Luận văn, khóa luận, chuyên đề, tiểu luận, bài tập, đề tài, ngân hàng, tài chính, vốn, đầu tư, tín dụng, cổ tức, tài chính, cổ phần
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách tài chính quốc gia là mộtkhâu trọng yếu trong việc Nhà nước thực hiện vai trò quản lý xã hội và điềutiết vĩ mô nền kinh tế; trong đó, quản lý thu Ngân sách nhà nước là một bộphận rất quan trọng của chính sách tài chính quốc gia Trong điều kiện cơ cấukinh tế và cơ chế quản lý thay đổi thì hệ quả tất yếu là chính sách tài chínhnói chung và công tác quản lý, điều hành hoạt động thu ngân sách nói riêngcũng phải đổi mới Do vậy, cơ chế quản lý Ngân sách nhà nước của các cấpchính quyền địa phương cũng cần được cải tiến trên một số mặt nhất định
Huyện Bố Trạch, là một trong bảy huyện, thành phố của tỉnh QuảngBình, có 28 xã và 2 thị trấn với diện tích gần 2.125 km2, dân số năm 2007 là17,65 vạn người Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2002-2007 là 8.5%.Quản lý thu Ngân sách nhà nước trên điạ bàn, đặc biệt là nguồn thu trong cânđối đã được chú trọng cải tiến Tuy nhiên, việc quản lý còn thiếu tập trung,thống nhất; nhiều nguồn lực tài chính không được động viên vào Ngân sáchNhà nước; chính quyền cấp xã và một số đơn vị có liên quan còn xem nhẹcông tác thu ngân sách và coi đó là nhiệm vụ của riêng ngành thuế; nguồn thuNgân sách nhà nước trên địa bàn hàng năm chưa đảm bảo tự cân đối chi, chủyếu là từ nguồn cấp quyền sử dụng đất Việc phát hiện và nuôi dưỡng cácnguồn thu, triển khai các giải pháp tăng thu ngân sách, đặc biệt là nguồn thutrong cân đối ngân sách để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn vẫncòn nhiều bất cập cần được giải quyết
Xuất phát từ đó, vấn đề “Giải pháp tăng thu trong cân đối ngân sách trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình” đã được lựa chọn làm đề
Trang 22 Mục đích của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Dựa trên cơ sở lý luận về thu Ngân sách nhà nước và kết quả phân tíchđánh giá thực trạng thu ngân sách trên địa bàn, đề xuất các giải pháp tăng thutrong cân đối ngân sách ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.1.1 Số liệu thứ cấp
Được thu thập từ Phòng Tài chính – kế hoạch huyện, Chi cục thuếhuyện, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên – Môi trường, văn kiện Đại hộiĐảng bộ huyện lần thứ XX và các báo cáo tổng kết hàng năm của UBNDhuyện giai đoạn 2005 – 2008 nhằm đánh giá thực trạng các nguồn thu trongcân đối ngân sách trên địa bàn và công tác quản lý thu ngân sách giai đoạn
2005 – 2008
3.1.2 Số liệu sơ cấp
Được thu thập từ việc điều tra các cán bộ giữ chức vụ chủ chốt tại28/30 xã, thị trấn và các đơn vị cấp huyện có liên quan đến công tác thu ngânsách để đánh giá thực trạng công tác quản lý và phát triển các nguồn thu
Trang 3Ngoài ra, Luận văn còn tiến hành thu thập thông tin từ các chủ doanh nghiệptrực thuộc Chi cục thuế quản lý thu để so sánh sự khác biệt giữa đối tượngquản lý Nhà nước và đối tượng nộp ngân sách trong việc đánh giá chất lượngcông tác quản lý thu ngân sách Việc thu thập số liệu sơ cấp được thực hiệnthông qua phiếu điều tra do người được phỏng vấn tự điền thông tin Nhờ đó
có thể đánh giá các vấn đề có tính chất định tính liên quan đến công tác thungân sách trên địa bàn
3.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Dùng phương pháp phân tổ thống kê để tổng hợp và hệ thống hóa tài liệuthu thập được làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng thu ngân sáchtrên địa bàn nghiên cứu theo các tiêu thức (góc độ) khác nhau Các số liệu được
xử lý, tính toán trên máy tính theo các phần mềm thống kê thông dụng
3.3 Phương pháp phân tích
- Dùng phương pháp thống kê mô tả để xác định xu hướng biến độngcủa từng nguồn thu trong cân đối ngân sách nhằm phục vụ cho việc phân tíchđánh giá công tác thu ngân sách;
- Sử dụng các phương pháp phân tích thống kê, phân tích kinh tế vàthống kê toán để phân tích, đánh giá và kiểm định thực trạng thu trong cân đốingân sách trên cơ sở các số liệu thứ cấp và sơ cấp đã được tổng hợp
3.4 Phương pháp chuyên gia và chuyên khảo
Ngoài những phương pháp kể trên, Luận văn còn thu thập ý kiến củacác chuyên gia và các nhà quản lý có liên quan đến công tác thu ngân sáchnhư: Các cán bộ lãnh đạo cấp huyện và cấp xã, các cán bộ làm công tác tàichính lâu năm, Giám đốc các doanh nghiệp và công ty TNHH trực thuộc Chicục thuế quản lý thu… để có căn cứ khoa học cho việc rút ra các kết luận mộtcách xác đáng và đề ra các giải pháp tăng nguồn thu trong cân đối ngân sáchtrên địa bàn
Trang 44 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Giải pháp tăng thu trong cân đối ngân sách trênđịa bàn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nguồn thu trong cân đối ngân sách
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian : Địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Phạm vi thời gian : Phân tích đánh giá thực trạng giai đoạn 2005 –
2008 và đề xuất giải pháp đến năm 2015
Trang 5Chương 1
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÂN SÁCH VÀ THU TRONG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm về ngân sách Nhà nước
Có nhiều quan niệm về Ngân sách nhà nước Các nhà nghiên cứu kinh
tế cổ điển cho rằng: Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính mô tả cáckhoản thu, chi của Chính phủ được thiết lập hàng năm Nhiều nhà nghiên cứukinh tế hiện đại thì cho rằng Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thuchi bằng tiền mặt trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước [3]
Luật ngân sách Nhà nước Việt Nam (số 01/2002/QH 11 thông qua tại
kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa 11) định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là toàn bộcác khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnquyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Bên cạnh những sự khác biệt thì các định nghĩa có một số điểm nhấttrí sau:
- Ngân sách là kế hoạch hoặc dự toán thu, chi của một chủ thể nhấtđịnh, thường là một năm – gọi là năm tài chính;
- Ngân sách nhà nước của một quốc gia là một đạo luật được cơ quanlập pháp của quốc gia đó ban hành
Có thể hình dung khái quát NSNN theo biểu mẫu số 1
Trang 6Mẫu biểu số 01
CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM
(Dùng cho Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ)
Dự toánnăm kếhoạch
A – TỔNG THU CÂN ĐỐI NSNN
Thu từ nội địa (không kể thu từ dầu thô)
Thu từ dầu thô
Thu từ xuất khẩu, nhập khẩu
Thu viện trợ không hoàn lại
B – TỔNG CHI CÂN ĐỐI NSNN
Chi đầu tư phát triển
Chi trả nợ và viện trợ
Chi thường xuyên
Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính
Dự phòng
C – BỘI CHI NSNN
(Tỷ lệ bội chi so GDP)Nguồn bù đắp bội chi NSNN
Vay trong nước
Vay ngoài nước
(Phụ lục số 7– biểu số 01 ban hành kèm theo Thông tư 59/TT – BTC ngày23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 60/2003/NĐ – CP)
Trang 7Nội dung chủ yếu của ngân sách là thu, chi nhưng không phải chỉ là cáccon số, cũng không phải chỉ là quy mô, sự tăng giảm số lượng tiền tệ đơnthuần mà còn phản ánh chủ trương, chính sách của Nhà nước; biểu hiện cácquan hệ tài chính giữa các cấp chính quyền (cũng là cấp ngân sách); giữa Nhànước với các chủ thể kinh tế khác của nền kinh tế quốc dân trong quá trìnhphân bổ các nguồn lực và phân phối thu nhập mới sáng tạo ra Các quá trìnhsản xuất kinh doanh, gắn liền với sự vận động của các dòng tiền: dòng tiềnthu vào (quá trình tạo lập), dòng chi ra (quá trình sử dụng) của ngân sách Nhànước (quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước) Việc tạo lập và sử dụng ngân sáchNhà nước một mặt phản ánh mức độ tiền tệ hóa, luật pháp hóa các hoạt độngcủa Nhà nước, bởi dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước được các cấp có thẩmquyền thảo luận, quyết định và phê chuẩn trong khuôn khổ pháp luật; mặtkhác từng khoản mục của ngân sách Nhà nước chính là sự cụ thể hóa cácchính sách, các lựa chọn kinh tế, chính trị của đất nước [3].
1.1.2 Vai trò của ngân sách Nhà nước
Có thể nhìn nhận vai trò của ngân sách Nhà nước trên hai phương diện:Một là, Nhà nước có nhiều chức năng, nhiệm vụ Để thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ đó Nhà nước cần có lực lượng vật chất nhất định Một trong
đó là Ngân sách nhà nước Đối với bất kỳ quốc gia nào, Ngân sách nhà nướcluôn có vị trí quan trọng trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho sự thực hiệncác chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Hai là, Ngân sách là một công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng tác động vàonền kinh tế Ngân sách là nguồn lực đầu tư quan trọng giúp cho nền kinh tếphát triển, điều chỉnh cơ cấu kinh tế; thúc đẩy quá trình đô thị hóa, động viênmọi thành viên trong xã hội tham gia vào quá trình phát triển; ngân sách cùngvới các công cụ khác hỗ trợ sự hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thịtrường, đồng thời tham gia khắc phục các thất bại của chính nền kinh tế thị
Trang 8trường, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo đảm tính công bằng
và hiệu quả kinh tế - xã hội
Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng, quốc gia nào cũng xây dựngmột hệ thống ngân sách hợp lý, với các chính sách nhằm mục tiêu phân phối
và sử dụng có hiệu quả nhất
Với vai trò của mình, NSNN là công cụ của Nhà nước để cùng với thịtrường tác động tích cực vào nền kinh tế, tạo động lực khuyến khích mọithành phần kinh tế phát triển; hạn chế cơ chế quản lý trực tiếp, mệnh lệnhhành chính; mở rộng và tăng cường sử dụng tích cực các công cụ tài chínhtiền tệ, sửa đổi bổ sung các chính sách tài chính phù hợp với quy luật kinh tếthị trường NSNN cần ưu tiên lựa chọn mục tiêu trung tâm, trọng điểm, đàotạo nhân lực, phát triển nội lực, thu hút, huy động và chuyển hóa ngoại lựcthành nội lực nhằm phát triển nhanh nền KTXH
Trước đây, nhiều nhà kinh tế học chủ trương xây dựng một NS tối thiểu
và cân bằng, có qui mô thu chi vừa đủ để duy trì hệ thống cơ sở hạ tầng; bảođảm thực hiện các chức năng Nhà nước công quyền, bảo vệ an ninh - quốcphòng, an toàn xã hội Nghĩa là NSNN chỉ giới hạn trong tiêu dùng nằm ởkhâu sau phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh Hiện nay, quan điểmđược nhiều quốc gia áp dụng là NSNN không chỉ phân phối lại kết quả sảnxuất kinh doanh mà trước khi phân phối lại, NSNN đã tham gia phân phối cácyếu tố đầu vào của quá trình kinh tế (đầu tư hạ tầng KTXH, ĐTPT nguồnnhân lực, hỗ trợ phát triển thị trường, xúc tiến thương mại…) Với đặc điểmnày, NSNN chủ động thúc đẩy nền kinh tế phát triển Cụ thể:
Thứ nhất, NSNN tác động trực tiếp đến việc tăng quy mô đầu tư, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Là chủ đầu tư lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước giữ vai trò đặc biệtquan trọng trong việc phát triển KTXH Ở Việt Nam cũng như đa số các nước
Trang 9đang phát triển trên thế giới, vốn đầu tư từ nguồn NSNN có một vị trí rất quantrọng, chiếm khoảng từ 22%-30% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội Vì vậy, vềmặt lượng, quy mô đầu tư vào nền kinh tế từ nguồn NSNN đóng vai trò quantrọng trong việc tăng quy mô đầu tư của toàn xã hội.
Thứ hai, quy mô thu và cơ cấu chi NSNN tác động mạnh mẽ đến quan
hệ cung cầu trên thị trường và thông qua đó tác động đến nền kinh tế
Với tư cách là chủ thể kinh tế lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước chitiêu nhiều hay ít sẽ tác động trực tiếp đến tổng cầu, đến sức mua của thịtrường Nếu các bộ phận khác của tổng cầu không thay đổi, thì chi tiêu củaNhà nước tăng sẽ tác động trực tiếp làm gia tăng tổng cầu của xã hội Đếnlượt nó, sự gia tăng của tổng cầu nhanh hơn sự gia tăng của tổng cung thì mộtmặt, nó làm tăng sức mua của xã hội, giảm thời gian lưu thông, tăng tốc độchu chuyển của vốn trong nền kinh tế, tăng GDP và tăng hiệu quả KTXH;mặt khác, mức dư cầu trên thị trường ở chừng mực nhất định làm tăng giá tiêuthụ hàng hóa ở mức độ vừa phải có tác động điều tiết mức tiêu dùng hợp lýhơn, đồng thời khuyến khích phát triển sản xuất, tăng đầu tư trong nền kinhtế
Thứ ba, thông qua việc sử dụng NSNN, Nhà nước thực hiện việc điều
chỉnh cơ cấu kinh tế, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế nhằm phát triển bềnvững, phù hợp với quy hoạch, không ngừng nâng cao hiệu quả KTXH
Thứ tư, NSNN là công cụ kinh tế quan trọng mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại, kích thích xuất khẩu, bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng.Nhà nước sử dụng NS của mình như một phương tiện vật chất, một công
cụ tác động vào hoạt động kinh tế đối ngoại theo hướng tranh thủ cơ hội đểphát triển Ở điều kiện nhất định, Nhà nước ban hành hệ thống những cơ chếchính sách để thực hiện, đồng thời sử dụng NSNN hỗ trợ trực tiếp hoặc gián
Trang 10đẩy và khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu phát triển.
Thứ năm, NSNN là công cụ kinh tế để Nhà nước thực hiện việc điều
hành quản lý, kiểm soát nền kinh tế
Vốn NSNN chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố đầu vào của nền sảnxuất xã hội Vì vậy, để xác định rõ vị trí, vai trò của NS trong nền kinh tế và
để đạt mục tiêu sử dụng vốn NS có hiệu quả đòi hỏi phải nắm được thực trạngcác nguồn lực của cả nền kinh tế
Thứ sáu, NSNN trực tiếp ĐTPT nguồn nhân lực, trí lực (giáo dục, đào
tạo, y tế, văn hóa, khoa học ) thực hiện nhiệm vụ phát triển xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, để đảm bảo hài hòa lợi ích của các thànhviên tham gia sản xuất và lợi ích chung của toàn xã hội, việc phân phối nguồn
NS được ưu tiên thực hiện một số chính sách xã hội, bù đắp những khiếmkhuyết của thị trường, thực hiện công bằng xã hội [1]
1.1.3 Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước
1.1.3.1 Khái niệm
Phân cấp quản lý NS là quá trình Nhà nước trung ương và cấp tỉnh phângiao những nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho các cấp chínhquyền ở địa phương trong hoạt động quản lý thu, chi NSNN
Phân cấp quản lý NSNN được xem như là một trong những biện phápquản lý NSNN Thực chất của việc phân cấp quản lý NSNN là việc phân chiatrách nhiệm, quyền hạn trong quản lý hoạt động của NSNN cho các cấp chínhquyền nhằm làm cho hoạt động của NSNN được lành mạnh và đạt hiệu quảcao Phân cấp quản lý thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc thốngnhất, tập trung dân chủ
Tư tưởng chỉ đạo trong phân cấp quản lý NSNN theo Luật NSNN làphân định cụ thể nhiệm vụ thu chi cho NS mỗi cấp
Trang 11Trong đó nội dung chính về phân cấp quản lý thu NSNN: Tập trung đại
bộ phận nguồn thu lớn, ổn định cho NSTW, đồng thời tạo cho NSĐP có nguồnthu gắn với địa bàn Trên tinh thần đó, nguồn thu được chia thành 3 loại:
- Các khoản thu NSTW hưởng 100%;
- Các khoản thu NSĐP hưởng 100%;
- Các khoản thu điều tiết theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trungương và ngân sách địa phương [24]
1.1.3.2 Các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN: Có 4 nguyên tắc chính
Thứ nhất, phù hợp với phân cấp quản lý KTXH, quốc phòng, an ninh
và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn
Thứ hai, đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW và vị trí độc lập củaNSĐP trong hệ thống NSNN thống nhất
Thứ ba, phân định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi của từng cấp ngânsách; làm rõ nguồn thu và nhiệm vụ chi nào gắn với ngân sách trung ương,nguồn thu và nhiệm vụ chi nào gắn với ngân sách các cấp ở địa phương; từ đólàm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, tạo điều kiện cho các cấp chínhquyền địa phương, nhất là các cấp cơ sở chủ động thực hiện nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn, hạn chế tình trạng trông chờ, ỷ lại của ngânsách cấp dưới và bao biện từ ngân sách cấp trên
Thứ tư, đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp NSNN
Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước phải đảm bảo yêu cầu cân đốiphát triển chung của đất nước, hạn chế đến mức thấp nhất sự chênh lệch vềkinh tế, văn hóa, xã hội giữa các vùng lãnh thổ Yêu cầu của nguyên tắc nàyxuất phát từ các vùng, các địa phương trong một quốc gia có những đặc điểm
tự nhiên, xã hội và trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều Nếumột hệ thống ngân sách Nhà nước được phân cấp đơn giản, áp dụng như nhau
Trang 12cho tất cả các địa phương rất có thể dẫn tới những bất công bằng, tạo ranhững khoảng cách lớn về sự phát triển giữa các địa phương Những vùng đôthị hoặc những vùng có tiềm năng thế mạnh lớn ngày càng được phát triển;ngược lại những vùng nông thôn, miền núi không có các tiềm năng, thế mạnh
sẽ bị tụt hậu [17]
1.2 THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của thu Ngân sách nhà nước
1.2.1.1 Khái niệm
Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trungmột phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thoả mãn cácnhu cầu của Nhà nước Xét về hình thức, thu NSNN là một hoạt động, là quátrình của nhiều hành vi, hành động của Nhà nước Xét về nội dung, thuNSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các quyền lực có được của mình đểđộng viên, phân phối một bộ phận của cải của xã hội dưới dạng tiền tệ về tayNhà nước nhằm hình thành nên quỹ NSNN [4]
1.2.1.2 Đặc điểm
Thu NSNN có những đặc điểm sau đây:
- Thu NSNN gắn liền với quyền lực của Nhà nước (mà chủ yếu làquyền lực chính trị);
- Thu NSNN được xác lập trên cơ sở luật định và vừa mang tính chấtbắt buộc, vừa không mang tính chất bắt buộc;
- Nguồn tài chính chủ yếu của thu NSNN là thu nhập của các thể nhân
và pháp nhân, được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước dưới nhiều hình thức,nhưng chủ yếu là thuế;
- Thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và các phạm trù: Giá cả,thu nhập, lãi suất ;
Trang 13- Thu NSNN gắn liền với hoạt động của Nhà nước Nhà nước đề ra chủtrương, phương hướng, mục tiêu thu NSNN trong một thời kỳ nhất định, xácđịnh rõ thu ở đâu? Lĩnh vực nào là chủ yếu? Hình thức nào là tốt nhất? Xácđịnh rõ tỷ lệ thu hoặc một con số thu cụ thể nào đó Từ đó Nhà nước đề ra cơchế chính sách, luật lệ về thu NSNN nhằm đạt được phương hướng mục tiêu
đề ra Đồng thời Nhà nước tổ chức bộ máy thu, tổ chức thu và đảm bảo cácđiều kiện cho công tác thu
Tóm lại, thu NSNN thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc giagiữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực chính trị củaNhà nước nhằm giải quyết hài hoà các mặt lợi ích kinh tế Sự phân chia đó làtất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhànước, cũng như thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình Đối tượng phânchia là thu nhập xã hội - đây là kết quả lao động sản xuất trong nước tạo radưới hình thức tiền tệ [1]
1.2.2 Cơ chế phân chia nguồn thu NSNN
Cơ chế phân chia nguồn thu NSNN, được hiểu là tập hợp các nguyêntắc, tình hình, phương pháp phân chia các khoản thu thuộc quỹ NSNN mộtcách hợp lý cho các cấp ngân sách
Cơ chế phân chia nguồn thu NSNN thuộc cơ chế kinh tế Mỗi cơ chếkinh tế đều có đặc điểm riêng ảnh hưởng trực tiếp đối với việc sử dụng cáccông cụ kinh tế tài chính Do đó, để xác định được vai trò của cơ chế phânchia nguồn thu NSNN cần thiết phải đề cập tới đặc điểm của cơ chế này
Đặc điểm bao trùm của cơ chế phân chia nguồn thu NSNN là sự can
thiệp của Nhà nước vào phân phối các khoản thu giữa các cấp ngân sách dựatrên các quy luật khách quan và các yêu cầu của quản lý nhằm đảm bảo vaitrò chủ đạo của NSTW và tính năng động sáng tạo các cấp chính quyền địa
Trang 14phương Đảm bảo ngân sách các cấp đều đủ khả năng để đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của bộ máy quản lý Nhà nước và thực hiện các chức năng nhiệm
vụ của mình
Đặc điểm thứ hai của cơ chế phân chia nguồn thu ngân sách Nhà nước
là sự phù hợp giữa khả năng và thực tiễn, phù hợp với trình độ phát triển kinh
tế và quản lý Nhà nước Cơ chế phân chia nguồn thu ngân sách Nhà nướcphải căn cứ vào hệ thống tổ chức bộ máy, bản chất của các khoản thu, đảmbảo hài hoà lợi ích của xã hội
Đặc điểm thứ ba của cơ chế phân chia nguồn thu NSNN là tính cơ động
của nó Do cơ chế phân chia nguồn thu ngân sách Nhà nước mang tính chủquan, vì vậy trong quá trình thực hiện cần thấy rõ các mâu thuẫn để có hướngđiều chỉnh cho thích hợp Song nói như vậy không có nghĩa là phải luôn luônthay đổi cơ chế, mà khi ban hành cơ chế phải tính toán đến sự ổn định nhấtđịnh của nó [15]
1.2.3 Nội dung và hình thức các khoản thu NSNN
1.2.3.1 Nguồn thu và thu nhập của ngân sách
Để tồn tại và phát triển, Nhà nước cần tập trung vào tay mình lượng củacải vật chất dưới dạng tiền tệ nhất định Nhưng lấy nó ở đâu? Từ nguồn nào ?
Nguồn thu của NSNN là nơi cung cấp số thu cho NSNN thông qua quátrình tác động vào đối tượng thu để điều tiết một phần của cải về cho Nhà nước
Có rất nhiều loại nguồn thu
Nếu căn cứ vào sự biểu hiện của nguồn thu, ta có thể chia ra nguồn thutrực tiếp và nguồn thu tiềm năng
Nguồn thu trực tiếp là nguồn thu đã thể hiện bằng tiền, chỉ cần có một
số tác động nào đó thì sẽ thu được một phần về cho ngân sách Nhà nước Ởnhững biểu hiện cụ thể, thì đó là tiền lương, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập
Trang 15doanh nghiệp, vốn, thu nhập cá nhân vv Ở tầm vĩ mô thì nguồn thu thể hiệnqua tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP).Thông thường chúng ta hay dùng GDP.
Nguồn thu tiềm năng là những nguồn thu chưa thể hiện bằng tiền,
nhưng có khả năng thành tiền trong một thời gian gần Đó là đất đai, tàinguyên, khoáng sản
Nguồn thu trực tiếp cho phép xác định thu ngân sách Nhà nước tronghiện tại, còn nguồn thu tiềm năng cho phép xác định khả năng thu ngân sáchNhà nước trong tương lai
Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng các nguồn thu và tính toán mức bộichi ngân sách, chúng ta có thể phân chia thành nguồn thu trong cân đối và thungoài cân đối ngân sách
Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu được đưa vào công thức
xác định mức bội chi ngân sách Đây chính là nội dung kinh tế của bội chingân sách
Thu trong cân đối ngân sách được hiểu bao gồm các khoản thu vào quỹngân sách mà khoản thu đó không kèm theo, không làm phát sinh nghĩa vụhoàn trả trực tiếp
Ngoài ra, căn cứ vào nơi phát sinh nguồn thu người ta có thể chia ra:Nguồn thu trong nước và nguồn thu ngoài nước, nguồn thu theo lĩnh vực(công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ), nguồn thu theo thành phần kinh tế
Trong quá trình thu, Nhà nước tập trung được một lượng tiền nhất địnhvào ngân sách Nhà nước Kết quả thu được đó, được gọi là thu nhập ngânsách Nhà nước Thu nhập ngân sách Nhà nước (hay còn gọi là số thu NSNN)
là mục tiêu của quá trình thu và nó thuộc quyền sở hữu của Nhà nước
Trang 16Như vậy, giữa nguồn thu NSNN và thu nhập của ngân sách Nhà nước
có mối quan hệ biện chứng Nguồn thu thể hiện khả năng, còn thu nhập củaNSNN thể hiện thực hiện một phần của khả năng Mối quan hệ đó thườngđược biểu hiện bằng tỷ lệ động viên của NSNN hay tỷ lệ thu NSNN và đượctính bằng công thức:
tế khác nhau thì cơ cấu các hình thức thu cũng khác nhau
Hiện nay có những hình thức thu cơ bản sau đây:
- Thu thuế: Thuế là một biện pháp tài chính bắt buộc (phi hình sự) của
Nhà nước nhằm động viên một bộ phận thu nhập từ lao động, của cải, vốn, từviệc chi tiêu hàng hoá dịch vụ và từ việc lưu giữ, chuyển dịch tài sản của cácthể nhân và pháp nhân nhằm trang trải các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.Việc thu thuế bao giờ cũng được thể chế bằng hệ thống pháp luật
Nhà nước là người đại diện cho người dân, Nhà nước thay mặt cho xãhội cung cấp cho mọi người dân hàng hoá và dịch vụ công cộng thuần tuý,nên Nhà nước với quyền lực chính trị của mình quy định thuế để coi phần nộp
Trang 17mà người dân trích một phần thu nhập của mình không mua hàng hoá phục vụcho cá nhân, mà coi như trả cho hàng hoá dịch vụ công cộng của Nhà nước.Nhà nước thu thuế không phải nô dịch, bóc lột công dân, mà thực chất làngười đại diện cho xã hội, được xã hội giao phó cho việc cung ứng hàng hoádịch vụ công cộng, mà thuế là nguồn lực tạo ra hàng hoá dịch vụ công cộngđó.
- Thu phí và lệ phí: Trong điều kiện kinh tế thị trường, đối với hàng hoá
dịch vụ tư nhân, khi người dân muốn nhận một sản phẩm hàng hoá dịch vụnào đó thì buộc họ phải đưa ra một lượng giá trị tương đương để trao đổi theonguyên tắc ngang giá Còn khi thụ hưởng hàng hoá dịch vụ công cộng thì việctrả các chi phí phức tạp hơn Cụ thể :
+ Hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp thì việc thu hồi chi phíthực hiện theo giá quy định của Nhà nước; giá này thường ít bị chi phối bởiquy luật thị trường
+ Đối với dịch vụ công cộng vô hình do Nhà nước cung cấp, việc lượnghoá chi phí cụ thể để từng người dân phải trả khi thụ hưởng các dịch vụ nàytheo nguyên tắc ngang giá là rất khó thực hiện, nên việc thu hồi chi phí trựctiếp cũng rất khó khăn Do vậy, nhiều nước trên thế giới đều dùng công cụthuế (chủ yếu là thuế gắn thu để thu hồi các chi phí này)
+ Đối với dịch vụ công cộng hữu hình do Nhà nước cung cấp, thì Nhànước cũng phải xác định "giá phí" mà người thụ hưởng phải thanh toán Tuynhiên "giá phí" này thường thường không hoàn toàn vì mục đích kinh tế, màcòn mang ý nghĩa chính trị, xã hội Do đó, chúng phổ biến là không tính đủchi phí và không bị chi phối nhiều bởi các yếu tố thị trường
Như vậy, thu phí của Nhà nước thực chất là Nhà nước thu hồi một phầnhay toàn bộ chi phí đầu tư cung cấp dịch vụ công cộng hữu hình cho xã hội,
Trang 18đồng thời cũng là các khoản chi phí mà người dân phải trả khi thụ hưởng cácdịch vụ công cộng đó.
Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, một số cơ quan thuộc bộ máy Nhànước còn cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý cụ thể cho dân chúng.Người dân thụ hưởng dịch vụ này cũng phải trả một phần chi phí Tuy thế,việc thu khoản tiền này hoàn toàn không có ý nghĩa là thu hồi một phần chiphí do cơ quan của bộ máy Nhà nước bỏ ra, ở đây không phải là thu phí,không phải là giá dịch vụ, mà khoản thu này chủ yếu phục vụ yêu cầu quản lýNhà nước Người dân thụ hưởng dịch vụ này có nghĩa vụ nộp cho Nhà nướcmột khoản tiền Đây chính là các khoản lệ phí Như vậy, lệ phí là khoản thuphát sinh ở các cơ quan của bộ máy chính quyền Nhà nước có cung cấp dịch
vụ công cộng về hành chính, pháp lý cho dân chúng Lệ phí thường là khoảnthu nhỏ, rải rác, lẻ tẻ, chủ yếu phát sinh ở các địa phương
Thu phí và lệ phí nhằm tạo nên thu nhập, bù đắp chi tiêu của Nhà nước
ở các lĩnh vực tạo ra hàng hoá dịch vụ công cộng, hành chính, pháp lý, gópphần thực hiện công bằng xã hội khi hưởng thụ các hàng hoá dịch vụ côngcộng của dân chúng Đồng thời, qua việc thu phí và lệ phí, Nhà nước thựchiện việc quản lý và kiểm soát có hiệu quả hơn các hoạt động xã hội trongkhuôn khổ pháp luật, giúp cho người dân nâng cao ý thức trách nhiệm đối vớicác giá trị vật chất và tinh thần của cộng đồng xã hội
Thu thuế, phí và lệ phí là những khoản thu thường xuyên, chiếm từ 90 95% trong tổng số thu NSNN
Ngoài những khoản thu thường xuyên, chúng ta còn có những khoảnthu không thường xuyên:
+ Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước (như thu hồi vốn,chia lãi góp vốn, thu hồi tiền vay, phụ thu, thu chênh lệch giá vv );
Trang 19+ Thu sự nghiệp: Đây là khoản thu gắn liền với hoạt động sự nghiệp;+ Thu hồi quỹ dự trữ Nhà nước;
+ Thu tiền sử dụng đất, thu tiền cho thuê đất;
+ Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội;
+ Tiền bán tài sản, cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước trong cácđơn vị hành chính sự nghiệp;
+ Các di sản Nhà nước được hưởng;
+ Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong vàngoài nước Đây là khoản đóng góp thường mang tính chất nhân đạo;
+ Thu tiền kết dư ngân sách năm trước;
+ Thu tiền phạt, tiền bán hàng tịch thu;
+ Thu viện trợ bằng tiền, bằng hiện vật của Chính phủ các nước, các tổchức và các cá nhân nước ngoài;
+ Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ để bù đắpbội chi ngân sách và các khoản huy động vốn đầu tư của các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương;
+ Các khoản thu khác theo pháp luật quy định: Là những khoản thukhông quy định ở trên, như: Thu về hợp tác lao động với nước ngoài, thu hồitiền thừa năm trước [17]
1.2.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN
Như đã phân tích ở trên, nguồn thu NSNN là tổng thu nhập quốc nộinhưng số thu NSNN lại đặc trưng bởi tỷ lệ động viên nguồn thu Đó là nộidung chính của thu NSNN là xác định mức động viên và các lĩnh vực cầnđộng viên Việc xác định đúng đắn mức động viên và các lĩnh vực động viên
Trang 20không những ảnh hưởng đến số thu NSNN mà còn có tác động đến quá trìnhphát triển kinh tế xã hội Mức động viên và các lĩnh vực động viên của thuNSNN chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội của mỗiquốc gia Song trong thực tế, những nhân tố chủ yếu sau đây ảnh hưởng trựctiếp đến thu NSNN:
- Thu nhập GDP bình quân đầu người: Chỉ tiêu thu nhập GDP bình
quân đầu người phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển của một quốc gia,phản ảnh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước Thu nhậpGDP bình quân đầu người càng cao thì khả năng tiêu dùng của dân chúngđược bảo đảm, đồng thời người dân cũng có điều kiện tiết kiệm để đầu tư vàosản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển.Ngược lại nếu mức thu nhập GDP bình quân đầu người quá thấp không đủ đểtiêu dùng, thì sẽ không có nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế Như vậy thunhập GDP bình quân đầu người là yếu tố thu khách quan quyết định mức độđộng viên của NSNN: Thu nhập càng cao thì tỷ lệ động viên càng cao vàngược lại
- Nguồn thu tiềm năng: Nó thể hiện khả năng thu trong tương lai nhưng
rất dễ trở thành hiện thực trong hiện tại Trong nguồn thu tương lai thì tàinguyên và khoáng sản có ý nghĩa quan trọng nhất
- Mức độ trang trải chi phí của Chính phủ: Thu NSNN là nhằm mục
đích trang trải các chi phí của Chính phủ Mức độ trang trải chi phí của Chínhphủ phụ thuộc vào:
+ Quy mô tổ chức và hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước;
+ Đường lối, chủ trương và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,đảm bảo quốc phòng an ninh trong từng thời kỳ lịch sử;
+ Cơ chế chính sách của Nhà nước về sử dụng kinh phí
Trang 21- Tổ chức bộ máy thu nộp: Trong quá trình thu NSNN cần tổ chức bộ
máy thu nộp Bộ máy thu NSNN phải tổ chức gọn nhẹ nhưng bao quát hếttoàn bộ nguồn thu, thu đúng, thu đủ, thu theo Luật định Bộ máy thu ngânsách phải đảm bảo được nguyên tắc thu ngân sách nhiều nhất, chi phí thu ítnhất
Ngoài ra thu ngân sách Nhà nước còn chịu ảnh hưởng của một số nhân
tố khác, như hoạt động kinh tế đối ngoại, sự ổn định về chính trị - xãhội v.v [17]
1.2.4 Phân định nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương
1.2.4.1 Nguồn thu từ các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%
Bao gồm: Thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu; thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hoá nhập khẩu; thuế thu nhập doanhnghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành; các khoản thuế và thu khác từcác hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, tiền thuê mặt đất, mặt nước; tiềnthu hồi vốn của ngân sách trung ương tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền chovay của ngân sách trung ương (cả gốc và lãi), thu từ quỹ dự trữ tài chính củatrung ương, thu nhập từ vốn góp của ngân sách trung ương Viện trợ khônghoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoàicho chính phủ Việt Nam; phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từcác khoản phí và lệ phí do các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương tổ chức thukhông kể phí xăng, dầu và lệ phí trước bạ; phần nộp ngân sách theo quy địnhcủa pháp luật các khoản thu sự nghiệp của các đơn vị do các cơ quan trungương trực tiếp quản lý; chênh lệch thu lớn hơn chi của ngân hàng nhà nướcViệt Nam; thu kết dư ngân sách trung ương; thu chuyển nguồn ngân sách từngân sách TW năm trước chuyển sang; các khoản phạt tịch thu và thu kháccủa ngân sách TW theo quy định của pháp luật [24]
Trang 221.2.4.2 Nguồn thu từ các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%
Bao gồm: Thuế nhà, đất; thuế tài nguyên không kể thuế tài nguyên thuđược từ hoạt động dầu khí; thuế môn bài; thuế chuyển quyền sử dụng đất; tiềncho thuê đất, thuê mặt nước không kể tiền thuê mặt nước thu từ hoạt động dầukhí, tiền đền bù thiệt hại đất; tiền thuê bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước; lệphí trước bạ; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; thu nhập từ vốn góp của ngânsách địa phương; tiền thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các cơ sở kinh
tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh; viện trợ không hoàn lại của các tổchức cá nhân nước ngoài trực tiếp cho địa phương theo quy định của phápluật
Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí
do các cơ quan, đơn vị thuộc địa phương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu
và lệ phí trước bạ; Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác; phầnnộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự nghiệp của cácđơn vị do địa phương quản lý Huy động từ các tổ chức cá nhân theo quy địnhcủa pháp luật; đóng góp tự nguyện của các tổ chức cá nhân ở trong và ngoàinước; thu từ huy động xây dựng
Các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 củaLuật ngân sách nhà nước; thu từ kết dư ngân sách địa phương; các khoảnphạt, tịch thu và thu khác của ngân sách địa phương theo quy định của phápluật; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên; thu chuyển nguồn từ ngân sách địaphương năm trước sang ngân sách địa phương năm sau [24]
1.2.4.3 Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương
Do điều kiện kinh tế - xã hội, tự nhiên của các địa phương khác nhau,trình độ phát triển không đều, do đó số thu và yêu cầu chi của địa phương
Trang 23cũng không giống nhau Vì vậy, ngoài các khoản thu từng cấp được hưởng100% nêu trên, Luật ngân sách năm 2002 ở nước ta còn quy định có một sốkhoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách các cấp trung ương
và địa phương (tỉnh, thành phố) Các khoản đó là: Thuế giá trị gia tăng (không
kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu) và thuế giá trị gia tăng thu từ hoạtđộng xổ số kiến thiết; Thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế thu nhậpdoanh nghiệp của các đơn vị hoạch toán toàn ngành (theo quy định của BộTài chính) và thuế thu nhập từ các hoạt động xổ số kiến thiết Thuế thu nhậpvới người có thu nhập cao (không kể các khoản thuế và thu khác từ hoạt độngthăm dò, khai thác dầu khí, tiền thuê mặt đất, mặt nước); thuế tiêu thu đặc biệtthu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước (không kể thuế tiêu thụ đặc biệt thu từhoạt động xổ số kiến thiết, phí xăng, dầu)
Tỷ lệ phần trăm các khoản thu phân chia chính là cái “van” điều chỉnhnguồn thu giữa các địa phương, bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa các địaphương Địa phương nào có điều kiện phát triển kinh tế thuận lợi, có nguồnthu lớn thì tỷ lệ (%) này thấp; ngược lại, địa phương nào kinh tế chậm pháttriển, nguồn thu nhỏ thì tỷ lệ này tăng lên Tỷ lệ phân chia này do Chính phủquyết định cho tất cả các khoản thu phân chia, được xác định riêng từng tỉnh(thành phố)
Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu (và bổ sung cân đối từngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới) được ổn định từ 3-5 năm (gọi làthời kỳ ổn định ngân sách) Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phươngđược sử dụng nguồn tăng thu ngân sách hàng năm (phần ngân sách địaphương được hưởng) để chi cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trênđịa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối,phát triển ngân sách tại địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung ngân sách
Trang 24từ cấp trên hoặc tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết thu nộp về ngân sách cấp trên(đối với các địa phương có điều tiết ngân sách về cấp trên) [24].
Các khoản thu phân chia giữa ngân sách tỉnh (thành phố) với ngân sáchhuyện (thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) gồm: Thuế chuyển quyền sử dụngđất; thuế nhà đất; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụngđất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà đất
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định nguồn thu cho các cấp chính quyềnhuyện, xã theo nguyên tắc phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế; phân địnhnguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể; phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi ổn địnhtheo thời gian của thời kỳ ổn định ngân sách Kết thúc mỗi thời kỳ ổn định ngânsách sẽ có sự điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) và bảo đảm yêu cầu sau:
- Gắn với nhiệm vụ và khả năng quản lý của từng cấp, hạn chế việc bổsung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; khuyến khích các cấptăng cường quản lý thu, chống thất thu, hạn chế phân chia nguồn thu quy mônhỏ cho nhiều cấp
- Ngân sách xã, thị trấn được hưởng tối thiểu 70% đối với 5 khoản thu:Thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế nhà đất; thuế môn bài thu từ cá nhân,
hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước
Trang 25Luật ngân sách năm 2002 quy định các tỷ lệ 70% và 50% chỉ là tỷ lệphần trăm tối thiểu, HĐND tỉnh vẫn là cơ quan quy định nguồn thu và tỷ lệphân chia Tỷ lệ phân chia của TW cho tỉnh và tỉnh với cấp huyện được thựchiện theo nguyên tắc: Mỗi địa phương có một tỷ lệ thống nhất cho các khoảnthu phân chia (tỷ lệ thống nhất cho các khoản thu thuộc diện phân chia) Tỷ lệnày được tính theo công thức dưới đây và thông báo cho các địa phương vàonăm đầu thời kỳ ổn định.
Trong đó:
* A là tổng số chi ngân sách địa phương (không bao gồm số bổ sung)
* B là tổng số các khoản thu ngân sách địa phương được hưởng 100%(không bao gồm số bổ sung)
* C là tổng số các khoản thu được phân chia giữa ngân sách trung ương
và ngân sách địa phương
- Nếu A-B<C thì địa phương được giữ lại tỷ lệ % đó cho ngân sách địaphương, phần còn lại được điều tiết về cho ngân sách trung ương
- Nếu A-B>C thì tỷ lệ % chỉ được tính bằng 100% và phần chênh lệch(A-B-C) sẽ được cấp bổ sung thêm từ ngân sách trung ương
- Nếu A-B=C thì tỷ lệ % là 100% và địa phương tự cân đối [24]
1.2.5 Phân định nhiệm vụ thu đối với ngân sách cấp huyện, quận
Theo quy định của Luật, huyện (quận) là một cấp ngân sách thuộc ngânsách địa phương và là một cấp ngân sách hoàn chỉnh thuộc Ngân sách nhànước Ủy ban nhân dân cấp huyện là người điều hành ngân sách cấp mình.Nguồn thu 100% của huyện bao gồm: Thuế môn bài (trừ thuế môn bàithu từ các cá nhân và nhóm kinh doanh nhỏ ở xã, thị trấn); các khoản phí, lệphí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc cấp huyện quản lý; tiền thu từ hoạtđộng sự nghiệp của các cơ quan, đơn vị do cấp huyện quản lý; viện trợ không
Tỷ lệ phần trăm (%) = A - BC x 100%
Trang 26hoàn lại của pháp luật; đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựngcác công trình kết cấu hạ tầng theo quy định; đóng góp tự nguyện của các tổchức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện; thu kết dưngân sách cấp huyện; bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh; các khoản thu khác theoquy định của pháp luật.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp tỉnh,ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã gồm: Thuế chuyển quyền sử dụngđất; thuế nhà, đất; tiền sử dụng đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế tàinguyên; lệ phí trước bạ; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước vàmột số khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh được phân chia với ngânsách cấp tỉnh theo tỷ lệ phần trăm khoản thu lệ phí trước bạ, không kể lệ phítrước bạ nhà đất phát sinh trên địa bàn do HĐND tỉnh quyết định nhưngkhông dưới 50%
1.2.6 Phân định nhiệm vụ thu đối với ngân sách cấp xã
Theo quy định của Luật, ngân sách cấp xã có các nguồn thu sau:
Nguồn thu 100% gồm: Thuế môn bài thu từ các cá nhân và nhóm kinhdoanh nhỏ; thuế sát sinh; các khoản phí, lệ phí và đóng góp thu cho ngân sách
xã theo quy định của pháp luật; thu hoa lợi công sản khác; tiền thu từ hoạtđộng sự nghiệp do xã, thị trấn quản lý; các khoản đóng góp tự nguyện cho xã,thị trấn; viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở trong và ngoàinước trực tiếp cho các xã, thị trấn theo quy định của pháp luật; thu kết dưngân sách xã, thị trấn; bổ sung từ ngân sách cấp trên; các khoản thu khác theoquy định của pháp luật
Nguồn thu điều tiết gồm: Thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất,thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với
Trang 27hàng sản xuất trong nước Tỷ lệ phân chia các nguồn thu này do UBND cấptỉnh quy định nhưng không dưới 70%.
1.3 LẬP VÀ CHẤP HÀNH DỰ TOÁN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.3.1 Lập dự toán thu ngân sách Nhà nước
Sau khi nhận được thông tin hướng dẫn từ cấp trên xuống, quá trình lập
dự toán được tiến hành từ cơ sở và tổng hợp từ dưới lên Thời gian lập dựtoán được quy định từ 10/6 hàng năm Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệmtrong việc thu, chi ngân sách phải tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách trongphạm vị nhiệm vụ được giao và báo cáo cơ quan tài chính cùng cấp Cơ quantài chính cấp địa phương xem xét dự toán của các cơ quan, đơn vị cùng cấp và
dự toán ngân sách của chính quyền cấp dưới tổng hợp, lập dự toán và phương
án phân bổ ngân sách địa phương để trình Ủy ban nhân dân cùng cấp Ủy bannhân dân cùng cấp có trách nhiệm lập dự toán và phương án phân bổ ngânsách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo cơquan hành chính Nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên Bộ Tài chính xem xét
dự toán ngân sách của các cơ quan trung ương, dự toán ngân sách địa phương,tổng hợp và lập dự toán ngân sách Nhà nước trình Chính phủ Được chiathành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Hướng dẫn lập dự toán ngân sách và thông báo số kiểmtra
- Giai đoạn 2: Lập và thảo luận dự toán ngân sách
- Giai đoạn 3: Quyết định phân bổ, giao dự toán ngân sách Nhà nướcSau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi NS của UBNDcấp trên, UBND trình HĐND cùng cấp quyết định dự toán NSĐP và phương
án phân bổ dự toán NS cấp mình, bảo đảm dự toán NS cấp xã được quyếtđịnh trước ngày 31 tháng 12 năm trước [5]
Trang 281.3.2 Chấp hành ngân sách Nhà nước
1.3.2.1 Mục tiêu của chấp hành ngân sách Nhà nước
Chấp hành NSNN là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế,tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi NSNN đã được ghitrong dự toán NSNN hàng năm trở thành hiện thực
Để thực thi NS được hiệu quả, vai trò của khâu lập dự toán là hết sứcquan trọng Một NS dự toán tốt có thể được thực hiện không tồi, nhưng một
NS lập tồi thì không thể thực hiện tốt Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa làquá trình thực hiện NS chỉ đơn thuần là đảm bảo tuân thủ NS như dự kiến banđầu, mà phải thích ứng với các thay đổi khách quan trong quá trình thực hiện,đồng thời tính đến hiệu quả hoạt động
Mục tiêu của chấp hành NSNN là:
- Biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong dự toán NS năm từ khả năng, dựkiến trở thành hiện thực Từ đó, góp phần thực hiện các chỉ tiêu của kế hoạchphát triển KTXH của Nhà nước
- Kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức
về kinh tế - tài chính của Nhà nước Thông qua chấp hành NSNN mà tiếnhành đánh giá sự phù hợp của chính sách với thực tiễn
- Trong công tác quản lý điều hành NSNN, chấp hành NSNN là khâuquan trọng có ý nghĩa quyết định Khâu lập dự toán đạt kết quả tốt thì cơ bảncũng mới dừng ở trên giấy, nằm trong khả năng và dự kiến, chúng có biếnthành hiện thực hay không còn tùy thuộc vào khâu chấp hành NS Hơn nữa,chấp hành NS thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khâu tiếp theo làquyết toán NSNN [3]
1.3.2.2 Nội dung tổ chức chấp hành thu ngân sách Nhà nước
Trang 29Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinhtrong quý, cơ quan thu lập dự toán thu NS quý chi tiết theo khu vực kinh tế, địabàn và đối tượng thu chủ yếu, gửi cơ quan tài chính cuối quý trước
Thu ngân sách Nhà nước được thực hiện theo Luật (các luật thuế, pháp lệnhphí và lệ phí ) Tất cả các nguồn thu đều được thực hiện thông qua hệ thốngkho bạc Nhà nước
Cơ quan thu bao gồm: cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính và các cơquan khác được Nhà nước giao nhiệm vụ thu NS Các khoản thu có tính chấtnội địa như thuế, phí, lệ phí thường do cơ quan Thuế thực hiện Cơ quan Hảiquan tổ chức thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàngnhập khẩu Cơ quan Tài chính và các cơ quan thu khác được ủy quyền thu cáckhoản thu còn lại của NSNN [3]
1.4 KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH CỦA MỘT SỐ NƯỚC
1.4.1 Thái Lan
Thái Lan là một nước lớn trong khu vực Đông Nam Á Diện tích 513.115
km2; dân số khoảng 63 triệu người Thái Lan tổ chức quản lý đất nước theo
mô hình “tam quyền phân lập” Hệ thống chính quyền được tổ chức như sau:cấp Trung ương (gồm Văn phòng nội các, 20 Bộ chuyên ngành; quỹ Trungương; các đơn vị theo quy định của Hiến pháp…); cấp địa phương: cấp tỉnh(Băng kok và Patrayja hưởng quy chế riêng); cấp đô thị, cấp xã
Ngân sách địa phương ở Thái Lan do Hội đồng dân cư địa phương quyếtđịnh trên cơ sở các chính sách kinh tế tài chính của Trung ương và phù hợpvới kế hoạch tài chính trung hạn Mô hình ngân sách của Thái Lan là mô hình
“không lồng ghép” Nghĩa là ngân sách của một cấp không tổng hợp từ ngânsách cấp dưới; về kết cấu ngân sách địa phương gồm 2 phần: phần 1 – Được
Trang 30không theo các quy định của địa phương Hội đồng dân cư địa phương thôngqua các khoản thu, chi trong từng niên độ thuộc thẩm quyền quyết định củađịa phương Đến nay có khoảng 35% nguồn thu ngân sách đã được giao chođịa phương Ở Thái Lan còn áp dụng nhiều hình thức trợ cấp ngân sách chocác địa phương: trợ cấp mục tiêu; trợ cấp không mục tiêu, trợ cấp chung, trợcấp đặc biệt.
Ở Trung ương quá trình dự toán ngân sách được bắt đầu từ tháng 11.Quy trình lập, phân bố ngân sách ở Thái Lan gồm 3 giai đoạn: giai đoạnchuẩn bị và xây dựng dự toán ngân sách (từ tháng 11 hàng năm đến tháng 6năm sau); giai đoạn thảo luận và thông qua dự toán ngân sách (tháng 6 đếntháng 9 trong năm) Giai đoạn điều chỉnh dự toán ngân sách (trong tháng 9).Quy trình và lập bổ sung ngân sách địa phương cũng được tiến hànhtương tự như ở Trung ương và được tiến hành song song với Trung ương[17]
1.4.2 Malaysia
Malaysia là nước đang phát triển trong cùng khu vực và có nhiều đặcđiểm kinh tế, tự nhiên tương đồng với Việt Nam và là Nhà nước liên bang Hệthống ngân sách Nhà nước của Malaysia bao gồm 3 cấp là:
- Ngân sách liên bang
- Ngân sách bang
- Ngân sách của chính quyền địa phương
Ngân sách liên bang, Ngân sách bang do Quốc hội xem xét, quyết định
và quyết định phần trợ cấp cho ngân sách địa phương Trong quá trình thựchiện, phát sinh các nhu cầu về khả năng thu, chi có ảnh hưởng tới dự toán đềuphải được đưa ra xin ý kiến Quốc hội, do đó ngân sách được xây dựng chặtchẽ và điều hành rất nghiêm ngặt Ngân sách các cấp chính quyền địa phương
Trang 31do chính quyền địa phương đó quyết định, phải đảm bảo nguyên tắc cân đốithu, chi.
Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách cho địa phương đượcthực hiện thông qua hệ thống pháp luật liên bang và bang
Nguồn thu của ngân sách liên bang bao gồm các khoản thuế trực thu(thuế thu nhập dân cư, thuế thu nhập công ty, thuế thu nhập từ dầu lửa, thuếphát triển); thuế gián thu (thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế VAT, thuếhàng hoá đặc biệt)… và các khoản thu có tính chất thuế như thuế tài nguyên,phí cấp phép, thu dịch vụ…
Nguồn thu của các bang và các cấp trực thuộc bang không giống nhau,mỗi bang có một nguồn thu riêng Các bang căn cứ vào Hiến pháp của bangđược tự quyết định một số loại thuế và các khoản thu của cấp trực thuộc bang.Nhìn chung, nguồn thu của bang và cấp trực thuộc bang là các nguồn thu nhỏ,hạn hẹp
Theo quy định của Hiến pháp liên bang, không có khoản thu phân chiagiữa liên bang, bang và các cấp trực thuộc bang [17]
1.4.3 Trung Quốc
Hệ thống ngân sách Nhà nước của Trung Quốc được chia thành ngânsách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách các cấp ở địa phươngbao gồm:
- Ngân sách tỉnh (khu tự trị, thành phố trực thuộc)
- Ngân sách thành phố trực thuộc tỉnh (châu tự trị)
- Ngân sách huyện (huyện tự trị)
Trang 32dự toán của trung ương, cho phép ngân sách các cấp ở địa phương được thựchiện quyền điều chỉnh dự toán, quyền sử dụng linh hoạt các nguồn lực tàichính, quyền thi hành những biện pháp tài chính cụ thể phù hợp với tình hìnhcủa địa phương.
- Về phân cấp nguồn thu:
+ Các khoản thu 100% của ngân sách trung ương bao gồm: Thuế thunhập doanh nghiệp trung ương quản lý, thuế thu nhập của các ngân hàng, thuếdoanh thu của ngành đường sắt, bảo hiểm, thuế tiêu thụ đặc biệt…
+ Các khoản thu 100% của ngân sách địa phương bao gồm thuế thu nhậpdoanh nghiệp của địa phương quản lý, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụngđất, thuế giao dịch chứng khoán, thuế đặc sản nông nghiệp, thuế sát sinh, thuếhợp đồng…
+ Các khoản phân chia giữa trung ương và địa phương bao gồm thuếVAT – trung ương 75%, địa phương 25%; thuế tài nguyên…
Với phương pháp phân định này, Trung Quốc thực hiện theo nguyên tắc
“4/6” có nghĩa là ngân sách trung ương kiểm soát ít nhất 60% tổng thu ngânsách nhà nước, 40% (trong số 60% ngân sách trung ương được hưởng) đượcchi ở cấp trung ương, còn lại 20% được phân bổ cho ngân sách địa phươngtheo hình thức trợ cấp
- Trung Quốc lập quỹ Hỗ trợ ngân sách trung ương đối với các địaphương Nguồn hình thành quỹ này được trích một phần trong số thu về ngânsách trung ương Ngân sách trung ương hỗ trợ cho ngân sách địa phương bằngnhiều hình thức như hỗ trợ chung, hỗ trợ có mục tiêu, bổ sung cho ngân sáchđịa phương Hình thức bổ sung (trợ cấp) nhằm giúp cho các địa phươngkhông có khả năng cân đối được thu, chi Hỗ trợ có mục tiêu nhằm khuyếnkhích các địa phương phát triển những lĩnh vực chung của đất nước
Trang 33Trong trường hợp bị mất khả năng cân đối thu, chi, ngân sách địaphương chủ yếu thực hiện điều chỉnh lại các khoản thu chi thuộc cấp mìnhquản lý Nếu trong phạm vi điều chỉnh vẫn không có khả năng cân đối đượcthì sẽ được nhận trợ cấp từ ngân sách cấp trên Ngân sách trung ương khi mấtkhả năng cân đối thu, chi có thể thực hiện bằng các hình thức vay nợ trongnước và ngoài nước [17].
1.4.4 Những bài học kinh nghiệm
Sau khi nghiên cứu tình hình quản lý ngân sách giữa trung ương và địaphương ở một số nước trên thế giới, để áp dụng vào tình hình tại địa phương,chúng tôi rút ra được một số nhận xét sau:
Thứ nhất, tổ chức hệ thống ngân sách phải phù hợp với hệ thống hành chính,Nhà nước chỉ có một ngân sách, tập hợp tất cả các khoản thu và khoản chi
Thứ hai, mọi khoản thu chi đều được quản lý qua ngân sách, không cótình trạng để ngoài ngân sách
Thứ ba, thực hiện nguyên tắc trung thực, mọi nghiệp vụ phát sinh đềuđược thể hiện chính xác, đầy đủ, đúng với nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Thứ tư, thực hiện nguyên tắc công khai, chính quyền các cấp đều phảicông bố công khai ngân sách trên các phương tiện thông tin đại chúng
Thứ năm, việc phân cấp quản lý ngân sách ở các nước không lồng ghép,ngân sách cấp trên không bao gồm ngân sách cấp dưới, ngân sách chính phủkhông bao gồm ngân sách địa phương; mổi cấp chính quyền tự lập, duyệt vàthực hiện ngân sách cấp mình
Thứ sáu, xu hướng chung là các khoản thu lớn được tập trung vào cấptrung ương nhằm tạo ra được “các cú đấm chiến lược” để tác động mạnh vào
cơ cấu kinh tế, tạo được các bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội, còncác khoản thu nhỏ để lại cho địa phương
Trang 34Thứ bảy, phân định thẩm quyền quyết định ngân sách Nhà nước giữa cáccấp rõ ràng kể từ khâu lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách [17].
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG THU TRONG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Lãnh thổ của huyện có toạ độ địa lý như sau:
Vĩ độ Bắc: 170 14’39”đến 170 43' 48”
Kinh độ Đông: 105058’ 3’’ đến 106035’ 573’’
Ranh giới hành chính của huyện:
- Phía Bắc giáp: huyện Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa;
- Phía Nam giáp: thành phố Đồng Hới và huyện Quảng Ninh;
- Phía Đông giáp: biển Đông;
- Phía Tây giáp: nước CHND Lào
2.1.1.2 Địa hình và khí hậu
a Địa hình: Địa hình có độ nghiêng lớn từ Tây sang Đông (từ biên giới
Việt – Lào xuống đến Biển Đông Toàn huyện có thể chia làm 4 dạng địa hìnhnhư sau:
- Địa hình núi đá vôi: Kiểu địa hình này chiếm phần lớn diện tích của
Trang 36Trạch, gồm khối núi đá vôi liên tục Đây chính là khối núi đá vôi liên tục rộnglớn nhất của Việt Nam
- Địa hình gò đồi: Đây là khu vực tiếp giáp địa hình núi đá vôi và vùng
đồng bằng Trên dạng địa hình này rất thuận tiện cho việc phát triển cây côngnghiệp dài ngày đặc biệt là cây cao su
- Địa hình đồng bằng: Vùng này địa hình tương đối bằng phẳng, có một
số đồi gò độ dốc nhỏ Ở dạng địa hình này rất thuận tiện cho việc phát triểntrồng lúa nước
- Địa hình ven biển: Đây là vùng hạ lưu có nhiều đầm phá ven các cửa
sông rất thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản
b Khí hậu: Mang đậm đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng
ven biển miền Bắc Trung Bộ Đây là một vùng có khí hậu rất khắc nhiệt.Hàng năm thường có nhiều trận bão lụt, nước biển dâng xảy ra gây thiệt hạikhông nhỏ đến kinh tế
2.1.2 Đặc điểm về nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Dân số và lao động
a Dân số: Trung bình năm 2007 là 176.540 người, trong đó 90,41%
sống ở khu vực nông thôn và 9,59% ở khu vực thành thị, mà chủ yếu là thịtrấn Hoàn Lão và thị trấn Nông trường Việt Trung Mật độ dân số chỉ có83người/km2, là một trong những huyện có mật độ dân số thưa của tỉnhQuảng Bình
Lao động: Theo số liệu thống kê năm 2007, số người trong độ tuổi lao
động là 92.248, chiếm tỷ lệ trên 52,3% tổng dân số Đây là tỷ lệ tương đối cao
so với một số vùng khác, nguyên nhân do cơ cấu dân số lứa tuổi trẻ chiếm tỷ
lệ rất cao (trên 70% dân số là lứa tuổi dưới 34) Tuy nhiên trong độ tuổi laođộng chỉ có 95,42% số người đang lao động trong các ngành kinh tế, số cònlại đang đi học hoặc không có khả năng lao động
Trang 372.1.2.2 Tài nguyên khoáng sản
a Tài nguyên biển và bờ biển
Huyện Bố Trạch có đường bờ biển dài trên 24km
Vùng biển Bố Trạch không sâu, cách xa bờ 20km độ sâu khoảng 20m,cách xa bờ 40km độ sâu khoảng 25m, ra đến 140km độ sâu cũng chỉ có 33m
Do biển không sâu nên diện tích bãi chiều của tất cả các xã ven biển rộng,khoảng 2.225ha Đây cũng là một yếu tố rất thuận lợi để xây dựng cơ sở nuôitrồng thuỷ sản và phát triển du lịch biển
b Tài nguyên đất
Là một huyện có tài nguyên đất đai khá đa dạng, Huyện có diện tích đất
đỏ vàng tương đối lớn (109.850 ha) chiếm gần 52% diện tích đất tự nhiên.Đây là loại đất chính để trồng cây lâu năm như cao su và cây ăn quả Huyệncòn có trên 9.000 ha đất phù sa, loại đất này là điều kiện đảm bảo an toànlương thực cho huyện
Tình hình sử dụng đất huyện Bố Trạch giai đoạn 2000 – 2007 được tổnghợp và trình bày tại bảng sau đây:
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất huyện Bố Trạch giai đoạn 2000 – 2007
Trang 38Loại đất Năm 2000 Năm 2005 Năm 2007
2.5 Đất sông suối và mặt nước CD 3.702,53 2.521,13
3 Đất chưa sử dụng 27.247,63 9.545,00 4.356,14
3.1 Đất bằng chưa sử dụng 3.120,18 2.936,22 2.632,78 3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 9.432,51 3.423,51 944,18 3.3 Núi đá không có rừng cây 14.694,94 3.185,27 779,18
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bố Trạch
c Tài nguyên khoáng sản
Bố Trạch được coi là một vùng có nguồn tài nguyên khoáng sản kháphong phú đã được điều tra khảo sát nhưng chưa được khai thác nhiều, baogồm: nguyên liệu hoá chất và phân bón có pyrit ở Xuân Sơn, đá vôi từ XuânSơn đến Troóc có trữ lượng 131.925 triệu tấn; đá ốp lát trang trí ở Phú Địnhvới nhiều loại có màu sắc đẹp như Granit, Gabro, diệp thạch, mỏ sét Cao lanh
ở Thọ Lộc với trữ lượng 800.000m3, nguồn cát xây dựng ở sông Dinh, sôngSon với trữ lượng lớn; cát trắng ở Thanh Khê trữ lượng 5 triệu tấn có khảnăng sản xuất thuỷ tinh
d Tài nguyên rừng
Hiện nay huyện có 176.084,89ha đất lâm nghiệp chiếm 82,9% diện tích
tự nhiên, trong đó: Diện tích rừng tự nhiên 52.870,86 ha, rừng đặc dụng
Trang 3991.743,9 ha, rừng phòng hộ 31.463,05 ha Thảm thực vật rừng rất đa dạng vàphong phú, có nhiều loại gỗ quý như: lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơ mu… vànhiều loại thú quý hiếm như: hổ, báo, hươu đen, trĩ sao, gà lôi Rừng trồngphần lớn là thông nhựa (diện tích 7.692 ha), phi lao, bạch đàn và keo các loại.Đất có khả năng lâm nghiệp còn khoảng trên 3.500ha.
Một phần diện tích của vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng nằm trênđịa phận của xã Tân Trạch và Thượng Trạch của huyện Bố Trạch Đây là khubảo tồn có độ che phủ và tỷ lệ rừng nguyên sinh lớn nhất trong các khu bảotồn thiên nhiên ở Việt Nam
e Tài nguyên du lịch
Bố Trạch là huyện được thiên nhiên ưu đãi có điều kiện sinh thái đadạng, bao gồm đầy đủ các cảnh quan sinh thái núi rừng, bờ biển, đồng bằng,đồi, trong đó có những nơi có thể xây dựng thành các điểm du lịch sinh thái,tắm biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí hấp dẫn khách du lịch trong nước vàquốc tế, trong đó các khu nổi tiếng như:
- Khu du lịch hang động và rừng quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng: là một
khu du lịch hết sức hấp dẫn với hệ thống hang động đã phát hiện có tổng chiềudài khoảng 106.000m và còn nhiều hang động chưa được thám hiểm Hệ thốnghang động kỳ thú này kết hợp với hệ sinh thái rừng đa dạng trên núi đá vôi vàsông suối tạo nên nhiều cảnh quan độc đáo thu hút các nhà nghiên cứu khoahọc và khách du lịch
- Khu du lịch bãi tắm Đá Nhảy: Nằm dưới chân đèo Lý Hoà thuộc địa
phận xã Hải Trạch đã được công nhận và xếp hạng là danh thắng quốc gia, làmột điểm du lịch hấp dẫn
Ngoài ra, trên địa bàn huyện có hệ thống di tích truyền thống - lịch sửhào hùng của dân tộc Việt Nam như: hệ thống đường Hồ Chí Minh, bến phà
Trang 40Xuân Sơn, Đường 20 và Hang Tám cô vv là điểm thu hút khách du lịchtrong và ngoài nước.
2.2 THỰC TRẠNG THU TRONG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH GIAI ĐOẠN 2005 – 2008
2.2.1 Tình hình thực hiện dự toán thu trong cân đối ngân sách trên địa bàn
Giai đoạn 2005 – 2008, công tác quản lý thu ngân sách Nhà nước trênđịa bàn huyện Bố Trạch có nhiều tiến bộ vượt bậc, số thu qua các năm luônđạt ở mức cao Chi cục Thuế huyện cùng các phòng, ban chuyên môn đã chủđộng tham mưu với UBND huyện, ban hành các Chỉ thị về chống thất thu,tăng thu cho ngân sách Nhà nước Trên cơ sở đó ngành Thuế đã phối hợp vớicác ngành để chống thất thu, chủ động đề xuất với cấp uỷ, chính quyền địaphương trong việc chỉ đạo công tác thuế, nhất là tăng cường quản lý thuếcông thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh Do đó đã tranh thủ được sựđồng tình của nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh Hàng năm, trên cơ
sở dự toán được giao, Chi cục Thuế đã phối hợp với Phòng Tài chính để thammưu cho UBND huyện tiến hành phân bổ và chỉ đạo các đơn vị xây dựng chỉtiêu phấn đấu tăng thu ngân sách, với số thu từ thuế và phí (trừ tiền sử dụngđất) tăng tối thiểu 5% so với dự toán được giao, đặc biệt chú trọng chỉ đạo thucác nguồn trong cân đối NSNN
Nhờ vậy kết quả thu trong cân đối ngân sách giai đoạn 2005 - 2008 đạtđược rất khả quan và đã góp phần tích cực trong việc củng cố nguồn thuNSNN trên địa bàn huyện Để từ đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụthu ngân sách và về đích sớm trước thời hạn quy định
Bảng 2.2 Tình hình thực hiện dự toán thu trong cân đối ngân sách và thu NSNN trên địa bàn huyện Bố Trạch giai đoạn 2005-2008