Trình bày diễn biến lãi suất tín dụng trên thị trường trong thời gian vừa qua, chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung Ương . Kinh tế là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với chính sách phát triển của từng quốc gia. Nó khẳng định sự tồn tại vị trí của quốc gia đó trên trường quốc tế. Thế mới thấy từ năm 2007 đến nay, nền kinh tế thế giới diễn biến khá phức tạp và khó lường, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động sâu rộng đến kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới tất nhiên trong đó có Việt Nam. Theo đó, tình hình lãi suất Việt Nam cũng biến động hết sức phức tạp, ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế chung của Việt Nam. Đặc biệt là từ năm 2010 đến nay, lãi suất Việt Nam có những “bước nhảy” rất đáng quan tâm. Đó là một hiện tượng kéo theo và bị kéo theo bởi nhiều yếu tố quan trọng khác như: lạm phát, mức cung tiền tệ, các quan điểm chính sách của nhà nước, v.v… Nên việc tìm hiểu về lạm phát yêu cầu chúng ta có những hiểu biết cơ bản về những vấn đề kinh tế trên, song nó cũng giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về các vấn đề kinh tế vốn dĩ rất phức tạp ở Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung. Giải quyết và áp dụng lãi suất cũng là một bài toán toán khó cho các nhà kinh tế Việ Nam trong thời gian hiện nay. Nhìn ở những hướng tích cực nhìn thấy rõ nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển từng bước hội nhập là một tín hiệu đáng vui. Có thể thấy lãi suất là một vấn đề dai dẵng và gây tác động đến nền kinh tế của Việt Nam. Việc tìm hiểu nguyên nhân cốt lõi của lãi suất, tình hình biến động của lãi suất và đưa ra những giải pháp xử lý đúng đắn, hiệu quả sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô. Đó là những gì chúng tôi sẽ trình bày trong Đề tài này : “ Trình bày diễn biến lãi suất tín dụng trên thị trường trong thời gian vừa qua ,và chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung Ương ”Bài thảo luận gồm 2 phần : Phần I: Lý thuyết chung về lãi suất Phần II: Diễn biến lãi suất tín dụng trên thị trường trong thời gian vừa qua ,và chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ƯơngPhần 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LÃI SUẤTKhái niệm Khái niệm: Khi sử dụng bất kỳ khoản tín dụng nào, người vay cũng phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu. Tỷ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu. Lãi suất tín dụng là tỉ lệ phần trăm giữa lợi tức thu được với tổng số tiền cho vay trong một khoảng thời gian nhất định.Lãi suất TD = (Lợi tức thu được trong kỳ)(Tổng số tiền cho vay trong kỳ)× 100%Đơn vị tính của lãi suất tín dụng là %năm (ngày, tháng)Các loại lãi suất tín dụng Căn cứ vào nghiệp vụ tín dụngLãi suất huy động vốn: Là lãi suất phát sinh trong các hình thức huy động vốn của NHTM, các trung gian tài chính khác...Lãi suất cho vay: Là loại lãi suất phát sinh trong các hình thức cho vay của NHTM và các trung gian tài chính khácLãi suất chiết khấu: Áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng.Lãi suất tái chiết khấu: Áp dụng khi NHTW cho các ngân hàng trung gian vay dưới hình thức chiếy khấu lại thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng này.Lãi suất liên ngân hàng: Là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng.Lãi suất LIBOR: Lãi suất của liên ngân hàng London công bố vào 11h trưa hàng ngày tại London.Lãi suất LIBID: Là lãi suất bình quân mà các ngân hàng lớn ở London huy động tiền gửi bằng EURO từ các ngân hàng khác.Lãi suất LIMEAN: Là lãi suất bình quân của LIBOR và LIBID.
Trang 1Đề tài : “ Trình bày diễn biến lãi suất tín dụng trên thị trường trong thời gian vừa qua, chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung Ương ”
Lời mở đầu
Kinh tế là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với chính sách phát triển của từngquốc gia Nó khẳng định sự tồn tại vị trí của quốc gia đó trên trường quốc tế.Thế mới thấy từ năm 2007 đến nay, nền kinh tế thế giới diễn biến khá phức tạp
và khó lường, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
đã tác động sâu rộng đến kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới tất nhiêntrong đó có Việt Nam Theo đó, tình hình lãi suất Việt Nam cũng biến động hếtsức phức tạp, ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế chung của Việt Nam Đặcbiệt là từ năm 2010 đến nay, lãi suất Việt Nam có những “bước nhảy” rất đángquan tâm Đó là một hiện tượng kéo theo và bị kéo theo bởi nhiều yếu tố quantrọng khác như: lạm phát, mức cung tiền tệ, các quan điểm chính sách của nhànước, v.v… Nên việc tìm hiểu về lạm phát yêu cầu chúng ta có những hiểu biết
cơ bản về những vấn đề kinh tế trên, song nó cũng giúp cho chúng ta hiểu rõhơn về các vấn đề kinh tế vốn dĩ rất phức tạp ở Việt Nam nói riêng và các nướctrên thế giới nói chung Giải quyết và áp dụng lãi suất cũng là một bài toán toánkhó cho các nhà kinh tế Việ Nam trong thời gian hiện nay Nhìn ở nhữnghướng tích cực nhìn thấy rõ nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển từngbước hội nhập là một tín hiệu đáng vui
Có thể thấy lãi suất là một vấn đề dai dẵng và gây tác động đến nền kinh tếcủa Việt Nam Việc tìm hiểu nguyên nhân cốt lõi của lãi suất, tình hình biếnđộng của lãi suất và đưa ra những giải pháp xử lý đúng đắn, hiệu quả sẽ có ýnghĩa quan trọng trong việc điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô Đó lànhững gì chúng tôi sẽ trình bày trong Đề tài này : “ Trình bày diễn biến lãi
suất tín dụng trên thị trường trong thời gian vừa qua ,và chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung Ương ”
Bài thảo luận gồm 2 phần :
Phần I: Lý thuyết chung về lãi suất
Phần II: Diễn biến lãi suất tín dụng trên thị trường trong thời gian vừa qua ,vàchính sách lãi suất của Ngân hàng Trung Ương
Trang 2Phần 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LÃI SUẤT
I Khái niệm
- Khái niệm: Khi sử dụng bất kỳ khoản tín dụng nào, người vay cũng
phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu Tỷ lệphần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu đượcgọi là lãi suất Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụngtiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đốivới việc trì hoãn chi tiêu
Lãi suất tín dụng là tỉ lệ phần trăm giữa lợi tức thu được với tổng số tiền cho vay trong một khoảng thời gian nhất định.
Lãi suất TD = T ổ ng s ố ti ề n cho vay trong k ỳ L ợ it ứ c thuđượ c trong k ỳ × 100%
Đơn vị tính của lãi suất tín dụng là %/năm (ngày, tháng)
II Các loại lãi suất tín dụng
1 Căn cứ vào nghiệp vụ tín dụng
Lãi suất huy động vốn : Là lãi suất phát sinh trong các hình thức huy động
vốn của NHTM, các trung gian tài chính khác
Lãi suất cho va y: Là loại lãi suất phát sinh trong các hình thức cho vay của
NHTM và các trung gian tài chính khác
Lãi suất chiết khấu : Áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình
thức chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng
Lãi suất tái chiết khấu : Áp dụng khi NHTW cho các ngân hàng trung gian
vay dưới hình thức chiếy khấu lại thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắnhạn chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng này
Lãi suất liên ngân hàng : Là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho
nhau vay trên thị trường liên ngân hàng
Lãi suất LIBOR : Lãi suất của liên ngân hàng London công bố vào 11h trưa
hàng ngày tại London
Trang 3 Lãi suất LIBID : Là lãi suất bình quân mà các ngân hàng lớn ở London huy
động tiền gửi bằng EURO từ các ngân hàng khác
Lãi suất LIMEAN : Là lãi suất bình quân của LIBOR và LIBID.
Lãi suất cơ bản : Là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn
định mức lãi suất kinh doanh của mình
2 Căn cứ vào việc loại trừ ảnh hưởng của giá trị tiền tệ
Lãi suất thực tế : Là loại lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị
tiền tệ , như tỷ lệ lạm phát hoặc tỷ lệ thiểu phát tiền tệ
Lãi suất danh nghĩa : Là loại lãi suất được xác định theo giá trị danh nghĩa
của tiền tệ hay nói cách khác là loại lãi suất loại trừ ảnh hưởng bởi sự biến động giá trị của tiền tệ
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực ± Tỷ lệ lạm phát (thiểu phát) dự đoán
3 Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất
Lãi suất cố định : Là loại lãi suất được ấn định bằng một tỷ lệ cố định trong
suốt thời gian huy động vốn hoặc cho vay
Lãi suất thả nổi : Là loại lãi suất có thể điều chỉnh theo lãi suất thị trường
trong thời hạn tín dụng
III Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
1 Mức cung cầu về tiền tệ (vốn) trên thị trường
- Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến việc hình thành lãi suất trên thị
trường Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để thanh toán trên thị trường Cầu tiền tệ là nhu cầu về tiền của các đơn vị, cá nhân, tổ chức để làm phương tiện giao dịch, trao đổi hàng hoá, dịch vụ… Lãi suất cân bằng được xác định là giao điểm của đường cung và cầu tiền (đồ thị ) Nhà nước có thể tác động vào mức cung và cầu tiền tệ này và không chế lãi suất để thực hiện các mục tiêu kinh tế và xã hội của mình.Giả sử khi Chính phủ, Ngân hàng TW lo sợ nền kinh tế có nguy cơ bị suy thoái thì NHTW sẽ tằng mức cung tiền bằng cách bơm tiền vào lưu thông và lãi suất sẽ có xu hướng giảm Còn khi nền kinh tế phát triển quá nóng và có thể xảy ra lạm phát thì nhà nước sẽ thực hiện các biên pháp nhằm làm giảm lượng cung tiền và khi đó lãi suất sẽ tăng lên Nhưvậy qua đây chúng ta có thể thấy được mức cung cầu tiền tệ trên thị trường là nhân tố hình thành và hưởng rất lớn đến thay đổi lãi suất tín dụng trên thị trường
Trang 42 Lạm phát
- Có thể nói rằng là lạm phát là một trong những nhân tố chủ chốt ảnhhưởng đến lãi suất tín dụng Lạm phát là một hiện tượng của tiền tệ,chính bởi vậy chúng ta không thể tránh khỏi nó mà chỉ có kiềm chế nó
ở mức ít hay nhiều Vậy ở đây lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đếnlãi suất? Khi lạm phát tăng lên một trong những biện pháp của Nhànước để giảm phát chính là áp dụng các biện phát để hút bớt lượng tiềnlưu thông về Đồng thời các cá nhân ,tổ chức trong nền kinh tế đangnắm dữ lượng vốn, tiền cũng sẽ không dám cho vay do lo sợ đồng vốncủa mình sẽ bị mất giá, bởi vậy họ sẽ chuyền hướng sang dự trữ cácloại hàng hoá như vàng, ngoại tệ hay đầu tư ra nước ngoài Hai điều nàykhiến cho khả năng cung ứng vốn trên thị trường sẽ giảm nhanh chóng,như đã nói ở trên thì khi cung ứng vốn giảm thì tất yếu sẽ khiến cho lãisuất tăng Khi áp dụng các biện phát nhằm kiềm chế lạm phát cho sảnxuất, đầu tư sẽ bị thu hẹp khiến cho nền kinh tế có khả năng đi vào suythoái Chính bởi vậy một khi lạm phát đã được kiềm chế, giảm phát thìNgân hàng TW sẽ giảm lãi suất tín dụng nhằm giúp cho các cá nhân, tổchức, doanh nghiệp trong nền kinh tế dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn
Để có thể mở rộng sản xuất, đầu tư giúp cho nền kinh tế phục hồi.Trong nền kinh tế thị trường thì lạm phát và lãi suất có mối quan hệchặt chẽ và tác động qua lại mật thiết với nhau
3 Chính sách tiền tệ của chính phủ
- Như chúng ta đã biết một khi lãi suất tín dụng tăng quá cao hay giảmthấp thì đều có ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế Chính bởi vậy mànhà nước đã thực hiện các chính sách tiền tệ của mình thông qua Ngânhàng TW với vai trò chỉ huy toàn bộ hệ thống ngân hàng của một quốcgia (với các công cụ như lãi suất tái chiết khấu, tỉ lệ dự trữ bắt buộc) đểđiều chỉnh lãi suất, bình ổn nền kinh tế
- Một khi lãi suất tăng làm cho nhu cầu tiêu dùng và đầu tư giảm thìNgân hàng Trung Ương sẽ áp dụng chính sách giảm lãi suất tái chiếtkhấu cho các ngân hàng thương mại, và khi các ngân hàng thương mạiđược giảm lãi suất tái chiết khấu (là lãi suất ngắn hạn mà ngân hàng
TW cho các ngân hàng thương mại vay) thì họ cũng sẽ hạ lãi suất chovay đối với các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong nền kinh tế.Làm cho toàn bộ hệ thống lãi suất giảm và các khoản cho vay tăng lên.Khi lãi suất thị trường giảm, thừa tiền trong thị trường thì Ngân hàng
TW sẽ tăng lãi suất tái chiết khấu để giảm bớt khối lượng tín dụng củacác ngân hàng thương mại nhằm buộc các ngân hàng thương mại phải
Trang 5tăng lãi suất tín dụng đối với các thành phần trong nền kinh tế, cáckhoản cho vay sẽ giảm, lượng tiền trong lưu thông cũng sẽ giảm.
- Thông qua lãi suất tái chiết khấu mà Ngân hàng TW đã điều chỉnhđược lãi suất tín dụng Mỗi khi lãi suất tái chiết khấu hay giảm đều làmthay đổi lượng vay của các ngân hàng thương mại hay nói cách khác làthay đổi lượng tiền cung ứng cho thị trường của các ngân hàng này vàcuối cùng làm thay đổi lãi suất thị trường Ngoài ra, Ngân hàng TW còn
có một biện pháp nữa để kiểm soát lãi suất tín dụng và lượng tiền cungứng thị trường đó chính là tỉ lệ dự trữ bắt buộc Khi ngân hàng TW tănghay giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc cũng tức là đã tác động đên lượng vốnkhả dụng của các ngân hàng thương mại Gây ra những khó khăn ngânquỹ, hạn chế tín dụng hay là sự dư giả vốn và tín dụng của các ngânhàng
- Giả sử tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc khiến cho lượng vốn và tín dụng củacác ngân hàng bị thu hẹp khiến họ buộc phải tăng lãi suất và ngược lại
Từ đó có thể thấy được tỉ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng gián tiếp đến lãisuất thị trường Như vậy thông qua việc thực hiện các chính sách tiền tệcủa mình, Chính phủ đã có những thay đổi ,điều chỉnh về lãi suất tíndụng trên thị truờng nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định, phát triển kinh tế
- xã hội mà nhà nước đã đề ra
4 Rủi ro và kì hạn tín dụng
- Có thể nói khi đầu tư vào bất cứ ngành nghề hay lĩnh vực nào đều cónhững rủi ro nhất định, trong tín dụng cũng vậy Mức độ rủi do cao haythấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan
- Các yếu tố khách quan như là: môi trường kinh tế, sự phát triển liênngành, môi trường pháp lý Các yếu tố chủ quan như là: hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp, tổ chức vay tín dụng; tính tin cậy và khả năngtrả nợ của các doanh nghiệp khi đến hạn
- Rủi do tín dụng xuất phát từ hoạt động tín dụng khi mà bên vay tíndụng vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng Để giảm bớt cácrủi ro cho bên cho vay mà ở đây chủ yếu là các ngân hàng thì lãi suấttín dụng là 1 biện pháp tốt nhất, những khoản vay tín dụng có rủi rocàng lớn thì lãi suất càng cao và ngược lại
- Kì hạn cho vay tín dụng cũng vậy, ngắn hạn thì lại suất thấp còn dàihạn thì cao hơn Nói chung, khi mà thời hạn cho vay dài, độ rủi ro lớn
Trang 6thì lãi suất cho vay sẽ cao, ngược lại thời hạn cho vay ngắn, độ an toàncao thì lãi suất cho vay sẽ thấp
5 Một số nhân tố khác
a Sự ổn định về kinh tế chính trị
- Nền kinh tế ổn định và phát triển là một yếu tố kiên quyết để lãi suấttín dụng được ổn định Khi nền kinh tế phát triển quá nóng hay là rơivào suy thoái thì nhà nước đều có những chính sách, biện pháp điềuchỉnh lãi suất để kìm hãm hay kích thích nền kinh tế, phù hợp với thựctrạng của nền kinh tế Sự ổn định của nền chính trị cũng rất quan trọng,nếu nền chính trị bất ổn, mỗi khi chính trị biến động, chính quyền thayđổi > chính sách kinh tế mới khiến cho lãi suất biến động
b Các thể chế tài chính trung gian
- Các thể chế, định chế tài chính trung gian này có ảnh hưởng lớn đếnlãi suất thị trường như là quỹ tín dụng, bảo hiểm, thị trường cổ phiếu,bất động sản… Một khi các thể chế tài chính trung gian này phát triểnthì sẽ cần đến 1 lượng vốn vô cùng lớn, khi đo cầu về vốn (tiền tệ) trênthị trường sẽ tăng và kéo theo đó là làm cho lãi suất tín dụng tăng theo
và ngược lại
c Tỷ giá hối đoái
- Nó tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu củamột quốc gia Khi tỷ giá tăng (tức là đồng ngoại tệ tăng giá ) thì sẽkhiến cho tăng giá của các mặt hàng nhập khẩu, chi phí sản xuất đầuvào tăng, giá hàng hoá tăng -> lợi nhuận giảm -> nhu cầu đầu tưgiảm -> cầu tiền tệ giảm -> lãi suất tín dụng sẽ giảm Và ngược lạikhi tỷ giá hối đoái giảm thì sẽ khiến cho lãi suất tín dụng tăng Chính vìthế, mỗi khi tỷ giá có những biến động lớn thì Ngân hàng TW sẽ cónhững chính sách tiền tệ thích hợp để điều chỉnh tỷ giá hối đoái về mứchợp lý
d Tình hình cân đối ngân sách và chính sách tài khoá của nhà nước
- Một khi ngân sách nhà nước rơi vào tình trạng bội chi hay nhà nướcthực hiện chính sách tài khoá thắt chặt thì sẽ cần phải thu hút, huy độngvốn lớn Để làm được như vậy thì nhà nước có thể tăng lãi suất lên.Ngược lại, khi nhà nước thực hiện chính sách tài khoá nới lỏng thì lãisuất sẽ được giảm xuống
e Tình hình tài chính quốc tế
Trang 7- Trong thời kì hiện nay hầu hết các quốc gia đều thực hiện chính sách
mở cửa, không ngừng tăng cường các mối quan hệ kinh tế quốc tế nóichung mà các mối quan hệ tài chính, tín dụng nói riêng Các mối quan
hệ này phát triển nhanh chóng, tình hình tài chính, tín dụng bây giờkhông chỉ phụ thuộc vào các yếu tố trong mỗi quốc gia mà nó còn phụthuộc rất nhiều vào tình hình tài chính trên thế giới
- Khi mà tình hình tài chính quốc tế ổn định thì tình hình tài chính củamỗi quốc gia cũng sẽ không có nhiều biến động Nhưng một khi tìnhhình tài chính quốc tế bất ổn, rơi vào khủng hoảng thì nó sẽ ảnh hưởngrất lớn đến tình hình tài chính và tín dụng của mỗi quốc gia Khiến chosản xuất kinh doanh, đầu tư, nền kinh tế có nhiều biến động và điều tấtnhiên là lãi suất tín dụng cũng sẽ có nhiều thay đổi (Điển hình là cuộckhủng hoảng tài chính quốc tế cuối năm 2008 và đầu năm 2009)
- Như vậy, sau khi đi tìm hiểu và phân tích chúng ta có thể thấy đượclãi suất tín dụng chịu ảnh hưởng của khá nhiều yếu tố như là: cung cầutiền tệ, lạm phát, rủi ro và kì hạn tín dụng, các chính sách của nhà nước,
tỷ giá, tài chính quốc tế…Lãi suất tín dụng có vai trò rất quan trọngtrong việc điều tiết, bình ổn nền kinh tế
- Việc lãi suất tín dụng biến động trong mỗi nền kinh tế là điều khôngthể tránh khỏi, đặc biệt là trong thời kỳ nền kinh tế bất ổn và khôngngừng biến động như hiện nay Chính vì vậy mà mỗi quốc gia, Chínhphủ cần phải có những giải pháp, chính sách vĩ mô thích hợp để có thểđiều chỉnh, kiểm soát được lãi suất tín dụng Để có thể đảm bảo được
sự ổn định và phát triển cho nền kinh tế và xã hội
Như vậy, sau khi đi tìm hiểu và phân tích chúng ta có thể thấy được lãi suất tín dụng chịu ảnh hưởng của khá nhiều yếu tố như là: cung cầu tiền
tệ, lạm phát, rủi ro và kì hạn tín dụng, các chính sách của nhà nước, tỷ giá, tài chính quốc tế…Lãi suất tín dụng có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết, bình ổn nền kinh tế.Việc lãi suất tín dụng biến động trong mỗi nền kinh tế là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là trong thời kỳ nền kinh tế bất ổn và không ngừng biến động như hiện nay.
IV Vai trò của lãi suất tín dụng
1 Là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư
Trang 8- Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút cáckhoản tiết kiệm của các chủ thể kinh tế tạo nên quỹ cho vay đáp ứngnhu cầu của nền kinh tế.
2 Ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp
- Chính sách lãi suất là một bộ phận trong chính sách tiền tệ của nhànước nhằm điều tiết lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hường hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế
3 Là công cụ điều tiết vĩ mô
- Lãi suất tạo nên khoản chi phí của người đi vay vì vậy sự biến độngcủa lãi súaat có tác động đến đầu tư , đến tiêu dùng qua đó tác động đếncác mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô
4 Là công cụ đo lường tình trạng nền kinh tế
- Thông thường, nhìn vãou hướng biến động của lãi suất ta có thể thấyđược tình trạng sức khỏe của nền kinh tế Lãi suất là biến số thườngxuyên biến động trong nền kinh tế, căn cứ vào đó người ta có thể dựđoán được các yếu tố khác của nền kinh tế như tính sinh lời của các cơhội đầu tư, mức lạm phát dự tính, mức thiếu hụt của ngân sách, dựa vào
đó để dự bào tình hình kinh tế trong tương lai
Phần 2: DIỄN BIẾN LÃI SUẤT TÍN DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG
VỪA QUA VÀ CHÍNH SÁCH CỦA NHTW
I DIỄN BIẾN LÃI SUẤT TÍN DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG VỪA QUA
VÀ CHÍNH SÁCH CỦA NHTW NĂM 2013
1 Thực trạng
Năm 2013, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành tín dụng linh hoạt theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng, kiểm soát chặt chẽ hoạt động cho vay ngoại tệ phù hợp với chủ trương của Chính phủ về hạn chế đô la hóa trong nền kinh tế.
- Trong năm 2013, NHNN đã giảm 2%/năm đối với các mức lãi suấtđiều hành, giảm 3%/năm đối với trần lãi suất cho vay ngắn hạn VNDdành cho các lĩnh vực ưu tiên, giảm 1%/năm trần lãi suất tiền gửi VND,
Trang 9cho phép các TCTD tự ấn định lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 6 tháng trởlên.
- Ngày 12/12, nguồn vốn huy động tăng 15,61% so với cuối năm
2012, trong đó tiền gửi ngoại tệ tăng 13,7%, tiền gửi VND tăng15,93% Thanh khoản của hệ thống các TCTD tiếp tục cải thiện, đảmbảo khả năng thanh toán và chi trả của toàn hệ thống Trong năm 2013,mặt bằng lãi suất ổn định và tiếp tục giảm
- Đến cuối năm 2013, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng dao độngquanh mức 2-5%/năm tùy theo kỳ hạn, lãi suất huy động và cho vayVND trên thị trường giảm 2-5%/năm
2 Tác động
- Thay đổi trong điều hành lãi suất năm 2013 của Ngân hàng Nhànước đã tác động tích cực đếncơ cấu tín dụng tiếp tục được cải thiệntheo hướng tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là nhữnglĩnh vực ưu tiên, tín dụng đối với lĩnh vực không khuyến khích giảm cả
về tỉ trọng và con số tuyệt đối giúp kích thích giải quyết nợ xấu nhanhhơn
- Ngày 25/3/2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã banhành Quyết định số 643/QĐ-NHNN về việc giảm các mức lãi suất chủchốt thêm 1%; ban hành Thông tư số 08/TT-NHNN giảm 0,5% trần lãisuất tiền gửi VND kỳ hạn từ 01 tháng đến dưới 12 tháng từ 8%/nămxuống 7,5%/năm, lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên sẽ do các
tổ chức tín dụng (TCTD) tự ấn định trên cơ sở cung cầu vốn trên thịtrường NHNN cũng ban hành Thông tư số 09/TT-NHNNgiảm 1% lãisuất cho vay ngắn hạn tối đabằng VND đối với các lĩnh vực ưutiênxuốngcòn 11%/năm
- Đây là một bước tiếp theo trong gói giải pháp tổng thể, từng bướctháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế trong bối cảnh chỉ số giá tiêu dùngtháng 3/2013 giảm 0,19% so với tháng 2, nhu cầu tiêu dùng yếu ớt,hàng hóa tồn đọng còn nhiều và khu vực doanh nghiệp chưa thoát khỏikhó khăn
- Ngay từ ngày đầu tuần, một số TCTD đã điều chỉnh giảm lãi suấttiền gửi dưới 1 năm về mức 7-7,5%, giảm lãi suất tiền gửi trung dài hạnxuống khoảng 10,5%/năm từ 11-12%/năm trước đây Nhìn chung, cácTCTD đã có nhiều nỗ lực trong việc hạ lãi suất huy động, tính toán các
Trang 10mức lãi suất theo hướng ưu tiên tiền gửi dài hạn, làm cơ sở để giảm lãisuất cho vay, hàng loạt chương trình cho vay qui mô lớn với lãi suất ưuđãi đã được triển khai nhằm chia sẻ khó khăn cùng doanh nghiệp Do
đó, tăng trưởng tín dụng tính đến ngày 21/3 đã tăng 0,31% so với cuốitháng trước, riêng tín dụng VND tăng 0,69%
- Sự chỉ đạo sát sao của NHNN và động thái của các TCTD về việcgiảm lãi suất được coi là đang diễn ra theo tín hiệu thị trường, nổi bật làdiễn biến lạm phát NHNN đã tính toán cụ thể qui mô và mức độ canthiệp cần thiết, tránh tác động tiêu cực đến nền kinh tế vốn đang ở trongtình trạng khó khăn, nếu hạ lãi suất dưới mức lạm phát hay đánh thuếtiền gửi thì sẽ gây tác hại về mặt tâm lý, thậm chí có thể dẫn đến tìnhtrạng rút tiền ồ ạt như đang xảy ra tại Cộng hòa Síp Hơn nữa, nếu cóđánh thuế tiền gửi tiết kiệm thì cũng không dễ hướng được dòng tiềnvào sản xuất kinh doanh, người gửi tiền sẽ tính toán chuyển một phầntiền gửi sang vàng và ngoại tệ
- Về phía NHNN, hạ mặt bằng lãi suất xuống mức nào là vấn đề phảiđược cân nhắc kỹ lưỡng, sau khi đã liên tục điều chỉnh giảm các mứclãi suất chủ chốt trong thời gian rất ngắn Về vấn đề này, việc cho phépcác TCTD tự ấn định lãi suất tiết kiệm dài hạn cũng nhằm đảm bảoquyền lợi của người gửi tiền, đồng thời giúp các TCTD tái cơ cấunguồn vốn theo hướng tăng dần tỉ trọng tiền gửi dài hạn, qua đó sẽ đápứng tốt hơn nhu cầu về vốn trung dài hạn của nền kinh tế
- Tín hiệu khả quan là thị trường tài chính đã có dấu hiệu khởi sắc, hệthống ngân hàng vẫn ổn định, an toàn và đang có xu hướng phát triểnbền vững Với dấu hiệu tích cực này, cộng với nỗ lực của các TCTDtrong việc phối hợp cùng tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hyvọngtừ quý 2/2013, tín dụng sẽ tăng trở lại, góp phần tích cực cho việcthực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt 6% trong năm nay
Thị trường tài chính đã có dấu hiệu khởi sắc, hệ thống ngân hàng vẫn
ổn định, an toàn và đang có xu hướng phát triển bền vững
3 Nguyên nhân tác động tới lãi suất
a Một là, tổng cầu suy giảm gây khó khăn cho việc hấp thụ vốn
- Tuy tăng trưởng tín dụng từ quý II trở đi đã bắt đầu dương và tăng
đều đặn qua các tháng nhưng vẫn không thể đạt được mục tiêu đề ra do
Trang 11khả năng hấp thụ vốn rất thấp nên dù hiện nay, lãi suất cho vay đã giảmrất nhiều, nhưng dòng vốn vẫn chưa thể luân chuyển thông suốt
- Một mặt là do nợ xấu tồn đọng, các DN không dễ trả được, kể cả
phát mại TSBĐ, khiến cho các ngân hàng cũng thận trọng hơn Mặtkhác là do các DN gặp nhiều khó khăn nên nhu cầu vay vốn cũng giảm
đi
- Thực tế cho thấy, lợi nhuận của các DN niêm yết ngành cao su quý
III/2013 giảm trên 30%, ngành khoáng sản giảm gần 60%,… Vì vậy, dùlãi suất đã hạ, nhiều gói ưu đãi được thiết kế, song không thể giải quyếtđược nên việc mở rộng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng khoản vayvẫn rất khó khăn
b Hai là, nợ xấu vẫn là rào cản đối với hoạt động ngân hàng
- Dù nhìn vào các con số thì có thể thấy rằng nợ xấu đang giảm đinhưng mức độ giảm thực tế ra sao thì vẫn chưa thể đánh giá được, bởiviệc xử lý nợ xấu phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế vĩ mô vàthị trường, trong khi tiêu thụ hàng hoá còn chậm, năng lực tài chính vàkhả năng trả nợ của DN còn thấp
- Thị trường BĐS chậm phục hồi, TTTC trì trệ càng gây khó khăn cho
việc bán, xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ Trong khi đó các giảipháp điều hành kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho SXKD, hỗ trợ thịtrường BĐS luôn có độ trễ và cần phải có thời gian phát huy tác dụng. Đã vậy, các giải pháp xử lý nợ xấu lại chưa được triển khai đồng bộ
mà chủ yếu vẫn là TCTD tự xử lý nợ xấu nên đã làm giảm mức độ lànhmạnh tài chính, hiệu quả kinh doanh của TCTD trong ngắn hạn
- Cơ chế, chính sách xử lý TSBĐ còn nhiều rất vướng mắc, phức tạp,
chậm được khắc phục, hoàn thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho xử lý
nợ xấu VAMC đã được thành lập, đã mua nợ, song việc giải quyết số
nợ này ra sao là cả một vấn đề
c Ba là, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thực hiện tái cơ cấu chậm.
- Hơn 1 năm qua, tiến trình cổ phần hóa vẫn hết sức chậm chạp, năm
2012 cả nước chỉ cổ phần hóa có 13 DN, bằng 14% kế hoạch 7 thángđầu năm nay, cũng chỉ có thêm 16 DN được cổ phần hóa Việc thoáivốn thì ì ạch vì thị trường BĐS, TTCK đều đi xuống