1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cà mau

72 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước nợ nhiều nhất, tập trung ở ngành chế biến thủy sản và xây dựng2 Từ những bất cập nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng vi phạm pháp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

THÁI THỊ KIM THỦY

THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

THÁI THỊ KIM THỦY

THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Võ Trí Hảo

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Thái Thị Kim Thủy mã số học viên: 7701251000A là học viên lớp

LOP_K25_MBL_CaMau; Khóa K25-2 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật,

Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học

với đề tài “Thực trạng vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp

trên địa bàn tỉnh Cà Mau” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là

kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn

khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học

của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và

có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn

khách quan và trung thực

Học viên thực hiện

Thái Thị Kim Thủy

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PH N MỞ Đ U 1

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội 4

1.1 Khái niệm, đặc điểm của bảo hiểm xã hội 4

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội 4

1.1.2 Đặc điểm bảo hiểm xã hội 7

1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội 8

1.2.1 Đối với người lao động 8

1.2.2 Đối với người sử dụng lao động 10

1.2.3 Đối với xã hội 10

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội 11

1.3.1 Nhận thức và năng lực của người lao động 11

1.3.2 Nội dung thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc 12

1.3.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc 12

1.3.2.2 Phương thức và mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 13

1.3.3 Cơ chế giám sát và chế tài thu nộp bảo hiểm xã hội 20

1.3.3.1 Cơ chế giám sát 20

1.3.3.2 Chế tài thu nộp 21

Tiểu kết luận Chương 1 28

Chương 2: Thực trạng và giải pháp thực thi pháp luật về bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Cà Mau 29

2.1 Khái quát các loại hình vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội điển hình trên phạm vi cả nước 29

2.2 Ba dạng vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội phổ biến trên địa bàn tỉnh

Cà Mau, nguyên nhân và giải pháp tương ứng 33

2.2.1 Vi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội 33

2.2.1.1 Vụ việc vi phạm 35

2.2.1.2 Nguyên nhân 36

2.2.1.3 Giải pháp 38

Trang 5

2.2.2 Vi phạm về nợ bảo hiểm xã hội 43

2.2.2.1 Vụ việc vi phạm 43

2.2.2.2 Nguyên nhân 45

2.2.2.3 Giải pháp 51

2.2.3.Vi phạm về hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần 53

2.2.3.1 Vụ việc vi phạm 54

2.2.3.2 Nguyên nhân 55

2.2.3.3 Giải pháp 56

Tiểu kết luận chương 2 57

KẾT LUẬN 58 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Trang 6

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

Trang 7

PH N MỞ Đ U

1 Lý do chọn đề tài

Để thực hiện được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thì không thể thiếu hệ thống chính sách an sinh xã hội mà đặc biệt là chính sách BHXH đã phát huy vai trò trụ cột góp phần tích cực vào ổn định xã hội, giúp người dân giảm bớt gánh nặng khi tuổi già, ốm đau, tai nạn, thất nghiệp Thực hiện tốt chính sách BHXH góp phần bảo đảm đời sống cho cán bộ, công chức, viên chức, lao động (gọi tắt NLĐ), giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc Chính sách BHXH đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ ngay sau khi nước ta giành độc lập, góp phần làm nên những thành công trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Năm 1994, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa IX đã thông qua Bộ Luật Lao động, trong đó có một chương quy định về chính sách BHXH bắt buộc, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 kèm theo Điều lệ BHXH đối với NLĐ theo nguyên tắc có đóng có hưởng, cân đối thu - chi với 5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất Đặc biệt, năm 2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật BHXH và hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, qua nhiều năm thực hiện, Luật BHXH năm 2006 cũng có những vấn đề cần được điều chỉnh và hoàn thiện Do đó, ngày 20/11/2014 tại kỳ họp Quốc hội Khóa XIII kỳ họp thứ 8 thông qua Luật BHXH số 58/2014/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016

Có thể khẳng định pháp luật BHXH đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, đầy đủ và có cơ sở pháp lý cao nhất để triển khai thực hiện trong đời sống xã hội Song để pháp luật BHXH có thể phát huy được vai trò và ý nghĩa của nó, thì việc thực hiện pháp luật về BHXH là khâu quan trọng, không thể thiếu trong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên, tình trạng vi phạm pháp luật về BHXH những năm gần đây xảy

ra rất phổ biến và ngày càng trở thành mối quan tâm lớn của xã hội Thực tế hiện nay, số lao động tham gia BHXH chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với lực lượng lao động trong xã hội, số lao động chưa tham gia BHXH còn nhiều tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp dùng nhiều hình thức khác nhau lách luật để né, tránh việc đóng BHXH cho NLĐ như: đóng không đủ số lao động, tiền công, tiền lương tham gia BHXH thấp hơn nhiều so với tiền lương thực tế hoặc nợ BHXH thời

Trang 8

gian dài, thậm chí có những đơn vị SDLĐ lạm dụng quỹ BHXH, lạm dụng tiền đóng BHXH của NLĐ để làm vốn sản xuất kinh doanh.

Tính đến hết năm 2016, hiện cả nước có gần 300.000 doanh nghiệp đang hoạt động nhưng chỉ có 150.000 doanh nghiệp tham gia BHXH, số doanh nghiệp trốn đóng là 150.000 doanh nghiệp với trên 5 triệu lao động Nhiều doanh nghiệp

có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng không tồn tại, hoặc có quy mô quá nhỏ Số nợ BHXH, BHYT, BHTN là 7.580 tỷ đồng chiếm 3,30% so với tổng số phải thu1… Có thể thấy, việc tuân thủ pháp luật về BHXH của nhiều đơn vị SDLĐ chưa nghiêm, mà biểu hiện là tình trạng trốn đóng BHXH, nợ đọng BHXH vẫn đang xảy ra ở tất cả các địa phương

Tại Cà Mau, tình hình này cũng không khá hơn, theo số liệu của Sở Kế hoạch – Đầu tư, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cung cấp năm 2016 tỉnh Cà Mau có trên 4.000 doanh nghiệp đang hoạt động với khoảng 74.000 lao động nhưng

số doanh nghiệp tham gia BHXH chỉ có 502 doanh nghiệp, đóng BHXH, BHYT cho 25.072 lao động Tổng số tiền nợ BHXH của khối doanh nghiệp là 35,25 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 11,16% so với số phải thu của khối doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 2,34% so với tổng số thu Trong đó, loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước nợ nhiều nhất, tập trung ở ngành chế biến thủy sản và xây dựng2

Từ những bất cập nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau” là

một đòi hỏi cấp bách, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH, thúc đẩy NLĐ tích cực làm việc, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và ổn định chính trị của tỉnh

2 Vấn đề cần nghiên cứu

Phân tích làm rõ việc vi phạm pháp luật về BHXH của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau? Có những vướng mắc bất cập? Từ đó đề xuất giải pháp

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc tham gia BHXH của doanh nghiệp Nội dung cụ thể sẽ nghiên cứu bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật BHXH, chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật BHXH, nguyên nhân các doanh nghiệp trốn đóng, nợ BHXH

Trang 9

4 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng thực thi pháp luật về BHXH của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau, chỉ ra những mặt tồn tại, yếu kém và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHXH trong thời gian tới

5 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng tình hình thực thi pháp luật về BHXH tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh từ năm 2012 đến năm 2016 Đồng thời, rút ra những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế, những vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật BHXH và đề xuất một số biện pháp hạn chế vi phạm của doanh nghiệp đối với chính sách BHXH không để thất thoát, thiệt thòi cho NLĐ

6 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu, Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để đánh giá và làm sáng tỏ nội dung của đề tài

7 ngh a và khả n ng ứng dụng

Luận văn góp phần làm hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn thực thi pháp luật BHXH của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay Những quan điểm, giải pháp của Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc thực thi pháp luật BHXH của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Trang 10

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội

1.1 Khái niệm, đặc điểm của bảo hiểm xã hội

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội

Để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày, con người phải lao động để tạo ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của bản thân Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận lợi, song song với đó đôi khi con người cũng gặp không ít khó khăn, chẳng hạn như bất ngờ bị ốm đau, bị tai nạn…

từ đó sẽ ảnh hưởng đến việc không còn khả năng để phục vụ cho ăn, ở, đi, lại, học hành Mà còn có thể xuất hiện một số nhu cầu mới như ốm đau thì cần khám chữa bệnh, tai nạn thì phải có người chăm sóc… Vì vậy, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã tự khắc phục, đồng thời, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau

Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp hóa, đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già… đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương

Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hằng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách để khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ

Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của NLĐ được dàn trải, chia sẻ, phân tán, cuộc sống của NLĐ và gia đình họ được đảm bảo ổn định Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo Đó chính là nguồn gốc sự ra đời của BHXH

Bảo hiểm xã hội ra đời nhằm ổn định cuộc sống của NLĐ, trợ giúp NLĐ khi gặp rủi ro về sức khỏe, tai nạn lao động, mất việc làm… góp phần đảm bảo an toàn

xã hội Khi NLĐ bị giảm thu nhập thì BHXH thực hiện bù đắp cho khoản thu nhập

Trang 11

bị thiếu hụt này Tất nhiên, sự bù đắp này chỉ có tính tương đối và tùy điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi nước và khả năng của quỹ BHXH trong mỗi giai đoạn phát triển Khi NLĐ bị mất thu nhập do không thể lao động được hoặc sức lao động không được sử dụng (trường hợp thất nghiệp), BHXH thực hiện trả trợ cấp BHXH thay cho phần thu nhập bị mất này Khoản thu nhập thay thế này cũng tùy theo điều kiện kinh tế – xã hội và khả năng của quỹ BHXH mà có thể thay thế toàn bộ hoặc một phần

Vậy để đạt được mục đích trên, BHXH được tổ chức thực hiện như thế nào? Lịch sử phát triển BHXH đã chỉ ra rằng, có một số cách thức tổ chức thực hiện để bù đắp hoặc thay thể thu nhập cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp, như: NLĐ cùng giúp nhau; Nhà nước thực hiện thông qua ngân sách và hình thành một quỹ tài chính độc lập thông qua sự đóng góp của các bên tham gia BHXH (bao gồm NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước)…Trong BHXH hiện đại, hình thức thực hiện chủ yếu là hình thành quỹ BHXH do các bên đóng góp Từ cách tiếp cận này, có thể hiểu BHXH như sau:

Thực chất BHXH là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi ro xã hội” Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH Như vậy, BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết… Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện cả theo chiều dọc và chiều ngang Phân phối theo chiều ngang

là sự phân phối của chính bản thân NLĐ theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại thu nhập của quá trình làm việc và quá trình không làm việc) Phân phối theo chiều dọc là

sự phân phối giữa những người khỏe mạnh cho người ốm đau, bệnh tật; giữa những người trẻ cho người già; giữa những người không sinh đẻ (nam giới) và người sinh đẻ (nữ giới); giữa những người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp…

Qua đây có thể thấy, BHXH góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh

tế cho NLĐ và gia đình họ BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước để thỏa mãn nhu cầu an toàn kinh tế của NLĐ và an toàn xã hội Vì vậy, BHXH mang cả bản chất kinh tế và cả bản chất xã hội Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của NLĐ và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội Về mặt xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro” của

Trang 12

BHXH, NLĐ chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra.Ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”

Tuy nhiên, tính kinh tế và tính xã hội của BHXH không tách rời mà đan xen lẫn nhau Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho NLĐ và gia đình họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH, ngược lại, khi nói tới sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH

Mặc dù, đã có quá trình phát triển lâu dài, nhưng do tính chất phức tạp và đa dạng của BHXH nên đến nay khái niệm BHXH được thể hiện ở các góc độ khác nhau,

cụ thể:

Dưới góc độ kinh tế, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sống cho NLĐ khi họ bị giảm hay mất khả năng lao động Có nghĩa là tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi họ gặp phải các rủi ro thuộc phạm vi BHXH

Dưới góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những NLĐ xuất phát từ lợi ích chung của họ

Dưới góc độ xã hội, BHXH được hiểu như là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ khi thu nhập của họ bị giảm hay mất Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lượng lao động xã hội, lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, ổn định trật tự xã hội

Thật vậy, dù ở góc độ nào, bản chất của BHXH chính là sự đảm bảo bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở NLĐ và NSDLĐ đóng góp vào quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện Theo phương thức đó, NLĐ phải có đóng góp vào quỹ BHXH mới được quyền lợi BHXH Còn mối quan hệ giữa mức đóng và quyền lợi được hưởng lại chịu sự ràng buộc của các nguyên tắc: nguyên tắc đoàn kết, tương trợ chia sẻ rủi ro (chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ) nguyên tắc tương quan giữa đóng và hưởng có sự can thiệp nhờ cách thức phân phối lại mang tính xã hội (chế độ hưu trí, tử tuất)

Theo quy định của Luật BHXH thì BHXH được định nghĩa như sau: “BHXH là

sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất

Trang 13

thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”3

1.1.2 Đặc điểm bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội ra đời, tồn tại và phát triển như một nhu cầu khách quan Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển, việc thuê mướn lao động trở nên phổ biến thì càng đòi hỏi sự phát triển và đa dạng của BHXH BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH Chủ SDLĐ và NLĐ có trách nhiệm đóng góp

để hình thành quỹ BHXH NLĐ và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định Đó chính là mối quan

hệ của bên tham gia BHXH

Từ mối quan hệ về BHXH nếu xem xét một cách toàn diện thì BHXH có những đặc điểm cơ bản sau:

- Thứ nhất, BHXH là hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý BHXH đối với NLĐ tham gia và hưởng các chế độ BHXH

- Thứ hai, BHXH là một loại hàng hóa công cộng đặc biệt mang tính bắt buộc

do Nhà nước cung cấp, nên việc tham gia BHXH về nguyên tắc là bắt buộc đối với mọi NLĐ do Nhà nước quản lý và cung cấp dịch vụ Cơ chế hoạt động của BHXH theo cơ chế 3 bên: cơ quan BHXH - NSDLĐ - NLĐ, cộng thêm cơ chế quản lý Nhà nước BHXH bắt buộc do Nhà nước đứng ra làm

- Thứ ba, NLĐ được hưởng trợ cấp BHXH trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHXH, có chia sẻ rủi ro và thừa kế Thông thường, mức đóng góp và mức hưởng trợ cấp đều có mối liên hệ đến thu nhập (tiền lương, tiền công) của NLĐ Điều này thể hiện tính công bằng xã hội gắn liền giữa quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ

Tóm lại, BHXH là những chính sách, chế độ do Nhà nước quy định để đảm bảo quyền lợi vật chất cho người tham gia BHXH dựa trên quan hệ cung - cầu trên thị trường BHXH là một loại hàng hóa công cộng đặc biệt mang tính bắt buộc do

3 Điều 3 Luật BHXH số 58/2014/QH3 ngày 20/11/2014 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2016 (thay thế Luật BHXH số 71/2006/QH11)

Trang 14

Nhà nước quản lý và cung cấp, hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít, chia

sẻ rủi ro, quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước, quản lý tập trung thống nhất

1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội

1.2.1 Đối với người lao động

Trước hết, thực hiện chính sách BHXH nhằm ổn định cuộc sống NLĐ, trợ

giúp NLĐ khi gặp rủi ro Vì ở bất kỳ hoàn cảnh nào, thời điểm nào rủi ro cũng có thể xảy ra Rủi ro phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên bất ngờ và không lường trước được Để phòng ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro, quỹ BHXH sẽ góp phần trợ giúp NLĐ và gia đình họ bằng cách bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập bị giảm hoặc mất do: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm

Theo phương thức đóng BHXH, NLĐ khi có việc làm sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng Quỹ này hỗ trợ NLĐ khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc già cả để duy trì và ổn định cuộc sống Do vậy, hoạt động BHXH, một mặt, đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng NLĐ đối với bản thân mình, với gia đình và đối với cộng đồng, xã hội theo phương châm

“mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững

- Thứ hai, thực hiện tốt chính sách BHXH nhất là chế độ hưu trí, góp phần ổn

định cuộc sống của NLĐ khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động

Theo quy định của Luật BHXH, NLĐ tham gia đóng BHXH từ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hằng tháng Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Hiện nay, cả nước đã có gần 3 triệu người hết tuổi lao động đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng với số tiền chi trả từ quỹ BHXH hàng nghìn tỉ đồng mỗi tháng

Trong nhiều năm qua, kể từ khi chính sách BHXH được thực hiện, cùng với sự phát triển kinh tế, mức lương hưu cũng không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung của toàn xã hội Vào các thời điểm tăng mức lương cơ sở cũng như việc xem xét chỉ số giả cả, Nhà nước đều có sự điều chỉnh lương hưu một cách hợp lý Mức lương hưu không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung toàn

Trang 15

xã hội tại thời điểm hưởng lương hưu đã bảo đảm cuộc sống của người nghỉ hưu, tạo

sự an tâm, tin tưởng của người về hưu sau cả cuộc đời lao động Tương tự như vậy, các quyền lợi về chế độ ốm đau, chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; mức trợ cấp tuất một lần cũng được cải thiện rõ rệt

Sở dĩ có được điều kiện nâng cao và mở rộng các quyền lợi của BHXH là do phương thức tài chính ở nước ta được hình thành theo cách lập quỹ và có sự tính toán điều chỉnh quan hệ đóng - hưởng trong phạm vi toàn xã hội theo những dự báo

về các yếu tố kinh tế - xã hội trong tương lai Theo phương thức lập quỹ, NLĐ, trước hết phải có trách nhiệm với bản thân trong việc đóng góp lập quỹ BHXH, dành dụm cho mai sau Mặt khác, với việc lập quỹ BHXH đã gắn kết được trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp trong cùng chính sách BHXH Vì vậy, nguồn quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ và phát triển cân đối bền vững sẽ là cơ sở để cải thiện không ngừng các chế độ BHXH nói chung và đời sống của người nghỉ hưu nói riêng

- Thứ ba, thực hiện chính sách BHXH góp phần ổn định và nâng cao chất

lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của NLĐ trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển

Chính sách BHXH, hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản “đóng - hưởng” đã tạo ra bước đột phá quan trọng về sự bình đẳng của NLĐ Khi đó, mọi NLĐ làm việc ở các thành phần kinh tế, các ngành nghề, địa bàn khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia thực hiện các chính sách BHXH Phạm vi đối tượng tham gia BHXH, không ngừng được mở rộng đã thu hút hàng triệu NLĐ làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi BHXH, tạo sự an tâm, tin tưởng và yên tâm lao động, sản xuất, kinh doanh

Người lao động tham gia BHXH, khi ốm đau sẽ được khám chữa bệnh và được quỹ BHYT chi trả phần lớn chi phí; được nhận tiền trợ cấp khi ốm đau không

đi làm được, được nghỉ chăm con ốm; khi thai sản được nghỉ khám thai, được nghỉ khi sinh đẻ và nuôi con, được nhận trợ cấp khi sinh con và trợ cấp thai sản; khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được nhận phần trợ cấp do giảm khả năng lao động do tai nạn, bệnh nghề nghiệp gây ra Ngoài ra, NLĐ còn được nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau, sinh đẻ hay điều trị thương tật nhằm nâng cao thể lực Khi NLĐ mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp

Trang 16

và được giới thiệu việc làm hoặc gửi đi học nghề để có cơ hội tìm kiếm việc làm mới

Với những quyền lợi của NLĐ khi tham gia BHXH, đã góp phần thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, giữ gìn và nâng cao thể lực cho NLĐ trong suốt quá trình lao động, sản xuất Việc được tham gia BHXH, khi đang làm việc và được hưởng lương hưu sau này đã tạo ra cho NLĐ sự phấn khởi, tâm lý ổn định, an tâm vào việc làm mà họ đang thực hiện Thực tế, nhiều doanh nghiệp, khi tuyên truyền quảng cáo tuyển dụng lao động, thì tiêu thức được tham gia BHXH, cũng là một quyền lợi quan trọng thu hút được nhiều lao động

Sự an tâm của NLĐ cũng như việc bảo vệ sức lao động của họ thông qua chính sách BHXH, đã trở thành một chính sách thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, bảo đảm sự ổn định và thúc đẩy sản xuất phát triển

1.2.2 Đối với người sử dụng lao động

Bảo hiểm xã hội ra đời góp phần quan trọng trong việc làm cho mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ ngày càng gắn bó Đây là điều kiện tiền đề để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sản xuất phát triển từ đó mang lại nhiều lợi nhuận cho chủ SDLĐ Nếu theo nhìn nhận ban đầu, việc đóng góp BHXH cho NLĐ có thể sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nhưng thực chất, về lâu dài, phương thức BHXH đã chuyển giao trách nhiệm bảo vệ NLĐ khi gặp rủi ro về phía xã hội, rủi ro được điều tiết trên phạm vi toàn xã hội, giúp cho chủ SDLĐ bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của doanh nghiệp, yên tâm tổ chức sản xuất, kinh doanh Đối với nước ta, nguồn lao động với trình độ chuyên môn cao, NLĐ có mức thu nhập ở mức bình quân chung toàn xã hội là chủ yếu thì biện pháp điều tiết thu nhập mang tính cộng đồng là rất cần thiết Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản, hải sản; da giày; dệt may sử dụng nhiều lao động, nhất là doanh nghiệp có nhiều lao động nữ đều rất coi trọng chính sách BHXH để bảo

vệ và duy trì nguồn lao động của doanh nghiệp mình

1.2.3 Đối với xã hội

Về mặt xã hội, BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao cả, truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, tạo cho những người gặp rủi ro, bất hạnh, những người già cả, ốm đau có điều kiện cần thiết để khắc phục những khó khăn gặp phải, để ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, dân tộc, giới tính Phân phối trong bảo hiểm là sự phân phối giữa những người có thu nhập cao, với những người có thu nhập thấp; giữa những người

Trang 17

khỏe mạnh, có việc làm với những người không may khi ốm đau, thất nghiệp; giữa những người được hưởng trợ cấp với những người chưa được hưởng trợ cấp Do

có sự “chia sẻ rủi ro” giữa những người tham gia BHXH nên NLĐ chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội lại có một lượng vật chất đủ lớn để trang trải những rủi ro theo nguyên tắc “lấy số đông,

bù số ít”, tức là BHXH thực hiện một phần công bằng và an sinh xã hội

Bảo hiểm xã hội góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội Nhờ có BHXH, mối quan hệ giữa NLĐ với NSDLĐ và Nhà nước ngày càng gắn bó Mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH NLĐ tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội NSDLĐ tham gia BHXH là để chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân văn sâu sắc của BHXH

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội 1.3.1 Nhận thức và n ng lực của người lao động

- Sự thiếu hiểu biết về lợi ích của việc tham gia BHXH của NLĐ Sự thiếu hiểu biết này xuất phát từ chính bản thân NLĐ, nhiều lao động phổ thông, tay nghề kém hoặc không có trình độ chuyên môn chưa được cung cấp đầy đủ thông tin về quyền lợi của mình, chưa nhận thức được những chế độ chính sách do BHXH mang lại Hơn hết, đối với lực lượng lao động trẻ lại không quan tâm, thậm chí đồng tình với chủ SDLĐ không tham gia BHXH Điều này cũng đồng nghĩa với công tác tuyên truyền về BHXH đến các đối tượng chưa được rộng rãi, chưa có được những thông tin rõ ràng về lợi ích khi tham gia

- Vẫn còn nhiều NLĐ có quan điểm: đóng BHXH thì dễ, nhưng lấy tiền lại thì rất khó

- Có không ít trường hợp thực sự không biết mình có quyền được hưởng BHXH và tham gia BHXH Mặt khác, cũng có một bộ phận NLĐ biết quyền và nghĩa vụ BHXH nhưng lại chưa tin tưởng vào chính sách BHXH, sợ phải bị trích lương, giảm thu nhập thực tế

- Nhiều NLĐ còn muốn “tự bảo hiểm” mà không tin tưởng BHXH, nghĩa là

họ tích lũy để đề phòng rủi ro cho bản thân và gia đình mà chưa có tính cộng đồng

Trang 18

- Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, tình hình sản xuất kinh doanh gặp khó khăn; thị trường lao động không cân bằng, cung luôn luôn lớn hơn cầu dẫn đến tình trạng thiếu việc làm NLĐ vì nhu cầu việc làm, thu nhập trước mắt nên không thể bày tỏ thái độ phản ứng đối với hành vi vi phạm pháp luật BHXH của NSDLĐ Khả năng tìm kiếm việc làm của NLĐ càng hạn chế, càng dễ dàng cho NSDLĐ không tuân thủ việc đóng BHXH

1.3.2 Nội dung thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc

Theo quy định của pháp luật BHXH, khi tham gia BHXH bắt buộc, các bên tham gia đều có trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập với Ngân sách nhà nước được hình thành từ đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và

có sự hỗ trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Đây là điều kiện đầu tiên để các đối tượng được hưởng chế độ BHXH, đảm bảo nguyên tắc “có đóng, có hưởng” Chính vì thế công tác thu BHXH bắt buộc ngày càng trở thành một khâu quan trọng và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của việc thực hiện các chính sách BHXH Cơ quan BHXH có trách nhiệm tổ chức thu và quản lý tiền đóng BHXH bắt buộc của người tham gia theo quy định của pháp luật

Công tác thu BHXH bắt buộc là một hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt được một cách tập trung thống nhất Thu quỹ BHXH bắt buộc là hoạt động chính của các cơ quan BHXH từ Trung ương đến địa phương cùng với sự phối hợp của các sở, ban, ngành, các cơ quan chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung từ việc đóng góp của các bên tham gia đóng BHXH bắt buộc Qua đó, tránh được tình trạng nợ BHXH từ các cơ qua, đơn

vị, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc Đồng thời, đảm bảo được sự công bằng trong việc thực hiện các chính sách BHXH nói chung và những người tham gia BHXH nói riêng

1.3.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Căn cứ Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 Căn cứ Nghị định số 152/2006/NĐ - CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về BHXH bắt buộc; Nghị định số 68/2007/NĐ - CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về BHXH bắt buộc, Quyết định số

Trang 19

902/QĐ - BHXH ngày 26/06/2007 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam Đối tượng thu BHXH bắt buộc bao gồm :

* Người lao động

- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức

- NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động;

- NLĐ, xã viên, kể cả cán bộ quản lý làm việc và hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;

- Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;

- Công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các Doanh nghiệp (DN) thuộc lực lượng vũ trang;

- NLĐ làm việc có thời hạn ở nước ngoài

* Người sử dụng lao động bao gồm các khối sau đây :

1.3.2.2 Phương thức và mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

* Về phương thức thu BHXH bắt buộc

Hàng tháng, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng, Người sử dụng lao động (NSDLĐ) đóng BHXH bắt buộc trên quỹ tiền lương, tiền công của những NLĐ tham gia BHXH; đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng của từng NLĐ theo mức quy định để đóng cùng vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước

Trang 20

Hàng tháng, NSDLĐ được giữ lại 2% số phải nộp để chi trả kịp thời 2 chế độ

ốm đau, thai sản cho NLĐ Hàng quý thực hiện quyết toán với cơ quan BHXH NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc đóng trụ sở chính ở địa bàn nào thì đăng ký tham gia đóng BHXH bắt buộc tại địa bàn đó theo phân cấp của cơ quan BHXH

NSDLĐ đóng BHXH bắt buộc bằng hình thức chuyển khoản Trường hợp NSDLĐ hoặc NLĐ đóng BHXH bắt buộc bằng tiền mặt thì cơ quan BHXH phải hướng dẫn thủ tục nộp tiền vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH Nếu NSDLĐ hoặc NLĐ nộp tiền mặt trực tiếp tại cơ quan BHXH thì chậm nhất sau 3 ngày làm việc, cơ quan BHXH phải nộp tiền vào tài khoản chuyên thu mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước

NLĐ được cử đi học, thực tập, công tác, nghiên cứu, điều dưỡng ở trong và ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương hoặc sinh hoạt phí ở đơn vị trước khi được cử đi thì vẫn phải đóng BHXH bắt buộc; NLĐ hợp đồng ở nhiều đơn vị tại một thời điểm thì chỉ đăng ký đóng BHXH bắt buộc, BHYT theo một hợp đồng lao động

Số tiền đóng BHXH bắt buộc trong kỳ được tính đủ số tiền BHXH và tiền lãi

do đóng chậm, đóng thiếu (nếu có)

Cơ quan BHXH Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ban Cơ yếu Chính phủ đóng BHXH cho NLĐ trực tiếp vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH Việt Nam mở tại Kho bạc Nhà nước trung ương

Theo Quy định về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc ban hành kèm theo Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Các trường hợp không bắt buộc đóng BHXH, BHYT theo tháng bao gồm:

- NSDLĐ là các DN sản xuất (nuôi, cấy, trồng trọt) thuộc ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thực hiện trả tiền lương, tiền công cho người lao động theo mùa vụ hoặc theo chu kỳ có thể đóng BHXH, BHYT theo quý hoặc 6 tháng một lần nhưng phải xuất trình phương án sản xuất hoặc phương thức trả lương cho NLĐ để cơ quan BHXH có căn cứ giải quyết

- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, cá nhân có thuê mướn trả công cho NLĐ,

sử dụng dưới 10 lao động có thể đóng BHXH, BHYT theo quý nhưng phải đăng ký

và được sự chấp thuận của cơ quan BHXH

- NLĐ đang tham gia BHXH bắt buộc mà chưa nhận trợ cấp BHXH một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về NLĐ

Trang 21

ở Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đóng BHXH theo quý, 6 tháng hoặc 12 tháng một lần, hoặc có thể đóng trước một lần theo thời hạn hợp đồng

Đối với NLĐ đóng BHXH bắt buộc theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quy định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng

Tiền lương, tiền công để tính đóng BHXH của người quản lý DN là chủ sở hữu, Giám đốc DN tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, Chủ tịch hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng và kiểm soát viên là mức tiền lương do Điều lệ của Công ty quy định nhưng phải được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố

Tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của NLĐ trong hợp tác xã là mức tiền lương, tiền công được Đại hội xã viên thông qua và phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động theo phân cấp quản lý

Tiền lương, tiền công tháng để đóng BHXH của NLĐ thuộc các hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác và cá nhân là mức tiền lương, tiền công do Người sử dụng lao động (NSDLĐ) quy định nhưng phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động theo phân cấp quản lý

Từ 01/01/2012, mức thu BHXH bắt buộc như sau:

Hằng tháng, NLĐ đóng BHXH với mức đóng bằng 7% mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH NSDLĐ đóng bằng 17% trên quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của những NLĐ với các mức cụ thể như sau:

- Đóng 3% vào quỹ ốm đau thai sản; trong đó NSDLĐ giữ lại 2% để chi trả kịp thời cho NLĐ đủ điều kiện hưởng chế độ và thực hiện quyết toán với cơ quan BHXH theo quy định

- Đóng 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Trang 22

- Đóng 13% vào quỹ hưu trí và tử tuất

Trường hợp mức tiền lương, tiền công tháng làm căn cứ đóng BHXH cao hơn 20 tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bằng 20 tháng lương tối thiểu chung

Căn cứ theo Luật BHXH năm 2014, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành Quyết định 959/QĐ-BHXH quy định mức đóng các như sau:

– Mức đóng BHXH: 26% trong đó người lao động đóng 8% – người sử dụng lao động đóng 18%

– Mức đóng BHYT: 4,5% trong đó người lao động đóng 1,5% – người sử dụng lao động đóng 3%

– Mức đóng BHTN: 2% trong đó người lao động đóng 1% – người sử dụng lao động đóng 1%

– Từ ngày 01/01/2016 mức lương tháng đóng BHXH bao gồm Lương và phụ cấp lương (nếu có) theo quy định của Bộ luật Lao động

– Từ ngày 01/01/2018 trở đi, tiền lương đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật lao động

Quy trình nộp BHXH 4 thực hiện như sau:

a Đối với đơn vị SDLĐ: Trên cơ sở đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc

như:

- Người làm việc theo hợp đồng lao động (hoặc hợp đồng làm việc) không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng;

- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;

- Đơn vị thuê mướn, SDLĐ theo hợp đồng lao động

Trang 23

- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc hoặc ngày có hiệu lực của quyết định tuyển dụng doanh nghiệp phải tham bảo hiểm

Đơn vị SDLĐ lập danh sách đăng ký và các hồ sơ: Tờ khai cung cấp và thay đổi thông tin người tham gia BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS) của NLĐ; tờ khai cung cấp và thay đổi thông tin đơn vị tham gia BHXH, BHYT (Mẫu TK3-TS); Danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTN (Mẫu D02-TS) gửi lên cơ quan BHXH để đăng ký tham gia BHXH bắt buộc cho lao động thuộc đơn vị mình theo phương thức đóng do đơn vị đăng ký với cơ quan BHXH:

- Đóng hàng tháng: chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích tiền đóng BHXH bắt buộc trên quỹ tiền lương tháng của những NLĐ tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời trích từ tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc của từng NLĐ theo mức quy định, chuyển cùng một lúc vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước

- Đóng 3 tháng hoặc 6 tháng một lần: đơn vị là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì đóng theo phương thức hằng tháng hoặc 03 tháng, 06 tháng một lần Chậm nhất đến ngày cuối cùng của kỳ đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ BHXH

Lưu ý: Nếu đăng ký phương thức đóng 03 tháng hoặc 06 tháng một lần cần bổ sung: đơn đề nghị, phương án sản xuất, phương thức trả lương

Theo phương thức đóng BHXH bắt buộc, đơn vị SDLĐ có trách nhiệm thu 9% tiền lương của NLĐ (bao gồm BHXH bắt buộc và BHTN) và trích 19% quỹ tiền lương của đơn vị nộp cơ quan BHXH, nếu có biến động trong tháng, quý đơn vị phải lập biểu mẫu điều chỉnh tăng giảm số tiền nộp BHXH gửi cơ quan BHXH trực tiếp quản lý để kịp thời điều chỉnh

Đơn vị đóng trụ sở chính ở địa bàn nào thì đăng ký tham gia đóng BHXH tại địa bàn đó theo phân cấp của cơ quan BHXH tỉnh (đăng ký cơ quan BHXH quản lý theo địa bàn đăng ký trên giấy phép đăng ký kinh doanh) Chi nhánh của doanh nghiệp đóng BHXH tại địa bàn nơi cấp giấy phép kinh doanh cho chi nhánh

b Đối với cơ quan BHXH: cơ quan BHXH căn cứ vào danh sách lao động do

đơn vị SDLĐ lập thực hiện đối chiếu và xác định số tiền phải nộp của đơn vị trong từng kỳ và triển khai thu BHXH bắt buộc Hằng tháng, sau khi chốt dữ liệu trong

Trang 24

chương trình quản lý thu, thực hiện in: hai (02) bản Thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT, BHTN (Mẫu C12-TS) chuyển Bộ phận một cửa để gửi đơn vị 01 bản trước ngày 05; lưu 01 bản hoặc chuyển dữ liệu lên Cổng thông tin điện tử BHXH để tra cứu Đồng thời, cán bộ thu thực hiện đôn đốc đơn vị nộp tiền theo quy định

* Thuận lợi:

- Được sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo, giám sát kịp thời của Tỉnh ủy, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; sự phối hợp chặt chẽ giữa BHXH với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế, Liên đoàn Lao động

- Các sở, ngành, tổ chức chính trị ở địa phương luôn quan tâm, phối hợp với BHXH tỉnh trong hoạt động tuyên truyền

- Cơ quan BHXH tích cực triển khai, tổ chức thực hiện chính sách BHXH, luôn coi nhiệm vụ phát triển đối tượng tham gia, thu đúng, thu đủ, thu kịp thời là

nhiệm vụ hàng đầu của ngành

- Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành quy định, áp dụng thống nhất quy trình quản lý thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT; thủ tục tham gia BHXH đã rút từ 5 thủ tục chỉ còn 2 thủ tục, rất đơn giản và phù hợp; thủ tục thanh toán chế độ BHXH gọn, giảm thời gian thực hiện lập hồ sơ đối với NLĐ và chủ SDLĐ (kể cả thực hiện

hồ sơ điện tử) Bên cạnh đó, BHXH tỉnh đã phối hợp với hai nhà I-Van tại Cà Mau

là VNPT và Viettel thường xuyên tập huấn và cài đặt phần mềm giao dịch điện tử cho đơn vị SDLĐ Tính đến 31/12/2016 đã cài đặt phần mềm ứng dụng giao dịch điện tử với 1.582/1.628 đơn vị đạt tỷ lệ 97% đơn vị SDLĐ

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính về BHXH đã góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian, giảm phiền hà cho đơn vị SDLĐ

và NLĐ

* Khó khăn:

- Việc điều tra, khảo sát nắm doanh nghiệp, lao động đang hoạt động trên địa bàn chưa chặt chẽ, còn nhiều bất cập Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế chỉ cung cấp cho cơ quan BHXH số doanh nghiệp đang hoạt động hoặc thành lập mới, không

có số lao động; Liên đoàn Lao động chỉ cung cấp một số doanh nghiệp có quy mô lớn; Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã phân cấp việc quản lý lao động cho huyện, thành phố nhưng thực hiện điều tra báo cáo chưa kịp thời; tỉnh chưa có phần mềm quản lý lao động

Trang 25

- Doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, đa số

sử dụng lao động gia đình không giao kết hợp đồng lao động; luôn né tránh việc đóng BHXH cho NLĐ Một số doanh nghiệp chỉ đóng BHXH cho bộ phận quản lý, công nhân có tay nghề cao, số còn lại chỉ thuê mướn lao động công nhật không ký hợp đồng lao động Tình hình sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp còn khó khăn, nhiều doanh nghiệp thu hẹp quy mô sản xuất, đóng cửa, ngừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng

- Chính sách BHXH thường xuyên thay đổi, bổ sung về điều kiện hưởng, đối tượng tham gia, mức tiền lương… Trong khi đó, công tác thông tin tuyên truyền của

cơ quan thông tin đại chúng nói chung và cơ quan BHXH nói riêng chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra làm công tác triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn và bất cập

- Chế tài trong xử lý vi phạm về đóng BHXH chưa đủ sức răn đe; công tác thanh tra, kiểm tra còn chưa mạnh, chưa sâu và chưa thường xuyên Việc xử lý thiếu triệt để bởi nhiều nguyên nhân như: quy định pháp luật chưa chặt chẽ, khó thực hiện dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật BHXH còn phổ biến Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc trong việc thanh tra, kiểm tra về BHXH còn lỏng lẻo và mang tính hình thức Đội ngũ công chức, viên chức ngành BHXH làm công tác kiểm tra còn mỏng và thiếu ổn định, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Chức năng thanh tra về BHXH thuộc Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội, nhưng do lực lượng còn mỏng nên công tác thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về BHXH đối với các doanh nghiệp còn ít

- Tuy đã thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin nhưng vẫn chưa đạt được theo yêu cầu đặt ra, trong quản lý còn manh mún, chưa tập trung được cơ sở dữ liệu toàn quốc, chưa kết nối được với dữ liệu về doanh nghiệp, lao động của các ngành

có liên quan

- Việc chuyển đổi tác phong làm việc từ hành chính, cứng nhắc, thụ động sang phục vụ còn chậm, hiệu quả chưa cao Mặt khác, số viên chức làm công tác thu BHXH bắt buộc hiện nay rất ít, trong khi phải hoàn thành số tiền thu lớn nên thiếu viên chức bám sát cơ sở để giải thích, tuyên truyền vận động, giám sát tham gia BHXH bắt buộc

- Nhận thức của nhiều người đối với chính sách BHXH còn nhầm lẫn với nhiều loại hình bảo hiểm khác, còn cho BHXH là loại hình kinh tế mục tiêu là lợi

Trang 26

nhuận; chưa thật sự hiểu bản chất BHXH là đơn vị sự nghiệp đặc thù thực hiện chính sách xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận và nhằm mục đích an sinh xã hội

1.3.3 Cơ chế giám sát và chế tài thu nộp bảo hiểm xã hội 5

1.3.3.1 Cơ chế giám sát

Trên cơ sở nhiệm vụ của công tác thu là phải thu đúng, thu đủ và rõ ràng minh bạch nhằm đảm bảo tính công bằng và quyền lợi giữa những người tham gia BHXH Do đó, cơ chế giám sát và chế tài thu nộp BHXH là rất quan trọng mà hơn hết là vai trò của cơ quan BHXH cần phải tổ chức theo dõi quá trình lương tham gia BHXH của từng người, đơn vị để làm cơ sở cho việc tính mức hưởng BHXH theo quy định

Cơ quan BHXH thường xuyên đối chiếu, kiểm tra, rà soát xác định lại danh sách đăng ký của đơn vị Thông qua danh sách đăng ký lao động của chủ SDLĐ, cơ quan BHXH phải đối chiếu trực tiếp với các chứng từ, hồ sơ liên quan đến từng đối tượng trong danh sách đăng ký; xác định chính xác đối tượng tham gia và mức tham gia của từng NLĐ trong quá trình thực hiện Khâu thực hiện trong quy trình thu BHXH là khâu quan trọng đối với những cán bộ trực tiếp làm công tác thu BHXH ở cấp tỉnh, huyện Sau khi thực hiện thu BHXH đối với các đơn vị, theo từng kỳ, cơ quan BHXH có trách nhiệm phải đối chiếu, xác định chính xác số công nợ đã trích nộp Để có thể đối chiếu với số liệu mà đơn vị SDLĐ trích nộp, cán bộ chuyên quản phải căn cứ vào các chứng từ chuyển tiền, nộp tiền của đơn vị; các giấy báo có của ngân hàng, kho bạc; các quyết định điều chuyển, tăng, giảm mức trích nộp BHXH của từng NLĐ Trên cơ sở số liệu đã được đối chiếu một cách chuẩn xác, cơ quan BHXH có trách nhiệm chốt cơ sở dữ liệu và thông báo kết quả đóng BHXH gửi đơn

vị để phối hợp lại số liệu nếu không khớp đúng thì đối chiếu lại

Định kỳ cuối năm tài chính, cơ quan BHXH thông báo tình hình nộp BHXH đến từng lao động (in thông báo gửi) để NLĐ kiểm tra lại diễn biến tiền lương và quá trình tham gia BHXH trong năm của mình

Với quy trình đối chiếu như trên cho thấy việc kiểm soát đối với đơn vị SDLĐ được thực hiện một cách chính xác, đảm bảo khâu xác nhận về công nợ và tình hình thực hiện nhiệm vụ thu nộp BHXH được hoàn chỉnh, giảm tới mức thấp nhất những sai sót trong quá trình khai báo

5 Quyết định 959/QĐ-BHXH ngày 09/ 9/2015 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam

Trang 27

Trên cơ sở dữ liệu đối chiếu hàng tháng, chuyên quản thu thực hiện đôn đốc đơn vị nộp tiền theo quy định

- Trường hợp đơn vị nợ từ 02 tháng tiền đóng, đối với phương thức đóng hằng tháng; 04 tháng, đối với phương thức đóng hằng quý; 07 tháng, đối với phương thức đóng 06 tháng một lần, cán bộ thu trực tiếp đến đơn vị để đôn đốc; gửi văn bản đôn đốc 15 ngày một lần Sau 2 lần gửi văn bản mà đơn vị không nộp tiền, chuyển hồ sơ đơn vị đến Phòng/Tổ Khai thác và thu nợ tiếp tục xử lý

Phòng Khai thác và Thu nợ tiếp nhận hồ sơ từ Phòng Quản lý thu chuyển đến, phân tích, đối chiếu với dữ liệu trong ứng dụng quản lý nợ, lập kế hoạch thu nợ

và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ đối với từng đơn vị nợ

a) Đối với đơn vị nợ kéo dài:

- Lập Biên bản đối chiếu thu nộp BHXH, BHYT, BHTN (Mẫu C05-TS); trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập biên bản, nếu đơn vị không nộp tiền thì phối hợp với Phòng/Tổ Kiểm tra báo cáo Giám đốc ra quyết định thanh tra đóng BHXH, BHYT, BHTN, xử lý vi phạm theo quy định

- Kết thúc thanh tra, nếu đơn vị không nộp tiền, lập văn bản báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp và cơ quan có thẩm quyền để áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật

- Đối với chủ đơn vị là người nước ngoài vi phạm pháp luật có dấu hiệu bỏ trốn thì phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp ngăn chặn bỏ trốn

- Thông báo danh sách đơn vị cố tình không trả nợ trên các phương tiện thông tin đại chúng

b) Đối với nhóm nợ khó thu:

Sau khi hoàn thiện hồ sơ xác định nợ theo quy định nêu trên và thực hiện thu nợ; Phòng/Tổ khai thác và thu nợ lập danh sách đơn vị mất tích, đơn vị không còn hoạt động và đơn vị không có người quản lý, điều hành; đơn vị chấm dứt hoạt động; đơn vị giải thể, phá sản, chuyển cho Phòng/Tổ Quản lý thu để thực hiện chốt số tiền phải đóng và tiền lãi chậm đóng đến thời điểm đơn vị ngừng hoạt động; mở sổ theo dõi và xử lý nợ theo hướng dẫn riêng

1.3.3.2 Chế tài thu nộp

Trong đời sống kinh tế - xã hội các quy định của pháp luật thường được các chủ thể pháp luật nghiêm chỉnh thực hiện Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn có các chủ thể bất chấp các quy định của pháp luật dẫn đến

vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật là hành vi của các cá nhân hoặc tổ chức cụ

Trang 28

thể, được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động Thông qua những

hành động hay không hành động cụ thể mới bị coi là hành vi vi phạm pháp luật.“Vi phạm pháp luật là hành vi trái luật, có lỗi do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ” 6

Vậy, một khi chủ thể pháp luật có hành vi vi phạm pháp luật thì sẽ có các hình thức xử lý tương ứng với các hành vi của các chủ thể, các quá trình xử lý được giao cho một cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền để thực hiện quyền lực Nhà nước, thay mặt Nhà nước để xử lý Các chế tài hiện hành để áp dụng cho các chủ thể vi phạm pháp luật liên quan đến BHXH tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra mà có thể xử phạt vi phạm hành chính; kỷ luật hay truy cứu trách nhiệm hình sự

a Xử phạt vi phạm hành chính

Cơ quan BHXH nếu trong quá trình kiểm tra, thực hiện nhiệm vụ mà phát hiện hành vi vi phạm pháp luật BHXH về đóng BHXH, BHYT, BHTN của đơn vị SDLĐ có thể khởi kiện ra tòa án có thẩm quyền hoặc xử lý trước khi khởi kiện theo quy định thực hiện theo Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/20137

và Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 của Chính phủ đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực BHXH như sau:

Điều 26 Vi phạm quy định về đóng BHXH bắt buộc, BHTN

- Đối với NLĐ: phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với NLĐ có hành vi thỏa thuận với NSDLĐ không tham BHXH bắt buộc, BHTN hoặc tham gia không đúng mức quy định Đồng thời, buộc truy nộp số tiền BHXH bắt buộc, BHTN vào quỹ BHXH

- Đối với NSDLĐ: phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, BHTN tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với NSDLĐ có một trong các hành vi: chậm đóng, đóng không đúng mức quy định, đóng không đủ số người tham gia BHXH bắt buộc, BHTN; phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, BHTN tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá

Trang 29

75.000.000 đồng đối với NSDLĐ không đóng BHXH bắt buộc, BHTN cho toàn bộ NLĐ thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, BHTN Đồng thời, buộc truy nộp số tiền BHXH bắt buộc, BHTN chưa đóng, chậm đóng và số tiền lãi đối với hành vi vi phạm theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH trong năm đối với vi phạm nêu trên

Điều 27 Vi phạm quy định về lập hồ sơ để hưởng chế độ BHXH

- Đối với NLĐ: phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với NLĐ

có hành vi kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa những nội dung có liên quan đến việc hưởng BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHTN Đồng thời, buộc nộp lại cho tổ chức BHXH số tiền BHXH đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm

- Đối với NSDLĐ: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với NSDLĐ có hành vi giả mạo hồ sơ BHXH để hưởng chế độ BHXH đối với mỗi hồ

sơ hưởng BHXH giả mạo và buộc nộp lại cho tổ chức BHXH số tiền BHXH đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm

Điều 28 Vi phạm các quy định khác về BHXH

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 800.000 đồng đối với NSDLĐ có một trong các hành vi sau đây: không cung cấp tài liệu, thông tin về BHXH bắt buộc, BHTN theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; không cung cấp tài liệu, thông tin về BHXH bắt buộc, BHTN của NLĐ khi NLĐ hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu

Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng khi vi phạm với mỗi NLĐ đối với NSDLĐ có một trong các hành vi sau đây: không trả chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ của NLĐ; không trả chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định chi trả của cơ quan BHXH; làm mất mát, hư hỏng, sửa chữa, tẩy xóa sổ BHXH Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng khi vi phạm với mỗi NLĐ đối với NSDLĐ có một trong các hành vi: không lập hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc, BHTN cho NLĐ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng; không lập hồ sơ hoặc văn bản đề nghị cơ quan BHXH: giải quyết chế độ hưu trí trước 30 ngày, tính đến ngày NLĐ đủ điều kiện nghỉ việc hưởng hưu trí; giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau

30 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ của NLĐ

Trang 30

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với NSDLĐ có hành

vi sử dụng quỹ BHXH sai mục đích Đồng thời, buộc nộp lại lợi nhuận từ hành vi này

Trình tự xử lý được thực hiện như sau 8 :

Thứ nhất, lập biên bản về hành vi vi phạm

- Đơn vị tham gia BHXH, BHYT, BHTN nợ đến 03 tháng tiền đóng đối với đơn vị đóng hằng tháng, 06 tháng đối với đơn vị đóng hằng quý, 09 tháng đối với đơn vị đóng 06 tháng một lần thì cán bộ chuyên quản thu liên hệ và trực tiếp đến đơn vị để đôn đốc, đối chiếu thu nộp và lập biên bản đối chiếu thu nộp 03 lần Sau

đó tiếp tục gửi văn bản đôn đốc đơn vị, 15 ngày gửi văn bản đôn đốc một lần; đồng thời, gửi cho Tổ thu nợ của BHXH tỉnh, BHXH huyện phối hợp thực hiện cho đến khi thu nợ xong

- Trường hợp phát hiện đơn vị không còn tồn tại, không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không thực hiện các thủ tục báo giảm, giải quyết chế độ BHXH, BHYT cho NLĐ thì Phòng hoặc bộ phận Thu báo cáo Giám đốc BHXH, để báo cáo Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý Nhà nước về lao động cùng cấp kiểm tra, lập biên bản xác định thời điểm đơn vị ngừng tham gia BHXH, BHYT do không còn tồn tại, không tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh; căn cứ biên bản kiểm tra, cơ quan BHXH chốt số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN đến thời điểm đơn vị ngừng hoạt động và dừng tính lãi chậm đóng, dừng tính số phải thu phát sinh

Nếu sau khi cơ quan BHXH đã báo cáo nhưng Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý Nhà nước về lao động không phối hợp kiểm tra thì cơ quan BHXH thành lập đoàn và thực hiện kiểm tra, lập biên bản có chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng trụ sở

Thứ hai, phối hợp, kiến nghị xử phạt vi phạm hành chính

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra văn bản kết luận sau kiểm tra ghi nhận trong biên bản về sai phạm nêu trên, NSDLĐ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ BHXH thì cơ quan BHXH có trách nhiệm lập văn bản đề nghị Chánh Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH

Thứ ba, kiến nghị áp dụng biện pháp buộc trích tiền nộp bảo hiểm xã hội

Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

8 Quyết định số 1313/QĐ-BHXH ngày 22/11/2011 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành Quy định công tác kiểm tra của BHXH Việt Nam

Trang 31

mà NSDLĐ không tự nguyện nộp hoặc đã nộp nhưng chưa đủ số tiền phải nộp cho

cơ quan BHXH thì Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm

đề xuất với người có thẩm quyền: Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chánh Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội áp dụng biện pháp buộc trích tiền truy nộp vào quỹ BHXH

Thứ tư, khởi kiện ra tòa

Sau khi thực hiện các bước trên mà đơn vị SDLĐ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền BHXH thì cơ quan BHXH nộp đơn khởi kiện đơn vị SDLĐ ra Tòa án có thẩm quyền

Quy trình thực hiện hồ sơ, thủ tục khởi kiện ra tòa án:

- Xác định Tòa án có thẩm quyền

Căn cứ theo quy định tại các Điều 33, 34, 35, 36 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về BHXH giữa cơ quan BHXH và đơn vị SDLĐ là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh

Cơ quan BHXH gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nơi đơn vị SDLĐ có trụ sở làm việc hoặc thỏa thuận với đơn vị SDLĐ bằng văn bản về việc nộp đơn khởi kiện tại nơi cơ quan BHXH có trụ sở làm việc

Nếu tranh chấp có phát sinh từ hoạt động của chi nhánh của cơ quan, tổ chức thì cơ quan BHXH có thể yêu cầu Tòa án nơi đơn vị SDLĐ có trụ sở hoặc nơi đơn

vị SDLĐ có chi nhánh để giải quyết

- Lập đơn khởi kiện

Đơn khởi kiện phải lập theo mẫu đúng quy định của pháp luật Đơn khởi kiện phải do Giám đốc BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký tên và đóng dấu Giám đốc BHXH có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác đại diện cho

cơ quan BHXH khởi kiện đơn vị SDLĐ ra tòa

Nội dung đơn khởi kiện phải rõ ràng, các số liệu phải chính xác; chú ý thời hiệu khởi kiện còn không (đây là vấn đề rất quan trọng); những tài liệu kèm theo phải đảm bảo tính pháp lý đầy đủ

- Tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện

+ Biên bản kiểm tra, thanh tra của cơ quan BHXH, cơ quan quản lý nhà nước

về lao động

+ Biên bản đối chiếu số liệu thu BHXH, BHYT, BHTN (mẫu C05-TS): từ đủ

Trang 32

- Đối với công chức không giữ chức vụ quản lý nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau: khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; buộc thôi việc Đối với công chức giữ chức vụ quản lý ngoài các hình thức trên còn có thêm hình thức giáng chức; cách chức10

- Đối với viên chức không giữ chức vụ quản lý nếu có hành vi vi phạm pháp luật tùy theo mức độ vi phạm bị áp dụng một trong các hình thức kỷ luật sau: khiển trách; cảnh cáo; buộc thôi việc Đối với viên chức giữ chức vụ quản lý ngoài các hình thức trên còn có thêm hình thức cách chức11

không có điều luật

và tội danh riêng cho các tội phạm trong lĩnh vực BHXH, BHYT Luật BHXH và Luật BHYT tuy có quy định về các hành vi vi phạm và có quy định có thể cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cũng không có quy định cụ thể về các tội phạm này Do đó, người vi phạm có thể bị truy cứu bởi các tội danh chung chung trong

Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định: tội lợi dụng chức

vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281); tội lợi dụng chức vụ quyền

9

Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2012

10 Điều 8, Chương III, Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về việc xử lý

kỷ luật đối với công chức

11 Điều 9, Chương II, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức

12 Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 ngày 21/12/1999 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự có hiệu lực thi hành từ 01/01/2010

Trang 33

hạn gây ảnh hưởng đến người khác để trục lợi (Điều 283); tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285); tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 267); tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận các tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 266)

Tuy nhiên, việc viện dẫn các điều luật chung này khi xử lý hình sự cũng không thật sự phù hợp xét về tội danh và về khung hình phạt; đồng thời, cũng chưa đảm bảo yêu cầu phân hóa trách nhiệm hình sự Riêng đối với nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN, do không có tội danh tương ứng trong

Bộ luật Hình sự nên hiện vẫn chưa thể xử lý hình sự được Chính vì lẽ đó, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 đã bổ sung

03 điều luật quy định tội danh riêng đối với những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH: Điều 214 quy định về “Tội gian lận BHXH, BHTN”; Điều 215 quy định về “Tội gian lận BHYT” và Điều 216 quy định về “Tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN”

Việc tội phạm hóa hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN và quy định tách riêng hai tội danh; Tội gian lận BHXH, BHTN, Tội gian lận BHYT trong Bộ luật Hình sự năm 2015 đã khắc phục được khoảng trống trong xử lý nhóm hành vi

vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN và khắc phục đáng kể hạn chế của

Bộ luật Hình sự năm 1999 khi quy định tội danh riêng để xử lý đối với nhóm hành

vi vi phạm quyền thụ hưởng BHXH, BHYT, BHTN Việc bổ sung những tội danh riêng cho lĩnh vực BHXH, BHYT là phù hợp với yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực BHXH, BHYT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, khi ý thức tuân thủ pháp luật về BHXH, BHYT còn chưa cao, dẫn đến tình trạng chây ỳ, trốn tránh nghĩa vụ đóng hoặc cố tình trục lợi từ các quỹ BHXH, BHYT

Việc Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung tội danh trốn đóng BHXH, BHTN, BHYT không những thể hiện quan điểm của cơ quan lập pháp về việc cần phải bảo

vệ lĩnh vực BHXH, BHYT bằng pháp luật hình sự, mà còn cho thấy quan điểm lập pháp hình sự Việt Nam đang tiệm cận tới quan điểm quốc tế đối với việc bảo vệ lĩnh vực BHXH, BHYT trong bối cảnh hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay Việc bổ sung tội danh này cho phép xử lý những hành vi không đóng, không đóng đầy đủ số người, số tiền hoặc không đóng đúng thời gian quy định mà trước đây chưa xử lý được do không có tội danh tương ứng để áp dụng Quy định bổ sung Điều 216 Bộ luật Hình sự tạo cơ sở pháp lý để xử lý đối với cá

Trang 34

nhân NSDLĐ; cho phép xử lý đối với pháp nhân thương mại cố tình trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm gây thiệt hại về quyền lợi cho NLĐ Việc có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi cố tình trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH, BHYT, BHTN của cá nhân và pháp nhân thương mại sẽ góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với chính sách BHXH, BHYT của Nhà nước

Tiểu kết luận Chương 1

Chính sách BHXH có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hệ thống an sinh xã hội, BHXH gắn kết giữa phát triển kinh tế với thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho NLĐ và các thành viên trong gia đình vượt qua những khó khăn do ốm đau, tai nạn, mất việc làm hay già cả… góp phần ổn định xã hội

Tuy nhiên, nhận thức của NSDLĐ và NLĐ về quyền lợi và nghĩa vụ BHXH không đầy đủ nên ý thức tuân thủ pháp luật BHXH của cả NLĐ và NSDLĐ chưa cao Nhiều NSDLĐ có nhận thức về BHXH nhưng vẫn cố tình trốn đóng BHXH hoặc chây ỳ Phần lớn do NSDLĐ là các doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh bền vững mà chủ yếu là làm ăn theo kiểu “chộp giật” chỉ muốn càng thu được nhiều lợi nhuận hiện tại càng tốt

Về phía NLĐ, mặc dù thấy lợi ích hiển nhiên của BHXH đối với bản thân và gia đình nhưng vẫn có một bộ phận NLĐ không đóng BHXH Do chỉ quan tâm đến thu nhập và cuộc sống trước mắt, chưa có ý thức phòng thân, lo xa; một bộ phận nhầm lẫn BHXH với các bảo hiểm thương mại khác, nên thiếu niềm tin vào chính sách BHXH, hoài nghi về khoản tiền đã đóng góp sẽ có hiệu quả thế nào Một số ít các trường hợp NLĐ trốn đóng do ý thức tuân thủ kém là vì họ không kỳ vọng sống đến khi nhận được tiền lương hưu

Do vậy, để tổ chức và cá nhân nắm bắt được ý nghĩa to lớn của chính sách, chế độ BHXH thì công tác thông tin tuyên truyền của các cấp, các ngành mà đặc biệt là cơ quan BHXH là rất quan trọng Khi nhận thức của đại bộ phận người dân, NLĐ và NSDLĐ được nâng lên rõ rệt sẽ tác động tích cực đến việc bảo toàn quỹ BHXH, giảm bớt tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH đã và đang gây khó khăn cho việc thực thi pháp luật BHXH như hiện nay

Trang 35

Chương 2: Thực trạng và giải pháp thực thi pháp luật về bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Cà Mau

2.1 Khái quát các loại hình vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội điển hình trên phạm vi cả nước

Từ khi Luật BHXH có hiệu lực13, tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH có diễn biến phức tạp Theo thống kê từ năm 2007-2016, BHXH Việt Nam

đã tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH với 103.199 lượt đơn vị SDLĐ Qua kiểm tra, phát hiện đề nghị xử phạt vi phạm hành chính về BHXH 7.765 vụ và đã xử phạt vi phạm hành chính 2.020 vụ; đề nghị truy thu về quỹ BHXH 331,5 tỷ đồng Ngoài ra, các hành vi gian lận, khai man, lập hồ sơ BHXH khống để hưởng chế độ BHXH Điển hình, một số hành vi vi phạm pháp luật BHXH như:

Thứ nhất, vi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động:

- Hành vi không đóng BHXH: người SDLĐ lách luật bằng cách hợp đồng miệng hoặc kí liên tiếp chuỗi hợp đồng theo thời vụ hoặc hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng hoặc kéo dài thời gian thử việc Vì theo quy định của Luật BHXH năm 2006, NLĐ có hợp đồng lao động dưới 03 tháng không phải tham gia BHXH bắt buộc Trước khi Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016, thủ đoạn này xảy ra khá phổ biến ở các doanh nghiệp vừa, nhỏ và hộ gia đình Với thủ đoạn lợi dụng kẽ hở này của pháp luật, đơn vị SDLĐ không phải đăng ký tham gia BHXH bắt buộc cho NLĐ nhằm trốn đóng BHXH, trường hợp bị phát hiện thì chấp nhận nộp phạt

- Hành vi đóng BHXH không đúng thời gian quy định: theo quy định của Luật BHXH trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng lao động, NSDLĐ có trách nhiệm lập hồ sơ nộp lên cơ quan BHXH để đóng BHXH cho NLĐ Nhưng trên thực tế, có những hợp đồng lao động ký kết từ lâu chủ SDLĐ vẫn không lập hồ

13 Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2007

Trang 36

một chút) Với thủ đoạn này, các doanh nghiệp đã trốn đóng một khoản tiền BHXH

mà theo quy định pháp luật họ phải đóng cho cơ quan BHXH

- Hành vi đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH: trên thực tế không ít doanh nghiệp chỉ đăng ký tham gia BHXH cho một số lao động ở các vị trí chủ chốt

Thứ hai, nợ bảo hiểm xã hội:

Lợi dụng cơ chế, chính sách BHXH còn có kẽ hở; chế tài xử lý nợ BHXH, chậm đóng BHXH cho NLĐ chưa nghiêm nên doanh nghiệp cố tình chây ỳ không đóng, chiếm dụng BHXH của NLĐ Do quy định mức phạt lãi suất nợ BHXH và mức phạt tối đa đối với hành vi chậm đóng BHXH thấp nên nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng các quy định này chiếm dụng tiền BHXH của NLĐ Doanh nghiệp sử dụng

số tiền đó để đầu tư trở lại sản xuất, kinh doanh và chấp nhận nộp phạt

Thứ ba, gian lận để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội:

- Làm khống, giả mạo hồ sơ BHXH làm căn cứ cho việc thanh toán chế độ

ốm đau, thai sản nhằm chiếm đoạt tiền BHXH bằng cách làm giả giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH, giấy ra viện, giấy khám thai hoặc sửa chữa, tẩy xóa các loại giấy tờ này hoặc móc nối với cơ sở y tế để được cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH, giấy ra viện, giấy khám thai không đúng quy định làm căn cứ thanh toán tiền trợ cấp ốm đau, thai sản Điển hình, việc “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và

“làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” xảy ra tại Hồ Chí Minh, năm 201514

là một ví vụ cụ thể:

Lê Thành Thắng, nguyên là nhân viên hợp đồng có thời hạn tại BHXH quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Do được phân công tiếp nhận và giao trả hồ sơ BHXH nên Thắng nắm rõ các quy định, thủ tục về việc lập hồ sơ đăng ký đóng BHXH bắt buộc, BHYT, chi trả tiền BHXH theo chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, BHXH một lần, nên Thắng đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trợ cấp BHXH bằng cách: từ tháng 12/2012 đến tháng 5/2015, Thắng cùng với vợ là Phạm Thị Ngọc Hằng lần lượt thành lập 10 doanh nghiệp trên địa bàn các Quận 1, 2, 3, 9, Thủ Đức, Bình Thạnh do Hằng và nhiều người thân đứng tên đại diện theo pháp luật Trong đó, Hằng đứng tên 03 doanh nghiệp, Lê Thị Anh Thư (em ruột Thắng) đứng tên 03 doanh nghiệp, Lê Thị Kiều Thu đứng tên 02 doanh nghiệp, Phạm Thị Ngọc Quyên đứng tên 02 doanh nghiệp Tất cả các doanh nghiệp này không hoạt

14 Theo Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2016

Ngày đăng: 17/05/2018, 23:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (1995), Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
21. Bùi Sỹ Lợi. Luật Việc làm phải hướng tới cơ hội việc làm bền vững. http://careerbuilder.vn/vi/talentcommunity/luat-viec-lam-phai-huong-toi-co-hoi-viec-lam-ben-vung.35A5130B.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Việc làm phải hướng tới cơ hội việc làm bền vững
22. Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
23. Nguyễn Thị Anh Thơ. Bộ luật Hình sự sửa đổi với việc quy định tội phạm về BHXH, BHYT, BHTN. Phó Viện trưởng Viện Khoa học BHXH, BHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự sửa đổi với việc quy định tội phạm về BHXH, BHYT, BHTN
20. Nhận diện một số thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và biện pháp phòng ngừa. http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/nhan-dien-mot-so-thu-doan-thuc-hien-hanh-vi-vi-pham-phap-luat-trong-linh-vuc-bhxh-va-bien-phap-phong-ngua-17088 Link
2. Quyết định số 99/QĐ-BHXH ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH địa phương Khác
3. Quyết định số 777/QĐ-BHXH ngày 17 tháng 5 năm 2010 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH Khác
4. Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 09 tháng 9 năm 2015 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Ban hành quy định về quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN;quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT Khác
5. Quyết định số 1111/QĐ-BHXH ngày 25 tháng 10 năm 2011 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, quy định quản lý thu BHXH, BHYT; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT Khác
6. Quyết định số 1313/QĐ-BHXH ngày 22 ngày 11 tháng 2011 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Ban hành Quy định công tác kiểm tra của BHXH Việt Nam Khác
7. Quyết định số 1518/QĐ-BHXH ngày 18 tháng 10 năm 2016 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, quy định về hoạt động thanh tra chuyên ngành đóng BHXH, BHTN, BHYT và hoạt động kiểm tra của BHXH Việt Nam Khác
8. Quyết định số 2352/1999/QĐ-BHXH ngày 28 tháng 9 năm 1999 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam về việc ban hành quy định về cấp, quản lý và sử dụng sổ BHXH Khác
9. Quyết định số 1213/QĐ-UBND ngày 01 tháng 8 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Ban hành Quy chế phối hợp công tác thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN Khác
11. Quy chế phối hợp số 3601/QCPH-TLĐ-BHXH ngày 20 tháng 9 năm 2016 giữa BHXH Việt Nam và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam về trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu trong việc khởi kiện ra Tòa án đối với những hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHYT, BHTN Khác
12. Quy chế phối hợp số 16/QCPH-LĐLĐ-BHXH ngày 30 tháng 11 năm 2016 giữa BHXH tỉnh Cà Mau và Liên đoàn Lao động tỉnh Cà Mau ký về trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu trong việc khởi kiện ra tòa án đối với những hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHYT, BHTN Khác
13. Quy chế phối hợp số 53/QCPH-BHXH-CA ngày 18 tháng 6 năm 2014 giữa BHXH tỉnh Cà Mau và Công an tỉnh Cà Mau đã ký về phối hợp phòng chống tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT Khác
14. Kết luận thanh tra số 01/KL-TT ngày 28/01/2015 của Thanh tra tỉnh Cà Mau Khác
15. Công văn số 105/TANDTC-PC-QLKH ngày 14 tháng 4 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn khởi kiện về nợ đọng BHXH Khác
16. Công văn số 143/TANDTC-KHXX ngày 21 tháng 9 năm 2011 của Tòa án nhân dân tối cao về việc một số vấn đề liên quan đến việc khởi kiện vụ án dân sự của cơ quan BHXH Khác
19. Báo cáo công tác kiểm tra của BHXH tỉnh Cà Mau từ năm 2012 đến năm 2016 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w