Luận văn, khóa luận, chuyên đề, tiểu luận, bài tập, đề tài, nông nghiệp, công nghiệp
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế, những năm gần đây cho thấy, vùng núi mặc dù đã có nhữngbước phát triển đáng kể: cơ sở hạ tầng được đầu tư và củng cố, đời sống vậtchất, tinh thần của người dân dần được cải thiện, tuy nhiên thành tựu ấymới chỉ là bước đầu, về cơ bản vùng núi vẫn là vùng kinh tế chậm phát triển,đời sống nông dân hiện tại vẫn còn nhiều khó khăn, việc ứng dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất còn nhiều hạn chế Một bộ phận lớn các hộnông dân do thu nhập thấp nên khả năng tích luỹ hạn chế đã dẫn đến tìnhtrạng thiếu vốn trong sản xuất và cứ như thế họ sẽ khó mà vượt qua được cáivòng luẩn quẩn của nghèo đói
Việc đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế xã hội, đưa vùng núi tiến kịpmiền xuôi đang là nhiệm vụ chính trị cần được quan tâm đúng mức cả trướcmắt cũng như lâu dài ở nước ta, để làm được điều đó cần có những biện pháphợp lí về đầu tư vốn, trong đó có tín dụng Tín dụng được coi là công cụ hiệuquả thúc đẩy các hoạt động sản xuất, tạo thu nhập, giúp người dân thoátnghèo, từng bước nâng cao đời sống
Nam Đông và A Lưới là những huyện vùng núi còn nhiều khó khăn củatỉnh Thừa Thiên Huế với hơn 80% dân số sống dựa vào nông nghiệp, tỷ lệ hộnghèo đói còn nhiều nên việc rút ngắn khoảng cách giữa các huyện này vớithành thị đang là một thách thức lớn Mục tiêu ấy đang được các cấp chínhquyền cũng như các tổ chức tín dụng quan tâm Thời gian qua các công cụ tíndụng đã có những chuyển biến tích cực và tác động to lớn đến sự phát triểnkinh tế hộ nông dân Vốn tín dụng đã tạo điều kiện cho các hộ sử dụng tốt hơnnguồn lực sẵn có của gia đình, tạo thêm việc làm, góp phần đa dạng hoángành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn làm tăng thu nhập, thực
Trang 2hiện xoá đói giảm nghèo ở nông thôn miền núi đồng thời góp phần nâng caonăng lực cho người dân Việc phân tích khả năng tiếp cận vốn tín dụng củacác hộ, hiệu quả tác động vốn tín dụng đối với các ngành và các nhóm hộ làrất cần thiết nhằm xây dựng cơ sở khoa học để đề ra các giải pháp tín dụngphù hợp bao gồm việc cung cấp vốn và sử dụng vốn cho hộ nông dân nóichung, các hộ nghèo và hộ dân tộc thiểu số nói riêng, tạo điều kiện cho họvươn lên nhằm góp phần phát triển kinh tế cho hộ nông dân vùng cao Chính
vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Tác động của vốn tín dụng đối với kinh tế hộ nông dân ở huyện Nam Đông và A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng hệ thống tín dụng và tác động của nó đối với sự pháttriển kinh tế hộ nông dân, đề ra một số định hướng và giải pháp nhằm cải thiệnhoạt động tín dụng ở hai huyện Nam Đông và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Tìm hiểu cách thức cho vay tín dụng, phân tích tình hìnhvay và sử dụng vốn của hộ nông dân, tác động của vốn tín dụng đối với kinh
tế hộ nông dân
Trang 3Địa điểm nghiên cứu được thực hiện tại huyện Nam Đông, A Lưới tỉnhThừa Thiên Huế, trong đó đề tài tập trung nghiên cứu ở các xã Hương Phú,Thượng Lộ, Phú Vinh, Hồng Vân.
Về thời gian: Số liệu và những thông tin được lấy để phân tích đánh giátrong đề tài được tính từ năm 2003-2006, và số liệu khảo sát ở cấp hộ chủ yếuvào năm 2006
Đối tượng nghiên cứu:
Các tổ chức, chương trình tín dụng đang hoạt động trên địa bàn
Các nông hộ vay vốn tín dụng trên địa bàn huyện Nam Đông, A Lưới tỉnhThừa Thiên Huế
Trang 4Tín dụng đã xuất hiện từ khi xã hội có phân công lao động, sản xuất vàtrao đổi hàng hóa Trong quá trình trao đổi hàng hóa đã hình thành những sựkiện nợ nần lẫn nhau, phát sinh những quan hệ vay mượn để thanh toán Nhưvậy hiểu theo nghĩa hẹp, tín dụng là một quan hệ kinh tế hình thành trong mộtquá trình chuyển hóa giá trị giữa hình thái hiện vật và hình thái tiền tệ từ tổchức này sang tổ chức khác hay từ tay người nay sang tay người khác theonguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời gian nhất định Nói cách khác,tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dướihình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người sở hữusang người sử dụng và khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả lại cho người
sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợitức tín dụng
Theo nghĩa rộng, quan hệ tín dụng gồm hai mặt: Huy động vốn và tiếnhành cho vay
Trong thực tế tín dụng hoạt động rất phong phú và đa dạng, nhưng dù ởbất cứ dạng nào tín dụng cũng luôn là một quan hệ kinh tế của nền sản xuấthàng hóa, nó tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của
Trang 5những quan hệ hàng hóa- tiền tệ Mục đích và tính chất tín dụng do mục đích
và tính chất của nền sản xuất hàng hóa trong xã hội quyết định Sự vận độngcủa tín dụng luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, của phươngthức sản xuất trong xã hội đó [15],[42],[43]
Theo từ điển thuật ngữ tài chính thì: “tín dụng là một phạm trù kinh
tế tồn tại trong các phương thức sản xuất hàng hoá khác nhau và đượcbiểu hiện như sự cho vay mượn trong một thời hạn nào đó Khái niệm vaymượn bao gồm cả sự hoàn trả Chính sự hoàn trả là đặc trưng thuộc bảnchất của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trùcấp phát tài chính kinh tế khác”.[2]
Khác với các hình thức: cho, lấy, mua, bán, đổi là các chuyển dịchtài sản mà quyền sở hữu được chuyển nhượng hoàn toàn Tín dụng làquan hệ đòi hỏi sự hoàn trả tài sản hay giá trị tài sản cho chủ cũ sau mộtthời hạn nhất định
Tài sản tham gia tín dụng có thể là tài sản vô thể (tư bản lợi thế):danh hiệu, uy tín, quyền sở hữu,…hoặc có thể là các tài sản hữu thể (tưbản sản xuất): lao động, tài sản hiện vật hoặc tài sản tài chính, )
Tài sản chưa hoàn trả gọi là nợ
Để làm rõ bản chất của hoạt động tín dụng cần phân biệt rõ một sốhình thái của thuật ngữ “cho mượn”
Trang 6- Mượn thuần tuý: nguyên tắc mượn gì trả nấy, người cho mượn phảichịu thiệt thòi về mức hao mòn của tài sản và không đòi hỏi đền bù vậtchất gì cho sự hy sinh của mình khi chấp nhận cho mượn.
- Thuê: Người cho thuê với mục đích là để kiếm lời, việc hoàn trả dựatrên nguyên tắc tiền tệ Do đó, đây là biến thể quan hệ mua bán, mà hánghoá chính là thời gian sử dụng tài sản của người đi thuê
- Vay: khác với hình thức như mượn và thuê, tài sản vay là tài sảnngười đi vay có toàn quyền sử dụng để trao đổi, thanh toán đúng như tàisản có của chính mình
1.1.1.3 Các hình thức tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường tín dụng hoạt động rất đa dạng và phongphú Người ta thường dựa vào các tiêu thức sau đây để tiến hành phân loại tíndụng.[15], [42],[43]
Căn cứ vào thời hạn tín dụng: Dựa vào tiêu thức này tín dụng được chia
ra làm 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được
sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanhnghiệp cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm Loại tíndụng này được dùng để cho vay vốn phục vụ cho yêu cầu mua sắm tài sản cốđịnh, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công tình nhỏ cóthời hạn thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm Loại tín dụng nàyđược sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sảnxuất có quy mô lớn Chẳng hạn như: đầu tư xây dựng cho các xí nghiệp mới,các công trình thuộc cơ sở hạ tầng Tín dụng trung và dài hạn được đầu tư đểhình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất
Trang 7 Căn cứ vào đối tượng tín dụng
Theo tiêu thức này tín dụng được chia ra làm hai loại:
- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được cung cấp nhằm hình thành vốnlưu động của doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp mức vốn lưu động thiếuhụt tạm thời Loại tín dụng này thường được chia ra thành các loại: cho vay
để dự trữ hàng hóa, cho vay chi phí sản xuất và cho vay để thanh toán cáckhoản nợ dưới hình thức chiết khấu các chứng từ có giá
- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cung cấp nhằm hình thành vốn
cố định của doanh nghiệp Loại tín dụng này thường được cấp phát phục vụviệc đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sảnxuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới, thời hạn cho vay đối với loạitính dụng này là trung hạn và dài hạn
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng
Theo tiêu thức này tín dụng được chia ra làm 2 loại:
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa:
Đây là loại tín dụng được cung cấp cho các nhà doanh nghiệp để tiến hànhsản xuất và kinh doanh
- Tín dụng tiêu dùng là hình thức tín dụng cấp phát cho cá nhân để đáp ứngnhu cầu tiêu dùng Loại tín dụng này thường được cung cấp cho việc mua sắmnhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình như tủ lạnh, máy giặt Tín dụng tiêudùng được cấp phát dưới hình thức bằng tiền hoặc dưới hình thức bán chịuhàng hóa Việc cấp tín dụng bằng tiền thường do các ngân hàng, hợp tác xãtín dụng, quỹ tiết kiệm và các tổ chức tín dụng khác cung cấp Còn việc cấpphát tín dụng dưới hình thức hiện vật thường do các công ty, các cửa hàngthực hiện
Ngày nay, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những xu hướngđang tăng lên Hoạt động của nó đã thúc đẩy gia tăng bán hàng ở những người
Trang 8bán lẻ tạo ra yếu tố kích thích sản xuất phát triển Đồng thời các ngân hàng đãđáp ứng được một thị trường rộng lớn khi mà hầu hết người tiêu dùng muasắm trước, sau đó mới dàn sếp nguồn tài trợ, do vậy, qua đó ngân hàng có thểđạt được những nguồn lợi tức đáng kể, nhất là trong xu hướng của sự gia tăng
về lợi tức và chi phí tiêu dùng hiện nay
Căn cứ vào chủ thể tín dụng
Dựa vào tiêu thức này tín dụng được chia thành các loại sau đây :
- Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp, đượcthể hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa
- Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tíndụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân
- Tín dụng nhà nước: Là quan hệ tín dụng, mà trong đó nhà nước là người đivay để đảm bảo các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước, đồng thời làngười cho vay để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình trong quản lýkinh tế -xã hội và phát triển quan hệ đối ngoại
1.1.1.4 Các giai đoạn của một nghiệp vụ tín dụng
Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vaygiữa họ có mối liên hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng đượcbiểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hàng hóa Quá trình vận động có thểđược khái quát qua 3 giai đoạn sau :
Giai đoạn 1: Phân phối vốn tín dụng dưới hình thức cho vay Ở giai
đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hóa được chuyển từ người chovay sang người đi vay Như vậy, khi cho vay, giá trị vốn tín dụng đượcchuyển sang người đi vay, đây là đặc điểm cơ bản khác với việc mua bánhàng hóa thông thường Bởi vì, trong quan hệ mua bán hàng hóa thì giá trị chỉthay đổi hình thái tồn tại Ở đây, người bán và người mua cả hai đều có mộtgiá trị như trước, giá trị mà họ đã nhượng đi, người thứ nhất thì nhượng đi
Trang 9dưới hình thái hàng hóa, người thứ hai nhượng đi dưới hình thái tiền tệ Còntrong việc cho vay, chỉ có một bên nhận được giá trị và cũng chỉ một bênnhượng đi giá trị mà thôi.
Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Sau khi
nhận được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó đểthỏa mãn một mục đích nhất định Ở giai đoạn này, vốn vay được sử dụngtrực tiếp nếu vay bằng hàng hóa; hoặc vốn vay được sử dụng để mua hànghóa; nếu vay bằng tiền để thỏa nãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người
đi vay Tuy nhiên, người đi vay không có quền sở hữu giá trị đó, mà chỉ đượcquyền sử dụng trong một thời gian nhất định
Giai đoạn 3: Sự hoàn trả của tín dụng Đây là giai đoạn kết thúc một
vòng tuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳsản xuất để trở về hình thái tiền tệ hì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trảlại cho người cho vay
Như vậy, sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vậnđộng của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trùkinh tế khác Mặc khác, sự hoàn trả của tín dụng là quá trình quay trở về củagiá trị Hình thái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dưới hình thái hànghóa hoặc giá trị Tuy nhiên, sự vận động đó không phải với tư cách là phươngtiện lưu thông, mà với tư cách một lượng giá trị được vận động Chính vì thế,
sự hoàn trả phải luôn luôn được bảo tồn về mặt giá trị và có phần tăng thêmdưới hình thức lợi tức
Tóm lại, bản chất của tín dụng được thể hiện là hình thức vận động củavốn tiền tệ trong xã hội theo nguyên tắc có hoàn trả nhằm thúc đẩy sản xuấtkinh doanh phát triển, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống cho dânchúng.[15]
Trang 101.1.1.5 Một số khái niệm
- Khái niệm tài chính vi mô
Tài chính vi mô (TCVM) được coi là công cụ phát triển mang lại lợi íchcho người dân có thu nhập thấp Thuật ngữ này muốn nói tới dịch vụ tài chínhcho các khách hàng có thu nhập thấp bao gồm cả những người làm ăn cá thể.Các dịch vụ tài chính nói chung bao gồm tiết kiệm và tín dụng Cùng cáctrung gian tài chính, rất nhiều tổ chức TCVM cung cấp các dịch vụ trung gianmang tính xã hội như hình thành tổ nhóm, phát triển tính tự tin, và đạo tạo cáckiến thức về tài chính cũng như khả năng quản lý giữa các thành viên trongmột nhóm Do đó định nghĩa về TCVM thường bao gồm cả hai yếu tố: trunggian tài chính và trung gian xã hội TCVM không đơn giản chỉ là một công
cụ ngân hàng mà còn là một công cụ phát triển.[3],[4],[30]
- Khái niệm tổ chức tín dụng: là doanh nghiệp được thành lập theo quy địnhcủa Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạtđông kinh doanh tiền tệ làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và
sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán
- Khái niệm chương trình tín dụng
Trong nội bộ từng quốc gia, tùy theo mục đích chiến lược kinh tế cụ thể
mà có các chương trình tín dụng riêng biệt đặc thù trong từng lĩnh vực trongmột thời gian nhất định Đối với các tổ chức Phi chính phủ có hoạt động tàichính vi mô và các dự án có hoạt động tài chính vi mô lồng ghép với các hoạtđộng khác Nhiều tổ chức Phi chính phủ chỉ xem tài chính vi mô như là mộtphương tiện để đạt được mục đích chứ không phải bản thân nó là mục đích.Một số tổ chức đã sử dụng tài chính vi mô để thực thi các chương trình giáodục sức khỏe và kế hoạch hóa gia đình Các dự án này có thể mang lại hiệuquả cao Hoạt động tài chính vi mô kết hợp với các hoạt động khác có thểkhai thác tính kinh tế theo phạm vi hay cung cấp kiến thức, đào tạo kỹ năngtrong sản xuất hộ gia đình và cải thiện phúc lợi
Trang 111.1.2 Bản chất, vai trò của vốn tín dụng trong nông nghiệp, nông thôn
1.1.2.1 Vai trò, chức năng của hoạt động tín dụng đối với sự phát triển của nông nghiệp nói chung và phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng
Mỗi một quốc gia có nền kinh tế thị trường đều cần đến một hệthống tài chính thực hiện chức năng chuyển vốn từ người có tiền nhàn rỗi(dư vốn) sang người cần tiền (thiếu vốn) có cơ hội đầu tư sinh lợi Hoạtđộng tài chính đủ mạnh sẽ giúp nâng cao năng suất và hiệu quả của toàn
bộ nền kinh tế cũng như góp phần nâng cao đời sống kinh tế của các thànhviên trong xã hội Vai trò quan trọng của hệ thống tài chính được thựchiện thông qua hai con đường là tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp
mà vai trò chủ yếu là các trung gian tài chính Tổ chức tài chính trunggian (hay các trung gian tài chính) là các tổ chức tiến hành việc thu hútvốn dư thừa và đầu tư cho các nhu cầu trong xã hội thông qua công cụ lãisuất Ở đây lãi suất huy động và cho vay có vai trò cực kỳ quan trọngtrong việc phân phối vốn trong xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của
cả người dư vốn, thiếu vốn và trung gian tài chính Trên phương diện vĩ
mô, trung gian tài chính đóng vai trò thực hiện điều chỉnh vốn từ vị tríhiện hành tới gần ranh giới tối ưu hoá độ thoả dụng cho cả người dư vốn
và người thiếu vốn Có thể hiểu sự vận động lưu chuyển tài chính trongnền kinh tế bằng con đường trực tiếp hoặc gián tiếp nói như trên như làhoạt động tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng có hai chức năng chủ yếu:Một là, chức năng phân phối lại tài nguyên: Tín dụng là sự vậnđông vốn từ chủ thể có vốn tạm thời nhàn rỗi sang chủ thể cần vốn đểphát triển sản xuất hoặc chi tiêu Đi theo sự vận động vốn đó là sự vậnđộng của sản phẩm xã hội Hay nói khác đi, người nhận được số vốn đivay được phân phối lại một bộ phận tài nguyên của xã hội
Trang 12Hai là, chức năng thúc đẩy phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá:Ngày nay, khối lượng tiền được cung ứng cho lưu thông chủ yếu thôngqua con đường tín dụng Đây là cơ sở đảm bảo lưu thông tiền tệ ổn định,đồng thời đảm bảo đủ phương tiện (tiền tệ) để phục vụ cho lưu thông.Nhờ vào hoạt động tín dụng và nâng cao hiệu quả tín dụng mà ngân hàngtạo ra tiền để phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hoá, qua đó thúcđẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.[15][42]
Thông qua việc thực hiện các chức năng của mình, hoạt động tíndụng đảm nhận những vai trò hết sức quan trọng trong tái sản xuất mởrộng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Bằng việc tạo ra cơ chế huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, trongcác tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính Các tổ chức trung gian tài chính
có khả năng huy động để cung cấp vốn cho các chủ thể có nhu cầu sửdụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh đã thúc đẩy nhanh quá trình tích
tụ và tập trung vốn sản xuất, nâng cao năng lực về vốn cho nền kinh tế.Đáp ứng nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá vớitốc độ ngày càng nhanh
Hoạt động tín dụng góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn Nhờ có nguồn vốn tín dụng, các chủ thể kinh tế cóđược cơ hội đầu tư sản xuất vào những lĩnh vực có hiệu quả kinh tế cao,tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá dồi dào, đáp ứng tốt quan hệ cungcầu trên thị trường hàng hoá, tiền tệ Điều này đồng nghĩa với tác độngthúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá của nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Tạo điều kiện khai thác tiềm năng về lao động và đất đai một cáchhợp lí, tăng thu nhập và cải thiện đời sống Góp phần thực hiện chươngtrình xoá đói giảm nghèo của chính phủ một cách có hiệu quả
Trang 13Góp phần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn.Đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ởnông thôn, đặc biệt là kinh tế hộ và kinh tế hợp tác.
Đối với những vùng đất nghèo khó khăn và ít tiềm năng, thu nhậpchính từ sản xuất nông nghiệp thấp, thiếu vốn sản xuất, nguồn vốn tíchluỹ chưa có và mong manh, việc thực hiện chủ trương đường lối xoá đóigiảm nghèo của Đảng và Nhà nước thực sự gặp nhiều khó khăn Hoạtđộng và mở rộng hoạt động tín dụng trong nông nghiệp nông thôn chính
là một giải pháp hữu hiệu để đáp ứng việc thúc đẩy phát triển sản xuất,tăng thu nhập dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp nông thôn.Thông qua việc cung cấp vốn tín dụng, người nông dân được bổ sungthêm nguồn vốn để đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi cơ cấu câytrồng vật nuôi theo hướng có lợi hơn, có điều kiện để phát triển kinh tếgia đình tốt hơn
1.1.2.2 Kinh tế hộ nông dân và vai trò tín dụng đối với quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân
* Các quan điểm kinh tế hộ nông dân
Hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ bản trong nông nghiệp, rađời rất sớm trong lịch sử và tồn tại qua nhiều phương thức sản xuất, nhiều chế
độ xã hội Đặc điểm và vai trò của kinh tế hộ nông dân đã được nhiều nhàkhoa học quan tâm, nghiên cứu.[10],[11],[14],[28]
Khi nghiên cứu về hộ, có quan điểm cho rằng: Hộ là tập hợp nhữngngười có cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trìnhtạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng
Hộ và gia đình có những tiêu thức chung để nghiên cứu như cơ sở kinh
tế, quan hệ huyết thống và hôn nhân, tình trạng cư trú Điều này đã được nhànông học Traianop đề cập tới "Khái niệm hộ, đặc biệt trong đời sống nông
Trang 14thôn không phải bao giờ cũng tương đối với khái niệm sinh học làm chỗ dựacho nó, mà nội dung đó còn có cả một loạt những phức tạp về đời sống kinh
- Thứ nhất là đất đai: Đặc điểm này phân biệt người nông dân và ngườilao động không có đất đai hay với công nhân đô thị Người nông dân vớiruộng đất chính là yếu tố hơn hẳn yếu tố khác vì giá trị của nó, nó là nguồnđảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai và làmột bộ phận về vị trí xã hội của gia đình trong phạm vi làng xã hay cộngđồng.[10]
- Thứ hai là lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình làđặc điểm kinh tế nổi bật của người nông dân Nền sản xuất tư bản được xácđịnh bởi việc làm của người lao động được trả công và sự tước đoạt quyền sởhữu phương tiện sản xuất của người lao động
- Thứ ba là tiền vốn: Làm chủ vốn đầu tư và tích lũy là một đặc điểmchủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, cũng như khái niệm về tỷ lệ hoànvốn đầu tư dưới dạng lơi nhuận Thiếu một phạm trù có hệ thống về tính toán
tỷ lệ hoàn vốn làm tăng sự phân biệt giữa gia đình nông dân và các xí nghiệp
tư bản Giữa hộ nông dân không có sự phân biệt giữa lợi nhuận từ doanh thuvới tiền công lao động của gia đình, điều này đã làm nên bản chất hai mặt củasản xuất và tiêu dùng của hộ nông dân không thể tách riêng ra được
Trang 15- Thứ tư là sự tiêu dùng: Có lẽ đặc trưng phổ biến nhất của người nôngdân được các nhà kinh tế xác định cuộc sống của họ cơ bản do tự cung tự cấp.
Tự cung tự cấp có nghĩa là sản phẩm nông nghiệp được trực tiếp tiêu dùngcho gia đình chứ không phải để bán trên thị trường, và người nông dân đượcgọi là người nông dân tự cung tự cấp, và cũng chính sự tự cung tự cấp này làmột nguyên nhân làm cho người nông dân chỉ gắn bó ít với thị trường.[10]
Ở Việt Nam, hộ nông dân được hiểu là một gia đình có tên trongbảng kê khai hộ khẩu riêng, gồm một người làm chủ hộ và các người cùngsống trong hộ gia đình ấy
Về mặt kinh tế, hộ gia đình có mối quan hệ gắn bó không phân biệt vềmặt tài sản, những người sống chung trong một gia đình có nghĩa vụ và tráchnhiệm với sự phát triển kinh tế Nghĩa là mỗi thành viên phải có nghĩa vụđóng góp công sức vào quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của hộ và cótrách nhiệm với kết quả sản xuất được Phần lớn các thành viên trong giađình nông dân làm tất cả các công việc (trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ)dưới sự điều khiển của chủ hộ Có một số hộ nông dân giàu, có tài sản lớn
có thể thuê thêm lao động thời vụ Nhưng nhìn chung các thành viên tronggia đình là lực lượng lao động chủ yếu của hộ nông dân
* Ưu thế của kinh tế hộ nông dân so với các loại hình kinh tế khác
Một là, các thành viên trong hộ nông dân thống nhất với nhau về lợiích Tất cả mọi người đếu tự giác tham gia lao động sản xuất ra nhiếu sảnphẩm nhằm tạo ra ngày càng nhiều thu nhập cho hộ
Hai là, do tính ổn định của cơ cấu hộ cùng với sự hiểu biết đặc tính
sử dụng từng loại tài sản của hộ nông dân như ruộng đất, trâu bò, công cụsản xuất, càng giúp cho các thành viên trong hộ nông dân biết giữ gìn,chăm sóc và sử dụng các tài sản đó một cách tối ưu nhất
Trang 16Ba là, trong hộ nông dân người quản lí sản xuất đồng thời cũng làngười trực tiếp sản xuất nên hộ nông dân nắm bắt được thông tin kịp thời,nhanh nhạy từ đó có cách sử lí kịp thời và hiệu quả.
Bốn là, thông thường các mâu thuẩn phát sinh trong nội bộ hộ nôngdân được giải quyết ổn thoả mà không cần có sự can thiệp của bên ngoài
Năm là, ưu thế của hộ kinh tế hộ nông dân còn thể hiện ở tính đặcthù của sản xuất nông nghiệp so với các ngành sản xuất khác Sản xuấtnông nghiệp chịu ảnh hưởng không chỉ bởi các yếu tố thông thường nhưcác ngành sản xuất khác mà còn chịu tác động của điều kiện tự nhiên môitrường…
* Một số quan điểm đáng lưu ý về kinh tế hộ nông dân ở nước ta
Một là, về đất đai hộ nông dân ở nước ta chỉ có quyền sử dụng chứkhông có quyền sở hữu đất đai Quy mô canh tác bình quân một hộ nôngdân của nước ta rất thấp, nên đã hạn chế việc khai thác năng lực sản xuấtcủa hộ nông dân kết hợp với các nguồn lực (vốn, lao động, công cụ sảnxuất,…) hiệu quả nhất
Hai là, trình độ trang bị các phương tiện phục vụ sản xuất của hộnông dân nước ta tuy đã được cải thiện nhiều trong thời gian qua nhưngnhìn chung trình độ này vẫn còn thấp
Ba là, về lao động trong hộ nông dân chủ yếu là tự đào tạo vàtruyền nghề Mặc dù chương trình khuyến nông đã phát triển rộng khắp
ở vùng nông thôn và một số chương trình đào tạo khác do Nhà nước tốchức cho hộ nông dân nhằm nâng cao trình độ nhận thức và kỹ năngcanh tác, kỹ thuật sản xuất mới tiên tiến nhưng nhìn chung do hạn chế vềtrình độ văn hoá, khả năng thích nghi với cái mới còn kém nên đã hạnchế quá trình nâng cao chất lượng lao động, đổi mới kỹ thuật sản xuấtcủa hộ nông dân
Trang 17Bốn là, về nguồn vốn sản xuất kinh doanh hộ nông dân nước ta cònthiếu vốn nghiêm trọng Tình trạng thiếu vốn sản xuất trong khu vực nôngthôn đã hạn chế tốc độ thâm canh, hạn chế việc áp dụng quy trình kỹ thuậtmới vào sản xuất nông nghiệp, gây cản trở quá trình chuyển dịch cơ cấucây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp và nông thôn, hạn chế việc tạo thêmviệc làm và tăng thu nhập cho nông dân.
Năm là, về môi trường sản xuất kinh doanh của hộ nông dân ở nước
ta có các đặc điểm: Hộ nông dân nước ta vừa mới thoát ra khỏi cơ chếkinh tế tập trung bao cấp và các hình thức hợp tác máy móc, xơ cứngbước vào kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước Một bộ phận lớnnông dân nước ta vẫn còn duy trì hình thái kinh tế tự nhiên, tập quán sảnxuất kiếu cũ, lạc hậu chua thích nghi với cơ chế thị trường
* Những đặc trưng của kinh tế hộ nông dân miền núi Việt Nam
Kinh tế hộ nông dân là hình thức phổ biến của nông thôn vùng núi ViệtNam với hướng sản xuất chủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp Hình thức tổchức kinh tế này có những đặc trưng chủ yếu sau:
- Kinh tế nông lâm nghiệp có lịch sử ra đời và phát triển lâu dài, có nhiềubiến đổi trong tổ chức và quản lý, có nhiều hình thức đa dạng nhưng chủ yếuđược tổ chức ở quy mô gia đình vì các hộ này chủ yếu sử dụng sức lao độngcủa gia đình tiến hành tự sản xuất tích lũy, nhằm duy trì đời sống của hộ(nguồn thu chủ yếu là từ nông nghiệp và sản phẩm từ rừng) Sau này, tàinguyên rừng đã dần cạn kiệt, hộ nông dân phải nghĩ cách làm sản xuất lâmnghiệp để tăng thêm thu nhập nuôi sống gia đình
- Kinh tế hộ gia đình phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành, mức độcông nghiệp hóa chưa cao, nông lâm kết hợp theo hệ sinh thái bền vững
- Hộ nông dân là một đơn vị độc lập tự chủ nhưng đồng thời cũng là một đơn
vị xã hội với những đặc trưng riêng của nó
Trang 18- Phát triển hình thái nông lâm nghiệp phù hợp với yêu cầu phòng hộ bảo vệmôi trường từng vùng sinh thái.
* Vai trò của kinh tế hộ nông dân trong quá trình phát triển
Từ thực tế của nhiều nước trên thế giới và những kết quả đã đạtđược trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn ở nước
ta, có thể khẳng định kinh tế hộ nông dân tuy có quy mô nhỏ và phân tánnhưng là hình thức kinh tế phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp cóvai trò to lớn để phát triển nông nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế Vaitrò đó là:
- Kinh tế hộ nông dân góp phần khai thác và sử dụng các nguồn tàinguyên, đất đai trong nông nghiệp để tạo ra ngày càng nhiều của cải cho
xã hội
- Kinh tế hộ nông dân góp phần ổn định việc làm và tạo thêm laođộng trong nông nghiệp và nông thôn Kinh tế hộ nông dân cho phép giảiquyết lao động trong nông nghiệp và nông thôn, vừa bảo đảm thu nhậpcho người nông dân đủ bù đắp chi phí sản xuất , có tiêu dùng và tích luỹ,vừa góp phần tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội
- Kinh tế hộ nông dân nhờ có quy mô nhỏ bé nên dễ dàng thích ứngvới cơ chế thị trường Chính cơ chế thị trường đã giúp cho hộ nông dânlựa chọn quy mô, hình thức sản xuất, chọn đối tác kinh doanh phù hợp,biết mua, bán ở đâu và khi nào là có lợi nhất
- Kinh tế hộ nông dân góp phần khôi phục và phát triển các ngànhnghề truyền thống và các ngành nghề mới ở nông thôn
- Kinh tế hộ nông dân góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái và bảo
vệ môi trường tự nhiên xã hội Nhờ kinh tế hộ nông dân mà tiềm năng thếmạnh của mỗi địa phương, mỗi vùng có điều kiện phát triển, bổ sung hỗtrợ cho nhau tạo nên tính đa dạng trong kinh tế hộ nông dân Nhờ đó sự
Trang 19cân bằng môi trường kinh tế xã hội giữa các địa phương, các vùng lãnhthổ được duy trì và phát huy, sự chênh lệch giữa các vùng và giữa thànhthị với nông thôn được rút ngắn.[23]
*Vai trò của tín dụng đối với quá trình phát triển kinh tế hộ
- Tín dụng nông nghiệp cung ứng vốn cho quá trình phát triển kinh
tế của nông dân Hiện tượng tạm thời thừa và thiếu vốn trong quá trìnhsản xuất của hộ nông dân luôn luôn diễn ra Tín dụng ngân hàng giúp điềuhòa số vốn thừa và thiếu đó nhằm bảo đảm cho năng suất được ổn định.Khi nông dân cần vốn để sản xuất thì ngân hàng là người bạn đắc lựcphục vụ nhu cầu của người nông dân trang trải các chi phí phát sinh trongsản xuất được kịp thời Khi thu hoạch nông dân bán sản phẩm, tạm thờithừa tiền chưa biết sử dụng vào đâu thì ngân hàng sẽ tiếp nhận vốn tạmthời nhàn rỗi đó dưới hình thức tiết kiệm, giúp nông dân dự trữ an toàn vàtạo một số khoảng sinh lời trên tiết kiệm đó Như vậy, tín dụng ngân hàng
đẵ góp một phần thúc đẩy quá trình hình thành thị trường ở nông thôn
- Tín dụng ngân hàng là một công cụ được nhà nước sử dụng đểđịnh hướng phát triển kinh tế hộ nông dân Thông qua việc khuyến khíchcác tổ chức tín dụng mở rộng mạng lưới ở nông thôn, quy định mức lãisuất hợp lí cho vay hộ nông dân, giao cho các ngân hàng thương mại màchủ yếu là các ngân hàng nông nghiệp thực hiện các chương trình đầu tưchỉ định Nhà nước thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sảnxuất trong nông nghiệp, định hướng phát triển kinh tế hộ nông dân ởnhững vùng kinh tế trọng điểm , mở mang các ngành nghề thật sự cầnthiết và mang lại hiệu quả cho hộ nông dân và nền kinh tế
- Tín dụng nông nghiệp thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế hộnông dân theo hướng sản xuất hàng hoá Do đặc điểm nước ta là một nướcnông nghiệp, an toàn lương thực cho nhân dân là vấn đề mang tính chiến
Trang 20lược Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đặt biệt coitrọng nông nghiệp và nông thôn để giải quyết nhu cầu tối thiểu của xã hộitạo điều kiện phát triển cho các ngành kinh tế khác.
Phát triển kinh tế hộ nông dân theo sản xuất hàng hóa đòi hỏi sảnphẩm sản xuất ra của hộ nông dân phải được trao đổi với các khu vựckhác phục vụ cho nhu cầu phát triển của các ngành nông nghiệp cũng nhưcác ngành công nghiệp và dịch vụ Nhờ có tín dụng nông nghiệp mà hộnông dân có điều kiện thuận lợi để tổ chức sản xuất theo hướng sản xuấthàng hóa
Bản chất của tín dụng là phải hoàn trả cả vốn và lãi đòi hỏi hộ nôngdân vay vốn phải quan tâm đến hiệu quả của việc sử dụng vốn Phát triểnkinh tế hàng hóa, tạo ra môi trường thích hợp để hộ nông dân phát huytính độc lập tự chủ là giải pháp quan trọng để giúp nông dân sử dụng vốnvay có hiệu quả
Sản xuất hàng hóa vừa là mục tiêu vừa là điều kiện của tín dụng.Nhờ có sản xuất hàng hóa mà sản phẩm của nông dân được xuất hiện trênthị trường giúp thu hồi vốn tín dụng của ngân hàng
- Tín dụng nông nghiệp góp phần phát triển các quan hệ kinh tế của
hộ nông dân Thông qua các hình thức đầu tư của ngân hàng như cho vayqua tổ nhóm liên đới chụi trách nhiệm của hộ nông dân, ủy thác đầu tưcho các doanh nghiệp, tín dụng làm hàng xuất khẩu, đầu tư theo các dựán Tạo điều kiện cho các hộ nông dân tăng cường các quan hệ hợp tácvới nhau và mở rộng quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp, các nhà sảnxuất, các nhà tài trợ trong và ngoài nước
- Tín dụng nông nghiệp của các ngân hàng ở nước ta góp phần hạnchế và xoá bỏ dần nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn Do đặc điểm nước taphần lớn sống ở nông thôn, nhiều hộ thiếu vốn sản xuất nghiêm trọng
Trang 21Trước 1991 khi chưa có chủ trương cho vay hộ nông dân, hiện tượng chovay nặng lãi (bằng tiền, bằng lúa, bằng vàng) ở vùng nông thon phát triểnmạnh cả quy mô và lãi suất, hộ nông dân nghèo ở nước ta không thể thoát
ra khỏi vòng luẩn quẩn: vay vốn ở bên ngoài phải trả lãi suất cao, chi phísản xuất cao, thu nhập thấp không có tích lũy để tái sản xuất mở rộng,nghèo lại càng nghèo thêm Từ khi ngân hàng cho vay với lãi xuất ngàycàng hạ, doanh số cho vay ngày càng tăng thì hiện tượng cho vay lãi xuấtcao ngày càng hạn chế bớt Trong tương lai khi các hệ thống tổ chức tíndụng trong nông nghiệp và nông thôn phát huy tốt vai trò của mình, đápứng đầy đủ nhu cầu vốn tín dụng của nông dân thì hiện tượng cho vaynặng lãi ở vùng nông thôn sẽ không còn tồn tại [5],[6],[9]
1.2 Đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến chính sách cho vay tín dụng
Nông nghiệp là một ngành kinh tế có những đặc thù riêng biệt khácvới công nghiệp và các ngành kinh tế khác trong các lĩnh vực sản xuất,marketing và đầu tư Việc phân tích đặc điểm của sản xuất nông nghiệpgiúp hoạch định chiến lược phát triển nông nghiệp đúng đắn và đầu tư tíndụng có hiệu quả phù hợp với sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quantrọng cần thiết
- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phứctạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Đặcđiểm trên cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuấtnông nghiệp Thế nhưng, ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện đất đai
và thời tiết khí hậu khác nhau đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vựcrất rõ nét Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nôngnghiệp cần phải chú ý vấn đề kinh tế kỹ thuật sau đây:
Trang 22Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông lâm thủy sản để quyhoạch bố trí cây trồng vật nuôi cho phù hợp.
Việc xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuậtphải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ở từng vùng
Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng,từng khu vực nhất định
- Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu khôngthể thay thế được Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sảnxuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống- cây trồng, vậtnuôi Các loại cây trồng và vật nuôi chúng phát sinh, phát triển theo quyluật sinh học Do là cơ thể sống nên chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoạicảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếpđến sự phát triển của cây trồng vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm
Chính sách vốn, tín dụng cho nông nghiệp góp phần giúp các cơ sở sảnxuất, kinh doanh, khai thác tốt các nguồn lực như đất đai, lao động và nângcao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
Chính sách vốn, tín dụng trong nông nghiệp còn tạo điều kiện huy độngđược nhiều vốn để sản xuất chuyên môn hóa,đa dạng hóa sản phẩm trongnông nghiệp Chính sách vốn, tín dụng trong nông nghiệp sẽ góp phần giải
Trang 23quyết tốt các vấn đề xã hội, tạo thêm việc làm, xóa đói giảm nghèo, bài trừcác thủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan
Chính sách vốn, tín dụng trong nông nghiệp nước ta nhằm đáp ứng đủnhu cầu và thời hạn về vốn, giúp cho việc mở rộng phát triển sản xuất nôngnghiệp, tăng cao tốc độ phát triển của nghành nông nghiệp
- Đối tượng cho vay
Đối tượng cho vay hầu hết là các hộ nông dân (cá thể, tư nhân); công ty
cổ phần; hợp tác xã; doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ nông -lâm-ngư-diêm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở nôngthôn Các hộ nông thôn Các hộ sản xuất có nhu cầu vay vốn và đủ điều kiệnthì ngân hàng và các tổ chức tín dụng cho vay để bổ sung nguồn vốn cho sảnxuất, kinh doanh và dịch vụ sản xuất nông nghiệp
-Nguồn vốn cho vay
Nguồn vốn được huy động trong nhân dân, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xãhội trong và ngoài nước bằng các hình thức thích hợp Nguồn vốn cho vayhàng năm của Chính phủ đối với các dự án nông nghiệp, nông thôn Nhận vốn
ủy thác của các tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước, vốn tài trợ chophát triển nông nghiệp và nông thôn theo chương trình Nguồn vốn huy động
từ các tổ chức tín dụng khác, từ tích lũy của ngân hàng
-Điều kiện, hình thức và phương thức cho vay
Các hộ nông dân được vay vốn điều kiện trước hết phải có đơn ghi rõ mụcđích vay vốn và được chính quyền địa phương xác nhận hoặc hộ phải có tàisản thế chấp Đối với những hộ nông dân không có tài sản thế chấp thì có thểđược vay vốn thông qua hình thức tín chấp, được các tổ chức, đoàn thể ở địaphương đứng ra bảo lãnh và giới thiệu Hình thức cho vay vốn có thể bằngtiền mặt, đồng tiền nội tệ hay ngoại tệ, hoặc có thể vay bằng ứng trước vật tư,cây giống, con giống sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh Phương
Trang 24thức vay vốn thông qua tổ liên doanh, liên đới, tổ tự nguyện của nông dânthông qua nhóm phụ nữ do chương trình của Hội liên hiệp phụ nữ triển khai;thông qua Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên và các tổ chứckhác Ngoài ra, việc vay vốn còn thông qua tổ chức kinh tế trung gian nhưcác hợp tác xã, các chương trình, dự án
- Thời hạn vay
Thời hạn vay vốn tùy theo nguồn hình thành, mục tiêu cần đạt được màthời hạn vay vốn khác nhau, nhưng nhìn chung có thể chia ra thời hạn vayvốn thành các loại vay dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
- Lãi suất cho vay
Lãi suất vay phải bảo đảm lợi ích cho cả bên vay và bên cho vay Tùytheo nguồn vốn và các tổ chức tín dụng mà lãi suất vay được xác định khácnhau Ngân hàng nhà nước quy định mức lãi suất cao hay thấp tùy thuộc vàotình hình vay vốn khác nhau và thời điểm vay vốn khác nhau Ngân hàng vàcác tổ chức tín dụng công bố mức lãi suất cho từng đối tượng, từng vùng kinh
tế trong từng thời gian phù hợp trên cơ sở của quan hệ cung cầu về vốn
- Tác động của chính sách vốn, tín dụng trong nông nghiệp thời gianqua đã có tác động rất lớn để sản xuất nông nghiệp Chúng ta đã huy độngđược nguồn vốn khá lớn cho các nông hộ, trang trại, các doanh nghiệp sảnxuất- kinh doanh nông nghiệp Chính sách vốn tín dụng ở nước ta đã thu hútđược sự đầu tư khá lớn của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Chínhsách vốn, tín dụng còn góp phần tạo ra nhiều việc làm trong nông thôn, giảiquyết tình trạng thiếu việc làm trong nông nghiệp Chính sách vốn-tín dụngcòn góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, xây dựng cơ sở
hạ tầng, khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng, từng bước nâng cao đờisống cho nông dân
Trang 25- Một số vấn đề đặt ra với chính sách vốn, tín dụng nông nghiệp
Nông nghiệp là lĩnh vực hoạt động rộng lớn, cần nhiều vốn Vì vậy, cácchủ thể có vốn cần phải căn cứ vào đặc điểm của lĩnh vực hoạt động sản xuất,kinh doang của các đối tượng vay, số lượng vốn vay, thời gian vay và hìnhthức cho vay phù hợp Về thủ tục vay, các tổ chức ngân hàng, kho bạc và các
tổ chức tín dụng cấn giảm bớt các thủ tục gây phiền hà cho nông dân Về lãisuất, nếu lãi suất tín dụng quá thấp sẽ khó có thể việc kinh doanh tiền có lãi
và dễ tạo ra các tác động tiêu cực với cả người vay và người gửi
Vấn đề hiệu quả sử dụng vốn vay cần phải đặc biệt được coi trọng Vốnvay sẽ đem lại hiệu quả tốt và phát huy tác dụng nếu vốn được sử dụng đúngmục đích, được cung cấp đày đủ, kịp thời với mức vay phù hợp Ngược lạivới mức vay không sử dụng đúng mục đích, không được cung cấp kịp thờiphù hợp sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng đồng vốn
Đầu tư vào nông nghiệp với tính rủi ro cao là điều khó tránh khỏi Vấn
đề bảo toàn được vốn là vấn đề được đặt lên hàng đầu cho kho bạc, ngân hàng
và các tổ chức tín dụng Vì vậy, việc thế chấp tài sản khi vay vốn là việc làmcần thiết song trong thực tế người dân ở nông thôn khó có những tài sảntương đương giá trị tiền vay Do vậy, việc sử dụng tài sản có thế chấp( kể cảđất đai) thì cũng cần mở rộng hình thức vay vốn bằng tín chấp, thông qua các
tổ chức kinh tế xã hội trong nông thôn
Vốn đầu tư cho nông nghiệp cần tập trung lượng vốn lớn vào các vùngtrọng điểm, khuyến khích phát triển các cây trồng, chăn nuôi gia súc, gia cầm,nuôi trồng thủy, hải sản nhằm vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nôngthôn, đồng thời tạo điều kiện áp dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, xâydựng nền nông nghiệp đa canh, bền vững [9]
Trang 261.4 Tín dụng nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
1.4.1 Tín dụng nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
Trước đây, nền kinh tế nông nghiệp nước ta phát triển trong cơ chếquản lý tập trung, bao cấp Các công trường quốc doanh, hợp tác xã, trạmtrại nông nghiệp của Nhà nước là một đơn vị kinh tế cơ bản trong nôngnghiệp và nông thôn.[23]
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hợp tác xã tín dụng là đơn vị tàichính cung cấp vốn cho nông nghiệp và nông thôn Nguồn vốn của ngânhàng Nhà nước bao gồm quỹ ngân sách Nhà nước và tiền tiết kiệm củangười dân Việc cung cấp vốn của hợp tác xã tín dụng là vay từ ngân hàngNhà nước và nhận tiền gửi tiết kiệm của người dân cho xã viên vay đểphát triển sản xuất và tiêu dùng
Thời kỳ trước năm 1988, ngân hàng Nhà nước và hợp tác xã tíndụng đã đóng góp vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp
và nông thôn Tuy nhiên, hàng loạt hợp tác xã tín dụng hoạt động không
có hiệu quả do trình độ chuyên môn không cao cùng với cơ chế chínhsách chưa hoàn thiện dẫn đến việc các hợp tác xã tín dụng tan rã, khôngđứng vững trong giai đoạn nền kinh tế đất nước chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường
Từ sau năm 1988, nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sangnền kinh tế thị trường, cùng với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế vànhững thay đổi lớn trong chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triểnnông nghiệp, nông thôn, hệ thống tín dụng nông thôn đã có nhiều chuyểnbiến cơ bản
Nghị quyết 10 ngày 05.04.1988 của bộ chính trị TW Đảng về:" Đổimới quản lý kinh tế nông nghiệp ", nghị quyết này dã đánh dấu mốc quantrọng cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, đưa người nông
Trang 27dân trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ, hộ nông dân có quyền được vayvốn ngân hàng để sản xuất.
Ngày 03.02.1993, nghị định 14/CP của Chính phủ đã nhấn mạnhphải củng cố sức mạnh hoạt động của ngân hàng nông nghiệp, xây dựngquỹ tín dụng nhân dân, khuyến khích ngân hàng cổ phần nông thôn, các tổchức trong và ngoài nước hỗ trợ vốn do người dân tự nguyện lập ra đểgiúp đở nhau trong sản xuất và đới sống
Cần phải đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp vànông thôn với mục tiêu cơ bản là xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hànghóa lớn, hiệu quả, bền vững, có năng suất, chất lượng và có sức cạnhtranh cao trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học, khỹ thuật và côngnghệ tiên tiến, hiện đại Cần xây dựng vùng nông thôn, miền núi ngàycàng trở nên giàu đẹp, dân chủ, văn minh với cơ cấu kinh tế hợp lý, quan
hệ sản xuất phù hợp, có hệ thống tài chính tín dụng ngày càng hoàn thiện,thu hút sự tham gia của người dân địa phương Vì thế thị trường vốn tíndụng nông thôn của nước ta đã hình thành và ngày càng phát triển cả về mặt
số lượng và chất lượng Đến nay, tham gia vào thị trường tín dụng nông thônbao gồm hệ thống tín dụng chính thống và không chính thống Hệ thống tíndụng chính thống ở nông thôn được đa dạng hóa, đa thành phần, đa sở hữu,được mở rộng về quy mô, có địa bàn hoạt động rộng khắp cả đồng bằng,trung du, miền núi, vùng sâu, vùng xa của nông thôn
Hệ thống tín dụng chính thống ở nông thôn hiện nay bao gồm các tổchức tín dụng chuyên nghiệp và các tổ chức mang tính không chuyên nghiệp.Các tổ chức tín dụng chuyên nghiệp đó là ngân hàng Nông nghiệp và pháttriển nông thôn (NHNN&PTNT), Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH),
hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), một số hợp tác xã tín dụng vàNgân hàng cổ phần nông thôn (NHCPNT) Các tổ chức mang tính không
Trang 28chuyên nghiệp thực hiện cho nông dân vay vốn theo các chương trình pháttriển nông nghiệp, và nông thôn của chính phủ và các tổ chức quốc tế, đó làKho bạc nhà nước Việt nam (KBNN), Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam (Hộiphụ nữ), Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (Đoàn thanh niên), Hội nôngdân Việt nam (Hội nông dân), các cấp chính quyền địa phương.
Ngoài ra, một số ngân hàng thương mại Nhà nước như Ngân hàng côngthương, Ngân hàng đầu tư và phát triển, cũng cho vay phát triển nôngnghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, mặc dù với lượng vốncòn rất ít
Hiện nay hộ nông dân vay vốn chủ yếu từ các nguồn sau đây: Ngânhàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn; Ngân hàng Chính sách xã hội; Hệthống quỹ tín dụng nhân dân; Chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ;Các chương trình và dự án của các tổ chức quốc tế hỗ trợ tín dụng cho nôngdân và phát triển nông nghiệp; tín dụng không chính thống;
1.4.2 Tín dụng nông nghiệp, nông thôn ở một số nước
Mỗi nước trên thế giới có một đặc điểm riêng do đó hoạt động tíndụng thì mỗi nước có một đặc điểm khác nhau, tín dụng nông thôn ở cácnước trên thế giới phát triển rất đa dạng và phong phú với các hình thức
và phương pháp hoạt động khác nhau Tuy nhiên chúng đều có chung mụcđích là giúp đỡ cho nông dân vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, đảmbảo phát triển kinh tế xã hội nông thôn Sau đây là một số đặc điểm hoạtđộng tín dụng của một số nước trên thế giới:
- Tín dụng nông nghiệp, nông thôn ở Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản đã khuyến khích phát triển nông nghiệp bằngcách thành lập ngân hàng nông- công nghiệp địa phương Vào những năm
1960, chính phủ Nhật Bản đã có chương trình cho vay để tăng đầu tư chonông nghiệp, cho vay để mua sắm tài sản, mở rộng đất trang trại, xây
Trang 29dựng cơ sở hạ tầng Nguồn vốn là từ chính phủ và tư nhân thông quaHTXNN Lãi suất cho vay phát triển nông nghiệp là lãi suất thấp, với thờigian vay dài hạn HTXNN ở Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong pháttriển nông nghiệp ở Nhật Bản, vai trò của HTXNN là huy động tiết kiệm
và vốn dư thừa từ khu vực nông nghiệp và nông dân, cho các thành phầnkinh tế kinh doanh ngoài nông nghiệp
- Tín dụng nông nghiệp nông thôn ở Philippin
Hệ thống tín dụng chính thống cung cấp vốn tín dụng cho nôngnghiệp nông thôn ở Philippin bao gồm: Các ngân hàng nông thôn, ngânhàng tiết kiệm, các ngân hàng thương mại và các ngân hàng của chínhphủ Ngân hàng nông thôn là tổ chức tín dụng chính thống nhất, chuyêncung cấp tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn Chính phủ Philippin đã cónhững chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn
Từ năm 1975, Chính phủ đã có các chỉ tiêu bắt buộc các ngân hàngthương mại phải dành tối thiểu 25% cho vay ngành nông nghiệp Từ năm
1986 trở lại đây, chính phủ Philippin đã ban hành chính sách tín dụng mới
và được thực hiện dưới sự bảo trợ của Hội đồng chính sách nông nghiệp,nội dung chính sách này bao gồm: Chấp nhận cơ chế thị trường tạo nguồntài chính, thực hiện lãi suất thị trường, giảm trợ cấp ưu tiên trong ngânhàng nông nghiệp, cung cấp các dịch vụ và thực hiện cơ chế bảo hiểm đểgiảm rủi ro khi thực hiện cho vay
Hệ thống tín dụng nông nghiệp bao gồm: Hệ thống tài chính chínhthức và các tổ chức bảo hiểm, hệ thống tài chính không chính thức
- Tín dụng nông nghiệp, nông thôn ở Đài Loan
Nhờ có chiến lược phát triển kinh tế phù hợp, có biện pháp quản líhiệu quả, trong đó chính sách tạo vốn và sử dụng vốn mà Đài Loan đã đạtđược thành tựu kinh tế to lớn Về chính sách khôi phục kinh tế, chính sách
Trang 30đã huy động tối đa nguồn vốn trong nước thông qua chế độ ưu đãi về lãisuất, kết hợp với thu hút nguồn viện trợ của Mỹ nhập khẩu thiết bị, kỹthuật khôi phục các cơ sở công- nông nghiệp Chính phủ đã tập trungkiểm soát khu vực tài chính tiền tệ thông qua các biện pháp.
Nhà nước xác lập quyền sở hữu đại bộ phận các ngân hàng thươngmại lớn và các ngân hàng trung ương, giám sát chặt chẽ các hoạt động củangân hàng, khống chế các tổ chức ngân hàng nước ngoài tham gia vào thịtrường chứng khoán nhằm hạn chế cạnh tranh giữa hệ thống ngân hàngtrong nước và nước ngoài Mức lãi suất tiết kiệm vẫn do chính phủ đặt ra
Chính phủ thực hiện chính sách tiết kiệm chi tiêu tăng thu và cânbằng ngân sách, có cơ chế thuế hợp lý
Trong lĩnh vực nông nghiệp ưu tiên phát triển nông nghiệp làm cơ
sở tiền đề phát triển công nghiệp Nông nghiệp được vay vốn với lãi suấtthấp Nhà nước chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn: xây dựngđường sá, khu chế biến nông sản tại chỗ, các quan hệ thị trường xây dựngtrên nguyên tắc cạnh tranh tự do: giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữanông nghiệp và nông dân, giữa nông dân với nông dân, đã kích thích nôngnghiệp phát triển mạnh
1.4.3 Các hình thức tín dụng nông nghiệp, nông thôn ở các nước trên Thế Giới
Hầu hết các nước trên Thế Giới đều tồn tại 3 hệ thống tín dụng vàtiết kiệm với tên gọi và chức năng kinh tế khác nhau nhưng đều nhằm vàomột mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng như quá trình côngnghiệp hoá đất nước đó là:
Trung tâm tín dụng nông nghiệp: Trung tâm tín dụng nông nghiệp
thực chất là Ngân hàng nông nghiệp do nhà nước cung cấp vốn, cho vay chủyếu vào cây trồng và vật nuôi có sản phẩm xuất khẩu, thu hồi vốn và lãi đượctạo ra và thương mại hóa Còn một phần vốn nhỏ cấp cho nhân dân nghèo
Trang 31nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, an ninh xã hội Hoạtđộng của các ngân hàng chuyên doanh, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ
có một số ít hoạt động tốt Nguyên nhân chủ yếu là: thường gặp rủi ro do sảnxuất phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, khí hậu; cho vay thường theo tiêuchuẩn xã hội nhiều hơn là theo tổ chức kinh tế; món tiền vay nhỏ, địa bànrộng, cả vùng sâu, vùng xa, thị trường tiêu thụ hàng hóa gặp khó khăn, chi phíquản lí ngân hàng cao, thua lỗ lớn, không kích thích hoạt động của NHTM bỏvốn vào kinh doanh; Tâm lí của nhân dân là vay vốn của Chính phủ, ít quantâm đến trả nợ Để tồn tại và phát triển, gần đây các Ngân hàng chuyên doanhđều có xu hướng chuyển sang kinh doanh tổng hợp và đa dạng hóa các loaihình tín dụng không riêng gì nông nghiệp Lấy lãi cho vay từ ngành có lơinhuận cao hỗ trợ ngành có hiệu quả thấp, thắt chặt công tác quản lí giám sát
và Nhà nước hỗ trợ thông qua chính sách trợ giá, bù giá, tài trợ, rủi ro trêndiện rộng Hoạt động của các ngân hàng chuyên doanh trong lĩnh vực nôngnghiệp chỉ có một số ít hoạt động tốt, đại diện cho nhóm này gồm có: Ngânhàng nông nghiệp Ailen, Ngân hàng Land Bank (Philippin), Ngân hàng nôngnghiệp và hợp tác xã nông nghiệp (BAAC) Thái lan, Ngân hàng nông nghiệpIndonesia (Bank Rakyat), Ngân hàng Grameen Bank (Bangladesh)
Hệ thống tiết kiệm và HTX tín dụng: Do cộng đồng dân cư tổ chức để
giúp nhau trong sản xuất và đời sống Dù khác nhau về tên gọi nhưng cóchung đặc điểm cơ bản là: Gắn bó với nông thôn, do cộng đồng nhân dânsáng lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự chịu trách nhiệm; Đáp ứngđược yêu cầu đa dạng ở nông thôn, thủ tục vay mượn đơn giản, hạn chếđược rủi ro, hạn chế được họ hụi; Nhà nước và ngân hàng trung ươngkhông can thiệp trực tiếp vào hoạt động của tổ chức này mà tạo điều kiệnđảm bảo tính độc lập tự quản của hệ thống thông qua luật nhà nước Vốnvay thường ưu tiên cho những nhu cầu thiết thực: xây dựng nhà ở, y tế,
Trang 32giáo dục, nhiều hơn nữa là đầu tư cho những chương trình, dự án kinhdoanh Tuy nhiên chỉ phục vụ chủ yếu cho hộ từ trung bình trở lên có tiềngửi tiết kiệm, hộ nghèo bị hạn chế.
Các tổ chức tự phát cho vay vốn: Là quan hệ tín dụng giữa cá nhân
với tư nhân cho vay nặng lãi hoặc giữa cá nhân với nhau như anh, em, họhàng, bạn bè, làng xóm Những nơi do chưa tổ chức được hoạt động tín dụnghoặc các tổ chức tín dụng hoạt động chưa đủ mạnh, nhu cầu vốn cầu vốn căngthẳng đã nảy sinh các hình thức tín dụng dân cư đa dạng phong phú Các tổchức tín dụng tự phát rất phổ biến ở tất cả các nước, dù tồn tại ở hình thức nàothì các tổ chức tín dụng tự phát cũng đóng vai trò quan trọng trong huy độngvốn thuận lợi, thủ tục đơn giản, giải quyết cho vay nhanh, là dạng tín dụngcho vay ngắn hạn, lãi suất cao
1.4.4 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu tín dụng nông nghiệp, nông thôn ở các nước trên Thế Giới và ở Việt Nam
Xuất phát từ những vấn đề phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn vềtín dụng nông nghiệp, nông thôn ở một số nước trên thế giới và ở ViệtNam, có thể rút ra một số kết luận sau:
Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà mỗi nước có hình thức tín dụngnông thôn khác nhau
Mỗi quốc gia đều phải hoạch đinh cho mình chính sách về thu hút,tạo vốn và sử dụng hiệu quả vốn tín dụng phù hợp với điệu kiện và hoàncảnh cụ thể, cũng như chiến lược kinh tế- xã hội đã lựa chọn Các chínhsách về tạo nguồn tín dụng rất đa dạng, không có mô hình duy nhất đúngcho mỗi quốc gia Tuy nhiên, hầu hết các nước trên thế giới đều có hệthống tín dụng dành riêng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và đều
có chung một mục tiêu là cung cấp đủ vốn cho sản xuất nông nghiệp,nâng cao đời sống nhân dân, an toàn lương thực, rút ngắn khoảng cách thunhập giữa thành thị và nông thôn
Trang 33 Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết hệ thống tín dụngnông nghiệp, nông thôn
Ở tất cả các nước đều định ra các quyết sách điều tiết nền kinh tế quốcdân thông qua việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô trong đó cóchính sách tiền tệ- tín dụng Các chính sách tài sản nông nghiệp, nôngthôn đều có tác động trực tiếp khuyến khích các nhà đầu tư vào nôngnghiệp nông thôn, đầu tư của Chính phủ theo các chương trình xoá đóigiảm nghèo trong nông thôn
Xác định huy động vốn trong nước là chính, tranh thủ nguồn vốn việntrợ của nước ngoài, ổn định và phát triển các tổ chức tín dụng nôngnghiệp, nông thôn
Các tổ chức tín dụng phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn là đơn vịkinh tế, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tự hạch toán, đảm bảo thu hồivốn, tăng trưởng vốn, cho vay với lãi suất ưu đãi hơn là đầu tư vào cácngành khác, đồng thời huy động nguồn vốn dư thừa, tiết kiệm trong dân
cư để làm nguồn vốn cho vay chủ yếu của các tổ chức tín dụng
Sử dụng các phương thức cấp vốn đa dạng
Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng biệt so với ngành sảnxuất khác và hộ nông dân cũng có đặc điểm riêng về trình độ, nhu cầuvốn, cách sử dụng vốn vay,… vì vậy áp dụng phương thức cấp tín dụngtrực tiếp hay gián tiếp, bằng tiền hay bằng hiện vật, trả lãi và vốn một lầnhay nhiều lần,…phải phù hợp với đối tượng vay, với từng loại sản phẩm
và từng vùng khác
Tín dụng ưu đãi là cần thiết cho nông nghiệp, nông thôn ở các nướcđang phát triển
Ở những nước đang phát triển, đời sống nông dân khó khăn, chính trị
xã hội ở nông thôn không ổn định Người nông dân thiếu vốn sản xuất, tỷ
Trang 34lệ hộ nghèo đói cao, việc cung cấp tín dụng ưu đãi cho nông dân là nhucầu bức thiết, các chính phủ cần tăng cường nguồn vốn cho chương trìnhtín dụng ưu đãi vì chỉ có nó mới giúp cho hộ nông dân nghèo vay được vố
để sản xuất Đó cũng là điều kiện để xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh
tế nông thôn
Trang 35CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Vùng nghiên cứu thuộc hai huyện miền núi A Lưới và Nam Đông nằmliền kề nhau Tuy nhiên phần giáp ranh giữa hai huyện bị chia cắt bởi địahình rừng núi rất hiểm trở nên để giao lưu giữa hai huyện phải đi mộtvòng đường dài 120 Km
Hai huyện này nằm về phía Tây và Tây Nam tỉnh Thừa Thiên Huế,cách thành phố Huế bình quân 70 km, được giới hạn trong toạ độ địa lý từ
16002’ đến 16027’ vĩ độ Bắc và 107003’ đến 107051’ kinh độ Đông
- Phía Tây Bắc giáp tỉnh Quảng Trị
- Phía Tây Nam giáp nước Lào
- Phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng
- Phía Bắc, Đông Bắc giáp các huyện Phong Điền, Hương Trà, HươngThuỷ, Phú Lộc của tỉnh Thừa Thiên Huế
Nối với huyện A Lưới có hai tuyến đường quốc lộ, tuyến thứ nhất làquốc lộ 49 nối Huế - A Lưới dài 70 Km, tuyến thứ hai là quốc lộ 14 nốihuyện ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị và huyện A Lưới, đây cũng chính làtuyến đường Trường Sơn chạy dọc phía Tây của đất nước
Nối với huyện Nam đông chỉ có một tuyến độc đạo là tỉnh lộ 14B, nốitrung tâm huyện lỵ và quốc lộ 1A dài 33 km
Vị trí địa lý của vùng với những hạn chế về khí hậu thời tiết, về địahình, đặc biệt là về giao thông đã kìm hãm sự phát triển của vùng Đây là
Trang 36một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đói nghèo và lạc hậu về nhiềumặt của nhân dân ở địa phương.
2.1.2.2 Khí hậu thuỷ văn
Vùng nghiên cứu nói riêng và tỉnh Thừa Thiên-Huế nói chung nằm trongkhu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miềnBắc và miền Nam nước ta
+ Nhiệt độ trung bình năm của vùng A Lưới thấp hơn vùng Nam Đông 3 - 4oCTuy nhiên, nhiệt độ trung bình toàn vùng giao động trong khoảng 21oCđến 25oC
+ Nhiệt độ cao nhất và nhiệt độ thấp nhất khu vực A Lưới đều thấp hơnkhu vực Nam Đông và nhiệt độ cao nhất toàn vùng giao động trong khoảng
34oC đến 40o C, nhiệt độ thấp nhất giao động trong khoảng 7 oC đến 15o C.+ Số giờ nắng các tháng trong năm giao động trong khoảng 1500 đến 2000giờ, trung bình: 5 - 6 giờ/ngày
+ Số ngày mưa các tháng trong năm giao động trong khoảng 170 đến 230 ngày.+ Lượng mưa các tháng trong năm từ 2.700 mm đến 5.800 mm
+ Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm 85 đến 88%
Nhìn chung khí hậu thời tiết của vùng khá phù hợp với sinh trưởng, pháttriển nhiều loại cây trồng, đặc biệt là các loại cây công nghiệp ngắn và dàingày Tuy nhiên, cần chú ý lượng mưa tập trung vào một số tháng trong năm
từ tháng 9 đến tháng 11 với lượng mưa có tháng lên đến gần 2000 mm, gây ra
lũ lụt, ngập úng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống Mùa khô kéodài từ tháng 5 đến tháng 8, mưa ít, chịu ảnh hưởng gió Tây, lượng bốc hơi lớngây ra khô hạn kéo dài Bởi vậy, việc xây dựng các công trình thuỷ lợi, trồngrừng đầu nguồn để giữ nước, chống lũ lụt, khô hạn có ý nghĩa quan trọng đốivới sự phát triển kinh tế- xã hội của vùng
Trang 372.1.1.3 Địa hình và đất đai
a) Địa hình
Vùng nghiên cứu nằm trọn trong hai thung lũng lớn là thung lũngNam Đông và thung lũng A Lưới
Thung lũng Nam Đông có diện tích 65.000 ha Độ cao đỉnh lên đến
1420 m nhưng điểm đáy của thung lũng chỉ cao 50 m so với mực nướcbiển Với hơn năm phần sáu diện tích là đồi núi cao, phần còn lại khoảng9.000 ha là tương đối bằng phẳng, đây là địa bàn sinh sống và sản xuấtcủa nhân dân trong vùng Toàn bộ thung lũng nằm trong vùng lưu vựcthượng nguồn sông Hương nên mỗi sự thay đổi về môi trường môi sinh ởkhu vực này đều có ảnh hưởng đáng kể đến vùng hạ nguồn, đặc biệt làthành phố Huế
Vùng A Lưới là khu vực đặc biệt nhạy cảm, đây là đỉnh của dãyTrường Sơn, địa hình gồm hai phần Tây Trường Sơn và Đông TrườngSơn, là lưu vực thượng nguồn của năm con sông lớn, trong đó có 2 sôngchảy sang Lào là sông A Sáp và sông A Lin, ba sông chảy sang phía ViệtNam là sông Dakrông, sông Bồ và Sông Hương Phần phía Tây TrườngSơn gồm trọn thung lũng A Lưới có diện tích 78.300 ha Nơi cao nhất có
độ cao 1.440 m, nơi thấp nhất có độ cao 550 m so với mực nước biến.Phần đáy thung lũng chiếm khoảng 25% diện tích tự nhiên (gần 20.000ha) có độ cao trung bình 600 m so với mực nước biển là nơi sinh sống vàsản xuất chủ yếu của nhân dân trong vùng Phần phía Đông địa hình hiểmtrở, độ dốc lớn, diện tích chủ yếu là đất trống đồi núi trọc, cây rừng bị tànphá và huỷ diệt nặng nề do chất độc màu da cam trong chiến tranh gâynên Đây là khu vực cần được quan tâm đặc biệt, bởi là thượng nguồn của
ba con sông lớn đổ về vùng đồng bằng của hai tỉnh Quảng Trị và ThừaThiên Huế
Trang 38b) Đất đai
Huyện Nam Đông và A Lưới là vùng có diện tích rộng, chiếm 37%diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, tuy nhiên diện tích đất đưa vào sản xuất cònhạn chế Qua số liệu bảng 1 cho thấy:
- Diện tích đất trống đồi núi trọc còn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diệntích tự nhiên (25,59%)
- Đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 5, 04% diện tích tựnhiên Trong đất nông nghiệp diện tích chủ yếu dùng sản xuất cây hàng năm.Cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm là thế mạnh của vùng chưa được chútrọng sản xuất
- Đất ở chỉ chiếm 1,07% diện tích đất của toàn vùng, phân bố dọc theocác trục giao thông chính Trong đó đất vườn chưa được khai thác triệt để
- Đất chưa sử dụng tương đối lớn chiếm diện tích khoảng 27,6% vàhiện nay có xu hướng giảm dần, trong đó đất đồi núi chiếm đại bộ phận
- Đất dùng vào lâm nghiệp chiếm diện tích lớn nhất Đất lâm nghiệpchiếm 64,53% diện tích đất tự nhiên Trong những năm tới việc khai thác diệntích đất chưa sử dụng đưa vào sản xuất nông, lâm nghiệp và phủ xanh đấttrống đồi núi trọc nhằm bảo vệ môi trường, môi sinh là nhiệm vụ hết sức nặng
nề và cần được đặt lên hàng đầu
Tổng diện tích đất lâm nghiệp 121,333 ngàn ha,53% diện tích tự nhiêntoàn vùng Trong những năm gần đây thấy rõ vai trò phòng hộ của rừng, việcquản lý, bảo vệ được tổ chức chặt chẽ hơn, nhưng nạn khai thác đốt phá rừngvẫn chưa được ngăn chặn triệt để, việc khai thác gỗ tròn đã được đình chỉ, sảnxuất lâm nghiệp chuyển sang hướng trồng, khoanh nuôi tái sinh,quản lý vàbảo vệ rừng
Trang 39Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai
Tổng số (ha) Cơ cấu (%) Tổng số (ha) Cơ cấu (%) Tổng số (ha) Cơ cấu (%)Tổng diện tích đất tự
Trang 40Quá trình trồng rừng thời gian qua mới chỉ tập trung ở các vùng đất cókhả năng nông nghiệp, gần các khu dân cư, thuận lợi trong quá trình sản xuất
và bảo vệ Các khu vực có độ dốc cao, bị xói mòn rửa trôi mạnh cần sớmđược phủ xanh vẫn chưa được chú trọng, cây trồng được sử dụng chủ yếu vẫnchỉ là một số loại phổ biến như bạch đàn, thông, keo, tràm chưa chú trọngsản xuất các loại cây bản địa, cây đặc sản, cây dược liệu là những loại cây
có giá trị kinh tế cao và đem lại hiệu quả lâu dài
Sản xuất lâm nghiệp là một trong những ngành sản xuất chính của nhândân trong vùng, những năm vừa qua nhất là từ khi nhà nước đề ra các chủtrương, chính sách, các chương trình lớn như chương trình định canh, định cưđồng bào dân tộc ít người, chương trình 327 về phủ xanh đất trống đồi núitrọc bộ mặt kinh tế, văn hóa xã hội của toàn vùng có những thay đồi đáng
kể Diện tích rừng trồng, rừng được khoanh nuôi, quản lý bảo vệ tăng nhanh
2.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội
2.1.2.1 Dân số và nguồn nhân lực
Dân số có một vai trò quan trọng đối với phát triển xã hội Bất cứ mộtquốc gia nào, địa phương nào khi hoạch định cho sự phát triển đều phải tínhđến nhân tố dân số, bởi lẽ lao động là một bộ phận của dân số Nếu dân sốtăng quá cao vượt quá sự kiểm soát của cơ quan chức năng nó sẽ ảnh hưởngđến phát triển kinh tế, xã hội như thất nghiệp, thiếu diện tích canh tác, nhà ở,
tệ nạn xã hội Dân số cũng là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sựphát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên cần phải xem xét, kìm hãm tốc độ tăng dân
số cho phù hợp với tốc độ tăng của kinh tế - xã hội trong một quốc gia haymột địa phương nào đó Để thấy được biến động dân số ở địa bàn nghiên cứu
Tổng dân số có đến năm 2005 của toàn vùng có 62.298 người Trong
đó dân số khu vực nông thôn 53.054 người, chiếm 85,1% và 41% là ngườidân tộc thiểu số Mật độ dân số toàn vùng 33 người/km2, trong khi mật độ dân