1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng

101 2K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Đối Với Hộ Nghèo Tại Thị Xã Bảo Lộc, Tỉnh Lâm Đồng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Luận Văn
Thành phố Bảo Lộc
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 583 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, chuyên đề, tiểu luận, bài tập, đề tài, ngân hàng, tài chính, vốn, đầu tư, tín dụng, cổ tức, tài chính, cổ phần

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đói nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu Nếu vấn đề nghèo đóikhông giải quyết được thì không mục đích nào mà cộng đồng quốc tế, quốcgia đặt ra như hòa bình, ổn định công bằng xã hội có thể giải quyết được.Đói nghèo và xoá đói giảm nghèo luôn luôn là mối quan tâm hàng đầucủa các quốc gia trên thế giới bởi vì giàu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh củađất nước Đói nghèo thường gây ra sự xung đột chính trị, xung đột giai cấp,dẫn đến bất ổn về xã hội, bất ổn về chính trị Mọi dân tộc tuy có thể khácnhau về khuynh hướng chính trị, nhưng đều có một mục tiêu là làm thế nào đểquốc gia mình, dân tộc mình giàu có

Trong hơn 60 năm qua Đảng và Nhà nước ta không ngừng nỗ lực phát triểnkinh tế, chăm lo nuôi dưỡng sức dân, thu hẹp diện đói nghèo, xóa dần khoảngcách giữa nông thôn và thành thị, giữa miền núi và đồng bằng Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã từng căn dặn: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải ra sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; Nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi” và “Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ dễ dàng thực hiện Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy thì cũng không thực hiện được”[10,572] Từ Hội nghị Trung ương lần thứ 5

khóa VII Đảng ta đã đề ra chủ trương xóa đói giảm nghèo trong chiến lược pháttriển nông nghiệp, nông thôn cũng như trong chiến lược phát triển KT-XH Vănkiện Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quantrọng đặc biệt của công cuộc xóa đói giảm nghèo (XĐGN) đã xác định phải đưa

hộ đói nghèo thoát khỏi tình trạng túng thiếu hiện nay và sớm hòa nhập với sựphát triển chung của đất nước

Trang 2

Để đạt được mục tiêu trên ngoài việc cố gắng tạo công ăn việc làm, pháttriển kinh tế gia đình, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp người nghèohiểu và biết cách kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Chính phủ còn tăngcường chủ trương tiếp cận tín dụng người nghèo nhằm khai thác mọi nguồnvốn và biết sử dụng đồng vốn có hiệu quả để phát triển kinh tế, XĐGN tiếntới cuộc sống ngày càng giàu có hơn Thực hiện chủ trương này Ngân hàngChính sách Xã hội (NHCSXH) và các tổ chức tín dụng khác như quỹ tín dụngnhân dân, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNN vàPTNT) đã và đang nỗ lực rất lớn trong việc thực hiện cơ chế cho vay, nhất

là thủ tục vay vốn ngày càng đơn giản để người nghèo dễ dàng và nhanhchóng tiếp cận với đồng vốn hơn

Ở tỉnh Lâm Đồng nói chung, thị xã Bảo Lộc nói riêng là nơi có nhiều tiềmnăng kinh tế lớn Ngoài khả năng phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tếcao như trà, cà phê, dâu tằm, nhiều loại cây ăn quả đặc sản, công nghiệp chếbiến, chăn nuôi gia súc, gia cầm v.v Đây còn là vùng có thể phát triển về dulịch tốt Mặc dù là vùng có nhiều tiềm năng lớn như vậy Song đến nay donhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, đặc biệt là do trình độvăn hóa, khoa học kỹ thuật (KHKT) của người dân còn thấp, nhiều thành phầndân tộc cùng sinh sống trên địa bàn, địa hình phân bố phức tạp, cơ sở hạ tầngcòn nghèo nàn, lạc hậu v.v Nên kinh tế của thị xã Bảo Lộc còn chậm pháttriển, sản xuất và đời sống của người dân ở đây còn nhiều khó khăn

Vấn đề phát triển kinh tế đang là một trong những nhiệm vụ hết sức quantrọng đặt ra trong công cuộc đổi mới kinh tế và gia nhập tổ chức thương mạithế giới (WTO) của nước ta Bởi vậy, kinh tế của thị xã Bảo Lộc được pháttriển vừa mang lại lợi ích cho quá trình tăng trưởng, vừa tạo điều kiện choviệc thực hiện công bằng xã hội, đồng thời sẽ nhanh chóng XĐGN Muốnkhai thác hết tiềm năng kinh tế của thị xã Bảo Lộc để phát triển sản xuất và

Trang 3

ổn định cuộc sống các hộ nghèo có điều kiện vươn lên làm giàu thì vấn đềvốn là nhu cầu lớn và cấp bách đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết kịp thời Đểđạt được mục đích đó phải kể đến vai trò của các tổ chức tín dụng đặc biệt làhoạt động cho vay vốn của NHCSXH đối với các hộ nghèo để phát triển kinh

tế, XĐGN trên địa bàn

Trước những đòi hỏi cấp thiết như vậy, tác giả chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng” làm luận văn thạc sỹ.

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụngcủa Ngân hàng Chính sách Xã hội cho các hộ nghèo tại thị xã Bảo Lộc, tỉnhLâm Đồng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khảo sát là Ngân hàng Chính sách Xã hội thị xã Bảo Lộc vàcác hộ gia đình nghèo hưởng lợi tham gia vay vốn nhằm phát triển kinh tế,xóa đói giảm nghèo

Trang 5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ

XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHÈO ĐÓI

1.1.1 Khái niệm và quan điểm về nghèo đói

1.1.1.1 Khái niệm

Quan niệm về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhómdân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể Tiêu chí chung nhất để xácđịnh nghèo đói là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơbản của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp

xã hội Sự khác biệt duy nhất là thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điềunày phụ thuộc vào trình độ phát triển KT - XH cũng như phong tục tập quáncủa từng vùng, từng quốc gia [1,11]

Ở Việt Nam chúng ta cho đến thời điểm này chuẩn nghèo đã thay đổiđến 5 lần Trong thực tế ở thời điểm nào đó của một vùng, một nước nào đóthì chỉ số này là nghèo đói hoặc giàu có Nhưng thời điểm khác, nước khác,vùng khác, dân tộc khác thì con số này không còn ý nghĩa Thật vậy, kháiniệm nghèo đói cũng ngày càng được mở rộng Nếu như nhu cầu hỗ trợ củanhiều người nghèo những năm 90 chỉ được giới hạn đến nhu cầu: “ăn no, mặcấm” thì ngày nay, người nghèo cần có nhu cầu được hỗ trợ về nhà ở, giáo dục,

y tế, văn hóa tức là nhu cầu “giảm nghèo và phát triển” Điều này có ý nghĩa

là các chính sách phát triển kinh tế cần hướng về người nghèo Tăng trưởngkinh tế là cần thiết, song lợi ích từ tăng trưởng không tự động chuyển đến cho

Trang 6

các hộ nghèo Người nghèo cần trở thành mục tiêu trong việc hoạch định cácchính sách phát triển [2,8].

Về khái niệm nghèo đói, tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy bankinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tạiBangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã

thống nhất cao và cho rằng “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”.

Nhà kinh tế học người Mỹ Galleraith chia sẻ với quan niệm rằng: “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để

họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng Khi đó

họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức”.

Chuyên gia hàng đầu của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) - ông Abapia

Sen, người được giải thưởng Nôben về kinh tế năm 1998 cho rằng “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng” Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người

nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựachọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựachọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn

Hội nghị thượng đỉnh Quốc tế về tín dụng vi mô đã nhận định “Nghèo đói là nỗi bức xúc của thời đại” và đã đưa ra khái niệm chung về nghèo đói

như sau: Người nghèo đói là những người có mức sống nằm dưới chuẩn mựcnghèo đói của từng quốc gia

Ngân hàng phát triển Châu Á đã đưa ra khái niệm nghèo đói tuyệt đối vànghèo đói tương đối như sau:

Trang 7

Nghèo đói tuyệt đối là sự thiếu hụt so với một mức sống (những nhucầu) tối thiểu Nghèo đói tuyệt đối thường được tính toán dựa trên nhu cầudinh dưỡng và một số hàng hóa khác Theo David O.Dapice thuộc Viện phát

triển quốc gia Haward: “Nghèo đói tuyệt đối là không có khả năng mua một lượng sản phẩm tối thiểu để sống” [27].

Nghèo đói tuyệt đối là hiện tượng xảy ra khi mức thu nhập hay tiêu dùngcủa một người hay của hộ gia đình giảm xuống mức thấp hơn giới hạn nghèo

đói (theo tiêu chuẩn nghèo đói) thường được định nghĩa là “Một điều kiện sống được đặc trưng bởi sự suy dinh dưỡng, mù chữ và bệnh tật đến nỗi thấp hơn mức được cho là hợp lý cho một con người” [27].

Nghèo đói tương đối là sự thiếu hụt so với mức sống hiện thời Nghèođói tương đối được xét trong tương quan xã hội, phụ thuộc địa điểm dân cưsinh sống và phương thức tiêu thụ phổ biến nơi đó Nghèo đói tương đối đượchiểu là những người sống dưới mức tiêu chuẩn có thể chấp nhận được trongnhững địa điểm và thời gian xác định

Để đánh giá nghèo đói người ta thường sử dụng khái niệm nghèo đóituyệt đối vì nó cho phép thực hiện các phân tích có tính so sánh, trong khinghèo đói tương đối được coi là tiêu chuẩn đánh giá sự công bằng của xã hộiđối với một bộ phận dân cư có thu nhập thấp [2,9]

1.1.1.2 Quan điểm về nghèo đói

Hiện nay có hai quan điểm khác nhau về người nghèo đói:

Một là, người nghèo đói là những người hèn kém, không biết làm ăn nên

qua bao đời họ luôn thất bại trong cuộc sống, do đó cần phải cứu giúp họ Quanđiểm này đứng trên nhìn xuống, coi thường người nghèo, đưa tay cứu vớt họ,không tin tưởng ở họ, hạn chế việc khai thác tiềm năng của 20% nhân loại

Trang 8

Hai là, người nghèo đói cũng là con người, cũng được sinh ra như những

người khác, chẳng qua họ không có cơ hội để làm được những điều mà ngườikhá giả làm được Đói nghèo đã cướp đi quyền con người, do đó nếu tạo rađược cơ hội cho họ để họ vượt qua đói nghèo thì họ có thể làm được nhữngđiều mà người khác làm được

Quan điểm này tôn trọng người nghèo, đặt niềm tin vào họ nên đã giúp

họ phát huy khả năng vào sự nghiệp kinh tế của đất nước

Như vậy, nghèo đói có thể xảy ra với một người nào đó khi những ngườinày không có cơ hội, điều kiện làm ăn như những người khác Người nghèođói ở Việt Nam nhìn chung đều có khả năng và biết làm ăn, có tính tự trọng,phần lớn cần cù lao động, có cố gắng vượt khó khăn [11,7-8]

1.1.2 Đặc điểm và tính đa dạng của nghèo đói

Hầu hết người nghèo sống ở khắp nơi trong xã hội, nhưng nhìn chung họtập trung chủ yếu ở các vùng ven thành thị và nông thôn

Sau hơn 20 năm đổi mới, thu nhập mức sống của đại đa số người dânđều được cải thiện, do vậy mức độ nghèo đói của người dân cũng có sự thayđổi Một số tài liệu của các tổ chức quốc tế như Chương trình phát triển củaLiên Hợp Quốc (UNDP), Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng bản chất củanghèo đói đã thay đổi đó là từ chỗ nghèo về lương thực thực phẩm (nhu cầu

ăn no mặc ấm) cơ bản được giải quyết Vấn đề nghèo hiện nay và trongnhững năm tới là nghèo về nhu cầu lương thực thực phẩm là chủ yếu Trongkhi các nhu cầu khác (nhu cầu về nhà ở, chăm sóc sức khỏe…) đang có xuhướng tiếp tục gia tăng Ngoài ra là sự mong muốn vị thế của người nghèo,tiếng nói của người nghèo được nâng cao và bình đẳng với nhóm khôngnghèo trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội và thành quả của sự phát triển.Tuy vậy, nghèo ở nước ta cũng rất đa dạng thể hiện trên các đặc điểmchủ yếu sau đây:

Trang 9

Thứ nhất, nghèo thể hiện thiếu ăn hàng năm từ 1 đến 3 tháng, chủ yếu ở

vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng lũ lụt, hạn hán Ước tính mỗi năm cókhoảng 1 đến 1,3 triệu lượt người thiếu ăn, điển hình là các dân tộc Vân Kiều,

Pa Cô, H’ Mông, Ba Na v.v…

Thứ hai, nghèo thể hiện nhà ở tạm bợ, tài sản đồ dùng lâu bền không có

hoặc có nhưng giá trị rất thấp

Thứ ba, nghèo thể hiện ở chỗ nông dân không có đất sản xuất hoặc thiếu

đất sản xuất, chính điều này họ đã gặp khó khăn trong việc làm ăn để sinh sống

Thứ tư, nghèo thể hiện ở việc thiếu điều kiện cơ bản để phát triển sản

xuất: thiếu công cụ, không tiếp cận được nguồn vốn, không tiếp cận được thịtrường tiêu thụ sản phẩm Theo báo cáo điều tra tại 4 tỉnh Lai Châu, HòaBình, Quảng Trị, Đồng Tháp tỉ lệ hộ nghèo chưa tiếp cận được với vốn tíndụng khá cao, có tỉnh tới 40 - 50%, và hầu hết các hộ chỉ có công cụ sản xuấtthô sơ, không có trâu bò cày kéo [2,39]

Thứ năm, nghèo thể hiện ở việc thiếu kiến thức sản xuất do trình độ văn

hóa của chủ hộ thấp, chẳng hạn ở tỉnh Lai Châu có đến 48,78% chủ hộ nghèokhông biết chữ, ở Quảng trị là 26,22%, ở Đồng Tháp là 25,19% [2,40]

Thứ sáu, nghèo còn thể hiện ở việc con cái chỉ theo học ở bậc tiểu học

nếu có học tiếp ở bậc trung học cơ sở thì tỉ lệ bỏ học lớn nhất là các em gái ởvùng đồng bào dân tộc thiểu số Khi ốm đau không có tiền đến chữa trị ở cácbệnh viện mà chủ yếu là chữa trị tại nhà, một số nghiên cứu định tính chothấy người nghèo còn nhờ các thầy lang, thậm chí cả thầy cúng chữa bệnh khi

ốm đau

Thứ bảy, nghèo gắn liền với tập quán lạc hậu, nhất là ma chay, cưới xin,

chi phí tốn kém, đã nghèo lại nghèo thêm Một số nghiên cứu tham vấn có sựtham gia của người dân cho thấy có hộ nghèo dân tộc thiểu số khi ma chay

Trang 10

phải bán cả trâu bò mới mua bằng nguồn vốn NHCSXH, dẫn đến không cókhả năng trả nợ.

Thứ tám, nghèo đói còn thể hiện ở cuộc sống của người dân nhập cư đô

thị, không có việc làm ổn định, thu nhập thấp không nhà cửa hoặc nhà cửatạm bợ, không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục

con cái lang thang kiếm sống không học hành tử tế.

Thứ chín, trong điều kiện đô thị hóa nhanh tình trạng người dân không

còn đất sản xuất do chuyển đổi mục đích sử dụng, song không kịp chuyển đổinghề nghiệp và tay nghề thấp, thậm chí không có nghề cũng là tiềm năng củađói nghèo

Đã có nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu xác định yếu tố nghèo đói, trong

đó cuộc điều tra của Bộ Nông nghiệp năm 1993, tại 17 tỉnh thuộc 7 vùngtrong cả nước để xác định các yếu tố nghèo đói [4,131] đó là: Đông con, thiếulao động, thiếu ruộng đất sản xuất, thiếu vốn, rủi ro tai nạn, không có kinhnghiệm làm ăn, chi tiêu không có kế hoạch

Theo báo cáo kết quả điều tra của Ban chỉ đạo XĐGN của UBND thị xãBảo Lộc năm 2005, nguyên nhân ảnh hưởng đến nghèo đói là thiếu kinhnghiệm, thiếu lao động, đông con, thiếu vốn, thiếu đất và nguyên nhân khác[16,2] Như vậy, kết quả từ hai nghiên cứu trên đều cho thấy thiếu vốn lànguyên nhân ảnh hưởng đến đói nghèo

1.1.3 Tiêu chí để xác định nghèo đói

1.1.3.1 Quan niệm của thế giới

Để lượng hóa tỉ lệ nghèo đói trên thế giới người ta thường sử dụng haithước đó sau đây:

Một là, dựa trên cơ sở thuần thu nhập một đô la Mỹ (PPP - Sức mua

tương đương) một đầu người một ngày Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về

Trang 11

phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã nói về

nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1

đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” Cách tiếp cận này bị phê phán vì sức mua so

sánh của một đô la của người dân trong các quốc gia nghèo không được đomột cách chính xác Ước tính về sức mua của người nghèo là căn cứ vào việcđánh giá khả năng của người nghèo về việc mua hàng hóa hay dịch vụ nào đó

mà nền kinh tế cung cấp

Hai là, dựa vào thay đổi tỉ phần thu nhập của nhóm 20% nghèo nhất

trong tổng thu nhập như một thước đo gần đúng để đo sự thay đổi về nghèođói Cách tiếp cận này cũng bị phê phán vì thu nhập của nhóm 20% ngườinghèo nhất không đại diện đầy đủ cho thu nhập của người nghèo Trong nhiềunước đang phát triển, 30% - 50% dân số sống dưới chuẩn nghèo [18]

Do vậy, việc nghiên cứu nghèo đói phải tùy theo đặc điểm của từngnước, của từng vùng mà sử dụng chuẩn nghèo của quốc gia đó, vùng đó chophù hợp

1.1.3.2 Quan điểm của Việt Nam

Trong những năm qua nước ta tồn tại song song hai phương pháp xácđịnh chuẩn nghèo phục vụ các mục đích khác nhau Đó là cách xác địnhchuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công

bố và chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng thế giới

Phương pháp xác định chuẩn nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội

Bộ LĐTB - XH đã tiến hành xây dựng và tiến hành rà soát chuẩn nghèoqua các thời kỳ Thời kỳ 1993 - 1994 chuẩn nghèo được xác định dựa vào nhucầu chi tiêu, sau đó chuyển sang sử dụng chỉ tiêu “thu nhập” Mục đích của

Trang 12

Bộ LĐTB - XH là xác định được đối tượng cụ thể của chương trình tại cấpthôn, xã, lên danh sách hộ nghèo chỉ ra các nguyên nhân nghèo đói và đề xuấtcác giải pháp hỗ trợ Bên cạnh đó giúp Chính phủ theo dõi đánh giá tác độngcủa các chính sách kinh tế về XĐGN Điều chỉnh chuẩn nghèo theo mức độcải thiện của đời sống dân cư và người nghèo.

Cách tiếp cận chuẩn nghèo này có những ưu điểm sau

+ Bảo đảm từng bước thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người (ăn, mặc,

ở, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại, giao tiếp)

+ Chuẩn được điều chỉnh gắn với tăng trưởng kinh tế, mức độ cải thiệnđiều kiện sống của người dân, tình hình thay đổi cơ cấu chi tiêu, thu nhập từlao động với mục tiêu bảo đảm không ngừng nâng cao mức sống của ngườinghèo [2,15]

+ Bảo đảm đối tượng của chương trình tương ứng với khả năng nguồnlực để giải quyết vấn đề nghèo đói của Chính phủ đồng thời phát huy tính tựchủ và sáng tạo của địa phương trong việc huy động nguồn lực cho XĐGN.+ Có sự tham gia rộng rãi của các địa phương trong việc điều chỉnh giảm nghèo.+ Trong điều kiện nguồn lực về tài chính và nhân sự có hạn, phươngpháp của Bộ LĐTB - XH đơn giản và ít tốn kém, quan trọng hơn là tạo điềukiện cho các cơ sở có thể triển khai được việc lập danh sách hộ nghèo và xácđịnh các hỗ trợ cần thiết Quá trình xác định hộ nghèo theo phương pháp điềutra thu nhập hộ gia đình kết hợp với bình xét của thôn xóm đã bảo đảm chongười dân được tham gia đánh giá một cách công khai, dân chủ, phát huyđược vai trò của chính quyền các cấp, sự tham gia tích cực của các tổ chứcthuộc hệ thống chính trị Từng cấp quản lý chắc hộ nghèo, nguyên nhânnghèo đói của từng hộ cũng như những nhu cầu bức xúc của họ

Trang 13

Tuy nhiên phương pháp xác định chuẩn nghèo của Bộ LĐTB-XH có một

số hạn chế sau

+ Về phương pháp tiếp cận: Mặc dù khi tính toán chuẩn nghèo có dựatrên nhu cầu về lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm songchưa tính toàn đầy đủ nhu cầu cho phần tiêu dùng, tỷ lệ chung cho nhu cầuphi lương thực thực phẩm thấp

+ Độ tin cậy về số liệu khi xây dựng các phương pháp chưa cao dokhông có điều kiện điều tra trên diện rộng Bên cạnh đó, việc thu thập thôngtin về thu nhập rất khó chính xác, đặc biệt là thu nhập của người dân nôngthôn và miền núi Cuối cùng, việc quan sát tình trạng nghèo của hộ gia đìnhchỉ dựa vào chi tiêu đầu vào, chưa quan sát hộ gia đình trên các chỉ tiêu khácnhư đồ dùng, tài sản, nguồn lực v.v dẫn đến hiện tượng bỏ sót hoặc đưa nhầmđối tượng vào chương trình ở một số xã trong quá trình rà soát bình xét Tínhthống nhất của chuẩn nghèo chưa được đảm bảo, việc điều chỉnh chuẩn nghèoliên tục không cho phép công tác theo dõi, giám sát, đánh giá nghèo đói mộtcách hệ thống

Phương pháp xác định chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng thế giới

Tổng cục Thống kê với vai trò thu thập, công bố và đánh giá số liệu ở cấpquốc gia và có thể so sánh Quốc tế đã cùng với Ngân hàng Thế giới áp dụngphương pháp xác định chuẩn nghèo theo phương pháp nghiên cứu của Ngânhàng Thế giới được phát triển vào đầu thập niên 80 cho các nước đang pháttriển Phương pháp này cho phép các kết quả tính toán có thể so sánh được vớicác nước trong khu vực và so sánh theo thời gian Chuẩn nghèo lương thực,thực phẩm được xác định là chi phí cần thiết mua rổ lương thực thực phẩmcung cấp đủ lượng Calo tiêu dùng bình quân người/ngày (2.100 Kcal)

Trang 14

Như vậy chuẩn nghèo tuyệt đối của Tổng cục Thống kê là thước đonghèo tính theo giá cả được thay đổi theo thời gian cũng như thay đổi vềgiá cả.

Phương pháp này có một số hạn chế sau đây

+ Sử dụng rổ hàng hóa từ lâu (1993) nên không phản ánh thực tế tiêudùng hiện tại của đại đa số người dân Việt Nam

+ Chỉ số giá sử dụng để tính giá trị các mặt hàng trong rổ hàng hóa chitiêu không dựa vào tính toán trên cơ sở giá khai báo của hộ gia đình, khi tínhchi phí rổ hàng hóa để tính chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm lại tínhtheo giá thị trường Qua số liệu cho thấy các hộ thường khai báo nếu giá thấphơn nhiều so với giá điều tra tại thị trường Kết quả là chuẩn nghèo về lươngthực, thực phẩm được tính cao hơn so với thực tế

+ Sử dụng một chuẩn nghèo duy nhất áp dụng cho cả khu vực thành thị,nông thôn chỉ cho phép đánh giá thực trạng nghèo đói của cả nước, không thểxác định và lập được danh sách hộ nghèo cụ thể ở các địa phương

- Việc tồn tại đồng thời hai chuẩn nghèo với phương pháp tiếp cận và nộidung tính toán khác nhau dẫn đến có sự khác biệt rất lớn và tỉ lệ nghèo đóitrong một quốc gia Điều này không hợp lý và gây khó khăn cho việc theodõi, giám sát, đánh giá tác động của chính sách đến XĐGN cần phải có sựthống nhất về phương pháp xác định chuẩn nghèo và chuẩn nghèo chung củaquốc gia [2,17]

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng chuẩn nghèođói của Bộ LĐTB-XH phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình

Chuẩn nghèo đói do Bộ LĐTB- XH công bố trong thời gian qua dựa trên bacăn cứ [11,13] (1) Mức sống trung bình của dân cư mà cơ bản là thu nhập bìnhquân đầu người, (2) cơ cấu chi tiêu của dân cư mà quan trọng là chi tiêu cho lươngthực thực phẩm ,(3) khả năng của nền kinh tế cho công tác XĐGN

Trang 15

Chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ LĐTB - XH công bố đã điều chỉnh 5lần qua các giai đoạn sau [2,14]:

Giai đoạn 1997 – 2000 (Công văn số 175/LĐTB - XH).

+ Vùng thành thị dưới 25 kg gạo/người/tháng (tương đương 90.000 đ)

Giai đoạn 2001 – 2005 (Quyết định số 1143/2000/QĐ - LĐTB - XH).

Hộ nghèo là hộ có thu nhập

+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 80.000đ/người/tháng

+ Vùng nông thôn đồng bằng dưới 100.000đ/người/tháng

+ Vùng thành thị dưới 150.000 đ/người/tháng

Giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ ngày 08/7/2005 về xác định chuẩn nghèo)

Trang 16

(2) Chuẩn nghèo được điều chỉnh phù hợp với tốc độ tăng trưởng củanền kinh tế và mức sống của dân cư.

1.1.4 Nguyên nhân nghèo đói

Nghèo đói là hậu quả của nhiều nguyên nhân Ở nước ta, những nguyênnhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm [3,18]:

(1) Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên kinh tế -xã hội: Khí hậukhắc nghiệt, thiên tai bão lụt, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giaothông khó khăn, kinh tế chậm phát triển, hậu quả chiến tranh để lại

(2) Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: Do người nghèothiếu kiến thức làm ăn, thiếu lao động, thiếu vốn, đông con, không có việclàm, lười lao động

(3) Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc khôngđồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khókhăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm

ăn, khuyến nông, khuyến lâm, chính sách trong giáo dục - đào tạo, định canhđịnh cư, kinh tế mới

Trang 17

1.2 TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG

1.2.1 Khái quát chung về tín dụng

Tín dụng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hóa, có quá trình ra đời,tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa khôngnhững nhằm thỏa mãn nhu cầu điều hòa vốn trong xã hội mà còn là một tácđộng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và gần đây tín dụng xem như là một công

cụ quan trọng trong việc giảm nghèo

Với những định nghĩa trên đây cho thấy tín dụng có ba tính chất quan trọng.(1) Tín dụng thể hiện sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền hoặc làtài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sởhữu chúng

(2) Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và được hoàn trả

(3) Giá trị của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nângcao nhờ lợi tức tín dụng

1.2.1.2 Bản chất của tín dụng

Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và ngườicho vay, nhờ quan hệ này mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ thể này sangchủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội

Trang 18

Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức năng cốtlõi của tín dụng Ở mặt tập trung vốn tiền tệ, nhờ hoạt động của hệ thống tíndụng mà các nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại, bao gồm tiền nhàn rỗi củadân chúng, vốn bằng tiền của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền của các tổ chứcđoàn thể, xã hội Ở mặt phân phối lại tiền tệ, đây là mặt cơ bản thể hiện sựchuyển hóa để sử dụng các nguồn vốn đã tập trung được nhằm đáp ứng nhu cầucủa nền sản xuất lưu thông hàng hóa như nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội.

Cả hai mặt tập trung và phân phối lại đều được thực hiện theo nguyên tắchoàn trả Vì vậy tín dụng kích thích việc tập trung vốn và thúc đẩy việc sửdụng vốn có hiệu quả

Nhờ chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng màphần lớn nguồn tiền trong xã hội từ chỗ là tiền nhàn rỗi một cách tương đốiđược huy động và sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và đời sống, làm chohiệu quả sử dụng vốn của toàn xã hội tăng

(2) Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội

Chức năng này thể hiện qua các mặt sau đây: Hoạt động tín dụng, trướchết tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu thông tín dụng.Với hoạtđộng của tín dụng đã mở ra một khả năng lớn trong việc mở tài khoản và giaodịch thanh toán Nhờ hoạt động tín dụng mà các nguồn vốn đang nằm trong

xã hội được huy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và lưu thônghàng hóa sẽ có tác dụng tăng tốc độ di chuyển vốn trong phạm vi toàn xã hội

Trang 19

(3) Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế.

Sự vận động của vốn tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với sựvận động của vật tư hàng hóa trong các tổ chức kinh tế Vì vậy, qua đó tíndụng không những là tấm gương phản ánh hoạt động kinh tế mà còn thôngqua đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiệntượng tiêu cực lãng phí, vi phạm luật pháp v.v trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp

Theo thời gian cho vay, tín dụng chia thành: tín dụng ngắn hạn (thời gian

từ 1 năm trở xuống), tín dụng trung hạn (từ 1 - 5 năm) và tín dụng dài hạn(trên 5 năm)

Theo chủ thể trong quan hệ tín dụng bao gồm: tín dụng ngân hàng, tín

dụng thương mại, tín dụng ngân hàng nhà nước, tín dụng quốc tế

Tín dụng ngân hàng (Bank Credit) là quan hệ tín dụng giữa các ngânhàng với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân

Tín dụng thương mại (Commercial) là quan hệ tín dụng giữa các công tydoanh nghiệp, các tổ chức kinh tế với nhau, được thực hiện dưới hình thứcmua bán chịu hàng hóa cho nhau

Tín dụng ngân hàng Nhà nước là các khoản tín dụng ngân hàng trungương đối với ngân sách và các tổ chức tài chính không trực tiếp, các đơn vịSXKD, các tổ chức cá nhân Đây là các khoản tín dụng cấp vốn, tái cấp vốn, táichiếc khấu của ngân hàng trung ương, tín dụng NHNN, ngân hàng trung ươngcung cấp vốn cho nền kinh tế nhằm thực thi chính sách tiền tệ của mình [25]

Trang 20

Tín dụng Quốc tế: những quan hệ cho vay giữa các chính phủ Các tổchức tài chính quốc gia và quốc tế, các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu…thuộc các nước khác nhau là một trong những hoạt động ngoại thương, hợptác đầu tư ra nước ngoài, có liên quan mật thiết với thanh toán quốc tế có thểphân thành 3 loại hình: 1) Khoản vay của chính phủ, chính phủ một số nướccho chính phủ nước khác vay có tính chất ưu đãi, thông thường có tính chấtviện trợ song phương 2) Tín dụng thương mại quốc tế: người đi vay nhậnngân hàng nước ngoài trên thị trường tài chính quốc tế theo điều kiện thươngmại Có thể phân thành hai loại: a) khoản vay song phương, tức là hai ngânhàng cùng nhau ký hiệp định tín dụng sau đó cho vay: b) khoản vay của tậpđoàn ngân hàng, tức là một hay vài ngân hàng đứng đầu nhiều ngân hàngkhác tham gia thành một tập đoàn ngân hàng cho người đi vay nào đó mộtkhoản vay, loại tín dụng này nói chung kim ngạch tương đối lớn thời giantương đối dài, là hình thức tín dụng tương đối phổ biến trên thế giới Tín dụngcủa tập đoàn ngân hàng lại có thể chia thành tín dụng trực tiếp hay giántiếp.3) Tín dụng của tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF),Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADP).v.v Xuấtphát từ các đặc điểm khác nhau, tín dụng quốc tế có thể có các hình thức tíndụng bằng tiền (ngoại tệ) và tín dụng bằng hàng hoá, tín dụng ngắn hạn và tíndụng dài hạn, tín dụng có lãi và tín dụng không trả lãi, tín dụng ưu đãi và tíndụng thông thường.TDQT là công cụ chủ yếu của các nước Tư bản phát triển

để xuất khẩu tư bản [25]

1.2.2 Dịch vụ tín dụng cho người nghèo

Qua khảo sát thực tế, người nghèo luôn cần có một lượng tiền nào đó đểđáp ứng cho nhiều mục tiêu khác nhau trong cuộc sống của họ Để có đượclượng tiền này nhằm đáp ứng nhu cầu trong sản xuất và tiêu dùng họ có thểbán tài sản mà họ đang có (đất đai, tài sản khác ) hoặc có thể vay tiền bằngcách thế chấp, cầm cố tài sản hoặc có thể tiết kiệm Tuy nhiên người nghèo

Trang 21

thường có rất ít hay không có tài sản Người nghèo có thể dùng tài sản thếchấp hay cầm cố tạm thời để có tiền đây là dịch vụ khá phổ biến những ngườinghèo lại luôn có ít tài sản (Stuart Ruthverord, 1999) [27].

Do đó, cách giải quyết tốt nhất và bền vững nhất để người nghèo có tiềnphục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng là cho họ vay vốn và trả dần trongtương lai

1.2.3 Hiệu quả hoạt động tín dụng

Chúng ta biết rằng sự thành công hay thất bại trong việc giảm nghèophụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố mà vấn đề quan trọng là tạo vốn và sửdụng vốn Do đó tín dụng cho việc XĐGN thường là dịch vụ tài chính có quy

mô nhỏ của các tổ chức tín dụng bền vững, đây là dịch vụ tín dụng phù hợpvới đặc điểm tài chính của người nghèo Với ý nghĩa này vốn tín dụng đóngmột vai trò quan trọng trong mục tiêu XĐGN Vì thế trong thời gian quanguồn vốn cho vay của NHCSXH thị xã Bảo Lộc để giảm nghèo khôngngừng tăng lên, cụ thể là năm 2006 nguồn vốn cho vay là 29.992 triệu đồng;năm 2007 tăng lên 32.913,9 triệu đồng tăng 9,7% [14] Chính nhờ nguồn vốnvay này mà nhiều hộ nghèo đã vượt khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo

1.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động tín dụng của NHCSXH

Việc đo lường hiệu quả hoạt động tín dụng của một tổ chức nói chung,người ta thường xem xét và so sánh kết quả đầu ra với chi phí đầu vào tươngứng nhằm đạt kết quả đó Để đo lường hiệu quả kinh tế, các chỉ tiêu lợi nhuận

và tỷ suất lợi nhuận là những chỉ tiêu thường được các nhà nghiên cứu sửdụng Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của đề tài này lại là một loại hình tổchức đặc biệt Khác với các Ngân hàng thương mại, NHCSXH là một địnhchế tài chính hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do vậy chúng ta khôngthể dùng chỉ tiêu lợi nhuận để đo lường hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân

Trang 22

hàng này một cách phù hợp Để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng củaNHCSXH chúng ta cần đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của Ngânhàng Đối tượng vay Ngân hàng cũng đặc biệt, bởi vì mục đích vay của họchủ yếu là để thoát khỏi đói nghèo thông qua sử dụng vốn vay vào phát triểnkinh tế hộ gia đình Cho nên, để có thể đo lường và đánh giá hiệu quả hoạtđộng tín dụng của NHCSXH, chúng tôi cho rằng cần thiết phải tiếp cận từ cảhai phía: từ phía Ngân hàng và từ phía người vay Hơn nữa, để đánh giá toàndiện hiệu quả hoạt động tín dụng của NHCSXH cần xem xét hiệu quả kinh tếdưới hai góc độ: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.

1.2.4.1 Trên quan điểm của Ngân hàng CSXH

Với đặc thù về chức năng và nhiệm vụ của NHCSXH, chúng tôi chorằng các chỉ tiêu sau đây là phù hợp để đánh giá về hiệu quả hoạt động tíndụng của Ngân hàng thông qua việc đánh giá mức độ hoàn thành các nhiệm

- Mức độ giảm tỷ lệ hộ nghèo sau khi vay vốn

- Góp phần phát triển kinh tế của các hộ vay vốn, thể hiện ở mức tăngdiện tích trồng trọt và tăng đàn gia súc của các hộ này, bởi vì vốn vay đượccác hộ đầu tư chủ yếu vào hai hoạt động chính là trồng trọt và chăn nuôi

1.2.4.2 Trên quan điểm của các hộ vay vốn

Mục đích vay của các hộ nghèo là để phát triển kinh tế hộ gia đình nhằmtăng thu nhập tiến tới thoát khỏi đói nghèo, đồng thời tạo thêm niền tin vàocuộc sống, tạo thêm việc làm và đóng góp vào sự phát triển chung của cộng

Trang 23

đồng Do vậy, để đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay của NHCSXH từ phíangười vay vốn, chúng tôi cho rằng các chỉ tiêu sau đây là phù hợp.

- Mức độ tăng thu nhập sau khi vay vốn so với trước khi vay vốn

- Tạo thêm việc làm

- Tạo thêm cơ sở vật chất

- Tăng niềm tin vào cuộc sống

- Góp phần phát triển cộng đồng

1.3 KINH NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CHO NGƯỜI NGHÈO

1.3.1 Kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế

Cuộc đấu tranh tấn công nghèo đói đang là vấn đề toàn cầu rất cấp báchcủa xã hội loài người, là nhiệm vụ của tất cả các quốc gia trên thế giới hiệnnay Xu hướng đó xuất phát ít nhất từ hai nhu cầu bức thiết chính: Một là,trong từng quốc gia tình trạng nghèo đói đang hàng ngày, hàng giờ đe dọa đến

sự ổn định và an toàn xã hội Muốn tránh được các cuộc xung đột xã hội cóthể xảy ra, các quốc gia phải quan tâm đến việc điều hòa lợi ích giữa cácnhóm dân cư không để xảy ra tình trạng hố ngăn cách giàu nghèo quá lớn, quásức chịu đựng của xã hội Hai là, xu thế toàn cầu hóa đang thúc ép các quốcgia phải mở rộng dân chủ Khẩu hiệu về một xã hội công bằng, một trật tựkinh tế và phân phối tiến bộ đang làm cho các quốc gia phải có quyết sách vàhành động thực sự hiệu quả để hội nhập với xu thế quốc tế [4,47]

Chính vì vậy, XĐGN trước tiên là thuộc về trách nhiệm của Chính phủtừng nước, bên cạnh đó các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB),Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA), chương trìnhphát triển của Liên hợp quốc (UNDP) giữ vai trò hỗ trợ quan trọng giúp cácquốc gia giảm bớt gánh nặng nghèo đói Các tổ chức này thường áp dụng đó

là chu cấp các khoản vay có gắn với các điều kiện giải ngân theo các chươngtrình XĐGN Đây là một biện pháp trực tiếp và tích cực nhất, tạo điều kiệnXĐGN một cách bền vững

Trang 24

Chẳng hạn như ở Băng - La - Đét là nước nông nghiệp trên 80% dân sốsinh sống ở nông thôn và bằng nghề nông, thu nhập GDP bình quân đầungười chỉ khoảng 120 - 150 USD năm 1999, trên 50% số hộ nông dân không

có ruộng, cuộc sống của phần lớn trong số họ nằm dưới mức nghèo khổ.Nhưng từ khi xuất hiện hình thức cấp tín dụng cho người nghèo GrameenBank mà người đặt nền móng đầu tiên là giáo sư Yunus trường Đại học Kinh

tế Băng - La - Đét, người nghèo đói của Băng - La - Đét đã được hưởng một

sự giúp đỡ thật hiệu quả Grameen Bank có một cơ chế hoạt động rất đặc biệt,bất cứ người nông dân nào không có đất canh tác thu nhập dưới 100USD/nămđều được vay vốn và không cần phải thế chấp Mức tiền vay thấp nhất là200USD (5.000 taka tiền của Băng - La - Đét) Nhận xét chung của nhữngngười nghiên cứu hoạt động của Grameen Bank là nó đã rất kiên trì mục tiêuphục vụ và khai thác triệt để những đặc điểm của người nghèo, khơi dậy mặttích cực của họ Nhờ đó số hộ nghèo tự vươn lên thoát nghèo bằng các khoảnvay nhỏ từ Grameen Bank đang tăng lên ngày một nhiều Điều gây ngạcnhiên cho giới nghiên cứu lý luận và thực tiễn là nợ khó đòi của Grameenbank lại chiếm tỉ lệ thấp nhất trong số các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổBăng - La - Đét [4,54-55]

1.3.2 Kinh nghiệm của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam trong hoạt động xóa đói giảm nghèo

Qua kinh nghiệm cho vay vốn để phát triển kinh tế nhằm XĐGN trên thếgiới và thực tiễn việc cho người nghèo vay vốn ở Việt Nam, chúng ta rút ranhững kinh nghiệm như sau:

+ Phải có một tỉ lệ vốn hợp lý từ việc cân đối ngân sách trên cơ sở thựctrạng về hộ nghèo của đất nước ta Tranh thủ một cách tốt nhất nguồn vốn hỗtrợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

+ Tùy tình hình thực tế trong từng giai đoạn mà xác định lãi suất cho vayphù hợp Lãi suất vay có tính ưu đãi nhưng phải đảm bảo có lợi cho việc đivay và cho vay

Trang 25

+ Việc cho vay phải thông qua các tổ chức trung gian Đoàn, Hội trên cơ

sở kiểm tra một cách cụ thể các dự án của các hộ nghèo vay vốn tránh trườnghợp vay vốn sử dụng sai mục đích Từ đó mà có phương pháp cho vay phùhợp với hộ nghèo

+ Không cho không, không trợ cấp để các hộ nghèo vay vốn có ý thứctrong việc sử dụng vốn vay một cách có hiệu quả nhất

+ Đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ làm công tác XĐGN

+ Nâng cao vai trò quản lý của cán bộ xã, phường vai trò hỗ trợ, tư vấncủa các tổ chức đoàn thể xã hội trong việc thông hiểu các thủ tục giải ngân từcác nguồn vốn của NHCSXH

+ Chia sẻ kinh nghiệm của những hộ thoát nghèo điển hình trong việc sửdụng và quản lý vốn vay có hiệu quả

1.3.3 Những kết quả đạt được về xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua

Để hỗ trợ nguồn lực trực tiếp các xã nghèo, hộ nghèo tạo điều kiện và môitrường XĐGN bền vững, ngày 14/01/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhQuyết định số 5/1998/QĐ-TTg về quản lý các Chương trình mục tiêu quốc gia(CTMTQG), theo đó, XĐGN được nâng lên thành một trong 7 CTMTQG.Ngày 23/7/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 133/1998/QĐ-TTgphê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN giai đoạn 1998 - 2000 Vàngày 04/10/2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tíndụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác [12,5]

Từ năm 1998 đến nay, CTMTQG giảm nghèo và Chương trình 135 rađời và đi vào hoạt động đã tạo sự chuyển biến sâu sắc trong toàn xã hội huyđộng và đa dạng hóa các nguồn lực cho giảm nghèo Bộ mặt các xã nghèo, xãđặc biệt khó khăn được cải thiện rõ nét, đời sống của người nghèo, đồng bàodân tộc đã được nâng lên một bước

Thành quả XĐGN của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và

đánh giá cao Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 đã ghi nhận: “Những

Trang 26

thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế” tạo được sự đồng thuận xã hội cao, góp

phần ổn định chính trị, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế củađất nước, góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế

Tỉ lệ hộ nghèo của Việt Nam giảm nhanh từ 17,2% năm 2001 xuống còn6,3% năm 2005, bình quân mỗi năm giảm được trên 30 vạn hộ đạt mục tiêuNghị quyết Đại hội VIII và IX của Đảng đề ra [8,33] Như vậy, CTMTQG vềXĐGN giai đoạn 2001 - 2005 đã được nâng cao hơn cả về lượng và chất

Bảng 1.1 Tỉ lệ nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993 - 2003

Nguồn: Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2004 [20].

Qua số liệu ở bảng trên tỉ lệ nghèo của nước ta đang giảm từ 58,1%xuống 37,4% năm 1998 và năm 2003 tỉ lệ này còn 28,9% Tỉ lệ nghèo vànghèo lương thực đều giảm qua các năm thể hiện công tác XĐGN đã thuđược hiệu quả cao, ngoài việc đảm bảo an ninh lương thực

Bảng 1.2 Tỉ lệ nghèo theo vùng giai đoạn 2002 – 2004

ĐVT: %

Trang 27

Nguồn: Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2006 [21].

Qua bảng số liệu trên tỉ lệ nghèo chung và tỉ lệ nghèo lương thực, thựcphẩm của cả nước và từng vùng giai đoạn 2002 - 2004 đều giảm đây là thànhquả tốt trong chiến lược XĐGN của đất nước ta

Trang 28

Tính theo chuẩn quốc gia, tỉ lệ nghèo chung cả nước trong 5 năm 2001

-2005 đã giảm được hơn một nửa Nếu so với mục tiêu giảm 20% đã được ghitrong văn bản chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo cho giaiđoạn 2001 - 2005 thì chúng ta đạt được kết quả hơn gấp đôi Đó là một thànhtựu lớn Vùng giảm nghèo mạnh nhất là Đông Nam Bộ, từ 8,88% xuống còn1,7%, tức là giảm tới 5,2 lần, các vùng còn lại giảm tương đối đồng đều từ50% đến 60% Vùng còn có tỉ lệ nghèo trên 10% là Tây Bắc (12%); TâyNguyên (11%) và Bắc Trung Bộ (10,5%) [17,87]

5,12

12,85

14,8

Nguồn : Tạp chí Cộng sản số 785 tháng 3 năm 2008

Biểu đồ 1.1 Tỉ lệ hộ nghèo theo vùng năm 2007

Trong thời gian gần đây với nỗ lực chung của cả nước, của các cấp cácngành, các tổ chức đoàn thể, địa phương, tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh vượt mức

kế hoạch đề ra Đến cuối năm 2007 tỉ lệ hộ nghèo cả nước còn 14,87% giảm6,23% so với cuối năm 2005 Trong đó: Tây Bắc 32,36%; Đông Bắc 23,44%;đồng bằng sông Hồng 9,59%; Bắc Trung Bộ 23,44%; duyên hải Miền Trung

32,36

Trang 29

16,18%; Tây Nguyên 21,34%; Đông Nam Bộ 5,12%; đồng bằng sông CửuLong 12,85% Một số địa phương đã cơ bản xóa hết hộ nghèo theo chuẩnquốc gia như Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh [8,34].

Bảng 1.3 Các chỉ tiêu xã hội cấp xã của tỉnh Lâm Đồng giai đoạn

Nguồn: Niên giám thống kê Lâm Đồng năm 2006 [5,231]

(*) Tỉ lệ hộ nghèo từ năm 2005 tính theo tiêu chí mới của Chính phủ

Trong thời gian qua tỉnh Lâm Đồng nói chung và thị xã Bảo Lộc nóiriêng cũng đã đạt được những thành quả trong chiến lược XĐGN và các vấn

đề xã hội khác

Trang 30

Trong 5 năm 2001 - 2005, nhìn chung đời sống các tầng lớp dân cư củatỉnh Lâm Đồng ngày càng được cải thiện; năm 2005 GDP bình quân đầungười đạt 6,1 triệu đồng Chương trình XĐGN được toàn xã hội quan tâm, tỉ

lệ hộ đói nghèo từ 13% năm 2000 xuống còn dưới 8% năm 2005 (theo tiêuchí cũ) và theo tiêu chí mới là 23,72%; riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số

từ 27% năm 2001 xuống còn 20% năm 2005 (theo tiêu chí cũ) và theo tiêu chímới là 55,1% [6,126]

Bảng 1.4 Các chỉ tiêu xã hội cấp xã của thị xã Bảo Lộc giai đoạn

2002 - 2006 Chỉ tiêu ĐVT 2002 2003 2004 2005 2006 Ghi chú

Nguồn: Niên giám thống kê Bảo Lộc, giai đoạn 2002 – 2006 [15].

(*) Tỉ lệ hộ nghèo từ năm 2005 tính theo tiêu chí mới

Qua 5 năm từ 2001 đến 2005 với sự nỗ lực chung của nhân dân và cán

bộ thị xã Bảo Lộc tập trung thực hiện các nhiệm vụ trung tâm và những mụctiêu KT - XH Năm 2005 GDP bình quân đầu người đã tăng 1.8 lần so với

Trang 31

năm 2000 đạt mức 6,882 triệu đồng/người, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí cũgiảm xuống còn 3,3% [7,2] và theo tiêu chí mới là 10,01% Đây là sự thànhcông trong chiến lược XĐGN của thị xã Bảo Lộc

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Vị trí địa lý và địa hình

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Theo Nghị định 65CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 của Thủ tướng Chínhphủ, thị xã Bảo Lộc có 10 đơn vị hành chính cấp phường, xã Gồm có 6phường; 4 xã, là phường I, phường II, Phường B’Lao, phường Lộc Sơn,phường Lộc Tiến, phường Lộc Phát, xã Lộc Thanh, xã Lộc Châu, Xã LộcNga và xã Đam Bri Đến tháng 7/1999 xã Lộc Châu được tách ra thành 2 xã

là xã Lộc Châu và xã Đại Lào Đến nay thị xã Bảo Lộc có 11 đơn vị hànhchính cấp xã, phường [22]

Diện tích đất tự nhiên là 23.237,9 ha trong đó phần nội thị 1.075 ha [22,8]Thị xã Bảo Lộc nằm ở phía Tây Nam tỉnh Lâm Đồng, vùng Nam TâyNguyên một phần cao nguyên B’Lao Phía Đông, phía Nam và phía Bắc giáphuyện Bảo Lâm, phía Tây giáp huyện Đạ Huoai Quốc lộ 20 phần qua thị xã

có chiều dài 25km là tuyến giao thông huyết mạch nối vùng cao nguyên vớiquốc lộ 1A là điểm dừng chân thích hợp từ thành phố Hồ Chí Minh - Đà Lạt,thị xã Bảo Lộc còn là trung tâm khu vực phía Nam của tỉnh Lâm Đồng tiếpgiáp với miền Đông Nam Bộ và cửa ngõ của cao nguyên Di Linh và B’Lao.Năm 2000 công tình thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi hoàn thành, Bảo Lộc

có thêm quốc lộ 55; nối quốc lộ 1A đoạn qua Phan Thiết với Bảo Lộc, tạo

Trang 33

điều kiện thuận lợi giao lưu với các tỉnh Nam Trung Bộ và khai thác tiềmnăng kinh tế vùng phía Nam thị xã Bảo Lộc.

2.1.1.2 Địa hình

Địa hình thị xã Bảo Lộc tương đối bằng phẳng, độ dốc không lớn đượctọa lạc trên những ngọn đồi có độ cao trung bình 850m, độ dốc thoải từ Bắcxuống Nam, từ Đông sang Tây, so với nhiều đô thị miền núi, Bảo Lộc có địahình xây dựng lý tưởng, đẹp về cảnh quan thiên nhiên thuận lợi về xây dựng,phát triển về kinh tế và du lịch

2.1.2 Đặc điểm khí hậu - thời tiết, thổ nhưỡng, cảnh quan

2.1.2.1 Khí hậu - thời tiết

Thị xã Bảo Lộc có khí hậu thuận lợi nhất trong vùng Nam Cao Nguyênvới các thông số kỹ thuật như sau: nhiệt độ trung bình trong năm 210C - 220C,lượng mưa trung bình năm 2.513mm – 2.514mm, lượng mưa cao nhất vàotháng 7 tháng 8 và tháng 9 Độ ẩm trung bình từ 80% - 85%, lượng bốc hơibình quân trong năm 83,7mm, hướng gió chủ yếu là gió Tây Nam và Tây từtháng 04 đến tháng 10 và gió Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

Ở Bảo Lộc hầu như không có bão, do địa hình lồi lõm, nước thoát nhanh nênkhông ngập và lũ lụt, số ngày nắng trung bình trong năm từ 180 ngày - 190 ngày

2.1.2.2 Thổ nhưỡng, cảnh quan

+ Về thổ nhưỡng

Ở Bảo Lộc hầu hết là đất nâu vàng phát triển trên tầng Bazan có sức chịutải cao xây dựng được nhà nhiều tầng Mức nước ngầm tại Bảo Lộc thấptrung bình từ 7m/h đến 10m/h

+ Về cảnh quan

Trang 34

Bảo Lộc có cảnh quan thiên nhiên khá đẹp và đa dạng các thắng cảnh nổidanh như thác Đambri được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến, hồĐồng Nai, thác Bảy Tầng, hồ Nam Phương cũng là những địa danh chứanhiều tiềm năng du lịch và cảnh quan chưa được khai thác Bản thân BảoLộc đã là một khu du lịch lớn đa dạng với những đồi chè, cà phê, dâu xanhngút ngàn, cây ăn trái, những khoảng rừng đang xen đô thị miền núi có cảnhquan đặc biệt, đặc trưng cho vùng Nam Cao Nguyên Do có khí hậu tronglành, cảnh sắc phong phú, đa dạng là điều kiện thuận lợi phát triển các loạihình du lịch sinh thái, nghĩ dưỡng, tham quan, đáp ứng nhu cầu giải trí của lữkhách trong và ngoài nước.

2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

2.1.3.1 Tài nguyên đất

Ở Bảo Lộc chủ yếu là loại đất nâu màu vàng trên đất Bazan chiếm tỉ lệlớn, đất có tầng dày đến rất dày, hơi chua hàm lượng chất hữu cơ từ trungbình đến giàu, không nhiễm mặn, nhiễm phèn, đất khá tơi xốp rất thuận tiện

để trồng các loại cây công nghiệp dài ngày

Tình hình sử dụng đất đai qua các năm như sau:

Qua số liệu ở bảng 2.1 tình hình sử dụng đất đai năm 2005 so với năm

2004 các loại đất đều tăng lên về tuyệt đối và tương đối Riêng đất khu dân cư

và đất chưa sử dụng đều giảm về tuyệt đối và tương đối đây là điều hợp lý thểhiện việc sắp xếp, quy hoạch bố trí lại khu dân cư Đồng thời, thị xã Bảo Lộc

đã khai thác một cách có hiệu quả đất chưa sử dụng

Tình hình sử dụng đất đai năm 2006 so với năm 2005 Đất nông nghiệp

và đất lâm nghiệp đều giảm về tuyệt đối và tương đối thể hiện việc bố trí quyhoạch lại đất trồng cây công nghiệp dài ngày và đất trồng rừng Đất chuyên

Trang 35

dùng và đất khu dân cư đều tăng lên tuyệt đối và tương đối chứng tỏ thị xãBảo Lộc khai thác một cách có hiệu quả đất chưa sử dụng.

Trang 36

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai của thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2004 – 2006

Chỉ tiêu

DT (ha)

Cơ cấu (%)

DT (ha)

Cơ cấu (%)

DT (ha)

Cơ cấu (%)

2005/2004 2006/2005 Số

tuyệt đối (ha)

Số tương đối (%)

Số tuyệt đối (ha)

Số tương đối (%)

Trang 37

2.1.3.2 Tài nguyên khoáng sản

Theo tài liệu địa chất Bảo Lộc là nơi nhiều khoáng sản có giá trị kinh tếcao, phong phú về chủng loại, với trữ lượng khá lớn, tập trung, rất thuận tiệncho việc khai thác chế biến và vận chuyển Tài nguyên khoáng sản nguyênliệu như than nâu, than bùn, khoáng sản kim loại như Bôxít, Nhôm, Diatomit

và các nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng

a Về khoáng sản kim loại

Nhôm có nhiều ở phía Đông Bắc Bảo Lộc kéo dài đến Tân Rai - BảoLâm với trữ lượng nguyên khai cấp C1 + C2 có trên 1,1 tỉ tấn (Bảo Lộc có 378triệu tấn, Tân Rai 736 triệu tấn) nằm ở nơi tương đối bằng phẳng, giao thôngthuận lợi dễ dàng khai thác tuyển rửa quặng bằng nước cạnh hai hồ nước lớn

là hồ Nam Phương 1 và hồ Tân Rai Quặng Diatomit có ở vùng Đại Lào vớitrữ lượng cấp C1 + C2 gồm 64 triệu m3 và cấp C2 gồm 8,5 triệu m3, các lớpDiatomit nằm kề lớp sét than nâu nên có nơi màu xám tro, xanh đen và hàmlượng sét nhiều hơn có thể khai thác sử dụng làm chất cách nhiệt, chất hấp thụphụ gia để sản xuất xi măng [22]

b Về khoáng sản nhiên liệu

+ Than nâu: Ở vùng đất trũng xã Đại Lào có 4 vỉa nằm trong lớp sétchứa Diatomit màu xám, xám phớt xanh, xám xi măng Mỗi vỉa có độ dày từ1m đến 2m, trữ lượng hơn 200 ngàn tấn, có vỉa lộ thiên, nhiệt lượng2.000Kcal/kg đến 5.000 Kcal/kg [22]

+ Than bùn: Cũng có ở vùng Đại Lào và rải rác ở một số nơi khác trongthị xã Bảo Lộc Than bùn có độ nén khá xốp lẫn than rễ cây chưa phân hủyhết, nhiệt lượng thấp nên có thể khai thác để làm nguyên liệu cho phân bón

c Tài nguyên vật liệu xây dựng

+ Đá xây dựng: Tiềm năng đá xây dựng ở Bảo Lộc khá lớn, cận kề quốc

lộ 20 và có rải rác ở một số nơi khác thuận tiện cho việc khai thác, vậnchuyển phục vụ các công trình xây dựng lớn Có đá Bazan, đá axit của hệtầng Katô Những năm vừa qua đã được khai thác Mỗi năm khai thác trên10.000m3

Trang 38

+ Đá ốp lát: Loại nguyên liệu này có ở đèo Bảo Lộc, do độ nguyên khốinhỏ nên chỉ có thể sản xuất loại kích thước nhỏ phục vụ nhu cầu trong nước.+ Đất sét: Có nhiều ở Đại Bình, vùng B’Lao Xirê, Đại Lào là nguyênliệu làm gạch ngói khá tốt trữ lượng hơn 2 triệu m3, nay mới khai thác số ít,quy mô nhỏ, mỗi năm làm được vài triệu viên cả gạch và ngói Ngoài ra còncát, đá dăm, đá sỏi ở một số nơi đều có thể khai thác, vận chuyển dễ dàngthuận tiện.

2.1.3.4 Tài nguyên nước

Nước trên mặt: Bảo Lộc nằm trong vùng có lượng mưa tập trung, cómạng sông suối khá dày, có mật độ bình quân 0,9 km/km2 - 1,1 km/km2

+ Về phía Đông của thị xã có hệ thống sông Darnga là ranh giới vớihuyện Bảo Lâm Các phụ lưu lớn của sông Darnga ở địa phận Bảo Lộc cósuối DasreDong, suối DamDrong, suối Dalerian các suối này có nướcthường xuyên, lưu lượng nước 12.300m3/ngày có thể sử dụng làm nguồn nướcbơm tưới cho cây trồng

+ Về phía Nam có hệ thống sông Đại Bình được bắt nguồn từ các dãynúi phía Nam và Tây thị xã, các phụ lưu của sông Đại Bình, suối Datab, suốiTân Hà có trữ lượng nước khá lớn làm nguồn bơm tưới cho cây trồng vùngtiếp giáp hai bên sông

+ Về phía Tây Bắc là hệ thống suối Đambri có nước quanh năm, nhiềugềnh thác, trong đó có khu du lịch sinh thái thác Đambri là nơi du lịch hấp

Trang 39

dẫn Ngoài ra Bảo Lộc còn có 4 hồ có lượng nước khá lớn như hồ NamPhương 1 diện tích 120 ha với 1 triệu m3 nước, hồ Đồng Nai trung tâm thị xãhơn 9ha với 10.000m3 nước, hồ thủy điện Lộc Phát 4ha với 5.000m3 nước.Trong quy hoạch hồ Nam Phương 2 ở khu đô thị Bắc Hà Giang có lượngnước từ 1.5 triệu m3 đến 1.8 triệu m3.

Nhìn chung Bảo Lộc có mức độ giàu nước trong các sông, suối, hồ.Nước ngầm: Bảo Lộc là khu vực giàu nước ngầm phân bổ đều ở khu trungtâm thị xã và các vùng lân cận, rất thuận lợi trong khai thác, sử dụng, đầu tư ítcũng đảm bảo việc cung cấp sử dụng Nếu đầu tư nhiều thì nguồn nước càngphong phú hơn, giếng đào độ sâu 15m - 25m, lưu lượng 0,25l/s - 0,30l/s, giếngkhoan chừng 60m - 80m, lưu lượng từ 5l/s - 10l/s

2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.4.1 Dân số và lao động

Theo số liệu thống kê, dân số của thị xã Bảo Lộc tính đến 31/12/2006 là151.840 người Trong đó nam là 75.503 người, nữ là 76.337 người Dân thànhthị là 92.443 người, dân nông thôn là 59.397 người [15,7]

Dân số thị xã Bảo Lộc chiếm 12,82% so với toàn tỉnh Thị xã Bảo Lộc

có dân số trẻ, số người trong độ tuổi lao động chiếm 56,83% Trong thời gianqua tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm dần, từ 13,93‰ năm 2004, xuống13,43‰ năm 2005 và 12,99‰ năm 2006

Mật độ dân số bình quân là 647 người/km2 xếp thứ nhất trong toàn tỉnhLâm Đồng Dân cư phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các phường nhưphường Lộc Phát 765 người/km2, phường Lộc Tiến 1.111 người/km2,phường II 2.756 người/km2, phường I 2.973 người/km2, phường B’Lao2.106 người/km2 và phường Lộc Sơn 1.243 người/km2 Phường I có mật độdân số cao nhất 2.973 người/km2 và xã có mật độ dân số thấp nhất là xã ĐạiLào 202 người/km2

Để biết được một cách cụ thể tình hình lao động của thị xã chúng ta xem

số liệu ở bảng 2.2

Trang 40

Bảng 2.2 Tình hình lao động của thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2004 - 2006

Chỉ tiêu

SL (người)

Cơ cấu (%)

SL (người)

Cơ cấu (%)

SL (người)

Cơ cấu (%)

2005/2004 2006/2005 Số

tuyệt đối (người )

Số tương đối(%

)

Số tuyệt đối (người )

Số tương đối (%)

Ngày đăng: 04/08/2013, 21:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Tỉ lệ nghèo theo vùng giai đoạn 2002 – 2004 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 1.2. Tỉ lệ nghèo theo vùng giai đoạn 2002 – 2004 (Trang 26)
Bảng 1.3. Các chỉ tiêu xã hội cấp xã của tỉnh Lâm Đồng giai đoạn  2002 - 2006 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 1.3. Các chỉ tiêu xã hội cấp xã của tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2002 - 2006 (Trang 29)
Bảng 1.4. Các chỉ tiêu xã hội cấp xã của thị xã Bảo Lộc giai đoạn  2002 - 2006 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 1.4. Các chỉ tiêu xã hội cấp xã của thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2002 - 2006 (Trang 30)
Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất đai của thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2004 – 2006 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất đai của thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2004 – 2006 (Trang 35)
Bảng 2.2. Tình hình lao động của thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2004 - 2006 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 2.2. Tình hình lao động của thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2004 - 2006 (Trang 39)
Bảng 2.3. Tình hình trường lớp, giáo viên và học sinh mẫu giáo năm  2005 - 2006 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 2.3. Tình hình trường lớp, giáo viên và học sinh mẫu giáo năm 2005 - 2006 (Trang 43)
Bảng 2.4. Tình hình giáo dục - đào tạo của thị xã Bảo Lộc năm 2005 - 2006 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 2.4. Tình hình giáo dục - đào tạo của thị xã Bảo Lộc năm 2005 - 2006 (Trang 44)
Bảng 2.5. Cơ sở vật chất và cán bộ y tế thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2004 – 2006 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 2.5. Cơ sở vật chất và cán bộ y tế thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2004 – 2006 (Trang 45)
Bảng 2.6. Số hộ nghèo điều tra năm 2007 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 2.6. Số hộ nghèo điều tra năm 2007 (Trang 53)
Bảng 3.2: Nguyên nhân nghèo đói của thị xã Bảo Lộc - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 3.2 Nguyên nhân nghèo đói của thị xã Bảo Lộc (Trang 60)
Bảng 3.3: Tình hình nhân khẩu và lao động - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 3.3 Tình hình nhân khẩu và lao động (Trang 61)
Bảng 3.5: Tình hình tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 3.5 Tình hình tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng (Trang 64)
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa NHCSXH với hộ nghèo vay vốn - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa NHCSXH với hộ nghèo vay vốn (Trang 67)
Bảng 3.6: Tình hình cho vay hộ nghèo của NHCSXH thị xã Bảo Lộc  giai đoạn 2005 – 2007 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 3.6 Tình hình cho vay hộ nghèo của NHCSXH thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2005 – 2007 (Trang 68)
Bảng 3.7: Mức độ tăng diện tích trà, cà phê và đàn gia súc của các hộ  vay vốn của NHCSXH thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2005 – 2007 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại thị xã bảo lộc, tỉnh lâm đồng
Bảng 3.7 Mức độ tăng diện tích trà, cà phê và đàn gia súc của các hộ vay vốn của NHCSXH thị xã Bảo Lộc giai đoạn 2005 – 2007 (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w