Luận văn, khóa luận, chuyên đề, tiểu luận, bài tập, đề tài, nông nghiệp, công nghiệp
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết và ý nghĩa của đề tài
Kết thúc thế kỷ XX, bước vào thế kỷ XXI, bối cảnh trong nước và quốc
tế tiếp tục có những thay đổi mau chóng Đảng ta đề ra mục tiêu: “Phấn đấu trong giai đoạn 2001-2010 đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[12]
Đảng chủ trương: "Đẩy mạnh hơn nữa CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Phát triển toàn diện nông nghiệp, chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỷ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất Khẩn trương xây dựng các quy họạch phát triển nông thôn và thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở các vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, giao thông, các khu đô thị mới Chuyển dịch
cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỉ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ Tạo điều kiện
để lao động nông thôn có việc làm trong và ngoài khu vực nông thôn, kể cả ở nước ngoài" [13].
Điều này hứa hẹn mở ra những bước đột phá trong nhiều lĩnh vực kinh
tế- xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu cao cả của Đảng ta “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cũng đi liền với quá trình đô thịhoá, quá trình nâng cấp, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và các công trìnhphục vụ lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia Tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại
Trang 2hoá càng nhanh thì trình độ đô thị hoá càng cao, hệ thống cơ sở hạ tầng và cáccông trình công cộng càng đồng bộ, càng hiện đại
Để làm được công việc ấy, tất yếu là phải phân bổ lại các nguồn lực pháttriển nền kinh tế, trong đó trước hết là nguồn nhân lực, đất đai và lao động.Phải chuyển một bộ phận đất đai, trước hết là đất nông nghiệp sang phục vụcho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, cho việc mở rộng cáckhu đô thị cũ và xây dựng các khu đô thị mới, cũng như cho việc xây dựng,phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và các công trình công cộng phục vụ lợi íchcủa cộng đồng và quốc gia
Thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trongnhững năm qua trên khắp các vùng miền của đất nước, nhiều khu công nghiệpvới quy mô khác nhau được hình thành và đi vào hoạt động Cùng với xuhướng đó, quá trình xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia cũng đangdiễn ra rất nhanh ở nước ta, không chỉ đối với các thành phố lớn như Hà Nội,Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hải Phòng, mà đốivới hầu hết các tỉnh, thành phố khác trên phạm vi cả nước trong đó thành phốHuế, tỉnh Thừa Thiên Huế cũng không nằm ngoài quy luật đó
Xuất phát từ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá đangdiễn ra và những tác động của nó đến cuộc sống của người dân thành phố Huế.Nhằm đánh giá đúng thực trạng việc làm, thu nhập và đời sống của người bịthu hồi đất, làm cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới chính sách trong quá trình đô
thị hóa, bản thân tôi đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu: “Giải quyết vấn đề việc
làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân bị thu hồi đất ở thành phố Huế ” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài có các mục tiêu chủ yếu sau đây:
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động của vấn đề thuhồi đất đến việc làm, thu nhập và đời sống của người dân
Trang 3- Đánh giá thực trạng sự tác động của vấn đề thu hồi đất ảnh hưởng đếnviệc làm, thu nhập và đời sống của người dân, chỉ ra những thành tựu, hạn chế,nguyên nhân của vấn đề này.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp để giải quyết việc làm, nâng cao thu
nhập và đời sống cho người dân bị thu hồi đất ở thành phố Huế trong những
năm tới
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Như tên đề tài đã chỉ rõ, đề tài tập trung nghiên cứu, giải quyết vấn đề việclàm, nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân bị thu hồi đất
Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vựckinh tế - xã hội trên phạm vi toàn thành phố Đề tài giới hạn phạm vi nghiêncứu như sau:
- Về phạm vi thời gian:
+ Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm thu nhập và đời sốngcủa người có đất bị thu hồi từ năm 2005 đến năm 2008 Đây là thời kỳ đô thịhóa đã diễn ra rất nhanh chóng, đồng thời, nhiều vấn đề bức xúc trong quátrình thu hồi đất cũng nảy sinh chủ yếu trong thời gian này
+ Phạm vi thời gian cho các đề xuất trong đề tài là thời kỳ 2009-2012,đặt trong tầm nhìn đến năm 2020
Trang 44 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập và đời sốngcho người dân bị thu hồi đất là một đề tài có tính ứng dụng cao Để thực hiện tốtnhiệm vụ, đề tài sử dụng tổng hợp một hệ thống các phương pháp nghiên cứu chủyếu sau đây:
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét các vấn
đề đặt ra một cách khách quan và khoa học
- Luận văn cũng sử dụng các phương pháp điều tra tổng hợp và phân tích
số liệu thống kê; phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tổ thống kê, phântích hồi quy logistic (sử dụng hàm phân tích phân lập, hồi quy tương quan) đểphân tích thực trạng và đề ra các giải pháp cho giải quyết vấn đề việc làm, nângcao thu nhập và đời sống cho người dân bị thu hồi đất tại địa phương
5 Phạm vi và quy mô điều tra, khảo sát:
Được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn, đề tài đã tiến hành điều tra,
phỏng vấn, khảo sát tại 6 phường là An Đông, An Tây, Xuân Phú, Vỹ Dạ, AnHòa và Hương Sơ thuộc thành phố Huế (phụ lục A: địa điểm của các đơn vịđiều tra)
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phụ lục (số liệu điều tra khảo sát), đề tài gồm cácphần lớn sau đây:
- Chương I: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hóa, tác động của
việc thu hồi đất
- Chương II: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu, thực trạng thu hồi đất, thực
trạng bồi thường, thực trạng việc làm, giải quyết việc làm thu nhập và đời sốngcủa người có đất bị thu hồi từ kết quả điều tra thực tế của bản thân
- Chương III: Quan điểm và giải pháp về giải quyết việc làm, nâng cao
thu nhập và đời sống của người có đất bị thu hồi của thành phố trong nhữngnăm tới
- Kết luận và kiến nghị.
Trang 5CHƯƠNG 1 CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ, ĐÔ THỊ HOÁ
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT
1.1 CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ, ĐÔ THỊ HOÁ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HỒI ĐẤT
1.1.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá là quá trình phát triển của mọi quốc gia trên thế giới
Trong quá trình công nghiệp hoá, tiến trình phát triển xã hội đã có sựthay đổi cơ bản, đó là:
- Phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn;
Trang 6Cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá được coi như một khíacạnh quan trọng của sự vận động đi lên của xã hội Đô thị hoá là một quá trìnhlịch sử trong đó nổi lên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng cao vai trò của đôthị trong sự phát triển mọi mặt của xã hội Quá trình này bao gồm sự thay đổitrong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong sự phân bố dân cư, trongkết cấu nghề nghiệp - xã hội, kết cấu dân số, trong lối sống, văn hoá.
Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư đô thị Đồng thời đó là quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sảnxuất phi nông nghiệp tăng Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại không gian đô thị
mở rộng, Hiện tượng đô thị hoá được coi là một trong những nét đặc trưngnhất của sự biến đổi xã hội trong thời đại ngày nay
Đô thị hóa là hiện tượng tất yếu, một quy luật mang tính khách quan và
có tính toàn cầu với sự chuyển đổi mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện các lĩnh vựcsản xuất, cơ sở hạ tầng,… di dân từ nông thôn ra thành thị, sự tập trung dân cưtại các đô thị theo tỷ lệ ngày càng cao Đô thị hoá là động lực cho sự phát triểnvới sự tăng trưởng về năng suất lao động do tích tụ tập trung tài nguyên (laođộng, vốn) và đem đến cho người dân nông thôn văn minh đô thị và lối sốngcông nghiệp
Như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá là quá trình biến
đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân
cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồngthời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vậtchất kỹ thuật và tăng quy mô dân số ở các đô thị
Các đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân, tích luỹcủa nền kinh tế và nguồn thu cho ngân sách quốc gia Các đô thị lớn đã trởthành những vùng động lực có tốc độ tăng trưởng cao và có đóng góp quantrọng vào việc tăng quy mô của nền kinh tế, tăng giá trị công nghiệp, dịch vụ
và xuất khẩu của cả nước Các đô thị lớn thực sự là các trung tâm chính trịkinh tế văn hoá, khoa học kỹ thuật, thương mại của các vùng và cả nước, lànhững đầu tàu trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là hợp tác và giao lưu quốc tế
Trang 7Vai trò tích cực của phát triển đô thị được thể hiện trong sơ đồ dưới đây:
Biểu đồ 1.1 : Vai trò và tác động tích cực của phát triển đô thị
Phát triển
đô thị
Phát triển và phân
bố các ngành công nghiệp mới
Tăng việc làm
và dân số trong
vùng
Tạo ra các ngoại ứng tới các hoạt động kinh tế
Cung cấp kết cấu hạ tầng tốt hơn cho sản xuất
và đời sống Nâng cao
trình độ của lao động
công nghiệp
Phát triển các ngành sản xuất đáp ứng nhu cầu đầu vào của công nghiệp
Mở rộng quy mô
và phát triển các ngành dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống
Nâng cao phúc lợi xã hội cho các vùng
Trang 81.1.1.2 Tác động tiêu cực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá
Đô thị hoá đã tạo tiền đề để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến lượt nócông nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thúc đẩy đô thị hoá với vận tốc ngày càngnhanh Thực tế, mặt trái công nghiệp hoá với mặt trái đô thị hoá cộng hưởngvới mặt trái kinh tế thị trường, tạo ra thách thức không dễ gì vượt qua được.Bên cạnh những mặt thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con người, sự pháttriển nhanh chóng các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đáng
kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến môi trường sinh thái do tàinguyên đất bị khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, khối lượng rác thải và sửdụng nước sạch tăng, ô nhiễm các chất thải từ sản xuất công nghiệp và sinhhoạt, giảm diện tích cây xanh và mặt nước, bùng nổ giao thông cơ giới,… Như đã nêu ở trên, CNH, HĐH và đô thị hoá là một quá trình tất yếu đốivới bất cứ một dân tộc nào, một quốc gia nào trong quá trình xây dựng và pháttriển Quá trình đô thị hoá cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sảnxuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chứckhông gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị Với rất nhiềuthay đổi diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, văn hoá Những vấn đề cótính quy luật thường phát sinh và đồng hành với quá trình CNH, HĐH và đôthị hoá là:
- Hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị lớn, thậm chí cực lớn,gây mất cân đối trong sự phát triển hệ thống dân cư
- Gia tăng áp lực đối với quy hoạch sử dụng đất đai đô thị
- Thay đổi cơ cấu dân cư theo nhiều tiêu chí: độ tuổi, giới tính, nghềnghiệp, trình độ học vấn, tầng lớp xã hội
- Gia tăng khoảng cách chênh lệch về mức sống và thu nhập giữa cáctầng lớp dân cư, hình thành các khu nhà ổ chuột và tầng lớp dân nghèo thànhthị, gia tăng tình trạng vô gia cư và nạn thất nghiệp
- Áp lực thay đổi lối sống đô thị do sự du nhập lối sống của nhiều địaphương/ vùng khác nhau
Trang 9- Gia tăng stress và các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng tới tất cả các tầng lớpdân cư trong đô thị
- Kết cấu hạ tầng và các vấn đề môi trường (tắc nghẽn giao thông, ônhiễm không khí, nước, chất thải rắn, thiếu nước sạch…)
- Gia tăng áp lực về khối lượng và tính chất phức tạp của quản lý đô thịtrong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…
1.1.2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá ở Việt Nam
1.1.2.1 Những thành tựu đạt được
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cũng đi liền với quá trình đô thịhoá, quá trình nâng cấp, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và các công trìnhphục vụ lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia Tốc độ công nghiệp hoá, hiện đạihoá càng nhanh thì trình độ đô thị hoá càng cao, hệ thống cơ sở hạ tầng và cáccông trình công cộng càng đồng bộ, càng hiện đại Chính vì thế, công nghiệphoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng và cáccông trình công cộng là những chỉ số cơ bản nói lên trình độ phát triển của nềnkinh tế nước ta
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cũng chính là quá trình cơ cấulại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, cơ cấu lạiviệc phân bổ dân cư theo hướng tăng nhanh khối lượng dân cư sống ở khu vựcthành thị và giảm mạnh số lượng và tỷ lệ dân cư sống ở khu vực nông thôn
Để làm được công việc ấy, tất yếu là phải phân bổ lại các nguồn lực pháttriển nền kinh tế, trong đó trước hết là nguồn nhân lực, đất đai và lao động.Phải chuyển một bộ phận đất đai, trước hết là đất nông nghiệp sang phục vụcho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, cho việc mở rộng cáckhu đô thị cũ và xây dựng các khu đô thị mới, cũng như cho việc xây dựng,phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và các công trình công cộng phục vụ lợi íchcủa cộng đồng và quốc gia Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang ở giai đoạn đầucủa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đô thị hoá ở nước ta cũng đangdiễn ra đồng thời cả hai quá trình: Đô thị hoá theo chiều rộng và đô thị hoátheo chiều sâu Trong những năm gần đây và cho đến năm 2020, khi nền kinh
Trang 10tế nước ta cơ bản trở thành một nền kinh tế công nghiệp, đô thị hoá ở nước ta
đã và sẽ tiếp tục diễn ra với quy mô lớn theo chiều rộng Một bộ phận đất đai,
mà chủ yếu là đất nông nghiệp sẽ được thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng
để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị và kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội Đồng thời phải chuyển một bộ phận quan trọng lực lượng lao động củakhu vực nông nghiệp là khu vực có năng suất lao động thấp, sang khu vựccông nghiệp và dịch vụ là những khu vực có năng suất lao động cao hơn
Việt Nam đang có những tiềm năng to lớn mà không phải quốc gia nàocũng có được, những lợi thế đó là: thứ nhất về vị trí địa lý, nằm ở trung tâmĐông Nam Á là một trong các khu vực đang phát triển năng động nhất của thếgiới, tiếp giáp với một thị trường khổng lồ có tốc độ tăng trưởng cao liên tụctrong nhiều năm là Trung Quốc; thứ hai là khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho pháttriển nông – lâm – ngư nghiệp, có một số tài nguyên thiên nhiên thiết yếu, bờbiển dài; thứ ba là, nguồn nhân lực dồi dào, chăm chỉ, ham học hỏi tạo ra yếu
tố đầu vào của sản xuất với giá hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài; và thứ tư là
có xã hội ổn định, có quyết tâm chính trị và đồng thuận cao trong tiến trình đẩynhanh CNH,HĐH, đô thị hoá và hội nhập quốc tế, thể hiện trong các chủtrương và quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm tận dụng mọi thời cơ đểhuy động và phân bố hợp lý các nội lực và ngoại lực cho phát triển kinh tế – xãhội trên quy mô toàn quốc và các vùng miền
Khả năng đó của Việt Nam đã được thể hiện rất rõ trong các năm gầnđây, đặc biệt từ năm 2000 đến nay Thông qua các kênh như nguồn lực tàichính, sản xuất hàng hoá lớn theo các chuyên ngành, giao lưu văn hóa và conngười, các lợi thế đó đồng thời cũng tạo ra các động lực chính cho phát triển
đô thị Việt Nam Chỉ trong 20 năm đổi mới chúng ta đã xây dựng được mộtnền kinh tế năng động và hội nhập Từ năm 1998 đến nay tỷ lệ đô thị hóa trênđịa bàn cả nước đang tăng khá nhanh và mạnh mẽ đến 2005 đạt trên 27 %.Mạng lưới đô thị quốc gia đang được mở rộng và phát triển, trong đó bao gồmcác vùng duyên hải ven biển, hải đảo, biên giới, các trục hành lang kinh tế-kĩ
Trang 11thuật quốc gia, quốc tế quan trọng Tính đến cuối quý II, năm 2008, mạng lưới
đô thị Việt Nam đã có 743 đô thị, trong 95 đô thị xếp từ loại IV trở lên có 2 đôthị loại đặc biệt, 3 đô thị loại I, 14 đô thị loại II, 42 đô thị loại III, 38 đô thị loại
IV và các đô thị loại V, 160 khu công nghiệp tập trung, 10 đô thị mới, 27 khukinh tế ven biển và cửa khẩu Theo phân cấp quản lý hành chính có 5 thànhphố trực thuộc Trung ương, 90 thành phố, thị xã, thị trấn thuộc tỉnh [37]
Hệ thống đô thị của nước ta rải đều trên khắp lãnh thổ với đủ các loạihình : đô thị công nghiệp, đô thị cảng, đô thị hành chính, đô thị du lịch, đô thịtổng hợp Quá trình hình thành các đô thị ở nước ta trong những năm gần đây
có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong các
đô thị lớn Sự hình thành các trung tâm có tính chất chuyên ngành trong những
đô thị lớn là xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô thị, là biểu hiệncủa tính chuyên môn hoá cao trong sản xuất, kinh doanh Các hoạt động sảnxuất, kinh doanh có cùng đặc điểm, tính chất là được tập trung vào một khuvực tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu tốt hơn, sản xuất với năng suất và hiệuquả cao hơn và tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm của đô thị, thị trường laođộng phong phú hơn, tính hiệu quả tăng do tập trung mật độ của các cơ sở sảnxuất kinh doanh và dịch vụ
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các vùng ngoại ô Sự hình thành các trung tâm của mỗi vùng là tất yếu khách quan
nhằm đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời sống ngày càng tăng của chínhvùng đó và là hạt nhân lan toả sang các vùng khác Đó cũng là biểu hiện củatính tập trung hoá trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, quy
mô sản xuất và hoạt động thương mại - dịch vụ phụ thuộc vào trình độ pháttriển kinh tế - xã hội và quy mô dân số của vùng để đảm bảo sự hoạt động cóhiệu quả Đồng thời, các trung tâm này còn là điểm nối, hay sự chuyển tiếpgiữa các đô thị lớn làm cho tính hiệu quả của hệ thống đô thị được nâng cao.Trong quá trình đô thị hoá, các trung tâm này sẽ trở thành những đô thị vệ tinhcủa các đô thị lớn
Trang 12- Mở rộng các đô thị hiện có Việc mở rộng các đô thị hiện có theo mô
hình làn sóng là xu thế tất yếu khi nhu cầu về đất xây dựng đô thị tăng và khảnăng mở rộng có thể thực hiện tương đối dễ dàng Xu hướng này tạo sự ổnđịnh và giải quyết các vấn đề quá tải cho đô thị hiện có
- Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị Đây là xu hướng hiện đại
trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn ở nước ta Nông thôn có bước pháttriển khá nhanh Nhiều công trình thủy lợi đã hoàn thành và đưa vào sử dụng,góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thâm canh, tăng năng suất cây trồng đãbảo đảm tưới cho 90% diện tích lúa, hàng vạn hecta hoa màu, cây công nghiệp
và cây ăn quả; hệ thống đê điều được củng cố Ðến nay đã có 98% số xã cóđường ô-tô tới khu trung tâm, hơn 90% số xã có điện, gần 88% số hộ dân nôngthôn được sử dụng điện Số thuê bao điện thoại ở khu vực nông thôn tăngnhanh, đạt 4 máy/100 người dân (cả nước là 12,56 máy/100 người dân); 58%
số dân nông thôn được sử dụng nước sạch; xây mới 501 chợ, góp phần giảmbớt khó khăn về tiêu thụ nông sản cho nông dân[38]
- Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất Cả hai hình thức đô thị hoá đều dẫn
đến sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất Hình thức phát triển theo chiều rộngđưa đến tình trạng thu hẹp đất canh tác nông nghiệp nhanh chóng Một phầnđất do nhà nước thu hồi để xây dựng các công trình, một phần đất dân cư báncho những người từ nơi khác tới để ở để làm cơ sở sản xuất, kinh doanh Hìnhthức phát triển theo chiều sâu cũng dẫn đến tình trạng thay đổi mục đích sửdụng đất Trong quá trình đô thị hoá, Nhà nước chủ động chuyển đổi mục đích
sử dụng đất nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế – xã hội
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong quá trình đô thị hoá, cơ cấu
ngành kinh tế trong đô thị, trong vùng và cả nền kinh tế đều thay đổi là tăngnhanh tỷ trọng giá trị trong GDP (thu nhập bình quân đầu trên 1 năm) của cácngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp) và thương mại – dịch
vụ (gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trongGDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi chung lànông nghiệp) Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn
Trang 13đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoácủa cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực lượng lao động xãhội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối ngoại,… Cơ cấu kinh tế nôngthôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm
tỷ trọng nông nghiệp
Năm 2004 trong tổng GDP của cả nước, tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủysản đã giảm từ 24,53% xuống 21,76%; lao động nông nghiệp giảm từ 59,04%xuống 57,9%, lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 17%,dịch vụ chiếm 25,1% Năm 2003, hộ thuần nông đã giảm còn 68,8%, hộ kiêmnghề tăng lên, chiếm 12,7% và phi nông nghiệp 18,4% Nguồn thu của hộnông dân từ nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 77,5%; công nghiệp, xây dựng vàdịch vụ nông thôn đã dần tăng lên, chiếm 22,5% tổng thu [40
- Thay đổi hình thái kiến trúc Hình thái kiến trúc đô thị được biểu hiện
tập trung ở các kiểu nhà ở Kiểu nhà ở phản ánh trình độ văn hoá, mức sống,đặc điểm xã hội mỗi thời kỳ Tại các thành phố chúng ta có thể phân biệtnhững toà nhà cổ, những toà nhà xây dựng thời bao cấp, những toà nhà xâydựng thời kỳ đổi mới Tại các vùng nông thôn các ngôi nhà kiểu thành thị đangdần thay thế cho nhà mái ngói Ở các phường mới, quận mới, khu đô thị mớinhững toà nhà hiện đại đã và đang được xây dựng
- Hình thành nhanh chóng cơ sở hạ tầng Quá trình đô thị hoá là quá
trình hình thành nhanh chóng cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà bắt đầu bằng hệ thốnggiao thông, tiếp theo đó là hệ thống cấp điện, cấp thoát nước, hệ thống thôngtin liên lạc, trường học, bệnh viên, trung tâm thương mai, dịch vụ và cuối cùng
là khu ở của dân cư Trong quá khứ, việc hình thành các khu ở của dân cưtrước hoặc đồng thời với việc hình thành cơ sở hạ tầng đã gây rất nhiều khókhăn trong công tác quản lý quy hoạch đô thị
Theo kết luận của một bộ báo cáo mới của Ngân hàng Thế giới nhan đề
“Việt Nam: Những thách thức đối với cơ sở hạ tầng” Báo cáo ghi lại nhữngthực tế đáng khen ngợi trong chiến lược cơ sở hạ tầng hiện tại của Việt Nam,trong đó có con số tổng đầu tư cho có sở hạ tầng của Việt Nam trong những
Trang 14năm gần đây giữ ở mức 10% GDP, rất cao so với tiêu chuẩn quốc tế Chính vìvậy, mạng lưới đường bộ Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi chiều dài so với năm
1990, và chất lượng đường cải thiện rõ rệt Tất cả các khu vực đô thị và 88%các hộ gia đình nông thôn có điện Số người được dùng nước sạch tăng từ 26%dân số năm 1993 lên đến 49% dân số năm 2002, và trong cùng khoảng thờigian, số người có hố xí vệ sinh tăng từ 10% lến 25% dân số [41]
- Thay đổi lối sống Thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống , phương thức
kiếm sống là kết quả tất yếu của quá trình đô thị hóa Người dân đô thị sẽnhanh chóng làm biến đổi tập quán phù hợp với lối sống đô thị hiện đại.Những tập tục như ma chay, cưới xin sẽ theo kiểu đô thị để hợp với xã hội đôthị
- Thay đổi cơ cấu dân cư Trong quá trình đô thị hoá, cơ cấu dân cư
theo tuổi-giới, theo tầng lớp xã hội, theo nghề nghiệp cũng biến đổi theo Sựphân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét Thu nhập của dân cư nói chung tăng lênnhưng tốc độ tăng của mỗi nhóm xã hội, mỗi nghề nghiệp rất khác nhau Cơcấu giàu nghèo có quan hệ chặt chẽ với cơ cấu nghề nghiệp, việc làm củangười lao động
Hiện nay, tỷ lệ dân số đô thị ở nước ta dưới 40%, theo quy hoạch pháttriển đến năm 2010 con số này sẽ 56-60%, đến năm 2020 là 80% Theo dự báocủa Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên 45 triệu dân.Mục tiêu đề ra cho diện tích bình quân đầu người là 100m2/người Nếu đạt tỷ
lệ 100m2/người, Việt Nam cần có khoảng 450.000ha đất đô thị, nhưng hiệnnay, diện tích đất đô thị chỉ có 105.000ha, bằng 1/4 so với yêu cầu [30]
1.1.1.2 Những vấn đề tồn tại, cần tập trung giải quyết
Ở Việt Nam, quá trình đô thị hoá nhanh chóng và mạnh mẽ cả về chiềurộng và chiều sâu với tốc độ phát triển đô thị và dân số đô thị Việt Nam sẽ phảiđối mặt với ngày càng nhiều vấn đề phức tạp phát sinh từ quá trình đô thị hoá
và cần quan tâm giải quyết, đó là:
(1) Mở rộng diện tích đất đô thị và thu hẹp diện tích đất nông nghiệp,
Trang 15thực chất của quá trình này là sự thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất nôngnghiệp sang xây dựng nhà ở, sản xuất công nghiệp, kinh doanh thương mại,dịch vụ Quá trình này góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng đất nhưng cũnggây ra không ít các vấn đề xã hội.
(2) Vấn đề dân số, lao động và việc làm đối với nông dân trong quá trình
đô thị hoá, dân số và lao động ở các đô thị Việt Nam gia tăng với tốc độ nhanh
do nhiều nguyên nhân: di dân nông thôn - đô thị, lao động nông nghiệp dôi dư
do thu hẹp diện tích canh tác nông nghiệp Đặc biệt việc làm cho nông dân nóichung, cho những hộ nông dân bị thu hồi đất do phát triển công nghiệp và xâydựng các công trình công cộng nói riêng, là vấn đề cần quan tâm và có nhữnggiải pháp nhanh chóng giải quyết
Theo quy hoạch sử dụng đất đến 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường,diện tích đất nông nghiệp sẽ tăng từ 8.973.783 ha (năm 2000) lên 9.363.063 ha(năm 2010) Tuy nhiên, dân số nước ta từ hơn 77,6 triệu của năm 2000 sẽ tănglên khoảng 86,5 triệu vào năm 2010
Như vậy, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của cả nước sẽgiảm từ 0,113 ha (năm 2000) xuống còn 0,108 ha (năm 2010) và trong vòng 10năm, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người đã giảm 50m², trung bình mỗinăm giảm 5m²!
Tuy nhiên, một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu định canh (thuộc Liênhiệp các Hội KH-KT Việt Nam) cho thấy, từ năm 2000 đến hết 2006, với việc
mở rộng của các khu công nghiệp và khu đô thị mới, diện tích đất trồng lúacủa cả nước đã mất đi 318.400 ha Một con số không nhỏ chút nào khi mà đấtđai, nhất là đối với đất chuyên canh trồng lúa, không thể “tự nhiên” sinh rađược!
Theo thống kê của Bộ NN-PTNT, trung bình mỗi hécta đất nông nghiệpthu hồi ảnh hưởng tới việc làm của 13 lao động nông nghiệp Từ năm 2000đến 2006, thực hiện thu hồi đất, đã có khoảng 4 triệu nông dân trên cả nước bịảnh hưởng đến đời sống Tại một vài địa phương, có tỉnh 25-30% số lao độngsau khi bị thu hồi đất không có việc làm hoặc việc làm không ổn định Tại một
Trang 16số vùng đồng bằng sông Hồng, trước khi thu hồi đất chỉ có 10% lao động đilàm thuê, sau khi thu hồi đất tỷ lệ này là 17% [42].
(3) Các vấn đề môi trường, tài nguyên thiên nhiên và cân bằng sinh thái,tài nguyên đất bị khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, làm giảm diện tích câyxanh và mặt nước, gây ra ngập úng; Tăng cường khai thác nước phục vụ sinhhoạt, sản xuất, dịch vụ… làm suy thoái tài nguyên nước; Gia tăng các chất thảirắn, lỏng, khí từ sinh hoạt và sản xuất, dịch vụ; Nhiều nhà máy, xí nghiệp gây
ô nhiễm môi trường lớn trước đây nằm ở ngoại thành, nay lọt giữa khu dân cưđông đúc; Bùng nổ giao thông cơ giới ở các đô thị lớn gây tắc nghẽn giaothông, ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn,
Theo đánh giá của giới chuyên môn, hiện nay, không chỉ có lượng khíthải lớn từ các phương tiện giao thông đang xâm hại nghiêm trọng đến khôngkhí Hà Nội, mà còn có cả bụi Ô nhiễm bụi tại Hà Nội đã gấp ba lần tiêu chuẩncho phép Thống kê chưa đầy đủ của Sở TN&MT Hà Nội cho biết, mỗi năm,thành phố tiếp nhận khoảng 80.000 tấn bụi khói, 9.000 tấn khí SO2, 46.000 tấnkhí CO từ hơn 400 cơ sở công nghiệp Đó là chưa kể khói của hơn 100 ngànôtô và trên 1 triệu xe máy[19]
(4) Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực ngoại thành, trong quátrình đô thị hoá, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi theo xu hướng tích cực vàtiến bộ Đó là quá trình giảm tỷ trọng của các hoạt động nông nghiệp, tăng tỷtrọng của các hoạt động công nghiệp và thương mại, dịch vụ Ngoại thành lànơi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ nhất do chuyển đổi mụcđích sử dụng đất và do sự gia tăng các nhu cầu dịch vụ, giải trí của dân cưtrong nội thành Vấn đề nảy sinh ở đây là chất lượng lao động tại chỗ thườngkhông đáp ứng được yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gây ra những khókhăn và cản trở nhất định đối với quá trình này Cơ cấu sản xuất nông nghiệp
và kinh tế nông thôn ở nhiều nơi chuyển dịch chậm, chăn nuôi, công nghiệp,ngành nghề dịch vụ nông thôn phát triển còn chậm và chưa tương xứng vớitiềm năng,… Cơ cấu lao động nông thôn chuyển dịch vẫn còn chậm, cơ bảnvẫn là thuần nông (năm 2004 lao động nông nghiệp: 58,7%, năm 2001 là:
Trang 1763,5%) [17].
(5) Vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng, quá trình đô thị hoá luôn đòi hỏi
sự hình thành và phát triển nhanh chóng của hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật
và xã hội như cấp điện, cấp thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, trường học,bệnh viện, hệ thống chợ và siêu thị, các khu nhà ở của dân cư, hệ thống giaothông động và tĩnh, các khu vui chơi giải trí v.v…Tuy nhiên, ở hầu hết các đôthị Việt Nam, các yếu tố kết cấu hạ tầng thường không được hình thành đồng bộ
và phát triển chậm hơn so với nhu cầu thực tế của đô thị
(6) Vấn đề văn hoá - xã hội, đô thị hoá góp phần nâng cao đời sống vậtchất và văn hoá tinh thần cho dân cư, hình thành lối sống công nghiệp, xâydựng xã hội mới Thay đổi tập quán, lối sống, phương thức kiếm sống là kếtquả tất yếu của quá trình đô thị hoá Sự thay đổi đó cùng với những gia tăng sốlượng dân cư và các hình thức quần cư, gia tăng các nhu cầu y tế, giáo dục,giải trí… góp phần làm cho phân hoá giàu nghèo diễn ra nhanh chóng; tỷ lệthất nghiệp và các vấn đề xã hội khác (trộm cướp, nghiện hút, mại dâm…)cũng gia tăng
(7) Thay đổi hình thái kiến trúc, hình thái kiến trúc đô thị được biểu hiệntập trung ở các kiểu nhà ở, kiểu nhà ở phản ánh trình độ văn hoá, mức sống,đặc điểm xã hội ở từng thời kỳ phát triển Tại các vùng nông thôn ngoại thành,các nhà mái ngói truyền thống đang được thay dần bằng các nhà kiểu thành thị;Các toà nhà thiết kế hiện đại, đầy đủ tiện nghi, các khu chung cư … đã và đangđược xây dựng, đặc biệt là ở các quận, phường mới, các khu đô thị mới Tuyvậy, vẫn không tránh được tình trạng xây dựng manh mún, lấn chiếm khônggian đô thị và các kiểu thiết kế nhà ở pha tạp nhiều loại hình kiến trúc làm ảnhhưởng xấu đến bộ mặt đô thị
(8) Những vấn đề về quản lý hành chính, đô thị hoá theo chiều rộng dẫnđến sự biến động liên tục về ranh giới các đơn vị hành chính, về diện tích, dân
số của đô thị và từng quận, phường dẫn đến những khó khăn đối với bộ máyquản lý đô thị vốn còn nhỏ yếu Quá trình đô thị hoá cũng làm xuất hiện nhữngmâu thuẫn giữa cơ cấu kinh tế – xã hội hiện thực với thể chế quản lý hành
Trang 18chính nhà nước Thực tế này đòi hỏi đổi mới, tổ chức lại quản lý nhà nước trênđịa bàn đô thị theo đúng quy định tại Thông tư 02/2002/TTLT/BXD-BTCCBCP ngày 8/3/2008 về việc hướng dẫn về phân loại đô thị và cấp quản
lý đô thị
1.2 CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ, ĐÔ THỊ HOÁ VÀ THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT Ở THÀNH PHỐ HUẾ
1.2.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá ở thành phố Huế
Bước vào thế kỷ 21 khi đã hội đủ mọi điều kiện về chính trị, kinh tế, vănhoá, một bước ngoặt mới đã đến: công nghiệp hoá, đô thị hoá thành phố bắtđầu được đẩy mạnh, đô thị hoá lúc này bắt đầu tăng tốc
Xác định vị trí, vai trò quan trọng của thành phố Huế trong khu vực kinh
tế trọng điểm miền Trung và trong Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển
đô thị toàn quốc với ý nghĩa là một trong 5 đô thị trung tâm cấp Quốc gia; kếthợp tốt giữa xây dựng phát triển với bảo vệ và tôn tạo, nhằm xây dựng cố đôHuế trở thành một thành phố mang đặc tính dân tộc, hiện đại, đậm đà bản sắc
và truyền thống; trở thành một trung tâm văn hoá - du lịch của cả nước, trungtâm giáo dục đào tạo và trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực kinh tế trọngđiểm miền Trung, đồng thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học
kỹ thuật của tỉnh Thừa Thiên Huế [10]
Định hướng phát triển, tập trung đầu tư, sớm hoàn thiện và hiện đại hóa
hệ thống kết cấu hạ tầng, hoàn thiện xây dựng các công trình lớn Chú trọngphát triển bền vững và giải quyết tốt các công tác môi trường ngay trong quyhoạch và điều hành Đầu tư phát triển thành phố Huế thành hạt nhân tăngtrưởng, làm nòng cốt thúc đẩy sớm đưa tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành thànhphố trực thuộc Trung ương [1]
Trong hướng phát triển đó, mấy năm nay thành phố Huế không ngừng
mở rộng các khu đô thị vệ tinh ra cả bốn phía Cùng với việc xây dựng cơ sởkết cấu hạ tầng thành phố; hệ thống các trường trung cấp, cao đẳng, đại học đãđược đầu tư nâng cấp cả về chất lượng đào tạo; đã có nhiều trung tâm nghiên
Trang 19tin học, tôn giáo, hình thành lên từ Huế, kèm theo đó là sự cần thiết phải thuhồi đất [26].
Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, cụm làngnghề, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và nhu cầu côngcộng ở thành phố được tiến hành mạnh mẽ
1.2.2 Tình hình thu hồi đất ở thành phố Huế
Trong những năm qua, do sự phát triển của đô thị đất sản xuất nôngnghiệp trên địa bàn thành phố dần bị thu hẹp để nhường chỗ cho việc triển khaixây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội, nhu cầu công cộng của thành phố
Căn cứ vào quỹ đất năm 2005 của thành phố được tổng hợp như sau:Tổng diện tích đất tự nhiên: 7.098,80 hécta
Trong đó: - Đất nông nghiệp: 2.241.06 hécta
- Đất phi nông nghiệp: 4.751,69 hécta
Về kinh tế: các cơ chế, chính sách bước đầu thu hút, khuyến khích đặcbiệt, tạo lập môi trường đầu tư kết hợp với việc bố trí sử dụng đất sản xuấtkinh doanh hợp lý thuận lợi đã đem lại cho thành phố Huế sự tăng trưởngtương đối bền vững
Về xã hội: đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước ổnđịnh và nâng cao nhờ vào sự phát triển cơ sở hạ tầng, các công trình côngcộng, các công trình y tế, văn hoá, giáo dục,
Trang 20Biểu 1.1: Tình hình biến động đất nông nghiệp toàn thành phố giai đoạn
Năm 2008
2008 so 2005 Đất nông nghiệp 2.241,06 2.138,90 2.124,10 2.105,24 -135,82
1) Đất trồng cây hàng năm 1.579,98 1.564,60 1.549,50 1.531,44 -48,54 Trong đó
(Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường thành phố Huế)
Theo số liệu của phòng Tài nguyên môi trường thành phố, tính đến năm
2005 thành phố chỉ có 2.241,06 hécta đất nông nghiệp, trong đó có 1.146,98hécta đất trồng lúa, tuy nhiên diện tích này lại đang giảm một cách nhanhchóng Trung bình trong 3 năm gần đây mỗi năm, nông dân thành phố phảinhường hơn 45 hécta đất nông nghiệp để xây dựng các công trình nhà ở, đô thị
và khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng,
Biểu 1.1 cho thấy, tổng cộng 4 năm giảm 135,82 hécta giảm ở các loạiđất đất nông nghiệp và phân bổ chi tiết như sau: đất trồng cây hàng năm giảm48,54 hécta; đất trồng cây lâu năm 20,29 hécta và đất lâm nghiệp giảm 67,04hécta, do chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Biểu 1.2: Tình hình biến động đất phi nông nghiệp toàn thành phố giai
Năm 2007
Năm 2008
2008 so 2005
Trang 21(Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường thành phố Huế)
Riêng giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2008 đối với đất ở tại nông thôngiảm 274,25 hécta; đất ở tại đô thị tăng 292,55 hécta (đất ở nông thôn thànhphố giảm và đất ở đô thị tăng lên là do quá trình đô thị hoá đã chuyển 2 xãThuỷ An và Hương Sơ vùng ven thành phố thành 4 phường nội thị là AnĐông, An Tây, An Hoà và Hương Sơ) và một phần là do chuyển đổi mục đích
từ đất nông nghiệp sang Đất chuyên dùng tăng 55,30 ha; phân bổ theo các chỉtiêu chính như: đất dùng vào mục đích công cộng tăng 29,67 ha; đất dùng vàomục đích kinh doanh phi nông nghiệp 19,02 ha; đất xây dựng trụ sở cơ quancông trình sự nghiệp 6,3 ha chứng tỏ rằng tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoácủa thành phố trong những năm gần đây là rất lớn
Biểu1.3: Tình hình thu hồi đất giai đoạn 2005-2008 của toàn thành phố
Trang 22Chỉ tiêu ĐVT Năm
2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Tổng cộng
(Nguồn: Phòng Kinh tế thành phố Huế)
Biểu 1.3 trên cho thấy, trong 4 năm từ năm 2005 đến năm 2008, thành
phố đã thu hồi đến 170,62 hécta gồm các loại đất đất để phục vụ cho việc xây
dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội, nhu cầu công cộng Trong đó lượt hộ bị thu hồi đất nông nghiệp là 1.249
hộ và số hộ bị thu hồi đất ở là 431 hộ điều đó cho thấy rằng việc xây dựng cácchương trình, dự án cụ thể để giải quyết vấn đề thất nghiệp chuyển đổi nghềtạo việc làm mới, nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân bị thu hồi đấttrên địa bàn thành phố trong những năm qua là nhiệm vụ hết sức nặng nề, làchủ trương lớn của các cấp uỷ đảng, chính quyền và toàn xã hội trong giaiđoạn hiện tại và thời kỳ tới
Tuy nhiên, việc thu hồi đất không diễn ra đồng đều ở các phường xãthuộc thành phố, mà chỉ tập trung ở một số phường xã có điều kiện thuận lợi,nhất là các phường xã ở phía Nam và phía Bắc nơi gần các đầu mối giaothông
Biểu 1.4: Tình hình thu hồi đất nông nghiệp ở một số phường xã thuộc
thành phố giai đoạn 2005-2008
Phường
Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi (ha)
Số hộ bị thu hồi dưới 30%
(hộ)
Số hộ bị thu hồi dưới 30%- 49%
(hộ)
Số hộ bị thu hồi từ 50%-dưới 70%
(hộ)
Số hộ bị thu hồi từ trên 70%
Trang 23Sau khi Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày3/12/2004 của Chính phủ có hiệu lực thi hành, Uỷ ban nhân dân Tỉnh đã banhành Quyết định số 3721/2005/QĐ-UBND ngày 01/11/2005 về việc bồithường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh ThừaThiên Huế để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợiích công cộng và lợi ích phát triển kinh tế thay cho Quyết định số225/2001/QĐ-UB ngày 30/01/2001 của Uỷ ban nhân dân Tỉnh Đồng thời, saukhi có Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/1/2006 của Chính phủ về sửađổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việcchuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, Uỷ ban nhân Tỉnh tiếp tụcban hành Quyết định số 2689/2006/QĐ-UB ngày 23/11/2006 về việc sửa đổi,
bổ sung một số điều và đơn giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nướcthu hồi đất tại Quyết định số 3721/2005/QĐ-UBND ngày 01/11/2005 của Uỷban nhân dân Tỉnh có quy định mức hỗ trợ như sau:
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị Nhà nướcthu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định đời sốngvới mức hỗ trợ bằng tiền cho 01 nhân khẩu/01 tháng, tương đương với 30kilôgam gạo với giá trung bình tại thời điểm bồi thường Thời gian hỗ trợ từ 03tháng đến 12 tháng
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị Nhà nướcthu hồi trên 30 % diện tích đất nông nghiệp mà không được bồi thường bằng
Trang 24bằng hình thức hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo quy địnhsau:Số lao động nông nghiệp được hưởng chế độ hỗ trợ được tính theo tỷ lệ đấtnông nghiệp bị thu hồi như sau: Bị thu hồi từ 30% đến 50% diện tích đất nôngnghiệp được giao, được tính 01 suất hỗ trợ cho 01 lao động; hộ gia đình bị thuhồi từ 50% đến 70% diện tích đất nông nghiệp được giao, được tính 02 suất hỗtrợ cho 2 lao động; hộ gia đình bị thu hồi từ trên 70% diện tích đất nôngnghiệp được giao, được tính suất hỗ trợ bằng tổng số lao động nông nghiệpthực tế cho người trong độ tuổi lao động có tên trong hộ khẩu của hộ đó (trừcác trường hợp đã có việc làm hoặc thành lập gia đình ở riêng nhưng chưachuyển hộ khẩu)
Trong thời gian vừa qua, tại các địa phương này phương pháp đền bùkhông được thống nhất nên đã xảy ra những bức xúc như: giá cả đền bù, giảiquyết việc làm và thu nhập, chúng tôi sẽ phân tích kỷ ở phần sau qua số liệuđiều tra
1.2.2.1 Tác động tích cực của việc thu hồi đất ở thành phố Huế
Đất đai được thu hồi đã góp phần rất to lớn vào việc phát triển kinh tế
-xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng của thành phố Trong khuôn khổ của đềtài này, chúng tôi chỉ phân tích một cách khái quát tác động tích cực của việcthu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội và nhu cầu công cộng ở thành phố những năm gần đây
Biểu 1.5: Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu từ năm 2005-2008
ở thành phố Huế
2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
GDP bình quân đầu người
( Nguồn: UBND thành phố Huế)
Trang 25Thứ nhất, thông qua thu hồi đất, tạo cho kinh tế thành phố phát triển
góp phần giải quyết công ăn việc làm, giảm bớt lao động dư thừa hiện nay, giảiquyết việc làm ổn định cho hàng ngàn lao động với thu nhập tương đối khá,giúp họ từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, cũng như tinh thầncủa bản thân và gia đình (biểu 1.5 cho thấy thu nhập GDP bình quân đầu ngườităng dần qua từng năm, từ 650 USD năm 2005 lên 940 USD năm 2008, giá trịhàng hoá xuất khẩu năm 2008 bằng 284% năm 2005) [31]
Thứ hai, thu hồi đất và tạo cơ chế thông thoáng trong đầu tư nên thu
ngân sách thành phố tăng dần qua từng năm, trong đó đẩy mạnh công tác bánđấu giá đất, triển khai thực hiện Nghị định 09/NĐ-CP của Chính phủ về sắpxếp các trụ sở cơ quan hành chính đã tổ chức chuyển đổi đấu giá quyền sửdụng đất nên thu tiền sử dụng đất ngày càng tăng ( thu ngân sách thành phố từ196,24 tỷ đồng năm 2006 lên 333,07 tỷ đồng năm 2008)[31]
Thứ ba, nhờ có đất thu hồi, thành phố đã xây dựng được các cụm công
nghiệp làng nghề, các khu du lịch, các khu dân cư,… thu hút được hàng trăm dự ánđầu tư ở trong và ngoài nước với hàng ngàn tỷ đồng cho phát triển kinh tế - xã hộicủa thành phố (biểu 1.5 cho thấy, tổng vốn đầu tư trên địa bàn là trong 4 năm gầnđây là 9.278 tỷ đồng).[31]
Thứ tư, đã nâng cấp và xây dựng mới được khu đô thị mới An Cựu city,
An Vân Dương, khu công nghiệp và cụm làng nghề Hương Sơ khá đồng bộ vàtương đối hiện đại Hệ thống đường xá được mở rộng và nâng cấp, như đườngTrường Chinh, Tự Đức - Thuỷ Dương, Dương Văn An, Phạm Văn Đồng,Nguyễn Văn Linh, Tản Đà, để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và an ninhquốc phòng
Thứ năm, những người nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn, sau
khi trở thành dân cư đô thị, họ bị mất phần lớn ruộng đất canh tác Với số tiềnđược Nhà nước đền bù hoặc tiền bán đất cho các cư dân mới, họ dùng để tạonghề mới, tìm việc làm mới,… việc thu hồi quyền sử dụng đất trong nhữngnăm qua tạo nên một dòng vốn tài chính lớn chảy vào cộng đồng dân cư Nhờ
đó, mà việc xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở đã không chỉ làm chuyển đổi không
Trang 26gian vật thể của vùng ven thành phố thành một ‘công trường xây dựng’ mà cònlàm biến đổi môi trường xã hội của vùng ven từ một làng ‘bình thường’ thànhmột cộng đồng “khá giả”.
Thứ sáu, việc thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị, xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở thành phố đã tác động đến việc ‘sốt đất’
ở hay minh chứng giá đất ở tăng nhanh như thế nào trong một thời gian ngắn.Nói cách khác, giá trị trao đổi của mảnh đất từng mảnh đất này đã tăng lênhàng trăm lần trong vòng gần một thập kỷ
Thứ bảy, Hệ thống thông tin, liên lạc, bưu chính viễn thông được phát
triển và hiện đại hóa rất nhanh, thoả mãn được yêu cầu ngày càng cao của cáccấp, các ngành và nhân dân, kịp thời phục vụ chỉ đạo, điều hành và các hoạtđộng sản xuất - kinh doanh - dịch vụ và đời sống
Thứ tám, thu hồi đất để công nghiệp hoá, đô thị hoá thành phố tạo điều
kiện cải biến con người thuần nông vùng ven sang người thành thị, có tínhcông nghiệp cao hơn
1.2.2.2 Một số vấn đề bức xúc trong quá trình thu hồi đất ở thành phố Huế
Mặc dù đã có tác động rất tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hộinhư đã nêu khái quát ở trên, nhưng cho đến nay, thu hồi đất đang là vấn đề
“nóng”, bức xúc ở nhiều phường xã Gần đây, các phương tiện thông tin đạichúng đã đề cập nhiều đến vấn đề này và thực tế là, trong các khiếu kiện củangười dân hiện nay thì phần lớn là về đất đai, trong đó có vấn đề thu hồi đất.Vấn đề thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kếtcấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia đang diễn rarất phức tạp Bên cạnh kết quả đã đạt được như đã nêu ở trên, việc thu hồi đất
ở thành phố đang còn tồn tại rất nhiều vấn đề cần được giải quyết một cáchđồng bộ như: Việc làm, đời sống, của người bị thu hồi đất; chuyển đổi nghềnghiệp cho những người bị mất tư liệu sản xuất; chính sách đền bù, giải phóngmặt bằng; vấn đề tái định cư; vấn đề sử dụng hợp lý đất đã thu hồi, Trong
Trang 27phạm vi của đề tài, sau đây chúng tôi chỉ nêu khái quát một vấn đề bức xúc vềviệc làm thực trạng thu nhập và đời sống của người có đất bị thu hồi.
Một là, thu hồi đất đã đẩy hàng ngàn người, trong đó chủ yếu là nông dân
vùng ven thành phố lâm vào cảnh không có việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn.Trong quá trình đô thị hoá thành phố Huế, kinh tế tăng trưởng nhanh chóngnhưng với những người nông dân thành phố trước đây gắn bó với ruộng vườn,sau khi đô thị hoá, họ bị mất một phần hoặc mất toàn bộ ruộng đất canh tác.Theo số liệu biểu 1.1 trong vòng 4 năm qua diện tích nông nghiệp bị thu hồi
135 hécta tương ứng với số lao động bị thất nghiệp là 1.755 lao động (tạm thờichấp nhận cách tính toán của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội), trong số
đó hiện nay nhiều người vẫn chưa có việc làm và rơi vào tình trạng thất nghiệptoàn phần
Có thể nói, mất việc vì đất bị thu hồi, không tìm được việc làm mới dokhông được đào tạo nghề, vì thế không có thu nhập hoặc thu nhập thấp, không
ổn định, đời sống ngày càng khó khăn, đó là điểm bức xúc nhất hiện nay củangười có đất bị thu hồi
Khi những khu hành chính mới như Xuân Phú, khu đô thị mới như AnCựu city, khu An Vân Dương, khu công nghiệp Hương Sơ,… mọc lên thì hàngngàn hộ nông dân bị thu hồi đất ruộng vườn để xây dựng Tất nhiên, họ nhậnđược một khoản tiền đền bù về đất đai, hoa màu, nhưng số tiền Nhà nước đền
bù từ thu hồi đất chưa được người nông dân thành phố sử dụng đúng mục đích
sẽ làm cho các vấn đề xã hội khác gia tăng nhanh chóng
Hai là, giá đất đền bù cho người dân không thoả đáng kể cả các loại đất
chẳng hạn như đất nông nghiệp đền bù cho người nông dân trước năm 2005 là1.250 đồng/m2 từ năm 2005 đến nay bình quân là 38.500 đồng/m2 [22],[26]
Ba là, việc đào tạo nghề, giúp giải quyết việc làm cho những người bị
thu hồi đất làm chưa được nhiều Đối với các hộ bị thu hồi đất nông nghiệpdưới 30% thì họ vẫn tiếp tục sản xuất nông nghiệp thu nhập của họ có bị giảmsút, bị thu hồi từ 30% đến 49% gặp khó khăn trong việc ổn định sản xuất vàđời sống, đặc biệt đối với những hộ có diện tích đất sản xuất bị thu hồi trên
Trang 2850% các hộ này phần lớn phải tự chuyển đổi nghề nghiệp Do trình độ chuyênmôn và tay nghề quá kém không tìm được việc làm, làm cho một lực lượngđáng kể lao động nông nghiệp bị mất việc làm, dẫn đến gia tăng tình trạng thấtnghiệp.
Bốn là,, Việc thu hồi diện tích đất nông nghiệp trong những năm qua để
chuyển đổi mục đích sử dụng chưa thực hiện đồng bộ, chưa liên vùng liên thửa gâykhó khăn cho việc tổ chức sản xuất ở những lô đất còn lại như gây ngập úng, áchtắc kênh mương,… ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, gây phiền hà cho nôngdân, tốn kém chi phí mà không có các giải pháp xử lý kèm theo
Năm là, để có đất cho các dự án tỉnh và thành phố đã bỏ ra hàng ngàn tỷ
đồng đền bù giải toả, tái định cư nhưng đất thu hồi nhiều nơi bị bỏ hoang hoặc sửdụng chưa hiệu quả, làm xáo trộn không nhỏ đến đời sống hàng trăm hộ dân, gâybức xúc kéo dài
Tuy nhiên, không phải bao giờ, đô thị hoá và công nghiệp hoá cũng songhành với nhau Thực tế cho thấy, đô thị hoá ở thành phố Huế có vẻ nhanh hơntiến trình công nghiệp hoá Thực tế cho thấy thu hồi đất để đô thị hoá ở thànhphố Huế chưa được nghiên cứu kỷ cả lý thuyết và thực tiễn, giải pháp thườngtức thời thiếu đồng bộ Mặt tích cực không tự đến và mặt tiêu cực của đô thịhoá không tự mất đi nên rất cần sự nghiên cứu nhận diện đúng và đề ra các giảipháp nhằm hạn chế đổ vỡ trong quá trình này
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, VIỆC LÀM, THU NHẬP VÀ ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI Ở THÀNH PHỐ
HUẾ TỪ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA CỦA ĐỀ TÀI
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Huế nằm ở trung tâm của tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Bắcgiáp huyện Hương Trà, phía Nam giáp huyện Hương Thuỷ, phía Đông giáphuyện Phú Vang, phía Tây giáp huyện A Lưới, với diện tích tự nhiên là 68 km2
Toạ độ địa lý: 107o31‘45‘‘-107o38' kinh Ðông và 16o30'‘45‘‘-16o24' vĩBắc Thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc - Namcủa các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển, gầntuyến hành lang Đông - Tây của tuyến đường xuyên Á Cách Hà Nội 675 km
về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.060 km về phía Nam, nằm trongvùng kinh tế trọng điểm miền Trung với các trung tâm kinh tế đang phát triểnnhanh như khu khuyến khích phát triển kinh tế - thương mại Chân Mây, Thành
Trang 30phố Đà Nẵng, khu kinh tế mở Chu Lai, khu công nghiệp Dung Quất , có hệthống giao thông thuận lợi kết nối dễ dàng với Thủ đô Hà Nội, Thành phố HồChí Minh và nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước [35]
Thành phố Huế nằm ở vị trí có điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái đadạng, phong phú và diện mạo riêng tạo nên một không gian hấp dẫn, được xâydựng trong không gian phong cảnh thiên nhiên kỳ diệu từ núi Ngự Bình, dồiThiên An - Vọng Cảnh, Thành phố hội đủ các dạng địa hình: đồi núi, đồngbằng, sông hồ, tạo thành một không gian cảnh quan thiên nhiên-đô thị-văn hoá
lý tưởng để tổ chức các loại hình Festival và các hoạt động du lịch thể thao
khác nhau Thành phố Huế là địa bàn lý tưởng gắn kết các tài nguyên văn hoá
truyền thống đặc sắc với du lịch mà không một Thành phố, địa danh nào ởnước ta có được và là một trong 5 trung tâm du lịch quốc gia Huế nằm ở vị trítrung tâm của các di sản văn hoá thế giới của Việt Nam (Hội An, Mỹ Sơn,động Phong Nha-Kẻ Bàng) và gần với các Thành phố cố đô của các nướcThành phố Huế nằm trong một vùng đất gần biển, có núi, có sông, có ao hồ vàđồi núi rất hữu tình
Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đôthành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhàTây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họNguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng8.1945 Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mangnhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt
- Ngày 24.8.2005 tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số209/2005/QĐ-TTg công nhận thành phố Huế là đô thị loại I trực thuộc tỉnh
Thừa Thiên Huế “Đây là sự ghi nhận hết sức quan trọng của Chính phủ và các Bộ, Ngành Trung ương đối với sự phát triển về chất của đô thị Huế và cũng là tiền đề quan trọng để Huế vươn lên phát triển xứng đáng là một trong sáu đô thị cấp quốc gia”.
Theo thuật phong thuỷ của người xưa thì Kinh thành Huế nằm ở vị trírất đắc địa, có núi Ngự Bình là tiền án làm bình phong che chở cho Kinh
Trang 31thành, có sông Hương như một hào nước tự nhiên chạy ngang qua mặt ngoàiphía trước kinh thành giữ vai trò hộ thành khi bị tấn công Giữa sông lại mọclên hai cù lao gọi là Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ là hai linh vật mạnh mẽ bảo
- Khu vực bờ Nam có: Phường Phú Hội, Phường Đúc, Trường An, PhúNhuận, Vĩnh Ninh, An Cựu, Vỹ Dạ, Phước Vĩnh, An Đông, An Tây, Xuân Phú
xã Thuỷ Xuân, Thuỷ Biều
Nếu chia theo khu vực trung tâm và ngoại thành thì:
- Khu vực trung tâm có: Phường Phú Hoà, Thuận Hoà, Tây Lộc, ThuậnThành, Thuận Lộc, Phường Phú Hội, Phường Đúc, Phú Nhuận, Trường An,Phú Hiệp, Vĩnh Ninh, An Cựu
- Khu vực ngoại thành có: Là những phường, xã còn lại
Phần lớn dân cư ở khu vực nội thành làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ,dịch vụ và một số nghề khác Dân cư ở ngoại thành làm nghề nông và một sốnghề thủ công
2.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn [35]
Do vị trí địa lý ở gần biển, sát dãy Trường Sơn hùng vĩ chạy dọc ViệtNam và ăn sát ra biển Đông ở đoạn đèo Hải Vân nên khí hậu của Huế cónhững nét rất đặc trưng so với các vùng khác trong cả nước đó là chịu ảnhhưởng thường xuyên của mưa bão và lụt
Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ áxích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữamiền Bắc và miền Nam nước ta
- Chế độ nhiệt: Thành phố Huế có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh.Nhiệt độ trung bình hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24°C - 25°C
Trang 32+ Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió Tây Namnên khô nóng, nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C -29°C, tháng nóng nhất (tháng 5, 6) nhiệt độ có thể lên đến 38°C- 40°C.
+ Mùa lạnh: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của giómùa Đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ởvùng đồng bằng là 20°C - 22°C
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/năm Mùa mưabắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất,chiếm tới 30% lượng mưa cả năm
Trang 33- Độ ẩm trung bình 85%-86%
- Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng dần từ Đôngsang Tây, từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với cường độ mưalớn do đó dễ gây lũ lụt, xói lở
- Gió bão: Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính:
+ Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốchơi mạnh gây khô hạn kéo dài
+ Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gióthường kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt
+ Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9 -10
Tuy nhiên, trong sự thuận lợi lớn lao đó thì thành phố Huế, với vị trí địa
lý, điều kiện khí hậu thuỷ văn của mình cũng phải đương đầu với những khókhăn thử thách lớn của điều kiện thời tiết khí hậu đặc biệt khắc nghiệt Nókhắc nghiệt đến nổi ít ai dám gắn bó lâu dài với vùng đất này để ấp ủ hoài bảolàm ăn lớn, nhiều đoàn khảo sát đầu tư ngoại quốc đến thăm Huế rối lại lắc đầumột đi không trở lại, nhiều người có năng lực lại bỏ xứ ra đi rồi sau đó nhưmột hạt giống tốt lại gặt hái nhiều vụ mùa bội thu ở những vùng đất có mưathuận gió hoà Lâu đài thành quách đã bị rêu phong xói mòn dẫn tới bị hư hạinặng, cơ sở hạ tầng ở trong trạng thái phải chỉnh trang và phục hồi thườngxuyên sau bão lụt
2.1.1.3 Kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, kinh tế thành phố không ngừng tăng trưởng cao,
cơ cấu kinh tế phát triển đúng hướng, các thành phần kinh tế phát triển năngđộng, thu hút đầu tư, phát huy thế mạnh thành phố văn hoá-du lịch dịch vụ-thương mại - công nghiệp tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN)
Biểu 2.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của thành phố giai đoạn 2005-2008
n v tính: tri u d ngĐơn vị tính: triệu dồng ị tính: triệu dồng ệu dồng ồng
2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Gía trị sản xuất công nghiệp 1.534.448 1.762.676 2.017.839 2.361.747 Gía trị sản xuất nông nghiệp 92.114 101.546 114.519 143.340 Tổng mức bán lẻ hàng hoá 3.041.520 3.864.500 4.678.600 6.384.600
Trang 34Doanh thu du lịch 373.560 493.800 591.500 791.300
Nguồn :Tính từ số liệu của niên giám thống kê thành phố Huế.
Đầu tư phát triển CN-TTCN tạo được hàng hoá có sức cạnh tranh đápứng nhu cầu trong nước và góp phần xuất khẩu; tốc độ tăng trưởng cao, giá trịsản xuất công nghiệp trên địa bàn năm sau cao hơn năm trước, bình quân tăng
15 %, năm 2008 đạt 2.361,747 tỷ đồng Hiện nay có 3.881 cơ sở sản xuất TTCN thu hút 15.822 lao động [13]
CN-Về nông nghiệp và nông thôn, mặc dù bị ảnh hưởng thiên tai, diện tíchsản xuất nông nghiệp giảm mạnh do đô thị hoá nhưng quá trình công nghiệphoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, chuyển dịch theo cơ cấu kinh tế đôthị đã đạt được những kết quả tốt Đầu tư chuyển đổi cây trồng vật nuôi vàphát triển ngành nghề, ứng dụng khoa học công nghệ ở nông thôn chuyển biếntích cực nhằm tạo ra giá trị cao, đặc biệt cây thanh trà đã tạo ra giá trị lớn 100triệu đồng/năm/ha Chương trình kiên cố hoá kênh mương được đẩy mạnh.Đầu tư kết cấu hạ tầng nông thông theo hướng đô thị hoá: điện, nước, trườnghọc, chợ, giao thông nông thôn, trạm xá, góp phần nâng cao chất lượng đờisống dân cư [10]
Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 11%, giá trị sản xuất nôngnghiệp năm 2008 đạt 143,34 tỷ đồng [13]
Thương mại phát triển khá phong phú: hoạt động có qui mô ngày cànglớn, các hoạt động bán buôn có quy mô ngày càng được mở rộng, thị trườngvươn xa, tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng nhanh qua từng năm 2008 là 6.384,6
tỷ đồng tăng hơn 2 lần năm 2005 [13]
Biểu 2.2: Phân bổ lao động của thành phố giai đoạn 2005-2008
n v tính: lao ngĐơn vị tính: triệu dồng ị tính: triệu dồng động
Số lao động Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008Lao động công nghiệp 14.944 15.976 15.752 15.822Lao động nông nghiệp 19.120 17.552 16.933 16.100Lao động du lịch, dịch vụ 29.708 31.600 32.958 36.120
Nguồn :Tính từ số liệu của niên giám thống kê thành phố Huế.
Ngành du lịch đã thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế nên có bướcphát triển nhanh, chất lượng tốt và đa dạng Doanh thu du lịch 2008 đạt 791,3
Trang 35tỷ đồng, tăng 2,1 lần so năm 2005, tăng bình quân 28%/năm Thu hút 36.120lao động tăng 1,2 lần so với năm 2005 [13].
Hệ thống ngân hàng, bảo hiểm tài chính phát triển mạnh, tăng năng lực,khả năng cạnh tranh và tạo thuận lợi trong giao dịch tài chính vốn đầu tư [10]
Bưu chính viễn thông mở rộng đầu tư và hiện đại hoá, tạo ra nhiều loạihình dịch vụ mới; đảm bảo hệ thống thông tin liên lạc trong và ngoài nướcnhanh, tiện lợi Tỷ lệ máy điện thoại đạt 12 máy/100 dân Giao thông vận tải
và các dịch vụ kỹ thuật phát triển đa dạng [10]
Biểu 2.3: Chỉ tiêu tài chính của thành phố giai đoạn 2005-2008
n v tính: tri u d ngĐơn vị tính: triệu dồng ị tính: triệu dồng ệu dồng ồngChỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008Tổng thu 745.000 868.000 1.157.000 1.191.710
Nguồn :Tính từ số liệu của niên giám thống kê thành phố Huế.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá ổn định, Luật Ngân sách, chính sách tàichính mới cùng với sự phân cấp của Tỉnh đã tạo điều kiện cho thành phố chủđộng trong thu chi ngân sách Tổng thu năm 2008 đạt 1.191,7 tỷ đồng, so vớinăm 2005 tăng 446,71 tỷ đồng Tổng chi cho 4 năm gần đây 3.298,319 tỷđồng, năm 2008 là 1.034,9 tỷ đồng, [13] chi chủ yếu cho xây dựng kết cấu hạtầng đô thị, sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, giáo dục đào tạo đảmbảo quốc phòng an ninh Thực hiện thu chi ngân sách đúng luật, có hiệu quảkinh tế - xã hội cao
Biểu 2.4: Dân số trung bình c a th nh ph giai o n 2005-2008ủa thành phố giai đoạn 2005-2008 ành phố giai đoạn 2005-2008 ố giai đoạn 2005-2008 đ ạn 2005-2008
Tỷ lệ dân số thành thị (%)
Tốc độ phát triển dân số chung (lần)
Tốc độ phát triển dân số
đô thị (lần)
Trang 36Nguồn :Tính từ số liệu của niên giám thống kê thành phố Huế.
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa là quá trình đô thị hoá,năm 2005 dân số thành thị ở thành phố là 263.087 người trong tổng số 326.264người (tỷ lệ đô thị hoá là 80,64%), đặc biệt năm 2007 đến nay, đô thị hoá ởthành phố diễn ra với tốc độ nhanh (tỷ lệ đô thị hoá chiếm trên 90%), tính đến31/7/2007 toàn thành phố có đến 24 phường và 3 xã) [13]
Những đặc điểm về địa bàn phát triển đô thị nói trên trên có mối quan hệrất chặt chẽ với đặc điểm của vấn đề nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ này
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt nhiệm vụ, đề tài sử dụng tổng hợp một hệ thống cácphương pháp nghiên cứu và các cách tiếp cận chủ yếu sau đây:
2.1.2.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng phương pháp luận củaphép biện chứng duy vật và lịch sử để xem xét các vấn đề đặt ra, đảm bảo cácvấn đề nghiên cứu là khách quan và khoa học Đó cũng là một trong nhữngyêu cầu trọng tâm của phương pháp nghiên cứu
2.1.2.2.Phương pháp điều tra tổng hợp và phân tích số liệu
Quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi đã sử dụng hệ thống các phươngpháp thống kê kinh tế để tiến hành các hoạt động điều tra thu nhập số liệu, tổnghợp và phân tích số liệu một cách khoa học nhằm đánh giá tình hình, phân tíchcác mối liên hệ, tìm các giải pháp sơ bộ cho quá trình nghiên cứu
2.1.2.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích kinh tế
Đề tài đã tiến hành phân tích, tổng hợp một số công trình đã nghiên cứu cóliên quan, các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học, các bài báo, bài phát biểu vềthực trạng thu hồi đất và việc làm, đời sống, thu nhập của người có đất bị thu hồi ởmột số địa phương trong thời gian gần đây Trên cơ sở đó, đề tài rút ra một số vấn
đề có tính lý luận và thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
2.1.2.4 Phương pháp nghiên cứu so sánh, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc
Trang 37Nhằm thống kê, phân tích, so sánh thực trạng việc làm, lao động và thu
nhập phân tích so sánh chính sách đền bù của người có đất bị thu hồi ở một sốphường xã, trong quá trình thu hồi đất và chính sách giải quyết việc làm
2.1.2.5 Phương pháp điều tra thống kê, mô hình hóa
Để rút ra những kết luận có tính khoa học trong việc đánh giá thực trạngviệc làm, thu nhập và đời sống của người có đất bị thu hồi, trên cơ sở đó đề xuấtcác giải pháp và kiến nghị phù hợp, có tính khả thi cao
2.1.2.6 Phương pháp điều tra khảo sát
- Đề tài đã tiến hành thiết kế các loại phiếu điều tra, phỏng vấn các hộ giađình bị thu hồi đất và phiếu phỏng vấn cán bộ địa phương ở vùng có đất bị thu hồi.Nội dung phỏng vấn các hộ gia đình có đất bị thu hồi gồm 18 câu hỏi (cả định tính
và định lượng) liên quan trực tiếp đến các vấn đề như: đất đai của hộ bị thu hồi(bao gồm cả đất ruộng, đất màu, đất ở, đất vườn và các loại đất khác); tình hình bồithường cho hộ gia đình khi thu hồi đất; việc sử dụng tiền bồi thường do thu hồi đất;thu nhập; việc làm của hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất; chính sách giải quyết việclàm ổn định đời sống của tỉnh, thành phố và doanh nghiệp đối với hộ gia đình vàlao động sau khi thu hồi đất, Cùng với việc điều tra các hộ gia đình bị thu hồi đất,
đề tài đã tiến hành phỏng vấn các cán bộ địa phương Nội dung phỏng vấn cán bộđịa phương gồm có 13 câu hỏi liên quan trực tiếp đến tình hình thu hồi đất ở địaphương, chính sách giải quyết việc làm, ổn định và nâng cao thu nhập đối vớingười có đất bị thu hồi, kiến nghị của địa phương về vấn đề hậu giải phóng mặtbằng, (Phụ lục B: phiếu điều tra, phỏng vấn các hộ gia đình bị thu hồi đất vàphiếu phỏng vấn cán bộ địa phương)
Ngoài điều tra bằng bảng hỏi, nghiên cứu các trường hợp thì còn sử dụngphương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân, cán bộ địa phương để đảmbảo độ tin cậy và hiệu lực của số liệu điều tra
- Phương pháp phân tích thống kê như phân tích nhân tố, phân tích phươngsai, phân tích riêng biệt, phương pháp mô hình hoá, cũng được vận dụng đểnghiên cứu sự tác động của vấn đề thu hồi đất đến việc làm, thu nhập và đời sốngcủa người dân
Trang 382.1.2.7 Công cụ xử lý và phân tích số liệu
Các phiếu điều tra phỏng vấn, các thông tin thu thập được đã được đề tài xử
lý trên máy tính bằng chương trình spss (Phụ lục C: kết quả xử lý số liệu điều
tra, phỏng vấn tình hình đời sống việc làm của người có đất bị thu hồi)
Trên cơ sở tài liệu đã tổng hợp được, chúng tôi vận dụng các phươngpháp đã được thiết lập để phân tích trong SPSS như số lớn nhất, nhỏ nhất, sốbình quân, số tương đối, số tuyệt đối, phương pháp so sánh, liên hệ và phântích để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan tới tín dụng qui mô nhỏtác động tới thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình Ngoài ra cácphương pháp trên còn được sử dụng để phân tích tổng quan các điều kiện tựnhiên, kinh tế, xã hội, đáp ứng được mục đích kinh tế đặt ra
2.2 THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA
Thực trạng thu hồi đất điều tra được biểu hiện qua các chỉ tiêu như: Biếnđộng đất đai của hộ qua các năm, diện tích từng loại đất thu hồi bình quân một
hộ và tình hình sử dụng đất thu hồi của hộ Về thời gian, đề tài xem xét sự biếnđộng chủ yếu ở giai đoạn 2005 - 2008 Đây là giai đoạn đô thị hoá thành phốdiễn ra với tốc độ nhanh, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và các côngtrình phục vụ lợi ích quốc gia khác được xây dựng nhiều Kết quả điều tra chothấy:
2.2.1 Biến động đất đai của các hộ điều tra
Biến động đất đai được xem xét theo 2 chiều hướng tăng và giảm Trongchiều hướng giảm, đất thu hồi và bán đi là 2 hướng chính được xem xét; trongchiều hướng tăng: đất được cấp mới, và mua thêm cũng được xem là sự biếnđộng chính Việc xem xét những xu hướng biến động trên nhằm đánh giá tácđộng của sự thu hồi đất đến biến động đất đai của hộ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu đất năm 2005 của hộ trong diện điều tra
Trang 39Cơ cấu đất năm 2005 của các hộ điều tra
(Nguồn: Số liệu điều tra) Ghi chú: Số liệu được tính bình quân cho các hộ điều tra, đơn vị %.
Trong tất cả các hộ được điều tra ở các phường đều có sự biến độnggiảm không có sự biến động tăng trong tổng số đất của các hộ điều tra (mẫuđiều tra chỉ tiến hành với người nông dân) Trong biến động giảm, biến động
do thu hồi đất là chủ yếu chiếm đến 95,96%, biến động do bán đi chỉ chiếm tỷtrọng rất nhỏ trong tổng đất đai của hộ Chiều hướng biến động giảm một mặtlàm cho quỹ đất của các hộ giảm mạnh (năm 2003 là 3.363,3 m2, năm 2008 chỉcòn 1.756,2 m2, giảm 1.607,1 m2 mặt khác cũng làm cho cơ cấu đất đai của hộthay đổi ( biểu đồ 2.1và 2.2)
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu đất năm 2008 của các hộ trong diện điều tra
Cơ cấu đất năm 2008 của các hộ điều tra
(Nguồn: Số liệu điều tra) Ghi chú: Số liệu được tính bình quân cho các hộ điều tra, đơn vị %.
Trang 40Diễn biến trên là phù hợp với tình hình chung của các hộ nông dân toànthành phố trong diện thu hồi đất và phản ánh đúng tình trạng hạn hẹp của quỹ đấtthành phố kể cả những vùng có quỹ đất bình quân đầu người xét trên phạm vitoàn thành phố được coi là khá cao như An Tây, An Đông và Xuân Phú Đây làđiều mà thành phố cần lưu ý khi quy hoạch các khu công nghiệp và khu đô thị.Bởi vì, khi người dân mất đất không có nguồn đất bổ sung, những vấn đề về việclàm, thu nhập và đời sống của họ sẽ bị ảnh hưởng Nếu không có giải pháp hỗ trợ
sẽ nẩy sinh những vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp Những vấn đề trên sẽ được đềtài phân tích kỹ ở phần sau
Biểu 2.5: Biến động diện tích của các hộ điều tra giai đoạn 2005-2008
Biến động giảm Biến động
tăng Thu hồi Bán đi