Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của Luận án được xác định là: Thứ nhất, thực hiện tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài, chỉ ra các vấn đề mà
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG QUỐC HÙNG
PHÁP LUẬT VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG QUỐC HÙNG
PHÁP LUẬT VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 62.38.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS NGUYỄN THÚY HIỀN
2 TS ĐẶNG VŨ HUÂN
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong Luận án là trung thực Những kết luận khoa học của Luận án chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Hoàng Quốc Hùng
Trang 4MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 30
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP 33
2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Lý lịch tư pháp 33
2.2 Khái quát một số vấn đề lý luận pháp luật về Lý lịch tư pháp 42
2.3 Kinh nghiệm pháp luật về Lý lịch tư pháp ở một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam 56
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM 66
3.1 Thực trạng pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt Nam 66
3.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay 80
3.3 Đánh giá chung thực trạng pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay 93
Chương 4: XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP CỦA VIỆT NAM 117
4.1 Xây dựng chính sách pháp luật về Lý lịch tư pháp ở Việt Nam 117
4.2 Những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay 126
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 164
Trang 6Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 166Hình 3.1 Quy trình cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin LLTP và lập, cập nhật bổ sung thông tin vào LLTP tại Trung tâm LLTPQG và các Sở Tư pháp 167Hình 3.2 Quy trình tiếp nhận, cập nhật, xử lý bản LLTP, thông tin LLTP bổ sung của
Sở Tư pháp cung cấp cho Trung tâm LLTPQG 168Hình 3.3 Sơ đồ thủ tục cấp phiếu Lý lịch tư pháp theo Luật LLTP 174Hình 3.4 Cách thức tra cứu thông tin để cấp phiếu Lý lịch tư pháp 175Hình 3.5 Mô hình các cơ quan cung cấp thông tin LLTP cho 63 Sở Tư pháp theo quy định hiện nay 176Hình 3.6 Mô hình các cơ quan cung cấp thông tin LLTP cho Trung tâm LLTPQG theo quy định hiện nay 177Hình 3.7 Mô hình đề xuất các cơ quan cung cấp thông tin LLTP cho 63 Sở Tư pháp theo phương án tập trung vào một đầu mối là Viện Kiểm sát nhân dân các cấp 179Hình 3.8 Mô hình đề xuất các cơ quan cung cấp thông tin LLTP cho cơ quan quản lý LLTP thuộc Bộ Tư pháp theo phương án tập trung vào một đầu mối là Viện Kiểm sát nhân dân các cấp 180Hình 3.9 Mô hình các cơ quan cung cấp thông tin LLTP cho 63 Sở Tư pháp theo phương
án thu gọn các các cơ quan cung cấp thông tin LLTP của cơ quan công an 182Hình 3.10 Mô hình các cơ quan cung cấp thông tin LLTP cho cơ quan quản lý LLTP thuộc Bộ Tư pháp theo phương án thu gọn các các cơ quan cung cấp thông tin LLTP của cơ quan công an 183Hình 4.1 Mô hình xây dựng CSDL LLTP quốc gia tập trung thống nhất được quản lý tại Bộ Tư pháp 186Hình 4.2 Mô hình CSDL LLTP quốc gia tập trung thống nhất được quản lý tại Bộ Tư pháp chỉ có 01 cơ quan duy nhất thuộc Bộ Tư pháp và các chi nhánh tại một số khu vực 187Hình 4.3 Mô hình quản lý LLTP hai cấp như hiện nay 188
Trang 8DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1 Đồ thị phân loại, vào sổ tiếp nhận thông tin đối với thông tin LLTP 169
Đồ thị 3.2 Đồ thị tình hình xử lý thông tin LLTP nhận được của Sở Tư pháp 169
Đồ thị 3.3 Đồ thị về số lượng phiếu LLTP được cấp qua các năm 171
Đồ thị 3.4 Tình trạng cấp phiếu LLTP trễ hạn tại Trung tâm LLTPQG 172
Đồ thị 3.5 Thực trạng cấp phiếu LLTP tại các Sở Tư pháp 173
Đồ thị 3.6 Tiến độ xử lý thông tin LLTP nhận được của Trung tâm LLTPQG tính đến ngày 31/12/2016 184
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Lý lịch tư pháp là hồ sơ về phương diện tư pháp của một đối tượng cụ thể Thuật ngữ “Lý lịch tư pháp” đã xuất hiện từ lâu trong đời sống pháp lý nước ta Nhìn vào lịch sử, trong các văn bản pháp luật và tài liệu giảng dạy luật của chế độ
cũ đã sử dụng thuật ngữ “tư pháp lý lịch”, tương ứng với thuật ngữ tiếng Pháp
“casier judiciaire” và được định nghĩa: “Tư pháp lý lịch là một tổ chức nhằm tập trung tài liệu về những tiền án liên hệ đến một cá nhân”
Pháp luật về Lý lịch tư pháp đã có quá trình phát triển từ rất lâu trong lịch sử
và ngày nay càng phát triển mạnh mẽ khi kinh tế, xã hội của thế giới đang phát triển theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế Trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền công dân, góp phần vào công cuộc hội nhập quốc tế, ngày 17/6/2009, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Lý lịch
tư pháp Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2010 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và mục đích quản lý nhà nước về lĩnh vực này, trên cơ sở Luật Lý lịch tư pháp, hệ thống các văn bản hướng dẫn Luật Lý lịch tư pháp được hình thành và thúc đẩy pháp luật về Lý lịch tư pháp được phát triển Pháp luật về Lý lịch tư pháp đã quy định phạm vi quản lý Lý lịch tư pháp về án tích, tình trạng thi hành án và về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản
Hiện nay, nhận thức của xã hội về ý nghĩa, giá trị của phiếu Lý lịch tư pháp cũng ngày càng được nâng lên Sự phát triển của nền kinh tế thị trường làm cho các quan hệ xã hội cũng ngày càng phong phú và đa dạng Phiếu Lý lịch tư pháp được coi là giấy tờ pháp lý quan trọng chứng minh cá nhân có hay không có án tích khi tham gia vào các quan hệ pháp lý, đặc biệt là trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế Đến nay, có hơn 80 thủ tục hành chính có yêu cầu phiếu Lý lịch tư pháp như thủ tục về nuôi con nuôi, quốc tịch, luật sư, quản lý cư trú, tổ chức phi chính
Trang 10phủ, khám chữa bệnh, khoa học và công nghệ, hàng không, chứng khoán, bảo hiểm… Thông qua thực hiện pháp luật về Lý lịch tư pháp, nhận thức của xã hội về
ý nghĩa, giá trị pháp luật về Lý lịch tư pháp ngày càng được nâng lên, qua đó pháp luật về Lý lịch tư pháp trở thành công cụ pháp lý quan trọng góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong việc chứng minh nhân thân tư pháp của mình khi tham gia vào các quan hệ pháp lý, dân sự, bảo đảm công khai, minh bạch, dân chủ Pháp luật về Lý lịch tư pháp cũng phát huy vai trò là công cụ quan trọng
hỗ trợ cho các cơ quan nhà nước trong quản lý dân cư, quản lý xã hội
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong bối cảnh hiện nay với yêu cầu cao hơn trong quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp, với chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng Chính phủ điện tử và nhu cầu của xã hội ngày càng cao, pháp luật về Lý lịch tư pháp hiện hành đã trở nên bất cập so với hệ thống pháp luật hiện hành, không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn Bên cạnh đó, nhu cầu được cấp phiếu Lý lịch tư pháp của nước ta trong những năm qua đã tăng lên một cách đột biến dẫn đến “quá tải”, “tắc nghẽn” trong việc tra cứu, xác minh Thông tin Lý lịch tư pháp làm chậm thời hạn cấp phiếu Lý lịch tư pháp cho người dân Nguyên nhân của thực trạng trên chủ yếu do quy định pháp luật về Lý lịch tư pháp hiện nay chưa bảo đảm phù hợp, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành; quy định pháp luật về Lý lịch tư pháp liên quan đến hoạt động xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp còn hạn chế đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác cung cấp, tiếp nhận thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu Lý lịch
tư pháp; trình tự, thủ tục cấp phiếu Lý lịch tư pháp và trách nhiệm trong việc phối hợp tra cứu, xác minh thông tin để cấp phiếu Lý lịch tư pháp còn hạn chế, bất cập, gây khó khăn, trở ngại cho người dân, cũng như cơ quan giải quyết thủ tục cấp phiếu Lý lịch tư pháp
Với thực tế trên, tác giả nhận thấy vẫn còn rất nhiều vướng mắc trong lý luận lẫn thực tiễn pháp luật về Lý lịch tư pháp của nước ta Việc nghiên cứu đề
tài “Pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay” là hết sức cấp thiết
nhằm tìm ra các phương pháp giải quyết thực trạng trên, cải thiện, tăng cường
Trang 11hiệu quả pháp luật về Lý lịch tư pháp, đưa hoạt động Lý lịch tư pháp đạt được các mục tiêu mà nhà nước đã đề ra
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án nhằm nghiên cứu tổng quát các vấn đề về lý luận và thực tiễn pháp luật về Lý lịch tư pháp ở nước ta hiện nay, qua đó hình thành các lý luận cơ bản, xây dựng luận cứ khoa học trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật về Lý lịch tư pháp, tìm
ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan của của các vấn đề còn hạn chế, yếu kém, bất cập Từ đó, đề xuất định hướng chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về Lý lịch tư pháp ở nước ta, góp phần xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động vì quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của Luận án được xác định là:
Thứ nhất, thực hiện tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề
tài, chỉ ra các vấn đề mà Luận án cần tiếp tục nghiên cứu;
Thứ hai, phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp luật về Lý lịch tư
pháp như: khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay; khái niệm, đặc điểm pháp luật về Lý lịch tư pháp ở một số quốc gia trên thế giới; những nội dung cơ bản pháp luật về Lý lịch tư pháp về mặt lý thuyết trên cơ sở so sánh pháp luật về Lý lịch tư pháp với các nước để rút kinh nghiệm, ứng dụng vào thực tiễn nước ta
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về
Lý lịch tư pháp ở nước ta, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
Thứ tư, từ những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, Luận án sẽ đưa ra định
hướng chính sách và các giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật về Lý lịch tư pháp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của Luận án là những vấn đề lý luận pháp luật về
Lý lịch tư pháp; thực trạng pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay
và thực tiễn áp dụng pháp luật về Lý lịch tư pháp; số liệu liên quan đến đề tài luận án được tham khảo trong phạm vi toàn quốc qua tổng kết 07 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp Bên cạnh đó, Luận án cũng nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật về Lý lịch tư pháp của một số nước trên thế giới nhằm rút ra bài học nhằm hoàn thiện pháp luật về Lý lịch tư pháp tại Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu chủ yếu những vấn đề lý luận và
thực tiễn pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt Nam Đặc biệt là từ những nội dung cơ bản được đề cập trong Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Về không gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt
Nam và để sâu sắc hơn vấn đề nghiên cứu, Luận án cũng có những nghiên cứu nhưng cũng có một số đánh giá đối với pháp luật về Lý lịch tư pháp ở một số nước trên thế giới, đặc biệt là ở một số nước như: Pháp, CHLB Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản
và đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam
- Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu pháp luật về Lý lịch tư
pháp của Việt Nam từ năm 1999 (áp dụng cấp phiếu Lý lịch tư pháp theo Thông tư liên tịch số 07) đến nay và đề xuất giải pháp đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Đối với pháp luật về Lý lịch tư pháp của các nước sẽ khảo cứu pháp luật hiện hành
về Lý lịch tư pháp
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là những phương pháp luận khoa học, thế giới quan và nhân sinh quan duy vật biện chứng được vận dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu toàn bộ Luận án
Luận án cũng sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu tin cậy và cụ thể như: Phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp luật học
so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp dự báo khoa học… Theo đó:
Trang 13- Chương 1, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê để hệ thống hóa tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung của Luận án
- Chương 2, sử dụng chủ yếu phương pháp tiếp cận đa ngành luật học, phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp luật học so sánh;
- Chương 3, sử dụng chủ yếu phương pháp hệ thống, thống kê, phương pháp phân tích và tổng hợp và phương pháp lịch sử cụ thể;
- Chương 4, chủ yếu áp dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống và phương pháp dự báo khoa học
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, Luận án tìm hiểu, hệ thống hoá các công trình nghiên cứu ở
trong nước và nước ngoài, phân tích, đánh giá các yếu tố có liên quan đến lý luận
và thực tiễn pháp luật về Lý lịch tư pháp Từ tổng quan tình hình nghiên cứu, Luận án tiếp thu những vấn đề đã được nghiên cứu và xác định rõ, tiếp tục nghiên cứu để tìm ra những vấn đề chưa sáng tỏ, những vấn đề chưa được thống nhất phục vụ cho đề tài của Luận án như cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật về
Lý lịch tư pháp, cải cách mô hình quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp, thay đổi
mô hình tổ chức của cơ quan quan lý nhà nước về Lý lịch tư pháp, điện tử hóa
dữ liệu Lý lịch tư pháp, cải cách hành chính trong cấp phiếu Lý lịch tư pháp…
Thứ hai, trên cơ sở phân tích về mặt khoa học, pháp lý, thực tiễn và chọn lọc
tiếp thu quan điểm của các công trình nghiên cứu đã được công bố, Luận án đã đưa
ra khái niệm pháp luật về Lý lịch tư pháp và lần đầu tiên xây dựng khái niệm toàn diện, chỉ ra các đặc điểm pháp luật về Lý lịch tư pháp Xuất phát từ đòi hỏi của thực
tế đời sống, của quá trình xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật về Lý lịch tư pháp, Luận án đã xây dựng hệ thống các tiêu chí để hoàn thiện pháp luật về Lý lịch
tư pháp của Việt Nam, đặc biệt là gắn với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam hiện nay Luận án đã phân tích đầy đủ và toàn diện vai trò, ý nghĩa pháp luật về Lý lịch tư pháp trong hệ thống pháp luật và trong đời sống xã hội, đồng thời phân tích các yếu tố làm ảnh hưởng tới pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay
và gắn chặt với tình hình đặc điểm cụ thể của Việt Nam để làm nổi bật lên tính tất
Trang 14yếu khách quan đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ để hoàn thiện pháp luật về Lý lịch tư pháp theo những tiêu chí nhất định Luận án đã phân tích làm rõ được những
ưu điểm và hạn chế trong các quy định trong pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay và đâu là nguyên nhân của những hạn chế đó Khái quát được nhu cầu cần thiết cho việc điều chỉnh pháp luật đối với Lý lịch tư pháp
Thứ ba, về mặt thực tiễn, các công trình nghiên cứu pháp luật về Lý lịch tư
pháp ở nước ta giai đoạn vừa qua thường dựa trên một số số liệu chưa cập nhật đầy
đủ và chỉ phản ánh một khía cạnh, một phần thực trạng pháp luật về Lý lịch tư pháp
ở nước ta hiện nay Luận án đã đưa ra một số chế định pháp luật về Lý lịch tư pháp của một số nước trên thế giới để có cơ sở so sánh đối tượng, phạm vi điều chỉnh, phương thức điều chỉnh bao gồm: mô hình quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp, phiếu Lý lịch tư pháp và cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay, so sánh với mô hình quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp, phiếu Lý lịch tư pháp và cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp của các nước trên thế giới, từ đó đánh giá được thực trạng của Việt Nam đang có những bất cập gì và cần được sửa đổi như thế nào, rút ra bài học kinh nghiệm từ các các nước nhằm đưa ra, phân tích và đề xuất cách nhìn mới, quan điểm mới để áp dụng tại Việt Nam Luận
án khái quát bức tranh tổng thể và nhận định, đánh giá một cách toàn diện, cập nhật,
bổ sung đầy đủ các số liệu, phản ánh rõ thực trạng, qua đó xác định rõ ưu điểm của những kết quả đã đạt được, chỉ ra một số hạn chế, tồn tại, bất cập và nguyên nhân của tình trạng này Đây là cơ sở thực tiễn để Luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật về Lý lịch tư pháp ở nước ta hiện nay
Thứ tư, Luận án đã đề xuất phương hướng hoàn thiện để đảm bảo tối đa
quyền con người trong các vấn đề tiếp cận thông tin, giữ bí mật đời tư khi cá nhân xin cấp phiếu Lý lịch tư pháp Bên cạnh đó, tìm được giải pháp để tạo ra cơ chế bảo đảm cho sự phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp
và các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tra cứu xác minh về án tích, xác minh điều kiện đương nhiên xoá án tích và các hoạt động khác trong lĩnh vực Lý lịch tư pháp
Trang 15Luận án đưa ra được các phương án để tạo cơ chế đảm bảo cho trách nhiệm phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp với các cơ quan có nhiệm vụ phải cung cấp thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp
và tìm ra được giải pháp, phương hướng, quan điểm nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Lý lịch tư pháp, để các hoạt động trong lĩnh vực Lý lịch tư pháp trở thành một công cụ hiệu quả trong việc hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra, xét xử và trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Luận án cũng kiến nghị các giải pháp bảo đảm tăng cường hiệu quả trong thực hiện pháp luật về Lý lịch tư pháp như: chọn phương án tối ưu cho mô hình cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp trên cơ sở chuyển đổi mô hình quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp từ
2 cấp, 64 đầu mối thành 1 cấp, 1 đầu mối; mở quyền lựa chọn cơ quan cấp phiếu Lý lịch tư pháp cho người dân để giảm bớt tình trạng chậm thời hạn cấp phiếu Lý lịch
tư pháp và quá tải ở các thành phố lớn; bãi bỏ phiếu Lý lịch tư pháp số 2 để đảm bảo quyền con người được quy định trong Hiến pháp 2013; quy định bổ sung trách nhiệm của các cơ quan Viện kiểm sát trong việc cung cấp thông tin để cập nhật cơ
sở dữ liệu Lý lịch tư pháp về điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định của khoản 4, Điều 70 Bộ luật Hình sự 2015; mở rộng các phương thức cấp phiếu Lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính công ích và trực tuyến cho người dân, thể chế hóa việc cung cấp, tiếp nhận thông tin, cấp phiếu Lý lịch tư pháp qua mạng máy tính, số hóa cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp; kiện toàn tổ chức bộ máy
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay trong bối cảnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và hội nhập quốc tế
Kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần có được cái nhìn toàn diện pháp luật
về Lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay và các quy định này đã được áp dụng như thế nào trong thực tiễn, qua đó đánh giá các kết quả đã đạt được, những vấn đề còn tồn
Trang 16tại, khó khăn, vướng mắc, bất cập, tìm ra các nguyên nhân chủ quan và khách quan để
có đủ cơ sở khoa học đề ra các phương hướng, giải pháp tháo gỡ, khắc phục
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy Những phương hướng và giải pháp được đề xuất tại Luận án có thể gợi
mở cho các cơ quan quản lý, xây dựng pháp luật có những điều chỉnh để xây dựng
cơ chế góp phần đảm bảo về quyền con người, quyền công dân và pháp chế XHCN, hoàn thiện pháp luật về Lý lịch tư pháp
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu
4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến
đề tài luận án
Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về Lý lịch tư pháp
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về Lý lịch tư pháp ở
Việt Nam
Chương 4: Định hướng chính sách và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Lý
lịch tư pháp của Việt Nam
Trang 17
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu pháp luật Việt Nam về Lý lịch tư pháp
1.1.1.1 Các nghiên cứu lý luận pháp luật về Lý lịch tư pháp
Luật Lý lịch tư pháp (LLTP) được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2009, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2010 Sau hơn 07 năm thi hành, Luật LLTP đã đạt được kết quả trên nhiều mặt Tuy vậy, tính đến nay chưa có một văn bản, tài liệu nào nghiên cứu chuyên sâu nào nghiên cứu chuyên sâu lý luận pháp luật về LLTP ở nước ta hiện nay Tất cả các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đề cập đến đề tài cụ thể này mà chỉ dừng lại ở các vấn đề về mặt lý luận chung và giới thiệu về LLTP như:
Thứ nhất, về quyền con người liên quan đến pháp luật về Lý lịch tư pháp
Sách chuyên khảo do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên “Quyền con người -
Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010 (3
tập, 1010 tr.); “Quyền con người” (Giáo trình giảng dạy sau đại học), Nxb Khoa học
xã hội, 2011 (487 tr.); “LLTP và vấn đề đảm bảo quyền con người” trong Chuyên
đề nghiên cứu đăng Trang Web Bộ Tư pháp ngày 19/02/2014 của ThS Đỗ Thúy Lan - Phó Giám đốc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia (Trung tâm LLTPQG), Bộ
Tư pháp Trong các công trình nghiên cứu này, thông qua việc phân tích khái niệm, bản chất, giá trị, tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người đã cho phép tiếp cận và làm sáng tỏ hơn về nội dung và bản chất pháp lý, cơ sở lý luận và thực tiễn
có liên quan đến quyền giữ bí mật cá nhân, quyền tiếp cận thông tin, quyền được coi
là chưa bao giờ phạm tội khi đã được xóa án tích (XAT), quyền được hòa nhập cộng đồng, quyền được lao động, làm việc, học tập, quyền tự do cư trú… là những quyền được thể hiện đậm nét trong các tác phẩm nêu trên Đặc biệt, cuốn sách chuyên khảo của GS.TS Võ Khánh Vinh đã cung cấp cho tác giả những thông tin
Trang 18cũng như những luận giải quan trọng dưới góc độ luật học về lý luận cũng như thực tiễn, về phương pháp tư duy, phương pháp tiếp cận, tầm nhìn của một nhà khoa học
để nghiên cứu về quyền con người Từ đó, tác giả hình thành nên tư tưởng, định hướng nghiên cứu Luận án dưới góc độ vì quyền con người
Thứ hai, các nghiên cứu về Lý lịch tư pháp
Đề tài “Những cơ sở pháp lý của việc hình thành tổ chức LLTP để phục vụ
cho chính sách xử lý hình sự, quản lý xã hội bằng pháp luật và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của công dân”, Luận văn Thạc sĩ luật học của Nguyễn Trí Hòa, Đại học
Luật Hà Nội, 1997; Đề tài khoa học cấp Bộ “LLTP - Thực trạng, phương pháp tổ
chức, quản lý và hoạt động trong điều kiện mới”, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư
pháp, 1997; “Một số suy nghĩ bước đầu về quản lý LLTP”, Trần Thất, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3, 4/1996; “Một số suy nghĩ về vấn đề LLTP”, Nguyễn Đức Chính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8/1997; “LLTP, bí mật đời tư về tình trạng
tiền án của cá nhân”, Nguyễn Ngọc Anh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 6/2005;
“LLTP: Nhìn từ góc độ công tác thống kê tội phạm của ngành kiểm sát”, Nguyễn Minh Đức, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10/2008; “Quản lý nhà nước về LLTP
từ thực tiễn thành phố Hải Phòng”, Nguyễn Thị Phương Anh, Luận văn Thạc sỹ
luật học, 2015 Các tác phẩm trên đã phân tích quá trình hình thành và phát triển của LLTP, các cơ sở lý luận và thực tiễn của LLTP Các tác giả đã tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau để nghiên cứu lý luận về LLTP như: khái niệm, đặc điểm, vai trò,
ý nghĩa của LLTP trong xã hội, đánh giá cơ sở pháp lý của việc hình thành LLTP và đưa ra quan điểm, phương pháp, mô hình quản lý nhà nước về LLTP trong đó có
mô hình quản lý tập trung thống nhất vào một CSDL ở trung ương (đã được Luận
án tiếp thu, kế thừa), tích hợp CSDL LLTP với các địa phương, các ngành, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến LLTP và các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về LLTP Luận án đã chắt lọc, tiếp thu các tác phẩm trên để bổ sung, hoàn thiện cơ sở
sở lý luận pháp luật về LLTP được thể hiện cụ thể tại chương 2 của Luận án
Thứ ba, các nghiên cứu pháp luật về Lý lịch tư pháp
Đề tài khoa học cấp Bộ “Lý lịch tư pháp - thực trạng, phương pháp tổ chức,
Trang 19quản lý và hoạt động trong điều kiện mới”, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp,
1997 và đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh
LLTP” do TS Trần Thất làm chủ nhiệm có phạm vi nghiên cứu khá rộng, là
công trình nghiên cứu đầu tiên về cơ sở lý luận pháp luật về LLTP cũng như đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về LLTP Đề tài
đã nghiên cứu khá sâu một số vấn đề lý luận pháp luật về LLTP như: nguồn gốc, lịch sử LLTP, khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, vai trò của LLTP, các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm để thực hiện pháp luật về LLTP, các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về LLTP Đề tài cũng phân tích đánh giá các quy định hiện hành pháp luật về LLTP; đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về LLTP; chỉ ra các vướng mắc, bất cập; phân tích các nguyên nhân và đề ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về LLTP Đề tài đã phân tích mối quan hệ giữa pháp luật về LLTP và
các ngành luật khác: so sánh về cơ chế tổ chức, hoạt động trong lĩnh vực LLTP, qua đó
cho thấy rằng pháp luật về LLTP không phải là một ngành luật độc lập mà nó còn có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với các ngành luật khác như Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Luật Thi hành án dân sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Đặc xá, Luật Phá sản… Tương tự như vậy, mối quan hệ giữa các cơ quan cơ sở
dữ liệu (CSDL) LLTP và các cơ quan liên quan khác như Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, các cơ quan công an… không chỉ là mối quan hệ độc lập một chiều
mà giữa các cơ quan này có sự tác động qua lại, gắn bó chặt chẽ với nhau Qua đó, nêu lên những kiến nghị bổ sung quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này trong việc liên kết, phối hợp với các cơ quan CSDL LLTP để các hoạt động về LLTP đạt được kết quả cao nhất Tuy nhiên, do thời điểm nghiên cứu cũng đã quá lâu so với hiện tại nên tác giả đã tiếp cận với phương pháp lịch sử cụ thể để đánh giá tính khoa học của đề tài, tiếp thu, kế thừa các luận điểm còn phù hợp với hiện tại, tham khảo làm cơ sở lý luận và thực tiễn để đề ra các giải pháp hoàn thiện
pháp luật về LLTP hiện hành Đề tài “Ý nghĩa, vai trò của LLTP trong đời sống
xã hội” của ThS Hoàng Quốc Hùng tại số chuyên đề tháng 8 năm 2015 Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật đã phân tích 07 vấn đề nổi bật ý nghĩa, vai trò của LLTP đối
Trang 20với đời sống xã hội và đã được đưa vào nội dung của Luận án Các chuyên đề nghiên cứu khoa học của ThS Hoàng Quốc Hùng đăng trên Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật số chuyên đề “pháp luật về LLTP” tháng 6 năm 2017: “LLTP và pháp
luật về LLTP”, “Pháp luật về LLTP của Việt Nam qua các thời kỳ”, “Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về LLTP”, “Bàn về hoàn thiện pháp luật về LLTP ở nước ta hiện nay”, “Hạn chế bất cập trong thực tiễn thực hiện pháp luật về LLTP” đã đưa
ra được cơ sở lý luận pháp luật về LLTP bao gồm các khái niệm, định nghĩa, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa, nguyên tắc, các yếu tố ảnh hưởng tác động đến pháp luật về LLTP, các tiêu chí để hoàn thiện pháp luật về LLTP… và đánh giá thực trạng pháp luật về LLTP của Việt Nam Các đề tài này đã bám sát vào tình hình thực tiễn pháp luật về LLTP, chỉ ra các nguyên nhân khách quan và chủ quan của hạn chế, bất cập pháp luật về LLTP, đề ra các giải pháp mới, mang tính đột phá, phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội đang phát triển, hòa nhập sâu rộng với nền kinh
tế quốc tế và cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang ứng dụng, phát triển sâu rộng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, đặc biệt là công nghệ số hóa dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tự động hóa các quy trình xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác và cấp phiếu LLTP nhằm hoàn thiện pháp luật về LLTP và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về LLTP Luận án đã kế thừa các đề tài nêu trên để tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về LLTP của Việt Nam hiện nay
Các công trình khoa học nêu trên đã được các tác giả nghiên cứu nghiêm túc, đóng góp được rất nhiều vấn đề cơ bản cả về lý luận và thực tiễn pháp luật về LLTP và những vấn đề liên quan đến pháp luật về LLTP dưới góc độ là một chế định của ngành luật hình sự và tố tụng hình sự Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật về LLTP
để đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về LLTP Luận án sẽ kế thừa những nội dung của các công trình khoa học nêu trên, đồng thời phải nghiên cứu, tìm ra những điểm mới, bứt phá nhận thức pháp luật về LLTP để đưa ra các giải pháp mới, phù hợp với thực tiễn, mang tính khả thi, đảm bảo nâng cao hiệu quả pháp luật về LLTP
Trang 211.1.1.2 Các nghiên cứu về thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Lý lịch tư pháp
Thứ nhất, về mô hình cơ sở dữ liệu và mô hình tổ chức của cơ quan quản lý
cơ sở dữ liệu
Đề tài “Một số vấn đề về xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác CSDL
LLTP” của tác giả Đặng Thanh Sơn, nguyên Giám đốc Trung tâm LLTPQG - Bộ
Tư pháp; “Xây dựng, quản lý CSDL LLTP theo yêu cầu của Luật LLTP” của ThS
Đỗ Thị Thuý Lan; “Công tác xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác hồ sơ lưu trữ
- Kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng và tiêu chí kiểm soát chất lượng hoạt động xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng hồ sơ LLTP bằng văn bản giấy” của ThS Nguyễn Thị Tâm; “Thực tiễn hoạt động xây dựng, quản lý, sử dụng
và khai thác CSDL LLTP điện tử - Đề xuất tiêu chí kiểm soát chất lượng hoạt động xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác dữ liệu LLTP điện tử” của ThS Kiều Hoa;
“Ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác dữ liệu LLTP điện tử - Đề xuất tiêu chí kiểm soát chất lượng hoạt động quản lý, sử dụng và khai thác dữ liệu LLTP điện tử” của Cục Công nghệ thông tin, Bộ Tư pháp; “Thực tiễn hoạt động và chất lượng hoạt động xây dựng CSDL LLTP bằng văn bản giấy -
Đề xuất tiêu chí kiểm soát chất lượng hoạt động xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác CSDL LLTP bằng văn bản giấy” của ThS Trần Thị Thu Hằng; “Hoạt động xây dựng, quản lý, khai thác sử dụng và kiểm soát chất lượng hoạt động xây dựng, quản lý, khai thác sử dụng CSDL của ngành công an - Kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng lượng hoạt động xây dựng, quản lý, khai thác sử dụng CSDL LLTP” của Ths Nguyễn Huy Mạ, Cục trưởng Cục Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát
- Bộ Công an; “Ngành Tòa án với việc triển khai Chiến lược phát triển LLTP đến
năm 2020, tầm nhìn 2030” của ThS Trần Mạnh Hùng, Tòa án nhân dân tối cao;
“Mối quan hệ giữa Cục Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát với cơ quan quản lý LLTP trước
và sau thời điểm Luật LLTP có hiệu lực thi hành”, ThS Phạm Đình Thi Nhóm các
đề tài trên đã chỉ ra các vấn đề liên quan đến mô hình CSDL, mô hình tổ chức của
cơ quan quản lý CSDL, những vấn đề khó khăn, bất cập trong công tác xây dựng,
Trang 22quản lý, sử dụng và khai thác CSDL LLTP và đề xuất một số giải pháp để khắc phục
Đề tài đã gợi mở một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và làm sâu sắc thêm dưới góc
độ khoa học pháp lý Tuy nhiên, do hạn chế về tư duy khoa học công nghệ, nên các
đề tài trên chỉ tập trung nghiên cứu vận dụng cách tổ chức, đào tạo, bố trí, sắp xếp con người có chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện việc tạo lập, cập nhật, xử lý, kiểm tra, rà soát, đối chiếu thông tin LLTP Những vấn đề này đã được Luận án tiếp thu theo hướng xây dựng một giải pháp áp dụng tối ưu công nghệ thông tin để tích hợp
dữ liệu, tạo lập một vùng dữ liệu duy nhất trên cơ sở tích hợp 64 vùng dữ liệu (dữ liệu của Trung tâm LLTPQG và dữ liệu của 63 Sở Tư pháp) và thay thế con người bằng giải pháp ứng dụng tin học hóa vào công tác này nhằm tự động hóa các quy trình xây
dựng, quản lý, vận hành, khai thác và cấp phiếu LLTP
Thứ hai, về quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp
Đề tài khoa học cấp Bộ, “Xây dựng tiêu chí kiểm soát chất lượng hoạt động
xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác CSDL LLTP”, năm 2014, Viện Khoa học
pháp lý, Bộ Tư pháp; Đề tài: “Vấn đề về chất lượng và kiểm soát chất lượng hoạt
động xây dựng, quản lý, sử dụng, khai thác CSDL LLTP” của ThS Đỗ Thị Thúy
Lan; Đề tài: “Quản lý nhà nước về CSDL LLTP của Việt Nam hiện nay”, Nguyễn
Văn Thắng, năm 2015, luận văn thạc sỹ, Học viện Khoa học - Xã hội Nhóm đề tài này đã phân tích, đánh giá vấn đề quan trọng nhất của CSDL LLTP là chất lượng thông tin và kiểm soát chất lượng thông tin Đề tài đã phân tích làm sáng tỏ lý luận
về CSDL LLTP, đánh giá được thực trạng chất lượng CSDL LLTP, chỉ rõ các vấn
đề còn hạn chế, bất cập trong việc kiểm soát chất lượng CSDL LLTP và đề ra một
số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng CSDL LLTP Tác giả đã kế thừa một số vấn đề mang tính nguyên tắc kiểm soát chất lượng thông tin và thống nhất quan điểm đánh giá thực trạng chất lượng CSDL LLTP của ThS Đỗ Thúy Lan nhưng chưa đồng tình với nội dung phân tích nguyên nhân của các hạn chế, bất cập cũng như các đề xuất giải pháp của ThS Đỗ Thúy Lan vì tác giả cho rằng cần phải nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, thấu đáo hơn mới tìm ra được các nguyên nhân gốc rễ của vấn đề chất lượng CSDL LLTP hiện hành Từ đó, cần tiếp cận
Trang 23dưới góc độ khoa học công nghệ, ứng dụng tin học để tự động hóa toàn bộ các khâu xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác và cấp phiếu LLTP thì mới giải quyết tối ưu vấn đề chất lượng và kiểm soát chất lượng CSDL LLTP và tiết kiệm nguồn nhân lực, tài chính cho việc xây dựng CSDL LLTP
Thứ ba, công tác quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp
Đề tài: “Quản lý nhà nước về LLTP trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Nguyễn Thị Ngọc, năm 2014; Đề tài: “Quản lý nhà nước về LLTP trên địa bàn thành phố
Hải Phòng”, Nguyễn Thị Phương Anh, năm 2015, luận văn thạc sỹ, Học viện Khoa
học - Xã hội, “Hạn chế, bất cập trong thực tiễn thực hiện pháp luật về LLTP”, “Một
số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về LLTP” và “Định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật LLTP năm 2009”, ThS Hoàng Quốc Hùng, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng 6 năm 2017 Nhóm đề tài này đã luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước về CSDL lý lịch tư pháp bao gồm: khái niệm, nội dung, mục đích, ý nghĩa và nguyên tắc quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp; các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp; mối quan hệ giữa pháp luật về LLTP và các
ngành luật khác; đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về LLTP ở một số thành
phố lớn Sau cùng, các đề tài trên đã đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về LLTP: Đó là các giải pháp về hoàn thiện pháp luật; kiện toàn tổ chức, bộ máy; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong việc trao đổi, cung cấp thông tin LLTP; đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động LLTP, Đây là những giải pháp vừa có tính trước mắt, vừa có tính lâu dài mà Luận án đã tiếp thu và hoàn thiện
Thứ tư, về khai thác thông tin và cấp phiếu Lý lịch tư pháp
Trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng 8 năm 2015 đã đăng
tài các bài viết: “Cấp phiếu LLTP cho người nước ngoài” của ThS Phạm Ngọc Thắng; “Thí điểm cấp phiếu LLTP qua dịch vị bưu chính, đăng ký cấp phiếu LLTP
trực tuyến” và “LLTP và vấn đề XAT” của ThS Đỗ Thúy Lan; “Kiềng ba chân, một giải pháp hữu hiệu trong giải quyết tình trạng chậm thời hạn cấp phiếu LLTP” của
Trang 24ThS Lương Nhân Hòa; trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 8 năm 2015, có bài
viết “Hoàn thiện pháp luật về cấp phiếu LLTP của Việt Nam hiện nay” và “Giải
pháp đẩy mạnh việc triển khai Đề án thí điểm cấp phiếu LLTP qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp phiếu LLTP trực tuyến” của ThS Hoàng Quốc Hùng Nhóm đề
tài trên đã tập trung nghiên cứu thực trạng tình hình khai thác thông tin và cấp phiếu LLTP của Việt Nam hiện nay, cập nhật thông tin về vấn đề cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong phối hợp, tra cứu, xác minh thông tin LLTP để cấp phiếu LLTP cho người dân được kịp thời, chính xác, toàn diện nhằm phục vụ tốt nhất cho quyền lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp Luận án kế thừa và tiếp thu các quan điểm, giải pháp rút ra từ nhóm đề tài này để bổ sung cho các giải pháp hoàn thiện pháp luật về LLTP của Việt Nam hiện nay
1.1.2 Tình hình nghiên cứu pháp luật nước ngoài về Lý lịch tư pháp
1.1.2.1 Các nghiên cứu lý luận pháp luật về Lý lịch tư pháp
Thứ nhất, về quyền con người có liên quan đến pháp luật về LLTP
Tại New Zealand đã có một số bài báo, bài viết bình luận, phân tích về quyền
con người có liên quan đến pháp luật về LLTP như: “Clean - slate law to hide
stigma of crime” [128], Audrey Young, nhà báo chuyên về chính trị; “Criminal records (Clean slate) Bill”, báo cáo của Uỷ ban Pháp luật và Bầu cử New Zealand
[129] Trong đó, các bài báo, bài báo cáo này phân tích về quyền con người có liên quan đến pháp luật về LLTP trên khía cạnh các quy định về việc giữ bí mật thông tin về án tích của một cá nhân khi người này đã đủ các điều kiện để được giữ bí mật
về thông tin án tích của mình, nhằm hạn chế sự ảnh hưởng về việc một cá nhân
phạm tội trong hầu hết các tình huống Trong bài viết của Phil Goff, “Clean Slate
Act to help 500.000 Kiwis” ngày 25/11/2004, Bộ Tư pháp New Zealand ước tính sẽ
có khoảng 500.000 người New Zealand bị ảnh hưởng và được cứu trợ từ Đạo luật này, phần lớn trong số đó là tội phạm chưa thành niên [127] Theo Bộ Tư pháp New Zealand, số lượng người dân New Zealand được thụ hưởng việc án tích của họ được giữ bí mật đang ngày càng gia tăng Trong bài viết của tác giả Anna Pearson,
“115.000 Kiwis get slate wiped clean”, Cục LLTP, Bộ Tư pháp New Zealand đã
Trang 25thống kê được có đến 450.000 yêu cầu một năm người New Zealand yêu cầu được
xem về tình trạng án tích của họ [138] Cũng trong bài báo này có đề cập việc The
Press, một hãng báo của New Zealand đã chỉ ra rằng từ tháng 9/2004 đến tháng
6/2014 có 115.508 người yêu cầu được biết về án tích của họ và đã được tuyên bố là không có án tích, nhờ vào Luật Giữ kín thông tin về án tích năm 2004 (Criminal Clean Slate Act 2004) Theo đó các bài báo, bài viết này tập trung phân tích về các quy định của Luật Giữ kín thông tin về án tích năm 2004 Trong đó, nội dung, mục đích chính của Luật này là chỉ che dấu hồ sơ LLTP của một người, giữ kín thông tin
về án tích của người đó mà không phải là xóa sạch chúng Tuy nhiên, những thông tin này vẫn sẽ được tiết lộ trong trường hợp đặc biệt như điều tra của cảnh sát hoặc xét xử của Tòa án Các bài viết phân tích đã nêu lên những ưu điểm, tác dụng của Luật này trong việc đảm bảo quyền con người có liên quan đến pháp luật về LLTP Qua đó, Luận án của tác giả đã tìm hiểu, cập nhật được những phương thức, quy định của pháp luật New Zealand trong vấn đề này để tiếp thu, đóng góp vào Luận
án để có những kiến nghị phù hợp với pháp luật về LLTP của Việt Nam
Ngoài ra, vấn đề về quyền con người còn được thể hiện qua việc cấp phiếu LLTP cho người dân Luật LLTP ở Việt Nam hiện nay quy định, một trong những đối tượng có quyền yêu cầu cơ quan quản lý LLTP cấp phiếu số 2 là cá nhân Trong
đó, phiếu số 2 là loại phiếu thể hiện rõ thông tin về án tích của một cá nhân, kể cả
án tích đó đã được xoá hay chưa cũng đều được ghi rõ trên nội dung của phiếu Tuy nhiên, điều này đã dẫn tới hệ lụy là mục đích sử dụng phiếu không đúng với mục đích ban đầu của Luật LLTP đưa ra, đó là cho phép một cá nhân biết về thông tin, tình trạng án tích của mình Trên thực tế, hiện nay việc cá nhân yêu cầu cấp phiếu LLTP số 2 không xuất phát từ yêu cầu của cá nhân muốn biết về nội dung LLTP của mình theo quy định của Luật LLTP, mà xuất phát từ yêu cầu của các cơ quan, tổ chức giải quyết các giao dịch dân sự, thương mại, chủ yếu là để bổ túc hồ sơ xin thị thực nhập cảnh, kết hôn… tại cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài; xin việc làm tại một số doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam; xin cấp giấy phép hoạt động, cung cấp dịch vụ… tại một số tổ chức của Việt Nam
Trang 26Thực trạng này đã ảnh hưởng tới quyền được pháp luật bảo đảm bí mật cá nhân và chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự của nhà nước ta, ảnh hưởng đến việc tái hòa nhập cộng đồng của người bị kết án, đặc biệt là những người đã được XAT Theo phản ánh của công dân, khi phiếu LLTP số 2 được cấp và sử dụng công khai có thể dẫn đến hệ lụy cho cá nhân khi tái hòa nhập cộng đồng, khó khăn, thậm chí mất cơ hội khi đi du học, xin việc làm, xuất cảnh… Trong khi đó, nghiên cứu các quy định về việc cấp phiếu LLTP tại một số quốc gia trên thế giới, loại phiếu có đầy đủ thông tin về án tích của một người, bao gồm án tích chưa được xoá và án tích đã được xoá, sẽ chỉ được cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm mục đích điều tra, truy tố tội phạm
Tại buổi tọa đàm, nghiên cứu pháp luật về LLTP giữa đoàn công tác của Bộ
Tư pháp Algerie và Trung tâm LLTPQG, Bộ Tư pháp Việt Nam ngày 02/6/2017, tại
trụ sở Học viện tư pháp, Ông Ryad Boudjellab, Phó Tổng Vụ trưởng Vụ Đào tạo Thẩm phán cho biết theo quy định tại Algerie, phiếu LLTP chia làm ba loại, bao gồm phiếu số 1, phiếu số 2 và phiếu số 3 Mỗi loại phiếu có nội dung và mục đích
sử dụng khác nhau: phiếu số 1 thể hiện toàn bộ án tích trong quá khứ của cá nhân (tương tự như phiếu LLTP số 2 của Việt Nam) Phiếu số 2 cấp cho cơ quan hành chính nhà nước khi có yêu cầu xác minh nhân thân để tuyển dụng nhân sự Phiếu số
3 cấp cho các đương sự, tất cả cá nhân từ đủ 18 tuổi có yêu cầu đều được cấp loại phiếu này Ngoài ra, có 02 loại XAT: đương nhiên XAT và XAT theo quyết định của Tòa án Theo đó, thông tin XAT chỉ được xóa và thể hiện trên phiếu số 2 và 3, còn lại không xóa trên phiếu số 1 Do đó, phiếu số 1 không được cấp cho đương sự
và các cơ quan khác Khi một cá nhân muốn biết đầy đủ thông tin về án tích của mình, người này có thể đến cơ quan LLTP xem trực tiếp thông tin này qua màn hình
và không phải trả phí
Tại cuộc họp tọa đàm, nghiên cứu pháp luật về LLTP giữa Trung tâm LLTPQG với đại diện Văn phòng Cục Hồ sơ lưu trữ, Hiệp hội Cảnh sát Anh (Association of Chief Police Officers Criminal Record Office - ACRO), sáng ngày
15/10/2015 tại trụ sở Trung tâm LLTPQG, Ông Ken Littlewood, Vụ trưởng, phụ
Trang 27trách hợp tác quốc tế và cộng sự đã có sự giới thiệu và khái quát về hệ thống quản
lý LLTP ở Vương quốc Anh hiện nay, qua đó giải thích rõ về các loại phiếu LLTP tại Anh theo quy định tại Luật Cảnh sát năm 1997 (Police Act 1997) Theo đó, có 3 loại phiếu LLTP với 3 cấp độ khác nhau:
+ Loại phiếu số 1: phiếu về các tội hình sự đã bị kết án (Criminal conviction
certificate) trong đó ghi nhận các tội hình sự của đương sự đã bị kết án Phiếu này
không ghi các tội đã được xoá án tích theo quy định của Luật về Tái hoà nhập cộng đồng của tội phạm năm 1974 (Rehabilitation of Offenders Act 1974) Loại phiếu này được cấp cho bất cứ cá nhân nào nộp đơn vào và được gọi là phiếu cơ bản (Basic Disclosures)
+ Loại phiếu số 2: phiếu LLTP hình sự (Criminal Record Certificate) ghi
nhận bất cứ tội hình sự nào của đương sự, kể cả các tội đã được xoá án tích cũng như hình phạt cảnh cáo Loại phiếu này cũng được cấp cho bất cứ công dân nào nộp đơn và khác so với việc xin cấp loại phiếu số 1 là người này phải nộp kèm theo bản tuyên bố của tổ chức, người đã yêu cầu đương sự trình phiếu thứ 2 rằng sử dụng phiếu này vào mục đích phục vụ cho việc loại trừ người không đủ điều kiện (chẳng hạn như phạm một số tội quy định không cho phép tiếp tục hành một số nghề nhất định) Loại phiếu này được gọi với tên gọi là phiếu nền (Standard Disclosures)
+ Loại phiếu thứ 3: phiếu LLTP nâng cao (Enhanced criminal record
certificates - còn được gọi tắt là Enhanced Disclosures - phiếu nâng cao) là loại
phiếu ghi nhận các thông tin gồm: tất cả các thông tin về án tính và hình phạt cảnh cáo; bất cứ thông tin khác có liên quan đến mục đích của việc cấp phiếu LLTP này,
kể cả ý kiến của Cơ quan LLTP về tính phù hợp giữa nhân thân của người được cấp LLTP và vị trí anh ta đang xin làm (trong trường hợp tuyển dụng lao động) Có khá nhiều điều kiện đặt ra đối với người nộp đơn yêu cầu cấp phiếu LLTP nâng cao này Theo quy định của Mục 115 của Luật về cảnh sát 1997, người nộp đơn đề nghị cấp phiếu LLTP nâng cao phải nộp kèm đơn văn bản của người đã yêu cầu họ trình phiếu LLTP Đơn của người yêu cầu cấp lý lịch tư phải có có cả chữ ký của người,
tổ chức đã yêu cầu họ Phiếu LLTP nâng cao sau đó sẽ được cấp một bản cho cả người đã yêu cầu người nộp đơn yêu cầu cấp LLTP
Trang 28Nghiên cứu pháp luật của Cộng hoà Pháp, bài viết của tác giả Nguyễn Thị
Hảo “Trung tâm LLTPQG Cộng hoà Pháp” đăng trên trang thông tin điện tử của
Bộ Tư pháp đã nghiên cứu và tóm tắt lại ba loại phiếu LLTP [148] Theo đó, Trung tâm LLTPQG tại Pháp có quyền cung cấp 3 loại phiếu LLTP:
+ Phiếu số 1 chỉ được cấp cho cơ quan tư pháp, theo yêu cầu của thẩm phán xét xử hay Viện công tố Phiếu số 1 ghi lại toàn bộ các quyết định của Tòa án liên quan đến đương sự
+ Phiếu số 2 chủ yếu được cấp cho các cơ quan hành chính nhà nước Phiếu
số 2 là bản trích lại thông tin từ phiếu số 1 Những xử phạt vi phạm hành chính, những án tích nhẹ nhất và những bản án được tuyên đối với trẻ vị thành niên thì không được ghi lại trên phiếu số 2 Phiếu số 2 giúp cho các cơ quan hành chính tìm hiểu để tuyển dụng người làm việc hoăc giải quyết các thủ tục khác nhau như: xin phép kinh doanh, gọi nhập ngũ, lập danh sách cử tri… Nhưng không phải bất kỳ cơ quan hành chính nào cũng có thể yêu cầu cấp phiếu số 2 Khi gửi phiếu yêu cầu cơ quan quản lý LLTP cấp phiếu số 2, phải nêu rõ lý do và căn cứ điều luật nào để được quyền yêu cầu
+ Phiếu số 3 là phiếu được cấp cho chính đương sự khi có yêu cầu Trong phiếu số 3 chỉ ghi lại những án tích chưa được xoá nhưng không phải bất kỳ án tích nào chưa được xoá cũng đều ghi vào Thông thường chỉ những án nghiêm trọng hoặc tuy không nghiêm trọng nhưng án tích đó lại liên quan trực tiếp đến mục đích của việc xin phiếu số 3 sẽ được ghi vào phiếu Đương sự có thể trực tiếp đến hoặc gửi thư yêu cầu qua bưu điện tới cơ quan LLTP quốc gia để xin cấp phiếu số 3 Phiếu số 3 chỉ cấp cho chính bản thân đương sự, không cho phép cấp cho người thứ
ba và được miễn phí
Tại chuyên đề: “Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về LLTP” của tác
giả Mỹ Linh đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã nghiên cứu tương đối toàn
diện về loại phiếu LLTP, phương thức cấp phiếu LLTP ở các nước tiên tiến như: Anh, Pháp, Phần Lan, Cộng hòa liên bang (CHLB) Đức, Italia, Bỉ: những bài viết này đã nêu lên lượng thông tin được cấp trong từng loại phiếu Thông qua các quy
Trang 29định về việc cấp phiếu LLTP cho từng đối tượng, các tác giả đã đánh giá, nhận xét
về tính nhân văn, cũng như tính phù hợp trong vấn đề quyền con người qua các quy định về pháp luật về LLTP tại những nước này Như vậy, thông qua một số luật trên thế giới quy định về việc cấp phiếu LLTP, có thể thấy rõ việc cấp phiếu LLTP trong
đó có ghi đầy đủ nội dung toàn bộ án tích của một cá nhân, bao gồm những án tích chưa được xoá và án tích đã được xoá, chỉ được cấp cho những cơ quan tiến hành tố tụng nhằm mục đích phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử, hay cho việc xem xét một người có đủ điều kiện để đảm nhận, giữ chức vụ hay công việc nào đó không Đối với những quốc gia vẫn cấp cho cá nhân loại phiếu này, để đương sự có quyền yêu cầu cấp loại phiếu này cũng cần những quy định hết sức chặt chẽ và cụ thể [80]
Thông qua việc nghiên cứu, xem xét các quy định về việc cấp phiếu LLTP của các quốc gia trên thế giới, Luận án cũng đã tiếp thu và chọn lọc để từ đó rút ra kinh nghiệm, kiến nghị thay đổi về việc cấp phiếu LLTP số 2 cho cá nhân như theo quy định của Luật LLTP hiện nay Ngoài ra, hiện nay, Bộ Tư pháp cũng đang dự thảo Tờ trình Quốc hội về việc bỏ yêu cầu cấp phiếu LLTP số 2 Để giải quyết tình trạng lạm dụng phiếu LLTP số 2 hiện nay, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và bí mật đời tư của cá nhân, không làm ảnh hưởng tới ý nghĩa nhân đạo của chế định XAT, dự thảo Luật bỏ quy định về cấp phiếu LLTP số 2 tại khoản 2 Điều 41, Điều
43 và Điều 46 Luật LLTP năm 2009 Đồng thời, để hỗ trợ hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng và đáp ứng yêu cầu của cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội cần có thông tin của cá nhân theo quy định của pháp luật có liên quan, dự thảo Luật bổ sung quy định quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; trách nhiệm của Trung tâm LLTPQG, Sở Tư pháp trong việc cung cấp thông tin LLTP của cá nhân
Thứ hai, các nghiên cứu về Lý lịch tư pháp
Hiện nay, trong nước cũng đã có một số chuyên đề, bài viết về LLTP của
một số quốc gia trên thế giới như: “Mô hình tổ chức và quản lý LLTP của một số
nước trên thế giới - kinh nghiệm áp dụng vào Việt Nam để xây dựng Luật LLTP”,
Đặng Trung Hà, Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp; “Kinh nghiệm xây dựng, quản
Trang 30lý, sử dụng và khai thác CSDL LLTP và kiểm soát chất lượng hoạt động xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác CSDL LLTP tại một số nước trên thế giới”, Đặng
Trung Hà, Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp; “Một số vấn đề về LLTP trong pháp
luật của Cộng hòa Pháp”, Trần Văn Dũng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số
chuyên đề 2012, tr 119-127 đã khảo cứu một số mô hình quản lý nhà nước về LLTP, mô hình quản lý CSDL LLTP và quy trình khai thác thông tin, cấp phiếu LLTP của các nước tiên tiến như Anh, Pháp, Bỉ, CHLB Đức, Phần Lan, New Zealand, Singgapore Luận án đã tiếp thu đề tài này như một nguồn thông tin đầu vào để đánh giá, so sánh với hệ thống pháp luật về LLTP nói chung và LLTP của Việt Nam nói riêng, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để áp dụng vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam và đề ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về LLTP và LLTP một cách phù hợp và mang tính khả thi
Thứ ba, các nghiên cứu pháp luật về Lý lịch tư pháp
Tại chuyên đề: “Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về LLTP” của tác giả Mỹ Linh đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã nghiên cứu tương đối toàn
diện những nội dung: nguồn của pháp luật về LLTP, đối tượng quản lý LLTP, đối tượng được quyền tiếp cận thông tin về LLTP, nguồn thông tin LLTP, CSDL LLTP; vấn đề XAT đã cho thấy: một số nước có luật điều chỉnh riêng về LLTP, một số nước thì không có luật điều chỉnh riêng mà LLTP được điều chỉnh trong BLHS hoặc BLTTHS… [80]
Một số quốc gia có đạo luật điều chỉnh riêng về LLTP là CHLB Đức, New Zealand, Phần Lan, Singapore Trong đó, CHLB Đức là một trong những quốc gia
có luật điều chỉnh riêng về LLTP từ rất sớm Vào những năm cuối thế kỷ 19, các
bang của CHLB Đức đã thông qua đạo luật đăng ký tội phạm (Register Act -1882) nhằm mục đích thu thập và đăng ký một cách toàn diện và cập nhật các thông tin về án
tích chủ yếu cho mục đích tư pháp hình sự (đặc biệt để đánh giá tái phạm) của người bị kết án và các quyết định hành chính như cấp hoặc thu hồi giấy phép Năm 1919, trong những năm tự do và cải cách theo định hướng đầu tiên của Cộng hòa Weimar, CHLB
Đức đã ban hành đạo luật 'Straftilgungsgesetz' nhằm bảo vệ những người bị kết án đã
Trang 31qua đạo luật đăng ký… (BZRG) và có hiệu lực năm 1972 với mục đích tập trung quản
lý hồ sơ tội phạm nhằm cung cấp các thông tin về tội phạm cho hệ thống các cơ quan
tư pháp hình sự, cơ quan hành chính nhà nước hay các nhà tuyển dụng, tránh kỳ thị đối với người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng và tìm việc làm sau khi đã chấp hành xong
bản án, đồng thời phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học (điểm a, b Điều 42 Luật
BZRG) Đến nay, Luật BZRG đã trải qua 2 lần sửa đổi vào năm 1984 và năm 2016
Bên cạnh các nước có luật điều chỉnh riêng về LLTP, một số nước pháp luật điều chỉnh LLTP được quy định trong Luật Tố tụng hình sự, Đạo luật cảnh sát hay
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân… Cụ thể: Vương quốc Liên hiệp Anh (United
Kingdom of Great Britain- sau đây gọi tắt là nước Anh) bao gồm 3 quốc gia trên
đảo Anh, các đảo tự trị chung quanh, các lãnh thổ tự trị coi vấn đề quản lý và cấp LLTP hình sự (criminal record) là một vấn đề được quan tâm và Luật Cảnh sát năm
1997 (Police Act 1997) của nước Anh đã dành hẳn Phần V để quy định vấn đề này Phần V của đạo luật về cảnh sát gồm có 15 mục (từ Mục 112 đến Mục 127) quy định khá chi tiết về các vấn đề liên quan đến quản lý và cấp LLTP từ đối tượng được cấp, cơ quan quản lý hồ sơ đến các loại phiếu LLTP khác nhau cấp cho đương
sự Tại Vương quốc Bỉ, LLTP lại được điều chỉnh bởi BLTTHS năm 1808 (Code
D’Íntruction Criminelle) và được sửa đổi vào năm 2016 tại Quyển 2, Mục 2,
Chương I Chương này gồm 13 điều (từ Điều 589 đến Điều 602) quy định chi tiết về đối tượng quản lý, phạm vi điều chỉnh, trình tự thu thập và cung cấp thông tin LLTP, cấp phiếu LLTP, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan quản lý LLTP Tại cộng hòa Pháp, LLTP được điều chỉnh tại Sách V, Thiên thứ VIII - IX của BLTTHS
Pháp (Code de procédure pénale), luật này được sửa đổi năm 2010 Trong đó,
Chương 8 với 26 điều quy định về đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nguồn thông tin LLTP, trình tự thu thập và cung thông tin LLTP, cấp phiếu Chương 9 quy định về XAT Tại Cộng hòa Italia, LLTP cũng được điều chỉnh bởi BLTTHS năm 1989 tại
Phần II - Sách X - Chương IV (Code of Criminal Procedure)… Tại Singapore, LLTP được điều chỉnh bởi Luật đăng ký tội phạm năm 1949 (Registration of
Crimals Act) năm 2005 sửa đổi nội dung về LLTP (Registration of Crimals
Trang 32(Amendment) Act 2005), đến năm 2016 luật này tiếp tục được sửa đổi (Registration
of Crimals (Amendment) Act 2016)…
Như vậy, không phải quốc gia nào cũng có hệ thống luật điều chỉnh riêng về LLTP Ở một số quốc gia, các quy định về LLTP được nằm rải rác trong các luật Tố tụng hình sự, Luật Cảnh sát, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân… Luận án đã nghiên cứu, tiếp thu, thu thập các quy định này và rút ra các ưu điểm, hạn chế và tìm điểm phù hợp với tình hình thực trạng của pháp luật về LLTP tại Việt Nam để kiến nghị các phương
án sửa đổi tối ưu phù hợp trong việc thực thi pháp luật về LLTP ở Việt Nam hiện nay
1.1.2.2 Các nghiên cứu về thực hiện pháp luật về Lý lịch tư pháp
Thứ nhất, về mô hình cơ sở dữ liệu, mô hình tổ chức của cơ quan quản lý và
hoạt động quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp
Hiện nay, mỗi quốc gia trên thế giới đều có quy định riêng về mô hình CSDL, mô hình tổ chức của cơ quan quản lý CSDL và quản lý CSDL LLTP Về tình hình nghiên cứu hệ thống cơ quan quản lý CSDL LLTP tại một số quốc gia trên thế giới, tác giả Đặng Trung Hà, Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp đã có bài viết
“Vấn đề quản lý và cấp LLTP của một số nước trên thế giới và một số ý kiến đối với
Dự thảo Luật LLTP” Theo đó, cụ thể, tại Pháp, cơ quan LLTP quốc gia chịu sự
quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, thuộc Vụ Pháp luật hình sự và ân xá nhưng cơ quan LLTP hoạt động một cách độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Hiện
có khoảng 350 viên chức làm việc trong cơ quan LLTP, trong đó hai phần ba trong
số nhân viên làm việc trong lĩnh vực xử lý, lưu trữ LLTP Bên cạnh Phòng các vấn
đề pháp lý, còn có hai bộ phận khác, một bộ phận có trách nhiệm nhận các hồ sơ, giấy tờ gửi đến, chuẩn bị các hồ sơ, giấy tờ gửi đi, đây đích thực là một “xưởng” quản lý đầu vào, đầu ra của cơ quan LLTP [146] Mỗi ngày, cơ quan LLTP quốc gia nhận được trên 5.000 thông tin mới cần lưu vào LLTP và cấp ra khoảng 20.000 thông tin Với số lượng thông tin nhập vào và cấp ra lớn như vậy, có thể tưởng tượng khối lượng giấy rất lớn cần phải sử dụng Phòng thứ tư của cơ quan LLTP là Phòng tin học, nhưng làm việc ở đây không phải là các kỹ sư máy tính mà là các luật gia, các cán bộ pháp lý am hiểu lĩnh vực tin học và họ làm việc với các chuyên
Trang 33gia máy tính để cùng xử lý các vấn đề tin học của cơ quan Cũng trong bài viết này, tác giả Đặng Trung Hà đã nêu cụ thể về hệ thống quản lý dữ liệu và phạm vi cung cấp LLTP tại Hoa Kỳ và Vương quốc Anh
Theo đó, tại Hoa Kỳ không có một văn bản pháp lý riêng quy định về việc tổ chức hệ thống CSDL phục vụ cho việc quản lý và cấp phiếu LLTP Tuy nhiên, hệ thống dữ liệu có liên quan đến LLTP ở Hoa Kỳ cũng khá phong phú Do đặc điểm của quốc gia liên bang, các dữ liệu về LLTP của công dân Mỹ được lưu trữ ở các CSDL của liên bang cung như các CSDL của từng bang Ngoài ra, căn cứ theo quy định của các đạo luật liên quan đến tự do thông tin của Hoa Kỳ, nhiều tổ chức tư nhân cũng đã tập hợp những thông tin công khai của chính quyền và xây dựng những CSDL thông tin của riêng mình nhằm mục đích cung cấp cho những người có yêu cầu Tại Vương quốc Anh, Bộ Ngoại giao là cơ quan được giao quản lý và cấp phiếu LLTP Giúp việc cho Bộ Ngoại giao có hai cơ quan trung ương quản lý: Văn phòng về LLTP của Scotland và Cục LLTP (The Criminal Record Bureau) được thành lập trên cơ sở của Luật Cảnh sát 1997 Cục cung cấp thông tin liên quan đến LLTP của các cá nhân cư trú tại Vương quốc Anh, trừ Scotland
Về mô hình CSDL LLTP tại CHLB Đức, hiện nay đã có hai bài viết về vấn
đề này được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Trung tâm LLTPQG, đó là:
“Kinh nghiệm về xây dựng và quản lý LLTP tại CHLB Đức” và “Tìm hiểu về việc cấp và sử dụng phiếu LLTP tại CHLB Đức” Ở nước ngoài, vấn đề này cũng đã
được tìm hiểu và được viết trong bài “The European Criminal Record in Germany”
của Lorenz Bollinger Theo đó, tại CHLB Đức, mô hình CSDL LLTP chỉ có một cấp duy nhất, LLTP được quản lý tại Cơ quan đăng ký liên bang thuộc Văn phòng
Tư pháp liên bang Đây là cơ quan thuộc Bộ Tư pháp liên bang Những thông tin LLTP được thu thập từ các cơ quan có liên quan về một đầu mối tại CSDL LLTP tại liên bang Sau một thời gian thực hiện toàn bộ dữ liệu LLTP đã được thu thập về một cấp tập trung tại CSDL LLTP trung ương [134] Như vậy, việc cung cấp và tra cứu thông tin LLTP sẽ được giảm thiểu thủ tục trình tự đi tối đa, các thông tin được cung cấp cũng vì thế mà chính xác hơn
Trang 34Sau khi nghiên cứu, tác giả nhận thấy mô hình CSDL LLTP của CHLB Đức
là phù hợp nhất để áp dụng vào mô hình CSDL LLTP của Việt Nam hiện nay Hiện nay, với tình hình về nhu cầu xin phiếu LLTP của người dân ngày càng gia tăng, việc giảm tải các trình tự về việc cung cấp thông tin giữa các cơ quan quản lý LLTP
là vô cùng cần thiết Việc rút ngắn từ mô hình CSDL, mô hình tổ chức của cơ quan quản lý CSDL LLTP từ hai cấp bao gồm các Sở Tư pháp và Trung tâm LLTPQG như hiện nay tập trung về một cấp tại trung ương là vô cùng cần thiết Chỉ có như vậy, các thông tin LLTP mới có thể đảm bảo được cung cấp một cách chính xác, nhanh chóng, qua đó giải quyết vấn đề cấp phiếu đúng hạn cho người dân Ý kiến này sẽ được giải thích cụ thể, rõ ràng hơn trong phần kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về LLTP của Luận án
Thứ hai, về khai thác, cung cấp thông tin và cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Một số bài viết của các tác giả nước ngoài về LLTP như: “The European
Criminal Record in Germany”, Lorenz Bollinger; “The European Criminal Record
in Spain”, Francisco Javier Garcia Fernandez; “The European Criminal Record in England and Wales”, Lisa Webley; “Databases in the area of freedom, security and justice: Lessons for the centralization of records and their maximum exchange”, Valsamis Mitsilegas; “A European Criminal records database: An integrated model”, Els De Busser; “The European Criminal record: Feasible or Folly?”, Helen Xanthaki; “The European Criminal record: Analysis”, Helen
Xanthaki… đều nói về các cơ quan quản lý LLTP và cách thức trao đổi thông tin
LLTP giữa các cơ quan này Có thể thấy, để có thể lưu trữ một lượng thông tin
LLTP hết sức khổng lồ, không chỉ là thông tin LLTP của một nước, mà còn là cả một mạng lưới hệ thống liên kết thông tin về LLTP với nhau giữa các quốc gia châu
Âu, công nghệ thông tin đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc lưu trữ, trao đổi thông tin này Ngoài ra, những bài viết này đã nêu lên thực trạng, ưu điểm, hạn chế trong việc tra cứu và trao đổi thông tin về LLTP giữa các quốc gia châu Âu với nhau Luận án đã tiếp thu những bài viết này để từ đó xem xét những ưu, nhược điểm, rút ra kinh nghiệm để áp dụng vào thực trạng của Việt Nam hiện nay, qua đó
Trang 35tìm ra các giải pháp, kiến nghị mang tính khả thi cao và lâu dài, phù hợp với hệ thống pháp luật về LLTP của Việt Nam
1.1.3 Đánh giá khái quát về tình hình nghiên cứu
Qua tổng quan và nghiên cứu các công trình nổi bật liên quan đến pháp luật
về LLTP ở cả trong và ngoài nước, tác giả có một số đánh giá sau:
Thứ nhất, về quyền con người có liên quan đến pháp luật về LLTP: Một số
công trình nghiên cứu ở nước ngoài và Việt Nam đã có sự thống nhất chung khi đề cập
đến quyền con người bao gồm: nội dung và bản chất pháp lý, cơ sở lý luận và thực
tiễn có liên quan đến quyền giữ bí mật cá nhân, quyền tiếp cận thông tin, quyền được coi là chưa bao giờ phạm tội khi đã được XAT, quyền được hòa nhập cộng
đồng, quyền được lao động, làm việc, học tập, quyền tự do cư trú là những quyền
được thể hiện đậm nét Từ đó, tác giả hình thành nên tư tưởng, định hướng nghiên cứu Luận án dưới góc độ vì quyền con người
Thứ hai, về pháp luật về LLTP và LLTP: Tuy chưa được đầy đủ, toàn diện
nhưng các công trình nghiên cứu của Việt Nam đã làm rõ một phần về bản chất pháp lý, khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa, các yếu tố ảnh hưởng, các nguyên tắc xây dựng các chế định pháp luật về LLTP và LLTP, các tiêu chí để hoàn thiện pháp luật về LLTP, các mối quan hệ với hệ thống pháp luật khác, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về LLTP; chỉ ra các vướng mắc, bất cập; phân tích các nguyên nhân và đề ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về LLTP Một số
đề tài đã có sự đánh giá, so sánh với pháp luật về LLTP của các nước tiên tiến trên thế giới để rút ra các bài học kinh nghiệm, ứng dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta Một nét nổi bật tương đồng khi nghiên cứu các công trình của Việt Nam và một số công trình trên thế giới cho thấy: pháp luật về LLTP của Việt Nam đang dần “bắt nhịp” với pháp luật về LLTP của các quốc gia trên thế giới khi quy định cụ thể, rõ ràng việc xác định một người đã được xoá án tích hay chưa là trách nhiệm thuộc về các cơ quan quản lý CSDL LLTP
Thứ ba, về quản lý CSDL LLTP và quản lý nhà nước về LLTP: Có một số
bài viết, đề án, luận văn cao học đã có sự thống nhất trong việc đề xuất mô hình
Trang 36quản lý CSDL LLTP và quản lý nhà nước về LLTP mới để phù hợp với thực trạng hoạt động LLTP hiện nay tuy chưa được đầy đủ và mang tính khả thi chưa cao Sau
07 năm Luật LLTP chính thức được thi hành, mô hình về quản lý CSDL LLTP và quản lý nhà nước về LLTP không còn phù hợp và đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin và cấp phiếu LLTP Các công trình nghiên cứu đều có sự thống nhất rằng thực trạng pháp luật về LLTP ở nước ta đang có nhiều bất cập cả về mặt thể chế, thiết chế, tổ chức thực hiện… Nhiều công trình đã chỉ ra những mâu thuẫn, chồng chéo những quy định giữa Luật và Nghị định, Thông tư Do đó đã có những bài
viết, đề án đi sâu vào phân tích và nghiên cứu những ưu, nhược điểm của quản lý
CSDL LLTP và quản lý nhà nước về LLTP hiện nay và nêu ra các giải pháp, đề xuất
để sửa đổi, hoàn thiện vấn đề này
Thứ tư, về khai thác thông tin và cấp phiếu LLTP: Các đề tài nghiên cứu đã
phản ánh được tương đối rõ nét thực trạng tình hình khai thác thông tin và cấp phiếu LLTP, đã cập nhật thông tin về vấn đề cải cách hành chính và đưa ra được một số giải pháp tương đối tuy chưa đầy đủ, toàn diện nhưng đều thống nhất ứng dụng công nghệ thông tin vào khai thác thông tin và cấp phiếu LLTP để khắc phục những hạn chế trong công tác này
1.1.4 Những vấn đề chưa được nghiên cứu và giải quyết thấu đáo
Một là, nhiều vấn đề lý luận pháp luật về LLTP còn chưa được thống nhất
hoặc chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo, thuyết phục, cần phải tiếp tục được nghiên cứu như: (i) Các công trình nghiên cứu mới chỉ phân tích một cách thiếu tính
hệ thống, thiếu mối quan hệ gắn bó với hệ thống pháp luật khác và đưa ra nội dung chưa đầy đủ, toàn diện về các khái niệm LLTP và khái niệm pháp luật về LLTP Hầu hết các công trình chỉ phân tích một cách riêng rẽ khái niệm LLTP và pháp luật
về LLTP theo pháp luật thực định Chưa có công trình nào nghiên cứu tổng hợp và khái quát cả hai khái niệm này trong cùng một thể thống nhất, toàn diện và có mối quan hệ bổ trợ, chuyển tiếp cho nhau Do đó, Luận án cần làm rõ và đầy đủ, toàn diện hơn khái niệm LLTP và khái niệm pháp luật về LLTP; (ii) Một số công trình nghiên cứu tuy có đề cập đến vấn đề lý luận có liên quan đến pháp luật về LLTP nhưng
Trang 37chưa phân tích một cách khái quát, hệ thống, đầy đủ, thấu đáo, toàn diện Nhiều công trình chưa đi sâu phân tích đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng, các mối quan hệ giữa pháp luật về LLTP với các hệ thống pháp luật khác, chưa làm rõ các tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả và bảo đảm thực hiện pháp luật về LLTP
Hai là, pháp luật về LLTP hiện hành và thực hiện pháp luật về LLTP mặc dù
đã được nghiên cứu ở nhiều công trình nhưng việc phân tích ra các ưu điểm, hạn chế, bất cập và tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến tình trạng này còn hạn chế, chưa phân tích đánh giá chính xác, toàn diện bản chất của vấn đề; những vướng mắc mới phát sinh từ thực tiễn chưa được phân tích, đánh giá, nhiều nội dung của những quy định mới chưa cập nhật, phân tích, đánh giá để rút ra những giải pháp, kiến nghị, đề xuất phù hợp với tình hình thực tế và mang tính khả thi
Ba là, mặc dù đã có nhiều phương hướng, quan điểm và giải pháp nâng cao
hiệu quả pháp luật về LLTP được nêu ra trong các công trình nghiên cứu nêu trên nhưng chưa được phân tích, nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện hơn, bám sát tình hình thực tế hiện nay, phù hợp với chiến lược phát triển LLTP Một số công trình nghiên cứu tuy có đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước về LLTP, quản lý CSDL LLTP nhưng chưa tìm ra được mô hình CSDL khoa học, tối ưu nhất để áp dụng vào tình hình thực tiễn của Việt Nam; chưa tìm ra phương pháp tích hợp thông tin hiện đại, tiện lợi, nhanh chóng, chính xác, khách quan và toàn diện để đảm bảo điều kiện xây dựng CSDL LLTP quốc gia
Bốn là, một số công trình có nghiên cứu các giải pháp để đẩy mạnh cải cách
hành chính trong cấp phiếu LLTP nhưng chưa đưa ra được một giải pháp đồng bộ, có ứng dụng công nghệ thông tin trên cơ sở tích hợp CSDL trên phạm vi toàn quốc, chưa nghiên cứu sâu sắc, đầy đủ, toàn diện về phiếu LLTP và tối ưu hóa quy trình cấp phiếu LLTP để đẩy mạnh cải cách hành chính, phục vụ có hiệu quả tốt nhất cho người dân
1.1.5 Những vấn đề cần tiếp tục triển khai nghiên cứu trong luận án
- Về mặt lý luận, trên quan điểm kế thừa các thành tựu nghiên cứu đi trước,
Luận án thực hiện khái quát, luận giải một cách sâu sắc, toàn diện các vấn đề lý luận
Trang 38pháp luật về Lý lịch tư pháp, nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài về vấn
đề này và rút ra bài học cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam;
- Về mặt thực tiễn, Luận án tiến hành khái quát và đánh giá một cách toàn
diện về thực trạng pháp luật về LLTP và quá trình thực hiện pháp luật về LLTP ở Việt Nam hiện nay; tìm ra các nguyên nhân khách quan, chủ quan của các hạn chế bất cập của các vấn đề này
Về hướng hoàn thiện, Luận án đưa ra quan điểm và giải pháp hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về LLTP nhằm giải quyết hợp lý các vấn đề của pháp luật về LLTP và cơ chế điều chỉnh thông tin LLTP của cá nhân; quản lý CSDL LLTP và quản lý nhà nước về LLTP; phương thức xây dựng CSDL LLTP và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan với pháp luật về LLTP để tích hợp thông tin LLTP; cơ chế bảo đảm cho tích hợp thông tin LLTP và nguồn thông tin để xây dựng CSDL LLTP quốc gia; mục đích và cách thức tiếp cận với thông tin về LLTP; quyền tiếp cận thông tin và quyền yêu cầu cung cấp phiếu LLTP, phiếu LLTP, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn cấp phiếu LLTP, về đương nhiên được XAT
1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nghiên cứu
Luận án được tiếp cận nghiên cứu trên cơ sở các lý thuyết nghiên cứu sau đây:
- Lý thuyết về quyền con người;
- Lý thuyết nghiên cứu về khoa học Luật Hình sự và Tố tụng hình sự;
- Lý thuyết về hệ thống và mô hình cơ sở dữ liệu điện tử
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
(i) Khái niệm, đặc điểm của LLTP là gì? Vai trò và ý nghĩa của LLTP trong đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam?
(ii) Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về LLTP là gì?
(iii) Nội dung cơ bản của pháp luật về LLTP bao gồm các vấn đề gì? Các mối quan hệ của pháp luật về LLTP với các hệ thống pháp luật có liên quan?
Trang 39(v) Các tiêu chí làm cơ sở hoàn thiện pháp luật về LLTP? Các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến pháp luật về LLTP?
(vi) Thực trạng pháp luật và về LLTP của Việt Nam hiện nay?
(vii) Thực trạng thực hiện pháp luật về LLTP của Việt Nam hiện nay?
(viii) Quan điểm, hoàn thiện pháp luật về LLTP của Việt Nam hiện nay là gì? (ix) Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về LLTP của Việt Nam hiện nay như
thế nào?
1.2.3 Giả thuyết nghiên cứu
Pháp luật về LLTP là sản phẩm tất yếu của các hoạt động quản lý kinh tế, xã hội của nhà nước Vấn đề ở chỗ cần nghiên cứu, luận giải một cách sâu sắc, toàn diện các vấn đề lý luận pháp luật về LLTP bao gồm: phạm vi, đối tượng điều chỉnh
về thông tin LLTP của cá nhân; phương thức điều chỉnh và khung điều chỉnh các cơ chế để xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác và cấp phiếu LLTP gồm: quản lý CSDL LLTP và quản lý nhà nước về LLTP, phương thức xây dựng CSDL LLTP và
cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan với pháp luật về LLTP để tích hợp thông tin LLTP, cơ chế bảo đảm cho tích hợp thông tin LLTP để xây dựng CSDL LLTP quốc gia, mục đích và cách thức tiếp cận với thông tin về LLTP, quyền yêu cầu cung cấp phiếu LLTP, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn cấp phiếu LLTP được pháp luật về LLTP, các chế định có liên quan đến vấn đề đương nhiên được XAT Tuy nhiên, khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về LLTP hiện nay cho thấy còn những vấn đề hạn chế, bất cập Công tác xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác
và cấp phiếu LLTP còn nhiều khó khăn, vướng mắc Vì vậy, cần phải nghiên cứu,
đề xuất các giải pháp đồng bộ, phù hợp với thực tiễn, mang tính khả thi để hoàn thiện pháp luật về LLTP nhằm khắc phục các hạn chế, bất cập pháp luật về LLTP hiện nay, nâng cao hiệu quả pháp luật về LLTP của Việt Nam
1.2.4 Hướng tiếp cận nghiên cứu
Luận án tiếp cận đề tài nghiên cứu theo hướng sau đây:
- Tiếp cận đa ngành, liên ngành: Sự phối hợp của nhiều ngành khoa học xã
hội như triết học, chính trị học, lịch sử, xã hội học và luật học so sánh trên quan
Trang 40điểm tôn trọng khách quan, toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể kết hợp với quan điểm phát triển
- Tiếp cận hệ thống: Trên cơ sở tập hợp, hệ thống ở mức đầy đủ nhất có thể
các công trình liên quan đến đề tài đã được công bố, Luận án phân tích, đánh giá và
kế thừa có chọn lọc để đưa ra những quan điểm của tác giả về vấn đề nghiên cứu
- Tiếp cận lịch sử: Quan điểm lịch sử cụ thể được áp dụng trong quá trình
nghiên cứu, đặc biệt tôn trọng sự thật khách quan để xem xét mối quan hệ giữa pháp luật về Lý lịch tư pháp với các đối tượng nghiên cứu có liên quan qua từng giai đoạn khác nhau Đồng thời phân tích đánh giá từng mặt của mối quan hệ trong những bối cảnh lịch sử và những điều kiện cụ thể nhìn nhận dưới góc độ logic phát triển
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua phân tích tình hình nghiên cứu pháp luật về LLTP trong và ngoài nước,
có thể thấy rằng trên thế giới và của Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu ở mức độ, khía cạnh khác nhau và đã đạt được những kết quả nhất định, sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho Luận án của tác giả Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về LLTP của Việt Nam Luận án này của tác giả có thể là một trong những Luận án đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích sâu hơn các quy định mang tính pháp luật về LLTP hiện nay của Việt Nam Nội dung của Luận án này đã kế thừa, phát triển các công trình nghiên cứu pháp luật về LLTP của Việt Nam và một số quốc gia tiên tiến trên thế giới, tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận pháp luật về LLTP; phân tích được thực trạng pháp luật về LLTP và thực hiện pháp luật về LLTP của nước ta hiện nay, chỉ rõ ra được kết quả đã đạt được, những hạn chế bất cập của thực trạng trên; phân tích làm sáng tỏ các nguyên nhân chủ quan, khách quan của các tồn tại, vướng mắc, bất cập, từ đó có cơ sở khoa học đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về LLTP và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về LLTP của Việt