Mỹ thuật là một thành tố đặc biệt trong văn hóa mỗi dân tộc, bởi lẽ các di sản về kiến trúc, hội họa, điêu khắc đều ẩn chứa những giá trị sáng tạo cả trên bình diện tinh thần và vật chất. Đặc biệt mỹ thuật truyền thống, nơi bảo lưu những di sản nghệ thuật phản ánh sâu đậm quá trình phát triển của mỗi giai đoạn lịch sử, hay thậm chí ở mỗi vùng miền mỗi quốc gia, dân tộc. Nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVIIXIX ở Việt Nam, trong đó tiêu biểu là ở Thanh Hóa. Nghệ thuật đó là sự tiêu biểu cho văn hóa truyền thống Việt Nam với những trạm khắc của những nghệ sĩ dân gian.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Trần Việt Anh
NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC GỖ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Hà Nội – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Trần Việt Anh
NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC GỖ THẾ KỶ XVII - XIX Ở THANH HÓA
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 9210101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN LÂM BIỀN
PGS.TS LÊ VĂN TẠO
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ với đề tài Nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII - XIX ở Thanh Hóa là do tôi viết Các số liê ̣u, trích dẫn, tư liê ̣u trong luận án đảm bảo đô ̣ tin câ ̣y, chính xác, trung thực, có dẫn nguồn cu ̣ thể
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Trần Việt Anh
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC GỖ TRUYỀN THỐNG THANH HÓA 14
1.1 Cơ sở lý luận và khái lược diễn biến nghệ thuật chạm khắc gỗ truyền thống ở Thanh Hóa……… 14
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu nghệ thuật chạm khắc gỗ Thanh Hóa 25
1.3 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến nghệ thuật chạm khắc gỗ 44
Tiểu kết 48
Chương 2: NIÊN ĐẠI, NỘI DUNG VÀ PHONG CÁCH KIẾN TRÚC, CHẠM KHẮC GỖ THẾ KỶ XVII - XIX Ở THANH HÓA 49
2.1 Phân nhóm niên đại kiến trúc gỗ 49
2.2 Phân loại phong cách kiến trúc gỗ 54
2.3 Phân loại nội dung chạm khắc gỗ trên kiến trúc 61
2.4 Phân loại phong cách nghệ thuật chạm khắc gỗ 66
2.5 Một số đồ án chạm khắc gỗ điển hình 72
Tiểu kết 81
Chương 3: ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CHẠM KHẮC GỖ THẾ KỶ XVII - XIX Ở THANH HÓA 83
3.1 Hình tượng con người, thần tiên 83
3.2 Hình tượng con vật linh 91
3.3 Hình tượng thực vật 103
3.4 Mô típ trang trí 106
Tiểu kết 115
Chương 4: LUẬN BÀN VỀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC GỖ THẾ KỶ XVII - XIX Ở THANH HÓA 117
4.1 Sự tương đồng giữa nghệ thuật chạm khắc gỗ vùng đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa ở thế kỷ XVII – XIX 117
4.2 Phong cách đặc trưng trong nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII – XIX ở Thanh Hóa 121
4.3 Kỹ thuật, phương pháp tạo hình nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII - XIX ở Thanh Hóa 127
4.4 Hiệu quả mới trong giao lưu của các hiệp thợ Thanh Hóa với vùng đồng bằng Bắc Bộ trong nghệ thuật chạm khắc gỗ 129
4.5 Nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII - XIX ở Thanh Hóa từ góc nhìn Mỹ thuật học 135
4.6 Kế thừa và phát huy giá trị của nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII - XIX ở Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay 141
Tiểu kết 146
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 153
TÀI LIỆU THAM KHẢO 154
PHỤ LỤC 167
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3: Phân loại nội dung chạm khắc gỗ trên kiến trúc 62
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mỹ thuật là một thành tố đặc biệt trong văn hóa mỗi dân tộc, bởi lẽ các
di sản về kiến trúc, hội họa, điêu khắc đều ẩn chứa những giá trị sáng tạo cả trên bình diện tinh thần và vật chất Đặc biệt mỹ thuật truyền thống, nơi bảo lưu những di sản nghệ thuật phản ánh sâu đậm quá trình phát triển của mỗi giai đoạn lịch sử, hay thậm chí ở mỗi vùng miền mỗi quốc gia, dân tộc
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), năm 1998 về phát triển “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI), năm 2014 nhấn mạnh “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” cho thấy vị thế văn hóa rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta
Việc nghiên cứu và phát huy giá trị tích cực của văn hóa truyền thống trở nên là một nhiệm vụ quan trọng, được cơ sở nghiên cứu, giáo dục, đào tạo
và các nhà khoa học xã hội nhân văn quan tâm trong nhiều năm qua Nhiều công trình nghiên cứu về dân ca, dân vũ, lễ hội, âm nhạc truyền thống đã được công bố, nhiều dự án bảo tồn, phát huy di sản văn hóa truyền thống Việt Nam đã được đưa vào cuộc sống và phát huy hiệu quả Trong đó lĩnh vực kiến trúc và chạm khắc gỗ truyền thống chiếm một vị trí nhất định
Nhờ có những công trình nghiên cứu chuyên sâu của nhiều nhà khoa học mà các dự án tu bổ di tích tầm cỡ quốc gia như: chùa Tây Phương, Bút Tháp, Kim Liên; đình Chu Quyến, Tây Đằng, Thổ Tang, Đình Bảng, Thổ Hà, Phù Lão, Hoành Sơn đã đảm bảo chất lượng
Tuy nhiên, khuynh hướng quá thiên lệch về lợi ích kinh tế trong bối cảnh mới của nền kinh tế thị trường đầu TK XXI cho thấy nhiều cảnh báo đối với các di sản kiến trúc nghệ thuật truyền thống, đặc biệt là loại hình kiến trúc
gỗ như đình, đền, chùa Nhiều hiện tượng sau khi đình, đền, chùa được chỉnh
Trang 8trang, tu bổ trở nên xa lạ với nguyên gốc Trong đó có nguyên nhân do sự cố
ý làm sai lệch di tích thì còn do sự thiếu hiểu biết, thiếu nghiên cứu nghiêm túc về giá trị văn hóa - nghệ thuật, cũng như sự thiếu sót trong giáo dục nhận thức về giá trị nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc gỗ truyền thống cho cộng đồng tại các khu di tích để người dân có thể tự quản lý tốt hơn
NCS cho rằng, khi kinh tế phát triển, những giá trị văn hóa mới được
bổ sung, nhiều công trình to lớn, sang trọng cần có để hiện đại hóa đất nước
và đáp ứng nhu cầu cuộc sống mới ngày càng tiện ích và tân tiến Tuy nhiên, văn hóa của một dân tộc là sự liền mạch lịch sử với nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau theo lịch sử không thể đứt đoạn Cần có sự hài hòa giữa những nền tảng cũ và mới, cái gì được tu sửa, cái gì được bảo tồn; nói cách khác phải làm một cách bài bản và đồng bộ trong chiến lược bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống dân tộc: “Các di sản của cha ông phải được đưa vào cuộc sống hôm nay, nó giá trị vì vừa đẹp vừa thiêng, do thẩm mỹ của dân tộc
và thời gian tạo nên” [153, tr 829]
Thanh Hóa một vùng đất với rất nhiều huyền thoại văn hóa và là nơi khởi nguồn nhiều sự kiện lịch sử quan trọng thời phong kiến Đặc biệt trên bình diện mỹ thuật, vùng đất này có đến 1.535 di tích, trong đó có 141 di tích cấp quốc gia (có 4 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 1 di sản văn hóa thế giới), và
659 di tích cấp tỉnh Trong số đó có đến trên 70% di tích có sử dụng chất liệu
gỗ và hơn nửa trong đó có chạm khắc gỗ trên cấu kiện kiến trúc Song do sự tàn phá của thiên nhiên và con người mà có đến hơn 80% các di vật mỹ thuật chất liệu gỗ trong di tích đã hư hại hay biến dạng NCS nhận thấy điêu khắc
gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa có những đặc điểm chung: phần lớn các ngôi đình làng, đền thờ, chùa thường có phần hậu cung bảo lưu được nhiều dấu tích, di vật của TK XVII - XVIII, nhưng phần nhà Tiền tế thường là sản phẩm được tu bổ ở TK XIX và muộn hơn nữa Tuy nhiên, một số chùa ở Thanh Hóa theo sử sách và dấu vết kiến trúc còn lại ngày nay cho thấy có niên đại từ thời
Trang 9Lý - Trần như: Chùa Đại Bi, Hương Nghiêm, Linh Xứng, Kênh, Sùng Nghiêm Diên Thánh… Hiện nay, những chùa trên là sản phẩm của nhiều đợt trùng tu Các chùa Sùng Nghiêm, chùa Kênh ngày nay chỉ là chùa xây mới, còn rất ít di vật xưa như bia ký, gạch, ngói, bậc đá… Tuyệt nhiên, di vật đồ gỗ gần như không còn tìm thấy, ngoài bộ ván khắc kinh Phật có niên đại TK XI
và bộ tượng gỗ Tam Thế niên đại TK XVII của chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (Hậu Lộc) cũng chỉ giữ gìn đến năm 1997 thì thất lạc…
Từ các ý tưởng khoa học trên, NCS lựa chọn nội dung đề tài nghiên
cứu Nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII – XIX ở Thanh Hóa làm luận án
tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật Đối tượng nghiên cứu là
nghệ thuật trang trí trên kiến trúc gỗ ở một số di tích tiêu biểu là đình, đền, chùa, nhà dân với nhiều đồ án chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả của các tác giả đi trước, tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và đi sâu hơn về nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa, tập trung giải quyết mục tiêu cơ bản đặt ra của đề tài: Hệ thống nhóm phong cách theo giai đoạn lịch sử; phân tích đặc trưng phong cách nghệ thuật chạm khắc gỗ trên đình làng, đền thờ, chùa, nhà dân ở Thanh Hóa trên cơ sở đối chiếu với các địa phương khác; đánh giá giá trị văn hóa xã hội của nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa
Các nội dung trên nhằm trả lời cho giả thuyết khoa học sau: Cơ sở phát triển nghệ thuật chạm khắc gỗ Thanh Hóa là những gì? Ảnh hưởng từ văn hóa, lịch sử, kinh tế, xã hội ở TK XVII - XIX được phản ánh trong nghệ thuật chạm khắc gỗ Thanh Hóa ra sao? Nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII – XIX ở Thanh Hóa có gì khác với địa phương khác? Nếu có thì những phong cách đặc trưng của nó là gì ở mỗi loại hình hay giai đoạn? Giá trị đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc, trang trí trên kiến trúc nhà dân và đình, đền, chùa ở Thanh Hóa như thế nào?
Trang 10Thông qua luận án, NCS hy vọng đóng góp một phần nhất định về lý luận lịch sử mỹ thuật Việt Nam, bổ sung về thông tin nghệ thuật chạm khắc
gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa, cũng như làm cơ sở khoa học cho việc giữ gìn, tôn tạo, phát huy các giá trị tích cực của di sản kiến trúc nghệ thuật truyền thống trước bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính luận án là nhận diện, lý giải về đặc trưng, sắc thái riêng của nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII đến TK XIX trên đất Thanh Hóa và những đóng góp làm giàu thêm, phong phú thêm cho mỹ thuật truyền thống Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án chứng minh, khẳng định diễn biến của nghệ thuật chạm khắc
gỗ TK XVII - XIX có những cung bậc đặc trưng bởi sự chi phối đặc điểm kinh tế, dân cư làng xã xứ Thanh đương thời, gồm các vấn đề:
Liệu đình làng làng Thanh Hóa có xuất hiện thời gian từ 1533 - 1592?
đó là thời kỳ nhiều đình làng thời Mạc ở đồng bằng Bắc Bộ được xây dựng và nghệ thuật chạm khắc gỗ đậm nét phóng túng, dân dã xuất hiện, làm tiền đề cho phong cách này trong các thế kỷ sau
Mối quan hệ hợp tác, liên kết lao động của các hiệp thợ từ Trấn Sơn Nam (Nam Định), Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) và thợ mộc người bản địa, đã tạo ra những sự tương đồng và sắc thái mới trong phong cách chạm khắc gỗ
TK XVII - XIX ở Thanh Hóa
So sánh mật độ, số lượng, tỷ lệ về hình tượng con người bình dân, thần tiên và cảnh sinh hoạt hồn nhiên, phóng túng, ở các đình làng Thanh Hóa và một số đình làng đồng bằng Bắc Bộ để rút ra nhận định khoa học khác nhau
Trang 11Nhận diện phong cách nghệ thuật, đồ án chạm khắc trang trí gỗ TK XVII - XIX trong các di tích ở Thanh Hóa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thố ng các biểu tượng, hình tượng nghê ̣ thuâ ̣t, nội dung,
đề tài, kỹ thuật, phong cách cha ̣m khắc gỗ hiện còn trên cấu kiê ̣n kiến trúc gỗ
ở Thanh Hóa, tại di tích điển hình
Chú trọng nghiên cứu tổng thể những nét chung trong nghệ thuật chạm khắc gỗ Thanh Hóa Sau đó lựa chọn một số di tích tiêu biểu để nghiên cứu điểm, gồm 13 di tích sau:
TT Tên di tích Loại di
tích Địa điểm phân bố
1 Bảng Môn Đình
Đình làng
Xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa
6 Cả Đế Thích
Đền
Xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn
9 Lý Thường Kiệt Xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu 13 di tích điển hình về
chạm khắc gỗ, trên các vấn đề niên đại, phong cách chạm khắc và loại hình: đình làng, đền thờ, chùa, nhà dân Trong đó không bao gồm đồ thờ và đồ dùng sinh hoạt vì trên thực tế loại hình di vật gốc này hiện còn quá ít, thiếu tư liệu tin cậy, mặt khác hơn chục năm trở lại đây khi kinh tế xã hội phát triển, nhiều đền, đình được tu bổ, do thiếu nhận thức hoặc do xu hướng khoa trương
đã làm mới lại hầu hết các đồ thờ như: hương án, ngai thờ, bát bửu, chấp kích, tượng linh vật
Nghiên cứu nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa; đồng thời có thể mở rộng nghiên cứu đối chiếu, so sánh với nghệ thuật chạm khắc gỗ vùng đồng bằng Bắc Bộ cùng thời để làm sáng tỏ những vấn đề cần thiết
Một giới hạn khác trong nghiên cứu đó là hệ thống chùa có chạm khắc
gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa hiện nay không nhiều, do vậy phần lớn các
di tích được chú trọng trong luận án thường là đình, đền và nhà dân
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở hình thành và phát triển nghệ thuật chạm khắc gỗ Thanh Hóa
- Giá trị đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc, trang trí trên kiến trúc nhà dân và đình, đền, chùa ở Thanh Hóa như thế nào?
Trang 134.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa có những tương đồng về kỹ thuật và nhệ thuật chạm khắc so với vùng đồng bằng Bắc
Bộ, nhưng đồng thời cũng thể hiện sắc thái riêng
- Những đồ án chạm khắc trang trí trên gỗ thuộc các di tích đình làng, đền thờ, nhà dân TK XVII - XIX ở Thanh Hóa, in đậm dấu ấn kinh tế - văn
hóa - xã hội của nông thôn đương thời
- Sự giao lưu giữa các tốp thợ vùng đồng bằng Bắc Bộ và thợ địa phương đã tạo nên những phong cách chạm khắc và giá trị biểu đạt mới trong nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII – XIX ở Thanh Hóa
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo cổ học mỹ thuật: Nghiên cứu nghệ thuật chạm
khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa, vừa là nghiên cứu một đối tượng mỹ thuật truyền thống, lại mang đậm yếu tố văn hóa dân gian vì đa số công trình kiến trúc gỗ hiện còn là đình làng, đền, chùa nằm trong các cộng đồng làng xã nông thôn Do vậy NCS coi trọng việc nghiên cứu trực tiếp, khảo cổ trực tiếp trên các di vật hiện có
- Phương pháp dân tộc học mỹ thuật: Xét thấy những sáng tạo mỹ thuật
truyền thống Việt đều gắn bó với tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ của nhóm thợ
và thái độ, tư tưởng từ người bảo trợ công trình (thường là tầng lớp quan lại đương thời) Mặt khác phương pháp dân tộc học mỹ thuật còn cho phép liên
hệ đến những khía cạnh sắc thái biểu hiện, đặc trưng trong bố cục, hình tượng, đề tài mà các nhóm thợ cũng như người bảo trợ công trình ưa dụng Trong trường hợp trên có thể giải đáp các biến thể trang trí, hình tượng, bố cục nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa so với một số địa
phương khác
Trang 14- Phương pháp so sánh - thực chứng lịch sử: Phương pháp thực chứng -
lịch sử, cho phép nhìn nhận các hiện tượng mỹ thuật ở công trình nghiên cứu với nguyên tắc tôn trọng di vật, thư tịch, minh văn trên bia ký, thông tin trên thượng lương hay truyền thuyết dân gian liên quan Từ đó đối chiếu và rút ra nhận định về niên đại hay dấu tích liên quan đến tốp thợ
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Từ những phương pháp nghiên
cứu độc lập, có thể giúp tác giả luận án xác định các hình thái, cấu trúc, biểu hiện riêng biệt của đối tượng nghệ thuật chạm khắc gỗ Tuy nhiên, cuối cùng
là vấn đề phải tìm ra bản chất đặc trưng của đối tượng nghiên cứu, trong đó bằng phương pháp nghiên cứu độc lập có thể sẽ nhìn thấy không đầy đủ bản chất thực vấn đề Phương pháp nghiên cứu liên ngành hết sức quan trọng trong nghiên cứu mỹ thuật cổ, mỹ thuật ở một địa phương, bởi lẽ khi phân tích, đánh giá một tác phẩm, một bức chạm khắc, một bố cục trang trí chất liệu gỗ trên một cấu kiện kiến trúc cổ đã nhiều lần tu bổ, thì việc nhầm lẫn về niên đại rất có thể xảy ra nếu không đồng thời vận dụng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau
6 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án góp phần hệ thống, xác định giá trị nghệ thuật chạm khắc gỗ
TK XVII - XIX ở Thanh Hóa với những đặc trưng riêng trong mối quan hệ với các thời kỳ trước, sau đó và bối cảnh chung của nghệ thuật chạm khắc gỗ truyền thống Việt Nam
- Thông qua nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa, cung cấp thông tin số liệu về di vật chạm khắc gỗ hiện tồn trong các đình, đền, chùa, nhà dân một cách chân thực, khách quan, khoa học góp phần làm
rõ thêm những yếu tố lịch sử xã hội Thanh Hóa và Việt Nam TK XVII - XIX
- Kết quả nghiên cứu luận án góp phần nâng cao hiểu biết của cộng đồng xã hội về giá trị lịch sử, văn hóa - nghệ thuật thông qua một số di tích
Trang 15điển hình TK XVII - XIX ở xứ Thanh, có thể làm tư liệu trong công tác giáo dục thẩm mỹ và tư liệu cho các cơ quan nghiên cứu văn hóa
- Kết quả nghiên cứu của luận án giúp cho công tác quản lý, tu bổ, tôn tạo có được thông tin chính xác hơn, đồng thời làm cơ sở khoa học áp dụng vào các di tích khác, để làm rõ những giá trị đặc trưng nghệ thuật chạm khắc
gỗ Thanh Hóa và vị thế của nghệ thuật này trong nền mỹ thuật truyền thống Việt Nam
Chương 3: Đặc trưng cơ bản chạm khắc gỗ thế kỷ XVII - XIX ở
Thanh Hóa (33 trang)
Chương 4: Luận bàn về giá trị nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII -
XIX ở Thanh Hóa (31 trang)
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT
CHẠM KHẮC GỖ TRUYỀN THỐNG THANH HÓA
1.1 Cơ sở lý luận và khái lược diễn biến nghệ thuật chạm khắc gỗ truyền thống ở Thanh Hóa
1.1.1 Cơ sở lý luận về nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa
- Vấn đề lý thuyết văn hóa vùng và văn hóa truyền thống Thanh Hóa
Lý thuyết văn hóa vùng là một quan điểm có nguồn gốc từ luận thuyết
“khuếch tán văn hoá” của nhiều học giả châu Âu đầu TK XIX như A Bradford trong thuyết “thiên di hay lan tỏa văn hóa”, G.Tarde trong thuyết
“mô phỏng văn hóa”, “khuếch tán văn hoá” và xem đây là nguồn gốc của thuyết “tương đồng văn hóa” trong nghiên cứu nhân học châu Âu Cuối TK XIX F.Ratsel, L Frobenius, F Grabner, W Schmidt là các nhà nghiên cứu Đức và Áo đưa ra thuyết “trung tâm” và “truyền bá luận (diffutionisim)” cho rằng sáng tạo văn hoá của nhân loại bao giờ cũng xuất phát điểm từ một nơi, thuộc một dân tộc thượng đẳng nào đó, rồi sau đó lan truyền đi nơi khác và chính sự lan truyền ấy tạo nên động lực của sự phát triển văn hoá nói riêng và của xã hội nói chung Tư tưởng này nhìn nhận văn hóa thiên lệch một chiều
do ảnh hưởng từ tư tưởng “dân tộc thượng đẳng dẫn đầu”, bài thị và lu mờ văn hóa của các dân tộc khác với đồ hình “các vòng văn hóa” chỉ lấy châu Âu làm trung tâm một cách cực đoan, cứng nhắc Tuy nhiên cuối TK XIX các học giả như Boas, LC Wissler người Mỹ đã có một cái nhìn tích cực hơn khi nghiên cứu văn hóa của người Indian ở Bắc Mỹ và thuyết “vùng văn hóa” hình thành trên sự nhìn nhận về mối quan hệ hai chiều giữa trung tâm và ngoại vi vùng văn hoá
Trang 17Đầu TK XX lý thuyết “vùng văn hóa” được nhiều nhà khoa học cụ thể hóa trên các bình diện nghiên cứu chuyên biệt trong nhiều bình diện: ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, phong tục, nghi lễ Đồng thời, nhiều công trình nghiên cứu mang tính trường hợp khi áp dụng nhìn nhận sự khác biệt khi phát hiện “làn ranh, biên độ, sắc thái” nhận định về văn hóa trong các tộc người trong một quốc gia, thậm chí nhiều nghiên cứu mang tính “vi mô” và ra đời thuyết phân vùng văn hóa vào cuối TK XX ở Việt Nam, khi nhìn nhận một số vùng miền có đặc trưng riêng về văn hóa từ sự đa dạng về sắc tộc và kinh tế
xã hội
GS.TS Ngô Đức Thịnh trong sách Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa
ở Việt Nam, cho rằng “Thanh Hóa là một tiểu vùng đặc trưng” [138] Trước
đó, từ cuối TK XIX một nhà nghiên cứu Pháp vốn là viên quan thuộc địa
Đông Dương là Charles Robequain viết trong sách Tỉnh Thanh Hóa, do
Nguyễn Xuân Dương, Lâm Phúc Giáp dịch, đều cho rằng “Thanh Hóa là một xứ” [32]
Tuy nhiên, khi nghiên cứu Nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa, NCS chỉ vận dụng lý thuyết vùng văn hóa trên bình diện giao lưu
và tiếp biến văn hóa, lấy đối tượng nghiên cứu chính là diễn biến giao lưu, truyền nghề, tiếp thu, sáng tạo của các hiệp thợ từ trung tâm văn hóa đồng bằng Bắc Bộ và các hiệp thợ mộc người Thanh Hóa diễn ra ở TK XVII - XIX theo thư tịch, gia phả và di vật chạm khắc gỗ tại các di tích hiện còn để bàn luận
- Vấn đề Mỹ thuật và sự phản chiếu lịch sử thông qua ngôn ngữ biểu đạt
Lý thuyết về sự phản chiếu của lịch sử thông qua mỹ thuật là một
phương pháp mỹ thuật học thực chứng Đây chưa phải là một học thuyết, nhưng đã là một quan điểm khoa học được hình thành từ một số gợi ý trong
Trang 18các bài viết khảo cổ học mỹ thuật của cố PGS Nguyễn Du Chi (2011), Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông [34], sau này được cụ thể hơn trong trong sách Con đường tiếp cận lịch sử [23] của PGS.TS Trần Lâm Biền, NCS sử
dụng phương pháp này trong vấn đề nghiên cứu, xác định niên đại các di vật chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa Nghệ thuật chạm khắc gỗ truyền thống vốn gắn bó với các công trình kiến trúc dân gian như đình, chùa, đền nằm trong làng xóm nông thôn Nghệ nhân tạo tác đồng thời cũng thường là người nhà nông kiêm việc thợ mộc khi nông nhàn, từng bước các hiệp thợ được chuyên môn hóa cao tách khỏi việc nông trang khi kinh tế phát triển, nhiều công trình tín ngưỡng, dinh phủ được xây cất trong TK XVII- XIX Tuy nhiên, hầu hết các di vật chạm khắc gỗ đều là một phần nằm trong cấu kiện kiến trúc, mà không bao giờ người thợ được ghi thông tin vào, trừ cây thước tầm gác trên thượng lương là thông tin duy nhất sau mỗi lần trùng tu Vấn đề đặt ra là sau nhiều lần trùng tu không chỉ làm mới phần khung chịu lực của di tích gỗ mà nhiều mảng chạm khắc gỗ cũng được làm mới Thách thức trong nghiên cứu là ngay trên một di tích có nhiều nhóm di vật chạm khắc khác nhau về niên đại, vậy thì căn cứ vào đâu để phân loại NCS cho rằng phương pháp hiệu quả nhất vẫn là xác lập tiêu chí về phong cách kỹ thuật, hình thức tạo tác và biểu đạt trên các phương diện tạo hình ở mỗi nhóm di vật để phân loại khi không còn tư liệu lịch sử cụ thể Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là tính chính xác tuyệt đối không cao do sự phục chế, mô phỏng cổ vật ở mức độ khác nhau nên cần kết hợp đồng thời với các phương pháp kỹ thuật khác để cùng xác định
- Vấn đề môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội chi phối nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII – XIX ở Thanh Hóa
Kiến trúc dinh thự, kiến trúc tín ngưỡng tôn giáo là nền tảng cho nghệ thuật chạm khắc gỗ, nó chỉ phát triển trên một nền tảng kinh tế xã hội phát
Trang 19triển Nếu không có một nguồn lực kinh tế đủ mạnh thì khó có thể có được một công trình kiến trúc đáng kể Những dinh thự lớn của vua, chúa, quận công trên đất Thanh Hóa gần như chỉ còn dấu tích nền móng Các công trình kiến trúc có chạm khắc gỗ hiện còn đến nay thường có niên đại muộn, chí ít cũng từ TK XVII và thường là đền, chùa, đình làng, đây là những di tích tín ngưỡng vốn được người dân sở tại bảo vệ tốt hơn (tuy nhiên NCS ngờ rằng di vật chạm khắc gỗ ở chùa Hoa Long và một vài mảng chạm trên ván thưng nhà Hậu Bảng Môn Đình là thuộc TK XVI) Vấn đề đặt ra là tại sao lại hiếm thấy
di vật chạm khắc gỗ TK XVI ở Thanh Hóa? NCS cho rằng không chỉ là vấn
đề chất liệu gỗ từ TK XVI khó tồn tại đến nay mà là kinh tế xã hội Thanh Hóa
ở TK XVI rất khó khăn do áp lực nặng nề từ hai cuộc nội chiến đã làm cho xứ này kiệt quệ nặng nề [6, tr.166 - 171] Rõ ràng với quan điểm tương tác giữa kinh tế và văn hóa như trên thì Thanh Hóa ở TK XVI rất khó có thể xuất hiện kiến trúc dinh thự và cũng ít có khả năng trùng tu xây cất mới các đền, chùa, đình làng Cũng theo luận thuyết kinh tế - văn hóa thì NCS cho rằng từ TK XVII - XIX xứ Thanh được phục hồi kinh tế mạnh mẽ nhờ đó đã thu hút một
số lượng lớn di dân từ đồng bằng sông Hồng vào sinh tụ, trong đó có nhiều hiệp thợ mộc từ Nam Định, Hà Tây [6, tr 211 - 115] Mối quan hệ hợp tác, liên kết lao động của các hiệp thợ từ Trấn Sơn Nam (Nam Định), Hà Tây (nay
là Hà Nội) và thợ mộc người bản địa, đã tạo ra những sắc thái mới trong phong cách chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa, là một vấn đề cần nghiên cứu trong luận án này
1.1.2 Hình ảnh kiến trúc gỗ phản chiếu trên các di vật của văn hóa Đông Sơn
Giá trị văn hoá Đông Sơn mà chúng ta có thể nhận biết được một cách tương đối phổ quát là nhờ thành tựu của khảo cổ học, sử học, văn hoá học những năm cuối thế kỷ XIX đến nay Những di vật văn hoá Đông Sơn như
Trang 20trống đồng, thạp đồng, mũi tên đồng, tấm che ngực bằng đồng, công cụ đồng, tượng nhỏ bằng đồng, tượng đá, đồ trang sức đá, đồ gốm mà chúng ta có được từ khảo cổ học với các chất liệu khác nhau với hệ thống ký hiệu, hoa văn và biểu tượng được chế tác khá tinh xảo, biểu hiện trình độ kỹ thuật cao trong luyện kim và đều có tính thống nhất cao trong phong cách nghệ thuật tạo hình và trang trí
Trống đồng Đông Sơn là một tác phẩm điêu khắc đẹp về ta ̣o hình và cả
nội dung ta ̣o tác của những hình tượng, biểu tượng trên đó được phủ kín hệ thống trang trí theo một ý tưởng luận về vũ trụ Các hình vẽ về người, chim, hươu; các ký hiệu có giá trị biểu đạt cao về nước, về ánh sáng, về không khí,
về đất là hết sức cô đọng và giàu gợi cảm, phản ánh sinh động hiện thực đời sống sinh hoạt người Đông Sơn Các hoa văn sóng nước, tam giác xếp kéo dài, vạch đứt đoạn, vạch chữ S, vòng tròn tiếp tuyến có chấm là sự biểu tượng cho không khí, ánh sáng, gió, nước và đất, đó là nguồn gốc của sự sống, những hoa văn này được khắc theo hình tròn đồng tâm Những hình vẽ trên các di vật khảo cổ ở văn hóa Đông Sơn cho ta thấy một xã hội thanh bình Mặc dù ở di chỉ Thiệu Dương, Đông Sơn có rất nhiều mũi tên đồng, hay loại hình vũ khí giáo, mác, phiến giáp che ngực… thậm chí nhiều mộ táng dạng tù nhân bị trói hay bị hành hình, nhưng chắc chắn đó là cuộc chiến tranh nội địa giữa các bộ tộc, đó là quá trình đi đến thống nhất nhà nước Văn Lang, Âu Lạc
Những hình ảnh biểu hiện âm nhạc, nhảy múa, cầu đảo trên trống đồng cho ta thấy tín ngưỡng của người Đông Sơn trước hiện tượng thiên nhiên, biểu hiện ý nguyện của con người trước thần linh Hình nhà được khắc trên trống đồng Đông Sơn là nhà mái cao che phủ phần thân nhà, giúp cho việc che nắng mưa, nhà được làm theo kiểu nhà sàn mà nay ta thấy ở các tộc người Thái, Mường đang có
Trang 21Kiến trúc của người Đông Sơn là loại nhà sàn có mái cong mô phỏng đầu chim Lạc (Hình khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, Quảng Xương, Sông Đà) Đặc biệt mái nhà trên mặt trống đồng Ngọc Lũ với trống đồng Quảng Xương
có hình chim công bên cạnh hình sư tử (?) Đây là loại nhà mái cao, sàn tầng một bằng một phần ba tầng hai Một loại nhà khác cũng ở vòng quay cận tâm trống đồng Ngọc Lũ và trống Quảng Xương cho thấy nhà bé, bằng lá che, có vách ngăn, cửa trang trí nhiều vòng tròn, sàn tầng I thấp, tầng II cao bằng 2 lần chiều cao của người Tại di chỉ khảo cổ ở Đông Sơn, Thanh Hóa phát hiện cột gỗ đinh dài 4,5m có lỗ đục mộng bắc sàn cách chân cột 1,25m Phải chăng
đó là các căn nhà chung của làng, chạ thời Đông Sơn
Từ những gợi ý hình vẽ kiến trúc thuyền chiến, nhà hai mái cong ở trống đồng Đông Sơn cho thấy kiến trúc gỗ của người Việt có từ rất xa xưa,
có thể đồng thời xuất hiện khi bước vào thời đại Hùng Vương Song vật liệu
gỗ khó có thể tồn tại quá vài trăm năm, ngày nay chúng ta chỉ có thể đoán định thông qua tư liệu lịch sử và phản ảnh trên các di vật đồ đồng, gốm, đá
mà thôi
1.1.3 Dấu tích kiến trúc, chạm khắc gỗ các di tích thời Lý, Trần, Lê
ở Thanh Hóa
Thanh Hóa nằm trên đường thiên lý Bắc - Nam, con đường mở mang
bờ cõi của dân tộc Việt tiến về phương Nam Là một vùng hội tụ các giá trị văn hóa theo nhiều chiều khác nhau, cùng với đặc điểm về lịch sử, đã tạo nên những sắc thái đặc trưng văn hoá “xứ Thanh” Theo sử liệu, do vị thế đặc biệt
xứ Thanh, ở thời Lý - Trần các quan có tài đức cao thường được cử đến trấn thủ như: Lý Thường Kiệt, Chu Công, Trần Nhật Duật…Họ đã có nhiều chính sách vỗ yên dân chúng, mở mang, khai phá đất đai, thúc đẩy vùng Châu Ái phát triển và hoà nhập với cộng đồng chung Những hiện vật đất nung tìm được ở chùa Linh Xứng (Hà Trung), chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (Hậu
Trang 22Lộc), chùa Hưng Phúc (Quảng Xương) chùa Hương Nghiêm (Thiệu Hoá), cung Bảo Thanh, thành nhà Hồ…với các đồ án trang trí hoa cúc, hoa sen, điêu khắc hình chim phượng, hình rồng cuộn trong lá đề, hình chim thần Garuda, Makara, cho thấy một sự gần gũi với hiện vật cùng thời ở các di tích chùa Phật Tích, tháp Phổ Minh đồng bằng Bắc Bộ…Cũng dưới thời Lý, xứ Thanh gọi là “Trại”, là “Trấn” dưới thời Trần, được cai quản bởi các viên quan thân cận của triều đình, như: Thái úy Lý Thường Kiệt (1081-1101), phủ sự Trần Thủ Độ (1234), thì việc mở mang kinh tế, khai thông văn hóa rất được coi trọng Ruộng đất Thanh Hóa bước sang thời Lý cơ bản là đất công của làng
xã, năm 1135, Lý Thần Tông xuống chiếu, “những người đã bán ruộng ao không được trả tăng tiền mà chuộc lại, làm trái thì phải tội” [4, tr.120], quyền
sử dụng ruộng đất của các dòng họ lớn dần dần bị thu hẹp để giao cho hương
- giáp - xã quản lý; hệ thống sông đào thời Lê Hoàn đã tạo điều kiện cho nông dân trồng trọt do đó cho thấy sự phát triển của sản xuất nông nghiệp Tập quán cổ truyền và tín ngưỡng dân gian của cư dân nông nghiệp phát triển, việc thờ cúng tổ tiên và người có công với quê hương, đất nước trong việc chinh phục thiên nhiên, lập làng và chống ngoại xâm Đó là điều kiện để các
công trình văn hóa thống nhất với đất Bắc xuất hiện, công trình thờ “Long yêu tôn thần” đã có công giúp dân đắp đê (làng Hữu Bộc, Đông Ninh, một số nơi
Thọ Xuân, Cẩm Thủy, Hậu Lộc) Một số chùa cũng được đầu tư xây dựng như chùa Báo Ân, núi An Hoạch (1100); chùa Linh Xứng, núi Ngưỡng Sơn, huyện Hà Trung (1101) đều do thái úy Lý Thường Kiệt hưng công, khánh thành năm 1126; chùa Hương Nghiêm, Kẻ Chè do thiền sư Khánh Ký, cháu đích tôn của Bộc Xạ Lê Lương dựng (1112); chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, huyện Hậu Lộc do Chu Công dựng (1118); chùa Du Anh, huyện Vĩnh Lộc; chùa Vân Lỗi huyện Nga Sơn; chùa Hưng Phúc, TP Thanh Hóa có niên đại
TK XIII, XIV đều là những chùa lớn [125, tr 92]
Trang 23Ngày nay thông qua khảo cổ học, chúng ta nhận thấy một số di tích thời Lý - Trần trên đất Thanh Hóa còn la ̣i các di vật như: bia đá, hoa văn kiến trúc bằng đá, đất nung ở chùa: Sùng Nghiêm Diên Thánh, Báo Ân Tự, Hưng Phúc…Từ đó có thể suy luận đến một quy mô kiến trúc gỗ và chạm khắc gỗ rất nguy nga bấy giờ: “Hồi nhà phô như sải cánh trĩ bay, hoa văn chạm tựa phượng chầu múa lượn Rui cao lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời, hiên lượn quanh co trước gió…” [157, tr 190]
Hoặc:
Đến năm Kỷ Mão [1099], sư vâng chiếu điệp vào nội đạo tràng Giữa năm Nhâm Dần [1122] lại về chốn cũ, liền sai thợ giỏi, đo đạc gỗ lạt, trùng tu lại chùa Trên bệ đá lớn tượng Phật uy nghiêm, trong tháp cao toàn thân Đa Bảo Hiên cong như cánh chim, ngói xếp tựa vẩy cá, lan can thoáng mát, cửa ngõ thênh thang…[157, tr 233]
Thời Trần (1226 - 1400), chủ yếu vẫn là kiến trúc Phật giáo ở Thanh Hóa điển hình như chùa Cam Lộ (làng Trương Xá, xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc) mà vua Trần Minh Tông (1300 - 1357), sau là Hiệp Thạch Phạm Sư Mạnh (TK XIV), đã từng đến đây và có thơ tựa, qua đó cho thấy qui mô cảnh quan của chùa Chùa Hưng Phúc, Quảng Hùng, huyện Quảng Xương, được dựng từ năm 1264, đến năm 1324 xây lại và hoàn thành 1326 Chùa xây trên nền móng cũ nhưng bề thế, tô tượng thếp vàng, chạm trổ muôn hình vạn trạng [125, tr 92]
Thời Lê sơ hiện nay không tìm thấy di vật chạm khắc gỗ, ngoại trừ kiến trúc ở điện Lam Kinh được nhận biết thông qua 130 chân tảng hiện tồn dưới
dạng kiến trúc chữ Công (工) Theo Ngô Thì Sĩ thời Tây Sơn qua đây miêu tả
Trang 24sự đồ sộ, nguy nga của 3 tòa nhà này trong khu lăng mộ mà sau đó bị hỏa hoạn cháy tới năm ngày đêm mới thiêu trụi hết
Từ TK XVII, xứ Thanh là một nơi hội tụ khá đầy đủ về các loại hình kiến trúc như những lăng mộ vua Lê trung hưng, chúa Trịnh, đặc biệt là của các quận công bằng đá và nhiều đền thờ kiến trúc gỗ Tuy nhiên, ngày nay gần như các di tích này đã bị hư hại, chỉ còn rất ít di vật hiện tồn: ví như đền thờ Nguyễn Văn Nghi TK XVII chỉ còn vài di vật bằng gỗ còn bảo lưu trong đền như ngai thờ, đồ bát Phủ Trịnh và Nghè Vẹt được xây dựng ở TK XVII, nay chủ yếu còn bảo lưu di vật cổ là hai con vẹt gỗ và vài tượng phỗng
Một số nhà nghiên cứu cho rằng nhà hậu cung của Bảng Môn Đình (Hoằng Hóa), hậu cung đền thờ Trần Khát Chân (Vĩnh Lộc), thậm chí một số chạm khắc trên kiến trúc đền Cả Đế Thích (Đế Thiên - Đế Thích ở Đông Thanh) là di vật TK XVII hiện tồn Tác giả luận án cho đó là một giả thuyết cần tiếp tục nghiên cứu
Về nội dung chạm khắc gỗ, những hình tượng dân gian chúng ta nhận thấy rất hiếm hình tượng người bình dân hay cảnh sinh hoạt phóng túng dân
dã ở các di tích gỗ trên đất Thanh Hóa Có thể chỉ ra một số lượng không nhiều hình chạm người như : hình người chơi chồng nụ chồng họa, đấu vật ở chùa Hoa Long (Vĩnh Lộc), hình tượng người quản tượng ở đền thờ Trần Khát Chân (Vĩnh Lộc), Bảng Môn Đình (Hoằng hóa), nhiều nhất như ở đình Thượng Phú (Hà Trung) nhưng là các đồ án chạm khắc với bố cục từ hai đến
ba người, những hình tượng này xuất hiện ít và chiếm diện tích khiêm nhường trong cấu kiện kiến trúc
Theo tác giả Lê Văn Tạo trong sách Nghệ thuật điêu khắc gỗ truyền thống Thanh Hóa, cho rằng :
Những biểu tượng tứ linh, tứ quí xuất hiện đậm đặc trong các đình làng Thanh Hóa, và hiếm thấy các bức chạm cảnh sinh hoạt
Trang 25phóng túng, dân dã như các đình làng Bắc Bộ, có lẽ đó là một cách phản ánh không gian Nho giáo đậm đặc trong làng xã xứ Thanh ở thế kỷ XVII, XVIII [113, tr 68]
Qua đó cần tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ nhận xét trên thông qua việc nghiên cứu thực trạng kinh tế, xã hội làng xã nông thôn xứ Thanh ở TK XVII - XIX và tác động nào làm ảnh hưởng, tạo nên những sắc thái riêng của nghệ thuật chạm khắc gỗ Thanh Hóa
1.1.4 Nghề mộc và sự giao lưu của phường thợ mộc Đạt Tài ở Thanh Hóa và các địa phương khác
Nghề mộc ở Thanh Hóa nổi tiếng nhất là làng nghề mộc Đạt Tài, thuộc
xã Hà Dương tổng Bút Sơn cũ, nay thuộc xã Hoằng Ðạt và xã Hoằng Hà, huyện Hoằng Hóa Theo lời truyền văn thì nghề thợ mộc ở đây đã nổi tiếng cách nay 400, 500 năm Ông tổ của nghề người trấn Nam Sơn (Nam Định) là thợ cả một toán thợ vào đây làm nhà, lấy vợ và truyền nghề cho dân Đạt Tài
và sau đó là Hạ Vũ và Hà Thái (Hoằng Hoá) [32, tr 485, 538] Trong cuốn
Tỉnh Thanh Hóa, học giả người Pháp Charles Robequain ghi chép về nghề
mộc Đạt Tài như sau: “có ba làng gần nhau, với khoảng 400 gia đình mà đàn ông làm nghề thợ mộc: 300 ở Đạt Tài, còn lại ở Hạ Vũ và Hà Thái Họ không chỉ là thợ làm nhà và thợ mộc khéo tay có truyền thống, mà còn là thợ đóng
gỗ quý, biết chạm trổ tủ, bàn ghế và làm hộp nhỏ, mâm, khung ảnh…” [32, tr 466]
Tay nghề thợ Đạt Tài không chỉ nổi tiếng trong phạm vi tỉnh Thanh mà
“Tiếng đồn thợ mộc Thanh Hoa” đã lưu truyền cả nước, tổng đốc Thanh Hoá
Vương Duy Trinh đã có câu đối đề ở văn chỉ làng Đạt Tài, ca ngợi tài danh
người thợ: Thiên tích thông minh, Hoằng Hoá dục/ Thánh phù công dụng, Đạt Tài danh Dịch nghĩa: Trời phú thông minh, Hoằng Hoá phát/ Thánh phò công dụng, Đạt Tài danh
Trang 26Tài năng người thợ Đạt Tài trong nhiều thế kỷ qua với những công trình
có giá trị nghệ thuật, tiếng vang được lưu truyền trong dân gian mãi đến tận ngày
nay qua đoạn thơ sau do ông Ngô Quốc Túy sưu tầm tại làng Đạt Tài: “Tiếng đồn thợ mộc Thanh Hóa/ Làm cửa, làm nhà, cầu quán khéo thay/ Cắt kèo, lại lựa đòn tay/ Bào trơn đóng bén khéo thay mọi bề…/Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo…” [65, tr 96]
Làng nghề mộc Đạt Tài cũng như các phường thợ truyền thống khác, cũng đi tìm việc khắp nơi, có khi họ đi làm khắp nơi đến tết mới về Theo nội dung khắc trên đôi câu đối ở đền Trà Cổ (Móng Cái, Quảng Ninh) cho biết ngôi đền này được xây dựng năm 1711 và do “phường thợ mộc làng Đạt Tài
ở tỉnh Thanh thực hiện” [160, tr 206]; đình Chiên Đàn (xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh, Quảng Nam), xây được gần 550 năm và đã qua nhiều lần trùng tu
1932, 1955, 1967,1972, 1996, theo nhiều tài liệu thì những nghệ nhân chạm khắc đình xuất thân từ Thanh Hóa (làng Đạt Tài) vào định cư ở làng Vân Hà, nay thuộc Tam Thành, Phú Ninh, mặc dù qua nhiều lần trùng tu nhưng đình vẫn giữ được những nét chạm khắc tinh tế (theo lời kể ông Nguyễn Đình Khôi, người trông coi đình năm 2017)
Thợ mộc Đạt Tài với việc làm nhà được nhiều nơi ca ngợi bởi cách bố cục khung nhà từ cột, xà, rường, kẻ cân đối hài hòa, thanh thoát, mộng mựng kín không lọt sợi tóc, các mảng chạm khắc với nhiều đề tài và kỹ thuật chạm tinh xảo Cùng với làm nhà họ còn làm đình, dựng chùa, làm cả cung vua, phủ chúa Sản phẩm của họ khá tinh xảo được sử dụng từ chốn kinh kỳ cho tới thôn quê [129, tr 102]
Vùng Thuận Hóa - Huế với tư cách là thủ phủ Đàng Trong ở TK XVII - XVIII rồi là kinh đô của đất nước ở TK XIX đã thu hút được nhiều nghệ nhân thuộc các nghề khác nhau, trong đó có nghề mộc chạm Thời chúa Nguyễn trị nhậm, Phú Xuân đã có nhiều “lầu son gác tía”, nhiều “đài cao rực rỡ, chạm
Trang 27khắc vẽ vời, khéo léo cùng cực” chứng tỏ vùng đất mới song đã tập hợp được những thợ mộc chạm có tài Khi nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô đã trưng tập thợ giỏi của cả nước Trong số này có ông Nguyễn Văn Cao gốc người Thanh Hóa nổi tiếng về mộc chạm, mang theo con trai là Nguyễn Văn Thọ vào cùng làm [46, tr 430]
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu nghệ thuật chạm khắc gỗ Thanh Hóa
1.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật chạm khắc gỗ truyền thống Việt Nam nói chung
Có thể thấy nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc gỗ truyền thống chiếm một vị thế to lớn trong mỹ thuật Việt Nam, do vậy rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt từ sau 1954, khi miền Bắc bước vào xậy dựng XHCN và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu mỹ thuật truyền thống Việt Nam là thể hiện một phần trong mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam của Đảng và Nhà nước; Đó
là tư tưởng chủ đạo: dân tộc - khoa học - đại chúng (giai đoạn kháng chiến và hòa bình sau 1954), sau này là “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998)
Các công trình nghiên cứu trong nước có thể chia làm 2 nhóm: nhóm
nghiên cứu theo hướng văn hóa học, lịch sử, khảo cổ học và nhóm nghiên cứu theo hướng nghệ thuật học Trước hết là công trình ra đời rất sớm, nhóm tác
giả của Viện Mỹ thuật với các sách: Mỹ thuật thời Lý, (1973) [83]; Mỹ thuật thời Trần, (1977) [84]; Mỹ thuật thời Lê Sơ, (1978) [85]; Mỹ thuật thời Mạc,
(1993) [28] Những công trình trên thuộc nhóm tác giả là nhà lý luận mỹ thuật, họa sĩ thuộc lớp tiền bối của mỹ thuật Việt Nam cận hiện đại viết Điển hình như Nguyễn Đức Nùng, Nguyễn Du Chi, Nguyễn Tiến Cảnh, Chu Quang Trứ, Nguyễn Đỗ Bảo, Nguyễn Bá Vân… Nhìn chung các sách trên có
Trang 28thể xem như một bộ tư liệu có tính khái quát, tổng hợp cũng như định hướng, gợi mở tích cực cho nghiên cứu sau này về mỹ thuật truyền thống Việt Nam với thái độ trân trọng nhất đối với nền mỹ thuật nước nhà Tuy nhiên, do dung lượng mỗi sách có chừng gần 100 trang viết và 35 - 45 trang minh họa nên thiếu điều kiện nghiên cứu sâu; mặt khác những công trình nghiên cứu trên thực hiện vào các năm 1973, 1977, 1978, 1993 khi đất nước chưa bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, chủ yếu nêu lên những đặc trưng, diện mạo và diễn biến mỹ thuật theo mốc lịch sử lớn, nhiều vấn đề mỹ thuật như phong cách ở mỗi nhóm loại hình, chất liệu, đặc biệt phong cách mỹ thuật dân gian, phong cách vùng miền chưa được quan tâm đầy đủ
Về chất liệu gỗ, nghệ nhân xưa sử dụng trong chạm khắc, tác giả
Nguyễn Phi Hoanh trong cuốn Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, viết:
Trong nghệ thuật trang trí của ta có lẽ gỗ đóng vai trò quan trọng nhất Những phần trang trí của kiến trúc rồi đến vật có tính chất
mỹ thuật dùng để thờ cúng trong các đình chùa, hầu hết bằng gỗ chạm Ta dùng gỗ cũng như nghệ thuật Ấn Độ, Khơ-me dùng đá Việc dùng gỗ trong trang trí có chỗ hay mà cũng có chỗ dở Hay
là nghệ sĩ ta biết sử dụng gỗ quý của đất nước để tạo ra tác phẩm
mỹ thuật có giá trị; nhưng dở là khi các bộ trang trí cửa nhà bằng
gỗ phải chịu gió táp, mưa sa, cộng với khí hậu ẩm thấp của nước
ta thì không thể giữ được lâu dài [51, tr 240]
Qua đây cho thấy đặc tính của gỗ không chịu đựng được khí hậu khắc nghiệt vì vậy công trình kiến trúc gỗ có tuổi thọ không cao, kiến trúc truyền thống thường có nhiều giai đoạn trùng tu
Về diễn trình mỹ thuật Việt Nam TK XVII, XVIII và XIX tác giả
Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng trong Mỹ thuật của người Việt, cho rằng
mỹ thuật thời kỳ này chịu ảnh hưởng to lớn từ kinh tế, xã hội đương thời
Trang 29Tầng lớp địa chủ và nông dân mâu thuẫn gay gắt và thiết chế nông thôn suy yếu, thương gia tuy chưa mạnh nhưng đã định hình, thợ thủ công lớn mạnh Khát vọng vươn lên của tầng lớp trung nông, nho sĩ, thợ thủ công cùng với biến cố lịch sử, những cuộc khởi nghĩa nông dân…đã làm cho bộ mặt văn hóa biến cải
Về đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa, tư tưởng thật khó chia 2 TK XVII
và XVIII ra làm hai giai đoạn, có lẽ cần coi nửa đầu TK XVII như là sự khởi đầu, nửa sau TK XVIII như là sự suy sút và mở rộng mà nhà Nguyễn còn giữ được chút nào đó tới giữa TK XIX [103, tr 199]
Sách Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt [17] của tác giả Trần Lâm Biền đã giới thiệu về tượng Phật giáo Việt,
phong cách tạo tác hình tượng con người qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt tác giả đã khái quát hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình làng TK XVII, đi sâu vào nghiên cứu hình tượng vũ nữ thiên thần và hình tượng con người dân dã xuất hiện trong nghệ thuật chạm khắc đình làng TK XVII ở Bắc Bộ Theo ông hình tượng con người được thể hiện cả ở đình và chùa:
Trong trang trí tính chất dân dã thể hiện qua đề tài con người là sâu đậm nhất Hầu như ở bất kể hình thức nào, tính chất đó cũng được bộ lộ rõ ràng hiện tượng dân dã bộc lộ ngay cả ở các thiên thần (đình Tây Đằng) thiên thần trên phù điêu phần nhiều là nữ, mặc váy ít lộ chân [17, tr 97]
Con người trong chạm nổi thế kỷ XIX là sản phẩm của một xã hội có nhiều biến động Các mảng chạm tuy có xu hướng tiến tới
tả thực, nhưng vẫn được chọn lọc kỹ càng đã giữ lại được những tinh thần vui tươi, hồn hậu, nhân bản của truyền thống [17, tr.165]
Trang 30Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam [151], tác giả Chu Quang
Trứ, với 194 trang khổ 14,5cm x 20cm bố cục 4 chương, phân tích về kiến trúc nhà ở của các dân tộc Việt Nam (Kinh, Mường, Tày - Nùng, Thái, Mèo, Chăm, Ê - Đê và một số dân tộc thiểu số khác Đồng thời tác giả cũng dành chương 3 và chương 4 phân tích về nghệ thuật kiến trúc đình làng, đền, chùa, lăng mộ qua các thời kỳ Những nhận định đặc trưng nghệ thuật kiến trúc truyền thống Việt Nam có mối liên quan chặt chẽ đến điều kiện sống, thói quen văn hóa, môi trường kinh tế xã hội
Chuyên môn ở đây là những hiệp thợ tập hợp chủ yếu theo kiểu dạy nghề cho con cháu trong hiệp, không sách vở mà chỉ bằng kinh nghiệm, không đào tạo ra các kiến trúc sư mà chỉ đào tạo ra những người thợ, nên công trình của họ dù là đình, chùa hay cung điện cũng không tạo ra được những mẫu hình riêng, không
có cá tính sắc nét, mà nói chung là mô phỏng từ những kiểu mẫu
đã định hình, đã được mọi người “quen nhìn”, rồi sau đó chỉ gia giảm để tạo sự cân xứng hơn trong quan sát bằng mắt thường, chấp nhận cho độ sai số cho phép khá lớn [151, tr.177]
Sách Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc [152], tác
giả Chu Quang Trứ tập trung và giới thiệu về Tượng của người Việt cổ (chương 1); Tượng của giai đoạn đầu kỷ nguyên độc lập - thời Lý - Trần (chương 2); Các tượng tiêu biểu của thời kỳ độc lập lần 2 - thời Lê đến thời Nguyễn (chương 3); Môi trường tồn tại của tượng cổ Việt Nam (chương 4); Nghệ thuật tạo tượng (chương 5); Phân loại tượng cổ (chương 6) Nhìn chung, đây là công trình đề cập khá toàn diện đến hệ thống tượng cổ ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử Diễn biến tượng cổ qua các giai đoạn lịch sử thể hiện những đổi mới, sáng tạo nhất định của nghệ nhân cũng như phản ánh chân thực tinh thần văn hóa mỗi giai đoạn được phản chiếu trong mỹ thuật cổ một
Trang 31cách sinh động Tuy nhiên, vì mục tiêu cuốn sách là tượng cổ Việt Nam nên tác giả ít chú trọng đến chạm khắc gỗ trong di tích
Sau khi chiến tranh Trịnh - Nguyễn kết thúc, vào vài mươi năm ở
TK XVII đất nước thanh bình, nhân dân ở nhiều làng quê đã dựng được những ngôi đình khang trang Trong đình không có tượng thờ, cũng có một ít tượng tròn kết hợp rất nhiều hình chạm kênh, bong đều nhằm trang trí cho nghệ thuật cổ Việt Nam [152,
tr 493]
Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt [19], tác giả Trần
Lâm Biền đã hệ thống hóa đồ án trang trí, biểu tượng, linh vật hoa văn cây cỏ
từ giai đoạn tiền sử đến giai đoạn tự chủ Phân tích đặc điểm, ý nghĩa từng hiện vật, đồ án trong các công trình và biến đổi của chúng theo thời gian (biểu tượng về lực lượng tự nhiên và triết học, linh vật trang trí trên di tích, hoa văn cây cỏ, con người)
Về đề tài con người ở Thế kỷ XVII, sự náo nức làm ồ n ào tâm tưởng được thể hiê ̣n qua các hoa ̣t cảnh gắn với đời thường, các
cảnh vui chơi và ước vo ̣ng trong ngày hô ̣i Đă ̣c biê ̣t cảnh tình tự nam nữ quá ma ̣nh ba ̣o, khiến chúng ta ngờ vực về vai trò của đa ̣o Nho [19, tr 247]
Đây là cuốn sách giúp cho tác giả luận án nghiên cứu, làm cơ sở giải mã đồ án trang trí trên công trình kiến trúc truyền thống ở Thanh Hóa, tại sao những đình làng xứ Thanh lại thiếu vắng các hình ảnh phóng túng trên?
Bàn về tính đặc thù, sắc thái văn hóa của tiểu vùng xứ Thanh, trong Bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam [139], GS.TS Ngô Đức Thịnh cho rằng khi tiếp cận hò sông Mã, chúng ta dễ dàng nhìn thấy, cảm thấy nét riêng một không gian sản xuất, sinh hoạt của người dân trải trên một vùng rộng lớn chạy theo con sông Mã hùng vĩ, dữ dội, hò chèo đò ngược, chèo đò ngang là một biểu
Trang 32tượng văn hóa điển hình: “Chính trong môi trường lao động sông nước và mối quan hệ trai đò và khách buôn, người trên thuyền và dân cư hai bên sông…đã nảy sinh một loại hình nghệ thuật độc đáo, đó là hò sông Mã” [139,
tr 352]
Tuy nhiên, sắc thái văn hóa xứ Thanh nhìn từ góc độ nghệ thuật chạm khắc gỗ thì lại là một vấn đề không dễ giải quyết và cũng rất ít công trình nghiên cứu đề cập đến
Tác giả Đào Duy Anh trong Viê ̣t Nam văn hóa sử cương [1], viết về
quy tắ c củ a tượng thần phật để thờ thì người xưa thường làm bằng gỗ, sơn son thếp vàng hay một vài chùa có điều kiện thì đúc bằng đồng Về công thức thì theo quy định của nhà Phật, phải làm theo kiểu dáng nhất định mà kinh Phật
đã mô tả quá trình tu luyện và hoàng dương Phật pháp, ít khi thay đổi, có chăng là những chi tiết nhỏ ở xiêm y mà thôi Trong sách này, đă ̣c biê ̣t có đề
cập mô ̣t tài liê ̣u bằng tiếng Pháp (Sur I’art annamite Henri Gourdon), đoạn trích:
Cho đến những bức tranh thập điện ở các chùa cũng thế, phải tuân theo lề lối bó buộc cả, người thợ không thể tự do biến báo được
Duy có cha ̣m trang sức là mới thấy có biến hóa; hoă ̣c cha ̣m cái khám, cái hương án, hay cái cô ̣t kèo hoành biển trang sức trong nhà, cùng những đồ như cái tráp, cái tủ, cái giá, cái khay, tùy
hình thể vẫn nhất đi ̣nh không thay đổi, mà cách điểm xuyết thâ ̣t
là phong phú dồ i dào [1, tr 291]
Tác giả tập sách trên cũng chỉ ra những nghề nghiệp do nhà nước quản
lý, từ các xưởng gọi là tượng cục chuyên chế tạo đồ dùng cho nhà vua nhà quan đều do bộ Công giám đốc, thợ thuyền ở đấy do quan tuyển mộ từ các địa phương: “…Hễ ở miền nào thấy có người thợ khéo thì các quan có thể bắt vào
Trang 33làm việc ở tượng cuộc cho đến già đời Những công tượng ấy cũng ở trại, cũng được ăn lương và cũng được liệt vào hạng miễn sai như binh lính” [1, tr 60]
Như vâ ̣y qua nguồn tài liê ̣u này cho thấy những qui đi ̣nh bắt buô ̣c và không bắt buộc đố i vớ i nghề chạm khắc trang trí trong cung đình và dân gian,
từ đó tác giả luận án có thể áp dụng tốt hơn trong nghiên cứu luận án
Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long [25], tác giả Trần
Lâm Biền, Trịnh Sinh đã giải mã biểu tượng văn hóa nghệ thuật của các thời
kỳ, nêu lên giá trị và ý nghĩa phù điêu trang trí trên di sản văn hóa, trong đó nêu rõ giá trị phù điêu gắn với tín ngưỡng, với lực lượng phát sáng; linh vật
và hoa văn cây cỏ trong công trình kiến trúc chung cho cả vùng văn hóa Bắc Bộ:
Rồng thế kỷ XVII - XVIII nối tiếp phong cách Mạc và đã chuyển sang một phong cách mới, mặt khác chúng đa dạng hơn Vào giữa thế kỷ XVII, phần nhiều rồng trở nên mạp mạp hơn, bỏ dần khúc uốn yên ngựa, đa số có vẩy rõ ràng hơn [25, tr 249]
Sang thế kỷ XIX, gần như rồng bỏ hẳn loại đao mác mà chuyển thành đao đuôi nheo,…cái riêng của chúng là ở hai chiếc đao mắt như râu cá trê [25, tr 251]
Bước vào thế kỷ XIX, đề tài hoa cỏ có mặt ở hầu khắp các vị trí kiến trúc và hiện vật, thường dưới dạng chạm nổi hay chạm thủng, hình thức gần như thực, thân được uốn theo dạng khúc khuỷu để tạo thành hóa thân của rồng, phượng, lân, rùa, dơi [25, tr 291]
Thông qua các bài viết và kết luận về hình tượng nghệ thuật điển hình
di tích văn hóa ở vùng châu thổ sông Hồng (Bắc Bộ) TK XVII - XIX, làm cơ
Trang 34sở cho tác giả luận án tham chiếu hình tượng, biểu tượng nghệ thuật ở Thanh Hóa để đưa ra những kết luận khoa học
Luận án tiến sĩ nghệ thuật Hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình làng vùng châu thổ sông Hồng [124], Trần Đình Tuấn nghiên
cứu về con người trong nghệ thuật chạm khắc đình làng ở châu thổ sông Hồng, những giá trị đặc trưng của nghệ thuật thể hiện con người trong chạm khắc đình làng:
Những hoạt cảnh phản ánh cuộc sống dân dã của người dân trong chạm khắc đình làng, hầu như rất hiếm thấy ở các giai đoạn nửa sau thế kỷ XVIII, vì xã thôn đã bị nạn kiêm tính ruộng đất của địa chủ, làm xói mòn kinh tế của cộng đồng làng xã, nên hình tượng con người quay trở về với sự qui phạm với những tích truyện ít nhiều ảnh hưởng Trung Hoa [124, tr 58]
Có lẽ do ảnh hưởng của chế độ quân chủ phong kiến, đề cao Nho giáo, mà biểu tượng rồng đã được trang trí phổ biến ở hầu khắp các đình làng [124, tr.76]
Thông qua luận án này, để nhìn nhận, so sánh, đối chiếu hình tượng con người và hình tượng rồng được thể hiện trong nghệ thuật kiến trúc truyền thống của Thanh Hóa so với đồng bằng Bắc Bộ
Về hình tượng con người trong chạm khắc gỗ truyền thống Việt Nam,
sách Văn hóa Việt Nam nhìn từ Mỹ thuật [153], của tác giả Chu Quang Trứ,
có bài “Con người Việt Nam trong nghệ thuật tạo hình xưa”, tác giả cho rằng
từ TK XVII trên các kiến trúc đình làng được trang trí hết sức phong phú, sát với hiện thực sinh động Cảnh đấu vật, hái củi ở đình Tây Đằng, Chu Quyến (Hà Tây, nay thuộc Hà Nội), Thổ Tang (Vĩnh Phú, nay thuộc Vĩnh Phúc); cảnh đoàn người cưỡi ngựa đi săn ở đình Liên Hiệp, Tây Đằng (Hà Tây nay thuộc Hà Nội); cảnh các thiếu nữ tắm trần và con trai chòng ghẹo tình tứ ở
Trang 35đình Đông Viên (Hà Tây)… cho thấy một xã hội nông nghiệp bình yên nơi thôn dã ở đồng bằng Bắc Bộ Tuy nhiên các tỉnh Bắc Trung Bộ tác giả chỉ đề cập đến vài dòng về hình tượng người cày ruộng đình Hoành Sơn và hình người đóng khố thi đấu kiếm đền Vua Bà (Nghệ An) là rất hiếm hoi Không thấy tác giả nói đến cảnh trên của bất cứ ngôi đình nào ở Thanh Hóa Những hình tượng nghệ thuật ở đình bao giờ cũng gắn với cuộc sống nơi thôn dã, cuộc sống của người lao động Nghệ nhân dân gian trong khi trang trí đình chẳng phải tìm đâu xa xôi, rất nhiều hình chạm nổi chạm lộng, là những cảnh sản xuất và vui chơi trong đời sống bình thường
Tác giả cuốn sách Đình Làng Việt (châu thổ Bắc Bộ) [24], cho rằng rất
khó tìm thấy một di tích kiến trúc gỗ trước TK XVII hiện còn ở vùng châu thổ Bắc Bộ Từ đó cho thấy vùng Thanh Hóa lại càng rõ nét hơn, bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan trong việc bảo tồn loại hình nghệ thuật chất liệu gỗ này, tác giả luận án cho rằng kiến trúc gỗ hiện có ở Thanh Hóa sớm nhất có thể cũng từ TK XVII trở đi
Trong những kiến trúc kể trên, chúng ta không thể tiếp cận được với bất kể một ngôi nhà dân gian nào có từ TK XVII về trước Từ giữa TK XVII
về sau cùng lắm chỉ có thể tìm được những kiến trúc nhà thờ họ kiêm nhà ở, còn nhà ở thông thường chủ yếu là sản phẩm của TK XX về sau [24, tr.19]
Nhìn chung, khi nghiên cứu về nghệ thuật chạm khắc gỗ truyền thống Việt Nam, giai đoạn TK XVII - XIX, phần lớn các tác giả mới chú trọng đến vùng châu thổ sông Hồng, Thanh - Nghệ vốn là vùng phên dậu, vùng chuyển tiếp phát triển xuống phương Nam của lịch sử trung - cận đại lại chưa được nghiên cứu đầy đủ
Trang 361.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII - XIX ở Thanh Hóa
1.2.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu theo hướng lịch sử, khảo cổ và văn hóa học
Đầu TK XX, người Pháp rất quan tâm đến nghiên cứu vấn đề thuộc địa, trong đó có văn hóa và đã để lại một số công trình liên quan đến nghệ thuật kiến trúc gỗ tiêu biểu ở Thanh Hóa
H.Le Breton trong Monuments et lieux historiques dans province de Thanh Hoa (Những đình chùa và nơi lịch sử trong tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn
Xuân Lênh dịch từ bản tiếng Pháp) viết ngày 21 tháng 2 năm 1920 đã ghi chép di tích lịch sử nổi tiếng, các đền chùa, bia đá ở tỉnh Thanh Hóa [27]
Charles Robequain trong cuốn Tỉnh Thanh Hóa (Le Thanh Hoa) đã
khảo cứu sơ lược các nghề thủ công ở Thanh Hóa Theo ông, những người thợ mộc Nam Định đi làm thuê ở phía Bắc tỉnh Thanh Hóa đã truyền nghề cho thợ mộc Đạt Tài (Hoằng Hóa) [32, tr 485, 538] Trong cuốn sách này có nói về luồng di cư, Nam tiến là hiện tượng nổi trội từ nhiều thế kỷ trong lịch
sử dân tộc: “Luồng di cư này kéo theo nhiều thợ thủ công: Thợ làm gạch, thợ
nề và thợ mộc ở Nam Định đi làm thuê phía Bắc tỉnh Từ lâu người Bắc Kỳ
đã vào truyền nghề cho thợ mộc Đạt Tài (Hoằng Hóa) [32, tr 544] Tuy nhiên, ngày nay chúng ta còn biết thêm nhiều ngôi đình làng ở Thanh Hóa có kiến trúc, chạm khắc gỗ đẹp được công nhận di tích cấp quốc gia như: Đình Đông Môn, đình Gia Miêu, đình Trung …
GS Trần Quốc Vượng trong Theo dòng lịch sử những vùng đất, thần
và tâm thức người Việt [164], tác giả có bài viết về “Xứ Thanh vài nét lịch sử
- văn hóa”, ông có giả thuyết: văn hóa Hoa Lộc từ xứ Thanh đã đi ngược ven sông Đáy để ảnh hưởng vào những văn hóa ở trên vùng chóp đỉnh đồng bằng Bắc Bộ (Sơn Tây - Vĩnh Phú), cùng quan điểm với ông có PTS Phạm Minh
Trang 37Huyền nêu giả thuyết về ảnh hưởng ngược lại của nền văn hóa đầu thời đại đồng thau ở vùng châu thổ Bắc Bộ đến vùng châu thổ xứ Thanh, những sự giao lưu văn hóa - và di cư tộc người - từ xứ Thanh ra Bắc và ngược lại là một hiện tượng có tính qui luật ở đầu thời đại kim khí và cho cả đến ngày sau [164, tr 401, 402] Như vậy theo các nhà nghiên cứu trên, xứ Thanh với Bắc
Bộ ảnh hưởng văn hóa qua lại từ thời đại kim khí Những nhận định của nhà nghiên cứu giúp tác giả luận án chứng minh ảnh hưởng nghệ thuật từ Bắc bộ đến châu thổ xứ Thanh qua nghệ thuật chạm khắc gỗ
GS Hà Văn Tấn trong cuốn Đình Việt Nam (Community Halls), ghi
chép Thanh Hóa lúc bấy giờ (1998) có 9 ngôi đình, kiến trúc gỗ, chạm khắc đẹp, được xếp hạng di tích cấp quốc gia gồm các đình sau: “Bảng Môn Đình, đình thôn Liêm Châu, đình thôn Hoàng Chung, xã Hoàng Châu (Hoằng Hóa), đình Phú Khê (Hoằng Hóa), đình Làng Gạo (Bỉm Sơn), đình Phương Chính (Đông Lĩnh), đình Hàm Hạ (Đông Tiến), đình Làng Sét (Định Hải), đình Phú Điền (Triệu Lộc)” [116, tr 430]
Viện khoa học xã hội với Văn hóa dân gian một chặng đường nghiên cứu [160], nói về những người thợ thủ công di cư từ Thanh Hóa: “Người ta
thấy ở đây có nhiều thợ chạm giỏi như nhiều rương sập bán ở Huế chẳng hạn
là từ Bắc vào Các đồ dùng bằng gỗ gụ, trắc, huê mộc, giả hương mà người ta
có thể kiếm được ở Quảng Bình, Thừa Thiên, Quảng Nam, Thanh Hóa và Bình Định” [160, tr 206]
Diễn biế n kiến tru ́ c truyền thống Viê ̣t vùng châu thổ sông Hồng [21], tác giả Trần Lâm Biền có nói về kết cấu kiến trúc kiểu chồng rường đã đươ ̣c biến cách kiểu giá chiêng theo hình thức mới là đẩy cô ̣t trốn sát vào nhau để phục vu ̣ nghê ̣ thuâ ̣t cha ̣m khắc trong kiến trúc, như bô ̣ vì của đền Đô ̣c Cước (Thanh Hó a) [21, tr 213] Cũng trong sách này có nói tới viê ̣c quan tâm bề ngoài của công trình kiến trúc “Ở thế kỷ 17, trên mô ̣t số di tích, ý thức cha ̣m
Trang 38trổ cho mặt ngoài của kiến trúc đã được quan tâm đă ̣c biê ̣t, mà chủ yếu thuô ̣c mấy vù ng vố n vẫn nổi tiếng về cha ̣m như ta ̣i Nam Đi ̣nh với cửa đền Xám, đền Trần Khát Chân (Thanh Hóa) ” [21, tr 231] Nói về kiến trúc, hiê ̣n tươ ̣ng chồ ng rườ ng cánh ở nước ta từ thế kỷ XVII, song đươ ̣c diễn ra dưới 3 hàng chân như nghi môn thái miếu nhà Lê - Thanh Hóa; cũng đầu thế kỷ XVII đã xuất hiện mă ̣t bằng da ̣ng chữ Đinh (丁) như Bảng Môn Đình (Thanh Hóa),
dạng này được sử du ̣ng ở Thanh Hóa là chính [21, tr.147] Qua tài liê ̣u này, cho thấy phần kết cấu kiến trú c truyền thố ng ở Thanh Hóa có những đă ̣c điểm riêng, đây là cơ sở để tác giả luận án so sánh, đối chiếu tìm ra điểm riêng do kết cấu kiến trú c thay đổi ở từng công trình
Một số công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa Thanh Hóa là nguồn
tư liệu quan trọng để lý giải các vấn đề liên quan đến nghệ thuật chạm khắc ở Thanh Hóa Có thể kể đến:
Cuốn Thanh Hóa chư thần lục [63], công bố và năm Thành Thái thứ
15 (1903), cuốn sách cho thấy Thanh Hóa có 3.561 phủ, nghè, đền, miếu thờ các vị thần, trong đó nam thần có 3.078 và nữ thần có 423 Qua điền dã, nghiên cứu chạm khắc hình tượng con người trên các di tích và đối chiếu với
Thanh Hóa chư thần lục đã có những tương đồng hình tượng nam và nữ trên
di tích Thông qua khảo sát về nghệ thuật chạm khắc đá ở lăng mộ, đền, miếu Qua đó cho thấy phần lớn tượng hình người được chạm khắc là nam, tượng
nữ rất ít, phần lớn đó là Linh Thần hoặc Nhân Thần; tuy nhiên, trên kiến trúc
gỗ ở đình làng thì hình tượng nữ lại trội hơn nam, đó là hình các tiên nữ
Nhận xét về nghề mộc và nghệ nhân Thanh Hóa, Ch Robequain trong
cuốn Tỉnh Thanh Hóa (le Thanh Hoá) [27], Ch Robequain, E.Jules Sion,
1929, Q.5 Chương 6 Bản dịch của Xuân Lênh ghi: “Tổng Bút Sơn có 3 làng cận kề nhau có 400 gia đình có người làm nghề mộc, trong đó làng Đạt Tài có
300 hộ, còn lại ở Hạ Vũ và Hà Thái Họ không chỉ là những người thợ biết
Trang 39làm nhà mà còn là những người thợ khéo tay chạm trổ điêu khắc tinh xảo” [27, tr.197]
Bộ sách Di tích và Danh thắng tỉnh Thanh Hóa [12] do Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thanh Hóa biên soạn từ tập 1 đến tập 2; Di tích và Danh thắng tỉnh Thanh Hóa [8], [9], [10], [11], Ban quản lý Di tích và Danh thắng tỉnh Thanh
Hóa biên soạn từ tập 3 đến tập 12, đã tập hợp một số bài viết nghiên cứu về các di tích tiêu biểu ở Thanh Hóa, nhiều bài viết có thông tin tưu liệu giá trị Tuy nhiên, số lượng bài nghiên cứu chuyên sâu còn ít và phần lớn thiên về miêu tả tổng quan, lịch sử, thần tích, thần phả, phát huy du lịch…ít đề cập sâu đến vấn đề nghệ thuật chạm khắc gỗ ở di tích
Về vấn đề nguồn gốc hiệp thợ nghề mộc ở Thanh Hóa và sự giao lưu
với các hiệp thợ tỉnh ngoài… tập 4, Di tích và Danh thắng tỉnh Thanh Hóa [10], có bài “Một số di văn của Phùng Khắc Khoan soạn trên đất Thanh Hóa”, tác giả Nguyễn Văn Hải trích dịch văn bia Ngọc Khê Kiều bi ký nói về việc
Thái Phó Quận Công Nguyễn Khải thuê thợ trong nước về làm cầu Ngọc Khê
và thợ mộc trấn Sơn Nam làm nhà thờ gia tộc ở làng Đông Thanh (nay là lăng Nguyễn Văn Nghi): “Nay bản thân ngài muốn làm rạng rỡ đức sáng mới dốc lòng Bồ đề, tự bỏ của nhà, mua gỗ tận rừng sâu, mời thợ giỏi trong nước khởi công dựng cầu…” [10, tr 31]
Về vấn đề niên đại, tác giả Đỗ Quang Trọng trong bài “Nghè Nguyệt
Viên” in trong tập 4 Di tích và Danh thắng tỉnh Thanh Hóa [10], cho thấy
phần lớn các di tích đình, đền, nghè ở Thanh Hóa có những mốc thời gian khởi dựng, tôn tạo nhiều lần, do vậy sự chồng lớp văn hóa rất đa dạng:
Niên đại của Nghè Nguyệt Viên hiện biết đến qua các dòng chữ ghi trên thượng lương, thì công trình này được xây dựng từ năm Quý Tỵ, niên hiệu Quang Hưng thứ mười sáu triều Lê (1593), và được sửa chữa lớn vào năm Đinh Hợi, niên hiệu Minh Mệnh thứ
Trang 40tám (1827), và tiếp tục sửa chữa vào năm Bính Thân, niên hiệu Thành Thái thứ tám (1896) [10, tr.167]
Đề cập đến nghề mộc ở Thanh Hóa - cuốn sách Làng nghề thủ công và làng khoa bảng thời phong kiến ở đồng bằng sông Mã [71], tác giả Hà Mạnh
Khoa đặc biệt nhấn mạnh nét tài hoa của người thợ mộc với kỹ thuật, mỹ thuật độc đáo và cách bố cục hợp lý, từ các cột, kèo, rường, kẻ, mộng mẹo, đường xàm và các đường trang trí hoa văn đều rất tinh xảo từ các hiệp thợ, làng nghề ở xứ Thanh
Tóm lại, công trình nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật chạm khắc gỗ
TK XVII - XIX ở Thanh Hóa theo hướng lịch sử, khảo cổ học, văn hóa học chủ yếu đề cập đến nghề thủ công trong một bối cảnh kinh tế, xã hội cụ thể; đồng thời đưa ra một số thông tin quý giá như xuất xứ nghề mộc Thanh Hóa;
sự giao lưu của nghệ nhân các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa; vai trò của quan tướng người Thanh Hóa trong việc đầu tư, cúng tiến xây dựng đền, miếu, đình chùa ở địa phương Đây là những cứ liệu khoa học rất cần thiết cho tác giả luận án nghiên cứu, thực hiện luận án tiến sĩ của mình
1.2.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu theo hướng nghệ thuật học
Vấn đề nghệ thuật chạm khắc ở Thanh Hóa cũng đã có một số tác giả đề cập đến trong công trình nghiên cứu Nhóm các công trình nghiên cứu thiên
về lịch sử, khảo cổ, văn hóa học như tác giả luận án đã nêu ở mục 2.2.1 trên, các tác giả vẫn rất coi trọng yếu tố nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc, đặc biệt chạm khắc gỗ trên cấu kiện kiến trúc đền, đình, chùa ở Thanh Hóa Tuy nhiên, đa phần là những đoạn văn ngắn mang tính nhận xét, đánh giá, ca ngợi vẻ đẹp, tài hoa của nghệ nhân xưa, rất ít công trình đi sâu nghiên cứu có hệ thống, hay tập trung phân tích phong cách tạo tác, loại hình bố cục, trang trí mang tính chuyên ngành