DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh BCTC Báo cáo tài chính CEO Tổng giám đốc điều hành DA Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh HĐKD Hoạt động kinh doanh HĐQT
Trang 1-
TRẦN TÂM ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2-
TRẦN TÂM ANH
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng luận văn: “Ảnh hưởng của Hội đồng quản trị độc
lập và kiểm soát gia đình đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu do chính tôi
thực hiện mà không có sự sao chép từ bất kỳ một nguồn tài liệu nào
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu các lý thuyết có liên quan và tham khảo các nghiên cứu trước đây của nhiều tác giả khác nhau Dữ liệu là dữ liệu thật trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, phương pháp ước lượng và kết quả đáng tin cậy
Tất cả các sản phẩm nghiên cứu của các người khác được sử dụng trong luận văn này đều được trích dẫn rõ ràng theo yêu cầu của nhà trường
Luận văn này được thực hiện lần đầu và chưa nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 11/10/2017
Tác giả
Trần Tâm Anh
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
I Lý do chọn đề tài 1
II Xác định vấn đề nghiên cứu 3
a Đối tượng nghiên cứu 3
b Mục tiêu nghiên cứu 3
c Câu hỏi nghiên cứu 3
d Phạm vi nghiên cứu 4
e Phương pháp nghiên cứu 4
III Đóng góp của luận văn 5
a Về mặt lý luận 5
b Về mặt thực tiễn 5
IV Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 7
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.2 Các nghiên cứu trong nước 12
1.3 Nhận xét 15
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 18
Trang 5CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN VÀ HÀNH VI QUẢN
TRỊ LỢI NHUẬN 19
2.1 Lợi nhuận 19
2.2 Hành vi quản trị lợi nhuận 19
2.2.1 Khái niệm 19
2.2.2 Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận – Cơ sở dồn tích 21
2.2.3 Thủ thuật quản trị lợi nhuận 23
2.2.4 Động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận 24
2.2.5 Các mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận 26
2.2.6 Các lý thuyết có liên quan 29
2.3 Khái niệm Hội đồng quản trị độc lập 33
2.4 Khái niệm kiểm soát gia đình 34
TỔNG KẾT CHƯƠNG 2 35
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Quy trình nghiên cứu 36
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 36
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 37
3.2 Giả thiết nghiên cứu 38
3.2.1 Hội đồng quản trị độc lập 38
3.2.2 Kiểm soát gia đình 39
3.2.3 Biến tích hợp giữa hội đồng quản trị độc lập và kiểm soát gia đình 40
3.2.4 Quy mô công ty 41
3.2.5 Quy mô hội đồng quản trị 41
3.3 Mô hình nghiên cứu và đo lường các biến trong mô hình 42
Trang 63.4 Chọn mẫu và dữ liệu nghiên cứu 46
3.5 Phương pháp phân tích số liệu 47
TỔNG KẾT CHƯƠNG 3 49
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 50
4.1 Xử lý số liệu 50
4.2 Kết quả thống kê mô tả 51
4.3 Phân tích tương quan 53
4.4 Phân tích hồi quy 56
4.4.1 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 56
4.4.2 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 60
4.5 Thảo luận về kết quả nghiên cứu 63
TỔNG KẾT CHƯƠNG 4 65
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 66
5.1 Kết luận 66
5.2 Gợi ý chính sách 66
5.3 Hạn chế đề tài và định hướng nghiên cứu trong trương lai 70
5.3.1 Hạn chế đề tài 70
5.3.2 Định hướng nghiên cứu trong tương lai 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
BCTC Báo cáo tài chính
CEO Tổng giám đốc điều hành
DA Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
HĐKD Hoạt động kinh doanh
HĐQT Hội đồng quản trị
HOSE Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
NDA Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được
QMHD Quy mô hội đồng quản trị
QTLN Quản trị lợi nhuận
ROA Tỉ số lợi nhuận trên tài sản
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu đề xuất 37
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 42
Bảng 3.1 Mô tả cách đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu 45
Bảng 4.2 Bảng thống kê mô tả các biến độc lập, biến giả 52
Bảng 4.3 Thống kê mô tả biến định tính kiểm soát gia đình 53
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan Pearson 54
Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến 55
Bảng 4.6 Hồi quy các biến theo mô hình Pooled OLS 56
Bảng 4.7 Hồi quy các biến theo mô hình FEM 57
Bảng 4.8 Hồi quy các biến theo mô hình REM 58
Bảng 4.9 Kiểm định Hausman 59
Bảng 4.10 Kiểm định Wald 59
Bảng 4.11 Kết quả hồi quy theo mô hình FGLS 60
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam
đã có những bước tiến quan trọng trong hội nhập quốc tế, ngày càng lớn mạnh và trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn đối với nhà đầu tư trong và ngoài nước Năm
2017, nền kinh tế trong nước có nhiều dấu hiệu tăng trưởng tích cực, hứa hẹn nhiều triển vọng lạc quan đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Một trong những yếu tố quan trọng mà nhà đầu tư quan tâm là chỉ tiêu lợi nhuận, qua đó đánh giá hiệu quả kinh doanh và triển vọng tăng trưởng của công ty Chỉ tiêu lợi nhuận được coi là chỉ số tài chính quan trọng nhất cho các quyết định đầu tư bền vững Chính vì vậy, các công ty, đặc biệt là các công ty niêm yết thường
có xu hướng làm đẹp báo cáo tài chính (BCTC), đặc biệt là việc thổi phồng kết quả kinh doanh Trường hợp gần đây nhất là việc Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai vừa có giải trình về chênh lệch 118 tỷ đồng lợi nhuận giữa BCTC hợp nhất quý 2 trước và sau khi soát xét Theo Quang Thắng (2017): “Trong công văn gửi Ủy ban chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán TP HCM (HOSE), Hoàng Anh Gia Lai (HAG) đã lý giải nguyên nhân dẫn tới khoản chênh lệch lợi nhuận 118
tỷ đồng giữa BCTC hợp nhất quý II do công ty lập và báo cáo đã được soát xét bởi Công ty Kiểm toán E&Y Theo đó, lý do dẫn tới khoản chênh lệch 118 tỷ đồng lợi nhuận của doanh nghiệp là do "sai sót trong khâu đánh máy văn bản” Cùng thời điểm, Sở giao dịch chứng khoán TP HCM đã có thông báo về việc đưa cổ phiếu HAG ra khỏi diện cảnh báo từ ngày 22/8, sau khoảng thời gian dài bị kiểm soát vì kết quả lợi nhuận lỗ ròng Những thông tin sai lệch về lợi nhuận sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của các bên liên quan
Thời gian gần đây, các công ty gia đình ngày càng khẳng định được vai trò
và vị thế trong các nền kinh tế Dựa trên thông tin được đưa ra tại Hội thảo “Chuyên nghiệp hóa doanh nghiệp gia đình” do báo Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức chiều 24/6/2017, có 100 doanh nghiệp gia đình lớn nhất Việt Nam đã đóng góp khoảng 1/4 GDP của cả nước Tại Hội thảo này, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương
Trang 10nghiệp gia đình đóng vai trò như một hạt nhân quan trọng của nền kinh tế Đặc biệt tại Việt Nam, những doanh nghiệp thành đạt nhất trong những năm qua là những doanh nghiệp tư nhân, những doanh nghiệp gia đình chứ không phải là doanh nghiệp nhà nước” Chính vì sự đóng góp quan trọng đó, mà việc nghiên cứu các vấn
đề xoay quanh các công ty gia đình nói chung và vấn đề về hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) nói riêng là cần thiết
Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan có quyền lực cao nhất trong doanh nghiệp, hoạch định những chiến lược, giám sát mọi hoạt động của doanh nghiệp Vai trò của HĐQT ngày càng quan trọng ở các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng HĐQT độc lập cung cấp sự giám sát hiệu quả hành vi QTLN Các nghiên cứu dựa trên số liệu của các công ty Mỹ và Anh cho thấy các công ty có HĐQT độc lập thường ít có hành vi QTLN (Peasnell et
al (2000), Dechow and Dichev (2002)) Bộ luật Sarbanes-Oxley (2002) đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải có sự độc lập của HĐQT để cải tiến chất lượng thông tin lợi nhuận bằng cách giảm hành vi QTLN Tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp
2014 nêu rõ trường hợp Công ty Cổ phần lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo mô hình: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc thì phải có ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty Thêm vào đó, nhiều nghiên cứu được thực hiện dựa trên
số liệu của các công ty niêm yết tại Việt Nam chỉ ra rằng sự độc lập của các thành viên HĐQT nâng cao khả năng giám sát và điều hành, giảm thiểu hành vi QTLN (Giáp Thị Liên (2004), Lê Văn Thừa (2017)) Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu chỉ ra rằng sự độc lập của HĐQT không tác động đến hành vi QTLN (Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp (2017)) Như vậy, hiệu quả giám sát của HĐQT độc lập liệu có ảnh hưởng đến hành vi QTLN trong các Công ty Cổ phần nói chung và các công ty chịu sự kiểm soát quyền sở hữu gia đình nói riêng
Trang 11của Hội đồng quản trị độc lập và kiểm soát gia đình đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty trên sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh”
II Xác định vấn đề nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của HĐQT độc lập và sự kiểm soát gia đình đến hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) trên BCTC tại các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP HCM (HOSE)
b Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Mục tiêu của nghiên cứu là thông qua nghiên cứu thực nghiệm để tìm hiểu và đánh giá ảnh hưởng của HĐQT độc lập và KSGĐ đến hành vi QTLN tại các công
ty trên HOSE
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Xác định mô hình ảnh hưởng của HĐQT độc lập và KSGĐ đến hành vi QTLN trên BCTC tại các công ty niêm yết trên HOSE
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến hành vi QTLN trên BCTC tại các công ty niêm yết trên HOSE
- Gợi ý chính sách hạn chế tác động tiêu cực của hành vi QTLN
c Câu hỏi nghiên cứu
- Các nhân tố HĐQT độc lập, KSGĐ liệu có ảnh hưởng đến hành vi QTLN hay không? Đối với các công ty chịu sự kiểm soát gia đình, hiệu quả giám sát của HĐQT độc lập có ảnh hưởng đến hành vi QTLN hay không?
- Cách đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi QTLN tại các công ty niêm yết trên HOSE?
- Giải pháp và chính sách nào hạn chế tác động tiêu cực hành vi QTLN tại các công ty niêm yết trên HOSE nói riêng và các Công ty Cổ phần tại Việt Nam nói chung?
Trang 12d Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu các công ty niêm yết trên
HOSE Tuy nhiên, tác giả trừ ra tất cả các công ty thuộc ngành Tài chính, Ngân hàng và Bảo hiểm, bởi vì các công ty thuộc ngành này có quy định hiện hành về lập
và trình bày BCTC không hoàn toàn đồng nhất với các ngành còn lại trong toàn bộ mẫu này
Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu được tiến hành trên báo cáo tài
chính và báo cáo quản trị của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
TP HCM giai đoạn 2013-2016
e Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực hiện theo phương pháp nghiên cứu định lượng:
- Tác giả nghiên cứu, phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước kết hợp với các cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả
Từ đó, xây dựng mô hình và các giả thiết nghiên cứu
- Thông qua quá trình thu thập dữ liệu trên BCTN của các công ty niêm yết trên HOSE và phân tích dữ liệu với sự hỗ trợ của phần mềm Excel và Stata 14.0
để xem xét mức độ ảnh hưởng và mối tương quan giữa các nhân tố trong mô hình Mục đích của nghiên cứu này dùng để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp với dữ liệu nghiên cứu và kiểm định các giả thiết trong mô hình cũng như đo lường mức độ ảnh hưởng của HĐQT độc lập và sự kiểm soát gia đình đến hành vi QTLN Từ dữ liệu đã thu thập, nghiên cứu sẽ thực hiện qua 2 giai đoạn, giai đoạn 1: Tiến hành đo lường biến phụ thuộc đại diện hành vi QTLN trong mô hình nghiên cứu Giai đoạn 2: Tiến hành phân tích hồi quy mô hình nghiên cứu thể hiện mối quan hệ giữa các nhân tố và hành vi QTLN Như vậy, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để giải quyết từng câu hỏi nghiên cứu như sau:
Để trả lời câu hỏi “Các nhân tố HĐQT độc lập và sự kiểm soát gia đình liệu
có ảnh hưởng đến hành vi QTLN? Đối với các công ty chịu sự kiểm soát quyền sở hữu gia đình, hiệu quả giám sát của HĐQT độc lập có ảnh hưởng đến hành vi
Trang 13Việt Nam Từ đó xác định các nhân tố HĐQT độc lập, sự kiểm soát gia đình và nhân tố HĐQT độc lập trong các công ty gia đình ảnh hưởng đến hành vi QTLN tại các công ty niêm yết trên HOSE và xây dựng mô hình nghiên cứu
Để trả lời câu hỏi Cách đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi QTLN tại các công ty niêm yết trên HOSE? luận văn sử dụng phương pháp định lượng thông qua các công cụ thống kê để tìm ra mô hình hồi quy nhằm xác định mối quan hệ HĐQT độc lập, sự kiểm soát gia đình, HĐQT độc lập trong các công ty chịu sự kiểm soát quyền sở hữu gia đình và hành vi QTLN
Căn cứ vào kết quả đo lường mức độ ảnh hưởng các nhân tố đến hành vi QTLN, cùng với cách tiếp cận suy diễn từ thực tế, tác giả trả lời câu hỏi giải pháp
và chính sách nào giúp hạn chế tác động tiêu cực của hành vi QTLN tại các công ty niêm yết trên HOSE nói riêng và các Công ty Cổ phần ở Việt Nam nói chung
III Đóng góp của luận văn
có sự kiểm soát gia đình và công ty không có sự kiểm soát gia đình
b Về mặt thực tiễn
Nghiên cứu trình bày và đánh giá thực trạng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC của các công ty niêm yết trên HOSE Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông tin có được cái nhìn về thông tin lợi nhuận chính xác hơn để làm cơ sở cho các quyết định
Trên cơ sở so sánh về vai trò của HĐQT độc lập nói riêng và quản trị công ty nói chung đối với các công ty có sự kiểm soát gia đình và không có sự kiểm soát gia đình, tác giả sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của hành vi
Trang 14trên BCTC
IV Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, luận văn gồm 5 chương:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận và hành vi quản trị lợi nhuận
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
- Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Inna Sousa Paiva, Isabel Costa Lourenco, Manuel Castelo Branco,
“Earnings management in family firms: current state of knowledge and
opportunities for future research”, Review of Accounting and Finance (2016)
Bằng phương pháp định tính, tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu trước đây
để đưa ra các đặc điểm của công ty gia đình, QTLN trong các công ty gia đình nhằm mục đích thúc đẩy và tạo điều kiện nghiên cứu trong tương lai Tác giả xem xét ba thước đo để nắm bắt các khía cạnh khác nhau của QTLN: Các khoản dồn tích bất thường, chất lượng dồn tích và việc che giấu các khoản lợi nhuận Trong khi hai chỉ số đo lường đầu tiên đo lường sự minh bạch của thông tin về lợi nhuận thì chỉ số thứ ba cho thấy các biện pháp quản lý đối với các khoản thu nhập được báo cáo
Bài báo đã đề cập nghiên cứu về QTLN trong các công ty gia đình bằng cách xác định các khuôn khổ lý thuyết chính được sử dụng Các nghiên cứu trước đây kiểm tra mức độ QTLN chủ yếu tập trung vào các công ty lớn nhất ở Mỹ và châu
Âu và họ thấy rằng các công ty gia đình có liên quan đến mức QTLN thấp hơn Ngược lại, các nghiên cứu thực nghiệm dựa trên các công ty từ Trung Quốc và Đài Loan cho thấy rằng quyền sở hữu gia đình gắn liền với việc QTLN cao hơn Sự khác biệt về mức độ tập trung quyền sở hữu và môi trường thể chế của các nước có thể giải thích cho sự đa dạng trong các phát hiện này
Như vậy, bài báo đã nghiên cứu về QTLN trong các công ty gia đình bằng cách sử dụng các khuôn khổ lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Tác giả chưa đưa ra các bằng chứng thực nghiệm chứng minh cho các kết luận đưa ra Đồng thời, tác giả chưa đề cập đến các khía cạnh thể chế có liên quan như thế nào đến thực tiễn QTLN trong các công ty gia đình
Trang 16independence and earnings management: Evidence based on Hong Kong firms”,
Journal of Accounting and Public Policy (2009)
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng biến HĐQT độc lập và biến tích hợp giữa HĐQT độc lập và kiểm soát gia đình là hai biến độc lập chính Tác giả sử dụng
mô hình Kothari et al (2005) để nhận diện, đo lường Biến phụ thuộc - Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được Kết quả cho thấy HĐQT độc lập có mối quan hệ nghịch biến với hành vi QTLN Tuy nhiên, hiệu quả giám sát của các giám đốc độc lập không điều hành giảm xuống trong các công ty kiểm soát gia đình, do sự tập trung quyền sở hữu gia đình hoặc do sự có mặt của các thành viên trong gia đình với tư cách là thành viên HĐQT Điều này cho thấy sự gia tăng tỷ lệ các giám đốc bên ngoài
để tăng sự giám sát của HĐQT là không hiệu quả trong các công ty gia đình
Bài báo đã đánh giá sự liên quan giữa tính độc lập của HĐQT và QTLN tại các công ty Hồng Kông Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu việc kiểm soát gia đình có ảnh hưởng đến sự kết hợp giữa thành phần HĐQT độc lập và chất lượng lợi nhuận Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa đề cập đến mối quan hệ giữa kiểm soát gia đình và hành vi QTLN Đặc biệt, nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 1998-2000, tác giả đưa ra kết luận kết quả có thể bị ảnh hưởng bởi biến kiểm soát ROA do điều kiện suy thoái kinh tế trong giai đoạn nghiên cứu
Pornsit Jiraporn, Peter J DaDalt, “Does Founding Family Control Affect
Earnings Management? An Empirical Note”, Applied Economics Letters (2009)
Trong nghiên cứu này, tác giả đã đặt ra giả thiết: Mức độ QTLN là thấp trong các công ty gia đình Tác giả lựa chọn mẫu bắt đầu bằng danh sách các công
ty do Anderson and Reeb cung cấp (2003a, 2003b, 2004) Danh sách này chứa hơn 1.500 công ty trong những năm 1990 và xác định mỗi công ty là công ty gia đình hoặc không có gia đình Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty sở hữu gia đình có một cấu trúc sở hữu rất bất thường Bằng chứng gần đây cho thấy rằng kiểm soát gia đình ảnh hưởng đến hiệu suất của công ty (Anderson and Reeb, 2003a, 2003b) Nghiên cứu này xem xét một vấn đề liên quan: Liệu các công ty do gia đình QTLN
Trang 17chỉ ra rằng QTLN thực sự xảy ra ở mức độ thấp hơn trong các công ty gia đình so với các công ty không phải là gia đình
Iszmi Ishak, Mohamad Nor Haron, Nik Mohamad Zaki Nik Salleh and
Azwan Abdul Rashid, “Family Control and Earnings Management: Malaysia
Evidence”, International Conference on Economics, Business and Management (2011)
Trong bài tạp chí này, tác giả khảo sát tác động chín biến độc lập: Sự kiểm soát gia đình, HĐQT độc lập, quy mô HĐQT, quy mô Ủy ban kiểm toán, Ủy ban kiểm toán với những người có kinh nghiệm về tài chính, số cuộc họp của Ủy ban kiểm toán, quy mô công ty kiểm toán, quy mô HĐQT, đòn bẩy tài chính và quy mô công ty Tác giả đã lựa chọn ngẫu nhiên 236 công ty niêm yết trên thị trường chính của Bursa Malaysia và sử dụng mô hình Modified Jones (1994) để nhận diện, đo lường biến phụ thuộc – biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được Kết quả cho thấy các biến kiểm soát gia đình, quy mô HĐQT, quy mô Ủy ban kiểm toán, quy
mô công ty có quan hệ đồng biến, trong khi đó, số cuộc họp của Ủy ban kiểm toán
có quan hệ nghịch biến đến hành vi QTLN Các biến HĐQT độc lập, Ủy ban kiểm toán với những người có kinh nghiệm về tài chính, quy mô công ty kiểm toán và đòn bẩy tài chính không có ý nghĩa thống kê
Tác giả đã khảo sát được sự ảnh hưởng của chín biến đối với hành vi QTLN, trong đó kiểm soát gia đình được tác giả nghiên cứu thể hiện bằng số giám đốc trong ban giám đốc có quan hệ gia đình với nhau Kết quả cho thấy có tác động đồng biến giữa kiểm soát gia đình và hành vi QTLN, có nghĩa là số thành viên gia đình trong ban giám đốc càng lớn thì hành vi QTLN càng cao Tuy nhiên, tác giả không xác định và so sánh ảnh hưởng của các nhân tố khác trong công ty là gia đình
và công ty không phải gia đình
A’ieshah Abdullah Sani & Nor’azam Mastuki, “The Influence of Family
Controlled and Board Independence towards Earnings Management in Malaysian Listed Family Firms”, Technology, Science, Social Sciences and Humanities
International Conference (2012)
Trang 18tịch HĐQT độc lập, mức độ kiểm soát quyền sở hữu gia đình, các biến kiểm soát: Quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, thành quả công ty và giá trị thị trường của tỷ lệ vốn chủ sở hữu Tác giả sử dụng mô hình Kothari et al (2005) để nhận diện, đo lường Biến phụ thuộc - Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được Kết quả cho thấy đòn bẩy tài chính và thành quả hoạt động của công ty có mối quan hệ đồng biến đối với hành vi QTLN, trong khi đó HĐQT độc lập, Chủ tịch HĐQT độc lập, quyền kiểm soát gia đình, quy mô công ty, giá trị thị trường của tỷ lệ vốn chủ sở hữu không ảnh hưởng đến hành vi QTLN
Park & Shin, “Board composition and earnings management in
Canada”, Journal of Corporate Finance (2004)
Nghiên cứu này đo lường sự ảnh hưởng của thành phần HĐQT đến QTLN Tác giả sử dụng mô hình của Dechow et al (1995) – Modified Jones để đo lường biến kế toán dồn tích với một mẫu gồm 539 quan sát tại các công ty Canada giai đoạn 1991 –1997 Tác giả nhận thấy lợi nhuận được quản lý theo chiều hướng tăng lên nhằm tránh sự tổn thất trên báo cáo và lợi nhuận bị tụt giảm Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của thành viên HĐQT đến từ các trung gian tài chính và sự hiện diện của cổ đông là tổ chức thì làm giảm hành vi QTLN Đồng thời, nghiên cứu còn cho thấy tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài làm tăng hành vi QTLN, trái ngược với quan điểm cho rằng tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài sẽ giúp HĐQT tăng tính độc lập, giải quyết xung đột lợi ích giữa cổ đông nhỏ và cổ đông lớn
Biao Xie, Wallace N Davidson III, Peter J DaDalt, “Earnings
management and corporate governance: the role of the board and the audit committee”, Journal of Corporate Finance (2003)
Bài tạp chí này kiểm tra vai trò của HĐQT, Ủy ban kiểm toán và ban điều hành trong việc ngăn chặn hành vi QTLN trên mẫu gồm 281 công ty trong các năm
1992, 1994 và 1996 từ S&P 500 Nghiên cứu đã kết luận rằng: Ủy ban kiểm toán và HĐQT độc lập, quy mô HĐQT, số lượng cuộc họp HĐQT, quy mô công ty có mối
Trang 19ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận (sự kiêm nghiệm CEO và Chủ tịch HĐQT, giám đốc bên ngoài có kinh nghiệm về luật pháp và tài chính, tỷ lệ phiếu bầu của các cổ đông lớn)
Roodposhti & Chashmi, “The impact of corporate governance mechanisms
on earnings management”, African Journal of Business Management (2011)
Nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của cơ chế quản trị công ty (bao gồm tập trung quyền sở hữu, HĐQT độc lập, kiêm nhiệm hai chức danh Giám đốc điều hành
và Chủ tịch HĐQT và cổ đông tổ chức) đến QTLN Quy mô công ty và đòn bẩy tài chính là các biến kiểm soát trong mô hình Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm 196 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran (TSE) từ năm 2004 đến
2008 Kết quả nghiên cứu cho thấy, giữa tập trung quyền sở hữu, HĐQT độc lập và kiêm nhiệm hai chức danh Giám đốc điều hành và Chủ tịch HĐQT với QTLN có tác động ngược chiều, trong khi các công ty có cổ phần thuộc sở hữu của tổ chức cao thì QTLN nhiều hơn Đồng thời, nghiên cứu cũng tìm thấy một quan hệ cùng chiều giữa các biến kiểm soát (quy mô công ty và đòn bẩy tài chính) và QTLN
Dwi Lusi Tyasing Swastika, “Corporate Governance, firm size, and
Earning management: Evidence in Indonesia Stock Exchange”, IOSR Journal of
Business and Management (2013)
Bài tạp chí đã khảo sát mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN, bao gồm: Số lượng thành viên trong HĐQT, tính độc lập của các thành viên, quy mô công ty và chất lượng công ty kiểm toán Tác giả đã sử dụng mô hình của Deshow (1995) với các biến dồn tích như đại diện cho hành vi QTLN để khảo sát
mô hình Kết quả cho thấy rằng, các biến về HĐQT có quan hệ đồng biến đối với hành vi QTLN, chất lượng kiểm toán và quy mô công ty có ảnh hưởng nghịch biến trong việc thực hiện hành vi QTLN
Trang 201.2 Các nghiên cứu trong nước
Huỳnh Thị Vân, “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các Công ty
Cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, Luận văn
thạc sĩ (2012)
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính là số liệu trên báo cáo tài chính năm 2008-2010 của các doanh nghiệp năm đầu niêm yết trên 2 sàn chứng khoán TP HCM và Hà Nội dựa trên 2 mô hình được lựa chọn là Mô hình DeAngelo (1986) và
Mô hình Friedlan (1994) Tác giả đã đưa ra 3 nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với những doanh nghiệp niêm yết gồm năm đầu niêm yết trên sàn chứng khoán, ưu đãi thuế, quy mô doanh nghiệp Qua khảo sát kết quả cho thấy rằng phần lớn các tổ chức niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán, điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết quan
hệ thuận chiều với điều kiện ưu đãi thuế TNDN mà doanh nghiệp được hưởng Trong khi đó, mức điều chỉnh lợi nhuận không ảnh hưởng bởi quy mô công ty Qua đó, tác giả cũng đưa ra các kiến nghị về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên báo cáo tài chính trong đó nhấn mạnh về vấn đề công bố thông tin
Phạm Thị Bích Vân, “Mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận
của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP HCM”, Tạp chí
kinh tế phát triển (2012)
Nghiên cứu đã phân tích sự phù hợp của mô hình Modified Jones trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của 54 doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP HCM trong năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình Modified Jones không hiệu quả trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE Thông qua phân tích môi trường vĩ mô của thị trường chứng khoán TP HCM nói riêng và Việt Nam nói chung, tác giả đã đề nghị một mô hình khác để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam, tác giả này đã thay biến TSCĐ bằng biến khấu hao
Trang 21hình nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam”, Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ (2015)
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều mô hình khác nhau để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý Trong đó, có ba mô hình được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới kế thừa gồm: Mô hình của Jones (1991), mô hình Jones cải tiến của Dechow, Sloan và Sweeney (1995) và mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005) Nghiên cứu này thực hiện kiểm định nhằm tìm ra mô hình phù hợp nhất để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam Qua đó, nhận diện xu hướng điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý các công ty này Kết quả kiểm định cũng cho thấy mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005) là phù hợp nhất trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam
Giáp Thị Liên, “Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi
điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán”, luận
văn thạc sĩ (2014)
Thông qua mẫu dữ liệu gồm 101 công ty niêm yết trên HOSE giai đoạn 2009 –2013, nghiên cứu đã sử dụng mô hình của Dechow et al (1995) để nhận diện hành
vi điều chỉnh lợi nhuận, sau đó thực hiện mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là hành
vi điều chỉnh lợi nhuận cùng 8 biến độc lập thuộc yếu tố quản trị công ty và 1 biến kiểm soát Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc tách vai trò Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc, tăng tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành, tăng tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập và tăng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của BGĐ sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận Đồng thời, các công ty có lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh càng lớn thì càng làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận Thêm vào đó, nghiên cứu không tìm ra mối quan hệ giữa quy mô công ty, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát không kiêm nhiệm chức vụ trong công ty, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn về tài chính - kế toán - kiểm toán, tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của Ban kiểm soát cũng như tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của thành viên HĐQT với hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Trang 22hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, Tạp chí khoa học Đại học Mở TP HCM (2017)
Nghiên cứu này xem xét tác động của các nhân tố HĐQT, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) của công ty đến hành vi QTLN dựa trên cơ sở dồn tích (Accrualbased Earnings Management) Tác giả sử dụng mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) để xác định biến phụ thuộc DA (biến
kế toán dồn tích có thể điều chỉnh – đại diện cho hành vi QTLN) của mô hình hồi quy
đa biến Kết quả nghiên cứu đã chứng minh được rằng độ lớn của HĐQT, tỷ lệ thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính, tỷ lệ thành viên nữ thuộc HĐQT có mối quan
hệ cùng chiều với biến dồn tích bất thường DA (Discretionary Accruals- đại diện của hành vi QTLN của người quản lý doanh nghiệp) Quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính và ROA có mối quan hệ ngược chiều với biến DA Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mô hình kiêm nhiệm hai chức danh (Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc điều hành), tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập không điều hành, số lần họp HĐQT không ảnh hưởng đến hành vi QTLN của người quản lý doanh nghiệp
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên số liệu Báo cáo tài chính và Báo cáo quản trị của 430 công ty phi tài chính đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giai đoạn 2010-2015
Trần Thị Vũ Tuyền, “Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị
lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ (2017)
Trong nghiên cứu này, tác giả đã khảo sát các biến độc lập: Mức độ tập trung quyền sở hữu, quyền sở hữu của nhà đầu tư tổ chức, quyền sở hữu của nhà quản lý, quyền sở hữu của nhà nước và quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, các biến kiểm soát: Quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, chất lượng kiểm toán Tác giả sử dụng mô hình Modified Jones của Dechow et al (1995) để tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh - đại diện hành vi QTLN Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng:
Tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý càng cao có tác động làm hạn chế hành vi QTLN; Tỷ
Trang 23của nhà đầu tư nước ngoài cũng có tác động tiêu cực đến hành vi quản trị tài chính; Đòn bẩy tài chính có tác động tích cực đến mức độ hành vi quản trị tài chính; Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và hành vi QTLN có quan hệ cùng chiều; Quy mô công ty, kiểm toán có tác động ngược chiều với hành vi QTLN
Lê Văn Thừa, “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận
trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ (2017)
Luận văn này nghiên cứu sự ảnh hưởng của 6 nhân tố: Đòn bẩy tài chính, đa dạng đầu tư, tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư, quy mô công ty, chất lượng kiểm toán và tỷ lệ độc lập HĐQT trong 4 năm: từ 2013 đến 2016 với mẫu quan sát là
270 công ty Mô hình Modified Jones của Dechow et al (1995) được vận dụng để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh – đại diện cho hành vi QTLN Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các nhân tố và hành vi QTLN, luận văn đã khảo sát nghiên cứu trước đây và những lý thuyết liên quan đến hành vi QTLN Kết quả cho thấy ba biến có quan hệ nghịch biến với hành vi QTLN (chất lượng kiểm toán, tỷ lệ độc lập HĐQT, quy mô công ty), 2 biến quan hệ đồng biến (đa dạng đầu tư, đòn bẩy tài chính)
và biến tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư bị loại khỏi mô hình nghiên cứu
1.3 Nhận xét
Trên đây, tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu trong nước và trên thế giới liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN Nhận thấy nhân tố kiểm soát gia đình và nhân tố tích hợp giữa HĐQT độc lập và sự tập trung sở hữu gia đình chỉ được tác giả Bikki Jaggi, Sidney Leung, Ferdinand Gul (2009) nghiên cứu và chưa nhận thấy nghiên cứu trong nước nào khảo sát nhân tố này Theo Kim Thủy (2015), từ năm 1986 đến nay, cùng với biến chuyển của nền kinh tế, hội nhập toàn cầu, những thành phần kinh tế ngoài nhà nước, các công ty gia đình Việt Nam đóng góp lớn vào sự thay đổi bộ mặt kinh tế Việt Nam khi đóng góp cùng những thành phần kinh tế ngoài quốc doanh khác gần 50% GDP cả nước, cho nên việc nghiên cứu về công ty gia đình là nghiên cứu cần
Trang 24tố: HĐQT độc lập, sự kiểm soát gia đình và nhân tố tích hợp HĐQT độc lập với kiểm soát gia đình đối với các công ty niêm yết trên HOSE
Ngoài nhân tố kiểm soát gia đình và HĐQT độc lập thì hành vi QTLN còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác, do đó một số biến kiểm soát được đưa vào mô hình hồi quy để đánh giá một cách có hiệu quả tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN Dựa vào các tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy hai nhân tố quy mô HĐQT và quy mô công ty có những xu hướng tác động khác nhau đến hành vi QTLN
Một số nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ giữa số lượng thành viên HĐQT và hành vi điều chỉnh lợi nhuận Hỗ trợ quan điểm quy mô HĐQT lớn sẽ cung cấp một
số lượng lớn các thành viên HĐQT có chuyên môn và kinh nghiệm giúp tăng vai trò giám sát, Xie et al (2003) cung cấp bằng chứng cho thấy công ty với quy mô HĐQT lớn sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận Ngược lại với kết quả trên, theo nghiên cứu của Bùi Văn Dương và cộng sự (2017), Rahman and Ali (2006) cho thấy một HĐQT nhỏ sẽ phát huy hiệu quả giám sát hơn, với quan điểm cho rằng quy mô HĐQT nhỏ thì các thành viên HĐQT sẽ tập trung hơn trong việc giải quyết bất kì vấn
đề nào phát sinh, hơn nữa quy mô HĐQT nhỏ sẽ giảm xung đột lợi ích giữa các thành viên Iszmi Ishak et al (2011), Swastika (2013), Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp (2017) kết luận rằng độ lớn HĐQT có quan hệ đồng biến đối với hành vi QTLN Kết quả nghiên cứu về quy mô HĐQT là khác nhau giữa các nghiên cứu, tác giả không
dự đoán được xu hướng tác động của quy mô HĐQT lên hành vi điều chỉnh lợi nhuận Chính vì vậy, tác giả lựa chọn nhân tố quy mô HĐQT để khảo sát lại
Quy mô công ty có ảnh hưởng đến QTLN Chen et al (2011) Nghiên cứu của Noe and Rebello (1996) đã kết luận rằng ở các công ty nhỏ, các nhà phân tích chịu sự bất đối xứng thông tin cao hơn và chắc chắn sẽ dẫn đến nhiều gian lận kế toán so với công ty lớn hơn Trong khi đó, công ty lớn cung cấp nhiều thông tin hơn
và được giám sát kỹ lưỡng bởi các nhà phân tích và nhà đầu tư nên họ có ít động lực
để QTLN (Xie, 2003; Rahman and Ali, 2006) Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp
Trang 25vi QTLN Tuy nhiên, công ty lớn có thể có nhiều cơ hội hơn để QTLN vì sự phức tạp của các hoạt động và những khó khăn cho các nhà quan sát để hiểu các hoạt động phức tạp (Swastika, 2013) Như vậy, tác giả sẽ khảo sát lại nhân tố quy mô công ty tác động như thế nào đến hành vi QTLN
Trang 26TỔNG KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu và xác định các vấn đề nghiên cứu cần thực hiện
Đối với ảnh hưởng của HĐQT độc lập và kiểm soát gia đình đến hành vi QTLN, đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới được thực hiện Tuy nhiên, có sự khác nhau về kết quả trong các nghiên cứu ở mỗi quốc gia khác nhau Đó là do ảnh hưởng của môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa Tại Việt Nam, đã có rất nhiều sự quan tâm đến hành vi QTLN và nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến QTLN Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về kiểm soát gia đình và ảnh hưởng của kiểm soát gia đình đến hiệu quả giám sát HĐQT, từ đó tác động đến hành vi QTLN Thêm vào đó, tác giả nhận thấy, Việt Nam là một đất nước đặc thù
và có sự đa dạng trong văn hóa gia đình, chính vì vậy, tác giả cho rằng sự kiểm soát gia đình sẽ ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty ở Việt Nam rất khác so với các nước bạn đã nghiên cứu Đây chính là điểm mới của luận văn mà tác giả muốn hướng đến
Trang 27CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN
VÀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN
2.1 Lợi nhuận
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí
Mục tiêu cuối cùng và quan trọng của một công ty theo lý thuyết là đạt tối đa lợi nhuận Có rất nhiều quan điểm về lợi nhuận, trong đó theo VAS 17 thì “lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán”
Như vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập
và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động đưa lại, là kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh và là chỉ tiêu chất lượng
để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp
Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi QTLN của các nhà quản trị trên báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên HOSE, vì thế, đề tài hướng đến nghiên cứu lợi nhuận dưới góc độ kế toán tài chính, nghĩa là lợi nhuận của công
ty đã được kiểm toán và công bố rộng rãi trên mạng thông tin đại chúng Đó là căn
cứ để xác định có hay không hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
2.2 Hành vi quản trị lợi nhuận
2.2.1 Khái niệm
Quản trị lợi nhuận là một vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và bình luận Tuy nhiên, vẫn không có sự đồng thuận về định nghĩa quản trị lợi nhuận (Beneish, 2001)
Theo Schipper (1989) thì QTLN là sự điều chỉnh lợi nhuận để đạt được mục tiêu đã đặt ra trước đó của nhà quản trị, đó là một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân
Trang 28Levit (1998) định nghĩa QTLN là một mảng tối mà ở đó kế toán đang bị làm sai do nhà quản trị đã “cắt gọt” các khía cạnh của nó theo ý muốn của họ Vì vậy, báo cáo lãi lỗ phản ánh mong muốn của nhà quản trị hơn là phản ánh tình hình tài chính thực của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, Healy and Whalen (1999) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận xảy
ra khi nhà quản trị sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để tác động đến BCTC, nhằm đánh lừa một số bên liên quan về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến các hợp đồng mà có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận kế toán
Akers et al (2007) định nghĩa QTLN như những nỗ lực của nhà quản lý để gây ảnh hưởng hoặc “điều khiển” báo cáo thu nhập bằng cách sử dụng phương pháp
kế toán đặc biệt (hoặc các phương pháp đang thay đổi), công nhận một khoản mục không định kỳ, trì hoãn hoặc đẩy nhanh việc ghi nhận các giao dịch chi phí hoặc doanh thu, hoặc sử dụng các phương pháp khác được thiết kế gây ảnh hưởng đến thu nhập ngắn hạn Quan điểm của Beneish (2001) cho rằng, QTLN là sự can thiệp
có cân nhắc nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu ích, trung thực về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho các nhà đầu tư và các bên có liên quan, nhằm giúp họ đưa ra các quyết định tài chính liên quan đến doanh nghiệp
Tổng hợp lại các khái niệm về QTLN trước đây, Ronen and Yaari (2008) đã phân loại định nghĩa về hành vi QTLN thành 3 nhóm: trắng, xám và đen Nhóm màu trắng tượng trưng cho việc QTLN theo hướng có lợi và làm gia tăng chất lượng BCTC, nhóm màu xám liên quan đến việc thao tác các số liệu kế toán trong hoặc ngoài giới hạn cho phép nhằm mục đích cơ hội hoặc hướng đến hiệu quả kinh tế và nhóm màu đen biểu thị cho hành vi sử dụng các thủ thuật để làm sai lệch hoặc giảm
sự minh bạch của BCTC Từ đó, Ronen and Yaari (2008) đã trình bày một khái niệm tổng quát bao gồm tất cả các khía cạnh của QTLN Theo họ, QTLN là “một tập hợp các quyết định quản lý dẫn đến việc không báo cáo hiện trạng trong ngắn hạn, tối đa hóa giá trị thu nhập theo dự tính của nhà quản lý Quản trị lợi nhuận có thể: có lợi, có hại hoặc trung tính Nếu có lợi là tín hiệu cho thấy giá trị ở dài hạn, có hại thì che dấu
Trang 29giá trị ngắn, dài hạn và trung tính sẽ phát hiện kết quả thực hiện đúng trong ngắn hạn” Như vậy, định nghĩa này không chỉ bao gồm hành vi QTLN mà còn bao gồm quyết định quản lý khác, nhằm mục đích trình bày lợi nhuận khác với lợi nhuận thực
sự theo hiểu biết của nhà quản lý Đồng thời, định nghĩa này cũng cho thấy, QTLN hợp pháp hay không hợp pháp đều gây hiểu nhầm khi cung cấp thông tin có giá trị cho người sử dụng BCTC, ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp
Từ đó, tác giả nhận thấy hành vi QTLN là hành động có mục đích của nhà quản lý bằng cách sử dụng các hình thức chi phối thu nhập như lựa chọn chính sách
kế toán hay thông qua thực hiện các nghiệp vụ kinh tế, sử dụng các hành động quản
lý nhằm mục đích gây hiểu nhầm khi cung cấp thông tin cho người sử dụng để đạt được lợi ích nào đó
Trong phần lớn các nghiên cứu (Graham et al 2005; Lo, 2007; Roychowdhury, 2006; Graham et al 2005) đã nhóm QTLN thành hai loại: QTLN thực (Real Earnings Management) như là một ảnh hưởng của dòng tiền và QTLN dựa trên biến kế toán dồn tích (Accrual Management) thông qua những thay đổi trong chính sách kế toán và ước tính kế toán Tuy nhiên, có nhiều ý kiến ủng hộ cho rằng các nhà quản lý sẽ sử dụng phương pháp biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh để điều chỉnh doanh thu dịch chuyển giữa các kỳ kế toán hoặc trong việc trì hoãn chi tiêu (Jones, 1991; Dechow et
al 1995) Vì vậy, trong phạm vi của luận văn này, tác giả sử dụng biến kế toán dồn tích
để nhận diện hành vi QTLN
2.2.2 Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận – Cơ sở dồn tích
2.2.2.1 Lý thuyết theo cơ sở tiền
Kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch khi các giao dịch này phát sinh bằng tiền Nếu lợi nhuận được xác định theo cơ sở tiền, lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong một kỳ sẽ bằng nhau Tuy nhiên, kế toán theo cơ sở tiền hiện nay chỉ được sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (đặc biệt là báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo phương pháp trực tiếp)
Kế toán theo cơ sở tiền có một ưu điểm nổi bật là tính khách quan cao khi trình thông tin trong BCTC Tiền thu vào và chi ra là những hoạt động “hữu hình”,
Trang 30số tiền và ngày thu, chi tiền được xác định chính xác, cụ thể không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị DN
Như vậy, có thể nhận diện khả năng điều chỉnh lợi nhuận của nhà kế toán bằng cách sử dụng cơ sở kế toán tiền, vì theo cơ sở kế toán này, nhà quản trị không thể điều chỉnh các giao dịch có ảnh hưởng đến lợi nhuận?
2.2.2.2 Lý thuyết theo cơ sở dồn tích
Cơ sở kế toán dồn tích là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp (DN) Theo đó, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, danh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (chuẩn mực kế toán số 01, 2002)
Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận của DN trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của DN Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; Từ đó, BCTC nói chung và BCKQKD nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kế toán trong kỳ và từ đó, cho phép tình trạng tài sản, nguồn vốn của một DN một cách đầy đủ, hợp lý Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào
và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,
Bên cạnh những ưu điểm, kế toán theo cơ sở dồn tích đôi khi không tuân thủ theo yêu cầu khách quan trong kế toán Việc ghi nhận doanh thu và chi phí không dựa vào dòng tiền tương ứng thu vào hay chi ra mà dựa vào thời điểm giao dịch phát sinh
Số liệu trên BCTC thể hiện một phần ý kiến chủ quan của nhà kế toán Chẳng hạn, việc phân bổ nhiều loại chi phí hay ghi nhận doanh thu theo tiến độ thực hiện trong hoạt động xây lắp thể hiện những hành động (vô hình), mang tính chủ quan của nhà kế toán
Như vậy, khi lợi nhuận được báo cáo theo cơ sở dồn tích có hay không việc nhà quản trị DN điều chỉnh lợi nhuận trong một kỳ nhằm đạt được một mục tiêu
Trang 31nào đó, chẳng hạn DN muốn báo cáo lợi nhuận giảm bớt trong năm 2008, dịch chuyển phần lợi nhuận này qua năm 2009 để tiết kiệm thuế thu nhập vì thuế suất thu nhập DN từ năm 2009 giảm 3% so với trước đó?
2.2.3 Thủ thuật quản trị lợi nhuận
Theo Nguyễn Thị Minh Trang (2011), tùy theo mục tiêu khác nhau của các nhà quản trị, có thể mục tiêu của nhà quản trị là điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, có thể mục tiêu của nhà quản trị là tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư, bán cổ phiếu ra thị trường, mà họ sẽ lựa chọn điều chỉnh giảm hoặc tăng lợi nhuận
2.2.3.1 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán
Lựa chọn phương pháp kế toán làm cho việc ghi nhận doanh thu sớm hơn và ghi nhận chi phí chậm hơn sẽ làm tăng lợi nhuận, hoặc ngược lại sẽ làm lợi nhuận giảm đi Ví dụ:
Doanh nghiệp có thể điều chỉnh thời điểm lập hóa đơn lệch vài ngày có thể làm gia tăng hoặc giảm doanh thu trong kỳ, các phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho cũng sẽ ảnh hưởng đến việc ghi nhận chi phí trong kỳ, với mỗi phương pháp khác nhau có ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán ra từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Cụ thể như việc lựa chọn phương pháp LIFO làm tăng giá trị vật xuất dùng trong kỳ, có nghĩa là tăng chi phí trong kỳ Lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ cũng cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ Lựa chọn phương pháp phần trăm hoàn thành để ghi nhận doanh thu và chi phí theo tiến độ hợp đồng xây dựng và trong cung cấp dịch vụ để ghi nhận doanh thu và chi phí theo tiến độ thực hiện hợp đồng Tất cả các phương cách này đều có thể tùy theo ý muốn chủ quan của nhà quản trị để lựa chọn và điều chỉnh lợi nhuận
2.2.3.2 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán
Nhà quản trị có thể dịch chuyển một vài chi phí từ niên độ này về các niên
độ sau hoặc ngược lại sẽ làm giảm hoặc tăng chi phí của niên độ hiện hành, từ đó lợi nhuận được điều chỉnh tăng hoặc giảm đi Ví dụ: việc lựa chọn phương pháp
Trang 32phân bổ giá trị công cụ dụng cụ xuất dùng nhiều kỳ, phân bổ chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, việc xác định mức trích trước chi phí bao gồm trích trước chi phí bảo hành, trích trước chi phí tiền lương công nhân sản xuất nghỉ phép (đối với các doanh nghiệp sản xuất) Ngoài ra, các nhà quản trị còn lựa chọn thời điểm nào ghi nhận các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá chứng khoán, khi nào các khoản dự phòng này được hoàn nhập với mức trích lập bao nhiêu và mức hoàn nhập bao nhiêu? Các nhà quản trị cũng có thể ước tính lãi suất ngầm của hợp đồng thuê tài sản để vốn hóa tiền thuê trong hợp đồng thuê tài chính
2.2.3.3 Quản trị lợi nhuận thông qua các quyết định kinh doanh về thời điểm thực hiện nghiệp vụ kinh doanh
Các nhà quản trị doanh nghiệp có thể quyết định khi nào và ở mức bao nhiêu các chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa, chi phí nâng cấp cải tạo TSCĐ được chi ra Các chi phí này có thể tính hết vào niên độ hiện hành hoặc phân bổ dần cho các niên độ sau, với quyết định khác nhau của nhà quản trị sẽ ảnh hưởng đến chi phí và
từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của niên độ hiện hành Mặc khác, nhà quản trị cũng
có thể quyết định thời điểm thanh lý, nhượng bán TSCĐ để đẩy nhanh hoặc làm chậm lại việc ghi nhận chi phí và thu nhập khác của doanh nghiệp Từ đó, làm cho lợi nhuận trong niên độ hiện hành có thể tăng hoặc giảm đi
2.2.4 Động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận
2.2.4.1 Hợp đồng thù lao
Trong thực tế, các doanh nghiệp niêm yết có chế độ trả lương hoặc trả thưởng cho ban điều hành bằng tỷ lệ (%) nhân với (x) lợi nhuận kế toán Trong trường hợp này, nhà quản trị nói riêng và ban điều hành công ty nói chung sẽ có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận kế toán trong kỳ Vì tỷ lệ (%) là số không đổi, muốn tăng mức lương hoặc mức thưởng thì chỉ có một cách duy nhất là tăng lợi nhuận Hoặc hợp đồng thù lao giữa ban điều hành và doanh nghiệp có điều khoản: nếu lợi nhuận đạt tối thiểu đến mức X đồng thì ban điều hành được Y đồng tiền lương hoặc tiền thưởng Nếu trong thực tế, lợi nhuận chưa đạt đến X đồng thì nhà
Trang 33quản trị có khuynh hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận sao cho đạt đến mức X đồng nhằm đạt được mức tiền lương hoặc tiền thưởng Y đồng Ngược lại, nếu lợi nhuận vượt quá ngưỡng X đồng thì nhà quản trị có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận về
vị trí X đồng Còn phần lợi nhuận vượt trên X đồng đó chuyển sang năm sau, bởi vì
dù có vượt ngưỡng X đồng thì mức lương (thưởng) nhà quản trị nhận được vẫn không đổi (Y đồng)
2.2.4.2 San bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn
Các doanh nghiệp nỗ lực giảm thiểu sự biến động trong chỉ tiêu lợi nhuận giữa các kỳ kế toán nhằm giữ giá cổ phiếu được ổn định hoặc làm tăng giá trị thị trường của cổ phiếu Bởi vì lợi nhuận giữa các kỳ kế toán biến động lớn đồng nghĩa với rủi ro cao khi đầu tư vào công ty đó, vì thế, giá cổ phiếu sẽ rớt giá so với giá cổ phiếu của các công ty có lợi nhuận ổn định qua các kỳ kế toán Hệ quả là, nhà quản trị của các doanh nghiệp niêm yết có khuynh hướng điều chỉnh lợi nhuận (theo hướng san bằng) nhằm đạt được sự ổn định về lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo lợi nhuận bền vững trong dài hạn
2.2.4.3 Tránh vi phạm hợp đồng đi vay
Một số doanh nghiệp có động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm tránh vi phạm hợp đồng đi vay Nếu vi phạm, các chủ nợ có thể tăng lãi suất đối với các khoản nợ hoặc yêu cầu doanh nghiệp thanh toán các khoản nợ ngay lập tức Vì các chủ nợ cho rằng, nếu doanh nghiệp làm ăn không có lãi thì khả năng thanh toán nợ cho họ khó khăn hơn Từ đó, rủi ro rất lớn đối với các chủ nợ trong việc thu hồi vốn cho vay Hệ quả là, các nhà quản trị sử dụng các thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận nhằm tránh các rắc rối liên quan đến các hợp đồng đi vay
2.2.4.4 Để phát hành cổ phiếu ra công chúng
Để giảm thiểu rủi ro phát hành cổ phiếu ra công chúng không thành công (do chi phí phát hành chứng khoán ra công chúng cao, thường chiếm từ 8-10% khoản vốn huy động, bao gồm các chi phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn pháp luật, chi phí in ấn, phí kiểm toán, chi phí niêm yết…) Bên cạnh việc áp dụng các chiến lược marketing
Trang 34tới các nhà đầu tư tiềm năng thì rất có thể các doanh nghiệp sẽ “xào nấu số liệu”;
“quản trị lợi nhuận” theo hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận tối đa có thể (trong khuôn khổ cho phép của chuẩn mực, chế độ kế toán) làm cho kết quả của doanh nghiệp
“đẹp” hơn nhằm đạt được mục tiêu huy động vốn của mình theo đúng tiến độ đã vạch
ra và thu hút nhiều nhà đầu tư, tăng giá trị thị trường của cổ phiếu Bởi vì lợi nhuận là một trong các tiêu chí góp phần cho sự lựa chọn danh mục đầu tư của các nhà đầu tư
Từ đó, sẽ có ảnh hưởng đến giá trị của cổ phiếu trên thị trường
2.2.4.5 Đáp ứng sự kỳ vọng của giới phân tích thị trường
Nhìn chung, các nhà phân tích trên thị trường chứng khoán thường quan tâm đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua 2 chỉ tiêu: doanh thu và lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh Chính vì vậy, các nhà quản trị chịu áp lực về việc đáp ứng sự mong đợi của các nhà phân tích thông qua việc điều chỉnh lợi nhuận (ghi nhận doanh thu sớm hoặc ghi nhận chi phí trễ) nhằm đạt được lợi nhuận trong kỳ báo cáo tăng lên
2.2.4.6 Thay đổi nhà quản trị
QTLN thường xảy ra quanh thời điểm thay đổi nhà quản trị, nhà quản trị của một công ty làm ăn thua lỗ sẽ cố gắng điều chỉnh tăng lợi nhuận để tránh việc bị sa thải Mặt khác, nhà quản trị mới sẽ cố gắng dịch chuyển lợi nhuận của các kỳ kế toán trong tương lai vào kỳ hiện tại - thời điểm mà anh ta nhận bàn giao Vì tại thời điểm này, nhà quản trị mới đang bị xem xét, đánh giá năng lực lãnh đạo, năng lực chuyên môn để đi đến thoả thuận ký kết hợp đồng lao động (hợp đồng thù lao) Chính vì vậy, nhà quản trị mới cũng điều chỉnh tăng lợi nhuận trong kỳ hiện tại để thể hiện cho HĐQT thấy được khả năng làm việc của anh ta Từ đó, sẽ ảnh hưởng đến cam kết về hợp đồng lao động (đặc biệt là các cam kết về lương, thưởng)
2.2.5 Các mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận
Như đã đề cập ở trên, cơ sở của hành vi QTLN chính là kế toán theo cơ sở dồn tích Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, BCTC nói chung và BCKQKD nói riêng phải được lập trên cơ sở dồn tích Điều này mang lại cơ hội cho nhà quản trị thực hiện hành động QTLN thông
Trang 35qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt được một mục tiêu nào đó Trong khi
đó, kế toán theo cơ sở tiền được sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) dựa trên cơ sở thực thu, thực chi tiền nên nhà quản trị không thể điều chỉnh các giao dịch
Theo cơ sở dồn tích, việc ghi nhận doanh thu và chi phí không dựa vào dòng tiền tương ứng thu vào hay chi ra mà chỉ căn cứ vào thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh Do đó số liệu trên BCTC, đặc biệt là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thể hiện ý chí chủ quan của nhà quản trị và nhà kế toán Trong khi đó báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở dòng tiền, nghĩa là báo cáo này căn cứ vào dòng tiền thực thu vào hay thực chi ra để trình bày Chính vì vậy giữa dòng tiền trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ và lợi nhuận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
sẽ có một sự chênh lệch Chou et al (2006) đã chỉ ra nguyên tắc cơ bản của QTLN dựa trên cơ sở dồn tích là tạo ra sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và dòng tiền thực tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự khác biệt đó được gọi là biến
kế toán dồn tích (Total Accruals-TA) và được tính bằng công thức:
Biến tổng kế toán dồn tích (TA) = Lợi nhuận sau thuế - Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (1)
Tuy nhiên, không thể sử dụng biến TA để đo lường mức độ QTLN một cách trực tiếp, do đó các nhà nghiên cứu đã tách biến TA ra làm hai phần: Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được (Discretionary Accurals –DA) và biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được (Non Discretionary Accurals –NDA)
Biến kế toán dồn tích (TA) = Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được (DA) + Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được (NDA)
Biến NDA là các khoản dồn tích được được thực hiện theo những quy định, nguyên tắc của chuẩn mực và chế độ kế toán phản ánh điều kiện kinh doanh cụ thể của từng đơn vị do đó không điều chỉnh được bởi nhà quản lý Ví dụ: độ dài của chu
kỳ kinh doanh, chu kỳ sống của sản phẩm Ngược lại, biến DA là biến nhà quản trị
có thể điều chỉnh thông qua các thủ thuật kế toán Vấn đề đặt ra là làm thế nào để
đo lường biến DA vì biến này đại diện cho mức độ QTLN của DN Để xem xét mức
Trang 36độ QTLN của các DN, các nhà nghiên cứu không thể quan sát một cách trực tiếp
Vì vậy các nhà nghiên cứu phải thông qua 2 cách: Một là xem xét sự lựa chọn chính sách kế toán, hai là tính biến NDA
Trong bài luận văn này, tác giả sử dụng các tính biến NDA Các nhà nghiên cứu trên Thế giới đã đưa ra nhiều mô hình khác nhau, trong đó tác giả có ba mô hình ước lượng NDA nổi tiếng nhất và một mô hình được điều chỉnh tại thị trường Việt Nam
2.2.5.1 Mô hình The Jones Model (1991)
Jones (1991) đưa ra một mô hình làm suy yếu đi giả định rằng các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) là các bất biến Mô hình này nỗ lực để kiểm soát tác động của những thay đổi trong bối cảnh kinh tế của một doanh nghiệp lên các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) Mô hình được thể hiện như sau:
Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA):
NDAt / At-1 = α/At-1 + β1ΔREVt /At-1 + β2 PPEt / At-1
Trong đó:
NDAt: Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được năm t;
TAt: Tổng biến dồn tích năm t;
At-1: Tài sản cuối năm t-1;
REVt: Doanh thu thuần năm t;
PPEt: Nguyên giá của tài sản cố định hữu hình
2.2.5.2 Mô hình Dechow, Sloan and Sweeney (1995) – Mô hình Modified Jones (1991)
Trong mô hình nguyên gốc, mô hình Jones (1991) đưa vào phương trình hồi quy hai biến là REV và PPE Theo diễn giải của nghiên cứu, giá trị REV thể hiện sự biến động doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ kế toán, nó phản ánh tình hình và môi trường hoạt động kinh doanh và là khoản mục mang tính khách quan không bị nhà quản trị lợi dụng để điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ Tuy nhiên, tác giả cũng có đề cập tới những hạn chế trong diễn giải của mình khi chọn ΔREV làm biến nghiên cứu Nghiên cứu cho rằng, doanh thu thuần cũng có thể bị tác động
Trang 37thông qua các khoản doanh thu bị ghi nhận không đúng niên độ và các khoản này
có thể là doanh thu khống của doanh nghiệp Xuất phát từ hạn chế kể trên của mô hình gốc, các nhà nghiên cứu sau này đưa thêm biến ΔREC nhằm loại bỏ ảnh hưởng của các khoản doanh thu dồn tích do sự tăng lên của khoản mục phải thu khách hàng trong kỳ, qua đó giá trị doanh thu thuần tăng thêm phản ánh chính xác hơn môi trường kinh doanh của doanh nghiệp trong năm đó
NDAt / At-1 = α/ At-1+ β1 (ΔREVt – ΔRECt)/ At-1 + β2 PPEt / At-1
Trong đó: RECt: Khoản phải thu năm t
2.2.5.3 Mô hình Kothari, Leone and Wasley (2005)
Kothari, Leone and Wasley (2005) đã tiếp tục phát triển mô hình của Jones (1991) và Dechow, Sloan and Sweeney (1995) trên cơ sở xem xét biến về kết quả hoạt động Mục đích của tác giả là nghiên cứu mối quan hệ tuyến tính giữa biến dồn tích và kết quả hoạt động
Mô hình tuyến tính có xem xét kết quả hoạt động của Kothari, Leone and Wasley (2005) như sau:
NDAt / At-1= α/ At-1 + β1 (ΔREVt – ΔRECt)/ At-1 + β2 PPEt / At-1 + β3 ROAt-1
Trong đó: ROAt-1: Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của năm t-1
2.2.6 Các lý thuyết có liên quan
2.2.6.1 Lý thuyết đại diện
Vấn đề đại diện được nhắc đến đầu tiên bởi Adam Smith trong thế kỷ 18 và được khám phá bởi Ross (1973) với sự mô tả chi tiết lý thuyết được trình bày bởi Jensen and Meckling (1976) Lý thuyết đại diện được phát triển từ lý thuyết khoa học kinh tế học và được phát triển theo hai trường phái riêng biệt: trường phái thực chứng (the positivist agent) và trường phái chuẩn tắc (the principal agent) Cả hai trường phái này liên quan đến vấn đề hợp đồng tư lợi như là một động cơ của cả hai ông chủ và người đại diện và có những giả định chung liên quan đến con người, tổ chức và thông tin Tuy nhiên, chúng khác nhau mô hình toán học, biến phụ thuộc và phong cách (Jensen, 1993) Mối quan hệ đại diện được mô tả bởi Jensen and Meckling (1976) như là một hợp đồng trong đó một hoặc nhiều người (ông chủ)
Trang 38tham gia cùng với một người khác (người đại diện) để thực hiện một số dịch vụ mà
họ thay mặt, liên quan đến giao một số quyền ra quyết định cho người đại diện
Theo lý thuyết này, cổ đông là người chủ sở hữu công ty bổ nhiệm giám đốc đại diện họ thực thi quyền điều hành kinh doanh (Clarke, 2004) Mối quan hệ đại diện giữa hai bên được xác định như là một hợp đồng giữa người chủ sở hữu (ông chủ) và giám đốc (người đại diện) (Jensen and Meckling 1976) Trên cơ bản của lý thuyết này cổ đông kỳ vọng giám đốc hành động ra quyết định vì lợi ích của chủ sở hữu Tuy nhiên, giám đốc có thể không ra quyết định theo lợi ích tốt nhất của cổ đông (Padilla, 2002) Sự tách biệt quyền sở hữu và kiểm soát tạo ra một sự mâu thuẫn vốn
có giữa cổ đông và giám đốc Aguilera et al (2008) Mâu thuẫn lợi ích này có thể được gia tăng bởi sự giám sát quản lý không hiệu quả trên một phần cổ đông phân tán
và do đó không thể hoặc thiếu động lực để thực hiện các chức năng giám sát cần thiết Vì vậy, giám đốc công ty có thể theo đuổi mục tiêu riêng (Hart, 1995)
Lý thuyết đại diện cho rằng nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích cá nhân của mình thay vì tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Lý thuyết này cho rằng trong thị trường vốn và thị trường lao động không hoàn hảo, nhà quản lý sẽ cố gắng tối đa hóa tiêu dùng cá nhân bằng chi phí phải gánh chịu bởi
cổ đông Bên đại diện có khả năng điều hành hoạt động của doanh nghiệp dựa trên lợi ích cá nhân của họ thay vì lợi ích của cổ đông bởi vì có sự bất đối xứng thông tin (thí dụ, nhà quản lý có sự hiểu biết nhiều hơn cổ đông về khả năng họ đạt được mục tiêu) và những điều không chắc chắc (ví dụ, vô số các yếu tố cấu thành nên kết quả cuối cùng và không có bằng chứng là có phải bên đại diện đã trực tiếp chi phối kết quả đạt được, theo hướng tích cực hoặc ngược lại) Hành vi tư lợi cá nhân của nhà quản lý còn bao gồm cả việc tiêu thụ một số nguồn lực của doanh nghiệp dưới hình thức bổng lộc và tránh các nguy cơ rủi ro, theo đó các nhà quản lý sợ rủi ro sẽ bỏ qua các cơ hội mang lại lợi nhuận mà trong đó các cổ đông của công ty sẽ thích họ đầu tư Như vậy, hành vi tư lợi xảy ra khi có sự tách biệt về quyền sở hữu và quyền kiểm soát hay chính là do mẫu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông Để giảm thiểu hành vi này các cổ đông nên gắn kết nhà quản lý với lợi ích chung của
Trang 39cổ đông và doanh nghiệp Hay các cổ đông nên gánh chịu thêm chi phí đại diện (agency cost) như là thưởng cho nhà quản lý Các hình thức thưởng cho nhà quản lý như thưởng bằng tiền mặt và cổ phiếu dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh dài hạn (long-term bonus), thưởng bằng quyền chọn mua cổ phiếu (stock options grant) hoặc thưởng dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh đạt được (performance unit grant) và thưởng cổ phiếu có điều kiện (restricted stock grant) Tuy nhiên, vấn đề chi phí đại diện như lương, thưởng có thể là con dao hai lưỡi Khi các cổ đông gánh chịu chi phí đại diện dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh thì các nhà quản lý sẽ
cố gắng đạt được kết quả kinh doanh tốt với mong muốn nhận được lợi ích từ đó Nếu không thể điều hành tốt có thể nhà quản lý sẽ sử dụng các thủ thuật để đạt được mong muốn cá nhân
2.2.6.2 Vấn đề đại diện đối với công ty gia đình
Công ty gia đình có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau
Theo Villalonga and Amit (2006), một gia đình có thể kiểm soát công ty theo
ba cách:
(1) Là thành viên sáng lập công ty
(2) Kiểm soát công ty thông qua quyền biểu quyết và/hoặc
(3) Tham gia hoạt động quản trị của công ty
Nghiên cứu của Paiva et al (2016) định nghĩa các công ty gia đình được coi
là các tổ chức được kiểm soát và thường quản lý bởi nhiều thành viên trong gia đình, thường là từ nhiều thế hệ
Nghiên cứu của Jaggi et al (2009) chỉ ra rằng sở hữu cổ phần trong gia đình
sẽ là một biện pháp tập trung quyền sở hữu Tác giả cũng sử dụng ngưỡng sở hữu 20% để xác định doanh nghiệp có phải là công ty gia đình
Nghiên cứu của Jiraporn et al (2009) tập trung nghiên cứu vào các công ty được sáng lập bởi một gia đình Nghiên cứu xác định các công ty thuộc sở hữu của gia đình dựa trên quyền sở hữu phần chiết khấu của gia đình sáng lập và / hoặc sự
có mặt của các thành viên trong gia đình trong HĐQT
Trang 40Theo truyền thống, lý thuyết đại diện được sử dụng để khám phá mối quan
hệ giữa cơ cấu sở hữu và quản lý của công ty và hiệu quả tài chính của nó Khi có
sự tách biệt về quyền sở hữu và kiểm soát, các cơ chế đại diện được đưa ra để sắp xếp các mục tiêu của người quản lý (người đại diện) với mục tiêu của chủ sở hữu (ông chủ) Chi phí đại diện sẽ là chi phí của tất cả các hoạt động được thiết kế để sắp xếp các quyền lợi và (hoặc) hành động của người quản lý với lợi ích của chủ sở hữu
Sự tham gia của một gia đình trong một doanh nghiệp có tiềm năng làm tăng
và giảm chi phí đại diện Chrisman et al (2004)
Trong loại hình Công ty Cổ phần, khi mà người quản lý càng độc lập với sở hữu công ty thì người quản lý càng có động cơ để thực hiện các dự án có lợi cho cá nhân mà đó không phải là phương án tốt nhất cho công ty Tuy nhiên, đối với công
ty gia đình, mâu thuẫn giữa cổ đông và người quản lý gần như bị triệt tiêu vì cổ đông là thành viên gia đình thường là thành viên HĐQT, tổng giám đốc và có can thiệp vào hoạt động quản trị của công ty Với sự tham gia của gia đình vào quyền sở hữu và quản lý công ty, các công ty gia đình có thể làm giảm đáng kể chi phí đại diện
và có khả năng tăng cường hoạt động của công ty bởi vì các mục tiêu của ông chủ là phù hợp với người đại diện của họ vì chúng thường là một và tương đương Chrisman
et al (2004); (Dyer, 2006); Do đó, sự giám sát người đại diện của chủ sở hữu là ít cần thiết hơn Chi phí đại diện thấp hơn trong các công ty gia đình có thể là do sự tin tưởng cao và giá trị chia sẻ giữa các thành viên trong gia đình (Dyer, 2006)
Tuy nhiên, các công ty có sự kiểm soát gia đình có thể sẽ phải đối mặt với những vấn đề đại diện khác với các cơ quan quản lý không do gia đình kiểm soát Hiện tượng tập trung quyền sở hữu gia đình dẫn đến hai nhóm cổ đông khác nhau, tức là cổ đông đa số và thiểu số Do hai nhóm cổ đông này, các doanh nghiệp do gia đình kiểm soát có nhiều khả năng bị ảnh hưởng từ vấn đề đại diện liên quan đến cổ đông lớn và cổ đông thiểu số hơn là với vấn đề đại diện giữa các nhà quản lý và các
cổ đông (Anderson and Reeb 2004); Ali et al (2007) Cổ đông kiểm soát có cơ hội
để tối đa hóa lợi ích cá nhân bằng cách tước đoạt các cổ đông thiểu số (Fan and