Tuy vậy công tác bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn như: áp lực dân số ở các cùng có rừng tăng nhanh, đời sống khó khăn, người dân sinh kế chủ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bế Minh Châu Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về nội dung luận văn của mình Trường đại học Lâm Nghiệp không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2016
Học viên
Lê Ngọc Cường
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Phòng Đào tạo sau đại học cũng như thầy cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp, cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Bế Minh Châu người hướng dẫn khoa học, đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm quý báu, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa quản lý tài nguyên rừng, Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và nghiên cứu, xây dựng luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ còn những hạn chế Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và đồng nghiệp để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2016
Học viên
Lê Ngọc Cường
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Trên thế giới 4
1.1.1 Cơ sở lý luận 4
1.2.2 Những nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 6
1.2.1 Cơ sở lý luận 6
1.2.2 Một số nghiên cứu liên quan 8
1.2.3 Các văn bản của tỉnh Quảng Bình liên quan đến việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 9
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 11
2.2 Mục tiêu nghiên cứu 11
2.2.1 Mục tiêu chung 11
2.2 Mục tiêu cụ thể 11
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 12
2.3.1 Nội dung nghiên cứu 12
Trang 42.4 Phương pháp nghiên cứu 12
2.4.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 12
2.4.2 Phương pháp xác định đối tượng điều tra 13
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 14
Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 16
3.1 Điều kiện tự nhiên 16
3.1.1 Vị trí địa lý 16
3.1.2 Điều kiện địa hình 17
3.1.3 Tài nguyên đất 18
3.1.4 Khí hậu thủy văn 21
3.2 Kinh tế xã hội 23
3.2.1 Dân số 23
3.2.2 Thu nhập 24
3.2.3 Giao thông 24
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1 Đặc điểm tài nguyên rừng của huyện Bố Trạch 26
4.2 Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại huyện Bố Trạch 30
4.2.1 Công tác phòng cháy chữa cháy rừng 31
4.2.2 Công tác tổ chức lực lượng quản lý bảo vệ rừng 35
4.2.3 Công tác kiểm tra, kiểm soát Lâm sản 36
4.2.4 Công tác phòng chống phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp 40
4.2.5 Công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật 43
4.2.6 Sự phối hợp của chính quyền địa phương và người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng 45
4.3 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng 48
4.3.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến quản lý bảo vệ rừng 48
4.3.2 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến công tác quản lý bảo vệ rừng 49
4.3.3 Ảnh hưởng của xã hội: phong tục, tập quán, kiến thức bản địa 50
Trang 54.4 Tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với công tác quản lý
bảo vệ rừng tại huyện Bố Trạch 51
4.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng cho huyện Bố Trạch 53
4.5.1.Giải pháp ngăn chặn hành vi phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp 53
4.5.2 Giải pháp về phòng cháy chữa cháy rừng 55
4.5.3.Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản 56
4.5.4 Đối với công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ rừng 58
4.5.5 Giải pháp về kiện toàn tổ chức, xây dựng lực lƣợng QLBVR 59
4.5.6 Giải pháp về ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật 59
4.5.7 Giải pháp về kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân 60
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
QLBV & PTR Quản lý bảo vệ và phát triển rừng
PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
KHCN Khoa học công nghệ
PTNT Phát triển nông thôn
UBND Ủy ban nhân nhân
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
ELCDP Chương trình phát triển cộng đồng địa phương
ICIMOD International Centre for Integrated Mountain Development UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
4.1 Diện tích rừng qua các năm của huyện Bố Trạch 26 4.2 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp các xã, thị trấn huyện Bố Trạch 27 4.3 Hiện trạng trữ lƣợng rừng huyện Bố Trạch 29 4.4 Thống kê tình hình cháy rừng trên địa bàn huyện Bố Trạch 32 4.5 Tổ chức bộ máy và biên chế làm công tác QLBVR 35 4.6 Tổng hợp tình hình vi phạm lâm luật trên địa bàn huyên Bố Trạch 37 4.7 Tình hình phá rừng lấn chiếm đất lâm nghiệp tại huyện Bố Trạch 41
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Bản đồ hành chính huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình 16 4.1 Số vụ cháy và diện tích cháy của huyện Bố Trạch 32 4.2 Cháy rừng Dương phi lao tại xã Trung Trạch 33 4.3 Bắt giữ xe vi phạm tại thị trấn Nông trường Việt Trung 37 4.4 Bắt đối tượng khai thác gỗ trai phép tại xã Xuân trạch 39 4.5 Tang vật của chủ đầu nậu gửi nhờ nhà dân tại thị trấn Nông trường VT 39 4.6 Tình hình phá rừng lấn chiếm đất lâm nghiệp trên huyện Bố Trạch 41 4.7 Tận thu gỗ trái phép trong vùng bị phá và lấn chiếm tại thôn Ngọn Rào
xã Xuân Trạch
42
4.8 Diễn tập PCCCR kết hợp tuyên truyền PCCCR tại xã Bắc Trạch 44
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế thông qua việc cung cấp nguồn gỗ, tre, nứa, đặc sản rừng, các loại động, thực vật có giá trị trong nước và xuất khẩu,… mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng Rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác, duy trì tính ổn định, độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm mức ô nhiễm không khí, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sống Bên cạnh đó, rừng còn mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên và an ninh quốc phòng
Tuy nhiên, một sự thật đang diễn ra rằng tài nguyên rừng đã và đang bị chặt phá bừa bãi, ngày càng suy giảm về số lượng, chất lượng và khó được phục hồi Ở Việt Nam, năm 1943 độ che phủ của rừng là 43% và đến năm 1995 thì diện tích rừng còn lại 25% [16] Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đến năm 2015, toàn quốc có tổng diện tích rừng có trên 14 triệu ha rừng, bao gồm 10,1 triệu ha rừng tự nhiên và 3,8 triệu ha rừng trồng So với năm 2010, tổng diện tích rừng Việt Nam đã tăng lên 700 ngàn ha rừng trong đó rừng trồng tăng 800 triệu
ha rừng và rừng tự nhiên giảm 100 ngàn ha rừng[1,6] Qua con số trên, cho ta thấy diện tích rừng Việt Nam trong những năm gần đây đang tăng về diện tích rừng nhưng chủ yếu là tăng diện tích các loại rừng trồng trong khi đó diện tích rừng tự nhiên vẫn đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật nhằm mục đích quản lý, bảo vệ và khôi phục lại tài nguyên rừng, nâng cao độ che phủ của rừng Tuy vậy công tác bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn như: áp lực dân
số ở các cùng có rừng tăng nhanh, đời sống khó khăn, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng, trình độ dân trí vùng sâu vùng xa còn thấp, kiến thức bản địa chưa được phát huy, công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phương đang
bị xem nhẹ, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ lâm nghiệp hạn chế, các
Trang 10chính sách, chủ trương, chương trình của nhà nước còn nhiều bất cập và chưa được phát huy tối đa hiệu quả của nó đem lại…
Như vậy, với hiện trạng rừng hiện nay thành quả của các giải pháp quản lý bảo vệ rừng đem đến và những bất cập vẫn đang còn tồn đọng thì việc tìm, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các giải pháp trong công tác quản lý bảo vệ rừng là một vấn đề cấp bách hiện nay Muốn như vậy, việc đề xuất các giải pháp phù hợp đạt hiệu quả cao ở các cấp là rất quan trọng Huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình cũng không phải là một ngoại lệ
Huyện Bố Trạch có diện tích tự nhiên 212.417,63 ha Toàn huyện có 28 xã
và 2 thị trấn được phân bổ đều ở các vùng: đồng bằng, miền núi, trung du và ven biển; hội tụ đầy đủ hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển Đặc biệt,
Bố Trạch có các tuyến đường giao thông huyết mạch chạy qua là đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam và các tỉnh lộ 2 (TL 560), 2B (TL 561), tỉnh lộ 3 (TL 565), tỉnh lộ 11 (TL 566) nối hệ thống quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh
và đường 20 (TL 562) tạo thành mạng lưới giao thông ngang - dọc tương đối hoàn chỉnh Hơn nữa, Bố Trạch còn có cửa khẩu Cà Roòng - Noọng Ma (Việt Nam - Lào), có cảng Gianh, các danh thắng nổi tiếng như Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận di sản thiên nhiên thế giới, khu du lịch, nghỉ mát tắm biển Đá Nhảy là những lợi thế trong phát triển giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội
Bố Trạch có diện tích rộng địa hình đồi núi phù hợp với phát triển rừng trồng nên đem lại hiệu quả kinh tế khá cao Là nơi có diện tích rừng tự nhiên lớn, mạng lưới giao thông phức tạp, nhu cầu tiêu thụ gỗ và các lâm sản ngoài gỗ rất lớn, đặc biệt đa phần người dân sống dựa vào rừng…nên đây cũng là nơi có tình trạng phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm đất lâm nghiêp, vận chuyển lâm sản trái phép hoạt động mạnh Ngoài ra tình hình buôn bán, vận chuyển, săn bắt các loài động vật hoang dã ngày càng diễn ra phức tạp Các cơ quan chức năng đã tăng cường truy quét, xử lý các vụ
vi phạm và tìm các, phương hướng giải pháp hợp lí cho công tác quản lý bảo vệ rừng hiệu quả nhưng tình hình vi phạm vẫn liên tục xảy ra ở mức độ nghiệm trọng
Đó là một thực tế đáng báo động
Trang 11Nhằm tìm hiểu kĩ hơn nữa về công tác quản lý bảo vệ rừng trện địa bàn huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình từ đó, tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng trong lý thuyết và tiến tới áp dụng ngoài thực tiễn, tôi
đã thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình”
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Cơ sở lý luận
Đối với các quốc gia trên thế giới tài nguyên rừng đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển Tuy nhiên, nguồn tài nguyên rừng đang ngày càng cạn kiệt do nhiều nguyên nhân gây ra như: biến đối khi hậu, cháy rừng, nạn phá rừng, khai thác rừng quá mức… khiến rừng không thể phục hồi vì vậy, hiện nay quản lý bảo vệ rừng một cách bền vững là một vấn đề của mọi người dân trên toàn thế giới để đảm bảo cuộc sống trong tương lai cho các thế hệ sau
Quản lý rừng bền vững đề cập đến 2 khía cạnh quan trọng là xây dựng, bảo
vệ và sử dụng các nguồn tài nguyên rừng phục vụ cho các nhu cầu của con người phải được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục và ổn định qua các thế hệ
Quản lý và sử dụng rừng bền vững bao gồm các quy trình công nghệ, chính sách và hoạt động, nhằm hội nhập những nguyên lý kinh tế và xã hội mới với các mối quan tâm về môi trường sao cho có thể đồng thời:
- Giảm mức độ nguy cơ cho sản xuất
- Duy trì và nâng cao sự phục vụ sản xuất
- Có thể đứng vững được kinh tế
- Có thể chấp nhận được về mặt xã hội
- Không gây ô nhiễm môi trường
Nói cách khác, loại hình sử dụng tài nguyên rừng có thể được coi là bền vững nếu như cách sử dụng có tính cân đối về mặt xã hội, có cơ sở về mặt môi trường, được chấp nhận về mặt chính trị, có tính khả thi về mặt kỹ thuật và phù hợp
về mặt kinh tế
1.2.2 Những nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các nghiên cứu về Chương trình phát triển cộng đồng địa phương (gọi tắt là ELCDP) thực hiện bởi sự tài trợ của FAO với một số nghiên cứu chuyên đề tại nhiều nước khác nhau đã khẳng định rằng, nguồn lợi chủ yếu từ quản lý rừng hay
Trang 13các hoạt động từ rừng cần thuộc về các cá nhân hay nhóm của các cộng đồng tham gia Các nghiên cứu này đã tìm cách mô tả và phân tích các loại hình quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của nhiều nước khác nhau Các vấn đề về tài liệu hóa , đào tạo đã được triển khai từ những năm 1985 Những trọng tâm về vấn đề xã hội liên quan đến quản lý rừng đã được nhấn mạnh, như: nếu những cây hoặc rừng không do người địa phương quan tâm và cơ chế hành chính (thể chế) không cho phép người dân tiếp cận lợi ích từ quản lý nó thì các dự án không bao giờ thực hiện được [31]
Tại Ấn Độ, hình thức điển hình phổ biến nhất là những sự kết hợp thích hợp giữa quản lý từ phía chính phủ và những cá nhân hay những nhóm điển hình thông qua những hình thức kết hợp hết sức đa dạng và phong phú Tuy nhiên, có hai hình thức chủ yếu, điển hình, đó là rừng cộng quản (viết tắt tiếng Anh là JFM) và rừng cộng quản có sự tham gia (JPFM) Sự thay đổi có tính chất chiến lược của Ấn Độ về quản lý tài nguyên rừng nói riêng và tài nguyên thiên nhiên nói chung là xuất phát
từ chiến lược của Chính phủ đó là việc coi trọng những nhu cầu cơ bản của người dân sống gần kề với rừng như chất đốt, thức ăn gia súc, gỗ làm nhà…và vai trò của
họ trong gìn giữ, bảo tồn tài nguyên Luật đất đai đã tạo điều kiện gây nên động lực cho cá nhân và cộng đồng trồng cây phân tán, trồng rừng tập trung và quản lý bảo
vệ rừng hiện có, đặc biệt đối với những thổ dân có truyền thống, tập tục riêng [29]
Tại Bangladesh, lâm nghiệp Cộng đồng được phát triển như một hợp phần của giải pháp canh tác và phát triển nông thôn tổng hợp đã đòi hỏi việc thay đổi chính sách cũng như luật pháp trong ngành lâm nghiệp, trọng tâm là quản lý rừng
có sự tham gia, đặc biệt coi trọng vai trò của phụ nữ Các giải pháp cung cấp dịch
vụ kỹ thuật, hỗ trợ khuyến nông và các nghiên cứu định hướng theo nhu cầu, đơn đặt hàng là những yếu tố thúc đẩy cho sự thành công cho hình thức quản lý đó [26]
Tại Indonesia, các nghiên cứu về lâm nghiệp xã hội do FAO và các trường Đại học Gadjah Mada và Đại học Wageningen đã làm rõ những thau đổi của chính phủ nhằm hỗ trợ giải pháp lâm nghiệp xã hộ đồng thời thông qua việc vận dụng những kinh nghiệm của các nước khác và thử nghiệm bằng điều kiện thực tế của đất
Trang 14nước mình Nghiên cứu và đạo tạo về quản lý rừng có sự tham gia đã rất được coi trọng tại Indonesia [31]
Tại Nepal, một loạt các nghiên cứu sâu sắc và có hệ thống của ICIMOD đã làm rõ các hình thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng thành công của Nepal, đặc biệt là hình thức Nhóm sử dụng rừng tiêu biểu từ 3 vùng đại diện: Sankhawasabha, Dhankuta và Ilam Các nghiên cứu chuyên đề này đã đề xuất cho phạm vi toàn quốc những cơ chế và quá trình cần hoàn thiện trong quản lý tài nguyên rừng có hiệu quả hơn tại Nepal [27]
Tại SriLanka đất nước này cũng đã thử nghiệm hình thức quản lý rừng có sự tham gia dựa trên kinh nghiệm của các nước lân cận Tuy nhiên, do thiếu sự tham gia thích hợp, do khung pháp lý chưa hoàn thiện nên thử nghiệm đã không thành công trong những năm đầu Các nghiên cứu đã đề xuất có sự thay đổi chính sách và luật cần có những sự cải cách, đồng thời cũng cần có sự hoàn thiện về việc thực hiện hệ thống cộng quản tài nguyên rừng [30]
Nhìn chung, các nước trên thế giới đã có các mô hình, các chính sách quản lý bảo vệ rừng khác nhau phù hợp với tình hình thực tế trong nước và đem lại hiệu quả; các công trình nghiên cứu khoa học thì được tiến hành khá đồng bộ trên nhiều khía cạnh khác nhau và đều tập trung chú trọng tới các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng theo hướng cộng đồng có sự tham gia của người dân, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan trong tổ chức quản lý rừng, đặc biệt chú trọng về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu đều mang tính chất vĩ mô, chưa đưa ra được nhiều giải pháp cụ thể, đa dạng để có thể áp dụng được với điều kiện thực tế của từng vùng, từng địa phương khác nhau trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Cơ sở lý luận
Trong những năm qua do dân số tăng nhanh, nhu cầu xã hội ngày càng cao, nạn khai thác gỗ ồ ạt của lâm tặc, khai thác không đúng quy trình, chỉ chú trọng khai thác mà không chú ý đến tái tạo và nuôi dưỡng rừng, chuyển đổi mục đích sử
Trang 15dụng đất làm cho diện tích và chất lượng rừng ngày càng bị giảm sút, làm suy giảm tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng Trước tình hình đó Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản và luật có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp như:
- Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 03 tháng 12 năm 2004
- Nghị định số 18-HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về việc quy địn danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản, bảo vệ
- Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng; Thông tư số 99/2006/Q Đ-BNN ngày 6/11/2006 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và PTNT về việc hướng dẫn thực hiện về một số điều của Quy chế quản lý rừng
- Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2007 – 2010
- Nghị định số 23/2006/N Đ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng
- Quyết định số 2730/Q Đ/BNN-KL ngày 5/8/2008 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt Đề án về chương trình đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam giai đoạn 2008 – 2020
- Luật Đa dạng sinh học ban hành ngày 29/11/2008 theo Lệnh của Chủ tịch nước số 20/2008/QH12
- Đề án hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông lâm nghiệp bền vững trên đất nương rẫy giai đoạn 2008 – 2012
- Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
- Thông tư 21/2016/TT- BNNPTNT ban hành ngày 28 tháng 6 năm 2016 quy định về khai thác chính và tận dụng, tận thu lâm sản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 16- Quyết định 44/2016/QĐ – TTg ban hành ngày 19 tháng 10 năm 2016 quyết định về lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của chủ rừng
- Thông tư số 24/2016/TT-BNNPTNT ban hành ngày 30 tháng 6 năm 2016 quy định về danh mục và công bố mã hs đối với hang hóa cấm xuất khẩu là gỗ tròn,
gỗ xẽ các loại từ gỗ rừng tự nhiên trong nước và hang hóa xuất khẩu theo giấy phép
là củi, than là từ gỗ hoặc củi có nguồn gốc từ gỗ rừng tự nhiên trong nước
- Quan niệm về công tác bảo tồn trước hết phải xuất phát từ các quy định mang tính pháp lý Đó là các điều khoản được ghi trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 12/8/1991; Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi ban hành ngày 3/12/2004; Quyết định số 08/2001/Q Đ-TTg ban hành ngày 11/1/2001 đã đề cập đến việc Ban quản lý các khu bảo vệ được xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT; Quyết định 186/2006/Q Đ-TTg ngày 14/8/2006 về việc ban hành Quy chế quản lý rừng
1.2.2 Một số nghiên cứu liên quan
Trong nhiều năm qua đã có nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các rừng theo quan điểm bảo tồn và phát triển
- Vũ Hoài Minh và Haws Warfvinge (2002) tiến hành đánh giá về thực trạng quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên của các hộ gia đình và cộng đồng địa phương tại 3 tỉnh Hòa Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế Các tác giả tìm hiểu về sự hình thành, các lợi ích đạt được và những vấn đề hưởng lợi, quyền sử dụng, các chính sách liên quan đến hình thức quản lý, bảo vệ rừng này Trong 5 mô hình quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng, có 4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa phương và được chính quyền địa phương chấp thuận Họ từ đề ra quy định quản lý, sử dụng lâm sản cũng như hoạt động bảo vệ, phát triển rừng [14]
- Theo Quách Đại Ninh (2003), đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình Qua nghiên cứu một số hộ gia đình có đất lâm nghiệp và không có đất lâm nghiệp trong địa bàn Bắc An, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương, tác giả kết luận chính sách giao, khoán đất lâm nghiệp đã làm thay đổi nhận thức của người dân vào rừng Sau khi nhận đất, các hộ gia đình
Trang 17yên tâm sản xuất và sử dụng đất một cách hợp lý, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống Tuy nhiên, đề tài chưa đưa ra được một số mô hình sản xuất mà người dân ưa thích đồng thời với điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu để hộ gia đình tham khảo và phát triển sản xuất [15]
- Trong quy hoạch phát triển nông thôn lâm nghiệp cấp xã, Nguyễn Bá Ngãi năm 2000 đã nghiên cứu về cơ sở khoa học thực tiễn cho quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã vùng trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam Kết quả nghiên cứu tác giả đã xác định được khả năng áp dụng, trình tự và phương pháp quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp xã cho vùng trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam [16]
Nhìn chung việc nghiên cứ xây dựng các chính sách, các công trình nghiên cứu khoa học và tổ chức quản lý bảo vệ rừng được nhà nước đặc biệt quan tâm, rất nhiều chủ trương chính sách, các công trình nghiên cứu, các dự án được phê duyệt
và triển khai Các văn bản pháp luật được ban hành đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc quản lý bảo vệ rừng ở nước ta Các công trình nghiên cứu mô hình quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng có sự tham gia của người dân, mô hình nông lâm kết hợp được tập trung nghiên cứu trong khi đó các nghiên cứu về đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng còn rất ít hoặc nếu có cũng chỉ thực hiện trên diện rộng chưa đi cụ thể vào từng địa phương
1.2.3 Các văn bản của tỉnh Quảng Bình liên quan đến việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Tình hình diễn biến Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình cũng diễn ra hết sức phức tạp, nhận thức được điều đó, UBND tỉnh Quảng Bình đã đưa ra một số quyết định, chỉ thị để công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được thực hiện hiệu quả hơn Đó là các quyết định của UBND tỉnh như: Quyết định 227/QĐ-UB ngày 23 tháng 06 năm 1997 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình về việc thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chỉ thị 287/TTg ngày 05 tháng 02 năm 1997 của Thủ tướng chính phủ về việc tổ chức truy quét những cá nhân, tổ chức phá hoại rừng Quyết định 38/1999/QĐ-UB ngày 23/09/1999 của Chủ tịch UBND về việc ban hành quy định chức năng nhiệm vụ của các ngành, các cấp trong việc thực hiện trách nhiệm
Trang 18quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quyết định 2616/QĐ-UBND 25/10/2013 của Chủ tịch UBND về việc phê duyệt kế hoạch hành động tăng cường công tác thực thi pháp luật bảo vệ rừng và quản lý động vật hoang
dã khu vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2013 – 2015
Bên cạnh đó, UBND tỉnh Quảng Bình còn ban hành một số chỉ thị, nghị quyết để thuận lợi cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng như: Chỉ thị 16/2001/CT-UB, ngày 19/04/2001 về việc tăng cường công tác kiểm tra và xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng động vật hoang dã Chỉ thị 13/2006/CT-UBND 14/04/2006 về việc tăng cường các biện pháp phòng cháy và chữa cháy rừng Chỉ thị 19/CT-UBND 30/7/2008 về việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng Nghị quyết 115/2009/NQ-HĐND 17/7/2009 về việc thông qua Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008 – 2020
Tại huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình tính đến nay mới chỉ có các phương
án QLBVR và PCCCR hàng năm của chính quyền các cấp Tuy nhiên, các phương
án trên còn mang tính tổng hợp chưa sát tình hình thực tế của địa phương Vì vậy, cần khuyến khích nhiều nghiên cứu khoa học hơn tại đây để có thể có các giải pháp hiệu quả trong công tác quản lý bảo vệ rừng hiệu quả trên địa bàn huyện
Trang 19Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các khu rừng trên địa bàn huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình; hoạt động bảo vệ rừng của chính quyền địa phương các cấp và người dân sống liền rừng, gần rừng
Thôn Khe Gát, thôn Ngọn Rào thuộc xã Xuân Trạch;
Thôn Bồng Lai thuộc xã Hưng Trạch;
Bản Cồn Roàn thuộc xã Thượng Trạch
+Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong những năm gần đây từ 2010 - 2016
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
2.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài là nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
và phát triển rừng trong những năm qua của huyện Bố Trạch
- Đề xuất những giải pháp quản lý bảo vệ rừng huyện Bố Trạch có hiệu quả
Trang 202.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên rừng tại huyện Bố Trạch
- Phân bố, diện tích rừng
- Các trạng thái rừng…
- Trữ lượng, chất lượng rừng
Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại huyện Bố Trạch
- Tổ chức các hoạt động công tác quản lý bảo vệ rừng
- Sự phối hợp của chính quyền địa phương và người dân trong công tác quản
- Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến quản lý tài nguyên rừng
- Ảnh hưởng của xã hội: phong tục, tập quán, kiến thức bản địa
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng tại huyện Bố Trạch
Trên cơ sở hiện trang và tình hình quản lý bảo vệ rừng ở huyện Bố Trạch nghiên cứu đề xuất một số giải pháp sau:
- Đối với công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ rừng
- Đối với công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản
- Đối với công tác phòng cháy chữa cháy rừng
- Đối với công tác ngăn chặn phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp
- Giải pháp về ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật
- Giải pháp về kinh tế - xã hội
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu này được áp dụng để xác định các xã, thôn, bản đáp ứng đủ các tiêu chí được chọn để nghiên cứu thực trạng công tác quản lý bảo vệ
Trang 21rừng và đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý tài nguyên rừng tại huyện Bố Trạch
Các địa điểm nghiên cứu được lựa chọn sau khi khảo sát sơ bộ một số xã có rừng, trao đổi với cán bộ Hạt kiểm lâm Địa điểm xã nghiên cứu được lựa chọn cần thỏa mãn các tiêu chí sau:
- Có địa bàn hành chính nằm trong ranh giới huyện Bố Trạch
- Người dân có sử dụng tài nguyên rừng trong phát triển kinh tế
- Lựa chọn thôn/bản nghiên cứu:
+ Những thôn/bản sống gần rừng
+ Thôn có đầy đủ các loại kinh tế hộ: Hộ khá; hộ trung bình; hộ nghèo
2.4.2 Phương pháp xác định đối tượng điều tra
Phương pháp xác định đối tượng điều tra được áp dụng cho phần phỏng vấn
sự phối hợp của người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng trong nội dung thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại huyện Bố Trạch và từ đó xin các ý kiến về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng tại đây
2.4.2.1 Xác định dung lượng mẫu điều tra
Xác định dung lượng mẫu không lặp lại theo công thức sau:
Trong đó:
+ n: Số hộ cần điều tra
+ N: Tổng số hộ của xã điều tra
+ d: Sai số mẫu (10%)
+ u: Hệ số tin cậy của phân bố chuẩn (u=1,96)
+ : Phương sai mẫu (
Căn cứ công thức trên ta có kết quả như sau:
- Tổng số hộ dân của thôn Khe Gát, thôn Ngọn Rào xã Xuân Trạch lần lượt là: 65 hộ và 18 hộ Theo công thức trên số hộ điều tra của hai thôn lần lượt là: 38
hộ và 15 hộ
Trang 22- Tổng số hộ dân của thôn Bồng Lai xã Hưng Trạch: 85 hộ Số hộ điều tra là:
45 hộ
- Tổng số hộ dân của bản Cồn Roàn: 18 hộ Số hộ điều tra là: 15 hộ
2.4.2.2 Phương pháp chọn hộ gia đình phỏng vấn
Việc chọn lựa hộ gia đình phỏng vấn đáp ứng các tiêu chí sau:
- Đại diện cho các nhóm hộ khá, trung bình, nghèo (tiêu chí phân loại nhóm
hộ khá, trung bình, nghèo được kế thừa theo danh sách phân loại nhóm hộ của UBND xã)
Các hộ gia đình được lựa chọn trên cơ sở phân loại hộ gia đình sau đó rút ngẫu nhiên lấy đủ số hộ đại diện rồi phỏng vấn
Đề tài tiến hành phỏng vấn các hộ gia đình, chủ rừng, cán bộ chính quyền địa phương cấp huyện, xã và cán bộ thôn, bản Công cụ điều tra chủ yếu là bảng câu hỏi phỏng vấn
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Sử dụng phương pháp kế thừa để thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan đến:
- Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu;
- Các tài liệu, bản đồ liên quan đến hiện trạng tài nguyên rừng, và công tác quản lý bảo vệ rừng tại huyện Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình
- Số liệu phân chia trạng thái và trữ lượng theo các trạng thái rừng hiện có…
- Các báo cáo tổng kết năm của Hạt Kiểm lâm sở tại và các xã nghiên cứu
2.4.3.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
- Phỏng vấn hộ gia đình để xác định sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng trong phát triển kinh tế và các vấn đề cần thu thập trong bốn nội dung nghiên cứu
- Điều tra phỏng vấn hộ bằng cách sử dụng bảng câu hỏi và ghi chép sổ, chụp ảnh tư liệu Điều tra nhằm thu thập thông tin về hộ, công tác tham gia quản lý
Trang 23tài nguyên rừng, nguồn lao động trong nông nghiệp, vật nuôi, nguồn và mức độ thu nhập, các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân trong vùng dự án
- Phỏng vấn cán bộ thuộc cơ quan có chức năng Lâm nghiệp về tình hình quản lý bảo vệ rừng tại địa phương và ý kiến về các giải pháp
(Chi tiết bảng câu hỏi phỏng vấn có phụ lục kèm theo)
2.4.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Sử dụng phần mềm Excel 2007 và SPSS để phân tích hiện trạng tài nguyên rừng và phân tích sự phụ thuộc vào tài nguyên, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng trong phát triển kinh tế của người dân
- Phân tích SWOT (Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức)
Công cụ SWOT được phân tích dưới dạng ma trận 2*2 (2 hàng, 2 cột) và chia thành 4 thành phần Mỗi thành phần tương ứng với những Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), Thách thức (Threats)
Điểm yếu (Weaknesses)
Cơ hội là những tác nhân bên ngoài huyện (xã hội, chính phủ….) mang tính tích cực hoặc
có lợi giúp đạt được mục tiêu đề ra
Thách thức là những tác nhân bên ngoài huyện ( xã hội, chính phủ…) mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt mục tiêu
Trang 24Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Bố Trạch nằm ở trung tâm tỉnh Quảng Bình, giáp thành phố Đồng Hới, có toạ độ địa lý từ 17012’ đến 17042’ vĩ độ Bắc, 105059’ đến 106037’ kinh độ Đông Tổng diện tích tự nhiên 212.417,63 ha
- Phía Bắc giáp huyện Quảng Trạch, Tuyên Hoá, Minh Hoá
- Phía Nam giáp huyện Quảng Ninh và thành phố Đồng Hới
- Phía Đông giáp biển
- Phía Tây giáp nước bạn Lào Được thể hiện trên bản đồ như sau:
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình
Huyện có 24 km bờ biển và trên 40 km đường biên giới Việt Lào; có trục giao thông quan trọng xuyên Bắc Nam đó là Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh (gồm
Trang 2502 nhánh phía Đông và phía Tây), đường sắt chạy dọc huyện; có cảng Gianh, các danh thắng như vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận Di sản thiên nhiên thế giới, Khu nghỉ mát tắm biển Đá Nhảy, vùng gò đồi, núi đá vôi, rừng, biển… với nhiều tiềm năng du lịch và nghỉ dưỡng
Vị trí địa lý tạo cho huyện có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển toàn diện về kinh tế xã hội, tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, thực hiện nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3.1.2 Điều kiện địa hình
Bố Trạch nằm trên giải đất hẹp và dốc, núi và gò đồi chiếm trên 80% diện tích tự nhiên Địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông, bị chia cắt mạnh và có thể chia thành các vùng như sau:
- Vùng địa hình núi đá vôi: phân bố ở xã Thượng Trạch, Tân Trạch, Sơn Trạch, Xuân Trạch, Phúc Trạch chiếm hơn 1/3 diện tích tự nhiên của huyện Các khối núi đá vôi ở Bố Trạch được hình thành vào thời kỳ Đềvon và Cacbon-pecmi, thường bị chia cắt thành những giải liên tục hoặc độc lập, địa hình lởm chởm, sườn thẳng đứng Ở hầu hết khu vực núi đá vôi đều có dạng địa hình caxtơ trên mặt và ngầm Một số sông suối bị mất do chảy ngầm trong núi đá vôi hàng mấy chục km, điển hình là động Phong Nha, động Thiên đường, là những hang động trong núi đá vôi dài nhất, lớn nhất trên thế giới
- Vùng núi đất thấp và trung bình: kiểu địa hình này chiếm gần 1/2 diện tích của huyện, gồm những dãy núi liên tiếp độ cao các đỉnh núi trung bình 400 - 500m,
có đỉnh cao tới 1.000m (Ba Rền 1.137m; U Bò 1.009m), độ dốc chủ yếu là trên 250
,
có nhiều nơi địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn
- Vùng gò đồi: là vùng tiếp giáp giữa vùng núi và đồng bằng, dọc đường Hồ Chí Minh nhánh Đông gồm những đồi báp úp tạo nên một số thung lũng Đây là vùng có nhiều tiềm năng đất đai để phát triển kinh tế hàng hoá, tạo nên khối lượng lớn Nông Lâm sản hàng hoá cho huyện
- Vùng đồng bằng: là vùng đất hẹp chạy dọc quốc lộ 1A Địa hình tương đối bằng phẳng, hình thành bởi phù sa các con sông lớn Đây là vùng sản xuất nông
Trang 26nghiệp chính của huyện, hàng năm cung cấp lượng lương thực chủ yếu cho nhân dân trong huyện Dọc theo bờ biển ở Bố Trạch còn có những cồn cát và dải cát trắng vàng, độ cao 2m đến 50m Đặc điểm địa hình của huyện tạo ra các vùng sinh thái khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Có thể hình thành 7 tiểu vùng:
+ Tiểu vùng 1: gồm các xã Phúc Trạch, Lâm Trạch, Xuân Trạch
+ Tiểu vùng 2: gồm các xã Sơn Trạch, Hưng Trạch, Liên Trạch, Cự Nẫm + Tiểu vùng 3: gồm các xã Nam Trạch, Lý Trạch, Hoà Trạch, Tây Trạch, Phú Định, Sơn Lộc và thị trấn Nông nghiệp Việt Trung
+ Tiểu vùng 4: gồm các xã Đại Trạch, Trung Trạch, thị trấn Hoàn Lão, Đồng Trạch, Vạn Trạch, Phú Trạch, Hoàn Trạch
+ Tiểu vùng 5: gồm các xã Bắc Trạch, Thanh Trạch, Mỹ Trạch, Hạ Trạch + Tiểu vùng 6: gồm các xã biển Nhân Trạch, Đức Trạch, Hải Trạch và một phần xã Thanh Trạch
+ Tiểu vùng 7: xã miền núi rẻo cao Tân Trạch, Thượng Trạch
Đất cát (C): có diện tích 3.504 ha chiếm 1,65 % diện tích tự nhiên bao gồm:
+ Đất cồn cát trắng vàng điển hình (Cc) diện tích 2.615 ha
+ Đất cát biển trung tính ít chua (C-h) diện tích 899 ha
Đất cát phân bố dọc bờ biển thuộc các xã Đại Trạch, Trung Trạch, Đồng Trạch, Thanh Trạch, Nhân Trạch, Lý Trạch, Hải Trạch, Đức Trạch Hiện nay 1 phần trồng rừng phòng hộ, phần còn lại hoang hóa Hướng sử dụng chính đối với
Trang 27loại đất này là phát triển vùng phòng hộ bảo vệ vùng nội đồng, nuôi trồng thủy sản trên đất cát và kinh doanh dịch vụ
Đất mặn (M): có diện tích 1.683 ha chiếm 0,79% diện tích tựn nhiên gồm:
+ Đất mặn nhiều ( Mn) 409 ha
+ Đất mặn ít (M) 1.274 ha
Phân bố ở các xã Bắc Trạch, Thanh Trạch, Hoàn Trạch, Phú Trạch, Đức Trạch, Mỹ Trạch, Hạ Trạch, Đồng Trạch Đất này hình thành trên địa hình thấp từ sản phẩm phù sa sông, biển được lắng đọng trong môi trường nước biển, hiện nay đang sử dụng vào sản xuất 1 - 2 vụ lúa và nuôi trồng thủy sản
Đất phèn: có diện tích 76 ha chiếm 0,04% diện tích tự nhiên phân bố ở xã
Bắc Trạch Hiện tại đang sử dụng để trồng 1 vụ lúa năng sất thấp Để sử dụng tốt đất phèn cần giải quyết tốt vấn đề thủy lợi kết hợp với chọn giống cây trồng chịu phèn
Đất phù sa: có diện tích 11.001 ha chiếm 5,18% diện tích tự nhiên bao gồm:
+ Đất phù sa trung tính ít chua diện tích 4.283 ha, phân bố ở các xã Phúc Trạch, Xuân Trạch, Sơn Trạch, Thanh Trạch, Hoàn Trạch, Đồng Trạch
+ Đất phù sa chua: có diện tích 5.049 ha, phân bố ở các xã Cự Nẫm, Mỹ Trạch, Liên Trạch, Bắc Trạch, Lâm Trạch, Hưng Trạch, Nam Trạch, Lý Trạch, Nhân Trạch, Đại Trạch, Vạn Trạch, Tây Trạch
+ Đất phù sa glây có diện tích 1.669 ha, phân bố ở các xã Vạn Trạch, Tây Trạch, Đại Trạch, Trung Trạch, thị trấn Hoàn Lão
Nhóm đất phù sa có đặc điểm chính là phân bố trên địa hình khá bằng phẳng tầng đất dày, ở thượng nguồn có thành phần cơ giới nhẹ, càng xuống hạ lưu thành phần cơ giới càng nặng Hiện nay đất hầu hết đã được sử dụng để phát triển cây lương thực, thực phẩm công nghiệp ngắn ngày Cây lúa vẫn phổ biến và ổn định hơn cả
Đất glây: có diện tích 1.059 ha chiếm 0,50% diện tích tự nhiên, phân bố ở xã
Đại Trạch, Hoàn Trạch, Phúc Trạch Đây là loại đất có độ phì khá nhưng do ở địa
Trang 28hình thấp, trũng khó thoát nước nên đất chặt bí, chua nhiều, vì vậy nên chỉ trồng lúa trên đất này
Đất xám: đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất 109.297 ha chiếm 51,4% diện
tích tự nhiên, phân bố đều khắp vùng núi, gò đồi trên địa bàn huyện Đất được hình thành phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau như: đá cát, đá sa phiến, đá granit, đá biến chất và phù sa cổ, gồm các loại đất
+ Đất xám cơ giới nhẹ có diện tích 508 ha Hiện nay trên loại đất này một số diện tích đã trồng Sắn, trồng Thông, diện tích còn lại chủ yếu là cây bụi, sim, mua Đây là loại đất nghèo dinh dưỡng, dễ bị khô hạn vì vậy nên trồng cây phát triển nhanh như Tràm Hoa Vàng, các loại Keo để cải tạo đất
+ Đất xám bạc màu có diện tích 1.771 ha Đây là loại đất có các chất dinh dưỡng thấp, nhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp vì phần lớn có diện tích bằng thoải, thoáng khí, dễ canh tác và thích hợp với nhiều cây trồng cạn ngắn ngày
+ Đất xám Feralit có diện tích lớn nhất 97.568 ha, phạm vi phân bố rộng, đặc điểm của đất rất đa dạng, phụ thuộc vào vị trí địa lý và mẫu chất hình thành đất Hiện tại một số cây trồng đang được chú trọng phát triển trên loại đất này như: Cao
su, Cây ăn quả, Mít, Dứa…
+ Đất xám có tầng loang lổ có diện tích 885 ha, phân bố ở xã Phú Trạch Hướng sử dụng trồng lúa ở những nơi chủ động tưới nước, trồng các loại cây cạn ngắn ngày ở những nơi không chủ động nước tưới
+ Đất xám mùn trên núi có diện tích 2.600 ha Loại đất này thích hợp với trồng cây dược liệu và cây rừng
Đất nâu vàng: có diện tích 126 ha chiếm 0,06% diện tích tự nhiên, phân bố ở
xã Xuân Trạch, đây là loại đất tốt cần ưu tiên trồng các loại cây dài ngày có giá trị kinh tế cao như cây ăn quả, cao su…
Đất tầng mỏng: có diện tích 3.623 ha chiếm 1,71% diện tích tự nhiên Loại
đất này xấu, ít thích hợp với sản xuất nông nghiệp, chỉ nên dành để phát triển Lâm nghiệp trồng các loại cây phát triển nhanh, che phủ đất, cải tạo môi sinh[18]
Trang 293.1.4 Khí hậu thủy văn
* Đặc điểm khí hậu
Bố Trạch nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương Tính chất khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam và có mùa đông lạnh ở miền Bắc với hai mùa rõ rệt trong năm: mùa khô (tháng 4 đến tháng 8) và mùa mưa (tháng 9 đến tháng 3 năm sau)
- Nhiệt độ trung bình năm là 24,20C, nhiệt độ thấp nhất (tháng 12, tháng 1) khoảng 9 -100C, nhiệt độ cao nhất (tháng 6, tháng 7) khoảng 40,1 - 40,60C Tổng tích nhiệt đạt trị số 8.600 - 9.000 0C; biên độ nhiệt chênh lệch ngày đêm từ 4 - 70C; số giờ nắng trung bình trong ngày là 5,9 giờ
Như vậy, nhiệt độ và tổng tích ôn cả năm khá cao, phù hợp và thuận lợi cho các cây công nghiệp, cây dài ngày, cây nhiệt đới phát triển Trừ những thời điểm nhiệt độ tăng cao do ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng, còn lại nền nhiệt trung bình nằm trong khoảng 11,5 - 34,30C chưa vượt mức giới hạn về yêu cầu sinh thái của các loại cây trồng vật nuôi hiện có trong vùng
- Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.200 – 2.300 mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mùa mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm 70 - 75% tổng lượng mưa cả năm, liên quan nhiều đến áp thấp nhiệt đới, hoàn lưu bão
và hoạt động của gió mùa Đông Bắc, nên thường gây ngập lụt trên diện rộng Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 năm sau, lượng mưa ít, trùng với mùa khô hanh nắng gắt, gắn với gió Tây Nam khô nóng, lượng bốc hơi lớn gây nên hiện tượng thời tiết cực đoan khô hạn ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9, tháng 10 (502 - 668 mm), tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 3, tháng 4 (44 - 46 mm)
- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm khá cao từ 83 - 85%, ngay trong những tháng khô hạn nhất của mùa hè, độ ẩm trung bình tháng vẫn đạt trên 70% (riêng những ngày có gió phơn Tây Nam khô nóng, độ ẩm xuống thấp dưới 60%) Thời kỳ có độ ẩm cao nhất thường xảy ra vào những tháng mùa đông, khi khối không
Trang 30khí cực đới lục địa (gió mùa Đông Bắc) tràn về qua đường biển kết hợp khối không khí nhiệt đới biển Đông luân phiên hoạt động gây ra mưa phùn làm cho độ ẩm không khí rất lớn, thường trên 87%
- Lượng bốc hơi bình quân trong năm khoảng 1.307 - 1.350 mm Trong mùa mưa, do nhiệt độ không khí thấp, độ ẩm tương đối cao, nên lượng bốc hơi nhỏ (chỉ chiếm 1/5 đến 1/3 so với lượng mưa) Vào mùa khô, do nhiệt độ không khí cao, ẩm
độ thấp, kết hợp với gió lớn nên cường độ bốc hơi thường lớn Lượng bốc hơi trong các tháng từ tháng 5 đến tháng 8 cao hơn nhiều so với lượng mưa
- Gió bão: hướng gió thịnh hành có sự phân bố rõ theo mùa gồm gió mùa Đông Bắc (từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau) mang theo không khí lạnh và hơi ẩm làm cho nền nhiệt giảm mạnh từ 4 - 60C so với bình quân, gây nên hiện tượng mưa dầm trên diện rộng; gió mùa Đông Nam và đặc biệt gió Tây Nam khô nóng xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 8 (khoảng 30 đến 40 ngày/năm, tập trung chủ yếu trong tháng 7), với những đợt nắng nóng kéo dài, tốc độ gió lớn đạt 20m/s, kết hợp với thiếu mưa gây hạn hán, thời tiết vô cùng khắc nghiệt và có nhiều biến động Ngoài ra địa bàn Huyện nằm trong khu vực miền Trung có nhiều cơn bão đi qua, bình quân hằng năm phải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ 1 - 2 cơn bão (thường từ tháng 7 đến tháng 11), gây nhiều hậu quả đến sản xuất và đời sống nhân dân, nhất là các khu vực thấp trũng, vùng ven biển
* Đặc điểm thủy văn
Bố Trạch có 2 con sông chính: sông Gianh, sông Dinh và hệ thống các sông, suối nhỏ phân bố đều trên địa bàn huyện với đặc điểm chung là chiều dài ngắn độ uốn khúc lớn, lưu vực nhỏ nên tốc độ dòng chảy lớn nhất về mùa lũ
Trong mùa mưa lũ nước chảy dồn ứ từ các sườn núi xuống các thung lũng hẹp, triều cường nước trên sông lên nhanh gây lũ lụt trên diện rộng Ngược lại về mùa khô nước sông xuống thấp dòng chảy trong các tháng kiệt nhỏ Sự phân bố dòng chảy đối với các sông suối ở Bố Trạch theo mùa rõ rệt Hầu như các con sông chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ mưa lũ thượng nguồn và chế độ thuỷ triều ở hạ lưu Vì vậy vùng đất thấp hạ lưu ở các con sông thường bị nhiễm mặn tác động xấu
Trang 31đến sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên có thể vận dụng đặc điểm này để quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước mặn lợ
Trên địa bàn huyện có tới gần 50 hồ, đập lớn, nhỏ với diện tích khoảng trên 1.500ha phục vụ cho sinh hoạt và tưới cho khoảng 8.000 ha cả năm trên địa bàn, tuy nhiên các hồ này thường bị cạn vào mùa khô nên hiệu quả sử dụng không cao
Nguồn nước mặt tại huyện Bố Trạch khá phong phú nhờ hệ thống sông suối,
hồ, đập khá dày đặc Tuy lượng nước sông khá lớn nhưng việc sử dụng phục vụ sản xuất và đời sống còn nhiều hạn chế, do bị khô hạn và nhiễm mặn ở hạ lưu vào mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa
Nước ngầm ở Bố Trạch cũng khá phong phú tuy nhiên phân bố không đồng đều và mức độ nông sâu thay đổi tùy thuộc vào địa hình và lượng mưa trong mùa Thông thường vùng đồng bằng ven biển có mực nước ngầm nông và dồi dào, đối với vùng gò đồi mực nước ngầm thường sâu, dễ bị cạn kiệt vào mùa khô Nhìn chung chất lượng nước ở Bố Trạch khá tốt, rất thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây trồng cũng như sinh hoạt Riêng đối với vùng đồng bằng ven biển thường bị nhiễm mặn do thủy triều, vì vậy cần kiểm tra độ mặn của nước sông trước khi bơm nước tưới cho cây trồng
3.2 Kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số
Theo số liệu Niên giám thống kê năm 2015, dân số trung bình toàn huyện là 180.651 người trong đó dân số thành thị là 17.249 người (9,54%) với 4.651 hộ, dân
số nông thôn là 163.402 người với 39.118 hộ[8]
Tỷ lệ tăng dân số hàng năm có xu hướng giảm, năm 2010 là 10,94%; năm
2011 giảm xuống còn 10,71%; đến năm 2015 còn 10,43%
Sự phân bố dân cư trên lãnh thổ không đều, phần lớn tập trung ở vùng đồng bằng và ven biển Mật độ dân số toàn huyện là 84,9 người/km2 cao nhất là các xã Hải Trạch, Nhân Trạch, Đức Trạch, Thị trấn Hoàn Lão, thấp nhất là Tân Trạch, Thượng Trạch
Trang 323.2.2 Thu nhập
Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống nhân dân Bố Trạch trong những năm qua không ngừng được cải thiện Năm 2010 thu nhập bình quân đầu người đạt 13.452.000 đồng, năm 2011 tăng lên 16.627.000 đồng và năm 2012 ước tính đạt 18.746.000 đồng đến năm 2015 đã đạt 19.237.000 đồng
Tỷ lệ hộ đói nghèo (theo chuẩn mới từ năm 2010) giảm nhanh từ 21,74% năm 2010 xuống còn 12,34 năm 2015
Tuy nhiên mức thu nhập có sự chênh lệch giữa các vùng đô thị, đồng bằng ven biển so với các vùng núi
3.2.3 Giao thông
Hệ thống giao thông đường bộ của huyện Bố Trạch bao gồm quốc lộ 1A (31km), đường Hồ Chí Minh nhánh Đông (60 km), nhánh Tây (62 km), 116,5 km đường tỉnh lộ 2, 2B, tỉnh lộ 3, tỉnh lộ 20; 197,86 km đường huyện; 119,8 km đường
xã và 250 km đường thôn bản
Trong những năm qua giao thông huyện có những bước chuyển biến khá tích cực Việc thành lập tuyến đường Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển kinh tế vùng và quốc phòng an ninh
Mạng lưới giao thông đường bộ phân bố tương đối hợp lý trên địa bàn huyện, đến nay đã có 30/30 xã, thị trấn có đường ôtô đến UBND Tuy nhiên các tuyến đường huyện, xã phần lớn là đường cấp phối chất lượng thấp gây khó khăn đi lại đặc biệt là mùa mưa
Nhìn chung, huyện Bố Trạch là huyện có nhiều thuận lợi để phát triển kinh
tế theo hướng nông lâm nghiệp bởi diện tích đất lâm nghiệp lớn, điều kiện đất đai, khí hậu của huyện phù hợp với nhiều loại cây trồng, người dân có truyền thống, kinh nghiệm về trồng rừng và đường xã, giao thông thuận lợi Bên cạnh đó công tác QLBVR ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm Tuy nhiên, do địa bàn huyện
có khí hậu đặc thù thường xuyên hạn hán, khô hanh, gió lào mạnh dễ xảy ra cháy rừng, đến mùa mưa thường xuyên gặp nhiều cơn bão lớn dẫn đến đỗ gãy các loại cây trồng gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế - xã hội, công tác QLBVR trên địa bàn
Trang 33huyện cũng gặp nhiều khó khăn bởi giao thông đi lại thuận lợi tạo điều kiện để lâm tặc tiếp cận với các khu rừng và dễ dàng xâm hại, địa bàn rộng, địa hình chủ yếu là đồi núi hiểm trở, lực lượng công tác QLBVR mỏng và tập tục làm nhà gỗ của người dân địa phương dẫn đến nhu cầu gỗ rất lớn gây nên áp lực lớn cho rừng và công tác
QLBVR
Trang 34Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm tài nguyên rừng của huyện Bố Trạch
Bố Trạch có 171.349,96 ha đất Lâm nghiệp chiếm 82,05% tổng diện tích tự nhiên Rừng phòng hộ: 19.159,92 ha; rừng Đặc dụng: 93.005,51 ha; rừng sản xuất: 59.184,53 ha Trong đó: Diện tích rừng tự nhiên: 143.366,84 ha, diện tích rừng trồng: 21.940,51 ha, diện tích đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp: 6.042,61 ha, độ che phủ toàn huyện 76,71%[12]
Rừng ở Bố Trạch thuộc kiểu rừng nhiệt đới thường xanh nửa rụng lá, vùng núi cao có thể gặp các loại rừng lá kim á nhiệt đới Thảm thực vật rừng rất đa dạng
và phong phú, trong đó có nhiều loại gỗ quý như Lim xanh, Sến, Táu, Đinh, Gụ,…
và nhiều loại thú quý hiếm Hổ, Báo, Hươu đen, Trĩ sao, Gà lôi…
Đặc biệt có khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng có nhiều loại động vật và thực vật quý hiếm, mới đây còn phát hiện được 2 loại thú quý trên thế giới ít nơi nào có là Sao La, Mang Lớn Rừng Phong Nha - Kẻ Bàng có địa hình núi cao hiểm trở, vách đá dựng đứng, khí hậu nhiệt đới ẩm thuận lợi cho các loại động thực vật phát triển Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là khu rừng nguyên sinh quý hiếm còn có ở Việt Nam, là một trong những hệ sinh thái có giá trị kinh tế, khoa học và tham quan du lịch
Rừng trồng phần lớn là Thông nhựa, Phi lao, và Keo các loại Đất có khả năng Lâm nghiệp còn gần 6.000 ha, trong đó gần 1.000 ha bãi cát ven biển cần được trồng rừng phòng hộ chống cát bay, cát lấp
Bảng 4.1 Diện tích rừng qua các năm của huyện Bố Trạch ( ha)
Năm
Diện tích
Rừng tự nhiên 147.915,34 147.581,45 147.304,76 146.279,75 143.366,84 Rừng trồng 13.068,11 17.243,24 23.736.157 21.798,14 21.940,51
(nguồn: Báo cáo Hạt kiểm lâm huyện Bố Trạch[12])
Trang 35Theo bảng diễn biến rừng ở trên trong những năm qua diện tích rừng của huyện Bố Trạch có xu hưởng giảm, mặc dù không giảm mạnh như giai đoạn của các năm trước nhưng có một thực trạng hiện nay cho thấy chất lượng rừng tự nhiên của huyện bố Trạch ngày càng giảm mạnh thay vào đó là các loại cây kinh tế được trồng nhiều trên địa bàn huyện Bố Trạch đặc biệt là cây keo, cao sau và cây thông Phân bố diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng và đất trống chưa quy hoạch được thể hiện qua bảng 4.2[12]
Bảng 4.2 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp các xã, thị trấn
huyện Bố Trạch năm 2015
Tổng diện tích tự nhiên
Rừng tự nhiên
Rừng trồng
Đất trống đồi núi chưa sử dụng
Tổng cộng
Diện tích rừng trồng chưa thành rừng
Trang 36(Nguồn:Báo cáo Hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch năm 2015)
Từ bảng 4.2 ta thấy diện tích rừng và đất lâm nghiệp của huyện phân bố không đều Diện tích rừng lớn tập trung ở một số xã như: xã Phúc Trạch, Sơn Trạch, Tân Trạch, Thượng Trạch, Phú Định, Xuân Trạch, Hưng Trạch Trong đó các xã thường xuất hiện điểm nóng về khai thác gỗ trái phép, phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp là xã Phú Định, Xuân Trạch, Hưng Trạch
Đa số các xã này đều nằm trong vùng đệm của Vườn Quốc gia Phong Nha
Kẽ bàng vì thế trữ lượng rừng tại đây khá dồi dào với chất lượng rừng tốt Ta có hiện trạng trữ lượng rừng huyện Bố Trạch cụ thể qua bảng 4.3[12] như sau:
Trang 37(Nguồn: Báo cáo Hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch năm 2015)
Từ bảng 4.3 cho thấy tổng trữ lượng các loại rừng 15.776.352 m3; rừng trồng 717.770m3; rừng tre nứa 139,7 ngàn cây diện tích rừng lá rộng là 143.161,87 ha, với tổng khối lượng gỗ khoảng 15.038.009 m3 chiếm 95,3% tổng trữ lượng của huyện, bình quân khoảng 105 m3/ha, trong đó rừng giàu chiếm 3,6% trữ lượng diện tích rừng lá rộng tập trung ở vùng bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tại các xã vùng đệm Xuân Trạch và Thượng Trạch; rừng trung bình chiếm 73,1% tại các xã Hưng Trạch, Xuân Trạch, Phú Định, Tân Trạch, Thượng Trạch ; rừng nghèo chiếm 21,1% và rừng nghèo kiệt chiếm 2,2% Diện tích rừng trồng là 19.583,98 có trữ lượng 717.770 chiếm 4,55% tổng trữ lượng của
Trang 38huyện Tại 03 xã điều tra, phỏng vấn, xã Thượng Trạch có trữ lượng rừng gỗ tự nhiên là 8.130.036 m3 chiếm 51,5% tổng trữ lượng rừng các loại toàn huyện; xã Xuân Trạch có trữ lượng rừng gỗ tự nhiên 1.234.258 m3 chiếm 7,8% tổng trữ lượng rừng các loại toàn huyện; xã Hưng Trạch có trữ lượng rừng gỗ tự nhiên 441.587 chiếm 2,8% tổng trữ lượng rừng các loại toàn huyện
Nhìn chung trữ lượng rừng của huyện Bố Trạch khá lớn, chất lượng rừng khá tốt; qua bảng số liệu trên cho thấy diện tích rừng nghèo và rừng nghèo kiệt chiếm tỷ
lệ lớn, diện tích phân bố không đều giữa các xã, trữ lượng rừng tự nhiên là chủ yếu, trữ lượng rừng trồng và rừng tre nứa thấp Nếu biết phát huy các lợi thế về diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn, chủng loại cây đa dạng phong phú, thích nghi với điều kiện khí hậu đất đai sẽ cùng với các chính sách khuyến khích phát triển nông lâm nghiệp thì đây sẽ là cơ hội tốt để phát triển sản xuất, kinh doanh nghề rừng
4.2 Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại huyện Bố Trạch
Bố Trạch là một huyện rộng lớn có nhiều trục đường chính và giao thông phức tạp, có địa hình đồi núi, phù hợp với phát triển rừng trồng đem lại hiệu quả kinh tế khá cao Là một huyện gần ngay trung tâm của tỉnh Quảng Bình nên nhu cầu tiêu thụ gỗ và các lâm sản ngoài gỗ là rất lớn.Vì vậy đây cũng là nơi tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép hoạt động, phá, lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp diễn ra mạnh, ngoài ra tình hình buôn bán, vận chuyển, săn bắt các loài động vật hoang dã ngày càng phức tạp Các cơ quan chức năng đã tăng cường truy quét và xử lý các vụ
vi phạm lâm luật trên địa bàn huyện Bố Trạch nhưng tình hình vi phạm vẫn liên tục xảy ra ở mức độ nghiêm trọng Đó là một thực tế đáng báo động Bởi vậy các cơ quan chức năng đặc biệt là Hạt Kiểm lâm Bố Trạch thuộc Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình đã và đang tích cực nâng cao trách nhiệm trong quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn, tăng cường các hoạt động quản lý bảo vệ rừng tại địa bàn Song song với những kết quả đã đạt được trong những năm qua thì công tác quản lý bảo vệ rừng tại huyện Bố Trạch vẫn đang còn gặp nhiều vấn đề tồn tại cần phải điều tra, tìm giải pháp khắc phục kịp thời
Trang 394.2.1 Công tác phòng cháy chữa cháy rừng
Công tác PCCCR được coi là nhiệm vụ cấp bách và chú trọng hàng đầu cần thiết thực hiện Để thực hiện tốt công tác PCCCR, hàng năm, Hạt Kiểm Lâm Bố Trạch đã chủ động tham mưu cho UBND Huyện Bố Trạch tổ chức tổng kết công tác BVR – PCCCR, ban hành các chỉ thị về tăng cường chỉ đạo, cũng cố lại BCH các vấn đề cấp bách trong BVR – PCCCR của Huyện, bổ sung quy chế, phân công nhiệm vụ và bổ sung phương án tổng thể của huyện về BVR – PCCCR Bên cạnh
đó, đã tổ chức các đợt diễn tập PCCCR để phát huy được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân, sức mạnh của phương châm 4 tại chỗ của địa phương trông công tác chuẩn bị PCCCR; năng cao năng lực chỉ đạo, lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, điều hành của chính quyền địa phương và BCH các vấn đề cấp bách trong BVR và PCCCR, sự phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể, các lực lượng trong công tác PCCCR
Trước các thời điểm dễ xảy ra cháy rừng (từ tháng 6 đến tháng 9) UBND huyện đã chỉ đạo cho Hạt kiểm lâm Bố Trạch triển khai kịp thời cam kết với 1.488
hộ gia đình, 04 Trường học ở ven rừng, gần rừng về việc không gây ra cháy rừng[13]
Tích cực tuần tra canh gác, duy trì chế độ trực ban, trực nhật chặt chẽ, đặc biệt là các tháng cao điểm của mùa khô dễ xảy ra cháy rừng
Hạt Kiểm lâm Bố Trạch đã mua sắm trang bị bổ sung dụng cụ PCCC gồm:
16 cây rựa, xẻng; 06 xô đựng nước, 2 máy cắt cỏ, ngoài ra còn mua thêm 40 can đựng nước, 30 xẻng, 20 cuốc cào cấp cho các trạm, các xã thị trấn có rừng để đảm bảo tính cơ động cho việc chữa cháy khi xảy ra cháy rừng[13]
Vào thời gian nắng nóng cao điểm, UBND huyện và Hạt Kiểm lâm Bố Trạch
đã phân công tổ chức trực 24/24h, kể cả ban đêm và ngày thứ 7, chủ nhật, đảm bảo trực 100% con số
Qua các số liệu điều tra thực tế ngẫu nhiên một số người dân, cán bộ 3 trên địa bàn 03 xã Hưng Trạch, Xuân Trạch và Thượng Trạch của huyện có đến 54,4 % phiếu chấm điểm khá về công tác cho rằng công tác phát hiện và ngăn chặn kịp thời
Trang 40khi các vụ cháy rừng xảy ra, 12,7 % phiếu đánh giá tốt cho công tác này Cho thấy công tác PCCCR tại huyện đã đƣợc triển khai và thực hiện khá tốt
Mặc dù đã có những hoạt động triển khai công tác PCCCR hàng năm kịp thời nhƣng trên địa bàn huyện Bố Trạch tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra Ta có số liệu thống kê các vụ cháy rừng trên địa bàn huyện Bố Trạch các năm qua bảng 4.4[12]
Bảng 4.4 Thống kê tình hình cháy rừng trên địa bàn huyện Bố Trạch
Đốt thực bì, lấy ong
(Nguồn:Báo cáo Hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch các năm 2011 - 2015)
Hình 4.1 Số vụ cháy và diện tích cháy của huyện Bố Trạch