1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của các nhà máy chế biến dăm gỗ đối với sự phát triển rừng trồng kinh tế ở thừa thiên huế

104 1,4K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Các Nhà Máy Chế Biến Dăm Gỗ Đối Với Sự Phát Triển Rừng Trồng Kinh Tế Ở Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Kinh Tế Lâm Nghiệp
Thể loại Luận văn
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 727 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, chuyên đề, tiểu luận, bài tập, đề tài, nông nghiệp, công nghiệp

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thừa Thiên Huế có tiềm năng phát triển kinh tế lâm nghiệp rất lớn.Theo số liệu công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2006 tại Quyết định số2503/QĐ/BNN-KL ngày 27/8/2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nôngthôn thì tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh là 351.383 ha, chiếm tỷ lệ 70%diện tích tự nhiên Trong đó, diện tích đất có rừng là 286.541 ha, diện tích đấttrống đồi trọc chưa sử dụng là 64.842 ha [7] Đây là quỹ đất có tiềm năngphát triển rừng trồng kinh tế tạo nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành côngnghiệp chế biến gỗ

Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới, cả nước đang thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nhu cầu sử dụng đất cho sản xuất lâmnghiệp, nhu cầu nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ xuấtkhẩu ngày càng tăng cao, đòi hỏi phải sử dụng rừng không những đảm bảomôi trường môi sinh mà còn phải đem lại hiệu quả kinh tế

Những năm qua, ngành lâm nghiệp Thừa Thiên Huế đã có nhiềuchuyển biến tích cực trong lĩnh vực trồng rừng nguyên liệu, diện tích ngàycàng tăng, bước đầu tạo được vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biếndăm gỗ và các sản phẩm gỗ khác Công nghiệp chế biến gỗ có bước tăngtrưởng khá, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Rừng trồng đượcđầu tư thâm canh, công tác giống được quan tâm đúng mức nên năng suất,chất lượng rừng trồng dần được nâng cao, thu hút nhiều thành phần kinh tếtham gia Nhận thức của người dân và chính quyền địa phương về tầm quantrọng của rừng được nâng lên, môi trường sinh thái, nguồn sinh thủy được cảithiện đáng kể, góp phần tạo thêm việc làm tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo,phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an

Trang 2

ninh ở miền núi, vùng cao Cơ cấu rừng trồng được bố trí hợp lý giữa diệntích rừng trồng phòng hộ và rừng trồng kinh tế, vừa đảm bảo môi trường sinhthái vừa đảm bảo thu nhập cho người lao động sinh sống bằng nghề rừng.Tiến độ trồng rừng giai đoạn 1999-2006 hàng năm đạt bình quân gần 5.400ha/năm, nâng độ che phủ của rừng trên địa bàn Tỉnh tăng lên từ 42,8% năm

1999 lên 53,6% năm 2006

Giai đoạn 1999-2002, rừng trồng ở Thừa Thiên Huế chủ yếu là rừngtrồng phòng hộ được đầu tư từ nguồn ngân sách hàng năm của nhà nước, địnhsuất vốn đầu tư thấp nên phần lớn diện tích rừng trồng phòng hộ chỉ mang ýnghĩa phủ xanh, tạo độ che phủ nhưng chưa đảm bảo được năng suất chấtlượng của rừng Diện tích rừng trồng kinh tế phát triển chậm, năng suất thấp

do thiếu vốn đầu tư; cơ chế, chính sách cho vay vốn tín dụng còn bất cập, nhất

là đối với cá nhân, hộ gia đình; đầu ra tiêu thụ sản phẩm chưa nhiều, thiếu ổnđịnh, chủ yếu do các đại lý của các nhà máy chế biến dăm gỗ ở ngoài tỉnh thumua với giá thấp do chi phí vận chuyển cao, nên chưa thu hút được nhiềungười dân tham gia trồng rừng

Từ năm 2003, sự hình thành của các nhà máy chế biến dăm gỗ xuấtkhẩu trên địa bàn tỉnh đã tạo ra thị trường tiêu thụ ổn định cho sản phẩm rừngtrồng, thúc đẩy nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư vốn vào trồng rừngnguyên liệu Diện tích rừng trồng kinh tế phát triển mạnh, rừng trồng đượcđầu tư thâm canh nên năng suất chất lượng cao, tạo nhiều công ăn việc làm,đời sống của người dân được cải thiện, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhucầu về gỗ ngày càng tăng của thị trường, chủ yếu là nguyên liệu đầu vào chocác nhà máy chế biến dăm gỗ Gỗ dăm tuy mới được xuất khẩu dưới hìnhthức sản phẩm sơ chế nhưng ngành hàng này phát triển đã thúc đẩy kinh tếrừng của tỉnh phát triển mạnh mẽ, khai thác có hiệu quả hơn diện tích vùng gòđồi rộng lớn, giải quyết hàng trăm ngàn lao động ở khu vực nông thôn

Trang 3

Bên cạnh những tác động tích cực của các nhà máy chế biến dăm gỗđối với sự phát triển của rừng trồng kinh tế cũng đã xuất hiện nhiều bất cập,giá thu mua nguyên liệu không ngừng tăng lên nhưng tình hình thiếu hụtnguồn nguyên liệu vẫn thật sự trở nên căng thẳng Các nhà máy chưa chútrọng đến các chính sách giải pháp đầu tư chiều sâu để chủ động phát triểnvùng nguyên liệu chuyên canh mà chỉ tập trung thu mua nguồn gỗ nguyênliệu phân tán có sẵn để chế biến Khi nguồn cung cấp cạn kiệt thì nguy cơđóng cửa các nhà máy là điều có thể xảy ra.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đề ra phương hướng,nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 đã nêu rõ: “Phát triểnmạnh việc trồng mới và khai thác bền vững rừng sản xuất để nâng cao khảnăng đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài về nguyên liệu gỗ cho chế biếnhàng tiêu dùng và xuất khẩu”

Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Tác động của các nhà máy chế biến dăm gỗ đối với sự phát triển rừng trồng kinh tế ở Thừa Thiên Huế” làm Luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế của mình.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp khả thi để phát triển bền vững rừng trồng kinh

tế, cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho các nhà máy chế biến dăm gỗ

Trang 4

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu rừng trồng kinh tế trước và sau khi hìnhthành các nhà máy chế biến dăm gỗ

* Phạm vi nghiên cứu:

Các nhà máy chế biến dăm gỗ trên địa bàn lần lượt hình thành và đi vàohoạt động từ năm 2003 Do hạn chế về mặt thời gian và nguồn số liệu nên đềtài chỉ đi sâu nghiên cứu rừng trồng kinh tế ở tỉnh Thừa Thiên Huế trongkhoảng thời gian từ năm 1999-2006

Trang 5

CHUƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ VÀ NGÀNH LÂM NGHIỆP

1.1.1 Công nghiệp chế biến gỗ

Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hànghóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùnghoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sảnxuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ,khoa học và kỹ thuật

Ở Việt Nam và một số quốc gia như Nhật Bản, công nghiệp bao gồm:

- Khai thác khoáng sản, than, đá và dầu khí

- Chế biến, chế tạo

- Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước

Bởi hoạt động công nghiệp là vô cùng đa dạng nên có rất nhiều cáchphân loại công nghiệp:

- Theo mức độ thâm dụng vốn và tập trung lao động: Công nghiệp nặng

và công nghiệp nhẹ

- Theo sản phẩm và ngành nghề: công nghiệp dầu khí, công nghiệp ô

tô, công nghiệp dệt, công nghiệp năng lượng

- Theo phân cấp quản lý: công nghiệp địa phương, công nghiệp trung ương.Theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướngChính phủ, hệ thống ngành kinh tế ở nước ta bao gồm 21 nhóm ngành, trong đóCông nghiệp chế biến thuộc nhóm C: nhóm ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo

Chế biến gỗ là quá trình chuyển hóa gỗ nguyên liệu dưới tác dụng củamáy móc thiết bị, công cụ, hóa chất để tạo thành các sản phẩm có hình dáng,kích thước, thành phần hóa học thay đổi hẳn so với nguyên liệu ban đầu

Trang 6

Sản phẩm dăm gỗ là nguồn nguyên liệu chính cho ngành công nghiệpgiấy chất lượng cao Nguyên liệu để chế biến dăm gỗ không đòi hỏi gỗ trònphải có đường kính lớn nên có thể tận dụng gỗ phế liệu là các dạng nguyênliệu gỗ không đáp ứng yêu cầu của nguyên liệu gỗ xẻ và các sản phẩm phụcủa công nghiệp khai thác và chế biến gỗ theo phương pháp cơ học Quy trìnhcông nghệ chế biến dăm gỗ là sự kết hợp giữa lao động thủ công và lao động

cơ giới, đơn giản, không qua khâu xử lý hóa chất nên không gây ảnh hưởngđến môi trường Dăm gỗ có quy cách dài từ 5-35 mm, dày <5 mm, chiềungang không hạn chế Gỗ nguyên liệu (cây Keo, cây Bạch đàn…) được bócsạch vỏ và không lẫn tạp chất, đưa vào máy chặt thành dăm gỗ, sau đó đượcchuyển qua máy sàng để phân loại Máy sàng có 2 dàn sàng: dàn sàng lớn cóđường kính lỗ 45 mm để lọc sản phẩm thô đưa trở lại máy chặt để chặt lần 2,dàn sàng nhỏ có đường kính lỗ 5 mm để loại trừ bụi ra khỏi sản phẩm Sảnphẩm chặt xong được được băng chuyền đưa ra bãi chứa dăm gỗ để tồn kho.Khi xuất khẩu, dăm gỗ được đưa vào container bằng băng chuyền và được xechuyển ra cảng để xuống tàu

Chỉ qua chế biến, gỗ tròn mới thành hàng loạt các sản phẩm thỏa mãnmọi nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội Thông qua hoạtđộng chế biến gỗ sẽ đẩy mạnh việc sử dụng gỗ hợp lý, đúng mục đích, tránh

sử dụng lãng phí, từ đó nâng cao tỷ lệ sử dụng gỗ Chế biến gỗ còn cho phéptận dụng phế liệu trong khâu khai thác, chế biến thành các sản phẩm hữu ích.Ngoài ra, qua chế biến gỗ còn giảm được khối lượng vận chuyển, tiết kiệmchi phí và hạ giá thành sản phẩm

Sự phát triển của công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu đóngvai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành lâm nghiệp nói chung vàrừng trồng nguyên liệu công nghiệp nói riêng

Trang 7

1.1.2 Ngành lâm nghiệp

Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân

có chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ, khai thác lợi dụng rừng và pháthuy các chức năng phòng hộ văn hóa, xã hội của rừng

Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt Nói đến lâmnghiệp trước hết phải nói đến vai trò của rừng trong nền kinh tế quốc dân vàtrong đời sống xã hội Luật Bảo vệ và phát triển rừng có ghi “Rừng là tàinguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo là bộ phận quan trọng củamôi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liềnvới đời sống của nhân dân với sự sống còn của dân tộc” [16]

Ngay từ thuở sơ khai, con người đã có những khái niệm cơ bản nhất vềrừng Rừng là nơi cung cấp mọi thứ phục vụ cuộc sống của họ Lịch sử càngphát triển, những khái niệm về rừng được tích lũy, hoàn thiện thành nhữnghọc thuyết về rừng

Năm 1817, H.Cotta (người Đức) đã xuất bản tác phẩm “Những chỉ dẫn

về lâm học” trình bày tổng hợp những khái niệm về rừng Ông là người cócông xây dựng học thuyết về rừng có ảnh hưởng đến nước Đức và châu Âutrong thế kỷ 19

Năm 1912, G.F.Morodop công bố tác phẩm “Học thuyết về rừng” Sựphát triển hoàn thiện của học thuyết này về rừng gắn liền với những thành tựu

về sinh thái học

Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: “Rừng là một tổng thể cây gỗ,

có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặtđất và trong khi quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộphận của cảnh quan địa lý”

Năm 1952, M.E Tcachenco phát biểu: “Rừng là một bộ phận của cảnhquan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động

Trang 8

vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệsinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài”.

Năm 1974, I.S Mêlêkhôp cho rằng: “Rừng là sự hình thành phức tạpcủa tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu”

Theo quan niệm của Tổ chức nông lương Liên hợp quốc (FAO) vàphân loại của Liên hợp quốc về ngành Lâm nghiệp đã được nhiều quốc giathừa nhận và căn cứ vào tình hình thực tiễn của Việt Nam hiện nay, có mộtđịnh nghĩa đầy đủ về ngành lâm nghiệp như sau: Lâm nghiệp là một ngànhkinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuấthàng hóa và dịch vụ từ rừng như gây trồng, khai thác, vận chuyển… và cungcấp các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng; ngành Lâm nghiệp có vaitrò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, xóa đói,giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và anninh quốc phòng

1.2 TỔNG QUAN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ Ở VIỆT NAM

1.2.1 Quy mô, năng lực sản xuất

Ngành chế biến gỗ Việt Nam đang phát triển với tốc độ rất nhanh trongnhững năm gần đây, vươn lên là một trong 7 mặt hàng đem lại kim ngạchxuất khẩu lớn nhất cho đất nước, đưa Việt Nam trở thành một trong 4 quốcgia xuất khẩu hàng gỗ chế biến lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á Hiện cảnước có khoảng 1.200 doanh nghiệp chế biến gỗ với tổng công suất chế biếnkhoảng 4,0 triệu mét khối gỗ tròn mỗi năm, trong đó doanh nghiệp nhà nước

374 đơn vị, chiếm tỷ lệ 31%; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanhnghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ lệ 69%

Nhiều cơ sở chế biến gỗ xuất khẩu đã sử dụng thành công các loại gỗrừng trồng như các loài Keo, Bạch đàn, Cao su, Thông… thành các sản phẩm

đồ gỗ xuất khẩu có giá trị cao

Trang 9

Nhìn chung, các cơ sở chế biến gỗ của Việt Nam là những cơ sở chếbiến vừa và nhỏ, sản xuất kết hợp giữa thủ công và cơ khí, phân bố rải ráctrong các vùng trên phạm vi toàn quốc Các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗcông nghiệp thường có sự đầu tư mới về các trang thiết bị và công nghệ tiêntiến phục vụ sản xuất, trong khi đó đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất đồ

gỗ mỹ nghệ có hệ thống thiết bị khá lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu củanhững đơn hàng lớn hay các thị trường yêu cầu chất lượng cao Cũng do tìnhtrạng phân tán, mà khả năng cơ giới hóa và hiện đại hóa ngành chế biến gỗcũng rất hạn chế

Vì vậy, vấn đề quy hoạch lại các cơ sở chế biến gỗ thành những cụmcông nghiệp vừa và nhỏ là rất cần thiết Nếu thực hiện được chủ trương nàytrong một thời gian ngắn, Việt Nam sẽ có một ngành nghề chế biến lâm sản

đủ mạnh và có sức cạnh tranh từ việc tối ưu hóa công tác vận chuyển các sảnphẩm chế biến cho đến khả năng cơ giới hóa việc cung cấp nguyên liệu chocác cơ sở chế biến và hiện đại hóa, chuyên môn hóa cao công tác chế biến cácsản phẩm gỗ xuất khẩu

1.2.2 Thị trường

Hầu hết các sản phẩm đồ gỗ của các doanh nghiệp Việt Nam chịu sựcạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp của Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia,Malaysia, các nước Đông Âu và Mỹ La Tinh Chỉ tính riêng Trung Quốc đã

có trên 50.000 cơ sở sản xuất với hơn 50 triệu nhân công và sản xuất vớidoanh số gần 20 tỷ USD

Thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đã có nhiều biến chuyểnmạnh mẽ trong những năm gần đây, từ chỗ tập trung vào các thị trường trungchuyển như Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc để tái xuất khẩu sang một nướcthứ ba, đến nay đã xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường của người tiêudùng Hiện tại, các sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam có mặt ở 120 quốc gia và

Trang 10

vùng lãnh thổ trên thế giới, với các chủng loại sản phẩm đa dạng, từ hàngtrang trí nội thất trong nhà, hàng ngoài trời đến các mặt hàng dăm gỗ Kimngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng, đưa Việt Nam vượt Indonesia và Thái Lantrở thành một trong hai nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á (sauMalaisia 1,98 tỷ USD), cụ thể:

Bảng 1.1: Giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam

Giá trị triệu USD 219 335 435 560 1.054 1.517 1.930 Tốc độ tăng trưởng % 53 30 29 88 44 27

(Nguồn: Chiến lược PTLN Việt Nam giai đoạn 2006-2020) [34]

Xuất khẩu dăm gỗ được dự đoán tăng từ 0,8 triệu tấn khô (năm 2003)lên khoảng 1,5 triệu tấn khô năm 2015 Sau năm 2015, xuất khẩu dăm gỗ sẽgiảm đi vì nguyên liệu gỗ nhỏ được sử dụng cho sản xuất ván dăm, MDF

Nhu cầu nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ Việt Nam trong nhữngnăm tới sẽ không giảm mà đang có xu thế tăng nhanh Đến năm 2010 kimngạch xuất khẩu đạt hơn 2 tỷ USD, theo đó Việt Nam cần ít nhất 10 triệu m3

gỗ thành phẩm, tương đương với 10-15 triệu m3 gỗ cây đứng Riêng ngànhchế biến đồ gỗ xuất khẩu cần đến 2,5 triệu m3 thành phẩm, tương đương với 5triệu m3 gỗ cây đứng Như vậy, để ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩutiếp tục tăng trưởng thì Việt Nam cần có phương hướng để có thể chủ độngđược nguồn nguyên liệu

Việc nhập khẩu gỗ từ một số quốc gia có nền Lâm nghiệp chưa pháttriển đang đứng trước những nguy cơ bị các tổ chức phi chính phủ quốc tế lên

án và yêu cầu hạn chế Các nước này cũng đang dần phải hoàn thiện công táckinh doanh rừng bền vững để đáp ứng những yêu cầu của các tổ chức quốc tế

đề ra, các loại gỗ phải được kiểm tra chứng chỉ rừng trước khi xuất khẩu sang

Trang 11

các nước khác Như vậy, trong một vài năm tới việc nhập khẩu gỗ từ các nướctrên sẽ bị hạn chế rất nhiều Do vậy nguồn nguyên liệu cho chế biến sẽ bị ảnhhưởng nếu như Việt Nam không chuẩn bị trước kế hoạch phát triển chonhững năm tới Trong thời gian tới, việc nhập gỗ nguyên liệu từ các nướcĐông Nam Á sẽ gặp nhiều khó khăn, Việt Nam đang phải chuyển hướng nhập

gỗ nguyên liệu từ các nước Châu Phi

Định hướng phát triển thị trường đồ gỗ của Việt Nam trong những nămtới là ngoài việc duy trì và phát triển các thị trường truyền thống (cả thịtrường trung chuyển và thị trường người tiêu dùng trực tiếp) để thông qua đó

uy tín và chất lượng của sản phẩm gỗ xuất khẩu Việt Nam tiếp cận nhanh hơntới người tiêu dùng, ngành gỗ Việt Nam sẽ tập trung phát triển mạnh một sốthị trường mục tiêu, có nền kinh tế phát triển ổn định, sức mua ổn định và nhucầu liên tục tăng, các thể chế về kinh doanh, thương mại hoàn thiện, hệ thốngphân phối rộng khắp và năng động, bao gồm: các nước EU, Mỹ, Nhật Bản vàCộng hòa liên bang Nga

Khách hàng chủ đạo đối với các sản phẩm gỗ Việt Nam được xác định

là các nhà nhập khẩu và các nhà phân phối Thực tế năng lực tài chính tiếpthị, nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm của các doanh nghiệp ViệtNam còn yếu, nên nếu trực tiếp thiết lập các kênh phân phối, mạng lưới tiêuthụ và nghiên cứu nhu cầu phát triển của thị trường sẽ thực sự rất khó khănđối với mỗi doanh nghiệp Việc sử dụng những kênh phân phối hiện có vàkhả năng phát triển thị trường của các nhà phân phối và nhập khẩu tại các thịtrường lớn là giải pháp hữu hiệu nhất để tăng sản lượng thâm nhập thị trường,đồng thời tiết kiệm chi phí cho công tác tiếp thị

1.2.3 Các sản phẩm gỗ xuất khẩu

Sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam từ chỗ chỉ là sản phẩm thô (gỗtròn, gỗ xẻ) đã phát triển lên một trình độ gia công cao hơn, áp dụng công

Trang 12

nghệ tẩm, sấy, trang trí bề mặt xuất khẩu các sản phẩm hoàn chỉnh, sảnphẩm có giá trị gia tăng về công nghệ và lao động Có thể chia các sản phẩm

gỗ xuất khẩu của Việt Nam thành 4 nhóm chính:

Nhóm thứ nhất: Nhóm sản phẩm đồ mộc ngoài trời bao gồm các loạibàn ghế vườn, ghế băng, dù che nắng, ghế xích đu làm hoàn toàn từ gỗ hoặc

gỗ kết hợp với các vật liệu khác như sắt, nhôm, nhựa

Nhóm thứ hai: Nhóm sản phẩm đồ mộc trong nhà bao gồm các loại bànghế, giường, tủ, giá kê sách, đồ chơi, ván sàn làm hoàn toàn từ gỗ hay gỗkết hợp với các vật liệu khác như da, vải

Nhóm thứ ba: Nhóm đồ mộc mỹ nghệ chủ yếu từ gỗ rừng tự nhiên baogồm bàn, ghế, tủ áp dụng các công nghệ chạm, khắc, khảm

Nhóm thứ tư: Sản phẩm dăm gỗ sản xuất từ gỗ rừng trồng mọc nhanhnhư gỗ Keo, gỗ Bạch đàn

1.2.4 Gỗ mỹ nghệ của Việt Nam

Bên cạnh sự phát triển của ngành công nghiệp gỗ chế biến, nghề gỗ mỹnghệ Việt Nam cũng đang có sự phát triển mạnh mẽ cả về lượng và chất Cảnước có 342 làng nghề gỗ mỹ nghệ, trong đó có rất nhiều làng nghề lớn nhưVân Hà (Hà Nội), Nhị Khê (Hà Tây), Bích Chu (Vĩnh Phúc), Đồng Kỵ (BắcNinh), Đông Giao (Hải Dương), Đồng Minh (Hải Phòng), La Xuyên (NamĐịnh) và Kim Bồng (Quảng Nam) Các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệpkinh doanh hàng gỗ mỹ nghệ có xu thế tập trung về những thành phố lớn như

Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hay ngay tại các làng nghề Các sản phẩm gỗ

mỹ nghệ của Việt Nam không chỉ có chất lượng cao mà còn vô cùng phongphú về mẫu mã, phục vụ cho mọi nhu cầu của cuộc sống: từ đồ trang trí nộithất như bàn, ghế, tủ, đèn đến các loại tượng, đồ trang sức, đồ dùng nhàbếp , đã được đưa đến hơn 120 quốc gia trên thế giới, trong đó phải kể đếncác thị trường lớn như Nhật, Mỹ, Đài Loan, Hồng Kông, các nước Châu Âuđem lại kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 30 triệu USD

Trang 13

1.2.5 Nguyên liệu gỗ

Nguồn nguyên liệu cho sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu từ chỗ dựa vàorừng tự nhiên là chính đã chuyển sang dựa vào nguồn gỗ nhập khẩu và gỗ rừngtrồng Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và PTNT, diện tích rừng tự nhiên hiện

có của Việt Nam là 10,410 triệu ha, trữ lượng khoảng 896 triệu m3 gỗ Để bảo

vệ môi trường và đảm bảo sự phát triển bền vững, Chính phủ đã giới hạn khaithác gỗ từ rừng tự nhiên chỉ khoảng 300.000 m3 mỗi năm trong giai đoạn 2000đến 2010, chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu xây dựng, sản xuất đồ gỗ trongnước (250.000 m3) và sản xuất hàng mỹ nghệ xuất khẩu (50.000 m3) Bộ Nôngnghiệp và PTNT cũng đang triển khai chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng

và mục tiêu đến năm 2010 Việt Nam sẽ có thêm 2 triệu ha rừng phòng hộ, rừngđặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất [6]

Để bù đắp sự thiếu hụt về nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên, hàng năm ViệtNam phải nhập khẩu khoảng 250.000 đến 300.000 m3 gỗ từ các nước lân cận

và tăng cường sử dụng gỗ rừng trồng, ván nhân tạo để sản xuất hàng xuấtkhẩu Nguồn gỗ nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á như Campuchia, Lào,Indonesia, Malaysia thường không ổn định do chính sách lâm sản của cácquốc gia này luôn thay đổi, trong khi nguồn nhập khẩu từ các quốc gia khácnhư New Zealand, Australia, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Canada, Mỹ,Châu Phi lại cách xa về địa lý nên giá thành nguyên liệu bị đội lên rất cao,giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam

Nhằm chuẩn bị chủ động nguồn gỗ, bên cạnh việc trồng rừng, ViệtNam cũng đang tích cực phát triển các nhà máy sản xuất ván nhân tạo, đóngmột vai trò quan trọng cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu: Nhà máy ván sợiMDF Gia Lai công suất 54.000 m3 sản phẩm/năm, MDF Sơn La với công suất15.000 m3 sản phẩm/năm, MDF Bình Thuận với công suất 10.000 m3 sảnphẩm/năm, Nhà máy Ván dăm Thái Nguyên với 16.500 m3 sản phẩm/năm,Thái Hòa (Nghệ An) 15.000 m3 và Hoành Bồ (Quảng Ninh) 3.000 m3/năm

Trang 14

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có khu rừng nào có chứng chỉ rừng (ForestStewardship Council - FSC), trong khi đó nhu cầu sử dụng các sản phẩm cóchứng chỉ nguồn gốc xuất xứ ngày một cao ở hầu hết các thị trường lớn Đểphát huy hết tiềm năng của ngành chế biến gỗ Việt Nam, các cơ quan quản lýnhà nước và các doanh nghiệp cần hết sức chú ý đến xu hướng “môi trườnghoá” thương mại đồ gỗ Với 3 xu hướng nguyên liệu chính: gỗ nhân tạo, gỗ

có chứng nhận FSC và gỗ tái chế, các tiêu chuẩn về môi trường sẽ được thịtrường đặt ra ngày càng nhiều cho thương mại đồ gỗ, kể cả việc xác định tínhhợp pháp và khả năng tái sinh của khu vực khai thác Do đó, đối với các sảnphẩm gỗ khai thác tại Việt Nam cần mời các tổ chức quốc tế có thẩm quyềnkiểm tra việc quản lý khai thác gỗ và cấp chứng chỉ xác nhận gỗ được khaithác Đặc biệt, việc xây dựng và các tiêu chí quản lý rừng bền vững cần đượctiến hành nhanh chóng, triệt để nhằm đạt được một số lợi thế cho ngành lâmnghiệp Việt Nam [5]

1.2.6 Các chính sách hiện hành về phát triển công nghiệp chế biến gỗ

Với chủ trương tạo mọi điều kiện để phát triển ngành công nghiệp chếbiến gỗ xuất khẩu, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp quy liên quanđến rất nhiều lĩnh vực như phát triển vùng nguyên liệu, giao đất giao rừng,khai thác, chế biến, lưu thông, tín dụng, xuất nhập khẩu

- Về xuất nhập khẩu, Chính phủ đã ban hành Nghị định

57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998, Quyết định 65/1998/QĐ-TTg ngày 24/3/1998 của Thủtướng Chính phủ và Thông tư 122/1999/TT-BNN-PTNT ngày 27/3/1998 của

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn nhằm quản lý việc xuất khẩu đồ gỗsản xuất từ rừng tự nhiên trong nước, đồng thời khuyến khích và tạo điều kiệnthuận lợi cho việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu cũng như xuất khẩu sản phẩm gỗ

từ rừng trồng, gỗ nhập khẩu Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã xâydựng các mức thuế suất cụ thể, có phân biệt đối với các sản phẩm xuất khẩu

Trang 15

được làm từ nguyên liệu gỗ có xuất xứ khác nhau Sản phẩm xuất khẩu đượclàm từ gỗ rừng tự nhiên chịu thuế suất cao hơn sản phẩm làm từ gỗ rừngtrồng Gỗ rừng tự nhiên có mức thuế suất bình quân là 5-10%, sản phẩm từ gỗrừng trồng thuế suất 0% Ngoài ra, các chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩuthông qua Quỹ hỗ trợ phát triển, chính sách thưởng xuất khẩu cũng là độnglực thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng gỗ của Việt Nam.

- Về nhập khẩu, trừ gỗ nhập khẩu từ Campuchia phải có giấy phép xuấtkhẩu, nhập khẩu của Bộ Thương mại hai nước, các doanh nghiệp được nhậpkhẩu theo nhu cầu, không phải xin giấy phép của các cơ quan quản lý và đượchưởng mức thuế suất nhập khẩu thấp nhất hiện hành (0%)

- Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức của mọi thànhphần kinh tế tham gia sản xuất, chế biến các sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài

gỗ, giải quyết tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy phát triển kinh tếgóp phần giải quyết công ăn việc làm cho xã hội

- Đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức tham gia sản xuất

và xuất nhập khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ, lâm sản ngoài gỗ theo đúng phápluật và các quy định hiện hành Đối với gỗ và sản phẩm từ rừng trồng được tự

do lưu thông trên thị trường, được xuất khẩu gỗ cây, gỗ lóng

- Nhà nước hỗ trợ tín dụng đầu tư để mở rộng sản xuất đổi mới côngnghệ, thiết bị và trồng rừng nguyên liệu công nghiệp, mức lãi suất cho vaytrồng rừng nguyên liệu bằng ½ lãi suất cho vay ưu đãi đầu tư, mức và thờihạn cho vay phù hợp với chu kỳ kinh doanh của từng loại cây trồng; miễngiảm thuế sử dụng đất 2 chu kỳ kinh doanh cho rừng trồng nguyên liệu (mỗichu kỳ từ 6-7 năm) Ngoài ra, khi các dự án phát triển chế biến gỗ đã đượcphê duyệt tại các địa phương, cần ưu tiên cấp vốn với tỷ lệ hợp lý, riêng vốnlưu động được cấp đủ ngay khi dự án đi vào hoạt động Các cơ sở thủ công

mỹ nghệ không đủ điều kiện đảm bảo cầm cố, thế chấp tài sản, được vay vốn

Trang 16

theo quy định về hoạt động bảo lãnh tín dụng và được giảm tối đa các loạiphí; đồng thời được hỗ trợ 50% chi phí thuê diện tích triển lãm giới thiệu sảnphẩm.

- Trong tình hình thiếu nguyên liệu như hiện nay (nhập khẩu 80%), nhànước khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và tổ chức nhập gỗnguyên liệu để phục vụ cho sản xuất trong nước Để lập lại trật tự và ổn địnhthị trường gỗ nhập khẩu, sắp tới Chính phủ sẽ thành lập các Trung tâm nhậpkhẩu gỗ nguyên liệu nhằm giải quyết ổn định lâu dài về nguyên liệu

- Tăng cường việc cung cấp các thông tin về thị trường cho các doanhnghiệp, nâng cao vai trò của các cơ quan Thương vụ Việt Nam tại các nước,cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận với thị trườngcác nước, thúc đẩy xuất nhập khẩu gỗ và lâm sản

- Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp mặt bằng sản xuất và một phần xâydựng cơ sở hạ tầng trong quá trình đầu tư phát triển sản xuất

- Thông qua chương trình xúc tiến thương mại hàng năm, Chính phủ đãtạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận và mở rộng thị trường qua việctham gia các đoàn khảo sát, tổ chức hội chợ, triển lãm, đào tạo, phát triểnnguồn nhân lực, cung cấp thông tin, tuyên truyền quảng cáo xây dựng vàquảng bá thương hiệu sản phẩm [5]

1.2.7 Đánh giá chung

Việt Nam có hơn 1.200 cơ sở sản xuất, chế biến gỗ phân bố khắp cảnước Phần lớn các cơ sở sản xuất này được hình thành theo nhu cầu thịtrường, nhu cầu công ăn, việc làm cũng như nhu cầu phát triển của các thànhphần kinh tế khác nhau Thời gian trước đây, hầu như chưa có quy hoạch tổngthể, hay chiến lược phát triển dành riêng cho công nghiệp chế biến gỗ, lâmsản trên phạm vi toàn quốc được cấp thẩm quyền phê duyệt để thực hiện.Điều này dẫn đến tình trạng các cơ sở sản xuất phát triển tràn lan không được

bố trí, đã làm ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, làm ô nhiễm môi trường

Trang 17

sống từ các bản làng đến những vùng dân cư đông đúc.

Cũng do chưa có quy hoạch cụ thể và khả năng phối hợp để sản xuấtcác mặt hàng có yêu cầu số lượng lớn bị hạn chế, điều nay cũng gây khó khănđến việc xử lý các chất thải, môi trường cũng như khả năng đưa công nghệmới và ứng dụng tối ưu hóa hệ thống kho bãi và vận chuyển nguyên liệu gỗ,sản phẩm từ sản xuất tới tiêu dùng

Mặc dù trong thời gian vừa qua, Chính phủ và một số địa phương đangdần có những kế hoạch phát triển cho một số vùng, một số làng nghề nhưngnhìn chung chưa đáp ứng được những yêu cầu mới đề ra để Việt Nam trongthời gian ngắn có thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành chế biến lâm sảnnói chung, ngành chế biến gỗ nói riêng

Đến nay vẫn chưa có một phương án quy hoạch riêng cho việc trồngrừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến, sản xuất sản phẩm gỗ xuấtkhẩu Mặc dù gần đây đã có một số phương án quy hoạch và dự án đầu tư ởmột số vùng nguyên liệu cho nhà máy sản xuất bột và giấy, nhà máy chế biếndăm gỗ, MDF, v.v Nhưng hiện còn thiếu một phương án tổng thể riêng chonguyên liệu công nghiệp chế biến và sản phẩm gỗ xuất khẩu Do vậy, để đảmbảo khả năng cung cấp đủ, ổn định và bền vững cho việc phát triển các cơ sởchế biến đồ mộc và xuất khẩu thì việc quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung,gắn liền với cơ sở chế biến gỗ là rất cần thiết

Ngành chế biến gỗ hiện đang thiếu nguyên liệu trầm trọng và chấtlượng sản phẩm sản xuất ra chưa cao, chủ yếu là sử dụng gỗ nhập khẩu và gỗrừng trồng, mặc dù đang phát triển nhưng không đồng bộ, quy mô còn nhỏ,phân tán và manh mún Nhiều doanh nghiệp chậm đổi mới cả công nghệ và tưduy kinh doanh, tay nghề công nhân còn thấp, chưa đáp ứng được với nhu cầuthị trường trong nước và thế giới Khả năng sáng chế, tạo mẫu mã sản phẩm

đồ gỗ còn rất nhiều hạn chế Sản phẩm xuất khẩu còn phải qua nhiều khâutrung gian, giá thành cao, lợi nhuận không lớn và đặc biệt là chưa có thương

Trang 18

hiệu sản phẩm riêng.

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, ngành chế biến gỗ xuất khẩu củaViệt Nam được giảm thuế nhập khẩu gỗ nguyên liệu cũng như giảm thuế xuấtkhẩu sản phẩm hàng hóa vào thị trường các nước thành viên; mở rộng đượchợp tác đầu tư; rút ngắn khoảng cách tụt hậu trong quản lý, công nghệ Đây lànhững yếu tố tạo ra lợi thế kinh doanh trên thị trường Sản phẩm gỗ Việt Nam

đã có mặt tại 120 quốc gia và vùng lãnh thổ và gỗ trở thành mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực lớn thứ 5 của Việt Nam sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủysản Ngoài những lợi thế nêu trên, Việt Nam còn nhiều thế mạnh khác màchúng ta chưa tận dụng hết, đó là, Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, cócác cảng biển trải dài trên địa bàn cả nước, rất phù hợp cho việc vận chuyểnnhững container cồng kềnh, chiếm nhiều vị trí như đồ gỗ [16]

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, các doanh nghiệp xuất khẩu gỗcũng đang đối mặt với nhiều thách thức như: năng lực cạnh tranh yếu, năngsuất lao động thấp; 80% nguyên liệu sản xuất gỗ phụ thuộc vào nhập khẩu.Cùng với đó, sau khi gia nhập WTO các tiêu chuẩn về môi trường đặt ra cácyêu cầu ngày càng gắt gao đối với thương mại sản phẩm gỗ cả thị trường xuấtkhẩu cũng như nhập khẩu, bao gồm việc đảm bảo tính hợp pháp của việc khaithác và sử dụng nguyên liệu gỗ và khả năng tái sinh của rừng sau khai thác

Để phát triển bền vững ngành công nghiệp gỗ trong thời gian tới, ViệtNam phải tăng cường đầu tư, tạo năng lực mới cho các doanh nghiệp trongnước để sản xuất, chế biến sản phẩm gỗ và tăng cường thu hút đầu tư nướcngoài vào lĩnh vực này; xây dựng và mở rộng các khu công nghiệp chế biến

gỗ ở các vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu ổn định; đẩy mạnh chế biếnván nhân tạo, giảm dần chế biến dăm giấy xuất khẩu, đồng thời triển khai cácchương trình trồng rừng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu

Theo dự báo thị trường lâm sản đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu

Trang 19

mặt hàng gỗ của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng đều qua các năm với tốc độ trungbình khoảng hơn 30%/năm Ngành công nghiệp chế biến gỗ của Việt Namđang đứng trước nhiều cơ hội để phát triển [5]

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ VÀ NGÀNH LÂM NGHIỆP

Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng trongnền kinh tế quốc dân, là một bộ phận không thể tách rời trong lĩnh vực nôngnghiệp và nông thôn, không những có vai trò bảo đảm cho nông nghiệp vànông thôn phát triển ổn định và bền vững mà còn góp phần giữ vững sự pháttriển bền vững và ổn định kinh tế xã hội nói chung Ở Việt Nam với đặc điểm

tự nhiên chủ yếu là đồi núi thì lâm nghiệp càng đóng vai trò quan trọng hơntrong việc phát triển đất nước

Sản phẩm của ngành lâm nghiệp được loài người sử dụng rộng rãi vàlâu đời nhất, là nguồn vật tư chủ yếu cho nhiều ngành kinh tế khác như xâydựng, khai khoáng, giao thông vận tải; đặc biệt là nguyên liệu đầu vào củangành công nghiệp chế biến gỗ Với chủ trương của Nhà nước trong giai đoạnhiện nay là hạn chế lượng gỗ khai thác từ rừng tự nhiên thì các sản phẩm gỗ

từ rừng trồng càng có vai trò quan trọng để duy trì ngành công nghiệp chếbiến gỗ phát triển bền vững Để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu ngày càng tăngcủa ngành công nghiệp chế biến gỗ, rừng trồng kinh tế phải phát triển theo cảchiều rộng lẫn chiều sâu, tạo các vùng nguyên liệu tập trung, theo hướng thâmcanh; tăng hiệu quả sử dụng đất, coi trọng năng suất, chất lượng, thúc đẩycông nghiệp chế biến gỗ phát triển

Công nghiệp chế biến gỗ phát triển theo cơ chế thị trường trên cơ sởcông nghệ tiên tiến trở thành mũi nhọn của kinh tế lâm nghiệp, tác động trởlại ngành lâm nghiệp thông qua việc tiêu thụ các sản phẩm đầu ra, nâng caogiá trị của sản phẩm lâm nghiệp qua chế biến, thúc đẩy ngành lâm nghiệp

Trang 20

phát triển sản xuất mở rộng, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư khaithác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng hóa sản phẩm, mởrộng thị trường lao động, tạo ra nhiều việc làm mới và tăng thu nhập.

Công nghiệp chế biến gỗ và ngành lâm nghiệp có mối quan hệ thốngnhất biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, kịp thời tự điều chỉnh, khắc phụcnhững tồn tại để thúc đẩy nhau cùng phát triển không ngừng, góp phần pháttriển nền kinh tế trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.4 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA RỪNG TRỒNG KINH TẾ

Rừng trồng là rừng do con người tạo nên bằng cách trồng mới trên đấtchưa có rừng hoặc trồng lại rừng trên đất trước đây đã có rừng

Rừng trồng kinh tế là rừng được trồng với mục đích chính là cung cấpnguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nhu cầu gia dụng với năngsuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao

Ngoài vai trò cung cấp gỗ và các loại lâm sản đem lại nguồn thu nhập,xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống; rừng trồng kinh tế còn có vai tròphòng hộ, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường môi sinh, cảnh quan văn hóa,giải quyết nhiều việc làm cho người dân, những mẫu thuẫn trong đời sốngkinh tế xã hội, nâng cao dân trí, đặc biệt là người dân ở nông thôn miền núi

Rừng trồng kinh tế vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể kinh tế xãhội Vì vậy, cần có các giải pháp tác động vào những nhân tố ảnh hưởng đến

sự phát triển của rừng trồng kinh tế để rừng trồng kinh tế phát triển theohướng bền vững, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế nước nhà

1.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA RỪNG TRỒNG KINH TẾ

1.5.1 Điều kiện tự nhiên

Sinh trưởng phát triển của rừng trồng kinh tế phụ thuộc phần lớn vàocác yếu tố tự nhiên như địa hình địa thế, đất đai, thổ nhưỡng và khí hậu, thủy

Trang 21

văn… Chúng có quan hệ ảnh hưởng qua lại rất phức tạp, điều kiện tự nhiênphần lớn quyết định khả năng của sản xuất lâm nghiệp, ảnh hưởng đến sốlượng cũng như chất lượng của rừng trồng kinh tế.

* Địa hình địa thế

Địa hình địa thế ảnh hưởng đến tổ thành loài cây, sự sinh trưởng vàphát triển của rừng trồng Địa hình, địa thế ảnh hưởng đến khí hậu, quá trìnhhình thành đất, độ sâu tầng đất, ánh sáng, lượng nước rơi, lượng nước bốchơi, mực nước ngầm, hướng gió… Mặt khác lại có thể hình thành nhiều tiểukhí hậu, đặc điểm địa hình biến đổi sẽ ảnh hưởng tới các nhân tố sinh thái làmbiến đổi sự ảnh hưởng qua lại giữa các nhân tố đó và giữa chúng với sinhtrưởng phát triển của rừng

Khắc phục những ảnh hưởng bất lợi do đặc điểm địa hình địa thế vớicác nhân tố sinh thái nhằm đề xuất các biện pháp kinh doanh rừng cho phùhợp với từng đối tượng Mặt khác, địa hình địa thế khác nhau cũng ảnh hưởngđến quá trình tái sinh tự nhiên, thảm tươi, tổ thành thực bì, thời kỳ sinhtrưởng Đồng thời địa hình địa thế cũng liên quan đến việc lựa chọn loại hìnhvận chuyển, phương thức vận xuất, phương thức khai thác

Hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất ảnh hưởng đến tổ thành loài cây

và năng suất rừng trồng, là nhân tố quan trọng để xác định ra loại hình lập địa,

là cơ sở để thiết kế các biện pháp trồng rừng Nắm được các đặc điểm lý, hóa

Trang 22

tính của đất, con người có thể tác động cải tạo đất dần dần phù hợp với loạicây trồng hơn, chẳng hạn như phủ xanh đất trống đồi núi trọc để chống xóimòn, cải tạo đất Đó là tác động tích cực của con người đem lại hiệu quả tolớn cho xã hội.

* Khí hậu, thủy văn

Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của trồng rừng.Đối với công tác trồng rừng việc quan trọng là phải xác định xem trồng đượcvào thời điểm nào trong năm Điều này phụ thuộc vào nhiệt lượng của câytrồng, khí hậu ảnh hưởng lớn đến cây trồng, nắm vững yếu tố khí hậu bố trícây trồng hợp lý sẽ đảm bảo tỷ lệ sống và cho năng suất, giá trị kinh tế cao.Tuy nhiên, khí hậu cũng gây những điều kiện bất lợi như gió, bão, cháy rừnglàm ảnh hưởng đến cây trồng

Nguồn nước thủy văn ảnh hưởng quan trọng tới sinh trưởng, phát triểncủa rừng, ảnh hưởng đến công tác tổ chức sản xuất, là cơ sở để thiết kế vậnchuyển thủy, xây dựng cơ bản và đề xuất các biện pháp kinh doanh rừng

1.5.2 Các nhân tố xã hội

* Chính sách pháp luật về đất đai

Phát triển rừng trồng kinh tế bị chi phối và ảnh hưởng rất nhiều bởi cácchính sách pháp luật của Nhà nước, hệ thống luật pháp quy định các hoạtđộng kinh tế xã hội của một quốc gia Cơ chế chính sách có vai trò quyết địnhđến việc xóa bỏ, kiềm chế hay khuyến khích sản xuất của các ngành kinh tế

Chính sách kinh tế về trồng rừng là một bộ phận hợp thành chính sáchkinh tế xã hội Do đặc thù của trồng rừng diễn ra trên địa bàn rộng lớn vàphức tạp với tất cả tính đa dạng của nó, chủ yếu ở trung du và miền núi, đờisống, trình độ dân trí thấp, điều kiện tự nhiên địa hình phức tạp, kết cấu cơ sở

hạ tầng thấp kém, hiệu quả đầu tư thấp, tạo nên sự chênh lệch tương đối lớn

về khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn miền núi Do vậy, cầnphải có những chính sách xã hội nhằm tác động hỗ trợ cho người dân, tạo

Trang 23

bước thúc đẩy cho sự phát triển của các vùng sâu vùng xa

Chính sách đất đai là một trong những chính sách quan trọng hàng đầuđối với lĩnh vực đầu tư trồng rừng kinh tế Không có đất thì người ta khôngthể tiến hành trồng rừng được bởi đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt chủ yếukhông thể thay thế được trong trồng rừng, không có đất thì không thể đầu tưtrồng rừng, cần có chính sách nhằm gắn bó con người với đất đai, tạo điềukiện cho người dân trở thành chủ thể của đất lâm nghiệp hay nói cách kháccần có chủ thể mới phát triển được [19]

Chính sách lâm nghiệp mang tính chất hệ thống vì xuất phát từ chứcnăng chủ yếu của chính sách là tạo môi trường kinh doanh, tạo động lực kinh

tế Hai chức năng này tồn tại song song, bổ sung cho nhau và có vai trò ngangnhau trong quá trình phát triển trồng rừng Đặc biệt trong điều kiện hiện naythì tạo động lực kinh tế cho người dân mạnh dạn đầu tư vào sản xuất kinhdoanh nghề rừng thì mới có tính bền bững và lâu dài được Chính sách trồngrừng phải tác động một cách toàn diện và cùng chiều đến kinh tế lâm nghiệp

và kinh tế nông thôn miền núi và quy định rõ các quan hệ hợp lý về lợi íchgiữa các chủ thể kinh tế, giữa trồng rừng với các ngành khác đòi hỏi chínhsách phải đồng bộ và toàn diện

Các nhân tố kinh tế xã hội như lao động, vốn sản xuất, phương thứccanh tác, cơ sở hạ tầng, chính sách thể chế, thị trường và các yếu tố kinh tế xãhội khác ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh trồng rừng

* Chính sách đầu tư, tín dụng

Giải quyết vốn đầu tư cho các hộ nông dân trồng rừng kinh tế cần đượcxem xét ưu tiên hàng đầu vì đa số các hộ nông dân còn lạc hậu về khoa học

kỹ thuật và thiếu vốn sản xuất kinh doanh Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ

về mặt tài chính cho người dân tham gia sản xuất kinh doanh như cho vay vớilãi suất ưu đãi, chính sách tín dụng phù hợp giải ngân qua các ngân hàng như

Trang 24

ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn,

hỗ trợ nâng cao năng lực kỹ thuật, kinh tế thông qua các dự án, khuyến khíchnông dân sản xuất, tìm thị trường giúp tiêu thụ sản phẩm cho các hộ nôngdân, hỗ trợ cơ sở hạ tầng, chuyển giao kỹ thuật Mấy năm qua nhà nước đã tậptrung đầu tư thông qua các chương trình quốc gia “xóa đói giảm nghèo”,chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, chương trình 135 đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn, chương trình 120, các tổ chức tíndụng khác cũng ra đời như ngân hàng chính sách xã hội, quỹ hỗ trợ phát triểnsản xuất, với mục đích đáp ứng nhu cầu vốn cho nông dân và các tổ chức sảnxuất kinh doanh hàng hóa lâm sản Nhưng nhìn chung, vốn đầu tư cho sảnxuất lâm nghiệp còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất lâm nghiệp nóichung và trồng rừng kinh tế nói riêng

* Thị trường tiêu thụ

Thị trường là môi trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa xã hội Thịtrường tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển sản xuất hàng hóa trong nền kinh

tế Theo quan điểm thị trường, các nhà kinh tế lâm nghiệp cho rằng thị trường

sẽ là chìa khóa của quá trình sản xuất; thị trường sẽ trả lời câu hỏi sản xuất cáigì? sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợiích của người sản xuất được đảm bảo thì động cơ lợi nhuận và thu nhập sẽthúc đẩy họ tăng cường đầu tư vào sản xuất thâm canh, tạo ra sản phẩm hànghóa cho xã hội [23]

Muốn duy trì được tính ổn định, bền vững của rừng thì công tác trồngrừng phải đạt được hiệu quả kinh tế; sản phẩm rừng trồng phải có thị trườngtiêu thụ, các loại sản phẩm lâm sản ngoài gỗ phải phục vụ được mục tiêutrước mắt cũng như lâu dài của người dân, phương thức canh tác phải gắn vớikiến thức bản địa và được người dân dễ áp dụng Cần phải giải quyết bài toántiêu thụ sản phẩm cho rừng trồng kinh tế, trong đó cần có kế hoạch xây dựng

Trang 25

và phát triển các nhà máy chế biến lâm sản với các quy mô khác nhau trên cơ

sở áp dụng các công cụ chính sách đòn bẩy để thu hút các thành phần kinh tếtham gia đầu tư phát triển rừng

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và trong lĩnh vực kinhdoanh trồng rừng kinh tế nói riêng thì yếu tố thị trường quyết định hiệu quảkinh doanh trồng rừng kinh tế Hiện nay cả thị trường đầu vào, đầu ra của sảnxuất lâm nghiệp đều đã hình thành, các yếu tố và quan hệ thị trường ngàycàng được mở rộng và có tác động to lớn đến phát triển sản xuất hàng hóa nóichung Tuy nhiên, thị trường cho sản xuất lâm nghiệp thiếu tính định hướngthì sẽ nảy sinh tính tự phát, ngẫu nhiên và thiếu sự vận hành đồng bộ nóichung, thiếu hụt các điều kiện thị trường và tác động tự phát của nó gâykhông ít trở ngại, bất lợi cho nông dân và các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh hàng hóa lâm sản

Thị trường lâm sản cũng như thị trường đầu vào vật tư phân bón và cácyếu tố đầu vào khác như cây giống phục vụ cho sản xuất trồng rừng đangngày càng mở rộng nhưng hoạt động vừa mang tính tự phát, vừa mang tínhkhu vực và thời vụ rõ rệt Trong điều kiện như vậy cần phải có thông tin kịpthời thường xuyên cho hộ nông dân, các nhà sản xuất giúp họ phản ứng linhhoạt về thị trường

Điểm nổi bật của việc đổi mới các chính sách, thể chế quản lý lâm sản

và thị trường lâm sản trong thời kỳ đổi mới là: Nhà nước công nhận gỗ là mộtloại hàng hóa thông thường và thực hiện các chính sách, thể chế quản lý thịtrưòng gỗ và lâm sản theo cơ chế thị trường: sản xuất gỗ, lâm sản theo quyluật cung cầu, định giá gỗ và lâm sản đã khai thác và chế biến được lưu thông

tự do trên thị trường Từ đó, các chính sách thị trường lâm sản đã chuyển đổi

và ngày càng chuyển mạnh theo hướng tự do hóa lưu thông các loại hàng hóa

Trang 26

lâm sản, nhất là đối với lâm sản do nhân dân nuôi trồng.

Thị trường lâm sản ở nước ta chưa phát triển đầy đủ tuy nhiên vẫn làmột thị trường tiềm năng Nhu cầu sử dụng gỗ trong nước cho xây dựng vàcác mặt hàng chế biến từ gỗ (giấy, ván nhân tạo) sẽ tăng trong vài năm tới,các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, hàng mộc cao cấp một phần tiêu thụ trênthị trường trong nước, một phần xuất khẩu ra thị trường khu vực (Đông Bắc

Á, Đông Nam Á) và các nước Đông Bắc Âu, Mỹ Tuy nhiên, vẫn đang cónhững khó khăn về tiêu thụ do chất lượng sản phẩm còn thua kém so với cácnước trong khu vực Vì vậy, ngành lâm nghiệp cần xây dựng cơ chế chínhsách phù hợp để phát triển thị trường lâm sản đặc biệt hạ giá thành lâm sản đểtạo sức cạnh tranh trên thị trường

* Cơ sở hạ tầng

Phát triển cơ sở hạ tầng là bước tạo đà để phát triển kinh tế xã hội Đặcđiểm của sản xuất lâm nghiệp là địa bàn nằm ở vùng đồi núi, giao thông đi lạirất khó khăn Do đó, đầu tư mạng lưới cơ sở hạ tầng đường lâm sinh, đườngranh cản lửa, chòi canh, trạm bảo vệ rừng… có tác động tích cực đến sự pháttriển của rừng trồng kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng trồng Hệthống giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển vật tư phân bón, cây giống,sản phẩm thu hoạch khai thác thế mạnh tiềm năng của vùng Cũng như cáckhu vực thành thị, khi đường sá được xây dựng thì giá trị khu đất tăng lên rấtnhiều, ở trong lâm nghiệp cũng vậy khi có đường lâm sinh vào khu rừng xe

cơ giới vào được thì giá trị khu đất cũng tăng rất cao, đây cũng là yếu tố ảnhhưởng rất lớn đến thị trường đất lâm nghiệp hiện nay

* Khoa học công nghệ

Hiệu quả kinh doanh trồng rừng kinh tế bị tác động mạnh mẽ bởi cácnhân tố tiến bộ công nghệ sinh học, công tác giống, quy trình sản xuất giống.Hiện nay, các nước trong khu vực và trên thế giới sử dụng các loại giống có

Trang 27

thời gian sinh trưởng ngắn cho năng suất cao, có khả năng kháng bệnh tốt,hiệu quả kinh tế lớn Việc sản xuất kinh doanh rừng trồng kinh tế phải biết kếthừa các thành tựu tiên tiến của thế giới để áp dụng vào thực tiễn của ViệtNam như giống cây trồng, biện pháp kỹ thuật lai tạo nhân giống…

Để nâng cao năng suất và duy trì tính ổn định bền vững của rừng trồngkinh tế, các nhà khoa học nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu,tuyển chọn tập đoàn cây trồng sao cho phù hợp với điều kiện lập địa, các biệnpháp kỹ thuật lâm sinh, phân vùng sinh thái, tăng trưởng và sản lượng, sâubệnh hại… Có thể nói cho đến nay cơ sở khoa học cho việc phát triển rừngtrồng kinh tế ở các nước phát triển đã được hoàn thiện, tương đối ổn định và

đi vào phục vụ sản xuất lâm nghiệp trong nhiều năm qua

Loài cây trồng và chất lượng giống cây trồng là những nhân tố ảnhhưởng lớn đến năng suất và chất lượng lâm sản Trồng rừng kinh tế là lựachọn loài cây trồng nào để lợi dụng tốt nhất điều kiện khí hậu và đất đai ởvùng đó, phù hợp với điều kiện lập địa có như vậy cây trồng mới phát triểnnhanh Trong những năm qua, nhiều dự án trồng rừng đã không mang lại hiệuquả do khâu chất lượng cây giống không được đảm bảo, nhiều hộ gia đình thuhái giống trôi nổi trên thị trường dẫn đến cây trồng phát triển chậm, khả năngthành rừng thấp dẫn đến không có hiệu quả kinh tế [29]

Trang 28

rút ngắn chu kỳ kinh doanh.

Một trong những điều kiện quan trọng bậc nhất trong trồng rừng thâmcanh là phải có giống tốt Keo lai (Acacia hybrid) là một trong những loài câynguyên liệu quan trọng hiện nay, là cây nhập nội từ châu Úc vào nước ta vàokhoảng năm 1990 Keo lai là cây họ đậu, rễ có nốt sần cố định đạm, có khảnăng cải tạo đất, được trồng phổ biến trên các đồi núi trọc, đất nghèo kiệt GỗKeo làm nguyên liệu chế biến dăm gỗ phục vụ cho ngành công nghiệp giấy,

đồ gia dụng Trong gần hai thập kỷ công tác nghiên cứu cải thiện giống đã đạtđược nhiều thành tựu to lớn và đã tạo ra sự đột phá mới về năng suất [20]

Tuy nhiên, giống tốt chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ, bón phân chocây trồng nói chung và cho rừng trồng nói riêng là một trong những biện pháp

kỹ thuật thâm canh cơ bản nhằm nâng cao năng suất rừng trồng, đặc biệt làrừng trồng nguyên liệu công nghiệp Tùy thuộc vào từng loài cây và từng loạiđất, loại phân, cách thức bón và liều lượng bón cũng rất khác nhau

Mật độ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định khả năng sinhtrưởng cũng như năng suất của rừng trồng Mật độ cao làm cho cây rừngkhông đủ không gian sinh dưỡng, phát triển không cân đối; mật độ thưa sẽ tạođiều kiện cho thực bì phát triển mạnh chèn ép cây trồng, ảnh hưởng đến năngsuất chất lượng của rừng trồng Tùy theo mục đích kinh doanh, mật độ trồngrừng rất khác nhau

* Nhân tố về lao động

Lao động với tư cách là chủ thể có khả năng nhận thức các quy luậtkhách quan Bởi vậy, sản xuất kinh doanh rừng trồng có đạt hiệu quả haykhông là do nhân tố con người Con người là nhân tố quyết định sự thànhcông trong lĩnh vực kinh doanh trồng rừng Với tư cách là chủ thể cơ cấu laođộng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh trồng rừng, cơ cấu laođộng hợp lý sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Tuy nhiên, trong cơ cấu lao độngcũng xem xét đến trình độ lao động, trình độ dân trí nó ảnh hưởng lớn đến

Trang 29

năng suất chất lượng sản phẩm

Hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão đòi hỏi trình độ laođộng ngày càng phải nâng cao để nắm bắt và ứng dụng được khoa học kỹthuật, nhất là công nghệ sinh học vào giống cây trồng theo ý chủ quan của conngười Trình độ thâm canh cũng thể hiện trình độ dân trí, trình độ áp dụngkhoa học kỹ thuật, có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất kinh doanhtrồng rừng Trình độ canh tác lạc hậu, đầu tư không hợp lý dẫn đến năng suấtthấp hiệu quả kém, lãng phí đất đai, môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng, đedọa đến sự phát triển bền vững trong tương lai Trình độ canh tác cao, khaithác tài nguyên đất đai tài nguyên rừng hợp lý, hiệu quả kinh tế cao, đáp ứngđược nhu cầu thị trường, bảo vệ được môi trường sinh thái

Đặc thù sản xuất lâm nghiệp nói chung và kinh doanh trồng rừng nóiriêng có tính thời vụ cao, do vậy số lượng lao động có ảnh hưởng lớn đến hiệuquả trồng rừng kinh tế Chẳng hạn điều kiện tự nhiên, đất đai thuận lợi cho việcphát triển trồng rừng nguyên liệu tập trung sử dụng nhiều lao động, nhưng cunglao động không đáp ứng đủ thì trồng rừng hiệu quả sẽ khó thực hiện

* Thông tin, tuyên truyền

Thông tin có tầm quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt làtrong phát triển rừng trồng kinh tế, do đó cần phải hiểu một cách đầy đủ vềvai trò vị trí của thông tin trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp Ngày nay,thông tin không còn là một sản phẩm để mặc cả, để bán hoặc giữ bí mật mà

đã trở thành sở hữu của nhân loại

Những thông tin về khoa học công nghệ, kỹ thuật thâm canh, KNKL,đầu tư tín dụng, thông tin về nhu cầu thị trường, giá cả, chủng loại, chất lượngsản phẩm, thông tin về các chủ trương chính sách… cũng như các thông tin

về dự tính dự báo xu hướng thị trường cũng cần được phổ biến rộng rãi, kịpthời, người dân cũng như các thành phần kinh tế khác dễ dàng tiếp cận để họ

Trang 30

chủ động có kế hoạch sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thịtrường đạt hiệu quả cao Thông tin còn là phương thức hữu hiệu gắn bó Nhànước, các tổ chức kinh tế với người dân, nâng cao hiệu quả của quản lý Nhànước

1.6 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.6.1 Kinh nghiệm phát triển rừng trồng kinh tế trên thế giới

Vấn đề nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng kinh tế được xem làmối quan tâm hàng đầu đối với nhiều quốc gia trên thế giới Cho đến nay thì

cơ sở khoa học của phát triển bền vững rừng trồng kinh tế ở các nước pháttriển đã được hoàn thiện và đã đưa vào phục vụ sản xuất lâm nghiệp trongnhiều năm qua

* Về giống cây trồng

Không có giống được cải thiện thì không thể đưa năng suất rừng lêncao Thành công của công tác trồng rừng kinh tế trước hết phải kể đến côngtác giống cây trồng, một lĩnh vực nghiên cứu mang tính đột phá và đã thuđược những thành tựu to lớn

Năm 1991, Campinhos đã thông báo kết quả thực tiễn năng suất rừngtrồng ở Braxin tăng lên không ngừng trong suốt 30 năm nhờ làm tốt công táctuyển chọn giống và nhân giống bằng hom kết hợp thâm canh, từ 13

m3/ha/năm vào năm 1960 đã tăng lên 35 m3/ha/năm vào năm 1980 và năm

1990 là 60 m3/ha/năm

Ở Nam Phi (theo Quaile, 1989), rừng trồng bằng cây con từ hạt chỉ đạttăng trưởng bình quân 21,9 m3/ha/năm, trong khi đó các dòng vô tính trồngđại trà đạt trên 30 m3/ha/năm Tác giả cho rằng, giai đoạn đầu rừng trồng từhạt đôi khi cao hơn rừng trồng từ dòng vô tính, do vậy dùng số liệu chiều caotrong hai năm đầu có thể dẫn đến kết luận sai lầm Các dòng vô tính từ vậtliệu chọn giống thế hệ cho năng suất cao hơn và đồng đều hơn cây con từ hạt

Trang 31

Kết luận trên của Quaile là đòn bẩy khích lệ công tác trồng rừng vô tính phục

vụ nguyên liệu công nghiệp ở Nam Phi

Theo Covin (1990) tại Pháp và Italia, nhiều khu rừng cung cấp nguyênliệu giấy cũng đạt năng suất 40-50 m3/ha/năm, kết quả là hàng ngàn ha đấtnông nghiệp được chuyển đổi thành đất lâm nghiệp để trồng rừng cung cấpnguyên liệu giấy đạt hiệu quả kinh tế cao

* Về kỹ thuật lâm sinh

Bên cạnh công tác giống cây trồng, các biện pháp lâm sinh như phươngthức trồng rừng, kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng rừng trồng kinh tế cũngđược quan tâm nghiên cứu

Ở Malaysia người dân đã xây dựng rừng nhiều tầng hỗn loài gồm rừng

tự nhiên, rừng Keo lai hom và rừng Tếch, đã sử dụng 23 loài cây có giá trịtrồng theo băng 10m, 20m, 30m, với nhiều phương thức hỗn giao khác nhau.Matthew, J Kekty (1995) đã nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗnloài giữa cây gỗ và cây họ đậu Nhiều diện tích đất bị thoái hóa mạnh đã đượcđưa vào trồng rừng đạt hiệu quả cao

Theo Bradford R Phillip (2001) ở Fuji người dân đã trồng một số loàitre luồng trên đồi vừa để bảo vệ đất và đem lại hiệu quả kinh tế cho những hộgia đình nghèo, Ở Indonesia người ta đã áp dụng phương thức nông lâm kếthợp với cây Tếch,… Đây là một trong những hướng đi rất phù hợp đối vớivùng đồi ở một số nước khu vực Đông Nam châu Á, trong đó có nước ta

* Về các chính sách pháp luật

Muốn duy trì được tính ổn định, bền vững của rừng trồng thì công táctrồng rừng phải đạt được hiệu quả kinh tế, sản phẩm rừng trồng phải có thịtrường tiêu thụ, các loại sản phẩm lâm sản ngoài gỗ phải phục vụ được mụctiêu trước mắt cũng như lâu dài của người dân, phương thức canh tác phải gắnvới kiến thức bản địa và người dân được dễ dàng áp dụng

Trang 32

Nghiên cứu của Ianuskow K (1996) khuyến cáo cần phải giải quyếtvấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các khu rừng trồng kinh tế, trong đócần có kế hoạch xây dựng và phát triển các nhà máy chế biến lâm sản với cácquy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ chính sách đòn bẩy để thuhút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng.

Theo Thom R Waggener (2000) để phát triển trồng rừng theo hướngsản xuất hàng hóa với hiệu quả kinh tế cao không chỉ đòi hỏi phải có sự đầu

tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật mà còn phải nghiên cứu làm sáng tỏ hàngloạt vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường

Các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Cananda… nghiên cứu về kinh tếlâm nghiệp ở các quốc gia này được tập trung vào hai vấn đề lớn, có vai tròquyết định đối với rừng trồng kinh tế là thị trường và khả năng cạnh tranh cácsản phẩm

Ở Phần Lan hiện có trên 430 nghìn chủ rừng là tư nhân, trung bình mỗichủ rừng có khoảng 33 ha Nhà nước công nhận quyền sở hữu cá nhân vềrừng đã làm cho rừng trồng phát triển mạnh cả về diện tích cũng như năngsuất chất lượng

Liu Jinlong (2004) qua phân tích và đánh giá tình hình thực tế đã đưa

ra một số công cụ khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân tham gia pháttriển rừng trồng kinh tế ở Trung Quốc là: i) Rừng và đất rừng cần được tưnhân hoá; ii) Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của nhànước; iii) Giảm thuế đánh vào lâm sản từ rừng trồng; iv) Đầu tư tài chính cho

tư nhân trồng rừng; và v) Tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp nhànước với người dân để phát triển trồng rừng Những công cụ mà tác giả đềxuất tương đối toàn diện từ các quan điểm chung về quản lý lâm nghiệp, vấn

đề đất đai, thuế,… cho tới mối quan hệ giữa các doanh nghiệp nhà nước vàngười dân Có thể nói, đây thực sự là đòn bẩy thúc đẩy người dân tham gia

Trang 33

phát triển rừng trồng kinh tế ở Trung Quốc và cũng là định hướng quan trọngcho các nước đang phát triển khác, trong đó có Vịêt Nam.

Các hình thức trồng rừng cũng được nhiều tác giả trên thế giới quantâm nghiên cứu như Narong Mahannop (2004) ở Thái Lan, Ashadi and NinaMindawati (2004) ở Indonesia,… Các tác giả cho biết hiện nay ở các nướcĐông Nam Á, có ba vấn đề được xem là quan trọng để khuyến khích ngườidân tham gia trồng rừng kinh tế là: i) Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất;ii) Quy định rõ ràng chính sách hưởng lợi rừng trồng; và iii) Nâng cao hiểubiết và nắm bắt kỹ thuật của người dân

Đây cũng là vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Namđang nỗ lực giải quyết để thu hút nguồn vốn tư nhân đầu tư vào trồng rừng

1.6.2 Kinh nghiệm phát triển rừng trồng kinh tế ở Việt Nam

Ở Việt Nam trong những thập kỷ vừa qua, vấn đề trồng rừng và kinhdoanh rừng trồng ngày càng được quan tâm Bên cạnh những cây bản địađược gây trồng thành công như mỡ, tre luồng, thông nhựa thì một số loàicây mọc nhanh như Keo, Bạch đàn với nhiều xuất xứ cũng được tham gia vào

cơ cấu cây trồng trong lâm nghiệp Vấn đề phát triển rừng trồng kinh tế đãđược quan tâm đầu tư, nhất là khi nhà nước có chủ trương phát triển ngànhcông nghiệp chế biến gỗ Các công trình nghiên cứu đã tập trung vào công táctuyển chọn, lai tạo các giống có năng suất và chất lượng cao, các biện pháp kỹthuật trồng rừng, điều kiện lập địa cũng như các cơ chế chính sách Nhờ vậy,rừng trồng kinh tế trong những năm qua đã có bước phát triển về chất

Công tác cải thiện giống là một trong các lĩnh vực được quan tâm nhiều

và đạt được những thành tựu đáng kể, có nhiều giống được nhà nước côngnhận như Keo lai dòng BV10, BV16, BV32 Giống vô tính nhập nội cũngsớm được đánh giá và nhân rộng Giống được cải thiện kết hợp với các biện

Trang 34

pháp kỹ thuật thâm canh đồng bộ đã đóng vai trò quan trọng trong việc nângcao năng suất rừng trồng nguyên liệu công nghiệp [29]

Giai đoạn 1992-1995, trong khuôn khổ của chương trình KN03-03,Hoàng Xuân Tý và các cộng sự đã tiến hành đề tài KN03-13 có tên là: Nângcao công nghệ thâm canh rừng trồng (Keo, Bạch đàn), sử dụng cây họ đậu đểcải tạo đất và nâng cao sản lượng rừng ở vùng Đông Nam Bộ Nhóm tác giả

đã đề xuất một tổ hợp phân hữu cơ vi sinh thích hợp để bón lót và bón thúccho Bạch đàn ở vùng Sông Bé, đồng thời kiến nghị không nên trồng rừngkinh tế với mật độ 1.100 cây/ha vì tán quá thưa sẽ tạo điều kiện cho cỏ dạiphát triển, tốn công làm cỏ và không có lợi cho sinh trưởng của cây trồng

Đỗ Đình Sâm (2001) đã nghiên cứu dạng lập địa và áp dụng các biệnpháp kỹ thuật lâm sinh vào trồng rừng nguyên liệu công nghiệp tại các vùngĐông Nam Bộ, Tây Nguyên trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế Kết quảnghiên cứu cho thấy, năng suất rừng trồng kinh tế và lập địa gây trồng cóquan hệ mật thiết với nhau, điều kiện lập địa khác nhau thì lượng tăng trưởngcủa rừng trồng cũng khác nhau; độ dầy tầng đất và loại đất có ảnh hưởng lớntới năng suất rừng trồng; giống được cải thiện, làm đất và bón phân hợp lýđều nâng cao năng suất rừng trồng Rõ ràng là để nâng cao năng suất rừngtrồng kinh tế, cần phải chọn giống đã được cải thiện, chọn lập địa phù hợp

Để phát huy năng suất, tiềm năng của nguồn giống đã cải thiện, cần tiến hànhthâm canh rừng trồng thông qua các biện pháp làm đất, bón phân hợp lý [30]

Cùng với sự đổi mới của đất nước, ngành lâm nghiệp của nước ta đã cónhững bước chuyển biến đáng kể trên nhiều lĩnh vực, công tác tổ chức quản

lý, các hoạt động nghiên cứu khoa học về xây dựng và phát triển rừng đượcquan tâm nhiều hơn Hàng loạt các chương trình, dự án lớn về trồng rừng đãđược thực hiện trên khắp cả nước, nhiều mô hình rừng trồng kinh tế quy mô

Trang 35

lớn đã được thiết lập, các biện pháp kỹ thuật trồng rừng đã được xây dựngthành quy trình, quy phạm.

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý

Thừa Thiên Huế nằm ở trung độ cả nước trên 2 trục giao thông quantrọng Quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Bắc Nam Tỉnh có sân bay Phú Bài,cảng nước sâu Chân Mây và cảng biển Thuận An, có cửa khẩu Cu Tai-HồngVân và A Đớt-Tà Vàng tạo lợi thế giao lưu mậu dịch trong nước và quốc tế

Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 505.453,4 ha

Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị,

Phía Tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào,

Phía Đông giáp biển Đông,

Phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng

Toàn tỉnh được chia làm 5 vùng:

- Vùng núi: là dải đất phía Tây của tỉnh từ A Lưới đến Hải Vân, gồm

Trang 36

những dãy núi cao liên tiếp, có độ cao trung bình 1.000 m, độ dốc bình quân

350 Trong vùng núi có hai thung lũng là Nam Đông và A Lưới tương đốibằng phẳng Nhìn chung địa hình vùng núi hiểm trở, bị chia cắt mạnh bởi hệthống sông suối, độ dốc lớn nên khó khăn trong sản xuất nghề rừng

- Vùng gò đồi: là vùng tiếp giáp giữa vùng núi và đồng bằng, gồmnhững dãy đồi bát úp, lượn sóng phân bố ở các huyện Phong Điền, HươngTrà, Hương Thủy, Phú Lộc, có độ cao từ 300 m trở xuống, độ dốc bình quân

từ 15-250 Vùng này bao gồm nhiều diện tích rừng trồng, rừng tự nhiên nghèokiệt và đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp

- Vùng đồng bằng: là vùng đất hẹp chạy dài theo quốc lộ 1A từ PhongĐiền đến đèo Hải Vân, đây là diện tích đất phù sa được bồi tụ do sông suối, làquỹ đất bố trí cho sản xuất nông nghiệp và sinh sống của nhân dân

- Vùng đầm phá có phá Tam Giang, đầm Sam, đầm An Cư, đầm CầuHai và đầm Lăng Cô

- Vùng cát ven biển là phần đất phía đông của Tỉnh, có độ cao từ 3-6 m

* Địa chất, thổ nhưỡng

Theo kết quả điều tra lập địa và xây dựng bản đồ dạng đất phục vụ Dự

án trồng mới 5 triệu ha rừng do Phân viện điều tra quy hoạch rừng trungTrung bộ xây dựng năm 1999 thì tỉnh Thừa Thiên Huế có các nhóm đất sau:

Bảng 2.1: Thổ nhưỡng tỉnh Thừa Thiên Huế Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Nhóm đất cát nội đồng và ven biển 22.650,0 4,5

Trang 37

Các loại đất khác 97.459,4 19,3

(Nguồn: Phân viện điều tra quy hoạch rừng trung Trung bộ)

Đặc điểm của nhóm đất Feralit là có tính chất chua, nghèo dinh dưỡng,phần lớn diện tích đất này là đất lâm nghiệp Nhóm đất phù sa ven sông suốihình thành do quá trình bồi tụ lắng đọng ở hạ lưu các con sông nên có độ dàytầng đất khá cao >100 cm, thích nghi cho sản xuất nông nghiệp Nhóm đất cátnội đồng và ven biển do cấu tạo hạt thô rời rạc, khả năng giữ nước kém,nghèo dinh dưỡng, vì vậy dễ bị tác động xâm thực của yếu tố môi trường nhưgió, nước ảnh hưởng lớn đến khả năng phòng hộ Các loại đất khác bao gồmđất ngập nước, đất xói mòn trơ sỏi đá…

* Khí hậu, thủy văn

Thừa Thiên Huế có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độcao và chế độ bức xạ phong phú, gồm 2 mùa rõ rệt là mùa khô nóng và mùamưa lạnh Nhiệt độ trung bình năm là 23,50C, cao nhất 38,50C, thấp nhất12,10C Tổng lượng mưa bình quân năm toàn tỉnh là 3.323 mm, phân bốkhông đồng đều Độ ẩm trung bình năm là 87,5%

Tỉnh Thừa Thiên Huế chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính: Gió mùaĐông Bắc xuất hiện từ tháng 9 trong năm đến tháng 2 năm sau, thường kèmtheo mưa Gió mùa Tây Nam xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 7 trong năm, cóđặc điểm khô nóng nên thường gây hạn hán và cháy rừng

Hệ thống sông suối trong tỉnh phân bố khá đều khắp Tuy nhiên, do đặcđiểm chung của các con sông là ngắn và dốc, cửa sông hẹp, lưu lượng nướckhông đều nên mùa mưa thường xảy ra lũ lụt, mùa khô xảy ra hiện tượngnước mặn xâm thực đồng ruộng, ảnh hưởng đến sản xuất nông lâm nghiệp vàđời sống của nhân dân

Trong những năm gần đây, tình hình bão lụt thường xuyên xảy ra vớitần suất cao và cường độ lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản và con

Trang 38

người Vì vậy, công tác bảo vệ và phát triển rừng cần được quan tâm đúngmức, trong đó phát triển trồng rừng kinh tế cũng sẽ góp phần để làm tốt chứcnăng phòng hộ của rừng nhằm giảm thiểu những tác động do thiên tai gây ra.

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

* Dân số, lao động

Theo số liệu của Cục Thống kê, dân số Thừa Thiên Huế năm 2006 là1.137.962 người, tăng 11.699 người so với năm 2005 Tỷ lệ tăng tự nhiênnăm 2005 là 1,33%, năm 2006 giảm còn 1,28%

Bảng 2.2: Cơ cấu dân số, lao động tỉnh Thừa Thiên Huế

- Nam 552.365 49,0 559.518 49,2 7.153 101,29

- Nữ 573.928 51,0 578.444 50,8 4.516 100,79 Phân theo khu vực

- Thành thị 352.249 31,3 357.682 31,4 5.433 101,54

- Nông thôn 774.044 68,7 780.280 68,6 6.236 100,81

2 Tỷ lệ tăng tự nhiên 1,33 1,28 96,24

3 Lao động 760.890 779.510 18.620 102,45 Phân theo giới tính

- Nam 374.371 49,2 383.272 49,2 8.901 102,38

- Nữ 386.519 50,8 396.238 50,8 9.719 102,51 Phân theo khu vực

- Thành thị 252.615 33,2 242.553 31,1 -10.062 96,02

- Nông thôn 508.275 66,8 536.957 68,9 28.682 105,64

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế) [13]

Trang 39

Tổng số lao động toàn tỉnh năm 2006 là 779.510 người, trong đó laođộng nam là 383.572 người, chiếm tỷ lệ 49,2%; lao động nữ là 396.238người, chiếm tỷ lệ 50,8% So với năm 2005, số lao động năm 2006 tăng18.620 người, tỷ lệ tăng 102,45% Tuy nhiên, số lao động có sự biến độngngược chiều nhau ở hai khu vực: lao động ở thành thị là 242.553 người, giảm10.062 người, trong khi đó lao động ở nông thôn tăng 28.682 người lên536.957 người, tỷ lệ tăng 105,64% Điều đó cho thấy kinh tế xã hội ở khu vựcnông thôn đã có bước chuyển biến mạnh mẽ, thu hút được nhiều lao động đểtạo đà phát triển trong tương lai.

* Cơ sở hạ tầng giao thông

Hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh nhìn chung tương đối thuận lợi.Tuyến Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua các huyện PhongĐiền, Hương Trà, Thành phố Huế, Hương Thủy, Phú Lộc Hầm đường bộ HảiVân mới được đưa vào khai thác sử dụng đã rút ngắn thời gian đi lại với cáctỉnh phía Nam và ngược lại Ở phía Tây có tuyến đường Hồ Chí Minh đi quahuyện miền núi A Lưới Ngoài ra, còn có tuyến Quốc lộ 49 nối cảng biểnThuận An với huyện A Lưới, các đường tỉnh lộ và liên huyện liên xã tạo nênmạng lưới giao thông phủ kín địa bàn Riêng hai huyện miền núi A Lưới vàNam Đông vào mùa mưa thường hay xảy ra tình trạng sạt lở, gây ách tắc giaothông đi lại khó khăn Ngoài hệ thống đường bộ và đường sắt thì Thừa ThiênHuế còn có các cảng biển Thuận An, Chân Mây và cảng hàng không Phú Bàirất thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển và lưu thông hàng hoá

Với mạng lưới giao thông tương đối khép kín là điều kiện thuận lợi choviệc vận chuyển vật tư nguyên liệu trồng rừng cũng như vận chuyển lâm sảnkhai thác, sản phẩm hàng hóa bằng nhiều loại hình vận chuyển khác nhau

* Thủy lợi, điện năng

Hệ thống thủy lợi trong tỉnh gồm có các hồ đập lớn như hồ Truồi, hồHòa Mỹ và hệ thống kênh mương đảm bảo cho việc cung cấp nước cho sảnxuất và sinh hoạt của người dân Hiện nay hồ Tả Trạch đang được thi công

Trang 40

xây dựng ngoài chức năng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của cácđịa phương Hương Thủy, thành phố Huế, Phú Vang còn có tác dụng điều tiết

lũ vào mùa mưa cho vùng hạ lưu

Hệ thống điện năng cung cấp cho sản xuất và tiêu dùng của tỉnh tươngđối hoàn thiện, 100% số xã đã có điện lưới quốc gia Hiện nay tỉnh đang khởicông xây dựng các nhà máy thủy điện Hương Điền, Bình Điền và A Lưới vừa

có tác dụng cung cấp điện, nước cho sản xuất vừa có tác dụng điều tiết nguồnnước chống lũ lụt vào mừa mưa

Hệ thống thủy lợi, thủy điện vừa có chức năng cung cấp điện, nước chosản xuất và sinh hoạt, vừa có vai trò nâng cao độ ẩm môi trường, giúp tăngcường khả năng sinh trưởng và phát triển của cây rừng, đồng thời tạo điềukiện phát triển du lịch sinh thái

* Bưu chính viễn thông

Hệ thống thông tin liên lạc của tỉnh tương đối hoàn thiện, đảm bảothông tin liên lạc được thông suốt, 100% số xã được phủ sóng truyền thanhtruyền hình đảm bảo phục vụ cho nhu cầu của người dân

* Tình hình phát triển kinh tế

Thừa Thiên Huế là một trong các tỉnh miền Trung có nền kinh tế pháttriển khá năng động, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm bình quân giai đoạn2004-2006 đạt 12,3%/năm

Bảng 2.3: Cơ cấu GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh TT-Huế

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng % Tổng GDP 3.123 100 3.474 100 3.941 100 12,3

- Nông, lâm, thủy sản 627 20,1 660 19,0 690 17,5 4,9

Ngày đăng: 04/08/2013, 20:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Cơ cấu dân số, lao động tỉnh Thừa Thiên Huế - Tác động của các nhà máy chế biến dăm gỗ đối với sự phát triển rừng trồng kinh tế ở thừa thiên huế
Bảng 2.2 Cơ cấu dân số, lao động tỉnh Thừa Thiên Huế (Trang 38)
Bảng 2.3: Cơ cấu GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh TT-Huế (giá so sánh năm 1994) - Tác động của các nhà máy chế biến dăm gỗ đối với sự phát triển rừng trồng kinh tế ở thừa thiên huế
Bảng 2.3 Cơ cấu GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh TT-Huế (giá so sánh năm 1994) (Trang 40)
Bảng 3.2: Tình hình thu mua gỗ nguyên liệu của các nhà máy - Tác động của các nhà máy chế biến dăm gỗ đối với sự phát triển rừng trồng kinh tế ở thừa thiên huế
Bảng 3.2 Tình hình thu mua gỗ nguyên liệu của các nhà máy (Trang 53)
Bảng 3.6: Biến động diện tích rừng trồng kinh tế của tỉnh TT-Huế - Tác động của các nhà máy chế biến dăm gỗ đối với sự phát triển rừng trồng kinh tế ở thừa thiên huế
Bảng 3.6 Biến động diện tích rừng trồng kinh tế của tỉnh TT-Huế (Trang 58)
Bảng 3.8: Biến động cơ cấu các loài cây trồng rừng ở Thừa Thiên Huế - Tác động của các nhà máy chế biến dăm gỗ đối với sự phát triển rừng trồng kinh tế ở thừa thiên huế
Bảng 3.8 Biến động cơ cấu các loài cây trồng rừng ở Thừa Thiên Huế (Trang 62)
Bảng 3.9: Biến động các chỉ tiêu chủ yếu của ngành lâm nghiệp TT-Huế Các chỉ tiêu ĐVT 1999 2006 So sánh 2006/1999 - Tác động của các nhà máy chế biến dăm gỗ đối với sự phát triển rừng trồng kinh tế ở thừa thiên huế
Bảng 3.9 Biến động các chỉ tiêu chủ yếu của ngành lâm nghiệp TT-Huế Các chỉ tiêu ĐVT 1999 2006 So sánh 2006/1999 (Trang 66)
Bảng 3.10: Biến động quy mô, cơ cấu diện tích các loại đất của hộ điều tra - Tác động của các nhà máy chế biến dăm gỗ đối với sự phát triển rừng trồng kinh tế ở thừa thiên huế
Bảng 3.10 Biến động quy mô, cơ cấu diện tích các loại đất của hộ điều tra (Trang 71)
Bảng 3.11: Biến động tình hình sử dụng lao động của hộ điều tra - Tác động của các nhà máy chế biến dăm gỗ đối với sự phát triển rừng trồng kinh tế ở thừa thiên huế
Bảng 3.11 Biến động tình hình sử dụng lao động của hộ điều tra (Trang 72)
Bảng 3.12: Biến động cơ cấu vốn đầu tư cho sản xuất của hộ điều tra - Tác động của các nhà máy chế biến dăm gỗ đối với sự phát triển rừng trồng kinh tế ở thừa thiên huế
Bảng 3.12 Biến động cơ cấu vốn đầu tư cho sản xuất của hộ điều tra (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w