Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sắn xuất tiến bộ phù hợp
Trang 1TS Đoàn Xuân Thủy
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Trần Việt Dũng
LỚP CCLL CHÍNH TRỊ TỔNG CÔNG TY ĐƯỜNG SĂT v iệ t n a m
HÀ NỘI 7-2004
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ! 1
CHƯƠNG 1: NGUỒN NHÂN L ự c, CHAT LƯỢNG VÀ VAI TRÒ TRONG TIẾN TRÌNH CNH-HĐH DAT NỮỚC 3
1.1 Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lự c 3
1.1.1 Các khái niệm 3
1.1.1.1 Nguồn nhân lực 3
1.1.1 2 Chất lượng nguồn nhân lực 4
1.1.1 2.1 Yếu tố sức khỏe 4
1.1.1 2 2.Yếu tố trí lực 5
1.1.1 2.3 Yêú tố về phẩm chất, đạo đức 5
1.1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng NNL 6
1.1.1.3.1.Các chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe của dân cư 6
1.1.1.3 2.Các chỉ tiêu thể hiện trình độ văn hóa của người lao động 8
1.1.1.3.3 Các chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật 9
1.1.1.3.3 Các chỉ tiêu biểu hiện phẩm chất, đạo đức của người lao động 9
1.1.2 Nâng cao chất lượng NNL và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL 9
1.1 2.1 Thế nào là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 10
1.1.2 2 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực 10
1.1 2 2.1 Giáo dục-đào tạo 10
1.1.2 2 2 Dinh dưỡng và sức khoẻ 11
1.2 Vai trò và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng NNL trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước 7 7 7 12
1 2.1.1 Vai trò của NNL với sự phát triển kinh tế-xã hội 12
1 2.1.1 Con nguời vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển 12
1 2.1.2 Vai trò của lao động với tăng trưởng kinh t ế 13
1 2.1.3 Nguồn lao động tác động tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 14
1 2.1.4 Vai trò tạo ra khoa học và úng dụng công nghệ vào phát triển kinh tế-xã hội 15
1 2.1.5 Vai trò về mặt xã hội của nguồn nhân lực 16
1 2 2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước 16
1 2 2.1 Sự nghiệp CNH-HĐH với những yêu cầu về NNL 16
1 2 2 2 Vị trí phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đất nước 18
1 2.3 Kinh nghiệm phát triển NNL ở Hàn Quốc 20
CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG CHAT LƯỢNG NNL TRONG THỜI GIAN QUA ' ’ ! 23
2.1 Thực trạng chất lượng N N L 23
2.1.1 Một số nét khái quát về quy mô và cơ cấu NNL 23
2.1.1 Ĩ Quy mô NNL 23
2.1.1.2 Cơ cấu NNL 23
2.1 2 Thực trạng chất lượng NNL 26
2.1 2.1 Thể lực của người lao động 26
2.1 2 2 Trình độ văn hoá của người lao động 30
2.1.2 2.1 Xét về quy mô và tỷ lệ chung cả nước 31
2.1 2 2 2 Về cơ cấu trình độ văn hóa theo khu vực 32
2.1.2 2.3 Về cơ cấu trình độ văn hoá theo giới tính 33
2.1.2 2.4 Về cơ cấu theo độ tuổi 34
2.1.2 2.5 Về số năm đi học bình quân 35
2.1.2.3 Trình độ chuyên môn của người lao động 37
2.1.2.3.1 Cơ cấu trình dộ chuyên môn theo khu vực 38
IV.CN 7525
Trang 32.1.2.3 2 Trình độ chuyên môn theo giới tính 38
2.1.2.3.3 Cơ cấu trình độ chuyên môn theo cấp bậc 39
2.1.2.3.4 Về năng lực, phẩm chất đạo đức của người lao động 40
2.1.3 Một sô' thành tựu, hạn chế của chất lượng NNL 40
2.1.3.1 Thành tựu của chất lượng NNL 40
3.1.3 2 Những hạn chế của chất lượng NNL 42
CHƯƠNG 3: MỌT s ố GIẢI PHÁP NHAM NÂNG CAO CHAT LƯỢNG NNL PHỤC VỤ S ự NGHIỆP CNH-HĐH DAT NƯỚC 47
3.1 Quan điểm, mục tiêu nâng cao chất lượng NNL trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước 47
3.1.1 Quan điểm và mục tiêu tổng quát của Đảng và Nhà nước về phát triển NNL 47
3.1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển NNL 47
3.1.1 2 Mục tiêu phát triển NNL trong thời gian tới 48
3.1 2 Phương hướng và mục tiêu nâng cao chất lượng NNL 48
3.1 2.1 Phương hướng của Đảng về nâng cao chất lượng NNL 48
3.1 2 2 Phương hướng, mục tiêu nâng cao thể lực NNL 49
3.1 2.3 Phương hướng và mục tiêu nâng cao trình độ VH, TĐCM 49
3.2 Một sô giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL 50
3 2.1 Giải pháp trực tiếp nâng cao chất lượng NNL 50
3 2.1.1 Giải pháp nâng cao thể lực cho NNL 50
3 2.1.2 Giải pháp nâng cao trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn-kỹ thuật cho người lao động 7 52
3 2.1 2.1.Thực hiên giáo dục-đào tạo trên nguyên tắc xã hội hoá, dân chủ hoá và nhân văn hoá 53
3 2.1 2 2 Tiếp tục đổi mới nội dung giáo dục-đào tạo 53
3 2 1 2.3 Đổi mới phương pháp giảng dạy 54
3 2 1 2.4 Xây dụng đội ngu giáo viên mạnh về số lượng và chấtchất lượng 55
3 2.1 2.5 Đa dạng hoá các loại hình, các phương thức đào tạo 55
3 2.1 2 6 Đầu tư tạo cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ học tập, nghiên cứu 56
3 2.1.2.7 Các giải pháp khác 7 77 56
3 2.1.3 Giải pháp nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức, cho người lao động.57 3 2.2 Các giải pháp về cơ chế chính sách của Nhà nước 57
3 2 2.1 Nhóm chính sách liên ngành 57
3 2 2.1.1 Chính săch DS & K H Í Ỉ G Đ 57
3 2 2.1.2 Huy động và sử dụng vốn đầu tư để nâng cao chất lượng NNL 58
3 2 2.1.3 Xây dựng hệ thống chính sách và cơ chế đào tạo, sử dụng nhân tài 59
3 2 2.1.4 Hệ thống chính sách khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế 60
3 2 2.1.5 Chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH kết hợp với chuyển dịch cơ cấu lao động 60
3 2 2.1.6 Giải pháp về hệ thống pháp luật của Nhà nước 61
3 2 2 2 Nhóm chính sách chuyên ngành 61
3 2 2.2.1 Chính sách phát triển GD-ĐT 61
3 2 2 2 2 Chính sách đào tạo, đào tạo lại cán bộ kỹ thuật, cán bộ công chức 61
3 2 2 2.3 Nhóm chính sách có liên quan trực tiếp đến tổ chức, quản lý NNL và thị trường lao động 62
3 2 2.3 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GD-ĐT và giải quyết việc làm 63 3 2 2.3.1 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo 64
3 2 2.3.2 Hợp tác quốc tế nhằm giải quyết việc làm thông qua đẩy mạnh xuất khẩu lao động ra nước ngoài 64
KẾT LUẠN 7 65
TÀI LIỆỦ THAM KHẢO 66
Trang 4SDD : Suy dinh dưỡng
HĐKTTX : Hoạt động kinh tế thường xuyênTĐCM : Trình độ chuyên môn
CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
KHHGĐ : Kế hoạch hoá gia đình
CĐ-ĐH : Cao đẳng-đại học
THCN : Trung học chuyên nghiệp
CNKT : Công nhân kỹ thuật
GD-ĐT : Giáo duc-đào tao
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và lần thứ IX của Đảng Cộng sản
Việt nam khẳng định rằng: "tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh
tế hợp lý, quan hệ sắn xuất tiến bộ phù hợp với trinh độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dãn giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, ván minh
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ trung tâm trong giai đoạn trước mắt là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công nghiệp hóa là một quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện hoạt động kinh tế-xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động có trình độ cao với công nghệ tiên tiến và phương pháp, phương tiện hiện đại
Chúng ta tiến hành CNH-HĐH với nội dung hết sức phong phú ấy, trong bối cảnh quốc tế hiện nay xu hướng toàn cầu hóa , Đảng ta đã xác định :
“Muốn tiến hành CNH-HĐH thắng lợi phải phát triển giáo dục-đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tô'cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững"
và “Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa "
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đối với NNL, Tôi quyết định chọn đề tài
M ột s ố giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ
sự nghiệp CNH-HĐH đất nước đến năm 2 0 1 5 ” cho đề tài của mình Đây
cũng là một vấn đề bức xủc trong chiến lược phát triển NNL cửa nước ta
- Đề tài tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực của Việt nam được giới hạn phạm vi thời gian từ năm 1995 đến năm 2015
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Làm rõ các khái niệm cơ bản cũng như ý nghĩa, vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH-HĐH Nêu và phân tích hiện trạng nguồn nhân lực trước đòi hỏi của sự nghiệp CNH-HĐH của đất nước
- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài :
+ Khảo sát và hệ thống hoá các khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực Làm
rõ ý nghĩa và vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
L Hệ thống hoá và khái quát hoá các chủ trương, đường lối của Đảng, chính
Trang 6sách của Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực.
+ Một số biện pháp để phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nước
- Cơ sở lý luận và phương pháp luận:
+ Chủ nghĩa Mác- Lê nin
+ Tư tưởng Hổ Chí Minh
+ Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt nam
Kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Nguồn nhân lực, chất lượng và vai trò trong tiến trình CNH- HĐH đất nước
1- Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực
2- Vai trò và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng NNL trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước
Chương II: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian qua
1- Thực trạng chất lượng NNL
2- Một số thành tựu và hạn chế của chất lượng NNL
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhắn lực phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
1- Quan điểm, mục tiêu nâng cạo chất lượng NNL trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước
2- Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL
Trang 7CHƯƠNG 1
TRONG TIẾN TRÌNH CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
1.1 - NGUỐN NHÂN Lực VÀ CHAT LƯỢNG N G U ồN NHÂN Lực
ơ nước ta, Đảng đã khẳng định trong văn kiện Hội nghị lần thứ tư BCH
trung ương khoá VII: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp” Trong số tất cả các nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội chỉ có
nguồn lực con người mới là vô hạn vì thông qua hoạt động thực tiễn con người sẽ
sử dụng, phát huy tính tích cực của các nguồn lực khác, sáng tạo, phát minh để ứng dụng vào thực tế Đổng thời, thông qua đó sẽ thúc đẩy phát triển lực lượng sản suất, phát triển xã hội và phát triển chính bản thân mình Vậy, NNL là gì, sẽ được làm sáng tỏ bằng một số khái niệm sau:
l.l.l.C á c khái niệm
1.1.1.1 N guồn nhân lực
Nguồn nhân lực, theo nghĩa rộng được hiểu như là nguồn lực con người
(Human rerousces-HR), giống như các nguồn lực vật chất (Physical rerousces), nguồn lực tài chính (Financiaỉ rerousces) cần được huy động, quản lý để thực hiện
những mục tiêu đã định Theo định nghĩa của Liên hợp quốc: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện
có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng.Nguồn nhân lực còn được hiểu theo nghĩa hẹp với tư cách là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động Với cách hiểu này, NNL là một bộ phận của dân cư, bao gồm những người trong độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (Nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi, Nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi), có khả
năng lao động Đây là lực lượng lao động tiềm năng-nguổn lực quan trọng nhất
có thể huy động vào các hoạt động của nền kinh tế-xã hội
Như vậy, NNL bao gồm 2 bộ phận:
Thứ nhất, là bộ phận NNL có tham gia vào hoạt động kinh tế (còn gọi là lực lượng lao động)-, là những người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong
các ngành kinh tế và văn hoá của xã hội, những người chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm
Thứ hai, là bộ phận NNL không hoạt động kinh tế (NNL dự trữ), bao gồm
những người trong độ tuổi lao động nhưng vì những lý do khác nhau họ khôngtham gia vào các hoạt động kinh tế-xã hội như những người đang làm nội trợ
Trang 8gia đình, người đang đi học, người nghỉ hưu trước tuổi quy định và những người
có khả năng lao động nhưng không tích cực tìm việc làm
Khi xem xét NNL, người ta quan tâm nhiều hơn đến chất lượng NNL vì đây
là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của lao động Điều đó đòi hỏi khái niệm về chất lượng NNL cần được hiểu một cách sâu sắc hơn, toàn diện hơn cho công tác nghiên cứu Nội dung dưới đây sẽ nhấn mạnh về bản chất cũng như những yếu tố cấu thành bên trong của nó
1.1.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng NNL là trạng thái nhất định của NNL, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bản chất bên trong của NNL Chất lượng NNL không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng NNL cao sẽ tạo
ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực của sự phát triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định
Chất lượng NNL, có thể là một hệ thống các yếu tố về thể lực (sức khoẻ), trí lực (trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn-kỹ thuật) và những yếu tố về năng
lực, phẩm chất đạo đức của người lao động
Chất lượng NNL, để hiểu một cách chi tiết hơn bao gồm các yếu tố cấu thành như sau:
1.1.1.2.1 Yếu tô th ể lực (sức khoẻ)
Trong số các nguồn lực con người, sức khoẻ được coi là vốn quý nhất và là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của lao động Chính vì thế mà mỗi khi tết đến xuân về thì sức khỏe vẫn là lời chúc mừng và cầu nguyện đầu tiên của mọi người Vây thế nào là một con người có sức khoẻ tốt? Ngưòi có sức khoẻ tốt không chỉ là không có bệnh tật mà còn có khả năng thích nghi nhanh chóng với những điếu kỉện thường xuyên thay đổi của môi trường; đáp ứng các nhu cầu hoạt động, khả năng hoàn thành các chức năng sinh học, xã hội,
nghề nghiệp ở mức đầy đủ nhất Đó cũng chính là trạng thái cân bằng cực đại
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
xác định: sức khoẻ là “Một trạng thái của một con người thoải mái về thể chất, trí tuệ và xã hội" Để đạt được điểu đó cần phải tạo ra và tăng cường sức khoẻ
cho con người
Trong điều kiện kinh tế mở, việc phát triển kinh tế theo hướng CNH-HĐH không thể chỉ dựa vào lao động thủ công, cần cù chịu khó mà phải là lao động thông minh, sáng tạo, có trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cao, thích ứng với công nghệ hiện đại, có kỹ năng giỏi Nhưng trước hết, để đạt được trình độ lao động như vậy, con người phải có sức khoẻ, sức khỏe là cái gốc để con người phát triển Vì vậy, đầu tư cho sức khoẻ là đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân, gia đình
Trang 9Nói tới NNL-còn có sự liên hệ khăng khít tới trí lực của người lao động
“Trí tuệ là tài sấn quý giá nhất trong mọi tài sản nhưng chính sức khoe’ là một tiên đề cần thiết để làm ra tài sấn đó ” Sức khoẻ là điều kiện đầu tiên để duy trì
trí tuệ, là phương tiện tất yếu để truyền tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất cải tạo tự nhiên và xã hội
Vậy, trí lực cũng là một yếu tố quan trọng của NNL cần được xem xét:
1.1T.2.2 Yếu tố trí lực (trình độ vãn hoá, trình độ chuyên môn-kỹ thuật)
Trí lực là khái niệm để chỉ những khả năng hiểu biết của con người về xã hội, công việc cũng như về đời sống tinh thần của bản thân và cộng đồng Nó
được xác định bởi các tri thức chung về khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học
kỹ thuật, khoa học xã hội), trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng và kinh
phải phát huy tính tích cực một cách tối đa hợp lý
Ngày nay, theo đà phát triển mạnh mẽ của KH-CN, thực tế đòi hỏi con người phải sử dụng những kiến thức khoa học ngày càng rộng rãi hơn Khối lượng kiến thức chung, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp phải được tăng lên với nhịp độ ngày càng cao và tốc độ ngày càng lớn Khi hàm lượng trí tuệ được nâng lên sẽ làm cho giá trị sức lao động được nâng cao và có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại của mỗi cá nhân và của quốc gia để tồn tại và phát triển
Ngoài hai yếu tố nêu trên, một yếu tố nữa cũng là phần quan trọng của chất lượng NNL Đó là:
1.1.1.2.3 Yếu tố về phẩm chất đạo đức của người lao động
Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, “là toàn bộ nhữtig quan niệm vê thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa các cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với các cá nhân trong xã hội với nhau
Trong bất kỳ một tổ chức nào, người lao động có phẩm chất đạo đức tốt là người có tinh thần làm việc có lương tâm và trách nhiệm cao, có kỷ luật trật tự, làm việc không chỉ vì lợi ích cá nhân mình mà còn là sự cống hiến cho tập thể, cộng đồng Một doanh nghiệp nếu như có những người có phẩm chất đạo đức, hiểu biết và giỏi chuyên môn sẽ tạo ra nhiều giá trị cho doanh nghiệp, nâng mức thu nhập cho công nhân viên và góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho họ Đồng thời, với tất cả những tư tưởng, tác phong làm việc của các thành viên trong doanh nghiệp sẽ hình thành nền văn hoá của doanh nghiệp đó, nó điều khiển các thành viên của doanh nghiệp nên cư xử như thế nào, nên đáp ứng như thế nào đối với thế giới của họ
Trang 10Một quốc gia phát triển phải có nền vãn hoá phát triển trong sáng, lành mạnh, mọi người tuân thủ pháp luật, các chính sách mà Nhà nước đề ra, yêu chuộng hoà bình, văn minh, lịch sự
Một bầu văn hoá không khí tốt lành dĩ nhiên con người sẽ được lợi Nhưng
để có được điều đó thì trước hết phải nhờ đến những tấm gương của các nhà quản
lý cấp cao, sau đó là nhờ chất lượng của NNL hay giá trị của các thành viên cấu thành NNL với những đặc điểm về trí lực, thể lực, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, và sinh hoạt của họ Điều đó đòi hỏi , để có NNL có chất lượng cao thì
phải kết hợp ba yếu tố thể lực, trí lực và đạo đức Như Bác đã từng nói: “Đức và tài lấy đức làm gốc ” cho nên có thể nói nhân cách là nền tảng của dân trí, nhân
lực và nhân tài
Tuy nhiên, chất lượng NNL để có thể lượng hoá được cũng phải có các chỉ tiêu để đánh giá Sau đây là một số chỉ tiêu đánh giá cơ bản cơ bản thường được
sử dụng:
1.1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng NNL
Đánh giá chất lượng NNL là một vấn đề hết sức khó khăn, vì nói tới nguồn lực con người, phải nói tới phương diện cá thể-chủ thể của nó Phương diện cá thể-chủ thể của nguồn lực con người được hiểu như là những yếu tố tạo thành cơ
sở của hoạt động và phát triển của một con người vói tư cách một cá nhân, một chủ thể hành động trong tính chỉnh thể của đời sống xã hội của nó, khi những nhu cầu của nó được bộc lộ ra và thực hiện Hiện nay, qua những cuộc khảo sát
về mức sống dân cư, hệ thống chỉ tiêu vẫn sử dụng là:
1.1.1.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khoẻ của dân cư
Để có được một cơ thể khoẻ mạnh thì yếu tố đầu tiên là phải cung cấp cho
cơ thể một lượng chất dinh dưỡng vừa đủ về số lượng và cơ cấu các loại Nhưng, tuỳ theo từng lứa tuổi mà chất lượng dinh dưỡng cần cung cấp có sự khác nhau
S Đối vói trẻ em (từ 0 đến 155 tháng tuổi): tình trạng dinh dưỡng được
đánh giá bằng 3 chỉ tiêu:
+ Chiều cao theo tuổi: là chỉ tiêu biểu hiện mối tương quan giữa chiều cao
cần thiết ở một lứa tuổi nhất định cho một cơ thể phát triển bình thường
Công thức tính chiều cao theo tuổi:
Trang 11HAmedjan, : Chiều cao trung vị của quần thể trẻ em Hoa kỳ (quần thể tham khảo NCHS) ở độ tuổi t, có sức khoẻ và chiều cao phát triển bìnhthường NCHS
: Độ lệch chuẩn của chiều cao của trẻ em quần thể tham khảoNCHS
- Nếu HAZ =>- 2: Chiều cao theo tuổi bình thường
- Nếu HAZ<= -2 và HAZ=> -3 : Chiều cao theo tuổi thấp độ I
- Nếu HAZ <-3: Chiều cao theo tuổi thấp độ II
+ Cân nặng theo chiều cao: là chỉ tiêu phản ánh sự tương quan giữa chiều cao với cân nặng cần thiết cho một cơ thể khoẻ mạnh của trẻ em
Công thức tính cân nặng theo chiều cao:
NCHS
WHjj ‘d - ỴỴ 1 A m edian, jWH WHZ - -
NCHS
ốjTrong đó:
WHj j : Cân nặng thực tế của trẻ em i theo chiều cao Hj
WHj j : Cân nặng trung vị của trẻ em có chiều cao Hj của quần thể trẻ em Hoa kỳ (quần thể tham khảo NCSH) có sức khoẻ, trọng lượng và chiều cao phát triển bình thường
NCHS
ôj : Độ lệch chuẩn cân nặng của trẻ em có chiều cao Hj của quần thể tham khảo NCHS
- Nếu WHZ =>-2: Cân nặng theo chiều cao bình thường
- Nếu WHZ <-2 và WHZ=> 3: Cân nặng theo chiều cao thấp độ I
- Nếu WHZ <-3: Cân nặng theo tuổi thấp độ II
+ Cân nặng theo tuổi: là chỉ tiêu biểu hiện mối tương quan về cân nặng theo từng độ tuổi cho một cơ thể khoẻ mạnh ở trẻ em
Công thức tính cân nặng theo tuổi:
Trang 12Trong đó :
W a it: Cân nặng thực tế của trẻ em i, tháng tuổi t
WAme(Jian t : Cân nặng trung vị của quần thể trẻ em Hoa Kỳ (quần thể tham khảo của trung tâm quốc gia thống kê Y tế), tháng tuổi t, có sức khoẻ
và cân nặng phát triển bình thường
NCHS
ô t: Độ chênh lệch của cân nặng của trẻ em quần thể tham khảo NCSH
- Nếu WAZ =>-2: Cân nặng theo tuổi bình thường
- Nếu WAZ <-2 và HA=>-3: Cân nặng theo tuổi thấp cấp I
- Nếu WAZ <-3: Cân nặng theo tuổi thấp độ II
z Đối với người lớn (từ 18 tuổi trở lên): tình trạng dinh dưỡng chủ yếu
được đánh giá bằng chỉ số cơ thể BMI (Body Mass Index) để xác định tình trạng
béo gầy
Chỉ sô' cơ thể BMỈ được tính theo công thức:
Cân nặng (Kg)BMI (Kg/m2) = -
[Chiều cao (m)]2
ngưỡng sau đây để xác định tình trạng sức khoẻ của một người
1.1.1.3.2 Các chỉ tiêu th ể hiện trình độ văn hoá của người lao động
Trình độ văn hoá của người lao động là sự hiểu biết đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội Thực tế cho thấy, con người có giỏi về một lĩnh vực chuyên môn nào đó thì bước khởi đầu họ cũng cần có một trình độ chuyên môn nhất định Trình độ văn hoá không chỉ giúp cho con người nâng cao khả năng lao động mà còn giúp cho họ hưởng thụ những thành quả lao động đó với hiệu quả cao
Đối với một quốc gia, trình độ văn hoá biểu hiện về mặt bằng dân trí của
Dựa vào chỉ số cơ thể BMI, ngưòi ta dùng cá
Trang 13quốc gia đó Một đất nước phát triển phải có những con người có ý thức, văn minh, hiểu biết Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn.
NNL là một bộ phận của dân cư Do đó, trình độ văn hoá của dân cư cũng phản ánh một mặt nào đó trình độ văn hoá của nguồn lao động Khi người dân có trình độ văn hoá cao, có nghĩa là nguồn lao động trong tương lai sẽ có chất lượng tốt, hoặc ở người lớn khả năng tham gia lao động cũng cao hơn
Các chỉ tiêu phản ánh trình độ văn hoá của dân cư ị còn gọi là trình độ dân trí của dân cư) bao gồm:
- Tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ mù chữ
- Tỷ lệ đi học ở các bậc học
- Số năm đi học bình quân
1.1.1.3.3 C h ỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên m ôn-kỹ thuật của người lao động
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định
Trình độ chuyên môn được đo bằng: tỷ lệ cán bộ trung cấp, tỷ lệ cán bộ cao đẳng, đại học, tỷ lệ cán bộ trên đại học
Trong mỗi chuyên môn có thể phân chia thành nhiều những chuyên môn
nhỏ hơn như đại học: bao gổm kỹ thuật, kinh tế, ngoại ngữ, thậm chí trong từng
chuyên môn lại chia thành từng chuyên môn nhỏ hơn nữa
Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng để chỉ trình độ của người được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, những kỹ năng thực hành công việc nhất định Nó được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu:
số lao động được đào tạo vấ lao động phổ thồng; số người có bằng kỹ thuật và không có bằng; trình độ tay nghề theo bậc thợ
Trình độ chuyên môn-kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với trình độ văn hoá thông qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không được đào tạo trong từng tập thể NNL
1.1.L3A C hỉ tiêu biểu hiện phẩm chất đạo đức của người lao động
Nội dung của chỉ tiêu này được xem xét thông qua các mặt: phẩm chất đạo đức-tư tưởng, tác phong làm việc và sinh hoạt của người lao động: Ví dụ đối với công chức Nhà nước có thể đánh giá thông qua số Đảng viên, tình trạng tham nhũng Ngoài ra, chỉ tiêu này còn được thể hiện qua các tình trạng: kỷ luật lao động, hiện tượng kinh doanh trái phép, nạn hàng giả Đối với một đất nước, đó là những giá trị truyền thống dân tộc, phong tục tập quán, lối sống
1.1.2 Nâng cao chất lượng NNL và các nhân tô ảnh hưởng đến chất lượng NNL
Trang 141.1.2.1 Thê nào là nâng cao chất lượng NNL
Nâng cao chất lượng NNL của một quốc gia là việc thực hiện các biện pháp,
chính sách nhằm nâng cao về mặt thể lực (sức khoẻ, điêu kiện chăm sóc sức khoe’), trí lực (trình độ văn hoá, chuyên môn-kỹ thuật) và nâng cao chất lượng, phẩm chất,
tư tưởng tác phong làm việc và sinh hoạt của người lao động cùng với việc tạo ra cơ cấu hợp lý cần thiết cho yêu cầu của sự phát triển đất nước
Nâng cao chất lượng NNL là một lĩnh vực của sự phát triển NNL Ngày nay, khi nói đến phát triển NNL người ta thường quan tâm nhiều đến việc phát triển về mặt chất lượng hơn là số lượng NNL vì chất lượng NNL mới chính là yếu tố quyết định trình độ phát triển kinh tế
1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng NNL
Các yếu tố có ảnh hưởng tới chất lượng NNL là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển về thể lực, trí lực và về
phẩm chất đạo đức của người lao động Theo UNDP (Chương trình phát triển của Liên hợp quốc): Có 5 điểm phát sinh năng lượng của phát triển NNL là: Giáo dục-đào tạo; Sức khoẻ và dinh dưỡng; Môi trường (tự nhiên-kinh tế-xã hội);
Việc làm; Tự do chính trị-kinh tế, trong đó quan trọng đầu tiên là giáo dục-đào tạo, dinh dưỡng và sức khoẻ
l.ỉ.2 2 1 Giáo dục-đào tạo
Giáo dục theo nghĩa hẹp là giáo dục nhà trường Trên thực tế, giáo dục là một loại hoạt động như sau: Nó là quá trình truyền bá tri thức thông qua các tổ chức, cơ cấu nhà nước và dân gian, nhằm mục đích bổi dưỡng cho người ta các năng lực thích ứng xã hội, thích ứng cuộc sống
Giáo dục được coi là một dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng của con người theo nhiều nghĩa khác nhau Yêu cầu chung đối với giáo dục là rất lớn, nhất là đối với giáo dục phổ thông, con người ở mọi nơi đều tin rằng giáo dục rất có ích cho bản thân mình và con cháu họ Bằng trực giác, mọi người đều
có thể nhận thấy mối quan hệ giữa giáo dục và mức thu nhập Mặc dù không phải tất cả những người, ví dụ như đã tốt nghiệp PTTH có thu nhập cao hơn những người mới chỉ tốt nghiệp Tiểu học, nhưng đa số là như vậy, và mức thu nhập của họ đều cao hơn nhiều
Giáo dục thông thường gồm 3 loại: giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội Dù cho dưới hình thức nào thì kết quả của giáo dục cũng làm tăng lực lượng lao động có trình độ cao, tạo ra khả năng thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ, dẫn đến thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Giáo dục tác động tới NNL thông qua tăng năng suất lao động của mỗi cá nhân, nhờ đó nâng cao trình độ và tích luỹ kiến thức
Giáo dục có mối quan hệ mật thiết với đào tạo Trong khi giáo dục chủ yếu trang bị cho con người những kiến thức phổ thông về xã hội thì đào tạo là để giúp cho con người có được những kỹ năng nhất định về một lĩnh vực nghề
Trang 15nghiệp nào đó Đào tạo được chia ra: đào tạo mới được áp dụng với những người chưa có nghề, đào tạo lại đối với người đã có nghề song vì lý do nào đó nghề của
họ không còn phù hợp nữa, đào tạo nâng cao trình độ lành nghề nhằm bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm viêc để người lao động có thể đảm đương những chức vụ phức tạp hơn
Giáo dục kết hợp với đào tạo cung cấp tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và tính nhân bản cho người lao động, tức là phát triển NNL Nguồn nhân lực phát triển
sẽ nâng cao năng suất lao động xã hội và tăng trưởng kinh tế Đến lượt mình, thu nhập quốc dân gia tăng sẽ cải thiện đời sống vật chất, văn hoá, y tế, giáo dục cho nhân dân Trong thời đại ngày nay, giáo dục-đào tạo là nguyên nhân chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Đã có một thời gian người ta chỉ coi trọng máy móc thiết bị, coi công nghệ
là trung tâm của sự phát triển Đến đầu thập kỷ 90, người ta mới nhận thức được vai trò quan trọng của con người để tăng năng suất lao động, đã làm thay đổi triết lý kinh doanh, lấy con người làm trung tâm, ưu tiên con người ở khía cạnh tri thức trình độ chuyên môn và động cơ lao động Từ đó đã chuyển hướng tập trung phát triển giáo dục để nâng cao vai trò của con người
Vậy giáo dục-đào tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng tới sự phát triển của mỗi quốc gia Thực tế cho thấy, những quốc gia có nền kinh tế phát triển đều có
sự đầu tư thích ứng cho nguồn vốn nhân lực, còn các quốc gia mới phát triển cũng đang dần hướng sang việc nâng cao chất lượng NNL cho mục tiêu đẩy nhanh sự phát triển kinh tế đất nước
Tuy nhiên, giáo dục cũng cần phải kết hợp vói các yếu tố khác mới đảm bảo cho sự phát triển toàn diện cho con người Một trong các yếu tố đó là:
1.1.2.2.2 Dinh dưỡng và sức khỏe
Giống như giáo dục, dinh dưỡng và sức khoẻ làm tăng chất lượng NNL cả trong hiện tại và tương ĩai, người lao động cổ thể lực tốt mới có sức bền bỉ, dẻò dai và khả năng tập trung trong khi làm việc Việc nâng cao các chỉ tiêu về sức khoẻ cho dân số là cơ sở nâng cao năng chất lượng NNL, đặc biệt là việc nuôi dưỡng và chăm sóc bà mẹ và trẻ em là yếu tố tác động trực tiếp tác động để chất lượng NNL hiện tại và trong tương lai-cải thiện nòi giống, giúp cho trẻ phát triển khoẻ mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần Hơn nữa, điều đó còn giúp cho trẻ nhanh chóng đạt được những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho sản xuất thông qua giáo dục nhà trường là cơ sở nâng cao thể lực và trí lực cho người lao động
So với các nước cùng mức thu nhập, sức khoẻ người Việt Nam tương đối tốt Theo báo cáo của LHQ, với trình độ phát triển hiện đại, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam đã tăng 11 năm so với dự kiến
Yếu tố tác động tới dinh dưỡng và sức khoẻ của NNL trong tương lai là tỷ
lệ suy dinh dưỡng trẻ em Theo báo cáo của Viện dinh dưỡng, hiện nay có khoảng 32% trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng Chế độ dinh dưỡng được đánhgiá qua lượng calo mà một người nhận được trong một ngày, theo tổ chức y tế
Trang 16thế giới: một người dảm bảo dinh dưỡng một ngày trung bình khoảng 2.100 kcalo.
Thực tế cho thấy, không một quốc gia nào, có thể duy trì mức tăng trưởng cao nếu không có nền tảng vững chắc về phát triển con người nói chung và phát triển NNL nói riêng Đầu tư vào giáo dục-đào tạo nâng cao chất lượng con người
về mọi mặt là đầu tư vào tăng trưởng kinh tế Những quốc gia nào thiếu chăm sóc sức khoẻ bản thân, xuống cấp về giáo dục-đào tạo, không có chiến lược dài hạn cho đào tạo và phát triển con người, sẽ không đảm bảo phát triển bền vững đất nước Cốt lõi của sự phát triển chính là NNL có tri thức, có kinh nghiệm
1.2 VAI TRÒ VÀ S ự CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NNL TRONG THỜI KỲ CNH-HĐH DAT NƯỚC 1.2.1 Vai trò của NNL với sự phát triển kinh tế-xã hội
1.2.1.1 Con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển
Để tồn tại và phát triển, con người phải được đáp ứng những nhu cầu nhiều mặt về vật chất và tinh thần Sự tiêu dùng của con người không chỉ là sự tiêu hao kho tàng vật chất và văn hoá do con người tạo ra mà chính là nguồn gốc của sự phát triển xã hội Bởi vì, nhu cầu của con người là vô cùng phong phú, đa dạng,
nó có tác động mạnh mẽ tới sản xuất, định hướng phát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường Nếu trên thị trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hoá tăng lên, lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra loại hàng hóa đó hay những khu vực đông dân cư, có nhu cầu cao và phong phú, thường là những điểm hấp dẫn cho các nhà đầu tư
Để không ngừng thoả mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao về số lượng và chất lượng, con người càng phải phát huy đầy đủ hơn khả năng thể lực và trí lực cho sự phát triển không ngừng kho tàng vật chất và tinh thần đó Con người với khả năng về thể lực và trí lực của mình là yếu tố cơ bản nhất quyết định sự phát triển của sản xuất xã hội Dù cho ở bất kỳ trình độ văn minh nào, lao động của con người cũng đóng vai trò quyết định Ngày nay, với sự phát triển của cơ khí hoá, tự động hoá, áp dụng các công nghệ sinh học, người máy công nghiệp, kỹ thuật vi tính đã dẫn đến sự thay đổi vị trí giữa lao động chân
tay (thể lực) sang lao động trí tuệ (chất xám) một cách nhanh chóng.
Nhưng mục đích cuối cùng của sản xuất, phát triển kinh tế-xã hội là nhằm vào phục vụ con người, đáp ứng yêu cầu về mọi mặt, làm cho cuộc sống con người trở nên tốt hơn, con người được phát triển toàn diện, xã hội ngày càng văn minh hơn Nói cách khác, con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội, không có con người thì sản xuất ra của cải sẽ lãng phí, tốn kém và vô nghĩa Tóm lại, con người chính là mục tiêu mà mọi hoạt động phát triển đều hướng tới
Trang 171.2.1.2 Vai trò của nguồn lao động với tăng trưởng kinh tê
Các nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith, David Ricardo, Marx đều cho rằng các yếu tố tác động tới quá trình tái sản xuất bao gồm đất đai, lao động,
vốn và tiến bộ kỹ thuật Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc ” Adam Smith
đã viết “Lao động chứ không phải đất đai, tiền bạc là nguồn gốc tạo ra của cải cho đất nước ” còn Marx đặc biệt coi trọng lao động trong việc tạo ra giá trị của
hàng hoá: là lao động cụ thể, lao động tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá, đổng thời chuyển giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu dùng vào giá trị của hàng hoá (C); còn khi là lao động trừu tượng thì lao động tạo ra giá trị của hàng hóa
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế tân cổ điển và hiện đại cũng xác định tổng mức cung của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất, đó
là nguồn lao động, vốn sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và khoa học-công nghệ Những yếu tố này chính là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế
Trong đó: g : là tốc độ tăng trưởng GDP
k,r,l: là tốc độ tăng trưởng các yếu tố đầu vào
t: phần dư còn lại, phản ánh tác động của KH-CN
Các yếu tố đầu vào được kết hợp một tỷ lệ nhất định tuỳ theo từng ngành, lĩnh vực sản xuất và điều kiện nguồn lực của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phát triển
Vai trò của lao động tới tăng trưởng kinh tế còn được phản ánh thông qua mức tiền công của người lao động Khi tiền công tăng có nghĩa là tăng chi phí sản xuất, phản ánh khả năng sản xuất tăng Đồng thời, khi tiền công tăng làm cho thu nhập có thể sử dụng của người lao động tăng lên, do đó tăng khả năng tiêu dùng, lại kích thích sản xuất
GDP = w + R +Pr +In +TĨ+ Dp
Trong đó: w : tiền công của người lao động
R : tiền thuê đất đai
Trang 18Pw = ( 1-Rl/Rp).100 (1.1)
Trong đó: RI : Tốc độ tăng số lao động đang làm việc
Rp : Tốc độ tăng GDP
Pw : Tỷ trọng tăng của GDP do tăng năng suất lao động
+ Tăng GDP do tâng số người làm việc
Trong đó: P1 : Tỷ trọng của tăng GDP do tăng lao động
1.2.1.3 Nguồn lao động tác động tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tê
Theo lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu của FISHER (lý thuyết về sự thay đổi
cơ cấu lao động ) nền kinh tế chia làm 3 khu vực Khu vực 1 là các ngành nông
nghiệp-lâm nghiệp-khai khoáng thì sản phẩm có nhu cầu co giãn ít; khu vực 2 gồm các ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản, sản phẩm của ngành này có nhu cầu co giãn nhiều hơn đặc biệt là khu vực 3 bao gồm các ngành tài chính- ngân hàng, vận tải, thương mại, hoạt động khoa học kỹ thuật công nghệ có nhu cầu sản phẩm co giãn nhiều nhất Trong khi năng suất lao động ngày càng tãng ở khu vực 1, dẫn đến nhu cầu lao động ở khu vực này giảm, nhu cầu sản phẩm trong khu vực 2 và 3 lại tãng lên cho nên nhu cầu lao động ở 2 khu vực này tăng, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng lao động ở khu vực 1 giảm, khu vực 2 và 3 tăng lên, khu vực 3 tăng nhanh nhất Do đó, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực 1, tăng tỷ trọng khu vực 2 và khu vực 3
Hiện nay, nhu cầu lao động ở khu vực 2 và 3 rất lớn nhưng vấn đề không phải là số lượng lao động bởi đã có quá nhiều người mong muốn và họ đã cố gắng nâng cao trình độ văn hoá và chuyên môn vói hy vọng được làm việc trong khu vực này Tuy vậy trong các ngành này nhu cầu công việc đòi hỏi cần có những thợ giỏi, các chuyên gia, và những nhà quản lý nhưng chưa thể đáp ứng được ở nước
ta và một số nước đang phát triển nói chung
Vậy, để thực hiện được chiến lược CNH-HĐH, cần nhanh chóng nâng cao chất lượng NNL, tạo một đội ngũ người lao động có chất lượng cao, làm chủ KH-CN
Theo đánh giá của các chuyên gia nghiên cứu phát triển NNL hiện nay, để tính toán lượng lao động sẽ thu hút vào và lao động dư thừa ở các ngành kinh tế, người ta sử dụng công thức tính như sau:
AEi = q.g(Vi).Si (1.3)
Trong đó:
AEi: Là nhịp độ tăng lao động do ngành i cuốn hút so với tăng LLLĐr|: Là độ co dãn lao động phụ thuộc vào tăng GDP của ngành i
G(Vi): Là nhịp độ tăng GDP của ngành i
Si: Là tỷ trọng lao động đang làm việc trong ngành i
Ví dụ: Lao động ngành i chiếm 9% trong tổng số lao động đang làm việc, độ
Trang 19co dãn lao động phụ thuộc vào tăng GDP là 0,6 và nhịp độ tăng GDP của ngành i
là 7,1% Vậy khả năng cuốn hút lao động vào làm việc trong ngành i là:
AEi = 0,6 X 7,1 X 0,09 = 0,4
Như vậy, chỉ có 0,4 nhịp tăng LLLĐ được cuốn hút vào ngành i Nếu nhịp
độ tăng LLLĐ là 2,1% thì chỉ có (0,4/2,1) X 100 = 19% lao động được cuốn hút bằng ngành i Số còn lại sẽ kiếm việc làm trong các ngành khác
Với tính toán như vậy, cho phép mỗi quốc gia có thể chủ động đề ra kế hoạch phát triển NNL, với cơ cấu kinh tế CNH-HĐH phù hợp nhất với tình hình kinh tế-xã hội đất nước và nhu cầu thế giới đặt ra
1.2.1.4 Vai trò tạo và ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển kinh tế-xã hội
Khoa học và công nghệ có tác động vào mọi lĩnh vực của đòi sống kinh tế,
xã hội, nền kinh tế có phát triển nhanh theo hướng hiện đại hay không là còn tuỳ thuộc vào việc ứng dụng khoa học và công nghệ Đặc biệt, KH-CN có vai trò lớn thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Năm 1994 Paul Krugman có đưa ra các so sánh đối chiếu mức đóng góp của KH-CN cho sự tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ cất cánh của các nước Châu Âu (1850 đến nửa đầu thế kỷ 20), của Mỹ (1890 đến đầu thế kỷ 20) và Nhật Bản (1950-1970) và 4 nước Châu Á (Thái Lan, Malayxia, Inđonêxia, Philipin) thì tăng trưởng kinh tế dựa vào nhân tố vốn là 34,4%, vào lao động là 14,8%, và dựa vào KH-CN là 49,8% trong khi ở 4 nước Châu Á trong giai đoạn cất cánh (1961-1985), con số tương ứng là 64,3% ; 35,4% ; 0%
Krugman cho rằng các quốc gia Châu Á trên đã không phát huy nội lực trong
quá trình tãng trưởng kinh tế, đã dựa vào đầu tư tư bản vô độ (đến từ nước ngoài)
và sử dụng nguồn lao động hơn 2 lần so với Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản thời kỳ cất cánh Điều đó chứng tỏ rằng KH-CN là nhân tố rất cần thiết mà các nước phải tính đến
Nhưng KH-CN do đâu mà có, chính là sản phẩm sảng tạo của con người, đo con người Mọi hoạt động sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, rút cuộc đều
là những hoạt động của con người lao động; họ phát minh, sáng chế và sử dụng
tư liệu lao động, tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho mình và cho xã hội Nhà kinh tế học danh tiếng E.F.Schumacher trong cuốn
sách “Những nguồn lực” đã kết luận rằng: ‘Toàn bộ lịch sử cũng như kinh nghiệm hàng ngày nhấn mạnh một điều là chính con người chứ không phải là thiên nhiên cung cấp một nguồn lực nền tảng Nhân tố then chốt của toàn bộ sự
người nói chung mà là con người với trí óc của họ mới là nhân tố then chốt của quá trình phát triển kinh tế xã hội Tác động và hiệu quả to lớn của KH-CN và ứng dụng chúng trong hoạt động kinh tế không chỉ làm tăng khối lượng của cải vật chất phục vụ cuộc sống con người mà còn làm tăng ý nghĩa vai trò của KH-
CN Người ta còn dự báo rằng tỷ lệ lao động với hàm lượng KH-CN thể hiệntrong tri thức, kỹ năng lao động và trang bị kỹ thuật trong sản phẩm sẽ là
Trang 2090% vào năm 2010 so với tỷ lệ 10% của một thế kỷ trước đó.
Ngày nay, trong số các tiêu chí thể hiện sức mạnh, trình độ phát triển cũng như tính bền vững của sự phát triển kinh tế của một quốc gia đã có mặt tiêu chí
về tiềm lực KH-CN như số lượng, cơ cấu, trình độ của đội ngũ nhân lực KH-CN (như lực lượng KH-CN/ nghiên cứu và phát triển trên một vạn dân, tỷ lệ chuyên gia có học hàm, học vị, tỷ lệ tương quan giữa kỹ sư, kỹ thuật viên, và công nhân
kỹ thuật cao
1.2.1.5 Vai trò về mặt xã hội của NNL
Nguồn lao động ngoài là yếu tố tác động trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế, còn có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới các vấn đề xã hội Vì con người là trung tâm của sự phát triển, mục tiêu cuối cùng của sự phát triển là nhằm nâng cao phúc lợi xã hội cho con người Lao động mà có trình độ tay nghề còn cao, năng suất lao động cao không những đóng góp cho cá nhân nâng cao thu nhập,
mà còn đóng góp vào sự phát triển xã hội, đó là điều kiện tiền đề cho việc nâng cao mức sống cả về vật chất và tinh thần của con người
Hơn nữa, tỷ lệ lao động trong NNL có việc làm cao góp phần tạo nên sự ổn định xã hội Một xã hội mà tỷ lệ thất nghiệp càng cao thì càng mất ổn định, gây nhiều tiêu cực cho xã hội như: nghiện hút, cờ bạc, mại dâm ,vì việc làm vừa là điều kiện vừa là nhu cầu của cuộc sống
Một trong các nguyên nhân làm gia tăng tỷ lộ thất nghiệp hiện nay là chất lượng NNL chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Nếu một khi NNL có chất lượng cao vói thể lực tốt, trí lực và phẩm chất đạo đức tốt sẽ có tác động tới hành vi, lối sống và thái độ nghề nghiệp của những người khác xung quanh trong xã hội và nhất là trong từng gia đình và như vậy chúng ta sẽ có được những thế hệ tiếp sau được thừa hưởng những khả năng và đức tính tốt đẹp đó.Như vậy, vai trò của NNL, đặc biệt chất lượng NNL đối với sự phát triển kinh tế xã hội là rất lớn Nhưng để nâng cao hơn nữa vai trò của NNL, phát huy nhân tố con người tạo ra giá trị sản xuất ngày càng lớn, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi chất lượng nhân lực phải được nâng cao
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng NNL trong thòi kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
1.2.2.1 Sự nghiệp CNH-HĐH với những yêu cầu về NNL
Ớ giai đoạn hiện nay, trong lịch sử phát triển nhân lực, công nghiệp hoá,
hiện đại hoá với tư cách là quá trình "kinh tế-kỹ thuật-xã h ội" được coi là con
đường tạo dựng nền văn minh mới, đồng thời là nấc thang đánh dấu trình độ phát triển của nền văn minh nhân loại Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá là quá trình tất yếu mang tính quy luật đối với tất cả các nước từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên nền công nghiệp hiện đại Song vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phải nắm bắt được xu
Trang 21thế phát triển tất yếu, khách quan ấy của thời đại, khai thác tối đa những thời cơ, thuận lợi ngoài nước, tận dụng nguồn lực trong nước và hạn chế đến mức thấp nhất những hạn chế bất lợi để thực hiện thành công con đường phát triển theo hướng đó.
Nói đến NNL để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng
đã chỉ rõ: Nguồn lực con người Việt Nam, nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý), cơ sở vật chất, tiềm lực KH-CN vốn có, cả nguồn lực ngoài
nước (vốn, thị trường, công nghệ kinh nghiệm quản lý ) là không thể thiếu, trong
đó NNL là cơ bản quyết định, bởi vì khi đã có NNL tốt mới phát huy được tác dụng của các nhân tố khác
Vậy để tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đòi hỏi một đội ngũ nhân lực như thế nào?
Hội nghị lần thứ 7 của BCHTWĐCSVN (Khoá VII) đã ra Nghị quyết 07-
NQ/TW về “ mục tiêu lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là biến nước ta thành một nước công nghiệp cơ sở vật chất hiện đại, có cấu kinh tế hợp lý, quan
hệ sẩn xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của sức sản xuất ” Các nghị quyết của
các kỳ Đại hội Đảng VIII, Đại hội Đảng IX tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu trên.Điều đó đặt ra yêu cầu phải làm sao có được một đội ngũ lao động công
nghiệp (biết làm việc với máy móc, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo) chứ không phải những ngưòi làm nông nghiệp ị lao động chỉ bằng sức lao động và kết quả lao động phải phụ thuộc vào thiên nhiên), cùng với một cơ
cấu kinh tế là công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp thì cơ cấu về lao động cũng cần phải thay đổi Viộc chuyển bớt lao động làm việc từ khu vực nông nghiệp có năng suất lao động thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ đòi hỏi có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ quản lý cao hơn mới có tác động quyết định làm tăng nhanh chóng năng suất lao động xã hội - yếu tố đầu tiên của sự phát triển.CNH-HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động phổ thông sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đó còn là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ mới cho các ngành sản xuất, trước hết là các ngành then chốt Vì vậy làm chủ công nghệ mới nhất và công nghệ cao, biến công nghệ nhập thành công nghệ của mình, nắm chắc nó, sử dụng nó; từ đó xây dựng năng lực sáng tạo công nghệ mới là yêu cầu rất cơ bản đối với NNL Việt Nam
Trong quá trình CNH-HĐH, phải phát triển những ngành có trình độ công nghệ cao, phải thúc đẩy năng lực cạnh tranh và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu và triển khai sản xuất và nghiên cứu thị trường ở quy mô thế giới Yếu tố quyết định nắm được công nghệ cao là yếu tố trí tuệ của NNL Khi KH-
CN trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì lao động trí óc có vai trò nòng cốt trong sử dụng công nghệ cao
Không chỉ có sự nghiệp CNH-HĐH mà ngày nay kinh tế tri thức đang được
Trang 22nhiều người nhắc đến như một xu hướng tất yếu của xã hội sau giai đoạn CNH- HĐH Kinh tế tri thức là nền kinh tế được dẫn dắt bởi tri thức và sản xuất dịch vụ
xã hội, được thực hiện trên cơ sở khai thác trí thức mà trục chính là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, năng lượng và vi điện tử
Những nét khái quát về nền kinh tế CNH-HĐH và kinh tế thị trường đã đủ nhận thấy sẽ xuất hiện một thị trường lao động hết sức đặc biệt với những thách thức mới đối với NNL Đó là cơ cấu ngành nghề mới do công nghệ-kỹ thuật đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, năng lượng và vi điện tử đòi hỏi Rõ ràng đội ngũ công nhân kỹ thuật, những nhà quản trị, nhà khoa học và các lập trình viên, chuyên gia công nghệ phần mềm phải giỏi là yêu cầu mới của nhân lực trong thị trường lao động Việt Nam
NNL tương lai phải được coi trọng giáo dục về tư duy sáng tạo, năng lực tự chủ, tự học hỏi và cần được đào tạo kỹ năng thành thạo, linh hoạt về công nghệ mới, đặc biệt là năng lực kinh doanh
Ngày nay, đề cập đến con ngưòi trong sự nghiệp CNH-HĐH người ta đang đưa ra quan niệm về con người hiện đại là con ngưòi gắn bó chặt chẽ với nền sản xuất hiện đại có đủ 5 đặc trưng cơ bản, có quan hộ khăng khít với nhau sau đây:1- Là con người có đủ khả năng làm chủ kỹ năng nghề nghiệp của mình, biết phát minh khoa học và công nghệ mới, tạo được những chuyển biến nhảy vọt về năng suất lao động và lực lượng sản xuất
2- Có khả năng ứng dụng các phát minh KH-CN mới làm tăng nhanh hiệu quả kinh tế-xã hội
3- Biết thích nghi với kinh tế thị trường, năng động và biết lợi dụng các tác
động qua lại giữa kinh tế thị trường (môi trường kinh tế) với sự phát triển của
khoa học và công nghệ
4- Có tầm nhìn xa trông rộng, ít phải trả giá những sai lầm
5- Biết giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hóa dân tộc, kết hợp hài hoà yếu tố truyền thống với với yếu tố hiện đại trong tính cách
Vậy giáo dục-đào tạo con người và đào tạo nhân tài là một trong những trọng điểm của chiến lược phát triển NNL, một chính sách quan trọng đối với sự nghiệp CNH- HĐH NNL có chất lượng cao về trí tuệ và tay nghề ngày càng trở thành lợi thế cạnh tranh cho mỗi quốc gia Việc vận dụng tiến bộ tri thức khoa học và mở rộng những ngành mới đang dẫn đến tình trạng thiếu nhân tài ở các nước đang phát triển Để có một đội ngũ nhân tài đáp ứng yêu cầu cao của quá trình CNH-HĐH, nâng cao chất lượng NNL là một tất yếu đối với mọi quốc gia
1.2.2.2 Vị trí phát triển nguồn nhân lực trong chién lược phát triển kinh tế-xã hội đất nước
Bước vào thế kỷ 20, chúng ta đang chứng kiến một sự đổi thay diễn ra sâu sắc, mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử nền kinh tế thế giới Trong 2 thập niên vừa qua, các công nghệ cao phát triển như vũ bão và đã đạt được những thànhtựu kỳ diệu mà trước đây vài thập niên con người chưa dự báo được và cũng
Trang 23chưa dám mơ ước tới Nhưng một điều thấy rõ là cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hoá ngày càng mang lại lợi ích to lớn cho các nước tư bản phát triển, có tiềm lực KH-CN, thu được siêu lợi nhuận để tăng trưởng kinh tế.
Các chuyên gia Liên hợp quốc cho rằng vào khoảng năm 2030 công nghệ cao sẽ có tác động mạnh mẽ, sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế của các nước phát triển và lúc bấy giờ các nước phát triển thực sự đã chuyển sang nền kinh tê tri thức Còn khoảng cách của các nước đang phát triển đến nền kinh tế thị trường đang còn rất lớn và ngày càng dãn ra so với các nước phát triển; nếu không thực hiện một chiến lược phát triển NNL có thể làm chủ được tri thức mới của thời đại, thì đến nửa sau thế kỷ thế kỷ XXI cũng khó xây dựng được nền kinh tế thị trường.Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, Đại hội VIII, Đại Hội IX của Đảng đã quyết định phải đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá để đến khoảng năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp Trong thời gian 2 thập niên ấy kinh tế thế giới sẽ có những biến động lớn không lường trước được, theo chiều hướng chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường, tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao, khoảng cách giữa các nước giàu và các nước nghèo có thể sẽ còn tiếp tục gia tăng Đó là thách thức gay gắt đối với các nước phát triển nói chung, cũng như đối với nước ta, nếu không biết tận dụng cơ hội, nâng cao năng lực nội sinh, đổi mới cách nghĩ, cách làm, bắt kịp tri thức mới của thời đại, đi tắt vào những ngành kinh tế dựa vào công nghệ cao, dựa vào tri thức Đảng ta đã khẳng định phải đi tắt đón đầu, nếu không làm được thế thì sự tụt hậu sẽ rất xa Không thể dập khuôn theo mô hình công nghiệp hoá mà các nước đi trước đã đi Cũng không nên hiểu công nghiệp hoá chủ yếu là xây dựng công nghiệp, mà phải hiểu đây là sự chuyển nền kinh tế từ lạc hậu, năng suất, chất lượng hiệu qủa thấp, dựa vào phương pháp sản xuất nông nghiệp, lao động thủ công là chính sang nền kinh tế có năng suất, chất lượng , hiệu quả cao, theo phương pháp sản xuất công nghiệp, dựa vào tiến bộ KH-CN và công nghệ mới nhất, vì công nghiệp hoá phải
đi đói với hiện đại hoá
Trong những thập niên tới, loài người đi nhanh vào nền kinh tế thị trường, nước ta không thể chần chừ, bỏ lỡ cơ hội lớn, mà phải đi thẳng vào nền kinh tế thị trường, rút ngắn khoảng cách với các nước; cho nên công nghiệp hoá ở nước
ta đồng thời phải thực hiện 2 nhiệm vụ cực kỳ lớn lao : chuyển biến từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế thị trường Hai nhiệm vụ ấy phải thực hiện đổng thời, lồng ghép vào nhau, hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau; điều đó có nghĩa là phải nắm bắt các tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hóa nông nghiệp, đổng thời với phát triển công nghiệp, dịch vụ dựa vào tri thức vào KH-CN, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế tri thức Không thể chờ công nghiệp hoá hoàn thành cơ bản rồi mới chuyển sang kinh tế thị trường như các nước đi trước đã phải trải qua vì thời bấy giờ chưa có tri thức mới và các công nghệ mới
Trang 24của ngày nay Đây là lợi thế của các nước đi sau.
Để có thể làm được việc đó, cần phải có đủ năng lực trí tuệ, có khả năng sáng tạo nắm bắt và làm chủ các tri thức mới nhất và phải chủ động hội nhập quốc tế, phát huy lợi thế so sánh của mình Khoảng cách giữa các nước giàu và nghèo chính là khoảng cách về tri thức
Nước ta hiện nay, GDP bình quân đầu người chỉ bằng 1/12 bình quân của thế giới, thuộc nhóm những nước nghèo nhất, khó có thể đuổi kịp các nước về GDP, nhưng phải phấn đấu để nâng cao nhanh chóng trình độ tri thức, nắm bắt
và vận dụng có hiệu quả các thành tựu KH-CN mới nhất để nâng cao chất lượng cuộc sống, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Chúng ta có nhiều thế mạnh để xây dựng đất nước CNH-HĐH như NNL, tài nguyên, khí hậu, vị trí địa lý, tính ưu việt của chế độ chính trị xã hội Nhưng có
lẽ nguồn lực to lớn nhất được nhắc đến chính là những con người Việt Nam có tinh thần yêu nước, yêu quê hương tha thiết, có bản chất nhân văn, nhân ái và sự bao dung, có tư duy, hiếu học, năng động, sáng tạo Thực tế đã chứng minh người Việt Nam có khả năng nắm bắt và làm chủ nhanh các tri thức mới và các công nghệ hiện đại Nhiều ngành mới xây dựng nhờ sử dụng các công nghệ mới,
đã theo kịp trình độ các nước trong khu vực (bưu chính viễn thông, năng lượng, dầu khí, cầu đường ), còn những khả năng về công nghệ thông tin thì người
Việt Nam cũng đủ sức đón nhận Những học sinh Việt Nam thi Tin học quốc tế đoạt giải rất cao, lực lượng người làm tin học khá đông và giữ nhiều vị trí quan trọng ở nhiều nước trên thế giới
Vì vậy, để đẩy nhanh sự nghiêp CNH-HĐH, Đảng ta chỉ rõ phải thực hiện một chiến lược NNL toàn diên, sâu sắc Chỉ khi tạo ra được một NNL bao gồm “
những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông” và “nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn” và đáp ứng được
nhu cầu khai thác và sử dụng các nguồn lực tự nhiên cho sự nghiệp phát triển xã hội, chúng ta mới có thể đưa sự nghiệp CNH- HĐH đến thắng lợi Mặt khác, vấn
đề phát triển NNL cũng cần học hỏi kinh nghiệm của các nước đã đạt được thành công có thể vận dụng phù hợp vào Việt Nam Điều đó vừa giúp chúng ta khắc phục được những hạn chế, vừa tránh được những rủi ro mà các nước đã gặp phải.Kinh nghiệm nước ngoài về phát triển NNL có nhiều, song chủ yếu là phải vận dụng phù hợp với hoàn cảnh của đất nước Chúng ta có thể học hỏi ở một số nước Đông Nam Á như Philipin, Thái Lan, Inđônêxia hay một số nước Châu Á khác như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc Trong số đó Tôi thấy Hàn Quốc có thể coi là một tấm gương tốt hơn cả mà Việt Nam có thể vận dụng trong điều kiện nền kinh tế-xã hội hiện nay
1.2.3 Kinh nghiệm vê phát triển NNL ở Hàn Quốc
Là một nước công nghiệp mới (NICs) sớm ở Đông Á cho đến nay Hàn Quốc đã trở thành một trong bốn con rồng của Châu Á có nền kinh tế phát triểnthần kỳ Để đạt được những thành tựu đó, Hằn Quốc đã có nhiều nỗ lực về
Trang 25nhiều mặt Một trong những nỗ lực quan trọng nhất là Hàn Quốc đã thực hiện một chiến lược đào tạo NNL sâu rộng- coi đầu tư vào con người là biện pháp mang lại lợi nhuận lớn, sự nghiệp giáo dục-đào tạo của Hàn Quốc tập trung mạnh mẽ vào lĩnh vực đào tạo chuyên môn nghiệp vụ với mục tiêu là để cho tất
cả mọi người đều phải biết làm việc, làm việc với hiệu quả cao Từ đó Hàn Quốc quyết tâm xây dựng một hệ thống dạy nghề hết sức rộng rãi
Hệ thống dạy nghề của Hàn Quốc hình thành và khởi sắc chủ yếu là do Chính phủ, coi đây là một bộ phận chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại Sự
phát triển dạy nghề tại Hàn Quốc đặc trưng ở chỗ “Nhà nước thực hiện ” khác
với dạy nghề tại phần lớn các nước Châu Âu, tại đây dạy nghề phát triển là do truyền thống học việc kèm cặp tại khu vực từ thời trung cổ Một đặc biệt nữa là, Hàn Quốc là nước luôn đáp ứng kịp thời nhu cầu về NNL mà nền kinh tế đặt ra Năm 1967, khi xuất hiện nạn thiếu nghề cho công cuộc công nghiệp hoá, hệ thống dạy nghề của Hàn Quốc đã được thiết lập nhanh chóng Đến năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc đưa ra những chương trình đầy tham vọng phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất, khiến cho nạn thiếu nghề đã trở thành một vấn đề gay cấn, theo đó Chính phủ Hàn Quốc đã đẩy mạnh sự tham gia của các
xí nghiệp tư nhân vào lĩnh vực dạy nghề Cũng từ đây, hệ thống dạy nghề cuả Hàn Quốc duy trì dưới 3 hình thức là: Dạy nghề Nhà nước, dạy nghề tại các xí nghiộp và dạy nghề uỷ thác
Trong 25 năm kể từ khi luật về dạy nghề được ban hành, nền kinh tế Hàn Quốc đã thực hiện một mức tăng trưởng kinh tế và thay đổi co cấu khác thường Giữa khoảng 1967 và 1991, GDP thực tế theo đầu người đã tăng lên gấp 3 lần Sự phát triển này cũng đồng thời kèm theo với các biến đổi cơ cấu trong thị trường lao động mà tỷ lệ lao động chế tạo chiếm đến 25% tổng lao động, cao hơn so với
Mỹ và Nhật Nền kinh tế tăng trưởng nhanh này có phần đóng góp rất quan trọng của vai trò dạy nghề tại Hàn Quốc Số công nhân được đào tạo tại các trung tâm dạy nghề trong 25 năm từ 1967-1991 là 1,6 triệu người Đây là con số khá lớn so với quy mô tổng lao động sản xuất (1,9 triệu người ) năm 1991 Trong số 1,6 triệu công nhân này thì 30,5% là đào tạo tại các trung tâm dạy nghề xí nghiệp và 13,5 % tại các trung tầm uỷ thác
Gần đây, đối phó với tình hình giới nữ tham gia nhiều vào lực lượng lao động và tình hình thiếu lao động chính phủ đã thành lập một trung tâm dạy nghề Nhà nước đầu tiên dành cho phụ nữ vào năm 1991 Năm 1993 nhiều chương trình dạy nghề dành cho các nhóm người thiệt thòi dưới sự điều hành của nhiều
cơ quan nhà nước khác nhau đã được sát nhập thành 1 chương trình thống nhất
gọi là “chương trình đào tạo xúc tiến việc làm ” do Bộ lao động quản lý Chính
phủ lấy một số người trong số những người thuộc các nhóm thiệt thòi và đưa vào các trung tâm dạy nghề khác nhau Chính phủ giúp các học viên về phí ăn ở và trợ cấp học nghề và trợ giá về phí đào tạo cho các cơ sở dạy nghề như các trung tâm dạy nghề uỷ thác, các trường dạy nghề đặc biệt
Trang 26Vấn đề dạy nghề ở Hàn Quốc được chú trọng ngay cả đối với học sinh trung học, một số môn học nghề đã được đưa vào trong chương trình giảng dạy, đồng thời kết hợp với hướng học sinh trung học theo nhánh đào tạo nghề và CNKT, do đó đối với những ai không nên được bậc học cao hơn thì cuối cùng cũng gia nhập vào thị trường lao động.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc nêu lên một tấm gương tốt chứng minh là vai trò dạy nghề đã biến động như thế nào trong điều kiện kinh tế và xã hội đang biến đổi nhanh chóng Hệ thống dạy nghề Hàn Quốc do giới lãnh đạo mạnh của Chính phủ lập nên trong thời kỳ cất cánh kinh tế ở những năm 1960 và đã đóng vai trò tích cực trong thời kỳ hướng về xuất khẩu và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá chất và công nghiệp nặng từ những năm 1970
Từ giữa những năm 1980 vai trò của dạy nghề trong nhiều lĩnh vực lại càng cần hơn vì Hàn Quốc khi ấy đang cố gắng chuyển từ một nền kinh tế đang phát triển sang một nền kinh tế tiên tiến hơn Năm 1962 bắt tay vào công nghiệp hóa, tổng sản phẩm quốc dân tính trên đầu người 87 USD/người Năm 1965 120 USD, năm
1998 đạt 4.040 USD và 10.000 USD Năm 1998 Hàn Quốc đạt giá trị xuất khẩu
là 59 tỷ USD, trong đó có 28 tỷ USD hàng xuất khẩu sang Mỹ như xe hơi
Hyundai, Computer Daewoo, VidangSamsung Tờ báo Tokyo Busness Today đã viết “ Nước Nhật và người Nhật rất tôn trọng sự dũng cảm về kỉnh tế của người
Mỹ và Châu Âu Nhưng, họ thật sự khiếp sợ người Hàn Quốc ’’
Hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, chúng ta có một khó khăn hơn so với Hàn Quốc những năm 1960 là phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá nển kinh tế thế giới, tuy nhiên chúng ta lại được lợi từ sự phát triển như vũ bão của KH-CN có thể ứng dụng nhanh vào trong sản xuất
Để tiến lên một nước công nghiệp thì lao động có trình độ CNKT có vai trò quan trọng, mà Việt Nam lại đang trong tình trạng bất hợp lý về cơ cấu- động có trình độ CNKT chiếm tỷ lệ rất ít so với yêu cầu Vì vậy, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Hàn Quốc trong lĩnh vực đào tạo nghề để nhanh chóng khắc phục tình trạng nêu trên
Trang 27CHƯƠNG 2
TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN Lự c
2.1.1 Một số nét khái quát về quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực
2.1.1.1 Quy mô nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực nước ta hiện nay đã gia tăng một cách đáng kể do sự gia tăng của dân số Năm 1989, LLLĐ chiếm 48% tổng số dân cả nước, đến năm
1999 lực lượng này có khoảng 38 triệu, chiếm 50% dân số, con số tương ứng năm 2001 là 39,489808 triệu người với 50,7% Năm 2002 LLLĐ đã tăng lên với 40,6944 triệu chiếm 50,88% dân số cả nước Nếu tính trung bình mỗi năm có khoảng trên một triệu lao động cần giải quyết việc làm Với dân số đứng thứ hai
ở Đông Nam Á (sau Inđônêxia với 204 triệu người) và đứng thứ 13 trong hơn
trong hơn 200 quốc gia trên thế giới, Việt Nam là một trong những nước đông dân trên thế giới và trong khu vực, đồng thòi cũng là nước có nguồn nhân lực dổi
dào thứ hai trong khu vực (sau Inđônêxia với 93 triệu lao động) Theo dự báo
trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI sẽ duy trì với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng và đạt đỉnh cao nhất là 70% vào năm 2009 Đó là một tiềm năng, cơ hội lớn nhưng cũng là thách thức, khó khăn, trong công tác bổi dưỡng, phân bổ để đáp ứng nhu cầu nhân lực của đất nước trong công cuộc CNH-HĐH đất nước
2.1.1.2 Cơ cấu nguồn nhân lực
- Số lượng lao động làm việc trong nhóm ngành nông-lâm-ngư nghiệp (NLN) chiếm tỷ lệ gấp hai lần so vói số lao động làm việc trong nhóm ngành công nghiệp-xây dựng và dịch vụ Mặc dù có sự chuyển dịch lao động theo hướng CNH-HĐH, song vẫn còn ở mức chậm Lao động trong lĩnh vực công
nghiệp và xây dựng mới tăng từ 12,1% (năm 1997) đến 14,8% (năm 2001), trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp, lao động giảm từ 65,8% (năm 1997) xuống 60,5 (năm 2001) Theo trung tâm thống kê lao động và xã hội năm 2002, ngành công
nghiệp và xây dựng với số lao động chiếm 15,3% còn lao đông trong ngành
nông-lâm-ngư chiếm 60,67% (xem bảng 2.1).
Bảng 2.1: Cơ cấu của LLLĐ chia theo nhóm ngành kinh tế
Đơn vị: %
Nhóm ngành 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Tổng sô 100 100 100 100 100 100
Trang 28Công nghiệp-XD 12,1 11,6 12,4 13,1 14,8 15,3
Nguồn: Điều trơ lao động-việc làm từ năm 1997 đến 2002
- Lao động theo khu vực kinh tế chiếm tỷ lệ lớn nhất là khu vực kinh tế ngoài ngoài quốc doanh, sau đó là lao động trong khu vực kinh tế Nhà nước; lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ nhỏ
nhất, song lại tăng nhanh nhất là vào năm 2001 (xem bảng 2.2).
B ảng 2.2: Cơ cấu LLLĐ chia theo khu vực h o ạ t động kinh tế
Đơn vị: %
Khu vực kinh tế 1997 1998 1999 2000 2001 Tổng số 100 100 100 100 100
KV kinh tế ngoài quốc doanh 90,6 89,2 89,4 89,3 89,6
KV kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 0,4 0,5 0,5 0,6 0,94
Nguồn: Điều tra lao dộng-việc làm từ năm 1997 đến năm 2001
- Về cơ cấu lao động theo khu vực thành thị và nông thôn: Theo số liệu điều tra cho thấy: LLLĐ ở khu vực thành thị chiếm tỷ lệ thấp, chỉ bằng 1/3 lực lượng lao động ở khu vực nông thôn Trong những năm gần đây, LLLĐ ở thành thị đã tăng do sự di cư từ nông thôn ra nhưng LLLĐ tham gia hoạt động kinh tế thường xuyên ở khu vực thành thị tăng rất chậm do đòi hỏi lao động ở khu vực này phải
có trình độ cao hơn (xem bảng 2.3).
Bảng 2.3: Cơ cấu của LLLĐ theo khu vực th à n h thị và nông thôn
Đơn vị:%
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 Tổng sô 100 100 100 100 100
Nguồn: Điều tra lao động-việc làm từ năm 1997 đến năm 2001
- Cơ cấu lao động theo giới: Qua các năm cho thấy, lao động nữ thường thấp hơn lao động nam Năm 2000, cả nước có 16.292.464 lao động nữ, chiếm 45% tổng số LLLĐ cả nước, đến năm 2002 sự chênh lệch đã giảm xuống với con
số tương ứng là 19.564.594 người và 49,5%
- Lao động theo nhóm tuổi cho thấy: nhóm tuổi 25-34 tuổi và 35- 44 tuổi
Trang 29chiếm tỷ lệ lớn nhất Năm 1997 số lao động ở nhóm từ 25-34 chiếm 29,7% tổng
số lao động HĐKTTX của cả nước, đến năm 2000 nhóm tuổi này chiếm tỷ lệ 28,2% còn nhóm tuổi 35-44 tuổi tương tự chiếm 25,6% năm 1997 và 28,2% năm
2000 Theo số liệu điều tra còn cho thấy, mức tham gia hoạt động kinh tế thấp nhất là nhóm tuổi trên 60 tuổi; trong năm 2000, LLLĐ trong nhóm tuổi này chỉ chiếm 3,5% Đây cũng là điều hợp lý vì theo quy định của Bộ luật lao động thì
nhóm tuổi này đã hết tuổi lao động, được nghỉ hưu và an dưỡng tuổi già (xem bảng 2.4).
Bảng 2.4: Cơ cấu LLLĐ chia theo nhóm tuổi
Do nguồn cung ứng lao động ngày càng tăng, trong khi hàng năm
số người được giải quyết việc làm ít nên tình trạng th ấ t nghiệp ở nước
ta rất p h ổ biến Điều này th ể hiện là tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ
lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao Tỷ lệ th ấ t nghiệp ở thành thị trong độ tuổi đã tăng từ 5,88% (1996) lên 7,4% (19 9 9 ) và 6,01% (2002), tỷ lệ sử dụng thời gian ở nông thôn của lao động trong độ tuổi tăng chậm từ 71,3% của năm 1998 lên 75,3% của năm 2000, tính ra s ố người thiếu việc làm ở nông thôn quy ra tỷ lệ th ấ t nghiệp vào khoảng 30% Do sô' lao động ở nông thôn chiếm tới 70% tổng s ố lao động của
cả nước nên tình hình thất nghiệp và thiếu việc làm nếu quy ra thất nghiệp về thực chất còn lớn hơn nhiều.
- Tinh trạng thất nghiệp hiện nay đã len lỏi vào cuộc sống của mọi khu vực,
mọi vùng, mọi địa phương, mọi nhà, trong đó đáng chú ý có tới 70% số sinh viên
ra trường không có việc làm dù họ đã được học hành qua trường lớp Những công nhân, kỹ sư, đã qua đào tạo vẫn không xin được việc làm, hoặc làm những
Trang 30việc mà mình không muốn Nhìn chung những người đang làm việc trong nền kinh tế thì năng suất và hiệu quả lao động không cao, vậy nguyên nhân thất nghiệp và sự lãng phí nguồn nhân lực là do đâu khi mà nền kinh tế nước ta vẫn đang phát triển và có tiêm năng phát triển mạnh Phải chăng chính là do yếu tố nguồn nhân lực đã không đáp ứng được những đòi hỏi của nền kinh tế? Câu hỏi này chúng ta phải xem xét về chất lượng NNL Việt Nam hiện nay ra sao?
2.1.2 Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực
2.1.2.1 T h ể lực của người lao động
- Nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay được đánh giá là kém cả về tầm vóc
và thể lực, do thể trạng người Châu Á, mặt khác do những năm trước đây điều kiện kinh tế còn kém nên chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em cũng như việc cung cấp chất dinh dưỡng ở người lớn còn nhiều hạn chế Theo số liệu ĐTMS 97-98, chỉ số cơ thể (BMI) ở người lớn bình quân là 19,83kg/m2 trong đó ở thành thị là 20,18kg/m, ở khu vực nông thôn là 19,545kg/m2, chỉ số của nữ thấp hơn của nam (Nam:19,76kg/m2, Nữ : 19,68kg/m2) Trong tổng số người từ 18 tuổi trở lên có 48,24% số người có sức khoẻ ở mức bình thường (không béo cũng không gầy) Tuy nhiên, vấn đề ở Việt Nam không phải là vấn đề "béo" vì chỉ có 5,18% số người được gọi là béo và 0,55% quá béo, mà vấn đề là gầy, chưa kể đến 24,09%
số người hơi gầy (xem bảng 2.5).
Bảng 2.5: Tình trạng dinh dưỡng của người lớn tính theo chỉ số
cơ thể BMI phân theo giới tính, khu vực thành thị và nông thôn
Đơn vị: %
Quá gầy Gầy Hơi gầy B.thường Béo Quá béo T.bình
Kg/m2 CHUNG 3,52 18,44 24,09 48,24 5,18 0,55 19,83 Giói tính
Trang 31em cùng trang lứa là 149cm, của Ân Độ là 155cm, Nhật Bản là 164cm Chiều cao trung bình của Nam thanh niên Việt Nam tiến bộ rất chậm trong nhiều năm qua trong khi đó xu hướng chung ở các nước phát triển là sau 10 năm sẽ tăng lcm (ở nước ta so với 160cm vào thời điểm 1930 tới nay chỉ là 162-163cm) Bên cạnh, tuổi thọ trung bình của dân cư nói chung có sự gia tăng đáng kể từ 64 tuổi năm 1996 đến 69 tuổi năm 2001 Nếu so với các nước trong khu vực và thế giới tuổi thọ của chúng ta vẫn rất thấp vì hầu như các nước trong khu vực Đông Nam
A đều có tuổi thọ trung bình là trên 70 tuổi
Để chuẩn bị tốt nguồn nhân lực trong tương lai thì vấn đề chăm sóc sức khoẻ trẻ em là vô cùng quan trọng, vì nó sẽ quyết định phần lớn sức khoẻ và khả
năng trí tuệ của con người sau này "Trẻ em hôm nay chính là sự phát triển của NNL trong tương lai ”.
Trong những năm gần đây, do có sự quan tâm của Đảng và điều kiện cuộc sống được cải thiện nên trẻ em có điều kiện chăm sóc nhiều hơn Theo ĐTMS 97-98 tình tạng dinh dưỡng của trẻ em hiện nay được đánh giá như sau:
> Về chiều cao theo tuổi: Có 41,52% trẻ em (từ 0-155 tháng tuổi) có chiều
cao thấp so với tuổi (thấp còi), giảm 6,94% so với năm 92-93 Trong đó, tỷ lệ thấp còi của trẻ em thành thị thấp hơn ở nông thôn (Thành thị: 22,68%, nông thôn: 45,24%), của trẻ em nam cao hơn trẻ em nữ (Nam: 43,86%, Nữ: 39,08%) Trong số trẻ em thấp còi, nhóm trẻ em độ tuổi 0-5 tháng có tỷ lệ thấp còi thấp
đ ộ n Bình thường SuyDD
đ ộ i SuyD D
đ ộ n Bình thường Suy DD
đ ộ i SuyDD
Trang 32Nguồn: ĐTMS 97-98
> Vê cân nặng theo chiều cao: Có 8,98% trẻ em có cân nặng thấp so với
chiều cao (còm), tăng 7,92% so với KSMS 92-93 Con sô' trong bảng cho thấy trẻ
em còm chiếm tỷ lệ ít hom trẻ em thấp còm nhưng lại có xu hướng tăng sau 5 năm Trong số trẻ em còm, ở khu vực thành thị chiếm 9,33%, nông thôn là 9,91%, ở nam là 8,64% và nữ là 9,39% Tinh trạng trẻ em còm thấp nhất ở nhóm
đ ộ i
Suy DD
đ ộ n
Bình thường
Suy DD
đ ộ i
Suy DD
đ ộ n
Bình thường
Suy DD
đ ộ i
Suy DD
Trang 33> Cân nặng theo tuổi: cũng là chỉ tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng của
trẻ em Có 40,13% trẻ em (từ 0-155 tháng) có cân nặng theo tuổi thấp Tỷ lệ trẻ
em theo tuổi thấp ở khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị (Thành thị : 24,5%, Nông thôn: 43,20%), ở nam cao hơn ở nữ (Nam: 41,83%, Nữ: 38,34%) Nhóm trẻ em độ tuổi 0-5 tháng tuổi có tỷ lệ cân nặng thấp so vói tuổi thấp nhất
và thấp hơn hẳn so vói nhóm trẻ em 6-155 tháng tuổi ịxem bảng 2.8).
Bảng 2.8: Cân năng theo tuổi của trẻ em từ 0-155 tháng tuổi phân theo nhóm tháng tuổi, khu vực thành thị, nông thôn và theo giới tính
Trang 342.1.2.2 Trình độ văn hoá của người lao động
Trình độ văn hoá của người lao động Việt Nam được đánh giá là khá cao so vói các nước trong khu vực: Năm 1997 số lao động không biết chữ chiếm tỷ lệ
5,05% và giảm dần đến 3,58% (năm 2001) Có được điều đó là do truyền thống
người Việt Nam vốn rất hiếu học, ham hiểu biết, tìm tòi và sáng tạo Tuy nhiên, do điều kiện đất nước còn nghèo, trải qua nhiều cuộc chiến tranh nên nhân dân ta không có cơ hội học tập Nếu so với sự phát triển của thế giới hiện đại thì tỷ lộ trên còn cao Điều này rất bất lợi cho việc nâng cao năng suất lao động cho người lao
động nói riêng, nâng cao giá trị sản xuất xã hội nói chung (xem bảng 2.9).
Bảng 2.9 : Lao động từ đủ 15 tuổi trở nên HĐKTTX có trình độ
học vấn phân theo khu vực thành thị, nông thôn
Trang 35Nguồn.Điêu tra lao động-việc làm 1997-2001
2.I.2.2.I X ét về quy mô và tỷ lệ chung cả nước
- Số người không biết chữ đã giảm dần qua các năm cả về quy mô và tỷ lệ:
từ 1.799.002 người (5,05%) năm 1997 giảm xuống 1.477.659 người (4.04%) năm 1998 và 14.155.24 người (3,58%) năm 2001 Tuy vậy, sự giảm này không
ổn định về quy mô, năm 1999 số người không biết chữ lại tăng so với năm 1998
là 1,23% Mặc dù số liệu cho thấy tỷ lệ người lao động chưa biết chữ còn cao, song nhìn chung trong 5 năm đều giảm liên tục Năm 2002, theo số liệu điều tra lao động-việc làm 1/7, tỷ lệ này còn khoảng 3,74%, đây là một thành tựu đáng ghi nhận trong xu hướng nâng cao chất lượng NNL
- Về tình trạng người lao động có trình độ văn hoá thấp (chưa tốt nghiệp Tiểu học) còn chiếm tỷ lệ khá cao v ề mặt quy mô, có sự suy giảm đáng kể, năm
1997 có 7.106.976 người, chiếm 19,97% thì đến năm 2001 con số này là 6.362.570 người, chiếm 16,11% tổng số người lao động trong nền kinh tế Nếu
so với số người không biết chữ thì tốc độ giảm số người có trình độ văn hoá thấp nhanh hơn Có được kết quả như vậy là do Đảng, Nhà nước trong những năm qua
có sự quan tâm và đầu tư thích đáng cho giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh phố cập