Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Đất đai là nền tảng để con người định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp, đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất đất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra những lương thực, thực phẩm nuôi sống con người. Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai. Yên Khê là xã nghèo của huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, có diện tích tự nhiên: 5245,19 ha; dân số 5643 người. Trình độ dân trí thấp do đây là khu vực miền núi tập trung nhiều người dân tộc, khó tiếp cận được với các nền văn minh tiên tiến. Thu nhập của người chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính với tỉ lệ người sản xuất nông nghiệp trên 90%. Trước đây người dân sản xuất chủ yếu dựa vào cây lúa, nhưng đem lại hiệu quả không cao. Hiện nay người đang thực hiện dự án của địa phương chuyển đổi cây lúa sang mô hình trồng cam, trồng keo và cây rau màu, bước đầu đem lai hiệu quả khá cao. Nhiều hộ dân đã hưởng ứng và thay đổi mô hình canh tác truyền thống và đã có được nguồn thu nhập ổn định từ các loại cây trồng mới. Tuy nhiên trong quá trình phát triển cũng như xây dựng các mô hình sử dụng đất nông nghiệp cho thu nhập cao của người dân ở xã Yên Khê vẫn còn gặp nhiều khó khăn và bất cập. Yêu cầu đặt ra là phải có những đánh giá đầy đủ và củ thể về sự phát triển của các mô hình sử dụng đất tại xã Yên khê nhằm thúc đẩy quá trình phát triển. Vì vậy xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn nhu cầu sử dụng đất của người dân thì việc “Đánh giá hiệu quả một số mô hình sử dụng đất ở xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” là thực sự cần thiết.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Minh Thanh
Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây.
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau, có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo.
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Đức Hùng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Trang 2- Thầy giáo, Tiến sỹ Nguyễn Minh Thanh, người đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn.
- Tập thể các thầy cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập.
- Cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của cán bộ UBND và bà con nông dân trong xã Yên Khê
- Cảm ơn gia đình và những người thân đã động viên, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá học.
Đây là một đề tài còn mới mẻ đối với bản thân, hơn nữa khả năng và trình độ chuyên môn còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn, cho nên đề tài không tránh khỏi những sai sót Vậy rất mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý của thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cám ơn!
Hà nội, Ngày 15 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Đức Hùng
Trang 3LUT Loại hình sử dụng đất (Land Use Type)
Max Giá trị lớn nhất (Maximum)
RRA Đánh giá nhanh nông thôn (Rapid Rural Appraisal)
SALT 1 Slopping Agriculture Land Technology
SALT 2 Simple Agro – Livestock Technology
SALT 3 Sustainable Agroforest Land Technology
SALT 4 Small Agrofruit Livelihood Technology
STG Sự tham gia
SWOT Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ
hội), Threats (Nguy cơ)
UBND Ủy ban nhân dân.
Trang 4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặngcho con người Đất đai là nền tảng để con người định cư và tổ chức các hoạtđộng kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sảnxuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp,đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất đất nôngnghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra những lương thực,thực phẩm nuôi sống con người Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vữngđang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuấtcủa đất đai cho hiện tại và cho tương lai
Yên Khê là xã nghèo của huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, có diện tích
tự nhiên: 5245,19 ha; dân số 5643 người Trình độ dân trí thấp do đây là khuvực miền núi tập trung nhiều người dân tộc, khó tiếp cận được với các nềnvăn minh tiên tiến Thu nhập của người chủ yếu dựa vào sản xuất nôngnghiệp là chính với tỉ lệ người sản xuất nông nghiệp trên 90% Trước đâyngười dân sản xuất chủ yếu dựa vào cây lúa, nhưng đem lại hiệu quả khôngcao Hiện nay người đang thực hiện dự án của địa phương chuyển đổi cây lúasang mô hình trồng cam, trồng keo và cây rau màu, bước đầu đem lai hiệuquả khá cao Nhiều hộ dân đã hưởng ứng và thay đổi mô hình canh tác truyềnthống và đã có được nguồn thu nhập ổn định từ các loại cây trồng mới Tuynhiên trong quá trình phát triển cũng như xây dựng các mô hình sử dụng đấtnông nghiệp cho thu nhập cao của người dân ở xã Yên Khê vẫn còn gặp nhiềukhó khăn và bất cập Yêu cầu đặt ra là phải có những đánh giá đầy đủ và củthể về sự phát triển của các mô hình sử dụng đất tại xã Yên khê nhằm thúcđẩy quá trình phát triển Vì vậy xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn nhu cầu sử dụng
đất của người dân thì việc “Đánh giá hiệu quả một số mô hình sử dụng đất
ở xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” là thực sự cần thiết.
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm về sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi nhu cầu của con người lấy
đi từ đất ngày càng tăng, mặt khác diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngàymột thu hẹp do chuyển sang đất phi nông nghiệp Với mục tiêu xây dựng nềnnông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hànghoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảmbảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài [2] Để thựchiện mục tiêu trên, cần có các giải pháp và quan điểm cụ thể như sau:
- Áp dụng phương thức sản xuất nông nghiệp kết hợp, đa dạng hóa sảnphẩm, chống xói mòn, rửa trôi, thâm canh bền vững
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đadạng hóa cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợpvới sinh thái và bảo vệ môi trường
- Phát triển nông nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sởchuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu đadạng hóa nền kinh tế quốc dân
- Phát triển nông nghiệp một cách toàn diện gắn với việc xóa đói giảmnghèo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và phát huy nền vănhóa truyền thống của dân tộc, không ngừng nâng cao nguồn lực của conngười
- Phát triển kinh tế nông nghiệp trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệvào sản xuất
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của cơ sở phải gắn vớiđịnh hướng phát triển kinh tế xã hội của khu vực, vùng và của cả nước
Trang 61.2 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
Đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau lànhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý Trong đóđánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng
Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel - Norhuas: “ Hiệu quả không cónghĩa là lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội.Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hànghóa này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hóa khác” (Dẫn theo VũThị Phương Thụy [18])
Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ, hiệu quả chính là kết quả cũng nhưyêu cầu của việc làm mang lại Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đấtphải là kết quả của quá trình sử dụng đất Trong đó ta quan tâm nhiều tới kếtquả hữu ích, một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, đượcbiểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữanguồn tài nguyên đất đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của conngười mà ta phải xem xét kết quả sử dụng đất được tạo ra như thế nào? Chiphí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích không?Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại
ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sảnxuất tạo ra sản phẩm đó
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả thông qua việc bố trí cơ cấu câytrồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầuhết các nước trên thế giới [24] Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhàkhoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp màcòn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quátrình sản xuất nông nghiệp
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vậtnuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có tính cạnh tranh cao Đó là một trong
Trang 7những điều kiện quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo hướng sảnxuất hàng hóa vừa mang tính ổn định vừa đảm bảo sự bền vững
Ngày nay nhiều nhà khoa học cho rằng: Xác định đúng khái niệm, bảnchất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác vànhững nhận thức lí luận của lý thuyết, nghĩa là hiệu qủa phải được xem xéttrên 3 mặt: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [18]
1.2.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng củacác hoạt động kinh tế Mục đích sản xuất kinh tế - xã hội là đáp ứng nhu cầungày càng cao về vật chất tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất xãhội ngày càng trở nên khan hiếm Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòihỏi phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trùhiệu quả kinh tế
Xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau các nhà kinh tế đã ra nhiềuquan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Mục tiêu các nhà quản lý đặt ra làvới một khối lượng dự trữ tài nguyên nhất định tạo ra một khối lượng hànghóa lớn nhất Hay nói cách khác là ở một mức sản xuất nhất định cần phải làmthế nào để có chi phí tài nguyên và lao động thấp nhất Điều đó cho thấy quan
hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra là sự biểu hiện kết quả của mốiquan hệ thể hiện tính hiệu quả của sản xuất
Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt độngkinh tế bằng quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cholợi ích của con người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càngtăng, vì vậy nâng cao hiệu quả kinh tế là đòi hỏi khách quan của một nền sảnxuất xã hội
1.2.2 Hiệu quả về mặt xã hội
- Được thể hiện ở mức độ thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làmvới mức thu nhập mà người lao động chấp nhận, bền vững trong địa bàn vàcác vùng lân cận
Trang 8- Trình độ dân trí của người dân được thể hiện ở nhận thức và mức độtiếp thu khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp và các ngành nghềkhác để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Mức độ phát triển cơ sở
hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu của người dân
- Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống
- Đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định chính trị và an ninh lương thực
1.2.3 Hiệu quả về môi trường sử dụng đất
Để đánh giá một phương thức sản xuất nào đó là tiến bộ, đi đôi với việcxem xét hiệu quả kinh tế còn phải đánh giá chung về hiệu quả môi trường.Hiệu quả môi trường của một hệ thống canh tác trước hết phải phục vụ mụctiêu của sự phát triển một nền nông nghiệp bền vững, đó là:
- Bảo vệ và làm tăng độ phì nhiêu của đất, cải tạo và phục hồi nhữngloại đất nghèo dinh dưỡng, đất đã bị suy thoái do kỹ thuật canh tác gây nên,duy trì và nâng cao tiềm năng sinh học của các loại đất còn chưa bị suy thoái.Các tiêu thức dùng để đánh giá bao gồm:
+ Bón phân và giữ gìn đất: Việc cung cấp lại lượng mùn bị mất đi hàngnăm của đất là rất cần thiết để giữ độ phì cho đất
+ Hạn chế dùng hóa chất trong nông nghiệp
+ Trồng cây họ Đậu (Fabaceace) bao gồm các cây họ Đậu ngắn ngày,
dài ngày, cây phân xanh, cây đa tác dụng bằng nhiều hình thức: Trồng luâncanh, trồng xen, trồng dọc đường ranh giới
+ Tăng vụ, tăng hệ số quay vòng của đất để tăng cường sự che phủ đất + Tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen của các động vật, thực vậthoang dã dùng để lai tạo thành các giống chống chịu tốt với sâu bệnh và cácđiều kiện ngoại cảnh bất thường
+ Tính đa dạng giữa các hệ phụ trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề phụ,bảo quản chế biến sau thu hoạch và tiêu thụ hàng hóa
+ Phát triển phương thức nông lâm kết hợp, xây dựng các mô hình VAC
Trang 9+ Bảo vệ và duy trì nguồn tài nguyên nước bằng việc trồng rừng, xóa bỏđất trống đồi núi trọc, trồng cây lâu năm, kết hợp nông lâm với nuôi trồngthủy sản…
1.3 Quan điểm sử dụng đất bền vững
Hệ sinh thái nông nghiệp được tạo ra nhằm mục đích phục vụ con ngườicho nên nó chịu những tác động mạnh mẽ nhất từ chính con người Các tácđộng của con người, nhiều khi đã làm cho hệ sinh thái biến đổi vượt quá khảnăng tự điều chỉnh của đất Con người đã không chỉ tác động vào đất đai màcòn tác động cả vào khí quyển, nguồn nước để tạo ngày một nhiều hơn lươngthực, thực phẩm và hậu quả là đất đai cũng như các nhân tố tự nhiên khác bịthay đổi theo chiều hướng ngày một xấu đi Ngày nay những vùng đất đaimàu mỡ đã giảm sức sản xuất một cách rõ rệt và có nguy cơ thoái hóa nghiêmtrọng Không những thế sự suy thoái đất đai còn kéo theo sự suy giảm nguồnnước, những hiện tượng thiên tai bất thường Trước những biểu hiện trên,nhằm đảm bảo cuộc sống cho con người hiện tại và tương lai, cần có nhữngchiến lược về sử dụng đất để duy trì những khả năng hiện có và khôi phục
những khả năng đã mất của đất đai Thuật ngữ “Sử dụng đất bền vững” ra đời
trên cơ sở những mong muốn trên
Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vữngluôn là mong muốn của con người trong mọi thời đại Nhiều nhà khoa học,các tổ chức quốc tế đã đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất bền vững trênnhững vùng của thế giới, trong đó có Việt Nam Việc sử dụng đất bền vữngnhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất);
- Giảm rủi ro sản xuất (an toàn);
- Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hóa đất và nước(bảo vệ);
- Có hiệu quả lâu dài (lâu bền);
- Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận) [9]
Trang 10Như vậy sử dụng đất bền vững không những thuần túy về mặt tự nhiên
mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm mục tiêu mangtính nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững Trong thựctiễn việc sử dụng đất đạt được cả 5 mục tiêu trên thì sự bền vững sẽ thànhcông, nếu không sẽ chỉ đạt được sự bền vững ở một vài bộ phận hay sự bềnvững có điều kiện Tại Việt Nam, việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trênnhững nguyên tắc trên và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và đượcthị trường chấp nhận Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh họccao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh họcbao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả…vàtàn dư để lại) Một hệ thống sử dụng đất bền vững phải có năng suất trên mứcbình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường
* Về chất lượng: Sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương,trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng
* Tổng sản phẩm giá trị trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhấtcủa hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong mộtgiai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đóthì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớnhơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng
- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sốngngười dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Đáp ứng nhu cầu của nông hộ
là điều cần quan tâm trước nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệđất, môi trường…) Sản phẩm thu được cần thỏa mãn cái ăn, cái mặc và nhucầu sống hằng ngày của người nông dân
* Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Hệ thống sử dụngđất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền sử dụng lâu dài, đấtđược giao và rừng được khoán với lợi ích các bên cụ thể Sử dụng đất sẽ bền
Trang 11vững nếu phù hợp với nền văn hóa dân tộc và tập quán địa phương, nếungược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ.
- Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được độ màu
mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữđất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hằng năm dưới mức chophép
* Độ phì nhiêu tầng đất là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bềnvững
* Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
* Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơnđộc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hằng năm
Ba yêu cầu bền vững trên là tiêu chuẩn để xem xét và đánh giá các loạihình sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầutrên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái[3,20]
1.4 Loại hình sử sụng đất
Trong đánh giá đất, FAO đã đưa ra những khái niệm về loại hình sửdụng đất, đưa việc xác định loại hình sử dụng đất vào nội dung các bướcđánh giá đất và coi loại hình sử dụng đất là 1 đối tượng của quá trình đánh giáđất
Loại hình sử dụng đất (Land use type - LUT) là bức tranh mô tả thựctrạng sử dụng đất của mỗi vùng với những phương thức sản xuất và quản lýsản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định[1]
Yêu cầu của các LUT là những đòi hỏi về đặc điểm và tính chất đất đai
để bảo vệ mỗi LUT phát triển bền vững Đó là những yêu cầu sinh trưởng,quản lý, chăm sóc, các yêu cầu bảo vệ đất và môi trường [1]
Có thể liệt kê một số LUT khá phổ biến trong nông nghiệp hiện nay như:
Trang 12- Chuyên trồng lúa: Có thể canh tác nhờ nước mưa hay có tưới chủ động,trồng 1 vụ, 2 vụ hay 3 vụ trong năm.
- Chuyên trồng màu: Thường được áp dụng cho những vùng đất caothiếu nước tưới, đất có thành phần cơ giới nhẹ
- Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn, thực hiện những công tác luânthức luân canh nhiều vụ trong năm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đểđáp ứng nhu cầu cuộc sống con người, đồng thời còn có tác dụng cải tạo độphì của đất Cũng có thể nhằm khắc phục những hạn chế về điều kiện tướikhông chủ động 1 số tháng trong năm, nhất là mùa khô
1.5 Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
Theo dự báo của tổ chức Liên hợp quốc (UN) và Ngân hàng thế giới(WB) thì dân số thế giới năm 2025 sẽ đạt 10 tỷ USD Hiện tại nhu cầu lươngthực cơ bản là tạm ổn, nếu như không có tác động xấu của thiên tại phá hoại,song trong tương lai vấn đề lương thực sẽ đặt cho ngành sản xuất nông nghiệp
và khai thác nguồn tài nguyên đất đai vào tình trạng cạn kiệt quá mức, đặcbiệt đối với những nước đang phát triển Theo cảnh báo của FAO [26], [27],thì 117 nước đang phát triển, sẽ có không dưới 64 nước sẽ không có khả năngcung cấp đủ lương thực trong tương lai vào những năm đầu của thế kỷ XXI,
Trang 13nếu như các quốc gia này không áp dụng những biện pháp canh tác, sử dụng
và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên đất đai
Hiện nay nguồn dự trữ diện tích đất canh tác ở các nước đang phát triểncòn khá lớn, nhưng chỉ tập trung vào các nước ở Châu Phi và Châu Mỹ.Nguồn canh tác ở Châu Á gần như đã cạn kiệt, trong khi đó dân số Châu Áchiếm gần ½ thế giới Vì vậy đất đai của Châu Á được xem như chịu áp lựcrất lớn của sự bùng nổ dân số trong tương lai
Bảng 2.1 Dự báo diện tích canh tác và dân số thế giới
(Triệu người)
Diện tích đất canh tác (triệu ha)
Bình quân DT đất canh tác/người
Ước tính được rằng năm 2000 bình quân đầu người /ha đất canh tác ởvùng Châu Á Thái Bình Dương là 9,7 người/ha Năm 2010 sẽ là 12 người/ha
và đến 2020 sẽ là 17,7 người/ha
Bình quân chung về diện tích đất canh tác ở Châu Á so với thế giới thìthấp hơn rất nhiều Điều đáng nói là chỉ tiêu này ở Việt Nam lại càng thấp,điều này cũng nói lên rằng khả năng mở rộng diện tích đất nông lâm nghiệp ởViệt Nam nói riêng và khu vực Châu Á nói chung là rất khó khăn Trongtương lai không thể trông chờ theo hướng mở rộng diện tích đất canh tác, màphải tập trung vào thâm canh, áp dụng các công nghệ sinh học tiên tiến vàosản xuất nông nghiệp mới có thể đáp ứng được an ninh lương thực
Trang 14Khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp trên thế giới đã bị suy thoáinghiêm trọng trong 50 năm qua do xói mòn, rửa trôi, sa mạc hóa, chua hóa,mặn hóa, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng hệ sinh thái đất Tốc độ đô thịhóa nhanh dẫn đến sự hình thành các siêu đô thị, hiện nay trên thế giới cókhoảng 20 siêu đô thị với dân số trên 10 triệu người Sự hình thành siêu đô thịgây khó khăn cho giao thông vận tải, nhà ở, nguyên vật liệu, xử lý chất thải vàlàm giảm bớt diện tích đất nông nghiệp [22].
Cho tới nay trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề ranhiều phương pháp đánh giá, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đấtnông nghiệp theo hướng phát triển hàng hóa
Theo Lê Duy Thước thì việc bón phân hữu cơ có tác dụng chống xóimòn rất tốt Việc sử dụng phân bón là biện pháp chống xói mòn có hiệu quả,bón phân thúc đẩy cây sinh trưởng tốt, tạo độ che phủ Khi bón phân hữu cơ,đất sẽ có cấu trúc tốt hơn, khả năng ngấm nước cao hơn, thúc đẩy vi sinh vậthoạt động Do đó, tính chất đất được cải thiện rõ rệt [21]
Một số phương thức sử dụng đất có hiệu quả cao lâu bền trên đất dốc là
mô hình SALT (Sloping Agriculture Land Technology) được Trung tâm pháttriển đời sống nông thôn Bastptit Mindanao Philippines tổng kết, hoàn thiện
và phát triển từ giữa năm 1997 đến nay [4] Các mô hình đó không chỉ đượcứng dụng và phát triển rộng rãi ở Philippines mà còn được các nhóm cộng tácquốc tế và khu vực tiếp cận và ứng dụng
- Mô hình SALT1: Đây là mô hình tổng hợp dựa trên cơ sở phối hợp tốtcác biện pháp bảo vệ đất đối với sản xuất lương thực Kỹ thuật canh tác nôngnghiệp trên đất dốc với cơ cấu cây được sử dụng để đảm bảo SALT1: 75%diện tích đất nông nghiệp (50% là cây hàng năm và 25% cây lâu năm) ổnđịnh, có hiệu quả và 25% cây lâm nghiệp
- Mô hình SALT2: Là mô hình kinh tế nông súc kết hợp đơn giản với cơcấu 40% cho nông nghiệp + 20% lâm nghiệp + 20% chăn nuôi + 20% làmnhà ở và chuồng trại [4]
Trang 15- Mô hình SALT3: Kỹ thuật canh tác lâm nghiệp bền vững Đây là môhình sử dụng đất tổng hợp dựa trên cơ sở kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ vớiviệc sản xuất lương thực thực phẩm Cơ cấu sử dụng đất thích hợp ở đây là40% đất dành cho nông nghiệp, 60% dành cho lâm nghiệp [4].
- Mô hình SALT4: Mô hình kỹ thuật sản xuất nông nghiệp với cây ănquả quy mô nhỏ Trong mô hình này, ngoài đất đai dành cho nông nghiệp –lâm nghiệp, cây hàng rào xanh còn dành ra 1 phần để trồng cây ăn quả Cơcấu sử dụng đất dành cho lâm nghiệp 60%, nông nghiệp 15% và cây ăn quả25% Đây là mô hình đòi hỏi đầu tư cao cả về nguồn lực, vốn và kỹ thuậtcanh tác [4]
Viện Lúa quốc tế IRRI đã có những thành tựu về lĩnh vực giống lúa và
hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tác chí “ Farming Japan” của Nhật Bản
ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về cáchình thức sử dụng đất, điển hình là của Nhật Nhà khoa học Nhật Bản OtakTanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồngruộng, từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thayđổi về kỹ thuật, kinh tế - xã hội Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống hóatiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất thông qua hệ thống cây trồng trên đất canhtác là sự phối hợp giữa cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt vàchăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra,tính chất hàng hóa của sản phẩm [5]
Theo kinh nghiệm của Trung Quốc thì việc khai thác và sử dụng đất làyếu tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chínhphủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý sử dụng đất đai ổn định,chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm
và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất đã thúc đẩy kinh tế
-xã hội nông thôn phát triển toàn diện về mọi mặt và nâng cao được hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp [5]
Trang 16Ở Thái Lan, Ủy ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mớingoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây khôngthích hợp với đất nhằm quản lý và bảo vệ đất tốt hơn [5].
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệpquan trọng nhất là chính sách đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Ở Mỹ tổng sốtiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD ( chiếm 28,3% trong tổng thu nhập nông nghiệp).Canada tương ứng là 5.7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Oxtraylia là 1.7 tỉ USD(chiếm 14,5%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (chiếm 68,9%), Cộng đồng Châu Âu
là 67,2 tỉ USD (chiếm 40,1%), Áo là 1,6 tỉ USD ( chiếm 35,3%) [5]
Trên đây là những thông tin liên quan đến vấn đề sử dụng đất, các hệthống canh tác và các phương pháp tiếp cận nông thôn mới trên thế giới đãđược các tác giả nghiên cứu và được áp dụng trên nhiều quốc gia Có thể coicác thông tin nói trên làm cơ sở để các nước áp dụng trong công tác quyhoạch sử dụng đất
1.5.2 Ở Việt Nam
Trong những năm qua, ở Việt Nam nhiều tác giả đã có những công trìnhnghiên cứu về sử dụng đất, vì đây là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp Các công trình nghiên cứu đánhgiá tài nguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ứng(1995) [10]; Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và pháttriển lâu bền [18]; Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng SôngHồng [12]; Lê Hồng Sơn (1995) [15] nghiên cứu “ Ứng dụng kết quả đánh giáđất vào đa dạng hóa cây trồng đồng bằng Sông Hồng”; Quyền Đình Hà(1993) [9] với “Đánh giá kinh tế đất lúa vùng đồng bằng Sông Hồng”
Ở nước ta, đất dốc chiếm khoảng 70% tổng diện tích đất tự nhiên, nghiêncứu và tổng hợp các kết quả nghiên cứu việc sử dụng đất trung du và miền núiViệt Nam, Nguyễn Thị Linh (1991) đã nêu ra 3 khó khăn lớn nhất cho việcphát triển hệ thống canh tác trên đất dốc là: Xói mòn - rửa trôi, khô hạn đất và
cỏ dại [11] Vương Văn Quỳnh (2002) và nhiều tác giả khác cũng cho rằng,
Trang 17trong điều kiện của Việt Nam biện pháp chống xói mòn hữu hiệu và rẻ tiềnnhất là biện pháp phủ xanh Họ cho rằng: ‘‘Việc bố trí cây trồng thành bănggiữa cây hằng năm và cây lâu năm luân phiên giữa các băng và trồng xen,trồng gối… sẽ tạo một tán che tối đa, nhiều tầng, hạn chế được sức công phátrực tiếp của hạt mưa” Đó là cơ sở lý luận vững chắc nhất của hệ thống Nông
- Lâm kết hợp trên đất dốc [13]
Theo Trương Đình Trọng - trường Đại học Khoa học - Đại học Huế, đãnghiên cứu thực trạng thoái hoá đất ở Quảng Trị và đã đưa ra một số giải pháptổng thể để bảo vệ môi trường đất Bazan ở Quảng Trị trên cơ sở thoái hoá đất:
- Sử dụng tổng hợp đất Bazan theo điều kiện cụ thể của từng vùng
- Đối với những diện tích đất bazan có tiềm năng thoái hoá mạnh và rấtmạnh, cần chú ý bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng phòng hộ, hạn chế tối đacác hoạt động khai thác đất
- Đầu tư theo chiều sâu vào đất Bazan và vào vốn hiện có
- Áp dụng giải pháp nông lâm kết hợp ngay từ đầu với phương thức vườnrừng gia đình thông qua việc giao quyền sử dụng đất lâu dài và ổn định chongười dân
Trong giai đoạn 2001 – 2005 từ các đề tài cấp bộ, các đề tài hợp tác quốc
tế, Viện Nông Hoá - Thỗ nhưỡng đã tập trung nghiên cứu ứng dụng và đạt cáckết quả nổi bật trong các lĩnh vực: Phát sinh học và phân loại đất; bảo vệ nângcao độ phì nhiêu; nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phân bón, cũng như bảo vệmôi trường đất nói riêng và môi trường nông nghiệp nói chung
Qua nhiều năm nghiên cứu, Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm cũng đưa
ra nhiều kết quả nghiên cứu về các quá trình thoái hoá đất và các biện pháp đểphục hồi đất vùng đồi núi Việt Nam [14]
Bùi Huy Đáp trên cơ sở tổng kết các nghiên cứu về vùng miền núi phíaBắc đã đưa ra chế độ canh tác thích hợp, theo tác giả ở các ruộng thung lũng
và bậc thang hệ thống cây trồng là Lúa mùa - Khoai tây (hoặc Đậu đỗ - Câyphân xanh) Trên đất dốc cao trước đây làm một vụ Ngô xuân hay xuân hè có
Trang 18thể đưa thêm cây Đậu trắng, Đậu hà lan vào hệ thống cây trồng như Ngô màu vụ đông [11]
Nguyễn Văn Chinh - Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đãtiến hành điều tra phân tích một số hệ thống trồng trọt cây công nghiệp lâunăm trên đất đồi vùng Tây Nguyên và đã đưa ra được các biện pháp để pháttriển hệ thống cây công nghiệp lâu năm trên đất đồi, làm cơ sở để khai tháchiệu quả đất trống đồi núi trọc, đó là việc áp dụng tổng hợp các biện pháp:Biện pháp đầu tư, biện pháp sinh học, biện pháp kỹ thuật và các biện pháp về
cơ chế chính sách [10]
Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm canh tác truyền thống của đồng bàodân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc, tác giả Ngô Đình Quế cùng cộng sự đã đềxuất PTCT luân canh nương rẫy cải tiến:
Canh tác 3 năm - Trồng cây họ đậu phủ đất 2 -3 năm - canh tác 3 - 4năm - trồng cây họ đậu phủ đất 3 - 4 năm
Canh tác 3 năm Trồng băng + canh tác 2 4 năm Trồng băng mới 3
-4 năm + canh tác 2 -5 năm - Trồng cây họ đậu phủ đất 3 - -4 năm
Nghiên cứu về HTCT nương rẫy, Trần Đức Viên và cộng sự (1999)nhận định rằng: Hiện nay canh tác du canh vẫn còn là một hình thức canh tácchủ yếu của một bộ phận nông dân miền núi Dưới sức ép của gia tăng dân sốcùng với việc khai thác rừng và đất đai một cách ồ ạt nhằm mục tiêu sản xuấtnương thực đã làm thay đổi hình thức sản xuất nương rẫy truyền thống Mấtrừng thời gian bỏ hoá rút ngắn tỏ ra không còn bền vững và thích hợp vớiđièu kiện hiện nay ở miền núi nước ta, Vì vậy cần có các biện pháp canh táctrên đất dốc thích hợp để kéo dài thời gian canh tác và quản lý đất trong thờigian bỏ hoá một cách tích cựu giúp đất phục hồi dinh dưỡng nhanh chóng chocác chu kỳ kinh doanh tiếp theo [23]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đậu và các cộng sự về hệ thốngcanh tác nông lâm nghiệp ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam chothấy hiệu quả của các mô hình canh tác trên đất dốc như sau: Mô hình canh
Trang 19tác cây lương thực sắn xen đậu đỗ, lạc với các cây phân xanh chống xói mòntrên các loại đất phát triển trên sa thạch, phiến thạch sét và phù sa cổ là biệnpháp giải quyết phân bón tại chỗ có hiệu quả cao để thâm canh tăng năng suấttrên đất dốc
Theo Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1999) [14] đối với vùng cao, dân
cư ít, trình độ dân trí thấp, sản xuất còn ở mức thô sơ, cơ sở hạ tầng thấp, antoàn lương thực là vấn đề cấp bách vì vậy các mô hình canh tác có triển vọng làtrồng cây đặc sản, cây ăn quả, cây dược liệu phối hợp với bảo vệ đầu nguồn,cây trồng dưới tán rừng lâu năm, hạn chế du canh, chuyển đổi du canh thànhnương định canh với các loại cây họ đậu cải tạo đất
Nhóm tác giả Nguyễn Hữu Đông, Phạm Chí Thành, Phạm Tiến Dũng(1996) [23] khảo sát một số mô hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên hệthống canh tác ruộng chờ mưa tại Tràng Định - Lạng Sơn đã chỉ ra: Các loạihình sử dụng đất ruộng chờ mưa phổ biến (gồm ruộng bậc thang canh tác 1 vụlúa và 1 vụ cây trồng cạn đất thung lũng và đất phiến bãi) các hạn chế khi canhtác trên hệ thống canh tác này là hệ số quay vòng sử dụng đất và tỷ trọng của
hệ canh tác cải tiến thấp, các tác giả cũng đưa ra một số mô hình chuyển dịch
cơ cấu cây trồng
Nhóm tác giả Trần Đức Hạnh, Văn Tất Tuyên, Phạm Văn Phê (1996)[17] đã có những kiến nghị về tập đoàn cây trồng nông lâm nghiệp cho xã TháiThịnh và vùng ven hồ Hòa Bình bao gồm: Cây nông nghiệp (lúa, sắn, đậu,ngô), cây ăn quả (chuối, mơ, mận, dứa), cây lâm nghiệp (luồng, nứa, vầu,bương, keo)
Đặng Thịnh Triều và cộng sự (2004) [19] nghiên cứu một số hệ thốngcanh tác ở miền núi và vùng cao tại Việt Nam cho thấy, hiện nay ở nước tađang tồn tại các hệ thống canh tác sau: nương rẫy du canh du cư, lúa nước, hoamàu định canh định cư, cây lâu năm tập trung, chăn nuôi đại gia súc, nông lâmkết hợp
Trang 20Theo Võ Đại Hải (2003) [8] việc cải tiến các hệ thống canh tác nươngrẫy, theo hướng sử dụng đất bền vững chính là việc thiết lập các hệ thống nônglâm kết hợp và hiệu quả do nó mang lại là cơ cấu thu nhập của người dân thayđổi, thời hạn sử dụng đất kéo dài, năng suất cây trồng ổn định.
Vương Văn Quỳnh (2002) [13], nghiên cứu luận cứ phát triển kinh tế
-xã hội vùng xung yếu hồ thủy điện Hòa Bình đã chỉ ra được các chính sáchkinh tế xã hội đã được triển khai tại khu vực và tác động của chính sách đó đếnđời sống người dân và sự phát triển của khu vực Nghiên cứu sự tác động củatừng hệ thống canh tác đến các yếu tố chính của môi trường vật lý và kinh tế -
xã hội cho thấy mô hình canh tác ruộng nước, nông lâm kết hợp, rừng trồng cóhiệu quả tác động dương đến môi trường vật lý Mô hình nương rẫy có biểuhiện tiêu cực đến môi trường nhưng ở mức độ thấp Những phương thức canhtác vườn, canh tác màu, canh tác rừng trồng có hiệu quả tổng hợp chưa cao nêncần được cải tạo phát triển theo hướng chuyển dần thành canh tác nông lâm kếthợp
Nhóm tác giả Trần Đức Viên, Phạm Chí Thành và tập thể tác giả (1996)[23] đã lựa chọn mô hình phù hợp với 3 cấp dốc khác nhau: cấp 1 (00 – 50): Lúarẫy xen cây phân xanh, cấp 2 (60 – 150): lúa rẫy xen đậu đỏ và cấp 3 (> 150)canh tác nông lâm kết hợp; đồng thời cũng phân tích được ảnh hưởng của các
mô hình canh tác môi trường và kinh tế hộ, trong nghiên cứu về hệ thống canhtác trên đất dốc bạc màu góp phần định canh cho đồng bào dân tộc ở Đaklak.Nguyễn Minh Thanh, Trần Thị Nhâm (2015) đã đánh giá và lựa chọn 3loại hình sử dụng đất chính với các cây trồng hàng năm, cây ăn quả và cây lâmnghiệp, phân tích đánh giá hiệu quả tổng hợp cho từng loại cây trồng, làm cơ
sở đề xuất giải pháp quản lí sử dụng đất theo hướng sản xuất hàng hóa: mởrộng diện tích trồng các loại cây có giá trị kinh tế như Na dai, cây Keo taitượng, Xoan ta tại xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Cạn.[16]
Nguyễn Minh Thanh (2016), đã nghiên cứu đánh giá và lựa chọn các môhình canh tác ở huyện Chư Pưh theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa:
Trang 21(i) Nhóm 1 gồm cây công nghiệp ngắn ngày và sắn, bắp, đậu đỗ, cỏ chănnuôi, hoa màu và lúa nước;
(ii) Nhóm 2 gồm cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày (cà phê, hồ tiêu) vàcây lương thực (cỏ chăn nuôi, đậu đỗ, hòa màu và lúa nước);
(iii) Nhóm 3 gồm cây công nghiệp dài ngày (cao su, hồ tiêu, cà phê).Nhóm mô hình 2 có hiệu quả kinh tế cao nhất, tiếp theo là nhóm mô hình 3 vàthấp nhất là nhóm mô hình 1 Hiệu quả xã hội việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng
đã thu hút được rất nhiều lao động tham gia là mô hình 2, tiếp đến là mô hình 1
và 3 Nhóm mô hình 2 cũng có khả năng bảo vệ môi trường cao nhất Mộttrong những giải pháp được đề xuất để nâng cao hiệu quả sử dụng đất là cầntăng cường sự liên kết trong sản xuất và thực hiện tốt chuỗi giá trị nông sản.[17]
Từ tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới và Việt nam cho thấy vấn
đề sử dụng đất đã được quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm Tuy nhiên, cácnghiên cứu về cơ sở khoa học cho vấn đề sử dụng đất bền vững vẫn chưanhiều Hiện tại trên địa bàn thực hiện của đề tài vẫn chưa có nghiên cứu sâunào về các cơ sở khoa học, cũng như đề xuất giải pháp sử dụng đất nông lâmnghiệp nói chung và phương hướng sử dụng đất nông lâm nghiệp bền vữngnói riêng Mặt khác xã Yên Khê có vị thế địa lý và mô hình canh tác khá đadạng do đó không thể áp dụng mô hình phát triển nông nghiệp nông thônđồng nhất mà cần tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển các mô hìnhcanh tác để đưa ra những đề xuất phù hợp Vì vậy vấn đề nghiên cứu đặt rathực sự là cần thiết
Chương 2
Trang 22MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệpphổ biến tại địa phương
- Đề xuất một số giải pháp quản lý sử dụng đất theo hướng bền vững tạiđịa bàn xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
2.2 Nội dung nghiên cứu
Với các mục tiêu đề ra, khóa luận thực hiện các nôi dung sau:
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và lựa chọn một số loại hình sử dụngđất phổ biến ở địa phương
- So sánh, đánh giá hiệu quả sử dụng đất của một số loại hình sử dụngđất nông lâm nghiệp phổ biến trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình sử dụng đất nông lâmnghiệp theo hướng hợp lý và bền vững
2.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những loại hình canh tác nông lâmnghiệp phổ biến tại xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn xã Yên Khê, huyện Con Cuông,tỉnh Nghệ An với các số liệu thu thập được từ năm 2010 đến năn 2016
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm phương pháp luận
Phương pháp nghiên cứu của đề tài có sự kết hợp giữa phương pháp điềutra quan sát đối tượng trên hiện trường, thu thập số liệu thứ cấp tại các cơquan liên quan, kết hợp phỏng vấn, điều tra đánh giá có sự tham gia củangười dân Các kết quả được tổng hợp theo từng nội dung nghiên cứu, trên cơ
sở đó đưa ra các kết luận, giải pháp cụ thể, thích hợp
Trang 232.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Ứng với từng nội dung nghiên cứu, đề tài áp dụng một số phương phápnghiên cứu cụ thể sau:
Nội dung 1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và lựa chọn một số mô hình sử dụng đất phổ biến
* Thu thập số liệu thứ cấp
Điều tra trực tiếp thông qua hệ thống số liệu, hồ sơ, tài liệu đã được côngbố:
- Thu thập dữ liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội
- Tài liệu, báo cáo, bản đồ liên quan đến chính sách đất đai, tình hình sửdụng đất, hiện trạng cũng như biến động sử dụng đất nông lâm nghiệp thời kỳ
2011 - 2016
* Thu thập số liệu sơ cấp
Để thu thập được số liệu này, đề tài sử dụng các phương pháp phỏng vấnnông hộ Cụ thể:
- Điều tra theo tuyến và xây dựng sơ đồ lát cắt Lựa chọn hướng đi qua
tất cả cả các mô hình sử dụng đất trên địa bàn xã
- Trên cơ sở lát cắt, xác định các mô hình sử dụng đất phổ biến nhất tạiđịa phương
- Sử dụng công cụ PRA phỏng vấn nông hộ theo câu hỏi trong bảngbiểu
Nội dung 2 Phân tích hiệu quả sử dụng đất của một số mô hình sử dụng đất nông lâm nghiệp
* Điều tra phỏng vấn nông hộ
Phương pháp này sử dụng bộ câu hỏi để điều tra nông hộ, phỏng vấn báncấu trúc với các câu hỏi mở Bộ câu hỏi điều tra bao gồm các thông tin về tìnhhình cơ bản của hộ nông dân, qui mô, cơ cấu đất đai, thu nhập kinh tế, cáchoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, những khó khăn, kiến nghị….Các thôngtin thể hiện bằng những câu hỏi ngắn gọn, dễ trả lời, phù hợp với trình độ
Trang 24chung của nông dân (chi tiết ở phần phụ lục) Số hộ tham gia phỏng vấn là 30
hộ (10 hộ/thôn x 3 thôn/xã)
* Đánh giá hiệu quả sử dụng đất
(i) Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất
+ Đối với mô hình canh tác với cây hàng năm:
Coi các yếu tố chi phí và kết quả là độc lập tương đối và không chịu tácđộng của yếu tố thời gian, mục tiêu đầu tư và biến động giá trị đồng tiền.Phương pháp này áp dụng tính toán cho các mô hình canh tác cây ngắn ngày:
P = TN - CP [2.1]
Trong đó: P: Lợi nhuận; TN: Thu nhập; CP: Chi phíĐối với phương pháp này, nếu giá trị tính toán P > 0 thì mô hình canh tác
đó có hiệu quả kinh tế và ngược lại
+ Đối với mô hình canh tác trồng cây lâu năm
- Xem xét chi phí và thu nhập trong mối quan hệ với mục tiêu đầu tư,thời gian, giá trị đồng tiền
- Các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và tính toán bằng các hàm: NPV,BCR, BPV, CPV, IRR Các chỉ tiêu được tính toán như sau:
* Giá trị hiện tại lợi nhuận ròng NPV:
NPV là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt độngsản xuất trong các mô hình khi đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiệntại
r
C B NPV
0 ( 1 ) [2.2]
Trong đó: NPV là giá trị hiện tại thu nhập ròng (đồng)
Bt là giá trị thu nhập ở năm t (đồng)
Ct là giá trị chi phí ở năm t (đồng)
r là tỉ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)
T là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)
Trang 25NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế haycác phương thức canh tác NPV càng lớn thì hiệu quả càng cao.
NPV > 0 : Sản xuất có lãi
NPV < 0 : Sản xuất bị lỗ
NPV = 0 : Sản xuất hòa vốn
*Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR:
IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tốthời gian thông qua tính chiết khấu
IRR chính là tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ này làm cho NPV = 0 tức là khi
r
C B
Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR:
BCR là hệ số sinh lãi thực tế phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mứcthu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất
CPV BPV r
C r
) 1 (
[2.4]
Trong đó:BCR là tỷ suất thu nhập và chi phí (đồng/đồng)
BPV là giá trị hiện tại củ thu nhập (đồng)
CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)
Nếu mô hình nào hoặc phương thức canh tác nào đó BCR > 1 thì có hiệuquả kinh tế
BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao, ngược lại BCR < 1 thì kinhdoanh không có hiệu quả Theo thực tế, BCR 1,5 thì phương án chắc chắn
sẽ an toàn
(ii) Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Trang 26Các tiêu chí đánh giá hiệu quả xã hội được thảo luận cùng người dân vàđánh giá các tiêu chí và cho điểm đúng (1 điểm), không đúng (0 điểm) Một
số tiêu chí đánh giá được sử dụng như sau:
- Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân
- Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng
- Thu hút nhiều lao động giải quyết công ăn việc làm cho nông dân
- Góp phần chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Tăng cường sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là hàng xuất khẩu
(iii) Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường
Phương pháp xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sửdụng đất canh tác nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏiphải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứuchỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua việc đánh giá tínhthích hợp của các loài cây trồng đối với điều kiện đất đai hiện tại, thông quakết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả phỏngvấn hộ nông dân về nhận xét của họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tạithông qua một số chỉ tiêu
- Màu đất sẫm hơn (màu đất được cải thiện);
- Kết cấu đất được cải thiện;
- Lớp đất mặt dày hơn;
- Độ màu mỡ của đất;
- Số lượng và chất lượng nước tưới, nước sinh hoạt ở khu vực gần nơicanh tác;
- Độ chua của đất có được cải thiện không;
- Năng suất cây trồng tăng lên hay giảm đi
Nhận thức của người dân được đánh giá thông qua sự hiểu biết của họ là
có (1 điểm) hay không (0 điểm); tăng (1 điểm) hay giảm (-1 điểm) hoặckhông thay đổi (0 điểm)
(iv) Đánh giá hiệu quả tổng hợp của các mô hình sử dụng đất
Trang 27Hiệu quả tổng hợp của các phương thức canh tác có nghĩa là một phươngthức canh tác phải có hiệu quả kinh tế nhất, mức độ chấp nhận của xã hội caonhất (hiệu quả xã hội) và góp phần gìn giữ bảo vệ môi trường sinh thái (hiệuquả sinh thái) Áp dụng phương pháp tính chỉ số hiệu quả tổng hợp cácphương thức canh tác (Ect) của W Rola (1994):
] 5 2 [
1
* or
max 1
min max
1
n f
f f
f f
f f
f Ect
fi: Các đại lượng tham gia vào tính toán (KT, XH, MT)
n: Số đại lượng tham gia vào tính toán (n từ 1 đến n)
Việc phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường và hiệuquả tổng hợp hệ thống sử dụng đất là cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn, đềxuất phương án sử dụng đất bền vững
* Phân tích SWOT xác định vấn đề trong các mô hình sử dụng đất tại địa phương
Sử dụng công cụ phân tích SWOT để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơhội và thách thức trong mỗi mô hình sử dụng đất Từ đây xác định vấn đềchính trong sử dụng đất NLN tại địa phương, làm cơ sở đề xuất giải pháp sửdụng đất ngày càng hiệu quả và bền vững
2.4.2.3 Đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất nông lâm nghiệp theo hướng hiệu quả và bền vững
- Trên cơ sở kết quả phát hiện các vấn đề trong các mô hình sử dụng đấtphổ biến, tiến hành tổng hợp các vấn đề nhỏ để xác định vấn đề chính còn tồntại trong thực tế sử dụng đất tại địa phương Phân tích vấn đề chính bằng cáchtriển khai một sơ đồ nhánh trình bày các vấn đề thông qua phân tích nguyênnhân và kết quả
Trang 28- Từ kết quả phân tích hệ thống nguyên nhân của vấn đề, tiến hành xâydựng sơ đồ cây mục tiêu để phân tích hệ thống các giải pháp cho vấn đềchính, các giải pháp hướng đến giải quyết vấn đề chính cho sử dụng đất ở địaphương.
2.4.2.4 Phương pháp xử lý số liệu, tài liệu hóa kết quả nghiên cứu
Các số liệu thu thập được về điều kiện tự nhiên, đất đai, phân tích kinh tếcủa các loại hình sử dụng đất được đưa vào xử lý trên các phần mềm máy tính(SPSS, Excell…), sử dụng toán thống kê trong lâm nghiệp
Trang 29Chương 3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU
VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Yên Khê là một xã miền núi nằm ở phía đông nam của huyện ConCuông địa hình bị chia cắt phức tạp tạo thành nhiều khe sâu và tương đối dốc,dòng chảy của khe suối vào mùa lũ tương đối lớn
- Phía Nam: Giáp xã Lục Dạ;
- Phía Tây Nam giáp xã Châu Khê;
- Phía Tây Bắc giáp xã Chi Khê;
- Phía Bắc giáp Thị Trấn Con Cuông;
- Phía Đông giáp huyện Anh Sơn
3.1.2 Địa hình địa mạo
Địa hình xã Yên Khê chủ yếu là địa hình đồi núi, bị chia cắt phức tạp.Đia hình của xã Yên Khê mang đặc trưng của vùng núi cao, đất đai chủ yếuphù hợp cho phát triển các loại cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm
3.1.3 Khí hậu
Xã Yên Khê nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởngđặc điểm chung của khí hậu Bắc Trung Bộ và miền núi Tây Nam Nghệ An,khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, mùa đônglạnh từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau
3.1.4 Thủy văn:
Xã có diện tích đất suối và mặt nước chuyên dùng tương đối lớn 109,14
ha Nguồn nước chủ yếu là do khe suối có khe lớn nhất là khe Cạn, khe Bon,khe Luông
Nhìn chung khí hậu thời tiết xã Yên Khê tương đối thuận lợi cho việctrồng trọt và chăn nuôi Do thời tiết biến động hàng năm theo chu kỳ, theoquy luật, theo mùa nên chúng ta có thể bố trí thời vụ gieo trồng phù hợp để né
Trang 30tránh được những tác động khắc nghiệt về thời tiết (rét, hạn hán, lũ lụt) đểđảm bảo sản xuất cây trồng vật nuôi có hiệu quả.
3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
3.2.3.2 Công trình thuỷ lợi
Nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp lấy từ hai nguồn chính: (đậpTràn Tân Hương và Khe Luông), đây là nguồn tưới chính của xã Hai khe nàytưới cho 97,6 ha diện tích lúa nước Nhìn chung hệ thống tưới tiêu thuỷ lợitrên địa bàn xã tương đối ổn định, mạng lưới kênh mương được bố trí hợp lý,đáp ứng được nhu cầu sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
3.2.3.3.Trường học
Toàn xã có 2 trường mầm non và 2 trường tiểu học đã đạt chuẩn, có 1trường trung học cơ sở chưa đạt chuẩn
Trang 31Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu
4.1.1 Hiện trạng sử dụng đất xã Yên Khê năm 2016
Kết quả số liệu hiện trạng sử dụng đất của xã đến 31/12/2016 được tổnghợp ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Diện tích, cơ cấu các loại đất của xã Yên Khê năm 2016
(ha)
Cơ cấu ( %) Tổng diện tích đất tự nhiên 5.244,04 100,00
(UBND xã Yên Khê năm 2016)
Từ kết quả bảng trên cho thấy:
- Đất nông nghiệp là 4.951,23 ha, chiếm 94,42% tổng diện tích đất tựnhiên
- Đất phi nông nghiệp với diện tích 236.54 ha, chiếm 4,51% diện tích đất
tự nhiên, điều này cho thấy rằng việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giaothông, thuỷ lợi, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã chưa phát triểnnhiều
- Đất chưa sử dụng còn 56,27 ha, chiếm 1,07% diện tích đất tự nhiên.Phần đất này gồm cả đất bằng phẳng và đất đồi núi cao nằm xa trung tâm xã Vìvậy đây vừa là tiềm năng, vừa là thách thức của xã trong việc mở rộng diện tíchđất nông nghiệp trong tương lai
4.1.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Yên Khê năm 2016
Trang 32Là một xã thuần nông với diện tích đất nông nghiệp chiếm tới trên 90%tổng diện tích tự nhiên.
Bảng 4.2 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp xã Yên Khê năm 2016
tích (ha)
Cơ cấu (%)
(Tổng hợp số liệu điều tra 2016)
Qua bảng số liệu trên ta thấy:
Đất sản xuất nông nghiệp có diện tích 1.230,60 ha, chiếm 24,86% diệntích đất nông nghiệp và chiếm 23,47% tổng diện tích đất tự nhiên Bao gồm:
- Đất trồng cây hàng năm: Có diện tích 520,73 ha, chiếm 42,32% diện
tích đất sản xuất nông nghiệp Trong số này có 157,81 ha sử dụng cho gieotrồng lúa, chiếm 30,3% Đất trồng cây hàng năm khác 362,93 ha, chiếm69,7% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm gieo trồng các loại hoa màu nhưkhoai lang, ngô, đậu, rau màu: bầu, bí, mướp
- Đất trồng cây lâu năm: Có 709,86 ha, chiếm 57,68% tổng diện tích đất
sản xuất nông nghiệp: chè, keo là 2 loại cây trồng chính
4.1.3 Biến động diện tích sử dụng đất ở xã Yên Khê năm 2016 so với năm 2014
Kết quả điều tra diện tích đất tự nhiên từ năm 2014 đến năm 2016 đượctổng hợp ở bảng 4.3:
Bảng 4.3 Biến dộng diện tích các loại đất năm 2016 so với năm 2014
Trang 33STT Mục đích sử dụng Mã Diện tích
năm 2016
So với năm 2014 Diện tích
năm 2014
Tăng(+) giảm(-) Tổng diện tích đất tự
1 Nhóm đất nông nghiệp NNP 4.951,23 4.951,33 - 0,10 1.1 Đất sản xuất nông
(Tổng hợp số liệu điều tra 2016)
Qua bảng kết quả cho thấy:
Nhóm đất nông nghiệp giảm 0,10 ha từ năm 2014 đến năm 2015 cụ thể
là đã giảm ở đất trồng cây hàng năm, phần diện tích đất này đã được chuyển
từ đất trồng chè kém hiệu quả sang đất thổ cư phục vụ cho nhu cầu của các hộgia đình
Nhìn chung sự biến động đất đai thời kỳ 2014 - 2016 của xã không cóthay đổi lớn chủ yếu là 1 phần nhỏ đất nông nghiệp được chuyển đổi sang đấtphi nông nghiệp do mục đích tăng cao về nhu cầu đất ở của người dân
Trang 344.1.4 Đánh giá những kết quả trong công tác quản lý, sử dụng đất tại xã Yên Khê
- Công tác thống kê, kiểm kê đất đai trên địa bàn xã được thực hiện tốt,đất đai được thống kê hàng năm và kiểm kê theo đúng qui định Hiện tại đãhoàn thành công tác kiểm kê đất đai giai đoạn 2014 - 2016
- Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật
về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai được thực hiện thường xuyên
- Người dân có kinh nghiệm sản xuất lâu đời, canh tác đa dạng loài câytrồng, ý thức trong việc bảo vệ và giữ gìn nguồn tài nguyên đất
* Những mặt chưa đạt được
- Một số hộ dân khi thực hiện việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho, tặngquyền sử dụng đất, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân, nên đã gây
ra không ít khó khăn cho công tác này
- Trình độ dân trí chưa cao, hiểu biết về Luật đất đai còn hạn chế
- Người dân địa phương thường canh tác và sử dụng đất canh tác theophong trào, sử dụng đất chưa thực sự tiết kiệm, thiếu tính khoa học
- Các mô hình sử dụng đất tại xã chưa thực sự mang lại hiệu quả cao,nhiều loại đất chưa được canh tác hợp lý
- Việc chuyển mục đích sử dụng đất còn tự phát, đặc biệt là diện tích đấttrồng cây lâu năm, điều này gây khó khăn cho công tác quản lý
Trang 35- Trong công tác kiểm tra, theo dõi diễn biến tài nguyên đất, cập nhậtnhững thông tin về sử dụng đất chưa kịp thời và đầy đủ.
4.2 Các loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
Bảng 4.4 Các loại hình sử dụng đất (LUT)
TT LUT (loại hình sử dụng đất) Loài cây trồng
1 Cây nông nghiệp ngắn ngày
và cây lương thực (LUT1) Lúa nước, Ngô
3 Cây ăn quả và công nghiệp
4 Cây lâm nghiệp (LUT4) Keo tai tượng,
Xoan vùng đồi núi cao
(Tổng hợp số liệu điều tra 2017)
4.2.1 Loại hình sử dụng đất trồng cây nông nghiệp ngắn ngày ngắn ngày
và cây lương thực
+ Mô hình chuyên lúa
Với 156,93 ha, chiếm 99,44% tổng diện tích đất trồng lúa, mô hìnhchuyên lúa được phân bố đồng đều ở các thôn, vì người dân ở đây chủ yếucanh tác lúa là chính Lúa 2 vụ là phương thức canh tác truyền thống củangười dân địa phương, được trồng trên loại đất có thành phần cơ giới từ thịtnhẹ đến thịt nặng, năng suất đạt từ 40 - 45 tạ/ha Mô hình chuyên lúa tuy cómức thu nhập thấp hơn so với các mô hình canh tác khác, nhưng do mức đầu
tư thấp, thu nhập ổn định, nông sản dễ thu hoạch và bảo quản, giải quyết đượcnhu cầu lương thực trước mắt của hộ gia đình Cho nên mô hình chuyên lúavẫn chiếm 1 tỷ lệ diện tích khá lớn trong các mô hình sử dụng đất của địaphương
+ Mô hình lúa màu
Gồm 3 kiểu sử dụng đất chính phân bố trên các chân đất cao Do khôngchủ động nước tưới và hiệu quả kinh tế so với các loại cây ngắn ngày khác là
Trang 36không cao, cho nên chỉ gieo 1 vụ lúa mùa, còn lại vụ đông xuân sẽ tiến hànhchuyển đổi trồng các loại cây ngắn ngày: Ngô lai, lạc, mướp, bầu, bí, đậu co
ve, rau màu khác…Trong cơ cấu phân bón, đa phần là phân hóa học, phânhữu cơ và phân chuồng chiếm tỷ lệ ít
Trong mô hình này, cây lúa góp phần đảm bảo lương thực cho hộ giađình, còn lại các loại cây ngắn ngày khác có vai trò cung cấp thực phẩm hàngngày, đồng thời tăng thêm thu nhập, giải quyết các khoản chi tiêu nhỏ lẻ tronggia đình Bởi vì nguồn thu nhập chính của người dân ở đây là các cây côngnghiệp lâu năm, chỉ thu hoạch vào cuối năm Trung bình thu nhập từ các loạicây này khoảng 100.000 - 150.000đ/tuần
4.2.2 Loại hình sử dụng đất trồng cây nông nghiệp ngắn ngày
Gồm 3 kiểu sử dụng đất chính với 362,93 ha, chiếm tỷ lệ 69,7% tổngnhóm đất trồng cây hàng năm Mô hình sử dụng đất này có công thức luâncanh rất đa dạng và phong phú, phân bố 1 phần ở vùng đất bằng, trong cácvườn hộ, còn lại phần lớn đất nằm ở triền đồi, bên dưới là ruộng lúa Ở đâynổi bật nhất là các mô hình luân canh bí với các loại cây như Ngô lai, lạc,
….cho thu nhập cao và ổn định
- Bí xanh: Đây là loại cây trồng truyền thống của người dân địa phương.Giống bí xanh được người dân bắt đầu trồng từ khoảng 7 - 8 năm trước, đếnnay đã ổn định sản xuất và đã có giá trị thương phẩm Năm 2016, diện tíchtrồng bí xanh khoảng 28 ha, chiếm 39% tổng diện tích đất trồng cây hàng nămkhác, năng suất đạt 77,25 tạ/ha Với giá thị trường hiện nay là 5.000 đồng/kg,
1 ha người nông dân thu được khoảng hơn 40 triệu đồng, lợi nhuận khoảng 15
- 20 triệu đồng Bí xanh có thể được trồng quanh năm, nhưng chỉ cho năngsuất cao nhất nếu trồng đúng thời vụ Trên địa bàn xã, bí xanh được trồng đạitrà vào khoảng đầu mùa mưa tháng 3 - 4, thu hoạch vào tháng 8 - 9 dươnglịch Mức đầu tư phân bón cho 1 ha khoảng 10 m3 phân chuồng để bón lót,bón thúc khoảng 250 - 300 kg phân hóa học, loại dễ tiêu, có hiệu quả nhanh
Trang 37như đạm, kali Sau khi thu hoạch bí xanh, có thể trồng luân canh các loại câyngắn ngày khác như Lạc, ngô lai.
- Đậu Cove: Cây trồng phổ biến ở địa phương, diện tích trồng 15 ha,năng suất trung bình 5 - 6 tấn quả/ha Chủ yếu trồng giống đậu trơn, quảngắn Thời vụ gieo trồng vào tháng 3 dương lịch, từ lúc trồng đến lúc cây choquả khoảng 3 tháng và thời gian thu hoạch kéo dài đến tháng 11
- Ngô lai: Năm 2016 toàn xã có khoảng 10 ha, năng suất đạt 30 - 33tạ/ha, với giống năng suất cao như CP888, Bioseed 9698, C919, LVN10
- Lạc: Năng suất 14 - 16 tạ khô/ha, chủ yếu là giống đậu phộng sẻ chonăng suất cao, kháng bệnh tốt
Ngoài các giống cây trồng chính được nói trên, người dân còn trồng cácgiống rau màu có giá trị kinh tế cao, tăng thêm thu nhập: Củ cải, dưa leo, cácloại Cà…
Hình 4.1 Mô hình bí xanh và đậu cove
4.2.3 Loại hình sử dụng đất trồng cây công nghiệp dài ngày (LUT3)
Diện tích 709,86 ha chiếm 57,68% tổng diện tích đất sản xuất nôngnghiệp với chủ yếu là cây cam và cây chè Đây là 2 loại cây người dân sảnxuất khá nhiều, mô hình trồng cam mới xuất hiện vào khoảng 10 năm trở lạiđây theo dự án của huyện Con Cuông nhưng đã cho thu nhập khá lớn và đượcngười dân áp dụng ngày càng rộng rãi, đã góp phần tăng thu nhập khá nhiều
Trang 38cho người dân ở địa phương Tương lai lượng cam sản xuất ra có thể đạt giátrị thương phẩm cao Mô hình trồng chè đã xuất hiện ở khu vực này từ lâu,cây chè dễ chăm bón, tốn ít công chăm sóc đem lại thu nhập ổn định nênngười dân vẫn giữ lại các đồi chè để sản xuất.
- Cam: diện tích trồng trên toàn xã là 400 ha trong đó có 2/3 là đã có thểthu hoạch Chủ yếu giống cam ở đây là Cam V2 năng xuất đạt 18 - 25 tấntrên 1 ha, thu nhập bình quân 400 - 450 triệu đồng trên 1 ha Công việc chămsóc cây cam khá tốn kém vì cây cam dễ bị bệnh, khó thích nghi với điều kiệnkhí hậu xấu Việc bón phân cho cam được thực hiện hàng năm sau khi thuhoạch, chủ yếu là bón phân chuồng và phân kali Khi trồng cam đến năm thứ
4 có thể thu hoạch thì cây cần lượng phân chuồng rất lớn Hàng năm ngườidân phải quét vôi để phòng trừ dịch bệnh gây hại Mô hình trồng cam ở đâyhạn chế dùng thuốc bảo vệ thực vật đến mức tối đa, chủ yếu sử dụng các biệnpháp sinh học để phòng chống sâu bệnh hại Một số sâu bệnh như sâu vẽ bùahay sâu đục thân đã gây ảnh hưởng rất lớn đến cây cam ở đây Một số vườncam xuất hiện bệnh Tristeza là bệnh hay xuất hiện trên các cây có múi Vàinăm trở lại đây theo dự án của Nhật bản người dân ở địa phương đã biết tậndụng cam thải loại, cam xấu để sản xuất tinh dầu cam từ vỏ quả cam góp phầntăng thêm thu nhập, phương pháp và dụng cụ chế biến tinh dầu được nhậpkhẩu hoàn toàn từ Nhật Bản, trung bình 10 tấn cam xấu cho 1 tấn vỏ cam vàchưng cất được 1,2 lít tinh dầu Tinh dầu cam được sản xuất ra có rất nhiềuứng dụng như làm rượu cam, dầu thơm, xà phòng cam, Mỗi lít tinh dầucam người dân bán được 10 triệu đồng Một số hộ dân ở đây còn sản xuất mứt
vỏ cam là loại thực phẩm khá là mới ở nước ta, mứt vỏ cam có hương vị thơmngon và rất dễ làm đã góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân ở địaphương
Trang 39Hình 4.2 Mô hình trồng cam V2 và nồi chưng cất tinh dầu cam
- Chè: đây là loại cây đã xuất ở địa phương từ lâu, người dân trồng chètrên các quả đồi, khu vực đất dốc, thường canh tác theo mô hình hộ gia đình.Trên địa bàn xã có khoảng hơn 100 ha trồng chè năng xuất đạt khoảng 7,97tấn búp tươi trên 1 ha Cây chè được trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưđất bazan, phù sa cổ trên phiến thạch và sa thạch với mật độ khoảng 10.000hốc/ha Tuy nhiên, đất trồng chè đa số chỉ có tầng canh tác dày 50 -70 cm,hiếm khi trên 1 m Lượng mưa tập trung theo mùa làm cho đất bị rửa trôi, xóimòn trong mùa mưa; còn mùa khô thì hạn hán trầm trọng, thậm chí ngay vàothời điểm mùa mưa cây chè vẫn bị hạn do đất dốc không giữ được nước
Hình 4.3 Mô hình trồng Keo TT và mô hình trồng chè búp
4.2.4 Loại hình sử dụng đất lâm nghiệp
- Keo tai tượng: Xuất hiện ở Nghệ An từ khá lâu được trồng chủ yếu ởcác vùng đồi núi cao hay dọc theo sườn đồi núi Toàn xã Yên Khê hiện có gần
100 ha trồng Keo tai tượng cho sản lượng đạt 80m3 gỗ /ha cho thu nhập từ 70
Trang 40từ Úc cho giá trị gỗ khá tốt, cây phát triển mạnh ít sâu bệnh, đặc biệt là tán láthưa và thân gỗ dưới tán lớn hơn Mật độ trồng keo trên địa bàn xã là 1.600cây/ha Hiện nay 2/3 số Keo tai tượng đã có thể thu hoạch và đang là nguồnthu nhập chính của nhiều hộ gia đình.
4.2.5 Đánh giá lựa chọn mô hình sử dụng đất phổ biến
Kết quả điều tra tình hình sử dụng đất nông nghiệp cho thấy, trên toàn xã
có 4 loại hình sử dụng đất chính trong đó có nhiều mô hình sử dụng đất khácnhau Đề tài tiến hành thảo luận cùng với người dân để lựa chọn ra các môhình sử dụng đất phổ biến nhất Các tiêu chí đưa ra để lựa chọn dựa trên ýkiến thảo luận và đóng góp của người dân Các tiêu chí bao gồm:
- Cây trồng sinh trưởng phát triển nhanh, sâu bệnh hại ít hoặc có sâubệnh hại nhưng người dân có thể phòng trừ được
- Cây trồng cho thu nhập kinh tế chủ yếu
- Gắn bó lâu đời, phù hợp với phong tục tập quán của người dân
- Có thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng rãi
- Người dân dễ tiếp cận được với các dịch vụ cung ứng cho cây trồng vềgiống, phân bón, thuốc BVTV
Kết quả đề tài đã lựa chọn được 4 mô hình canh tác điển hình nhất, gắnvới 4 loài cây có khả năng phát triển rộng rãi trên toàn xã Các mô hình nàychiếm diện tích canh tác chủ yếu, quyết định phần lớn tỷ trọng thu nhập từ sảnxuất nông nghiệp của hộ gia đình cũng như ở địa phương:
- Mô hình canh tác Lúa nước 2 vụ
- Mô hình canh tác chuyên Ngô lai
- Mô hình canh tác Cam V2
- Mô hình canh tác Keo tai tượng