chính sách đối ngoại việt nam từ 86 đến nay, chủ trương đường lối của đảng thành tựu đạt được trong đổi mới kinh tế đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1986 nay và Những hạn chế trong đổi mới kinh tế đối ngoại ở Việt Nam giai đoạn 1986 đến nay, bài học kinh nghiệm
Trang 1A MỞ ĐẦU
Kinh tế đối ngoại của một nhà nước, quốc gia là tổng thể các quan điểm xácđịnh mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và phương châm chỉ đạo các hoạt độngkinh tế đối ngoại mà quốc gia đó thể hiện trong quan hệ với các nhà nước quốcgia và các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế nhằm mục đích thực hiện thắng lợinhững lợi ích kinh tế của quốc gia dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử
Kinh tế đối ngoại nước ta hiện đã bước sang một giai đoạn mới - chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế Nước ta đã, đang học hỏi và tích luỹ được nhiều kinhnghiệm của các quốc gia đi trước, qua thực tiễn đã đạt được những thành tựu rấtđáng kể trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, có được những nền tảng bước đầu để cóthể gia tăng hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn mới Hiện nay, những điềukiện quốc tế đã thay đổi, các quốc gia trong khu vực đã tiến xa so với chúng tatrên con đường hội nhập quốc tế và đang đặt ra những thách thức lớn Trong bốicảnh đó, việc nước ta lựa chọn con đường chủ động hội nhập kinh tế quốc tếtheo những hướng mới là lựa chọn đúng đắn và thích hợp
Trong giai đoạn từ 1986-2005 đường lối kinh tế đối ngoại của Việt Nam đã
có những đổi mới tích cực phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam Thời kỳnày hoạt động kinh tế đối ngoại đã đạt được những kết quả nhất định hoạt độngngoại dao đã mở rộng ra hầu hết các nước và vùng lãnh thổ Chính do đổi mớitrong hoạt động kinh tế đối ngoại và những thành tựu trong hoạt động này manglại đối với sự phát triển quốc gia, tôi đã chọn đề tài: “Phân tích những đổi mớitrong kinh tế đối ngoại Việt Nam 1986 -2005 và rút ra ý nghĩa lý luận thực tiễn”làm đề tài tiểu luận nghiên cứu
Trang 2B NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận trong đổi mới trong kinh tế đối ngoại Việt Nam
1.1 Tình hình trong nước và quốc tế
1.1.1 Tình hình trong nước
Những năm 80, đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thử thách to lớn:khủng hoảng kinh tế - xã hội Nền kinh tế nhiều năm tăng trưởng âm và siêu lạmphát, khiến cho đời sống nhân dân hết sức khó khăn Trên lĩnh vực đối ngoại,nước ta bị bao vây, cấm vận về kinh tế, bị cô lập về chính trị Đây là thời kỳ khókhăn nhất của nước ta sau ngày thống nhất đất nước Trong bối cảnh đó, Đại hội
VI của Đảng thông qua đường lối đổi mới toàn diện, trong đó xác định rõ:Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đườngđầu tiên lầ ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng nhữngtiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong
chặng đường tiếp theo Với chủ trương đó, Đại hội đã xác định nhiệm vụ có tính cấp bách trước mắt là giải phóng sức sản xuất, tập trung phát triển kinh tế - xã
hội để nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá thế
bị bao vây, cấm vận, cô lập và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Những Đại hội sau đó xác định nhiệm vụ cơ bản, lâu dài là sớm đưa Việt
Nam thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại
Chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng phải góp phần đưa đất nước vượtqua những khó khăn thách thức đang đặt ra nhằm thực hiện thắng lợi những mụctiêu, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Đường lối kinh tế đối ngoạithời kỳ đổi mới của Đảng ta được hoạch định nhằm tranh thủ tối đa nguồn lựcbên ngoài, kết hợp một cách có hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thờiđại, phục vụ mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, dân giàu nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
1.1.2 Tình hình thế giới và khu vực
Tình hình thế giới và khu vực từ sau chiến tranh lạnh đến năm 2005 nổi lênmột số đặc điểm và xu thế vận động chủ yếu tác động đến việc hoạch địnhđường lối kinh tế đối ngoại của Việt Nam, cụ thể như sau:
Thứ nhất, sự thay đổi của cục diện thế giới và môi trường an ninh chính trịquốc tế sau chiến tranh lạnh
Trang 3Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủnghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Liên Xô tan rã, trật tự thế giới haicực chấm dứt đã làm đảo lộn các quan hệ liên minh kinh tế, chính trị, quân sựđược thiết lập trong thời kỳ chiến tranh lạnh Tương quan lực luợng thế giớicũng có sự thay đổi nghiêng hẳn về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản Mâu thuẫnthời đại giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục tồn tại, songkhông còn là nhân tố duy nhất chi phối quan hệ quốc tế cũng như việc tập hợp
lực lượng giữa các nước trên thế giới.
Trong thời kỳ quá độ hình thành trật tự thế giới mới, tất cả các nước trênthế giới tuy ở các mức độ khác nhau đều đứng trước những thách thức mới như:xung đột khu vực, mâu thuẫn quốc gia, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; hố ngăn cáchgiàu - nghèo Bắc - Nam; sự bất bình đẳng trong quan hệ giữa các nước; nhu cầuphát triển kinh tế và ổn định chính trị ở mỗi nước; hoạt động ngày càng tăng củachủ nghĩa khủng bố Ngoài ra, giữa các nước lớn, các trung tâm kinh tế mớitrỗi dậy còn diễn ra cuộc tranh giành vai trò chủ đạo trong trật tự thế giới mới.Đứng trước những vấn đề nêu trên, các nước trên thế giới thời kỳ sauChiến tranh lạnh đều tập trung ưu tiên nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế - xãhội ở trong nước, đồng thời đấu tranh để tạo lập môi trường quốc tế và khu vựchòa bình, ổn định, giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển củađất nước mình Do đó, hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển trở thành xu thếlớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn hiệnnay của thời đại
Thứ hai, sự phát triển của khoa học- công nghệ
Sự phát triển khoa học-công nghệ đã và đang tác động sâu rộng đến mọilĩnh vực của đời sống xã hội và quan hệ quốc tế Ngày nay, khoa học-công nghệ
đã trở thành lực lượng sản xuất nòng cốt và trực tiếp của xã hội; trí tuệ và kỹnăng có vai trò mấu chốt trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và pháttriển khoa học-công nghệ góp phần làm thay đổi vị thế của mỗi một quốc giatrong quan hệ quốc tế Tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học-côngnghệ đưa đến sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong nền sản xuất đượcquốc tế hóa khiến cho xu hướng đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của các nước trởthành đòi hỏi khách quan Các nước ra sức mở rộng quan hệ quốc tế, khôngphân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau, với tất cả những ai có khả năng hợptác hiệu quả; việc xác định bạn - thù, hình thức và mức độ quan hệ cũng trở nên
Trang 4rất linh hoạt Phương thức tập hợp lực lượng theo kiểu truyền thống đã đượcthay bằng sự tập hợp lực lượng trên cơ sở lợi ích dân tộc
Một đặc điểm khác của thế giới trong kỷ nguyên cách mạng khoa công nghệ hiện đại là toàn cầu hóa Toàn cầu hóa là một quá trình khách quan,lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia Là quá trình khách quan, là nấcthang phát triển của nhân loại, toàn cầu hóa đem lại cơ hội cho mọi quốc giadân tộc cùng phát triển Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa được thực hiện bởicác nhân tố chủ quan mà lợi thế thuộc về các nước phát triển, đứng đầu là
học-Mỹ Với sức mạnh kinh tế, KH - CN, thị trường vốn, lao động và hàng hóa…các nước phát triển thông qua các công cụ của mình là các tập đoàn tư bảnxuyên quốc gia đang lợi dụng lợi thế này để phục vụ lợi ích riêng của mình,gây bất lợi cho các nước nghèo, các nước đang phát triển Chính vì vậy, đốivới đại bộ phận các nước trên thế giới, toàn cầu hóa là quá trình luôn chứađựng tính hai mặt: thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức, tích cực vàtiêu cực, hợp tác và đấu tranh
Thứ ba, sự cạnh tranh gay gắt của các nước lớn
Một đặc điểm nổi lên của thế giới thời kỳ sau Chiến tranh lạnh là cácnước lớn và quan hệ giữa các nước lớn trở thành nhân tố có vai trò quan trọngđến sự phát triển thế giới Thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, cùng với xu thế hòa
bình, hợp tác vì phát triển, các nước lớn, một mặt, thường thỏa hiệp với Mỹ
để tìm tiếng nói chung nhằm tăng cường hợp tác; mặt khác, lại đấu tranh gay
gắt với nhau nhằm giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất cho phát triểncũng như khẳng định vị thế của nước mình trong trật tự thế giới mới đangtrong quá trình hình thành, chống tham vọng thiết lập trật tự thế giới đơn cực
do Mỹ lãnh đạo Sự cạnh tranh tranh giành ảnh hưởng và lợi ích giữa cácnước lớn thể hiện trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều khu vực trên thế giới vẫn tiếptục gay gắt trong tư thế vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa kiềm chế lẫn nhau.Với sức mạnh của mình, quan hệ giữa các nước lớn, dù nồng ấm hay lạnhnhạt, dù hòa dịu hay căng thẳng, đều tác động trực tiếp đến hòa bình, an ninh,phát triển của thế giới
Thứ tư, Tình hình khu vực Đông Á
Từ sau chiến tranh lạnh đến nay, Đông Á trở thành khu vực phát triển năngđộng, góp phần vào sự phát triển chung của thế giới Cùng với vị thế quốc tếngày càng tăng, Đông Á cũng là nơi diễn ra sự tranh giành ảnh hưởng một cách
Trang 5quyết liệt giữa các nước lớn Những biến đổi sâu sắc của môi trường địa - chính trị
và địa - kinh tế tại Đông Á kể từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh đã mở ra một khônggian phát triển mới cho khu vực và tạo nên vị thế mới của Đông Á trong quan hệquốc tế Vai trò của Đông Á trong quan hệ quốc tế ngày càng quan trọng hơn xéttrên cả hai phương diện: chính trị - an ninh và kinh tế
Tuy nhiên, tình hình an ninh chính trị Đông Á tiếp tục diễn biến rất phức
tạp Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và các thực thể quyền lực khác đã tạo nên cụcdiện ganh đua quyết liệt, tập hợp lực lượng, hòa hoãn, liên kết đa phương đadiện, cạnh tranh và hợp tác hết sức năng động, tùy thuộc lẫn nhau vô cùng sâusắc Có thể thấy, cấu trúc quyền lực của trật tự Đông Á hiện nay đang được duytrì trong trạng thái "cân bằng thấp" vì Đông Á còn thiếu một cấu trúc nội tại ổnđịnh có vai trò lãnh đạo, chi phối toàn diện cả về kinh tế lẫn chính trị trong khuvực ; sự ổn định an ninh khu vực phụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài, trong
đó đặc biệt phải kể đến vai trò can dự của Mỹ.1 Ở Đông Á hiện vẫn còn tồn tạinhiều yếu tố có khả năng gây mất ổn định, đòi hỏi phải có sự tham gia mạnh mẽcủa các nước liên quan để giải quyết Ví dụ đáng chú ý nhất là chương trình hạtnhân của Bắc Triều Tiên và những mâu thuẫn, xung đột chủ quyền ở Biển Đông
và Biển Hoa Đông …
1.2 Quá trình hình thành, phát triển đường lối kinh tế đối ngoại thời kỳ đổi mới
Đường lối kinh tế đối ngoại thời kỳ đổi mới được hình thành qua một quátrình, bắt nguồn từ Đại hội VI của Đảng (12/1986) và tiếp tục được bổ sung,phát triển, hoàn thiện ở các Đại hội Đảng tiếp theo đó
Đại hội VI của Đảng (12/1986) khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diệnđất nước, đồng thời cũng mở đầu quá trình hình thành chính sách kinh tế đốingoại thời kỳ đổi mới Đại hội chỉ rõ: “ cùng với việc mở rộng xuất nhập khẩu,tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn cần vận dụng nhiều hình thức đa dạng đểphát triển kinh tế đối ngoại” Thực hiện chủ trương đó, Nhà nước đã ban hànhchính sách mở cửa để thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài; đa dạng hóa và đaphương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, từng bước gắn nền kinh tế quốc gia vớinền kinh tế thế giới, thị trường trong nước với thị trường quốc tế trên nguyên tắcbình đẳng và cùng có lợi, đảm bảo độc lập, chủ quyền dân tộc, an ninh quốc gia.Đảng ta đã có chủ trương : “ công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu
tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là các ngành và các nghề đòi hỏi kỹ
Trang 6thuật cao, làm hàng xuất khẩu Đi đôi với việc công bố luật đầu tư, cần có cácchính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và việtkiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh” Đây là những nền tảng quan trọng đểthúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của nước ta.
Đến đại hội VII, Đảng ta tiếp tục chủ trương mở rộng họp tác, bình đẳng
và cùng có lợi với tất cả các nước, các tố chức quốc tế, không phân biệt chế độchính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tác cùng tồn tại hoà bình Đểtừng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tàng cường thu hút nguồn vốn từnước ngoài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng
ta chù trương khai thông quan hệ giữa các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế nhưIMF, WB, ADB , mở rộng quan hệ với các tổ chức hợp tác khu vực, trước hết ởchâu Á - Thái Bình dương Một trong những biện pháp quan trọng là cần tíchcực cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, đổi mới tổ chức và quản lý hoạt độnghợp tác, liên doanh với nước ngoài, có nhiều hình thức thich hợp để tận dụngmọi nguồn vốn đầu tư, chú ừọng phát ưiển các quan hệ hợp tác với các công ty
đa quốc gia, xuyên quốc gia nhàm tạo thế đứng trong quá trình hội nhập kinh tếkhu vực và thế giới
Đại hội IX của Đảng đã nêu rõ quan điểm chù động hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quà hợp tácquốc tế, đảm bào độc lập tự chủ và định hướng xã hội chu nghĩa, bảo vệ lợi íchdân tộc, an ninh quốc gia, giữ gin bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường Tháng 11nám 2006, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức cùa WTO
Do vậy, chính sách thương mại quốc tế và thu hút đầu tư quốc tế đã cónhững thay đổi căn bản:
Về chính sách thương mại quốc tế:
Đối với hoạt động xuất nhập khẩu Nhà nước xoá bỏ chế độ độc quyềnngoại thương Từ 1988, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đượcphép hoạt động xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tưnhân cũng được kinh doanh xuất nhập khẩu Việc ban hành Nghị định 57/NĐ-
CP năm 1988 đánh dấu bước ngoặt của quá trình tự do hoá ngoại thương ở nước
ta Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế ban hành năm 1989 đã tạo khuôn khổ pháp lýcho các hành vi giao dịch kinh tế trên thị trường Bộ luật Dân sự (1995) và Luật
Trang 7Thương mại (1997) đã được ban hành tạo khung khổ tương đối hoàn chinh cho
tự do giao dịch hàng hoá trên thị trường
Nhà nước còn có những biện pháp nới lỏng về quản lý ngoại hối, tạo điềukiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong quá trình thanh toán với các đốitác nước ngoài Những rào cản phi thuế quan như chế độ hạn ngạch, đầu mốixuất nhập khẩu dần được dỡ bỏ
Chính sách thị trường ngoài nước hướng vào mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu,
đa dạng hóa thị trường xuất khẩu Trong những thập niên đầu thế kỷ 21 vẫn phảichú trọng phát triển các thị trường truyền thống như thị trường châu Á - TháiBình Dương, thị trường EU, thị trường Nga Đồng thời tiếp cận và phát triển cácthị trường mới với nhiều tiềm năng như thị trường Hoa Kỳ, thị trưòmg Trungcận Đông, châu Phi và Mỹ Latinh Tăng cường chính sách khuyến khích, độngviên tìm kiếm thị trường xuất khẩu, đối tác nước ngoài của các doanh nghiệp.Đặc biệt, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, cơ chế chính sách ngoạithương ngày càng được đồi mới và hoàn thiện theo thông lệ quốc tế
Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Xây dựng môi trường pháp lý hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài
Luật đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông qua năm 1987 và có hiệu lưc
từ tháng 1 năm 1988 Sau đó đã có bốn lần bổ sung vào các năm 1990, 1992
1996 và năm 2000 Luật Đầu tư nước ngoài qua nhiều lần sửa đổi đã
tạo ra môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, thể hiện ở một
số nội dung chính sau:
Đối xử bình đẳng với các nhà đầu tư nước ngoài so với các nhà đầu tư trong nước.Cho phép các doanh nghiệp FDI được sử dụng hệ thống kế toán của nướcngoài và các công cụ kế toán khác Hệ thống kế toán quốc tế cũng được xem xét
để áp dụng Trong trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài và phía Việt Nam cỏmâu thuẫn, hai bên có quyền đưa ra trọng tài kinh tế của Việt Nam hoặc quốc tếxem xét nếu cả hai bên đồng ý
Trong trường hợp hệ thống luật pháp cùa Việt Nam có thay đổi, gây thiệthại cho nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam sẽ có biện pháp bồi thường thiệt hạicho họ
Vốn và tài sản của các nhà đầu tư nước ngoài không bị tịch thu, sung cônghoặc bị quốc hữu hóa
Trang 8Quyền sở hữu trí tuệ và các bàng phát minh sáng chế của các nhà đầu tưnước ngoài được Chính phủ Việt Nam bảo vệ.
Chính phủ Việt Nam không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các nhà đầu tư nước ngoài Họ có quyền nhập khẩu máy mỏc, trang thiết bị,nguyên vật liệu cần thiết cho quá trình sản xuất Họ có thể xuất khẩu các sànphẩm của họ ra nước ngoài và bán tại Việt Nam
Các nhà đầu tư nước ngoài được đóng góp vốn bàng máy móc, trang thiết
bị và công nghệ
Chính phủ Việt Nam bảo đảm cho các nhà đầu tư nước ngoài được chuyển
về nước không hạn chế vốn đầu tư, lợi nhuận, tiền lãi và các tài sản khác Laođộng nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp FDI được phép chuyển tiền(thu nhập của họ) ra nước ngoài
Chính phủ Việt Nam mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài vào hoạtđộng trong tất cả các ngành khác nhau của nền kinh tể, trừ lĩnh vực quốc phòng
và an ninh, không quy định mức đóng góp vốn tối thiểu
Luật cho phép FDI được hoạt động theo các hình thức: họp đồng kinhdoanh giữa hãng nước ngoài và công ty Việt Nam; xí nghiệp liên doanh giữadoanh nghiệp Việt Nam (chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước) và doanh nghiệpnước ngoài; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Ngày 29-12005, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Đầu tư, cổ iệu lực từ 7-2006 Luật Đầu tư này quy định đối tượng áp dụng chung ho các nhà đầu tư trongnước và nước ngoài thực hiện đầu tư trên lãnh thổ /iệt Nam và đầu tư từ Việt Nam ranước ngoài, nhàm tạo ra “sân chơi” bình đẳng cho tất cả các nhà đầu tư
1-Các lĩnh vực Việt Nam khuyến khích đầu tư
Hiện nay ở Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước và doanh Ìghiệp
tư nhân đều có thể ký hợp đồng với các công ty nước ngoài, song M nước vẫn
ưu tiên (miễn thuế nhập khẩu, giảm hoặc miễn thuế thu nhập ioanh nghiệp )cho các nhà đầu tư vào các lĩnh vực: Các ngành công nghệ '«ao sừ dụng laođộng lành nghề; Các ngành có hàm lượng lao động cao, ýúp tận dụng lao động,nguyên vật liệu và các nguồn sẵn có tại địa phương; Các dự ản về cơ sở hạ tầngnhư đường sá, cầu cống, hải càng, bưu chính viễn thông; Các dịch vụ có khảnăng thu ngoại tệ như du lịch, sừa chữa tàu, tác dịch vụ càng hàng không và hải
Trang 9cảng; Các dự án đầu tư ở các vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế khó khăn;
Các dự án bào vệ môi trường và xử lý chất thải
Chương 2: Thực trạng trong đổi mới kinh tế đối ngoại Việt Nam
giai đoạn 1986-2005
2.1 Những thành tựu trong đổi mới kinh tế đối ngoại Việt Nam giai
đoạn 1986 - 2005
Đổi mới kinh tế đã đem lại những thành tựu quan trọng, làm thay đổi diện mạo
kinh tế - xã hội đất nước và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ kinh tế quốc
tế
Trong thời gian dài đổi mới kinh tế, hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt
Nam phát triển nhanh, mở rộng về quy mô và đa dạng hóa về hình thức
Sau nhiều năm bị bao vây, cấm vận, ngày 11-7-1995, Mỹ tuyên bố bình
thường hóa quan hệ và ngày 12-7-1995 đã thiết lập quan hệ kinh tế với Việt Nam
Ngày 28-7-1995, Việt Nam gia nhập ASEAN Năm 1998 tham gia Diễn đàn kinh tế
các nước châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Tháng 7- 2000, nước ta đã ký hiệp
định thương mại với 61 nước, trong đó có Mỹ, đưa tổng số nước và vùng lãnh thổ cỏ
quan hệ thương mại với Việt Nam lên con số 150 Năm 2006, Việt Nam đã được kết
nạp thành thành viên chính thức của WTO Việc ký kết các hiệp định thương mại
và tham gia các tổ chức, diễn đàn kinh tế quốc tế đã gổp phần phát triển các hoạt
động kinh tế đối ngoại cùa Việt Nam
2.1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng mạnh qua các năm.
Thời gian qua, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam không ngừng tăng
lên Đặc biệt, thời kỳ 2001 đến nay, tốc độ tàng xuất khẩu của Việt Nam khá
cao, bình quân đạt 24,2% Nếu so sánh nám 2008 với năm 1986 thì xuất khẩu
tăng gấp 79 lần, nhập khẩu tàng gấp 37 lần, tính chung cả xuất nhập khẩu tăng
Kim ngạch Tốc độ tăng Kim ngạch Tốc độ tăng
Trang 101995 5.449 34 8.155 40 13.604
Nguồn: Niên giảm Thống kê và Báo cáo của Bộ Thương mại.
Thực tế, việc tăng kim ngạch xuất khẩu ở Việt Nam đã cổ ý nghĩa to lớntrong việc tạo nguồn ngoại tệ để phục vụ cho các nhu cầu đầu tư phát triển Tỷ lệkim ngạch xuất khẩu so với GDP có xu hưóng ngày càng tăng Điều đó cho thấy
độ mở cửa của nền kinh tế đã đạt khá, phù hợp với định hướng xuất khẩu củanền kinh tế Kim ngạch xuất khẩu tăng liên tục từ 1992 đến nay, hầu như luôncao hơn tốc độ tăng GDP
2.1.2 Mặt hàng xuất khẩu đa dạng và chất lượng hàng xuất khẩu được chú ý nâng cao
Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam khá đa dạng Một số mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực đã ngày càng xác định được vị thế nhất định tới thị trường khu vực
và thị trường thế giới như năm 1997 gạo xuất khẩu đứng thứ 2 thế giới sau TháiLan; nhân điều đứng thứ 2 thế giới, sau Ắn Độ, cà phê đứng thứ 4 thế giới, sauBraxin, Côlômbia, Mêhicô; nếu chỉ tính riêng cà phê Robusta thì Việt Nam đứng
số 1 ở châu Á và thế giới Thực tế, năm 1991 mới chỉ có 4 mặt hàng đạt kimngạch 100 triệu USD trở lên là dầu thô, thuỷ sản, gạo, dệt may Năm 2005 đã có
10 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD là dầu thô, dệt may, dàydép, thuỷ sản, gạo, cao su, than đá, cà phê, đồ gỗ, hàng điện tử Năm 2008, có 8mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD là dầu thô, dệt may, giày dép,thuỷ sản, gạo, sản phẩm gỗ, điện tử máy tỉnh và cà phê
Hiện nay gạo, dầu thô, thuỷ sản, hàng may mặc, giày dép, cà phê, nhânđiều, hạt tiêu xuất khẩu từ Việt Nam đã từng bước được thừa nhận đạt tiêuchuẩn chất lượng quốc tế Một số mặt hàng đã dần xác định được vị thế trên thịtrường quốc tế như gạo, cà phê
2.1.3 Thị trường xuất khẩu đã có những chuyển dịch theo hướng đa dạng
và định hình rõ thị trường trọng điểm
Từ chỗ trước năm 1991, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam chi phụthuộc chù yếu vào thị trường Liên Xô (cũ) và các nưởc Đông Âu, sau đó chuyển
Trang 11dần sang các nước ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Vài năm gần đây,nhiều thị trường mới được khai thông hoặc mở rộng thêm về quy mô đặc biệttrong xuất khẩu, như thị trường Mỹ, Ốtxtrâylia, các nước châu Phi và Trung cậnĐông Năm 1997, kim ngạch xuất khẩu
vào Mỹ đạt 274 triệu USD, chiếm chưa đầy 3% tổng kim ngạch xuất khẩucủa Việt Nam, năm 2000 là 732,8 triệu USD chiếm 5,1 %, năm 2005 là 6230triệu USD chiếm 19,7%, đến năm 2008 là 11.600 triệu USD chiếm 18,4% tổngkim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả nước
2.1.4 Cơ cấu hàng nhập khẩu thay đổi tích cực
Tỷ trọng nhập khẩu máy móc, thiết bị năm 1991 mới chiếm 21,8% tồngkim ngạch nhập khẩu, thì năm 1995 đã tâng lên chiếm 25,71% và năm 2004 là26,99% Tỷ trọng nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất luôn luôn chiếm tỷtrọng cao trong tổng kim ngạch nhập khẩu, năm 1995 chiếm 59,11% tổng kimngạch nhập khẩu, năm 2000 là 63,23% và năm 2004 là 68% Tỷ trọng nhómhàng tiêu dùng trong tổng kim ngạch nhập khẩu giảm tương đối Năm 1991, tỷtrọng nhập khẩu hàng tiêu dùng chiếm 13,9% tổng kim ngạch nhập khẩu, năm
1995 là 15,18%, năm 2000 là 6,19% và năm 2004 là 5,01% Sự chuyển dịch cơcấu hàng nhập khẩu đã trực tiếp đáp ứng nhu cầu máy móc thiết bị, công nghệ
và nguyên nhiên vật liệu để đầu tư phát triển sản xuất, đồng thời giảm dần tỷƯọng nhập khẩu hàng tiêu dùn,g góp phần hạn chế dần mức nhập siêu, lànhmạnh hoá cán cân thương mại, mặt khác cũng cho thấy khả nàng tự đáp ứnghàng tiêu dùng công nghiệp sản xuất từ trong nước ngày càng tiến bộ
Nhìn chung, trong những năm gần đây, nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam
đã gắn hom với sự tăng trưởng của sản xuất hướng về xuất khẩu và đã cỏ ảnhhưởng tích cực tới tập quán và cơ cấu sản xuất
2.1.5 Về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Từ khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực đến nay, Việt Nam đã thu hútđược khối lượng lớn vốn FDI Đặc biệt, khi Việt Nam gia nhập WTO, FDI tăngrất nhanh cả số lượng vốn đăng ký cũng như vốn thực hiện
Năm 2006, FDI đăng ký là hơn 12 tỷ USD và vốn thực hiện hon 4,1 tỷUSD; năm 2007 số liệu tương ứng là hơn 21,3 tỷ USD và hơn 8 tỷ USD, năm
2008 là hơn 61,1 tỷ USD và hơn 11,5 tỷ USD, năm 2009 là 22,626 tỷ USD và 10
Trang 12tỷ USD, nàm 2010 là 18,595 tỷ USD và 11 tỷ USD Tính đến 2l/12/2010, cảnước có 12.213 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 192,9 tỷ USD.
Bảng: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành (Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/8/2011) Chuyên ngành
sốdự án
Tổng vốn đầu tư đăng ký (USD)
Vốn điều lệ (USD)
Công nghiệp chế biến, chế tạo 7,631 99.890.911.251 34.208.331.507 Kinh doanh bất động sản 359 46.431.428.474 11.326.188.870
Dịch vụ lưu trú và ăn uống 306 11.802.821.609 3.214.034.300 Sản xuất, phân phối điện, khí,
Thông tin và truyền thông 670 4.840.956.948 3.103.657.564 Nghệ thuật và giải trí 127 3.635.886.809 1.102.221.253 Vận tải kho bãi
306 3.217.462.685 1.005.421.840 Nông, lâm nghiệp; thủy sản 487 3.171.067.739 1.525.256.601
Bán buôn, bán lẻ; sửa chữa 594 1.820.929.079 895.551.335 1Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 75 1.321.550.673 1.171.785.673
Y tế và trợ giúp xã hội 74 1.019.132.437 221.845.016 Hoạt động chuyên môn, khoa
152.162.092 Cấp nước; xử lý chất thải 26 387.478.770 38.658.000
Hành chính và dịch vụ hỗ trợ 102 183.373.821 95.283.411
66.438.512.324
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo là lĩnh vực thu hút nhiều vốnFDI nhất với 7.305 dự án, tồng vốn đăng ký 93,97 tỷ USD, chiếm 59,8% số dự án và
Trang 1349% vốn đăng ký tại Việt Nam Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với
348 dự án, tổng vốn đăng ký 47,99 tỷ USD, chiếm 25% tồng vốn đăng ký
Về đối tác đầu tư, hiện đã có các nhà đầu tư từ 92 quốc gia và vùng lãnhthổ đầu tư tại Việt Nam, trong đỏ Đài Loan là nhà đầu tư số 1 với ừên 2.146 dự
án còn hiệu lực, tồng vốn đăng ký 22,8 tỷ USD Hàn Quốc đứng thứ 2 với trên2.650 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 22,1 tỷ USD Tiếp theo là Xingapo,Nhật Bản và Malaixia
FDI đã có mặt ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nước Thành phố Hồ Chí Minhhiện là nơi thu hút nhiều FDI nhất với trên 3.500 dự án còn hiệu lực, vốn đăng
ký 29,9 tỷ USD, chiếm 16,4% tổng vốn đăng ký
Điều đáng chú ý là đã có sự gia tăng tỳ trọng vốn đầu tư vào lĩnh vực côngnghệ cao, lọc dầu, công nghệ thông tin với sự cổ mặt của các tập đoàn nổi tiếngthế giới như Intel, Panasonic, Canon v.v
2.1.6 Về hỗ trợ phát triển chính thức
Năm 1993, Việt Nam bắt đầu tiếp nhận nguồn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA) Tính đến năm 2008 đã có 51 nhà tài trợ đa phương, song phương choViệt Nam với tổng số ODA cam kết dành cho Việt Nam đã đạt 42 tỳ USD Sốlượng ODA vào Việt Nam có xu hướng tăng
Bảng: Vốn ODA trong giai đoạn 1993-2005
ờ Việt Nam Trong giai đoạn 1996-2005, ODA đã bồ sung khoảng
11,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chiếm khoảng 17% tổng vổn đầu tư từngân sách nhà nước
Hiện nay, đã có 28 nhà tài trợ song phương và 23 tổ chức tài trợ đa phươngcho Việt Nam, ngoài ra còn cổ ừên 350 tổ chức phi chính phủ hoạt động tại ViệtNam cung cấp bỉnh quân một năm khoảng 100 triệu USD viên trợ không hoànlại Tính đến năm 2005 Nhật Bản là quốc gia viện trợ song phương lớn nhất,