Luận văn, khóa luận, chuyên đề, tiểu luận, bài tập, đề tài, nông nghiệp, công nghiệp
Trang 1Mở ĐầU
Chơng 1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nông nghiệp và nông thôn có sự phát triển v ợt bậc
Có đợc sự chuyển biến đó là nhờ sự đổi mới chính sách kinh tế đúng đắn của Đảng
và Nhà nớc từ Chỉ thị 100 của Bộ Chính trị năm 1981 đến Nghị quyết 10 của Ban
Bí th năm 1988 đã xác định nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ
Xét về mặt lịch sử, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất hình thành đầu tiêncủa xã hội loài ngời Đối với nớc ta nông nghiệp có một vị trí cực kỳ quan trọng,với 76% dân số, 73% lao động[4] Đến 2010 tỷ lệ lao động nông nghiệp cònkhoảng 50%[12] Trong 10 năm qua thực hiện đờng lối chính sách của Đảng vàNhà nớc, nền nông nghiệp nớc ta đã đạt những thành tựu có ý nghĩa hết sức to lớn
Từ một nền nông nghiệp tự cung tự cấp nay đã vơn lên sản xuất hàng hoá Lơngthực và một số mặt hàng nông sản khác không những đáp ứng nhu cầu trong n ớc
mà còn xuất khẩu ra nớc ngoài
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo từ 1989, đến năm 2006 xuất trên 5 triệu tấn[44] Xuất khẩu nông-lâm-thuỷ sản năm 2000 đạt 4,3 tỷ USD, giá trị sản xuất toànngành trong giai đoạn 1996 - 2000 tăng 5,7% Có đợc những kết quả đó là nhờchính sách đổi mới của Đảng và Nhà nớc đã khẳng định tầm quan trọng của vấn đềnông dân, nông nghiệp và nông thôn; lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, làkhâu đột phá trong chiến lợc phát triển kinh tế
Cơ chế mới đã tạo động lực lớn kích thích sự đầu t hình thành cơ cấu kinh tếnhiều thành phần, trong đó kinh tế cá thể là một trong những thành phần góp phần
đắc lực vào sự phát triển kinh tế của nớc ta Ngày nay, nhiều nớc trên thế giới đềuxem kinh tế hộ gia đình nông dân phát triển theo con đ ờng kinh tế trang trại, sảnxuất hàng hoá là hình thức kinh tế quan trọng đóng vai trò quyết định trong việcứng dụng tiến bộ KHKT
Trang 2Đối với nớc ta hiện nay, xem kinh tế hộ là đơn vị kinh tế quan trọng trongkhu vực kinh tế nông thôn Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ, đã hình thành hộsản xuất hàng hoá với qui mô ngày càng lớn nhằm nâng cao năng suất hiệu quả vềsức cạnh tranh trong cơ chế thị trờng Nhìn chung, kinh tế hộ cha chuyển hẳn sangsản xuất hàng hoá, một bộ phận còn gặp khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả củatừng loại cây.
Huyện Cam Lộ là địa bàn có một bộ phận nông dân vùng trung du với diệntích đất đỏ Bazan khá lớn phù hợp hớng sản xuất hàng hoá nh hồ tiêu, cao su, Nhiều tiềm năng kinh tế ở đây cha đợc khai thác, kinh tế hàng hoá còn pháttriển chậm, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Thực tiễn cho thấy nghiêncứu hiệu quả kinh tế cây trồng, vật nuôi trong nông hộ chính là nghiên cứu pháttriển kinh tế nông hộ Đây chính là vấn đề cấp thiết hiện nay Xuất phát từ thực tế
đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đẩy mạnh phát triển kinh tế nông hộ theo hớng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Cam Lộ - tỉnh Quảng Trị ” làmluận văn của mình
Chơng 2Mục đích nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
- Đánh giá thực trạng kinh tế nông hộ huyện Cam Lộ
- Đa ra các giải pháp định hớng phát triển kinh tế ở địa phơng
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá về lý luận và thực tiễn của kinh tế nông hộ trong nền kinh tếthị trờng ở nớc ta
- Thực trạng phát triển kinh tế nông hộ ở n ớc ta và trên địa bàn huyện CamLộ
- Phân tích hiệu quả kinh tế cây trồng vật nuôi chủ yếu trên địa bàn huyện
Trang 3Nghiên cứu đa ra các giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế nông hộ theo h ớng hàng hoá cho địa phơng.
-Chơng 3Đối tợng và phạm vi thực hiện đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu là kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Cam Lộ Sốliệu đợc thu thập từ các tài liệu đã đợc công bố và số liệu khảo sát thực tế từ điềutra năm 2005 là năm có điều kiện thời tiết khí hậu bình thờng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Huyện Cam Lộ – tỉnh Quảng Trị trong thời gian từ năm 2000- 2005
3.3 Địa điểm thực hiện
- Đề tài đợc nghiên cứu tại huyện Cam Lộ- tỉnh Quảng Trị
- Điều tra trực tiếp 100 hộ thuộc vùng đồng bằng, vùng trung du và vùng đồinúi thấp
Chơng 4Kết cấu đề tài
Mở đầu
Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ
nông dân
Chơng 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phơng pháp nghiên cứu
Chơng 3: Thực trạng phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Cam Lộ
-Tỉnh Quảng Trị
Chơng 4: Phơng hớng và những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển
kinh tế nông hộ ở huyện Cam Lộ
Trang 4Chơng 5
CƠ Sở Lý LUậN Và THựC tiễn Về Sự TồN TạI Và PHáT
TRIểN CủA KINH Tế Hộ NÔNG DÂN
Nhóm các nhà nhân chủng học các đại biểu Waller - áo 1982, Wood (Mỹ1985) cho rằng: “Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tổ chức nguồn thu nhập nhằmchi tiêu cho cá nhân và đầu t vào sản xuất” [23]
Nhóm hệ thống Thế giới: “Hộ là nhóm ngời có cùng chung sở hữu, chungquyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ là một đơn vị kinh tế giống nh các công
ty, xí nghiệp khác” [23]
Trang 5Hội thảo quốc tế lần thứ IV năm 1980 tại Hà Lan về quản lý nông trại chorằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, đến tiêu dùng cáchoạt động xã hội khác”
Một số khái niệm khác về hộ là :
- Là gia đình coi nh một đơn vị chính quyền [40]
- Là đơn vị những ngời cùng ăn chung, ở chung với nhau [28]
- Là tất cả những ngời cùng sống trong một mái nhà Nhóm ngời đó baogồm những ngời cùng chung huyết tộc và những ngời làm công
Nh vậy, theo các quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu hộ trên một số đặc
điểm chung nh sau:
- Hộ có thể là một nhóm ngời có cùng chung huyết tộc hay không cùng mộthuyết tộc
- Hộ là một nhóm ngời cùng sống chung hay không cùng sống chung một máinhà
- Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung
- Cùng tiến hành sản xuất chung[47]
5.1.1.2 Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tợng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp vàphát triển nông thôn Tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nôngthôn chủ yếu đợc thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân Nông hộ (hộ nôngdân) là gia đình sống bằng nghề nông đợc kể là một đơn vị về mặt chính quyền[40] Là gia đình sống bằng nghề nông[28]
Theo Traianôp, hộ nông dân là đơn vị " rất ổn định" và là "ph ơng tiện tuyệtvời để tăng trởng và phát triển nông nghiệp"[31]
Theo Frank Ellis (1988) định nghĩa về hộ nông dân nh sau: “Nông dân là các
Trang 6đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nh ng về cơbản đợc đặc trng bằng việc tham gia một phần thị trờng hoạt động với một trình độhoàn chỉnh không cao” [43]
Hộ gia đình nông dân là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế, cácnguồn lực (đất đai, t liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động ) đ ợc góp thành vốnchung, cùng chung một ngân sách, cùng chung sống một mái nhà, ăn chung, mọingời đều hởng phần thu nhập và quyết định đều dựa trên ý kiến chung của cácthành viên là ngời lớn trong gia đình
Hộ nông dân có những đặc điểm sau:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa làmột đơn vị tiêu dùng
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ
tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá là chủ yếu Trình độ này quyết định quan
hệ giữa hộ nông dân và thị trờng
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt
động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau khiến cho khó phân biệt giới hạnthế nào là một hộ nông dân
Trong nghiên cứu hộ nông dân thì ranh giới để phân biệt các loại hộ là rất khókhăn, bởi vì đôi khi các hộ vừa tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp lại vừa tham giavào các lĩnh vực phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau, nhất là thu nhập của
hộ nhiều khi mang tính tổng hợp đa dạng Chính vì vậy, khi nghiên cứu về kinh tế
hộ nông dân, ngời ta hớng dựa vào mục đích sản xuất, dựa vào công cụ hay phơngthức sản xuất và mối quan hệ với thị trờng để chia hộ nông dân ra thành các môhình chủ yếu sau:
- Hộ thuần nông sản xuất tự cấp tự túc
Loại hộ này sản xuất nông nghiệp là chính Mục tiêu sản xuất là đảm bảo tiêu
Trang 7quyết định quy mô kinh tế của hộ Quy luật nhân khẩu chi phối sản xuất của nhóm
hộ này
- Hộ thuần nông sản xuất hàng hoá
Loại hộ này có thể chia làm hai loại:
Loại thứ nhất, sản xuất hàng hoá nhỏ có đặc trng cơ bản giống loại hộ thuầnnông sản xuất tự cấp tự túc, nhng có đặc điểm khác loại hộ trên là sản xuất của hộ
đã ảnh hởng đến lợi nhuận; bắt đầu tiếp cận với thị trờng Song do quy mô vốn nhỏnên ít có điều kiện để thay đổi cơ cấu sản xuất một cách nhanh chóng
Loại thứ hai, sản xuất hàng hoá với quy mô trang trại hộ gia đình tận dụng cóhiệu quả cao tài nguyên đất đai, lao động
mà loại hộ này thờng có nhu cầu vay vốn cao
5.1.2 Một số quan điểm về sự tồn tại và phát triển kinh tế nông hộ 1.1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin
về nguồn gốc gia đình (chủ yếu là gia đình nông dân) ăng ghen đã viết:
"Nh vậy là có ba hình thức hôn nhân chính, tơng ứng về đại thể với ba giai
đoạn phát triển chính của nhân loại ở thời đại mông muội có chế độ quần hôn, ởthời đại dã man có chế độ hôn nhân cặp đôi, ở chế độ văn minh có chế độ một vợmột chồng "
Trang 8"Chế độ một vợ một chồng sinh ra từ sự tập trung của cải vào tay ng ời-vào tayngời đàn ông-và từ nguyện vọng chuyển của cải ấy lại cho con cái của ng ời đàn ông
ấy chứ không phải của ngời nào khác"[17]
Chế độ hôn nhân cặp đôi xuất hiện vào thời kỳ con ngời đã biết chăn nuôi vàtrồng trọt và đây là gia đình của những con ngời sống bằng sản xuất nông nghiệp:
Đó là những hộ nông dân đầu tiên trong lịch sử.
Mác - ăngghen đã phê phán chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến và giai
cấp địa chủ phong kiến Trong các tác phẩm : Quốc hữu hóa ruộng đất (1872), Về
sự suy tàn của chế độ phong kiến và sự ra đời của giai cấp t sản (1884), T bản (quyển thứ ba, tập III, 1895), hai ông đã viết đại ý nh sau :
- Bọn lãnh chúa quý tộc sống phè phỡn trên mồ hôi nớc mắt lao động của nôngdân
- Tầng lớp quý tộc phong kiến trở nên thừa và là nhân tố cản trở sự phát triển
của xã hội
- Giai cấp địa chủ là bọn ăn không ngồi rồi và chiếm đoạt phần sản phẩm thặng
Trang 9Từ những kết quả nghiên cứu nêu trên, trong các tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa Cộng sản (1847), Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848), Quốc hữu hóa ruộng đất (1872) và Vấn đề nông dân ở Pháp và ở Đức (1894), Mác - ăngghen
đã khẳng định:
- Phải tớc đoạt bọn chiếm hữu ruộng đất
- Quốc hữu hóa ruộng đất ngày càng trở thành một tất yếu xã hội, để ruộng đấtphải về tay nông dân lao động và địa tô đợc bỏ vào quỹ chi tiêu của Nhà nớc [37] ăngghen đã giải thích tiểu nông:
"Tiểu nông là tầng lớp quan trọng nhất trong tất cả các tầng lớp nông dân, làngời sở hữu hoặc đi thuê- nhất là ngời sở hữu-một mảnh ruộng đất không lớn hơn
số ruộng đất mà họ thờng có thể cày cấy cùng với gia đình họ và cũng không béhơn số ruộng đất cần thiết để nuôi gia đình họ Cũng nh ngời tiểu thủ công, ngờitiểu nông là một ngời lao động, anh ta khác với ngời vô sản hiện đại ở chỗ anh tacòn sở hữu những t liệu lao động
Cùng với gia đình mình và bằng những nguyên liệu tự mình sản xuất ra, ng
-ời tiểu nông đã sản xuất đợc phần lớn nhất trong số những sản phẩm nông nghiệpcần dùng Phần còn thiếu đã có bà con láng giềng trong làng cung cấp và th ờng
đợc trả bằng sản phẩm trao đổi hoặc bằng cách đổi công."
Gia đình và ở một mức độ lớn là làng đã tự cấp tự túc và sản xuất đợc gần đủhết các thứ cần thiết cho mình
Lúc bấy giờ, đó hầu nh là nền kinh tế hoàn toàn tự nhiên[25]
Mác viết về kinh tế hộ nông dân:
Về kinh tế hộ nông dân, lúc đầu khi nghiên cứu con đờng CNH đặc thù củanớc Anh, Mác nhận thấy quá trình ngời nông dân bị tách khỏi ruộng đất ồ ạt (bọn tsản chiếm đất của nông dân để nuôi cừu lấy nguyên liệu dệt len), ông tiên đoán giaicấp nông dân sẽ bị xóa bỏ cùng với sự phát triển của đại công nghiệp và nông
Trang 10nghiệp sẽ đợc tổ chức lại thành nền đại sản xuất nh trong công nghiệp và trong xãhội chỉ còn hai giai cấp: vô sản và t bản.
Nhng sau đó, thực tế đã diễn ra bất chấp xu hớng diễn ra trong thời kỳ CNH
nhanh chóng ở nớc Anh, nông trại gia đình về căn bản không dựa trên lao động làm thuê vẫn tỏ rõ sức sống và hiệu quả của nó Từ đó trong quyển thứ ba của bộ T bản
(do ăngghen biên soạn theo đề cơng của Mác), Mác đã rút ra kết luận: "Ngay ở n
-ớc siêu công nghiệp với thời gian cho đến nay đã khẳng định, hình thức lãi nhất không phải là nông trại công nghiệp hóa mà là nông trại gia đình không dùng lao
động làm thuê. ở những nớc còn giữ hình thức t hữu chia đất thành khoảnh nhỏ,giá cả ngũ cốc trong những nớc mà chế độ sở hữu ruộng đất nhỏ còn chiếm địa vịthống trị thờng thấp hơn so với những nớc có nền sản xuất TBCN" [25]
Thấy đợc vai trò to lớn của nông trại gia đình đối với nghề nông hợp lý song
điều đó không có nghĩa là Mác tuyệt đối hoá tính chất bền vững của kinh tế tiểunông Mác nhận thấy rằng đối với “nghề nông hợp lý” thì hoặc là phải có “bàn taycủa ngời tiểu nông sống bằng lao động của mình” hoặc là phải có “sự kiểm soát củangời lao động với nhau” Hơn nữa đối với ngời nông dân, cả Mác và Ăngghen đều
tỏ thái độ thận trọng Chính vì vậy mà Ăngghen nêu luận điểm:
"Cần để cho ngời nông dân suy nghĩ trên luống cày của họ”
Kế thừa và phát huy những t tởng của Mác và ăngghen (về liên minh giữa hai
giai cấp công nhân và nông dân), ngay từ năm 1884, trong tác phẩm Chân tớng những kẻ "bạn dân" và bọn ấy hành động chống những những ngời xã hội dân chủ
nh thế nào? V.I Lênin đã đặt vấn đề liên minh cách mạng giữa hai giai cấp thợ thuyền và dân cày cho đó là phơng sách căn bản để lật đổ chế độ Nga hoàng, địa
chủ và t bản
Để đảm bảo cho sự liên minh đó, trong Luật cơng tháng T (1917), Lênin đã đề
ra nhiệm vụ: Quốc hữu hóa tất cả ruộng đất trong nớc, tịch thu ruộng đất của bọn
đại địa chủ và Hội nghị tháng T năm 1917 đã tán thành: Quốc hữu hóa tất cả ruộng
Trang 11đất trong nuớc, tịch thu ruộng đất của bọn đại địa chủ giao cho ủy ban dân cày,xem đó là điều kiện bảo đảm thắng lợi của cách mạng XHCN.
T tởng chỉ đạo của Lênin và chính Đảng vô sản đã đ a cách mạng tháng Mời
1917 đến thắng lợi và ngay sau đó, sắc luật về ruộng đất đã xóa bỏ vĩnh viễn quyền
chiếm hữu ruộng đất của bọn đại địa chủ, hoàng tộc và nhà chung và giao cho nôngdân hởng không
Năm 1920, trong Sơ thảo đề cơng về vấn đề ruộng đất viết cho Đại hội II của
Quốc tế cộng sản, Lê Nin nêu rõ:
- Chỉ có giai cấp vô sản công nghiệp do Đảng cộng sản lãnh đạo mới có thểlàm cho quần chúng cần lao động ở nông thôn thoát khỏi ách t bản và địa chủ
- Giai cấp vô sản cách mạng phải tịch thu tức khắc và triệt để tất cả ruộng đấtcủa bọn đại địa chủ chia cho nông dân sử dụng
Và bản Sơ thảo của Lênin đã đợc Đại hội II Quốc tế cộng sản thông qua [25].
1.1.2.2 Một số quan điểm khác trên thế giới về kinh tế nông hộ
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích về xã hội nông thôn trong lịch sử, MatsLundahl và Thommy Srensson cho rằng “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản” Vergo Pouló và Tausig cho rằng: “Nông trại nhỏ gia đình có hiệu quả hơn nông trạilớn TBCN và chính hình thức sản xuất này có lợi cho CNTB hơn vì khái thác đ ợccao nhất thặng d lao động ở nông thôn và giữ đợc giá nông sản thấp”
A.V Traianôp (1888 - 1939) là nhà bác học vĩ đại của nhân dân Xô Viết vàcủa nông dân thế giới Khi tìm hiểu quy luật tồn tại và vận động của kinh tế hộnông dân, không thể không nói đến các công trình nghiên cứu của Traianôp
Điểm trung tâm của các công trình của Traianôp là vấn đề bản chất của kinh tếnông hộ, cơ cấu tổ chức kinh tế của nó và con đờng phát triển của nó
Traianôp cho rằng:
Trang 12- Kinh tế nông dân là một loại hình kinh tế phức tạp của tổ chức sản xuất nôngnghiệp Đó là những xí nghiệp sản xuất hàng hóa của gia đình nông dân không thuênhân công và chiếm đại bộ phận nông hộ ở nớc Nga trớc Cách mạng (tháng Mời)cũng nh trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH ở Liên Xô.
- Kinh tế hộ nông dân gắn bó hữu cơ với gia đình nông dân, vì thế có thể coikinh tế nông dân là kinh tế gia đình Đó là một xí nghiệp lao động gia đình sốngtheo những quy luật của nó, khác với những quy luật TBCN dựa trên cơ sở lao độnglàm thuê Trong kinh tế gia đình, ngời nông dân vừa là ngời chủ, vừa là ngời lao
động Mục đích sản xuất không phải vì lợi nhuận mà là để thỏa mãn những nhu cầucủa gia đình
Theo Traianôp, đặc điểm cơ bản đầu tiên của kinh tế trang trại nông dân làkinh tế gia đình Toàn bộ cơ cấu tổ chức của dạng kinh tế nông dân đặc biệt này đ -
ợc quy định bởi quy mô, kết cấu của gia đình nông dân và tổng thể các nhu cầu tiêudùng cùng với số nhân lực lao động Đây là lý do tại sao quan niệm về lợi nhuậncủa kinh tế nông dân khác với kinh tế t bản và cũng là nguyên do tại sao quan niệmkinh tế t bản không thể áp dụng đợc cho kinh tế nông dân Lợi nhuận t bản là lợinhuận ròng, đợc tính bằng cách lấy tổng số thu nhập trừ bỏ các chi phí sản xuất.Cách tính lợi nhuận nh vậy không thể áp dụng đợc cho kinh tế nông dân, bởi vì đốivới kinh tế nông dân, các yếu tố sản xuất đợc thể hiện bằng những đơn vị không thể
so sánh đợc với các đơn vị kinh tế t bản
Trong kinh tế nông dân cũng nh trong kinh tế t bản, tổng thu nhập và chi phívật chất cũng có thể đợc tính bằng đồng rúp Tuy nhiên, sức lao động bỏ ra không
đợc thể hiện cũng nh không tính đợc các đồng rúp của lơng tháng Đó chính là nỗlực lao động của bản thân gia đình nông dân Nỗ lực này không chiết khấu đ ợccũng nh không góp đợc vào các đơn vị tiền tệ Nó chỉ có thể so sánh với đồng rúp.Việc so sánh giá trị một nỗ lực của một gia đình với giá trị đồng rúp có thể rấtkhách quan Nó có thể khác với mức độ thỏa mãn nhu cầu của gia đình hoặc khácvới mức độ nặng nhọc của việc cố gắng lao động cũng nh khác với các điều kiện
Trang 13Chừng nào các yêu cầu của gia đình nông dân còn ch a đợc thỏa mãn, chừngnào ý nghĩa khách quan của việc thỏa mãn các nhu cầu này đ ợc đánh giá cao hơn l-ợng lao động cần thiết cho việc thỏa mãn chung thì gia đình nông dân sẽ làm việcvì những khoản tiền công nhỏ bé mà chắc chắn là không có khả năng sinh lợi trongkinh tế t bản Do mục đích chủ yếu của kinh tế nông dân là đáp ứng ngân sách tiêudùng gia đình hàng năm nên nhân tố đợc quan tâm nhất không phải là tiền trả chomột đơn vị lao động (ngày công) mà là tiền trả cho cả năm lao động Tất nhiên nếu
đất đai thừa thải thì bất kỳ một đơn vị lao động nào mà gia đình nông dân bỏ ra đều
có xu hớng đợc nhận lợng tiền công tối đa, cho dù đó là kinh tế t bản hay kinh tếnông dân Trong những điều kiện nh vậy, kinh tế nông dân thờng dẫn đến nền kinh
tế quảng canh hơn là nền kinh tế sở hữu t hữu đất đai (doanh chủ) Nh vậy thì thunhập từ một đơn vị đất đai là nhỏ, song tiền công cho một đơn vị lao động là lớn.Thế nhng, nếu đất đai hạn chế và mức độ thâm canh chỉ ở mức bình th ờng thì gia
đình nông dân không thể sử dụng hết tất cả sức lao động của mình trên diện tích
đất đai mà gia đình đã có nếu gia đình đó thực hiện canh tác quảng canh Với mộtlợng sức lao động d thừa, trong khi lại không có khả năng đảm bảo thỏa mãn mọinhu cầu bằng số thu nhập từ tiền lơng của các thành viên của mình, gia đình nôngdân có thể tận dụng lợng lao động d thừa bằng cách đẩy mạnh thâm canh quảngcanh mảnh đất của mình Bằng cách này, gia đình nông dân có thể tăng thu nhậphàng năm cho các thành viên lao động dù số tiền trả cho mỗi đơn vị lao động sẽthấp hơn Cũng với mục đích nh vậy, gia đình nông dân thờng cho thuê đất đai vớicá cao hơn, không có lợi nếu xét từ gốc độ t bản thuần túy và mua đất với giá caokhá nhiều so với gia đã đợc t bản hóa Việc này đợc tiến hành nhằm tìm ra cách sửdụng lao động vốn d thừa của gia đình vốn không thể xảy ra trong trờng hợp hiếm
đất đai [32]
Khi vợt ra khỏi kinh tế nửa tự nhiên (nửa tự cung tự cấp), ng ời nông dân bắt
đầu cảm thấy sự cần thiết của tín dụng, của kỹ thuật và công nghệ tiến bộ Nh ng
mặt khác, các quá trình thuần túy sinh học (trong trồng trọt cũng nh chăn nuôi) lại
Trang 14đòi hỏi một sự chăm sóc của từng cá nhân và điều đó lại hạn chế sự phát triển theo
chiều rộng của doanh nghiệp nông dân
Mỗi ngành (sản xuất) có một giới hạn tối u cần thiết Khi giới hạn tối u vợt quá
khổ kinh tế gia đình nông dân, lúc đó nông dân tìm cách hợp tác với nhau để đạt tới giới hạn tối u mới, bằng cách chuyển dần lên sản xuất lớn Nói cách khác, do
không có khả năng tập trung vô hạn theo chiều sâu nh trong công nghiệp nên sảnxuất nông nghiệp chỉ có thể tập trung theo chiều rộng từ quá trình này đến quátrình khác Nh vậy, ngời nông dân khi vẫn là ngời chủ và ngời lao động sẽ đi tớichỗ liên kết các quá trình và các ngành "tách rời nhau", cùng nhau mua sắm t liệusản xuất, thành lập các nhóm sử dụng máy móc và tiêu thụ sản phẩm, cải tạo đất
đai và bằng cách đó mà thay đổi cách kinh doanh của mình Toàn bộ hệ thống ấydần dần biến thành một hệ thống kinh tế hợp tác ở nông thôn
1.1.2.3 T tởng Hồ Chí Minh về kinh tế hộ nông dân
Trong các Hội nghị của Quốc tê nông dân (tháng 10/1923), trong những bài
đăng trên báo Đời sống thợ thuyền (tháng 1/1924), báo Le Paria (Ngời cùng khổ) tháng 4/1924, tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (tháng 7 năm 1924) , đặc biệt trong Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) Hồ Chí Minh đã lên án gay gắt chủ nghĩa đế
quốc các nớc Anh, Pháp, ý, tây Ban Nha đã cấu kết với với giai cấp địa chủ phong
kiến và Nhà thờ Công giáo để cớp đoạt ruộng đất, áp bức bóc lột nhân dân các thuộc địa ở các châu á, Phi, Mỹ, La Tinh, trong đó có nông dân Việt Nam, Lào và
Cam Pu Chia
Từ những thực tế nêu trên, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ phải giải phóng nông dân ra khỏi ách đế quốc phong kiến, địa chủ, giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nông dân.
T tởng Hồ Chí Minh đã thể hiện trong Chính cơng vắn tắt và Sách lợc văn tắt của Đảng (1930): Lên án chủ nghĩa t bản dân quyền phải đi đôi với cách mạng thổ
địa, phải tịch thu hết ruộng đất chia cho dân cày nghèo, xóa bỏ mọi thứ su thuế.
Trang 15Trong chơng trình của Mặt trận Việt Minh (1941) cho đến cách mạng tháng Tám năm 1945 và sau đó, vấn đề ruộng đất đã đợc giải quyết từ thấp lên cao: Giảm
tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp, địa chủ Việt gian chia lại công
điền cho nông dân Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, tiến hành cải cáchruộng đất ở miền Bắc, xóa bỏ triệt để chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địachủ phong kiến, chia ruộng đất công bằng hợp lý cho nông dân không ruộng vàthiếu ruộng
Từ năm 1951 - 1953, t tởng Hồ Chí Minh về nông dân và ruộng đất đợc thể
hiện trong những bài phát biểu về giảm tô và cải cách ruộng đất [26].
Từ tháng 8/1945 chính quyền cách mạng đã ban hành nhiều chính sách khuyếnkhích và hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp Trong kháng chiếnchống Pháp, Hồ Chí Minh đã gởi th kêu gọi nông dân "thi đua canh tác"
Sau ngày hòa bình lập lại (1954), ở miền Bắc để khôi phục kinh tế sau chiếntranh, tháng 3/1955 dới sự lãnh đạo của Hồ Chủ Tịch, Chính phủ đã ban hành chínhsách thuế nông nghiệp sửa đổi, giới hạn mức thuế tối đa, miễn thuế cho hộ nôngdân nghèo Tháng 5 năm 1955, Quốc hội thông qua chính sách khuyến khích sảnxuất nông nghiệp gồm 8 điểm đối với kinh tế hộ nông dân[25] :
1/ Bảo dảm quyền sử dụng ruộng đất, bảo hộ tài sản của nông dân và các tầnglớp lao động
2/ Chống bỏ ruộng hoang, khuyến khích khai hoang phục hóa (ruộng đất khaihoang đợc miễn thuế 5 năm, phục hóa đợc miễn thuế 3 năm) sau khi đóng thuế,nông dân đợc công nhận quyền sở hữu đối với ruộng đất đó
3/ Tự do thuê mớn nhân công, tự do vay mợn, tự do thuê và cho thuê trâu bò.4/ Đẩy mạnh việc đổi công giúp đỡ lẫn nhau, phát triển rộng rãi các hình thức
đổi công
5/ Khuyến khích khôi phục và phát triển các nghề thủ công truyền thống, nghề
Trang 166/ Bảo hộ, khuyến khích, khen thởng các hộ làm ăn khá giả.
7/ Bảo hộ quyền lợi của nông dân đã giành đợc trong đấu tranh, nghiêm cấmphá hoại sản xuất
8/ Chăm sóc ruộng vờn tốt và tăng vụ, không phải tăng thuế
Từ những quan niệm trên thấy rằng: Kinh tế hộ nông dân là đơn vị tổ chức kinh tế cơ sở và tự chủ sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đ ợc hình thành và tồn tại khách quan trong mọi phơng thức sản xuất trên cơ sở sử dụng lao động, đất đai và
t liệu sản xuất của hộ nông dân Đồng thời nó là nòng cốt trong sản xuất nông nghiệp, góp phần đa nông nghiệp phát triển lên một tầm cao mới.
Sự tồn tại và phát triển kinh tế hộ gắn với với sự tồn tại và phát triển của gia
đình Ngày nay, khi mà nền nông nghiệp thế giới đã trải qua nhiều b ớc thăng trầmvới nhiều mô hình phát triển phong phú, đa dạng, đạt đ ợc nhiều thành tựu to lớncũng nh bao nhiêu thất bại đắng cay, chúng ta mới có cơ sở để nhận thức đ ợc rằngngời ta không thể rập khuôn máy móc, cũng nh không thể tuỳ ý định đoạt con đờngphát triển nền nông nghiệp một cách tuỳ tiện Những đặc điểm sản xuất nôngnghiệp nó quyết định phơng thức sản xuất và con đờng phát triển thích hợp Chínhnhững đặc điểm này của sản xuất nông nghiệp đã quyết định kinh tế nông hộ làthành phần trung tâm ảnh hởng đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
- Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là t liệu sản xuất chủ yếu đặc biệtkhông thể thay thế đợc Tính chất đặc biệt của đất đai thể hiện ở chỗ nó vừa mangtính chất của một t liệu sản xuất vừa mang tính chất của một đối t ợng lao động.Khác với các t liệu sản xuất khác, đất đai có nhiều hạng, phân bố trên một khônggian rộng lớn và có tính cố định, trong quá trình sử dụng nếu sử dụng hợp lý thì tliệu sản xuất này không bị hao mòn mà chất lợng ngày càng tăng lên Do vậy nềntảng của sự phát triển nông nghiệp là sự gắn bó của ng ời lao động với ruộng đất,với t liệu sản xuất Chính điều này quy định nghề nông khác hẳn với các ngành sảnxuất khác và quy định đơn vị sản xuất trong nông nghiệp là hộ gia đình nông dân
Trang 17- Đối tợng trong sản xuất nông nghiệp là những cây trồng, vật nuôi và những cơ thể sống nên tính chất thời vụ trong sản xuất nông nghiệp là một hiện tợngkhông thể khắc phục đợc Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp còn chịu ảnh h ởngnhiều của điều kiện tự nhiên nên nó đòi hỏi một hình thức lao động tận tình với mộttinh thần trách nhiệm cao thì mới có những kết quả thực sự So với các hình thức tổchức lao động tập thể không có hiệu quả tr ớc đây thì rõ ràng chỉ có hộ nông dân để
đảm bảo cho lợi ích của mình ngời ta sẽ vợt đợc những khó khăn đó của sản xuấtnông nghiệp Chính đặc điểm này quy định đơn vị sản xuất, hình thức tổ chức sảnxuất có hiệu quả nhất trong nông nghiệp là hộ gia đình nông dân
- Trong nông nghiệp, quá trình tái sản xuất kinh doanh và quá trình tái sảnxuất tự nhiên luôn luôn tồn tại song song với nhau Quá trình tái sản xuất tự nhiêncủa cây trồng vật nuôi là một quá trình liên tục không thể chia cắt về mặt thời gian
đợc Đặc điểm này quy định sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có sự chăm sóc củangời lao động từ khâu đầu đến khâu cuối không thể thực hiện chuyên môn hoátrong sản xuất công nghiệp Vì vậy, hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệpthích hợp nhất là hộ gia đình nông dân Khi hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủtrong sản xuất và lợi ích của họ đợc đảm bảo thì họ huy động mọi nguồn lực để đầu
t vào sản xuất với hiệu quả cao nhất
- Công cụ sản xuất trong nông nghiệp dẫu phát triển đến mức hiện đại nàochăng nữa vẫn không làm mất đi tính sinh học của đối tợng sản xuất nông nghiệp
- Trong nông nghiệp, đối tợng sản xuất là những cây con, nó không thể vô chủhoá hoặc đa chủ hoá Do đó đòi hỏi sự thống nhất giữa quá trình quản lý với quátrình lao động, sản xuất, phân phối và tiêu dùng: sự thống nhất giữa chủ thể kinh tế
và hoạt động kinh tế Đặc tính này quy định sự tồn tại lâu dài của kinh tế hộ
Từ sự phân tích trên cho thấy việc tổ chức các đơn vị kinh tế trong nôngnghiệp thờng không thích hợp với quy mô lớn, chuyên môn hoá cao theo các giai
đoạn
Trang 18sản xuất nh trong các ngành sản xuất khác Vì vậy hộ gia đình nông dân là đơn vịkinh tế tự chủ có vai trò quan trọng nhất trong quá trình phát triển nông nghiệp,nông thôn.
Kết luận chung về sự tồn tại và phát triển kinh tế nông hộ và kinh tế trang trạigia đình :
Có thể khẳng định kinh tế nông hộ và trang trại gia đình trên thế giới vẫn tồntại và phát triển vì bản thân nó có những thế mạnh hơn hẳn các hình thức tổ chứcsản xuất nông nghiệp khác[25] Trớc hết, trang trại gia đình là hình thức tổ chứcsản xuất phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà đối t ợng sản xuất là sinhvật Ngời nông dân trực tiếp tác động vào quá trình sinh trởng của cây trồng vậtnuôi không qua trung gian, luôn bám sát đồng ruộng, chuồng trại nên đạt đ ợc hiệuquả cao nhất Thứ hai, hộ gia đình và trang trại gia đình là một tổ chức sản xuất cáthể bao gồm sử dụng cả lao động chính và lao động phụ là chủ yếu các thành viêntrong gia đình có quan hệ huyết thống, có khi có thêm một ít lao động làm thuê,quản lý điều hành rất thuận tiện, hiệu quả và hiệu suất sử dụng lao động cao hơnnhững tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp Thứ ba, trang trại gia đình là tổchức hàng hoá, khác kinh tế tự cấp tự túc của gia đình tiểu nông nên trở thành lực l -ợng sản xuất nông sản hàng hoá chủ yếu cho xã hội Thứ t , kinh tế trang trại gia
đình là thành phần kinh tế cá thể nhng không độc lập với kinh tế hợp tác và cácthành phần kinh tế khác mà có chất mềm dẻo, có khả năng dung nạp các hình thức
sở hữu khác Cuối cùng, trang trại gia đình có khả năng tiếp thu nhiều trình độkhoa học và công nghệ khác nhau, từ thô sơ đến hiện đại, phù hợp với yêu cầu vàkhả năng sản xuất nên đạt mức chi phí thấp nhất và hiệu quả kinh tế cao trong sảnxuất hàng hoá
5.1.3 Đặc trng của kinh tế hộ nông dân
Đặc trng bao trùm của kinh tế hộ nông dân là các thành viên trong nông hộlàm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân và gia đình
Trang 19tự túc, tự cấp hoặc có sản xuất hàng hoá với năng suất lao động thấp, nh ng lại cóvai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở các nớc đangphát triển nói chung và ở nớc ta nói riêng[25].
Từ đặc trng bao trùm trên, tuỳ theo tình hình và điều kiện cụ thể của từng n ớc,từng vùng, từng loại hộ và hình thành các đặc trng cụ thể đa dạng5 về hình thứcquản lý, về ruộng đất, về quy mô, về vốn tài sản, về lao động Kinh tế hộ nông dânthờng có các đặc trng cơ bản cụ thể nh sau:
* Hình thức quản lý của các nông hộ, nông trại
Các nớc, việc quản lý các nông hộ, nông trại thờng theo các hình thức sau:
- Phần lớn các hộ, nông trại do mỗi gia đình trực tiếp quản lý Ng ời chủ hộ,nông trại đồng thời là chủ gia đình cùng tham gia lao động với các thành viên tronggia đình Có trờng hợp chủ nông hộ, nông trại không có điều kiện trực tiếp quản lýthì giao cho một thành viên trong gia đình có năng lực và uy tín quản lý hoặc thuêngời quản lý Mỗi hộ, nông trại là một đơn vị kinh doanh tự chủ
- Hình thức liên doanh với các nông hộ, nông trại hoặc các đơn vị kinh doanhkhác thành một đơn vị thống nhất có t cách pháp nhân Đối tợng liên doanh này th-ờng là anh em, bà con họ hàng thân thuộc Việc liên doanh này th ờng nhằm mởrộng sản xuất, tăng thêm tiềm lực kinh tế
- Hình thức hợp doanh theo cổ phần dới dạng công ty để tiến hành sản xuất,chế biến tiêu thụ nông, sản phẩm Hình thức này, các nông hộ này th ờng có quy môlớn, chuyên môn hoá sản xuất cao nhng vẫn mang tính chất đa dạng, chủ yếu sửdụng lao động làm thuê
- Hình thức uỷ thác, ở đây chủ nông hộ, nông trại có ruộng đất riêng hoặcthuê ruộng đất để sản xuất Do những điều kiện riêng biệt mà các chủ hộ, nông trạikhông trực tiếp làm nông nghiệp mà uỷ thác cho bà con, anh em, bạn bè sản xuấtnông nghiệp
Trang 20- Loại kinh tế nông hộ kết hợp với kinh tế hợp tác xã (hoặc nông tr ờng) đểtiến hành sản xuất kinh doanh Nông hộ và HTX (hoặc nông tr ờng) là hai chủ thểkinh tế Nông hộ trực tiếp thực hiện các khâu sản xuất, còn HTX (hoặc nông tr ờng)thực hiện các khâu dịch vụ đầu vào, đầu ra.
- Loại kinh tế nông hộ độc lập hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu bằnglao động trực tiếp của gia đình mình, không kết hợp với HTX hoặc nông tr ờng nhtrên ở đây mỗi nông hộ là một chủ thể kinh tế
*Ruộng đất:
Sở hữu ruộng đất và quy mô ruộng đất của các nông hộ và nông trại ở các n
-ớc cũng khác nhau Về sở hữu ruộng đất ở Mỹ và nhiều n -ớc t bản phát triển, ruộng
đất do các nông hộ nông trại sử dụng thờng thuộc sở hữu t nhân Chủ nông hộ,nông trại vừa là ngời sử dụng ruộng đất vừa là ngời sở hữu ruộng đất Một số nônghộ,nông trại thuê một phần hoặc hoàn toàn ruộng đất để sử dụng Một số nônghộ,nông trại vừa có ruộng đất riêng, vừa có ruộng đất thuê của ng ời khác hoặc chongời khác thuê Một số nông hộ không có ruộng đất phải lĩnh canh ở Việt Namruộng đất thuộc sở hữu nhà nớc, các nông hộ đợc giao khoán ruộng đất sử dụng ổn
định, lâu dài Tuỳ theo trồng cây hàng năm hay lâu năm mà ruộng đất đ ợc giaokhoán cho nông hộ từ 20 – 25 năm, các nông hộ nộp thuế cho Nhà n ớc ở ViệtNam bình quân mỗi nông hộ khoảng 0,59 ha ở một số vùng có nhiều ruộng đất(nh miền Nam, một số vùng kinh tế mới) quy mô ruộng đất bình quân nông hộkhoảng 1- 3 ha Nhìn chung ruộng đất ở các nông hộ bị phân tán thành nhiều mảnh.Nhà nớc giới hạn mức đất nông nghiệp cho mỗi hộ gia đình, đối với cây hàng nămkhoảng từ 2- 3 ha, đối với cây lâu năm khoảng 10–30 ha (theo Nghị quyết 64 củaChính phủ)
* Cơ cấu sản xuất của các nông hộ, nông trại:
Cơ cấu sản xuất của các nông hộ mang tính chất đặc tr ng đa dạng Có loạinông hộ sản xuất mang tính chất độc canh, nặng về cây l ơng thực mà chủ yếu là
Trang 21nghiệp Có loại nông hộ vừa có trồng trọt, chăn nuôi, vừa có ngành nghề Có loại
hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc thuỷ sản, kết hợp với chế biến và một sốngành nghề khác Điều đó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế của từng vùng
và từng nông hộ Trong nông hộ có ngành sản xuất hoạt động th ờng xuyên quanhnăm nhng cũng có ngành sản xuất vào lúc nông nhàn
Cơ cấu sản xuất đó đã ảnh hởng đến nguồn thu nhập của từng loại nông hộ
Có hộ thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp nhng cũng có hộ thu nhập chủ yếu từ ngoàinông nghiệp Có hộ thu nhập từ kinh doanh các ngành nghề, làm thuê cho các nơikhác Thông thờng những hộ có nhiều ruộng đất thì thu nhập từ nông nghiệp là chủyếu, ngợc lại những hộ ít ruộng đất chủ yếu thu nhập từ các ngành phi nông nghiệp
* Vốn và tài sản của nông hộ,nông trại:
Các nông hộ lúc đầu t có một số vốn tự có để phát triển sản xuất và đảm bảo
đời sống Tuỳ theo điều kiện và quy mô từng hộ mà số vốn của các nông hộ cókhác nhau Các nông hộ trung bình và nghèo thờng ít vốn và thiếu vốn Các hộ khá
và giàu cũng thiếu vốn để mở rộng sản xuất nhanh hơn, nhìn chung các hộ đềuthiếu vốn nhng với mức độ khác nhau Tuỳ theo điều kiện của từng n ớc và từng loại
hộ mà Nhà nớc cho vay ít hay nhiều ở các nớc đang phát triển việc Nhà nớc chocác hộ nông dân vay vốn có ý nghĩa quan trọng Ngoài việc vay vốn của Nhà n ớc,các nông hộ còn vay vốn của t nhân và các tổ chức kinh tế khác ở Việt Nam, Nhànớc cho nông dân vay vốn cha đợc nhiều, mới khoảng 20–30% Các nông hộ vaycòn gặp khó khăn về thủ tục, về thời gian và lãi suất
Về tài sản, nhìn chung các nông hộ đã mua sắm đợc các nông cụ thông ờng Các hộ khá mua sắm đợc một số máy móc thông dụng ít tiền, còn các máymóc hiện đại đắt tiền thì các nông hộ, nông trại phải thuê của các tổ chức dịch vụ
th-kỹ thuật ở Việt Nam, nhiều nông hộ trung bình, khá có nông cụ, trâu bò riêng làmcho nông hộ mình và kết hợp làm thuê cho các nông hộ khác Ngoài những tài sảnriêng của nông hộ, trong các vùng đều có những tài sản công cộng nh hệ thống
Trang 22thuỷ nông, trạm biến thế do các tổ chức dịch vụ tổ chức dịch vụ phụ trách làm dịch
vụ cho các nông hộ trong vùng
* Lao động trong các nông hộ, nông trại
ở các nớc, đặc biệt ở các nông trại quy mô lớn, lao động của các nông trại th ờng chia làm hai loại: lao động trực tiếp và lao động quản lý ở các nông hộ, nôngtrại vừa và nhỏ thờng chủ nông hộ, nông trại vừa làm quản lý vừa trực tiếp sản xuất.Lao động sản xuất chủ yếu do các thành viên trong nông hộ, nông trại đảm nhận.Những nông trại lớn có thuê thêm lao động ngoài nhng lực lợng chủ yếu vẫn là cácthành viên trong gia đình hoặc bà con họ hàng Tuỳ theo nhu cầu công việc, lao
-động có thể gồm hai loại: lao -động chuyên môn có nghề nghiệp và lao -động phổthông ở Việt Nam trong các nông hộ, các thành viên trong gia đình thờng làm
đủ loại công việc (trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ) do sự phân công hàng ngày của
bố hoặc mẹ Một số nông hộ giàu có nhiều đất đai, nhiều ngành nghề có thuê thêmmột số lao động thời vụ có kỹ thuật hoặc thuê lao động thờng xuyên
Quan điểm của đảng và nhà nớc ta về phát triển kinh tế hộ và kinh
tế trang trại.
Mục tiêu chiến lợc của Đảng đặt ra là đến năm 2020, xây dựng nớc ta cơ bảnthành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại Đến lúc đó, ngành nông nghiệpcùng với một số ngành kinh tế chủ yếu khác phải đạt trình độ CNH-HĐH cao hơnnhiều so với những năm cuối của thế kỷ XX và đạt trình độ trung bình tiên tiếntrong khu vực và trên thế giới
Nền nông nghiệp nớc ta đợc chuyển biến bắt đầu từ Chỉ thị 100 (1981) củaBan Bí th, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988), Nghị quyết Trung ơng 6 (khoáVI) 1989 xác định hộ nông dân xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất Đáng chú
ý là tác dụng to lớn nhất, bao trùm nhất của Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị là đãthực sự giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp mà lực l ợng cơ bản là kinh tế hộnông dân, đã tạo ra đợc sự tăng trởng diệu kỳ và liên tục hơn 10 năm liền từ năm
Trang 23kinh tế hộ nông dân sản xuất nhiều nông sản hàng hoá theo mô hình trang trại gia
Một số chính sách lâu dài của Nhà nớc đối với kinh tế hộ và cao hơn là kinh
tế trang trại là[29]:
- Nhà nớc khuyến khích phát triển và bảo hộ kinh tế trang trại Các hộ gia đình,cá nhân đầu t phát triển kinh doanh trang trại đợc nhà nớc giao đất, cho thuê đất,cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài theo phát luật để sản xuất kinhdoanh
- Nhà nớc đặc biệt khuyến khích việc đầu t khai thác có hiệu quả đất trống, đồinúi trọc ở trung du, miền núi, biên giới, hải đảo tận dụng khai thác các loại đất cònhoang hoá, ao hồ, đầm, bãi bồi ven sông, ven biển để sản xuất nông, lâm, ngnghiệp theo hớng chuyên canh với tỷ suất hàng hoá cao Đối với những vùng đấthẹp, ngời đông, khuyến kích phát triển kinh tế trang trại sử dụng ít đất, nhiều lao
động, thâm canh cao, gắn với chế biến và thơng mại, dịch vụ, làm ra nông sản cógiá trị lớn Ưu tiên giao đất, cho thuê đối với những hộ nông dân có vốn, kinhnghiệm sản xuất, quản lý, có yêu cầu mở rộng qui mô sản xuất nông nghiệp hànghoá và những hộ không có đất sản xuất nông nghiệp mà có nguyện vọng tạo dựngcơ nghiệp lâu dài trong nông nghiệp
Trang 24- Nhà nớc thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của hộ nôngdân, phát triển kinh tế trang trại đi đôi với việc chuyển đổi hợp tác xã cũ, mở rộngcác hình thức kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất kinh doanh giữa các hộ nông dân,các trang trại, các công, lâm trờng quốc doanh và doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế khác nhau để tạo động lực và sức mạnh tổng hợp cho nông nghiệp,nông thôn phát triển.
- Nhà nớc hỗ trợ về vốn, khoa học- công nghệ, chế biến tiêu thụ sản phẩm, xâydựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại phát triển bền vững
- Tăng cờng công tác quản lý nhà nớc để các hình thức của kinh tế hộ và
kinh tế trang trại phát triển lành mạnh có hiệu quả
5.2 Tình hình phát triển kinh tế hộ gia đình trên thế
giới và ở Việt Nam
5.2.1 Tình hình phát triển kinh tế hộ gia đình trên thế giới
Trang trại gia đình là cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nôngdân, hình thành và phát triển trong điều kiện của nên kinh tế thị trờng từ khi phơngthức sản xuất TBCN thay thế phơng thức sản xuất phong kiến, khi bắt đầu cuộccách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở một số nớc phát triển châu âu
Kinh tế trang trại gia đình là một hình thức tổ chức nông nghiệp sản xuất hànghoá khác với nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc Các Mác đã phân biệt ng ời chủtrang trại với ngời tiểu nông nh sau: Ngời chủ trang trại bán ra thị trờng toàn bộ sảnphẩm làm ra , còn ngời tiểu nông thì tiêu dùng trực tiếp đại bộ phận sản phẩm củamình Đặc điểm cơ bản của gia đình là tính chất sản xuất hàng hoá, không phải làsản xuất tự cấp tự túc Các trang trại gia đình đợc hình thành từ các hộ tiểu nôngkhi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp tự túc khép kín Điều kiện cần và đủ cho việchình thành và phát triển kinh tế trang trại gia đình là sự hình thành nền kinh tế hànghoá theo cơ chế thị trờng cạnh tranh và đẩy mạnh công nghiệp hoá
Trang 25Cho đến cuối thế kỷ XIX, trang trại gia đình trở thành qui mô sản xuất phổbiến nhất trong nông nghiệp thế giới.
Loại hình kinh doanh này gồm có ngời chủ với gia đình hoặc có khi có mộtvài lao động làm thuê ít nhiều có tham gia sinh hoạt với gia đình Loại hình kinhdoanh này có sức chống đỡ tốt trong các cuộc khủng hoảng kinh tế[25]
Sau gần hai thế kỷ tồn tại và phát triển, vị trí của kinh tế trang trại gia đình đã
đợc khẳng định trong thực tiễn Thời kỳ đầu ngời ta lo ngại rằng, trang trại gia
đình với qui mô nhỏ bé, phân tán sẽ không phù hợp với ph ơng thức sản xuất t bản
và sớm muộn sẽ bị các xí nghiệp TBCN đào thải dới sức ép của qui luật thị trờng.Nhng trái lại, trên thực tế, không những trang trại gia đình trụ lại đ ợc mà nó trởthành lực lợng sản xuất nông nghiệp chủ yếu ngay ở các n ớc công-nông nghiệpphát triển [25]
Về sau, khi kinh tế trang trại gia đình phát triển theo chiều h ớng tăng qui mô,tập trung hóa sản xuất, có ngời dự đoán trang trại gia đình sẽ bị phân cực, sốtrang trại nhỏ bị phá sản sẽ biến thành lao động làm thuê, còn trang trại lớn sẽ tậptrung đất đai để hình thành các xí nghiệp nông nghiệp chuyên sử dụng lao độnglàm thuê và đến lúc đó, trang trại gia đình sẽ biến mất trên mặt trận nông nghiệp
Dự đoán trên do không nắm vững đặc điểm và tính chất của đối t ợng nông nghiệp
là sinh vật (cây trồng, gia súc) Thực tiễn dự đoán trên không có căn cứ Qui môbình quân của các trang trại gia đình đều tăng và cơ cấu trang trại với qui mô lớn,vừa và nhỏ vẫn tồn tại lâu dài Điều đó phù hợp với qui luật của thị tr ờng là vừacạnh tranh, vừa hợp tác với nhau, bổ sung nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển
Đến những năm cuối thế kỷ XX, trang trại gia đình là mô hình sản xuất phổbiến trong nền nông nghiệp thế giới, nó chiếm tỷ trọng lớn về đất canh tác cũng
nh khối lợng nông sản phẩm sản xuất ra Còn các xí nghiệp sản xuất tập trung quimô lớn chiếm một tỉ trọng nhỏ hơn về đất đai cũng nh khối lợng nông sản làm ra
ở Hoa Kỳ, trang trại gia đình chiếm 87% tổng số trang trại, 65% đất đai và
Trang 26lợng ngô và đậu tơng của toàn thế giới, hàng năm xuất khẩu 40-50 triệu tấn ngô,
đậu tơng Các nhà kinh tế học Mỹ dự đoán trong thế kỷ XXI, trang trại gia đìnhvẫn là hình thức xí nghiệp chủ yếu của nền nông nghiệp Mỹ Năm 1980, qui môbình quân về đất tính cho một trang trại là 180 ha, một lao động nuôi đ ợc 80 ngời
Có trên 2 triệu lao động nông nghiệp làm thuê Trang trại nhỏ thu nhập d ới100.000USD/năm không thuê lao động; trang trại trung bình thu nhập 100.000-500.000USD/năm, thuê 1-2,5 lao động [25]
ở Tây Âu, hầu hết các trang trại là trang trại gia đình Nớc Pháp, với 98.000trang trại đã sản xuất nông sản nhiều gấp 2,2 lần so với nhu cầu trong n ớc với tỉsuất hàng hóa về hạt ngũ cốc là 95%, thịt sữa 70-80%, rau quả trên 70%[25].Vơng quốc Hà Lan có 128.000 trang trại, riêng chuyên hoa có 1.500 trangtrại, hàng năm sản xuất 7 tỉ bông hoa và 600 triệu chậu hoa trong đó 70% choxuất khẩu[25]
Các nớc châu á, đại bộ phận trang trại là trang trại gia đình, các nớc này cómật độ dân số cao, qui mô trang trại chỉ đạt khoảng 1-4 ha nh Sri Lanka 0,8 ha,Hàn Quốc 1,08 ha, ấn Độ 2,0 ha, Philippin 3,6 ha, Indonexia 3,7 ha, Thái Lan 4,3ha(1990)[25]
ở Nhật Bản, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai Nhật Bản tiến hành cải cáchruộng đất, qui định địa chủ chỉ đợc giữ lại một phần ruộng đất nhất định, tối đa là
2 ha, sau giảm xuống còn 1 ha Số còn lại Nhà n ớc mua lại và chuyển nhợng chonhợng cho những ngời nông dân không có ruộng đất Ngành nông nghiệp tuy tỷtrọng trong tổng sản phẩm quốc dân giảm, nhng sản lợng và năng suất lao độnglại tăng nhanh Lao động trong nông nghiệp giảm từ 14,5 triệu năm 1960 xuốngcòn 8,9 triệu năm 1969[16] Với 4 triệu lao động ở trang trại (3,7% dân số) đãbảo đảm lơng thực, thực phẩm cho 125 triệu ngời Trong đó gạo 107%, thịt 81%,sữa 89%, rau quả 76-95%, đờng 84% Năm 1990 mỗi trang trại có gần 3 lao độngnhng chỉ 1,3 lao động làm nông nghiệp [25]
Trang 27ở Đài Loan, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nớc này rơi vào khủng hoảngnghiêm trọng, thu nhập bình quân đầu ngời dới 200 USD/ngời, tỷ lệ đất nôngnghiệp rên đầu ngời thấp 0,2ha/ngời Nhng đến nay nông sản chủ yếu do cácnông trại gia đình đóng góp, bao gồm thịt lợn, gao, gia cầm, tôm, rau, hoa quả không chỉ đảm bảo nhu cầu trong nớc mà còn cả nhu cầu để xuất khẩu Năm 1988mỗi trang trại có 1,5 lao động làm, từ thập kỷ 50, Đài Loan tập trung phát triểncông nghiệp rải đều ở các vùng nông thôn, tận dụng lợi thế so sánh và đa dạnghoá của nông nghiệp đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu nông sản chế biến, từ sảnphẩm thô chuyển dần san các sả phẩm chế biến đống hộp nh nấm, dứa, Một sốchính sách trong nông nghiệp đã đợc chính phủ quan âm nh: nâng cao tiêu chuẩnchất lợng sản phẩm; đầu t vào KH-KT, đổi mới công nghệ; qui hoạch vùngnguyên liệu, áp dụng chính sách thu mua; thúc đẩy cạnh tranh; tăng đầu t củaNhà nớc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ở Hàn Quốc, sau khi tự túc lơng thực (năm 1975), các trang trại gia đình bắt đầu
đa dạng hóa cơ cấu sản xuất, tăng các loại sản phẩm cây trồng có giá trị kinh tếcao Trong những năm 70, sản lợng lúa tăng bình quân 6% năm, sản phẩm chănnuôi tăng 8-10% năm Bình quân mỗi trang trại có 1,3 lao động làm nông nghiệpvào năm 1988[25]
ở Malaysia rất quan tâm đến sự phát triển nông nghiệp, coi đó là điểm mấu chốtbảo đảm cho sự thành công trong phát triển kinh tế Lúa không phải là cây trồngquan trọng mà cao s, cọ dầu và côca Malaysia rất chú trọng đa dạng hoá sản phẩmnông nghiệp hớng xuất khẩu Các trang trại trồng cây công nghiệp hàng năm sảnxuất đợc 4 triệu tấn dầu cọ (chiếm 75% sản lợng của thế giới), 1,6 -1,8 triệu tấn mủcao su, 274.000 tấn ca cao, 72.000 tấn dừa quả và 23.600 tấn hồ tiêu Diện tíchtrồng cây ăn quả của các trang trại gia đình năm 1990 có 130.000 ha, sản xuất gần200.000 tấn dứa và xuất khẩu 45.000 tấn dứa hộp[25]
ở Thái Lan, từ chỗ chỉ có hai loại cây trồng truyền thống là lúa và cao su, từnhững năm 1970 đã nhanh chóng đa dạng hoá cây trồng xuất khẩu Các loại nông
Trang 28sản nh đỗ tơng, ngô, sắn, bông, lạc, đay đã góp phần qua trọng tăng thu nhập vềxuất khẩu Là một trong những vựa lúa quan trọng nhất ở khu vực Đông Nam á, từnhững năm 1960, với cuộc "cách mạng xanh", Thái Lan đã trở thành n ớc xuất khẩugạo nhiều nhất thế giới.
ở Trung Quốc, trong só các nớc chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thịtrờng, Trung Quốc là một thành công điển hình, bắt đầu công cuộc cải cách kinh tế
từ khu vực nông thôn đã làm cho GDP nông nghiệp tăng 14,6 lần, đói nghèo ở nôngthôn giảm từ 32,7% xuống còn 6,5% trong giai đoạn 1979-1996 Một số chính sách
đợc quan tâm phát triển công nghiệp nông thôn là nhân tố nổi bật đã đóng góp đẩynhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân, tạo công
ăn việc làm, thu hẹ khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, tạo nên thành côngcho chính sách “ly nông bất ly hơng” Trong khu vực nông thôn cải cách thể chếdiển ra mạnh mẻ kinh tế nông hộ từng bớc đợc khôi phục, nông dân đợc tiếp cận vàquản lý các công cụ và t liệu sản xuất, cùng với kinh tế nông hộ thì quan niệm về
sở hữu t nhân thay đổi theo hớng tích cực Trung Quốc chú trọng một số lĩnh vựcsau: đẩy mạnh chơng trình giáo dục, hỗ trợ kỷ thuật cho nông dân; thực hiện ch ơngtrình thúc đẩy doanh nghiệp nông thôn xuất khẩu bao gồm thông tin, xúc tiến th ơngmại; cải cách về tài chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nông thôn tiếp cận cácdịch vụ vốn
5.2.2 Tình hình phát triển kinh tế hộ gia đình nông hộ ở Việt Nam
Gần năm mơi năm qua, kể từ khi khai sinh ra nớc Việt Nam dân chủ cộnghoà, lịch sử dân tộc ta đã chuyển mình qua nhiều giai đoạn với những b ớc biến đổirất trọng đại Bối cảnh thời cuộc luôn luôn có ảnh hởng tới nông nghiệp, nông thôn
và để lại dấu ấn trong đời sống kinh tế hộ nông dân ở mỗi thời kỳ Có thể khái quátquá trình phát triển kinh tế hộ nông dân nớc ta qua các giai đoạn nh sau:
Thời kỳ trớc hợp tác hoá nông nghiệp (1960)
Nét chung của thời kỳ này là sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở hộ gia đình
Trang 29ruộng đất phát triển, việc mua bán ruộng đất diễn ra đơn giản và thuận tiện Tuyvậy, chính sách giảm tô và cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu vào cuối năm 1953 đầunăm 1954 một mốc lịch sử làm thay đổi quan hệ kinh tế, chính trị giữa các tầng lớpxã hội trong nông thôn.
Trớc cải cách ruộng đất, trên 90% diện tích đất canh tác thuộc sở hữu t nhânnhng trong đó 83% nằm trong tay phú nông, địa chủ Tầng lớp dân nghèo chiếm95% dân số nhng chỉ chiếm 17% ruộng đất Theo tài liệu Tổng cục thống kê, từnăm 1939 đến 1953 giá trị tổng sản lợng nông nghiệp chỉ tăng 10% trồng trọtchiếm 83–85% trong tổng giá trị sản lợng nông nghiệp, tỷ lệ này gần nh khôngbiến đổi
Sau cải cách ruộng đất, hàng triệu hộ nông dân đợc cấp ruộng đất, đợc giảithoát khỏi chế độ cày thuê cuốc mớn Đa số hộ nông dân đều có ruộng và trực tiếptiến hành sản xuất kinh doanh Từ năm 1954 đến năm 1959, tổng giá trị sản l ợngnông nghiệp miền Bắc tăng 35%, trong đó giá trị sản l ợng trồng trọt tăng 29%.Năm 1959 sản lợng lơng thực quy thóc toàn miền Bắc đạt 5.6 triệu tấn Đó là con
số kỷ lục mà từ trớc và cả chục năm sau (1961–1971) cha năm nào đạt đợc.Những thành quả đó còn dựa trên cơ sở một nền nông nghiệp cơ bản đ ợc tổ chứcsản xuất theo các hộ gia đình nông dân cá thể với những hình thức hợp tác giản
đơn, trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện và việc tự do sản xuất, lu thông hàng hoá
Thời kỳ từ 1960-1980
Hiến pháp năm 1959 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đại bộ phậnruộng đất đợc giao cho các hợp tác xã, nông lâm trờng quản lý Các quan hệ trao
đổi, mua bán ruộng đất bị cấm đoán, chỉ có 5% diện tích canh tác đ ợc dành cho các
hộ nông dân làm kinh tế phụ gia đình Sản xuất nông nghiệp đ ợc tổ chức chủ yếutheo các hợp tác xã và nông lâm trờng, với cơ chế tập trung, kế hoạch hoá trực tiếp
và toàn diện Hộ nông dân hình thành hai loại: một số ít các hộ nông dân cá thể, sốnày ngày càng giảm dần, đại đa số là các hộ gia đình xã viên
Trang 30Nghị quyết Hội nghị lần thứ V của BCHTW (tháng 7/1961) đề ra chủ tr ơng "Phải chú trọng phát triển kinh tế của HTX là chủ yếu, đồng thời chú ý thích đáng
đến kinh tế phụ gia đình xã viên” Từ đó mọi nguồn lực của các hộ gia đình đ ợchuy động vào kinh tế tập thể (95% diện tích canh tác,đại bộ phận thời gian lao
động, phân bón và sức kéo ) Nhiều mặt hoạt động kinh doanh của các nông hộ bịhạn chế hoặc cấm đoán Nhng do hoạt động của tập thể kém hiệu quả và ngày càng
sa sút mà phần thu nhập từ kinh tế tập thể đem lại ngày càng giảm so với tổng thunhập của các gia đình nông dân Trong thời gian từ 1960–1965, phần thu từ kinh
tế tập thể chiếm 70–75% giai đoạn 1975–1980 chỉ còn chiếm 25–30% Ng ờinông dân từ chỗ phấn khởi, tin tởng, dần dần chán nản, xa rời kinh tế tập thể, chíthú với mảnh đất phần trăm bé nhỏ của mình Tuy rất vất vả nh ng kinh tế hộ nôngdân Việt Nam đã tự khẳng định sức sống của nó trong suốt thời kỳ “Hợp tác hoánông nghiệp” trớc đây
Thời kỳ 1981-1985
Do có sự khủng hoảng của mô hình tập thể hoá nông nghiệp trong giai đoạntrên nên tháng 1/1981, Ban Bí th Trung ơng Đảng đã ra Chỉ thị 100 về khoán sảnphẩm cuối cùng đến nhóm và ngời lao động Sự ra đời của Chỉ thị 100 rất phù hợpvới thực tiễn khách quan và nguyện vọng của nông dân
Chỉ thị 100 đã khẳng định một cách làm mà lâu nay nhiều địa ph ơng ngấmngầm thực hiện dới hình thức “khoán chui” Đó là việc khoán đến nhóm và ng ời lao
động Khoán 100 nh là một phơng thức đặc trị chữa bệnh chán nản, không quantâm tới công việc đồng áng của tập thể ngời lao động, nó bắt nguồn từ chế độ ngàycông lao động tình trạng quản lý lỏng lẻo, tham ô lãng phí trong các HTX Khoán
100 đợc xã viên hởng ứng ở khắp nơi Ngời ta bắt đầu quan tâm đến ruộng đất, đếnviệc tiết kiệm vật t tài sản trên cánh đồng hợp tác, đầu t thêm lao động, tiền vốntrên mỗi mảnh ruộng khoán nhằm có vợt mức khoán cao hơn Cha bao giờ trongsuốt 20 năm hợp tác hoá, phong trào sản xuất của hộ nông dân lại sôi động và khẩntrơng nh vậy Chỉ sau một thời gian ngắn đã không còn tình trạng đồng ruộng bị bỏ
Trang 31hoang hoá, tạo ra những khí thế lao động sôi nổi, tận dụng đợc điều kiện về vốn vàvật t, chú trọng các biện pháp thâm canh, tăng năng suất, tăng thu nhập, giải quyếttốt việc kết hợp ba lợi ích (lợi ích nhà nớc, lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân) Nhịp độphát triển sản xuất nông nghiệp, mức thu nhập của hộ gia đình nông dân tăngnhanh, bộ mặt nông thôn chuyển biến đáng khích lệ So với 1980 giá trị tổng sản l -ợng nông nghiệp năm 1985 tăng 26,9%, bình quân hàng năm tăng 4,9%, sản l ợng l-
ơng thực tăng 17% đạt 18,2 triệu tấn, bình quân đầu ngời đạt 304kg (so với mức
268 kg năm 1980)[16] Năng suất lúa bình quân từ 20,2 tạ/ha đã tăng lên 25,8tạ/ha Nhịp độ tăng sản lợng hàng năm từ 1,6% lên 5,05% Đáng chú ý là điều kiệnkinh doanh của các nông hộ đã đợc cải thiện một bớc Ngoài việc mở rộng quyền tựchủ trên những ruộng khoán, các hộ nông dân đã từng bớc đợc trang bị thêm những
t liệu sản xuất thiết yếu nh trâu bò, nông cụ mà nhiều năm trớc hoàn toàn lệ thuộcvào các HTX
Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và ngời lao động là hình thức quản lýtiến bộ, thích hợp với điều kiện lao động của ta-chủ yếu còn là thủ công và hìnhthức biểu hiện của quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển lựclợng sản xuất
Trong khi ngời nông dân đang phấn khởi bởi những thành công của khoán 100
đối với nền nông nghiệp hợp tác thì từ 1986–1987 khoán 100 đã bộc lộ những hạnchế của nó Do những quy luật sinh học của quá trình gia tăng năng suất, sau hơn 5năm cố gắng đầu t cho ruộng khoán, hiệu quả đầu t bắt đầu giảm dần, nhất là vớicác hộ nông dân Hai yếu tố đầu t cơ bản là vốn và lao động còn có nhiều mặt hạnchế nhất định Hơn nữa tình trạng vật giá leo thang, giá trị vật t nông nghiệp tăngnhanh hơn giá thóc, chế độ thu mua theo nghĩa vụ của Nhà n ớc vẫn nặng nề, cácHTX lại không ổn định, ruộng đất đợc giao khoán thờng xuyên nâng dần mức sảnlợng khoán kết cục là nhịp độ sản xuất nông nghiệp bắt đầu chậm lại, mức thunhập của xã viên giảm sút, cơ sở nhiều nơi nông dân trả lại ruộng khoán cho HTX.Trớc thực trạng đó, nhiều nơi đã tiến hành giao hẳn ruộng đất cho các hộ và thu sản
Trang 32do các hộ hoàn toàn tự định đoạt, HTX làm dịch vụ theo hợp đồng những khâu mà
hộ có nhu cầu Đó là cơ sở thực tiễn rất quan trọng cho những chủ tr ơng của Đảng
và Nhà nớc vào những năm sau
Đại hội Đảng khoá V (tháng 3/1982) đánh giá những thành tựu và khó khăncủa nềm kinh tế, đã chỉ ra bên cạnh những nguyên nhân khách quan, những khókhăn của nền kinh tế còn do khuyết điểm, sai lầm của các cơ quan Đảng và nhà n ớc
từ Trung ơng đến cơ sở về lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý xã hội Trên cơ sở
đó đã đề ra đờng lối kinh tế trong chỗng đờng trớc mắt bao gồm thời kỳ 5 năm1981-1985 và kéo dài dến năm 1990: "Trong 5 năm 1981-1985 và những năm 80,cần tập trung phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu,
đa nông nghiệp lên một bớc sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sảnxuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quantrọng trong cơ cấu công-nông nghiệp hợp lý'' [10] Những quan điểm mới trong chủtrơng chính sách của Đảng và Nhà nớc trong giai đoạn 1981-1985 đã điều chỉnhmối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa công nghiệp nặng và côngnghiệp nhẹ trong nội dung công nghiệp hoá; trong cải tạo xã hội chủ nghĩa đã chú ýtiến hành bằng các hình thức thích hợp; trong quản lý kinh tế đã có một số cải tiếntheo hớng mở rộng quyền tự chủ cho các xí nghiệp quốc doanh và xã viên trong cáchợp tác xã Nhng cha tìm thấy đợc sự cần thiết phải duy trì nền kinh tế nhiều thànhphần, cha thấy sự cần thiết phải xoá bỏ hẳn cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp
Giai đoạn từ 1986 đến nay:
Những cải tiến quản lý trong những năm 1979-1985 chính là những b ớc tìmtòi, thử nghiệm bớc đầu cho cuộc cải cách toàn diện nền kinh tế Đó là những lànsóng đầu tiên của quá trình phi tập trung hóa, xoá bỏ dần cơ chế quan liêu bao cấp
ở Việt Nam Song những cải tiến cục bộ cha làm thay đổi căn bản thực trạng củanền kinh tế và khủng hoảng vẫn rất trầm trọng Chính vì vậy, đổi mới toàn diện nềnkinh tế trở thành yêu cầu cấp bách ở nớc ta
Trang 33Đại hội VI (tháng 12/1986) của Đảng là một mốc lịch sử quan trọng trên con
đờng đổi mới toàn diện và sâu sắc ở nớc ta, trong đó có đổi mới kinh tế Đó là pháttriển kinh tế nhiều thành phần: "Đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh
tế tập thể, tăng cờng nguồn tích luỹ tập trung của Nhà nớc và tranh thủ vốn nớcngoài, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tếkhác"[35] Nh vậy, trong kinh tế hợp tác, sở hữu tập thể kiểu chung chung, khôngphân định rõ trách nhiệm, thêm vào đó là những yếu kém trong quản lý, nên đã bộc
lộ những hạn chế và rơi vào khủng hoảng sâu sắc Trong thời kỳ đổi mới, kinh tếHTX chuyển theo các hớng:
- Giải thể các tập đoàn sản xuất hoặc các HTX làm ăn kém hiệu quả, thua lỗkéo dài hoặc tồn tại trên hình thức
- Giao khoán hoặc nhợng, bán t liệu sản xuất cho xã viên để họ trực tiếp quản
lý, sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình HTX chỉ làm một số khâu dịch vụ đầu vàohoặc tiêu thụ sản phẩm cho xã viên Đối với đất đai trong các HTX, Nhà n ớc vẫnnắm quyền sở hữu nhng giao cho các hộ gia đình nông dân quản lý, sử dụng, với 5quyền cơ bản: thừa kế, cho thuê, chuyển đổi, chuyển nhợng và thế chấp Với chủ tr-
ơng giao ruộng đất cho xã viên, các hộ gia đình đã trở thành đơn vị sản xuất tự chủhoàn toàn Sự tan rã của các tập đoàn sản xuất và các HTX đã thúc đẩy sự phục hồirất nhanh của kinh tế cá thể [21]
Đại hội VI đã đề ra chủ trơng bố trí lại cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu t giữa cácngành kinh tế Chỗng đờng đầu tiên cần u tiên tập trung sức thực hiện ba chơngtrình kinh tế để tạo tiền đề cho đẩy mạnh công nghiệp hoá ở giai đoạn tiếp theo
“Phải thật sự tập trung sức ngời, sức của vào việc thực hiện cho đợc ba chơng trìnhmục tiêu về lơng thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu'' [13]; đ a nôngnghiệp lên vị trí hàng đầu; nhấn mạnh hơn vai trò to lớn của công nghiệp nhẹ, tiểuthủ công nghiệp
Nghị quyết 10 của BCT (04.1988) về đổi mới quản lý nông nghiệp với nhiều
Trang 34xuất kinh doanh của các nông hộ và chủ trơng giao quyền sử dụng ruộng đất ổn
định cho các nông hộ Cùng với một loạt các biện pháp khác nh xoá bỏ chế độ thumua lơng thực thực phẩm theo nghĩa vụ, mở rộng trao đổi hàng hoá, tổ chức lại cácHTX nông nghiệp và chuyển hớng kinh doanh cho phù hợp Nghị quyết 10 là một
đòn bẩy tác động vào nông nghiệp và nông thôn Việt Nam
Kinh tế nông hộ và nền nông nghiệp nớc nhà chuyển sang một trang mới đầytriển vọng
Luật Đất đai đợc Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày14/7/1993 ra đời trên cơ sở Luật đất đai năm 1987 Luật Đất đai năm 1993 quy
định rõ quyền và nghĩa vụ của ngời sử dụng đất và thể hiện rõ việc quản lý đất đaikhông chỉ về Pháp luật hành chính mà cả về mặt pháp lý kinh tế Đó là 5 quyền củangời nông dân trong sử dụng ruộng đất: Quyền chuyển đổi, chuyển nh ợng, chothuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng ruộng đất trong thời hạn giao đất đúngmục đích sử dụng đất đợc giao
Sau hơn 5 năm thực hiện, trớc những yêu cầu mới của đất nớc, ngày2/12/1998 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá X đã thông qua Luật sửa đổi, một số điềuluật của Luật Đất đai Để tiếp tục hoàn thiện thêm một bớc những quy định củaLuật Đất đai, ngày 19/6/2001 tại kỳ họp thứ IX quốc hội khoá X đã thông qua Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1993 Hơn 15 năm thực hiện đ -ờng lối đổi mới do Đảng và Nhà nớc lãnh đạo, đất nớc ta đã thu đợc những thànhtựu to lớn cả về kinh tế và xã hội Trong đó sản xuất nông nghiệp n ớc ta đã có sựphát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi thành tựu nổi bậtnhất là đã giải quyết vững chắc an toàn lơng thực quốc gia, biến Việt Nam từ mộtnớc thiếu lơng thực trớc năm 1989 thành nớc xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thếgiới Bình quân hàng năm chúng ta đã xuất khẩu khoảng 31 triệu tấn gạo Với cácchính sách trong nông nghiệp nông thôn trên đã đợc quần chúng nhân dân nhiệttình hởng ứng Tất cả các mục tiêu kinh tế - xã hội của kế hoạch 5 năm 1996-2000
và chiến lợc 10 năm 1991-2000 đều đạt và vợt kế hoạch; GDP trong 10 năm này
Trang 35tăng bình quân hàng năm 7.56% Đặc biệt trong nông nghiệp phát triển toàn diệncả trồng trọt và chăn nuôi, nghề rừng và thuỷ sản Thành tựu nổi bật nhất là đã giảiquyết vững chắc, an toàn lơng thực quốc gia Sản lợng lơng thực đã tăng nhanh từ21,5 triệu tấn (năm 1990) lên 27,5 triệu tấn (năm 1995) và 34,5 triệu tấn (năm2000) gần 36 triệu tấn (năm2002) bình quân mỗi năm tăng 1,4 triệu tấn Tốc độtăng lơng thực bình quân 5%/năm, cao hơn tốc độ tăng dân số (1,8%) nên sản l ợnglơng thực bình quân đầu ngời đã tăng từ 304 kg (năm 1985) lên 364 kg (năm 1995),444,8 kg(năm 2000) và 450 kg (năm 2002) Việt Nam đã từ một n ớc thiếu lơngthực trớc 1989, trở thành nớc xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan)tính chung 12 năm qua (1989-2000), ta đã xuất khẩu 30,5 triệu tấn, bình quân 2,54triệu tấn/năm, trong khi thị trờng và giá cả trong nớc vẫn ổn định, kể cả những năm
bị thiên tai lớn nh 1999-2000 Sở dĩ nông nghiệp tăng nhanh nh vậy là nhờ cónhững đổi mới trong cơ chế chính sách quản lý nông nghiệp nh : Khoán theo tinhthần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị - Khoán hộ , nông dân đợc giao ruộng đất để
sử dụng lâu dài, chủ trơng cho phép phát triển trang trại nên đã khuyến khích nôngdân tích cực khai hoang mở rộng diện tích canh tác, nâng cao năng suất cây trồng Những chuyển biến trên mặt trận lơng thực đã góp phần quan trọng vào việc ổn
định đời sống nhân dân, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo h ớng sản xuấthàng hoá, nâng cao giá trị trên 1 ha đất canh tác (từ 13,7 triệu đồng/ ha năm 1995lên 17,5 triệu đồng/ ha năm 2000) Đã hình thành những vùng trọng điểm sản xuấtlơng thực, thực phẩm nh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, vùngchuyên canh trồng cây công nghiệp nh cà phê ở Đắc Lắc, cao su ở Đồng Nai, sôngBé các vùng cây ăn quả tập trung cũng đang đợc hình thành Nhiều mặt hàngnông sản đã chiếm vị trí đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu Trong 10 năm từ 1991
- 2000, bình quân mỗi năm xuất khẩu gạo tăng 7,6%, cao su tăng 12,4%, cà phêtăng 17,7%, rau quả tăng 10,8%, hạt tiêu tăng 24,8%, hạt điều tăng 37,5%[10].Tổng giá trị nông sản xuất khẩu đã chiếm khoảng 40% tổng giá trị xuất khẩucả nớc Một nền nông nghiệp hàng hoá đã hình thành gắn với thị truờng quốc tế
Trang 365.2.3 Một số bài học kinh nghiệm chung để phát triển kinh tế hộ và
trang trại gia đình
Thực tiễn phát triển kinh tế nông hộ và trang trại gia đình của các n ớc trên thếgiới và ở nớc ta có nhiều kinh nghiệm hết sức phong phú Có thể tổng quát trên cácvấn đề sau:
Một là, Đổi mới về cơ chế chính sách: Đây là cơ sở đầu tiên làm "thức dậy"
nhiều vùng đất có tiềm năng lợi thế so sánh, bớc đầu đã khuyến khích việc tạo lậpnhững trang trại gia đình trên nền tảng kinh tế hộ theo hớng chuyên môn hoá vàtheo yêu cầu của thị trờng, góp phần tạo ra những vùng kinh tế trù phú thực tiển nh
ở Trung Quốc từ năm 1978 nớc này đã coi "Nông nghiệp là cơ sở của nền kinh tếquốc dân và nhiệm vụ hàng đầu đặt ra trớc mắt là tập trung tinh lực làm cho nềnnông nghiệp lạc hậu mau chóng phát triển' [42] Thực hiện chế độ khoán trong sảnxuất nông nghiệp thực chất là hình thức lao động hợp đồng đợc ký kết giữa 3 bên:Nhà nớc, tập thể, hộ hay nhóm hộ nông dân Thực tiển ở Việt Nam sau khi đổi mới
từ chỉ thị 100, nghị quyết 10 và nghị định 64 của Chính phủ đã tạo môi tr ờng thôngthoáng thúc đẩy kinh tế hộ phát triển
Hai là, Phát huy vai trò nhân tố con ngời: Nông dân là ngời có vai trò quan
trọng trong việc tạo lập, phát triển và quản lý trang trại gia đình, quyết định năngsuất, chất lợng, hiệu quả cao hay thấp của gia đình mà họ đã lập nên Sự tác độngcủa các qui luật kinh tế trong đời sống kinh tế là tr ờng học quan trọng, là nơi kiểmnghiệm tài năng của họ Chính vì vậy, ngời chủ trang trại phải có ý chí cao, có trithức về tổ chức sản xuất "trồng cây gì?" và "nuôi con gì?" Nhật Bản, Hoa Kỳ, HàLan có một đội ngũ khoa học kỷ thuật trong nông nghiệp khá đông đảo, chủdoanh trang trại có trình độ cao, nhạy bén trong việc nắm bắt thị tr ờng
Ba là, Thị trờng có tính chất quyết định đối với sản xuất: Sản xuất nông
nghiệp hiện nay nhằm hớng đến sản phẩm có tỷ trọng hàng hoá cao, phù hợp thịhiếu của ngời tiêu dùng Qua thực tiễn, chúng ta thấy thị trờng và biến động của thị
Trang 37trờng trong và ngoài nớc có tính chất quyết định với sự thay đổi về chiến l ợc sảnphẩm của kinh tế trang trại gia đình.
Bốn là, Phơng hớng kinh doanh: Hiện nay xu hớng sản xuất theo hớng
chuyên môn hóa, phối hợp quản lý các ngành nhằm giảm tính thời vụ, tận dụng đ ợcruộng đất, khí hậu, tiền vốn, t liệu sản xuất, sức lao động để có thể sản xuất nhiềuhàng hoá Đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp theo hớng hàng hoá nh ở Thái Lan,Malaysia, Hàn Quốc trên cơ sở xác định một số mặt hàng mũi nhọn
Năm là, Về vốn kinh doanh: Vấn đề vốn kinh doanh trong nông thôn hiện
nay đang có nhiều khó khăn cần giải quyết Tuy nhiên, nhiều chủ hộ gia đình đãbiết tìm mọi cách để tạo vốn và mạnh dạn bỏ vốn đầu t ban đầu để tạo cơ sở vậtchất-kỷ thuật phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh trong thời gian sớm nhất nhNhật Bản đợc coi là một nớc sử dụng vốn một cách táo bạo và có hiệu quả và ngờinông dân Nhật Bản rất thành công trong việc huy động đồng vốn nội bộ cho pháttriển kinh tế gia đình
Sáu là, Vấn đề áp dụng tiến bộ KHKT mới vào sản xuất kinh doanh : Muốn
tăng năng suất lao động, tăng chất lợng sản phẩm phải áp dụng tiến bộ KHKT mới.Thực tiễn cho thấy không có một trang trại gia đình nào tăng tr ởng kinh tế màkhông áp dụng tiến bộ KHKT mới vào sản xuất kinh doanh, do vậy cần phải có haiyếu tố cơ bản đó là : Tri thức về kinh tế-kỷ thuật đối với cây trồng vật nuôi và l ợngvốn tơng đối lớn Muốn vậy, Nhà nớc phải dành một số vốn lớn cho việc nghiêncứu phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại nh ở Nhật Bản từ năm 1950 đến 1971nhập khẩu kỷ thuật của Nhật là 15.289 vụ, nhờ đó đã cải tạo căn bản tài sản cố địnhgóp phần nâng cao năng suất lao động trong nền kinh tế nói chung và trong nôngnghiệp nói riêng
Tóm lại: Chơng 1 đã trình bày một số lý luận cơ bản về kinh tế hộ nông dân
và các quan điểm kinh tế hộ, những đặc trng cơ bản về kinh tế nông hộ Xu hớngphát triển kinh tế nông hộ trên thế giới và tình hình phát triển ở Việt Nam Từ đó
Trang 38rút ra đợc một số kinh nghiệm trong lý luận và thực tiển Đây là cơ sở để nghiêncứu về phát triển kinh tế nông hộ theo hớng sản xuất hàng hoá.
Trang 39lý của huyện Cam Lộ tơng đối thuận lợi cho hữu thông kinh tế, đời sống và pháttriển thơng mại du lịch.
+ Phía Bắc giáp với huyện Gio Linh
+ Phía Nam giáp với huyện Triệu Phong
+ Phía Tây giáp với huyện Hớng Hoá
+ Phía Đông giáp với thị xã Đông Hà
Cam Lộ có tổng diện tích 36.742 ha, dân số 47.586 ng ời (chiếm 8,0% về diệntích và 7,7% dân số toàn tỉnh Quảng Trị) Toàn huyện có 8 xã, 1 thị trấn, trong đó
có 4 xã miền núi (Cam Chính, Cam Nghĩa, Cam Thành, Cam Tuyền)
6.1.1.2 Địa hình đất đai
Huyện Cam Lộ nằm trên địa bàn mang sắc thái của vùng địa hình chuyển tiếp
từ dãy Trờng Sơn thấp dần ra biển Nét đặc trng của điều kiện địa hình Cam Lộ thểhiện qua các tiểu vùng:
Trang 40- Tiểu vùng địa hình núi thấp chân dãy Trờng sơn: Với các dãi núi thấp chạy
từ Tây Bắc qua phía Tây xuống dần phía Nam huyện với độ cao địa hình chủ yếu từ200-400m Đây là vùng địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn, chủ yếu thích hợp đểphát triển lâm nghiệp
- Tiểu vùng địa hình đồi thoải lợn sóng: Phân bổ chủ yếu ở khu vực Tân Lâm
- Cùa (Các xã Cam Chính, Cam Nghĩa và một phần Cam Thành) Đây là vùng địahình mang sắc thái của một cao nguyên thấp (độ cao địa hình đa phần từ 50-100m)hình thành bởi các dải đồi liên tiếp nhau tơng đối bằng phẳng, thích hợp cho khaithác sử dụng vào nông nghiệp đặc biệt là cây công nghiệp
- Tiểu vùng địa hình bằng thấp: Mang đặc trng của địa hình đồng bằng trảidọc theo 2 bên bờ sống Hiếu Đây là địa bàn độ dốc địa hình đa phần d ới 50, phân
bố tập trung ở một phần Cam Tuyền, Cam Thành và các xã Cam An, Cam Hiếu, Thịtrấn Cam Lộ Tiểu vùng địa hình này thuận lợi cho phát triển đa dạng cây trồngnông nghiệp, đặc biệt thích hợp với hệ thống canh tác cây ngắn ngày
Nhìn chung điều kiện địa hình của Cam Lộ cơ bản thuận lợi cho tổ chức sảnxuất và đời sống
6.1.1.3 Tài nguyên đất
Quy mô đất đai
- Diện tích tự nhiên toàn huyện 36.742 ha, là huyện có quy mô không lớn về
đất đai trong tỉnh Quảng Trị
Trong cơ cấu quy mô đất đai, đất đã đa vào sử dụng chiếm 46,9%(17.231,8ha) Hiện nay còn 19.510,5 ha đất cha sử dụng (53,1% diện tích tự nhiên),trong đó có 17.891 ha đất hoang bằng và đồi núi Đây là tiềm năng của nguồn tàinguyên đất cần đợc khai thác phát huy để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - sảnxuất, đặc biệt là nông lâm nghiệp
Đặc điểm thổ nhỡng: