1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên

22 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 129,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực trạng của kinh tế nông hộ để chỉ ra những khó khăn còn tồn tại và đưa ra được nhưng giải pháp khắc phục những khó khăn đó là một vấn đề quan trọng và cần thiết ở huyện Điện Biên. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên” làm đề tài tiểu luận môn Kinh tế phát triển. GV. TS. Vũ Quang Hậu Đại học Hòa Bình

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG3

1 Vai trò của kinh tế hộ và kinh tế nông hộ 3

2 Thực trạng tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Điện Biên 3

2.1 Thực trạng chung 3

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân ở các xã điều tra 5

2.3 Nguồn lực của các hộ nông dân 8

a) Đất đai của các hộ nông dân8

b) Phương tiện sản xuất và phương tiện sinh hoạt của các hộ nông dân 8

c) Nguồn vốn của các hộ nông dân 9

3.3 Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 13

3.4 Nhóm giải pháp về khoa học kỹ thuật 14

3.5 Nhóm giải pháp xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn 17

Trang 2

MỞ ĐẦU

Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu, giữ vị trí quantrọng trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp càng trở nên quan trọng đối với mộtquốc gia với gần 80% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động làm việc trongcác ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp như đất nước Việt Nam ta

Có thể khẳng định trong quá trình phát triển nông nghiệp nông xã, đặc biệt làsau đổi mới, kinh tế hộ gia đình giữ một vai trò không thể thiếu, kinh tế hộ là đơn

vị kinh tế đặc thù và phù hợp với thực trạng của sản xuất nông nghiệp ở nước tahiện nay Nó góp phần giải quyết việc làm và xây dựng cuộc sống mới ở nông xã,đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và phong phú về lương thực, thực phẩm

Mặc dù trong những năm qua kinh tế hộ đã đạt được những thành tựu to lớn,song chính bản thân nó vẫn đang tồn tại những mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết

Do vậy cần có những phương pháp tìm hiểu, phân tích phù hợp để làm sáng tỏnhững khó khăn của các hộ để có các chính sách kinh tế, xã hội phù hợp giúp nôngdân phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống trong tương lai, đây là vấn đề

có tính chiến lược và cấp thiết của một quốc gia nông nghiệp như Việt Nam nóichung và của từng địa phương nói riêng

Nghiên cứu thực trạng của kinh tế nông hộ để chỉ ra những khó khăn còn tồntại và đưa ra được nhưng giải pháp khắc phục những khó khăn đó là một vấn đềquan trọng và cần thiết ở huyện Điện Biên Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề

tài “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Điện Biên

tỉnh Điện Biên” làm đề tài tiểu luận môn Kinh tế phát triển.

Trang 3

NỘI DUNG

1 Vai trò của kinh tế hộ và kinh tế nông hộ

Kinh tế hộ đã có từ lâu đời đến nay vẫn còn tồn tại và phát triển Trải quamỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì kinh tế hộ biểu hiện dưới nhiều hình thức khácnhau, ngày càng khẳng định được tầm quan trọng và vai trò trong nền kinh tế quốcdân Kinh tế hộ là tế bào của xã hội, sự phát triển trước tiên giúp nâng cao đời sốngcủa người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước Kinh tế hộ đóng vaitrò quan trọng trong việc góp phần đổi mới công nghệ sản xuất Hộ là nơi tích lũykinh nghiệm sản xuất truyền thống cũng là nơi áp dụng công nghệ mới vào sảnxuất Khi chuyển sang sản xuất hàng hóa, xuất hiện cạnh tranh thị trường, hộ buộcphải đổi mới công nghệ nhàm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt với giá rẻ hơn.Việc đổi mới công nghệ trước hết phải nhằm khai thác tốt kinh nghiệm truyềnthống từ lâu đời

Kinh tế nông hộ đã góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho xã hộinhư lương thực, thực phẩm, nông sản xuất khẩu Đồng thời sử dụng đầy đủ và cóhiệu quả các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn và tư liệu sản xuất

Phát triển kinh tế nông hộ không chỉ có vai trò to lớn về kinh tế mà còn có ýnghĩa rất lớn về mặt xã hội việc gia tăng sản phẩm hàng hóa và hiệu quả kinh tếtrong nông nghiệp đã góp phần tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho ngườidân ở nông thôn, cải thiện và nâng cao đời sống, là cơ sở kinh tế vững chắc để giảiquyết các vấn đề xã hội

2 Thực trạng tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Điện Biên

2.1 Thực trạng chung

Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện Điện Biên trong vàinăm gần đây kinh tế của huyện đã có những chuyển biến tích cực Đẩy nhanh công

Trang 4

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông xã theo hướng từng bước nhanhchóng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường vàđiều kiện của vùng Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làmmới thu hút lao động nông xã Áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ vềgiống, chăm sóc vào trong sản xuất nông lâm nghiệp nâng giá trị thu nhập trêncùng đơn vị diện tích.

Giá trị sản xuất nông nghiệp của các huyện không ngừng tăng qua các năm:Năm 2014 đạt 265.000 triệu đồng đến năm 2015 tăng 7,92% lên 286.000 triệu đồng

và năm 2016 tăng 9,09% so với năm 2015 và 17,73% so với năm 2014 đạt 312.000triệu đồng Trong đó, lĩnh vực trồng trọt năm 2014 đạt 162.975 triệu đồng, năm 2016đạt mức 179.400 triệu đồng tăng 6,14% so với năm 2015 và 10,08% so với năm2014; ngành chăn nuôi tăng ổn định qua các năm, năm 2014 đạt 94.075 triệu đồng,năm 2015 tăng 14,00 % lên 107.250 triệu đồng, sang năm 2016 tăng lên 121,368triệu đồng tăng 13,16% so với năm 2015 và 29,01% so với năm 2014; Ngành dịch

vụ chế biến có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất năm 2014 đạt 9.950 triệu đồng sangnăm 2015 tăng 22,31% đạt 9.724 triệu đồng, năm 2016 tăng lên 11.232 triệu đồngtăng 15,51% so với năm 2015 và tăng 41,28% so với năm 2014 [2] Như vậy, sựtăng trưởng giữa các ngành như trên phù hợp định hướng phát triển của huyện, giá trịtrồng trọt tăng chậm chủ yếu là nhờ việc ứng dụng các khoa học kĩ thuật vào sảnxuất, luân canh tăng vụ nâng cao giá trị trên 1 đơn vị diện tích đất canh tác còn diệntích đất trồng trọt ngày càng giảm do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa Cơcấu kinh tế nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng nâng cao tỷ trọng ngành chănnuôi thủy sản, dịch vụ chế biến giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt

Theo giá cố định năm 1994 thu nhập bình quân trên 1 hộ nông nghiệp củahuyện năm 2014 là 12,92 triệu đồng, năm 2015 là 13,40 triệu đồng tăng 3,72% sovới 2014, năm 2016 đạt 13,77 triệu đồng tăng 2,70% so với năm 2015 và 6,53% sovới 2014 Thu nhập bình quân trên 1 lao động năm 2014 là 4,28 triệu đồng, năm

Trang 5

2015 là 4,57 triệu đồng và năm 2016 là 4,95 triệu đồng tăng 8,13% so với 2015 và15,49% so với 2014 Thu nhập bình quân trên 1 nhân khẩu năm 2014 là 2,70 triệuđồng đến năm 2016 tăng lên thành 3,14 triệu đồng tăng 8,41% so với 2015 và16,25% so với 2014 [2] Có được những kết trên là nhờ sự cố gắng to lớn của chínhquyền và nhân dân huyện Điện Biên và một phần đóng góp không nhỏ của công tácphát triển nông xã và khuyến nông.

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân ở các xã điều tra

Để thu thập được những chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế của các hộ giađình, có cái nhìn rõ nét và thực tế hơn nhằm đánh giá khách quan, đúng đắn thựctrạng phát triển kinh tế hộ nông dân những năm gần đây, từ đó xác định những lợithế so sánh, các hạn chế, thách thức, cơ hội phải đón bắt, khắc phục những mặt tồntại yếu kém, định hướng phát triển kinh tế cho các hộ nông dân Dựa vào vị trí địa

lý và tình hình phát triển kinh tế tôi chọn ra 3 xã, trong 3 xã sử dụng phương phápchọn mẫu ngẫu nhiên đơn chọn ra 30 hộ dân trong một xã, tổng số hộ là 90 hộ đểphỏng vấn về tình hình kinh tế và một số tiêu chí xã hội khác của hộ nông dân

Thông tin chung về chủ hộ

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ở mỗi hộ gia đình sản xuấtnông nghiệp, chủ hộ thường là người quan trọng nhất, quyết định và đầu tư sảnxuất loại cây gì, nuôi con gì, hướng sản xuất theo mô hình nào, đồng thời cũng làngười điều hành quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình hộ Qua quátrình điều tra, phỏng vấn tôi thu được một số thông tin sau:

Chủ hộ của các hộ điều tra phần lớn đều là nam giới: xã Sam Mứn và xãPom Lót mỗi xã đều có 28 chủ hộ là nam giới chiếm 93,33%, còn tỷ lệ nữ giớilàm chủ hộ ở hai xã này đều 6,67% 4 hộ do nữ giới làm chủ hộ nguyên nhân chủyếu là do chồng đã mất hoặc đã ly dị chồng Còn xã Thanh Chăn tỷ lệ nam giớilàm chủ hộ gia đình là 100%, không có hộ nào được điều tra có nữ giới làm chủ

hộ [6, 7, 8]

Trang 6

Về độ tuổi của chủ hộ các xã đều không có sự chênh lệch lớn, chủ của các hộđược điều tra đều nằm trong độ tuổi từ 20 đến 60 tuổi, độ tuổi trung bình của chủ

hộ cao nhất là ở xã Sam Mứn là 43,9 tuổi, độ tuổi trung bình thấp nhất là xã ThanhYên là 41,3 tuổi, còn độ tuổi trung bình của chủ hộ ở xã Pom Lót là 41,7 tuổi [6, 7,8]

Chủ hộ của các hộ được điều tra ở cả 3 xã đều là dân tộc kinh là chủ yếu, sốchủ hộ là dân tộc Kinh được điều tra ở 3 xã là 61 hộ chiếm 67,78% Trong đó ở xãThanh Yên chủ hộ là dân tộc kinh là 18 người chiếm tỷ lệ là 60%, dân tộc Sán dìu

là 7 người chiếm 23,34%, số chủ hộ là dân tộc Tày là 5 người chiếm 16,66%, các

hộ được điều tra không có hộ nào là dân tộc Nùng và dân tộc Dao Còn ở xã PomLót số chủ hộ là dân tộc Kinh được điều tra là 22 người, chiếm 73,34%, số chủ hộ

là dân tộc Nùng là 5 hộ chiếm tỷ lệ là 16,67%, còn dân tộc tày Sán dìu, Dao mỗidân tộc điều tra 1 hộ chiếm 3,33% mỗi dân tộc Xã Thanh Chăn số chủ hộ là dântộc Kinh là 21 hộ chiếm 70% số hộ được điều tra, số chủ hộ là dân tộc Tày là 6 hộchiếm 20% dân tộc Nùng là 3 hộ chiếm 10% Nhìn chung những chủ hộ là ngườidân tộc Tày, Nùng, Kinh, Sán dìu đều là người bản địa sinh sống ở địa phương đã

từ lâu đời, chỉ có một số ít dân tộc là những người mới lên hoặc lên công tác tại địaphương rồi mua đất sinh sống ở địa phương luôn [6, 7, 8]

Trình độ văn hóa của các chủ hộ được điều tra phần lớn đều là học cấp III, tỷ

lệ chủ hộ ở cả 3 xã chỉ có trình độ văn hóa là cấp I là 21,11%, tỷ lệ học đến cấp II

là 37,78%, tỷ lệ học đến trình độ cấp III là 41,11% Tỷ lệ chủ hộ có trình độ vănhóa là cấp I cao nhất là ở xã Sam Mứn chiếm 30,01%, con số này ở xã Pom Lót là20,01% và xã Thanh Chăn là khá thấp chỉ là 13,34%, do đặc điểm của vị trí địa lý

và trình độ phát triển kinh tế nên giáo dục ở xã Sam Mứn chưa được đầu tư nên sốchủ hộ đạt đến trình độ văn hóa là cấp I cao hơn, tuy nhiên tỷ lệ này nguyên nhân là

do các chủ hộ phần lớn đều có độ tuổi từ 40 đến 50 tuổi nên tại thời điểm đó giáo

Trang 7

dục vẫn chưa được hoàn toàn phổ cập như bây giờ nên việc theo học gặp nhiều khókhăn [6, 7, 8].

Nhìn chung qua điều tra 90 hộ nông dân của xã thì đa số chủ hộ là nam giới,các dân tộc Kinh, Tày chiếm đa số, sau đó đến dân tộc Nùng, Sán dìu và Dao, trình

độ văn hóa của chủ hộ thì tỷ lệ trình độ văn hóa đạt cấp III vẫn chiếm đa số, tuynhiên số chủ hộ mù chữ hoặc thất học là không có đây cũng là một điều kiện kháthuận lợi cho tiếp thu khoa học công nghệ vào sản xuất của người dân

Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ nông dân

Khi nghiên cứu yếu tố lao động phải đề cập đến hai khía cạnh của lao động

đó là số lượng và chất lượng lao động Số lượng lao động của hộ bao gồm cácthành viên trong gia đình có khả năng lao động Chất lượng lao động thể hiện trình

độ văn hoá, trình độ chuyên môn, nhận thức về chính trị, xã hội thông qua các kỹnăng, kinh nghiệm sản xuất được tích lũy qua quá trình sản xuất của hộ nông dân

Bình quân nhân khẩu trên hộ của 3 xã là 4,23 khẩu/hộ, bình quân lao độngtrên hộ là 2,95 lao động/hộ, cụ thể như sau: Phần lớn các hộ nông dân được điều tra

ở 3 xã đều có số nhân khẩu từ 4 khẩu trở xuống, ở xã Sam Mứn là 18 hộ, xã PomLót và xã Thanh Chăn có 19 hộ có từ 4 nhân khẩu trở xuống Số hộ có số nhânkhẩu từ 5 đến 6 khẩu là khá thấp, xã Sam Mứn có 10 hộ còn xã Pom Lót và xãThanh Chăn có 11 hộ Số hộ có trên 6 khẩu là rất thấp, chỉ có ở xã Sam Mứn có 2

hộ còn xã Pom Lót và xã Thanh Chăn không có hộ nào có trên 6 khẩu Còn về laođộng của các hộ, phần lớn các hộ đều có 3 lao động trở xuống, ở xã Sam Mứn và

xã Pom Lót hộ có 3 lao động trở xuống là 22 hộ, còn ở xã Thanh Chăn là 20 hộ,còn số hộ trên 3 nhân khẩu ở xã Pom Lót và xã Sam Mứn là 8 hộ còn ở xã ThanhChăn là 10 hộ [6, 7, 8]

Nhìn chung tình hình lao động và nhân khẩu của 3 xã không có sự chênhlệch đáng kể xã có bình quân nhân khẩu trên hộ và bình quân lao động trên hộ caonhất là xã Thanh Chăn với bình quân nhân khẩu trên hộ là 4,27 khẩu/ hộ và bình

Trang 8

quân lao động trên hộ của xã Thanh Chăn là 2,95 lao động/hộ Còn xã có bình quânnhân khẩu trên hộ thấp nhất là xã Pom Lót với 4,2 khẩu/hộ, chỉ chênh với xã ThanhChăn 0,07 người/hộ điều này chứng tỏ số lượng dân số và lao động của các xãkhông ảnh hưởng nhiều đến tình hình phát triển kinh tế của các xã [6, 7, 8].

2.3 Nguồn lực của các hộ nông dân

a) Đất đai của các hộ nông dân

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được trong sản xuấtnông, lâm nghiệp của hộ nông dân Để phát triển kinh tế hộ nông dân trước hết phảidựa vào nguồn tài nguyên đất, nhất là những nơi tiềm năng để mở rộng đất đai cònnhiều Vì vậy, khi phân tích cần dựa vào tiêu thức phân tổ theo loại đất sử dụng,mức thu nhập và quy mô diện tích đất của vùng nghiên cứu

Thực tế cho thấy, đất vườn của các hộ nông dân có điều kiện trồng nhữngcây có giá trị kinh tế cao như các loại cây ăn quả, đặc sản, mặt khác vườn ở gầnnhà có điều kiện thâm canh tốt hơn đã tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tếcao hơn Về quy mô diện tích đất của hộ nông dân điều tra, các hộ có thu nhập từkhá trở lên quy mô đất chủ yếu là từ 6000 m2 trở lên chiếm 57%, quy mô đất từ3000-6000 chiếm 43%, các hộ có thu nhập trung bình quy mô đất đai chủ yếu từ3000-6000 chiếm 65,4%,dưới 3000 chiếm 19,7%, các hộ nghèo và cận nghèo quy

mô diện tích đất chủ yếu dưới 3000 chiếm 40,0% và từ 3000-6000 chiếm 60%Như vậy diện tích đất của những hộ có mức sống từ khá trở lên là cao nhất sau đógiảm dần theo thu nhập [2]

b) Phương tiện sản xuất và phương tiện sinh hoạt của các hộ nông dân

Phương tiện sản xuất và phương tiện sinh hoạt là 2 loại phương tiện giúpđánh giá được rõ nhất mức sống và mức đầu tư vào nông nghiệp của các hộ nôngdân ở 3 xã, dưới đây là mức độ đầu tư phương tiện sản xuất và phương tiện sinhhoạt của các hộ nông dân

Trang 9

Số lượng phương tiện phục vụ sản xuất các hộ nông dân là khá đầy đủ Các

hộ dân đã có sự quan tâm tới các loại máy móc phù hợp vào trong hoạt động sảnxuất, điều này đóng góp quan trọng trong việc tăng năng suất cây trồng, vật nuôicủa hộ, giúp đạt hiệu quả cao trong sản xuất và đời sống

Về các phương tiện sinh hoạt thì các hộ nông dân ở các xã đều có sự đầu tưtương đối đầy đủ để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, đời sống tinhthân của hộ nông dân

c) Nguồn vốn của các hộ nông dân

Vốn là điều kiện rất quan trọng để tiến hành sản xuất đối với các hộ Để pháttriển sản xuất, nhất là sản xuất ở quy mô lớn thì đòi hỏi hộ nông dân phải có vốn.Tại thời điểm điều tra năm 2016 quy mô vốn của các hộ nông dân trong 3 xã cũng

có sự chênh lệch đáng kể Mức vốn bình quân chung 3 xã là 17,3 triệu đồng, trong

đó cao nhất là xã Thanh Chăn 18 triệu đồng, thấp nhất là Sam Mứn 16,57 triệuđồng Về nguồn vốn của các hộ nông dân qua bảng cho thấy chủ yếu là vốn tự cóchiếm 76,4%, vốn vay chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 18,1% và vốn khác chiếm tỷtrọng rất thấp 5,5% [2]

d) Lao động

Khi nghiên cứu yếu tố lao động phải đề cập đến hai khía cạnh của lao động

đó là số lượng và chất lượng lao động Số lượng lao động của hộ bao gồm cácthành viên trong gia đình có khả năng lao động Chất lượng lao động thể hiện trình

độ văn hoá, trình độ chuyên môn, nhận thức về chính trị, xã hội thông qua các kỹnăng, kinh nghiệm sản xuất được tích lũy qua quá trình sản xuất của hộ nông dân

Chỉ tiêu bình quân khẩu/hộ cao nhất ở nhóm hộ trung bình (3,92 người), thấpnhất ở nhóm hộ nghèo (3 người) Bình quân lao động/hộ cao nhất là hộ có mứcsống trung bình (2,54 người) và thấp nhất ở nhóm hộ nghèo và cận nghèo (2,11người) [2]

Trang 10

3 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Quy luật tất yếu của nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đạihóa theo xu thế hội nhập do đó tình trạng nhỏ lẻ, phân tán, manh mún, sản xuất thủcông dựa nhiều trên kinh nghiệm phải được giải quyết Đây chính là lý do làm chohàm lượng chất xám trong nông sản còn thấp và gây khó khăn rất lớn cho quá trìnhhội nhập trong lĩnh vực nông nghiệp, làm giảm năng lực cạnh tranh của các sảnphẩm trên thị trường quốc tế Trước mắt, khi hàm lượng chất xám trong nông sảnthấp thì chúng ta phải chấp nhận bán nông sản dưới dạng thô hoặc với giá rất rẻnhư vậy lợi nhuận là rất thấp Nền sản xuất mang tính manh mún, tự phát, chi phísản xuất cao, rủi ro lớn Đầu tiên là ngành trồng trọt, chúng ta không còn lạ gì vớihình ảnh mỗi hộ gia đình canh tác trên nhiều mảnh ruộng, lớn nhỏ khác nhau khó

có thể áp dụng hiệu quả thành tựu khoa học vào sản xuất và đầu tư để hình thànhcác khu vực chuyên canh sản xuất tập trung được, cản trở quá trình công nghiệphóa - hiện đại hóa Trong khi đó, ngành chăn nuôi lại rơi vào tình trạng thiếu tậptrung, phân tán gây khó khăn cho kiểm soát dịch bệnh, tiêu thụ hàng hóa và xâydựng các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Chi phí sản xuất chăn nuôinhư giống và thức ăn rất lớn Nó đang là trở lực lớn nhất, vừa là một thực trạngsớm muộn phải xóa bỏ Để thực hiện được điều đó, cần khuyến khích và thúc đẩymạnh mẽ kinh tế trang trại, sản xuất ứng dụng công nghệ cao đi đôi với tổ chức cáchình thức liên kết, hợp tác (cả tín dụng, mua, bán và sản xuất) giữa các hộ nông dânnhỏ lẻ với nhau trong cùng một phương hướng sản xuất (cùng kinh doanh cây, connào đó) Mặt khác, phải tổ chức việc chuyển đổi ngành nghề, tạo điều kiện kinh tếcho quá trình tích tụ ruộng đất Kết quả là sẽ giảm dần hộ sản xuất nông nghiệp thủcông, nhỏ lẻ, đồng thời tăng quy mô sản xuất của mỗi hộ Nếu chúng ta thực hiện

nó một cách chủ động và tự giác không chỉ đem lại sự phát triển cho kinh tế hộnông nghiệp mà còn tạo nên sự ổn định về mặt xã hội Ngược lại, nếu ta để cho quá

Trang 11

trình đó diễn ra một cách tự phát, thiếu kiểm soát thì sự phát triển sẽ chậm trễ vàcòn gây ra nhiều bất lợi cho xã hội.

Những quan điểm trên về phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng côngnghệ cao nông chỉ được thực hiện trên cơ sở đề ra những giải pháp khoa học, sátvới điều kiện thực tế của các hộ nông dân có tính khả thi cao là một yêu cầu cấpthiết đối với huyện như Điện Biên Những giải pháp này tập trung vào một số vấn

đề nổi bật và cần phải làm ngay như sau:

Cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo nghề, chăm sóc, y tế, sức khỏe chodân cư nông thôn để giúp giảm được rủi ro đói nghèo và giúp họ hòa nhập được vớicộng đồng, nâng cao năng suất lao động

Cải thiện lại cơ sở hạ tầng ở địa bàn để tăng mối liên kết giữa các vùng lâncận, thu hút đầu tư của các doanh nghiệp ở trong và ngoài tỉnh vào địa phương

Các giải pháp cụ thể đối với huyện Điện Biên để phát triển kinh tế trong thời

kỳ hội nhập như sau:

3.1 Nhóm giải pháp về đất đai

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, việc sử dụng ruộng đất hiệuquả có ý nghĩa to lớn đối với các hộ nông dân Muốn áp dụng khoa học kỹ thuậttrong nông nghiệp thì đòi hỏi phải chấm dứt tình trạng manh mún phân tán ruộngđất hiện nay, thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất

Hướng đi hợp lý là đất đai sẽ tập trung trong tay các hộ nông dân được trang

bị vốn, khoa học kỹ thuật, thong tin thị trường và lien kết chặt chẽ với các hợp tác

xã, doanh nghiệp Bộ phận dân cư không đất sản xuất sẽ trở thành công nhân nôngnghiệp hoặc tham gia khu vực phi nông nghiệp Có như vậy các hộ mới yên tâmsản xuất và tập trung đầu tư đất đai được sử dụng lâu dài của mình

Ngày đăng: 16/05/2018, 20:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w