phải tính giá thành thực tế

-

Chi phí thực

tế dở dang cuối kỳ Giá thành đơn vị khối lượng

xây dựng hoàn thành bàn giao

từng công trình HMCT

= Giá thành thực Từ KLXL hoàn thành bàn giao

Khối lượng sản phẩm hoàn thành Nếu các công trình HMCT có thiết kế, dự toán khác nhau nhưng cùng thi công trên cùng một địa điểm do một đơn vị công trình sản xuất đảm nhiệm và không có điều kiện quản lý, theo dõi riêng việc sử dụng các loại chi phí khác nhau cho từng công trình, HMCT thì từng loại chi phí trên toàn bộ công trình đều phải tiến hành phân bổ cho từng HMCT

Khi đó giá thành thực tế của HMCT: ZTT = Gdti x H

Trong đó: - H: Tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế H= TC/ TGdt x 100%

- Gdt: là giá thành dự toán của HMCT i

- TC : là tổng chi phí thực tế của HMCT

- TGdt: là tổng dự toán của tất cả các HMCT

4.1.2 Phương pháp tính giá theo đơn đặt hàng

Phương pháp này áp dụng đối với công ty nhận thầu xây dựng theo đơn đặt hàng Đối tượng chi phí sản xuất là từng đơn đặt hàng, kỳ tính giá thành không phù hợp với kỳ báo cáo mà khi đơn đặt hàng hoàn thành Đối tượng tính giá thành là đơn đặt hàng hoàn thành

Theo phương pháp này, hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo từng đơn đặt hàng và khi hoàn thành công trình HMCT thì chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng tập hợp cũng chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó

Trang 26

Nếu đơn đặt hàng gồm nhiều HMCT, công trình đơn nguyên liên quan tới đơn đặt hàng Những chi phí trực tiếp được tập hợp thẳng vào HMCT công trình đơn nguyên chúng cần phải phân bổ theo tiêu thức thích hợp

4.1.3 Phương pháp tính giá thành theo định mức

Gồm ba bước:

Bước 1: Tính giá thành định mức của sản phẩm xây dựng

Giá thành định mức của sản phẩm xây dựng được căn cứ vào định mức kinh

tế kỹ thuật hiện hành để tính Tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà tính giá thành định mức Nó bao gồm giá thành định mức của các bộ phận chi tiết cấu thành nên sản phẩm xây dựng hoặc giá thành sản phẩm của từng giai đoạn công trình, HMCT có thể tính luôn cho sản phẩm xây dựng

Bước 2: Xác định số chênh lệch do thay đổi định mức

Vì giá thành định mức xây dựng tính theo định mức hiện hành nên khi thay đổi định mức, cần phải tính toán lại định mức mới Việc thay đổi định mức chỉ cần tính toán số chênh lệch do thay đổi định mức chỉ cần tính đối với số sản phẩm làm

dở đầu kỳ vì chi phí tính cho sản phẩm làm dở đầu kỳ (cuối kỳ trước) là theo định mức cũ

Số thay đổi định mức = Định mức cũ - Định mức mới

Tóm lại, phải vạch ra được một cách chính xác các thay đổi về định mức trong quá trình thực hiện thi công công trình

Bước 3: Xác định chênh lệch thoát ly định mức, nguyên nhân gây ra chênh lệch đó

Chênh lệch do thoát ly định mức là số chênh lệch do tiết kiệm hoặc vượt chi trong quá trình thi công công trình HMCT Tuỳ thuộc vào các khoản chi phí mà xác định được do thoát ly định mức:

Chênh lệch do thoát lý

định mức =

Chi phí thực tế (theo từng khoản mục) +

Chi phí định mức (theo từng khoản mục) Sau khi xác định được giá thành, chênh lệch do thay đổi và thoát ly định mức, giá thành thực tế của sản phẩm xây dựng được tính:

Trang 27

Giá thành thực

tế của sản phẩm

xây dựng =

Giá thành định mức của sản phẩm xây dựng +

Chênh lệch

do thay đổi định mức -

Chênh lệch thoát ly định mức

Áp dụng phương pháp tính giá thành theo định mức có tác dụng lớn cho việc kiểm tra tình hình thực hiện định mức, dự toán chi phí sản xuất tính sử dụng hợp lý tiết kiệm hiệu qủa hay lãng phí chi phí sản xuất ngay cả khi chưa có sản phẩm hoàn thành Ngoài ra giảm bớt được khối lượng tính toán của kế toán nhằm nâng cao hiệu qủa công tác trong công ty xây dựng

4.1.4 phương pháp tính giá theo tổng cộng chi phí

Phương pháp này thông thường được áp dụng đối với các công trình, hạng mục công trình phải trải qua nhiều giai đoạn thi công Giá thành thực tế của toàn

bộ công trình, hạng mục công trình được xác định như sau:

Z = DDDK + C1 + C2 + … + Cn - Dck

Trong đó: Z: Giá thành thực tế của toàn bộ công trình, hạng mục công trình

C1;C2;…Cn: Chi phí thực tế từng giai đoạn thi công công trình, hạng mục công trình

Dđk, Dck: Trị giá sản phẩm dở dang đầu kỳ

Trang 28

Mỗi hình thức kế toán có một hệ thống và quy trình ghi sổ riêng Tuỳ theo hình thức kế toán doanh nghiệp áp dụng mà các nghiệp vụ kế toán nói chung và các nghiệp vụ kế toán liên quan đến kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng được phản ánh vào các sổ kế toán phù hợp của hình thức kế toán đó

Ngoài các sổ kế toán tổng hợp ở trên, các hình thức kế toán đếu sử dụng sổ hoặc thể kế toán chi tiết Tuy theo từng yêu cầu quản lý cụ thể mà sổ kế toán chi tiết được mở chi tiết TSCĐ, Vật liệu…hoặc sổ chi tiết được mở theo từng đối tượng tập hợp chi phí, tính giá thành cụ thể

4.2.2 Kế toán tính giá thành

Phương pháp kế toán tính giá thành được thể hiện qua sơ đồ sau

(1) - Giá trị nguyên vật liệu tăng (nhập) trong kỳ

(2a) - Kết chuyển vật liệu chưa dùng đầu kỳ

(2b) - Kết chuyển giá trị còn lại chưa dùng cuối kỳ

Trang 29

(3) – Kết chuyển Giá trị NVL dùng để sản xuất trong kỳ

(4a) - Trả lương cho công nhân trực tiếp sản xuất

(4b) - Tập hợp chi phí sản xuất chung

(5a) - Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu dùng cho sản xuất

(5b) - Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp

(5c) - Kết chuyển chi phí sản xuất chung

(6a) - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ

(6b) - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ

(7) - Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành nhập kho gửi bán hoặc tiêu thụ

Trang 30

CHƯƠNG II TÌNH HÌNH THỰC TẾ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY DỰNG Ở CÔNG TY CỔ

PHẦN THANH NIÊN HẢI PHÕNG

I ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CHUNG CỦA CÔNG TY

1 Khái quát chung về công ty

1.1 Tên Công Ty

Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN THANH NIÊN HẢI PHÕNG

Tên giao dịch : HAI PHONG YOUTH JOINT STOCK COPANY

1.2 Giám đốc, kế toán trưởng hiện tại của công ty:

Công ty gồm: 01 Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc;

03 Phó tổng giám đốc;

01 Kế toán Trưởng

1.3 Loại hình doanh nghiệp: Công ty Cổ phần, loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.4 Cơ Sở pháp lý của công ty

Theo quyết định số 744/QĐ-TCCQ của Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng,

ngày 14 tháng 7 năm 1988 quyết định thành lập Tổng Đội Thanh Niên xung phong xây dựng kinh tế Thành phố Nguồn vốn chủ yếu là vay ngân hàng và huy động từ các nguồn

bên ngoài với mức lãi suất theo quy định

Thực hiện theo NĐ của Thủ tướng chính phủ về thành lập và giải thể DN Nhà nước

và ngày 9/3/1933 Công Ty xây dựng Thanh Niên xung phong Hải Phòng chính thức

được thành lập với nguồn vốn là 256.000.000 đồng

Trang 31

Tháng 10/2000 Công Ty xây dựng Thanh Niên xung phong Hải Phòng đổi tên thành Công ty xây dựng và sản xuất giầy Thanh niên xung phong Hải Phòng với nguồn

vốn kinh doanh ước tính hơn 7.000.000.000 đồng

Năm 2006thực hiện chủ trương của Chính Phủ và quyết định của UBND Thành Phố,

công ty sắp xếp lại doanh nghiệp và đã đổi tên công ty thành Công ty TNHH Một thành viên Thanh Niên với nguồn vốn kinh doanh đã tăng lên 10.000.000.000 đồng và giá trị tài

sản của doanh nghiệp gần trăm tỷ đồng

Ngày 14/4/2012 Ủy ban nhân dân Thành phố có quyết định số 452/QĐ-UBND về

việc phê duyệt phương án và chuyển Công TY TNHH một thành viên Thanh Niên thành Công ty Cổ Phần Thanh Niên Hải Phòng với vốn điều lệ là 25.000 triệu đồng

1.5 Chức Năng, nhiệm vụ của công ty

- Sản xuất giầy dép xuất khẩu

- Nhận Thầu thi công công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, thủy lợi, công trình ghiao thông, san lấp mặt bằng, cấp thoát nước, khai thác tài nguyên, xây dựng công trình ngầm dưới đất, dưới nước …

- Xây dựng thi công các công trình đường dây và trạm biến áp có điện áp từ 35KV trở xuống

1.6 Quá trình hình thành và phát triển công ty

Công ty Cổ phần Thanh niên Hải Phòng tiền thân là Tổng đội Thanh niên xung phong xây dựng kinh tế Thành phố được thành lập ngày 14 tháng 7 năm

1988 theo quyết định số 744/QĐ-TCCQ của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng nhằm phát huy truyền thống của Thanh niên xung phong qua các thời kỳ để tập hợp Thanh niên đi vào khai thác tiềm năng đất đai, ngành nghề phát triển kinh

tế, xây dựng thành phố

Tổng đội Thanh niên xung phong xây dựng kinh tế Thành phố được thành lập

và đi vào hoạt động đúng vào thời điểm Đảng và Nhà nước thực hiện công cuộc đổi mới, cải cách kinh tế, xóa bỏ cơ chế bao cấp nên Tổng đội không được cấp vốn

và đầu tư cơ sở vật chất ban đầu Đội ngũ cán bộ hầu hết là cán bộ đoàn trưởng thành chuyển sang, chưa có kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh và công tác quản lý Nguồn vốn hoạt động chủ yếu là vay ngân hàng và huy động từ các nguồn

Trang 32

bên ngoài với mức lãi suất cao Đây là khó khăn lớn nhất và cũng là thử thách gay gắt đối với Tổng đội trong những năm đầu đi vào hoạt động

Bộ máy lãnh đạo và cán bộ của Tổng đội từ Thành đoàn chuyển sang với tinh thần làm việc nhiệt tình và trách nhiệm đã đi vào khai thác và tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ gồm các lĩnh vực: nhận thầu thi công công trình xây dựng, tổ chức phá dỡ tàu cũ, nuôi trồng rau câu và chế biến Aga, làm hàng thêu, may găng tay xuất khẩu, sản xuất nước giải khát…Thông qua các loại hình sản xuất này đã tạo việc làm và thu nhập cho trên 1.000 lao động Cuối năm 1991, thực hiện chủ trương của Nhà nước và thành phố đưa Thanh niên xung phong ra đảo Bạch Long

Vĩ Đầu năm 1993, đội Thanh niên xung phong tình nguyện chính thức lên tàu ra đảo làm nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế Nhiều cán bộ và đội viên TNXP

đã trưởng thành là cán bộ các phòng ban và lãnh đạo huyện Bạch Long Vĩ

Thực hiện theo NĐ 388 của Thủ tướng chính phủ về thành lập và giải thế DN Nhà nước, UBND thành phố đã quyết định hợp nhất 5 đơn vị của Tổng đội TNXP

xây dựng kinh tế thành phố thành lập DN Nhà nước và ngày 9/3/1993 Công ty xây dựng Thanh niên xung phong Hải Phòng chính thức được thành lập với nguồn

vốn kinh doanh là 256.000.000 đồng Đầu năm 1994 nắm bắt chính sách mở cửa

và luật đầu tư nước ngoài của Nhà nước, công ty đã mạnh dạn tìm đối tác nước ngoài hợp tác đầu tư sản xuất giầy xuất khẩu Công ty đã chủ động khai thác các nguồn vốn như vốn vay của đối tác, vốn vay ngân hàng thương mại, huy động từ cán bộ công nhân viên, mua lại nhà xưởng, cải tạo sửa chữa quy trình sản xuất Tổng nguồn vốn đầu tư cho nhà xưởng là 7.000.000.000 đồng , tạo việc làm và thu nhập cho 1.200 lao động, sau 6 năm Công ty đã cơ bản thu hồi vốn đầu tư

Tháng 10/2000 Công ty xây dựng Thanh niên xung phong Hải Phòng đổi tên

thành Công ty xây dựng và sản xuất giầy Thanh niên xung phong Hải Phòng

Nguồn vốn kinh doanh ước tính đã hơn 7.000.000.000 đồng Công ty đã đầu tư mở rộng sản xuất, giải quyết về môi trường và điều kiện làm việc của người lao động

Xí nghiệp giầy Thành Công được thành lập và đi vào sản xuất, tạo việc làm và thu nhập cho hơn 2.400 lao động

Trang 33

Năm 2006 thực hiện chủ trương của Chính phủ và quyết định của UBND Thành phố, công ty đã sắp xếp lại doanh nghiệp và chuyển thành tâm đến việc tiết

kiệm, lấy hiệu quả làm thước đo Vì thế đã tạo cho nguồn vốn tại doanh Công ty TNHH Một thành viên Thanh niên Do lãnh đạo công ty luôn xác định được mô

hình tổ chức và cách làm: làm từ nhỏ đến lớn, lấy ngắn nuôi dài, mạnh dạn và sang tạo tìm tòi nguồn vốn, khai thác ngành nghề, việc làm để tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ Trong quá trình đầu tư hợp tác với đối tác nước ngoài, công ty vượt qua những khó khăn thử thách của thị trường thế giới và trong nước, đảm bảo

ổn định hợp tác và đầu tư có hiệu quả Trong chỉ đạo sản xuất kinh doanh luôn quan nghiệp tăng lên 10.000.000.000 đồng và giá trị tài sản của doanh nghiệp gần trăm tỷ đồng

Năm 2011 thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố về tiến hành cổ phần hóa Công ty TNHH một thành viên Thanh niên Ngày 14 tháng 4 năm 2012 Ủy ban nhân dân Thành phố có quyết định số 452/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án và chuyển

Công ty TNHH một thành viên Thanh niên thành Công ty Cổ Phần Thanh niên Hải Phòng, ngày 19 tháng 9 năm 2012 Đại hội đồng cổ đông Công ty tổ chức họp thành lập

Công ty cổ phần Thanh niên Hải Phòng, Đại hội bầu Hội đồng quản trị Công ty gồm 07 thành viên, Ban kiểm soát 03 thành viên, vốn điều lệ Công ty cổ phần Thanh niên Hải Phòng 25.000 triệu đồng, trong đó Nhà nước nắm giữ 20% bằng 5.000 triệu đồng

Tháng 12 năm 2012 Công ty cổ phần Thanh niên Hải Phòng đã chính thức đi vào hoạt động đánh dấu bước chuyển đổi cơ bản của doanh nghiệp, từ doanh nghiệp Nhà nước

sở hữu 100% vốn, chuyển sang Công ty cổ phần, vốn do các cổ đông sở hữu

Hơn 25 năm qua Công ty có 5 lần đổi tên, mỗi lần đổi tên là sự chuyển đổi mô hình, cơ chế hoạt động, là mốc đánh dấu bước phát triển của Công ty Những ngày đầu Tổng đội TNXP xây dựng kinh tế Thành phố được thành lập và đi vào hoạt động không được cấp vốn, trang bị ban đầu về cơ sở vật chất, vốn hoạt động sản xuất kinh doanh vay ngân hàng và huy động các nguồn khác, lãnh đạo Công ty đã chỉ đạo làm từ nhỏ đến lớn, lấy ngắn nuôi dài, quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh tổng kết, rút ra bài học, kinh nghiệm để bổ khuyết chỉ đạo nhiệm vụ của năm và chương trình dự án tiếp theo Kết quả thực hiện cổ phần hóa Công ty đã xác định giá

Trang 34

trị tài sản là 81.661 triệu đồng, vốn chủ sở hữu Nhà nước 44.380 triệu đồng, tạo việc làm và thu nhập cho hàng nghìn lao động

2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

2.1 Lĩnh vực hoạt động sản xuất của công ty:

- Sản xuất giầy dép xuất khẩu;

- Nhận thầu thi công công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, thủy lợi, công trình giao thông (gồm công trình cầu, đường, cống), san lấp mặt bằng, cấp thoát nước, khai thác tài nguyên (đất, đá), xây dựng công trình ngầm dưới đất, dưới nước; lắp đặt cáp và mạng thông tin, cáp điện lực,…

- Xây dựng thi công các công trình đường dây và trạm biến áp có điện áp từ 35KV trở xuống

Về sản xuất giầy dép xuất khẩu: lãnh đạo công ty luôn nắm bắt thị trường thế giới, mở rộng quan hệ hợp tác, tìm đối tác có tiềm năng, khách hàng truyền thống

để hợp tác, đảm bảo đơn hàng duy trì ổn định sản xuất, đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động Trong quá trình hợp tác phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi cho đối tác làm việc, giải quyết tốt chính sách đối với người lao động, sử dụng nhà xưởng và vốn đầu tư có hiệu quả cao Tuy nhiên, do thay đổi chính sách công ty và ảnh hưởng chung của nền kinh tế, mấy năm gần đây công ty

đã thu hẹp sản xuất và chuyển sang nhận gia công cho đối tác nước ngoài

Về tổ chức thi công: thực hiện đúng quy trình kỹ thuật và hồ sơ thiết kế, tăng cường kiểm tra giám sát thi công tại hiện trường đảm bảo đúng chất lượng, mỹ thuật và hoàn thành theo đúng tiến độ đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ kinh tế -

xã hội của thành phố Trong những năm vừa qua, các hạng mục công trình mà công ty đã tổ chức thi công được thành phố và các chủ đầu tư đánh giá cao và tín nhiệm như các hạng mục công trình của trung tâm giáo dục lao động tại Thủy Nguyên, Tiên Lãng; Sửa chữa, nâng cấp nghĩa trang liệt sỹ của thành phố tại nghĩa trang Trường Sơn; San lấp mặt bằng khu vực bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp 2 tại

An Đồng giá trị hơn 65 tỷ VNĐ; Xây dựng nhà khám bệnh đa khoa Bệnh Viện Hữu nghị Việt Tiệp cơ sở 1 giá trị hơn 58 tỷ VNĐ; gói thầu Xây dựng trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân của hội nông dân thành phố có giá trị hơn 40 tỷ VNĐ;

Trang 35

gói thầu trục đường chính khu kinh tế Đình Vũ giá trị hơn 20 tỷ VNĐ, gói thầu xây dựng hạ tầng nuôi thủy sản Lữ đoàn 273/Quân khu 3, gói thầu xây dựng, nâng cấp trung tâm điều dưỡng người tâm thần Hải Phòng của Sở lao động – Thương binh

và xã hội Hải Phòng với giá trị hơn 16 tỷ; gói thầu xây dựng khoa Quốc tế Bệnh Viện Hữu nghị Việt Tiệp cơ sở 1 giá trị hơn 27 tỷ VNĐ

2.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây dựng và quy trình công nghệ sản xuất (quy trình thi công)

* Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây dựng

- Sản phẩm xây dựng là những công trình xây dựng, vật kiến trúc… có quy mô lớn,

kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây dựng lâu dài…

- Quá trình tạo ra sản phẩm được tính từ khi khởi công đến khi công trình hoàn thành bàn giao và được đưa vào sử dụng, nó phụ thuộc vào quy mô tính chất

phức tạp của từng công trình

- Sản phẩm xây dựng hoàn thành không nhập kho mà được tiêu thụ ngay sau khi quyêt toán theo giá dự toán (trong trường hợp chỉ định thầu) hoặc theo giá thỏa thuận với chủ đầu tư (trong trường hợp đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản

phẩm xây dựng không thể hiện rõ

- Sản phẩm xây dựng cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất phải

di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm

* Quy trình công nghệ sản xuất

Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty bắt đầu từ khi công ty tham gia đấu thầu hoặc được giao thầu xây dựng Khi tham gia đấu thầu, công ty phải xây dựng các chiến lược hợp lý để thắng thầu Sau khi trúng thầu hoặc được giao thầu, công ty và công ty tiến hành tổ chức sản xuất

Có thể tóm tắt quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm xây dựng ở công ty như sau:

Trang 36

Sơ đồ 01: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT

Khi nhận được thông tin mời thầu của đối tác, phòng dự án có nhiệm vụ thu thập thông tin, báo cáo với lãnh đạo công ty để mua hồ sơ mời thầu theo quy định

và giao lại cho bộ phận chuyên làm hồ sơ mời thầu Trưởng phòng dự án là người

có trách nhiệm chỉnh sửa, kiểm soát các thông tin trước khi nộp hồ sơ dự thầu Sau khi có kết quả đấu thầu, phòng dự án kết hợp với phòng kế toán tài vụ, phòng tổ chức hành chính và phòng thi công làm thương thảo hợp đồng Lãnh đạo công ty tham gia ký kết hợp đồng với đối tác

Tiếp đó, lãnh đạo công ty sẽ giao lại cho các xí nghiệp hoặc phòng tổ chức thi công trực tiếp lên kế hoạch, bóc tách dự án và thiết kế hệ thống thi công Với hệ thống đó, các đội thi công sẽ được thực hiện cùng với sự giám sát của phòng dự án Tuỳ theo loại, đặc điểm của từng công trình mà Công ty thực hiện giao khoán nội bộ cho các đội theo hình thức giao khoán như sau:

- Khoán gọn từng phần hạng mục công trình

- Khoán đơn giá sản phẩm

(trong các hình thức giao khoán trên có thể kết hợp với giao khoán thưởng tiến độ đối với từng công trình cần hoàn thành gấp trong thời gian ngắn)

Các đội nhận khoán trên cơ sở tính toán thoả thuận với công ty, sau đó ký bản giao, tuân thủ các quy định của công ty

Căn cứ từng hợp đồng kinh tế, hồ sơ thiết kế, biện pháp tổ chức thi công, nâng lực của các đội, công ty sẽ giao nhiệm vụ sản xuất cho các đội

Thanh lý và bảo hành hợp đồng

Nghiệm thu bàn giao

Hoàn thiện Thi công

Thiết kế hệ thống

Ký kết hợp đồng Đấu thầu

Trang 37

Công trình hoặc hạng mục hoàn thiện được phòng dự án kỹ thuật nghiệm thu

và bàn giao cho đối tác

Cuối cùng, hai bên thanh lý và bảo hành hợp đồng Quy trình hoàn tất

3 Đặc điểm tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty

3.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty

Công ty Cổ Phần Thanh niên Hải Phòng được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII thông qua ngày 29/11/2005 và Điều lệ hoạt động của công ty Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty được xây dựng theo hình thức công ty cổ phần, cụ thể như sau:

Sơ đồ 02: TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN THANH NIÊN

HẢI PHÕNG

CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC Nhà Máy Giầy

Thành Công

Xí Nghiệp XD Thanh Niên

Xí Nghiệp

XD 30/4

Xí Nghiệp XD 26/3

Xi Nghiệp XD 13/5

Đại Hội Đồng Cổ Đông

Hội Đồng Quản Trị Ban Kiểm Soát

Tổng Giám Đốc

Phó Tổng Giám Đốc

Phòng Dự án Kỹ Thuật

Phòng Tài Chính Kế

Toán

Phòng Tổ Chức Hành

Chính Phó Tổng Giám Đốc Phó Tổng Giám Đốc

Trang 38

Là một doanh nghiệp kinh doanh nên cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý tương đối hợp lý và ngọn nhẹ Công ty vận dụng theo mô hình trực tuyến chức năng trong đó:

 Đại hội đồng cổ đông thường niên có quyền thảo luận và thông qua Báo

cáo tài chính kiểm toán hàng năm,Báo cáo của Ban kiểm soát; Báo cáo của Hội đồng quản trị; Kế hoạch phát triển ngắn hạn và dài hạn của Công ty

 Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty có toàn quyền nhân danh

Công ty để quyết định thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Hội đồng thực hiện chức năng quản lý và kiểm tra giám sát hoạt động của Công ty, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Giám đốc thực hiện Nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị

 Ban kiểm soát thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám Đốc trong việc

quản lý và điều hành Công ty, chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông về những sai phạm của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao

 Tổng giám đốc là Thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng quản trị và Đại

hội đồng cổ đông, kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư của Công ty đã được Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông thông qua;

 Phó Tổng giám đốc là người Giúp việc cho Tổng Giám đốc trong quản lý

điều hành các hoạt động của công ty theo sự phân công của Giám đốc

 Giám đốc các xí nghiệp phụ trách các chiến lược sản xuất kinh doanh, cân

đối các nguồn lực để tài trợ các hoạt động của xí nghiệp đồng thời theo dõi tình hình hoạt động của xí nghiệp để báo cáo cho Tổng giám đốc

 Phòng Dự án Kỹ thuật phụ trách nắm bắt thông tin về các công trình để

tham gia đấu thầu, lập hồ sơ dự thầu Phòng Tổ chức Hành chính phụ trách quản lý nguồn nhân lực, cung cấp các thiết bị văn phòng, xây dựng hệ thống thông tin, chịu trách nhiệm các vấn đề hành chính, đối nội, đối ngoại

 Phòng Kế toán Tài vụ phụ trách hạch toán kinh doanh và quản lý tài chính,

lập và theo dõi kế hoạch tài chính, phân tích, định hướng và tham mưu cho Ban giám đốc về vấn đề tài chính

Trang 39

 Phòng tổ chức hành chính là Tham mưu cho Giám đốc trong công tác bổ

nhiệm, tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, quản lý hồ sơ cán bộ, nhân viên, người lao động của công ty, theo dõi công tác thi đua khen thưởng, đề bạt nâng lương, ý thức chấp hành nội quy hoạt động của công ty

Các công trình; kiểm tra và chỉ đạo về công tác kỹ thuật thi công, chất lượng

sản phẩm, giám sát và nghiệm thu công trình

3.2 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại công ty

Xuất phát từ đặc thù sản xuất kinh doanh và tổ chức bộ máy quản lý của công

ty, công ty tổ chức công tác kế toán theo hình thức tập trung, toàn bộ công tác kế toán được thực hiện ở phòng tài chính kế toán từ khâu ghi chép ban đầu đến khâu tổng hợp, báo cáo và kiểm tra kế toán Còn ở các đội sản xuất chỉ biên chế nhân viên kế toán làm công tác thống kê kế toán, thu thập số liệu ban đầu, cuối tháng gửi về phòng tài chính kế toán để tiến hành xử lý và ghi sổ kế toán

3.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại phòng tài chính kế toán công ty

Bộ máy kế toán của công ty chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của Giám đốc công ty Bộ máy kế toán của công ty được thực hiện khái quát qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 03: TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN

Kế toán trưởng

Kế toán tiền mặt và

các khoản

phải thu

Kế toán tiền gửi ngân hàng và TSCĐ

Kế toán các khoản thanh toán, phải trả

Kế toán nguyên vật liệu, công

cụ, dụng

cụ

Kế toán tiền lương, khoản trích theo lương

Kế toán tập hợp chi phí, giá thành sản phẩm

Thủ quỹ

Trang 40

Do đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh mà công ty tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình tập trung Với mô hình này, toàn bộ công việc kế toán trong

công ty đều được tiến hành xử lý tại phòng kế toán của công ty Các bộ phận trong công ty và các phòng ban chỉ lập, thu thập, kiểm tra chứng từ phát sinh gửi về phòng kế toán của công ty, còn việc hạch toán, ghi sổ và lên các báo cáo được thực hiện tại phòng kế toán Trong đó chức năng, nhiệm vụ của từng người:

 Kế toán trưởng: Có nhiệm vụ quản lý điều hành phòng kế toán, chỉ đạo thực

hiện việc triển khai công tác kế toán tài chính của công ty; tổ chức thiết lập các văn bản, biểu mẫu, báo cáo tài chính; tham mưu cho giám đốc xây dựng các kế hoạch tài chính, chiến lược kinh doanh; chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Giám đốc

 Kế toán tiền mặt và các khoản phải thu: là người có nhiệm vụ quản lý tiền

mặt, thực hiện thu - chi tiền mặt; đồng thời thực hiện theo dõi về công nợ của khách hàng và thanh lý các hợp đồng với từng khách hàng

 Kế toán tiền gửi ngân hàng kiêm kế toán TSCĐ: là người có nhiệm vụ

thực hiện các giao dịch với khác hàng như tiền gửi, tiền vay, bảo lãnh của ngân hàng và báo cáo số dư tài khoản cũng như số phát sinh để kế toán trưởng biết và xử lý; đồng thời theo dõi tình hình tăng, giảm TSCĐ, tính và trích khấu hao cho từng đối tượng sử dụng

 Kế toán các khoản thanh toán, phải trả: là người có nhiệm vụ kiểm tra

công nợ và thường xuyên đốc thúc công nợ kịp thời, theo dõi thanh toán với người bán; đồng thời theo dõi và hạch toán các khoản phải trả khác

 Kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ: là người có nhiệm vụ theo dõi

tình hình sử dụng nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phân xưởng sản xuất và từng hạng mục công trình đồng thời hàng tháng đối chiếu với số liệu ở kho với sổ sách; cung cấp số liệu cho các bộ phận tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành thành sản phẩm

 Kế toán tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN: là người có nhiệm vụ

tính lương và hạch toán các khoản phải trả cho cán bộ công nhân viên, và phân bổ chi phí tiền lương, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp và hàng tháng lập các sổ sách liên quan

Ngày đăng: 19/05/2018, 07:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w