Trên thực tế, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa, có nhiều khu chung cư mới, hệ thống trường mầm non công lập quá tải, không đáp ứng kịp với nhu cầu gửi con c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-™&˜ -VŨ THỊ KIM HOA
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC CƠ SỞ MẦM NON TƯ THỤC QUẬN HÀ ĐÔNG, TP HÀ NỘI
THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 3Trước hết, xin bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Ban chủ nhiệm khoa Đào tạo Sau Đại học, cùng toàn thể các Thầy giáo, Cô giáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học tại Trường và Khoa
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo
Hà Nội, phòng Giáo dục & Đào tạo quận Hà Đông, các trường Mầm non công lập, cơ sở mầm non tư thục quận Hà Đông, cùng các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS.Đặng Lộc Thọ - người thầy trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu và kết thúc khóa học
Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế, vì vậy luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các Thầy giáo, Cô giáo và các bạn học viên để luận văn này được hoàn chỉnh hơn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vũ Thị Kim Hoa
Trang 4Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Vũ Thị Kim Hoa
Trang 5BGD&ĐT Bộ giáo dục và Đào tạo
Trang 6Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên mầm
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7 1.2 Phát triển và phát triển đội ngũ giáo dục 9 1.3 Vị trí, vai trò GDMN tư thục trong hệ thống giáo dục quốc dân 11 1.4 Đổi mới giáo dục mầm non và yêu cầu chuẩn nghề nghiệp đối
1.5 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên mầm non các cơ sở
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ GV các cơ sở mầm
non tư thục quận Hà Đông, TP Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp 26
2.1 Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội quận Hà Đông 26 2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên các cơ sở mầm non tư thục
2.3 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các cơ sở mầm non tư
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên các
cơ sở mầm non tư thục quận Hà Đông theo chuẩn nghề nghiệp 38 2.5 Đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các cơ sở
mầm non tư thục quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội 42
Trang 73.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên
các cơ sở mầm non tư thục quận Hà Đông theo chuẩn nghề nghiệp 50 3.2 Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các cơ sở mầm non
tư thục quận Hà Đông theo chuẩn nghề nghiệp 53 3.2.1 Cụ thể hóa các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp GVMN trong
3.2.2 Hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ GVMN ở
các cấp quản lý giáo dục theo chuẩn nghề nghiệp 55 3.2.3 Thực hiện tuyển dụng GVMN mới theo chuẩn nghề nghiệp 58 3.2.4 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng GVMN theo chuẩn
3.2.5 Tăng cường tính đồng thuận, đoàn kết trong tập thể GV để
giúp đỡ nhau tiến bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đội ngũ theo chuẩn
3.2.6 Định kỳ, kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm về phát triển
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 71 3.3.1 Phương pháp tiến hành khảo nghiệm 71 3.3.2 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của biện
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người ngày càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ con người Việt Nam mới, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Điều này đòi hỏi giáo dục phải có chiến lược phát triển đúng hướng, hợp quy luật,
xu thế và xứng tầm thời đại
Thực tiễn phát triển giáo dục đất nước đã khẳng định những tiến bộ và bước chuyển căn bản của giáo dục trong thập niên tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý là khâu then chốt” [16] Ta thấy sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước và của toàn xã hội xem con người là vị trí trung tâm, là nguồn lực vô tận, là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền móng, là điều kiện quan trọng vững chắc cho sự nghiệp giáo dục nước nhà “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì không có thầy giáo thì không có giáo dục” và “Gốc có vững cây mới bền; xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, tr.79) Điều 22 Luật Giáo dục 2005 của nước ta đã ghi rõ: “Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một” [35] Việc chăm lo phát triển GD là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó lực lượng nòng cốt là đội ngũ giáo viên
Trang 9Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên có vai trò quyết định trong việc chăm sóc giáo dục trẻ GVMN khác với GV các cấp học khác là phải tổ chức cho trẻ làm quen đủ các hoạt động học thông qua việc tổ chức các hoạt động CSGD trẻ ở trường MN Trong trường MN, GV vừa dạy, vừa dỗ học sinh cho nên mỗi GV không chỉ đóng vai cô giáo mà còn vai trò là người mẹ thứ hai của trẻ Vì vậy đòi hỏi người GVMN phải am hiểu sâu, rộng về các lĩnh vực
tự nhiên, xã hội cũng như tâm lý GD Ở các trường mầm non không thể bỏ qua việc bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non Mục tiêu cuối cùng là không ngừng phát triển đội ngũ giáo viên mầm non nhằm hoàn thiện dần quá trình đào tạo người GV đạt chuẩn, trên chuẩn khắc phục dần những thiếu sót, hạn chế, lệch lạc trong công tác giảng dạy đáp ứng kịp nhu cầu của thời kỳ hội nhập Mỗi người cán bộ giáo viên tự học tập, rèn luyện, trau dồi tư cách, phẩm chất đạo đức, kiên quyết thực hiện tốt “Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm”, “Cô giáo như mẹ hiền” gắn liền với cuộc vận động “Mỗi thầy
cô giáo là tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”, thể hiện nhân cách nhà giáo, lòng nhân ái, tận tụy yêu mến chăm sóc, giáo dục trẻ khỏe mạnh, chăm ngoan Muốn có một thế hệ trẻ thông minh, linh hoạt, mạnh mẽ, có kỹ năng sống, thích nghi với cuộc sống trong thời đại mới như ngày nay đòi hỏi đội ngũ làm công tác giáo dục phải mạnh, các cơ sở giáo dục mầm non phải mạnh Vì có một nền giáo dục tốt nhất sẽ tạo ra một thế hệ tốt Bộ Giáo dục
và Đào tạo có Quyết định số: 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22 tháng 01 năm
2008 ban hành Quy định về Chuẩn nghề nghiệp GVMN Chuẩn nghề nghiệp GVMN vừa là căn cứ để các cấp quản lí xây dựng đội ngũ GVMN trong giai đoạn mới, vừa giúp GVMN tự đánh giá năng lực nghề nghiệp của mình, từ đó xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân [3]
Trang 10Trên thực tế, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đang trong quá trình
đô thị hóa, có nhiều khu chung cư mới, hệ thống trường mầm non công lập quá tải, không đáp ứng kịp với nhu cầu gửi con của các bậc phụ huynh; thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, các loại hình trường mầm non, cơ sở mầm non tư thục đã phát triển khá nhanh, quy mô ngày càng lớn (hiện đã có
221 cơ sở mầm non tư thục với trên 16.502 học sinh, chiếm trên 40% số học sinh mầm non trên toàn quận) Với sự phát triển của mô hình các trường mầm non tư thục, cơ sở mầm non tư thục đội ngũ giáo viên tại các cơ sở mầm non
là một đội ngũ không nhỏ, tuy nhiên đội ngũ này chưa được quan tâm đúng mức và chưa được bồi dưỡng, đánh giá… bám sát với chuẩn nghề nghiệp; trình độ giáo viên mầm non chưa đồng đều, do đó chất lượng giảng dạy của một số giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục mầm non hiện nay; công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non còn mang tính hình thức, đạt hiệu quả chưa cao Đáng lưu ý là, giáo viên tại các cơ sở giáo dục mầm non tư thục chủ yếu mới đạt trình độ đào tạo đạt chuẩn (Trung cấp giáo dục mầm non hệ vừa học vừa làm), thậm chí chỉ qua đào tạo ngắn ngày (Chứng chỉ nghiệp vụ GDMN), kiến thức chuyên môn còn hạn chế, thực hiện nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng là chủ yếu Đồng thời đội ngũ của các cơ sở không ổn định, là những giáo viên mới ra trường, giáo viên làm việc theo hợp đồng ngắn hạn, kinh nghiệm thực tế và kỹ năng sư phạm còn hạn chế, chế độ BHXH chưa được đảm bảo… nên giáo viên chưa thực sự yên tâm công tác gắn bó, chưa tận tâm, tận lực với nghề [32]
Từ những quan điểm, lý luận, chiến lược, thực tiễn, sự cần thiết của
mô hình giáo dục mầm non tư thục tại Quận Hà Đông, để góp phần thực hiện chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 và "ào tạo những người lao động Việt Nam có phẩm chất đạo đức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp của thời đại, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có ý thức làm chủ,
có tinh thần trách nhiệm cao, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển đội ngũ
giáo viên các cơ sở mầm non tư thục quận Hà Đông, TP Hà Nội theo
Trang 11chuẩn nghề nghiệp” để nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại
các cơ sở giáo dục mầm non tư thục tại quận Hà Đông
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp phát triển ĐNGV các cơ sở mầm non tư thục Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trên địa bàn Quận trong những năm trước mắt và lâu dài
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân về đội ngũ GV các cơ sở MN tư thục quận Hà Đông theo chuẩn nghề nghiệp
Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ GV các cơ sở mầm non tư thục quận Hà Đông, TP Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển đội ngũ giáo viên của các cơ sở mầm non tư thục
* Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu những biện pháp phát triển ĐNGV các cơ
sở mầm non tư thục quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay
- Phạm vi về đối tượng khảo sát: gồm 35 CBQL phòng GD&ĐT và
CBQL của 17 trường mầm non Công lập, tư thục; 150 giáo viên mầm non của các cơ sở mầm non tư thục trên địa bàn 17 phường thuộc quận Hà Đông
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu phục vụ việc nghiên cứu đề tài được
khảo sát, điều tra, tổng hợp từ năm 2013 đến năm 2016
Trang 125 Giả thuyết khoa học
Chất lượng giáo dục của một cơ sở giáo dục mầm non phụ thuộc một phần quan trọng vào sự phát triển của đội ngũ giáo viên Đối với giáo dục mầm non ở các cơ sở giáo dục mầm non tư thục, quận Hà Đông, nếu chú trọng phát triển đội ngũ giáo viên phù hợp với sự phát triển giáo dục mầm non của Quận; quản lý chặt chẽ từ khâu tuyển dụng giáo viên, thường xuyên đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp; kết hợp với tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả phát triển và thực hiện tốt các chế độ chính sách, tạo động lực phát triển thì chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non của các cơ sở mầm non tư thục, Quận Hà Đông sẽ từng bước được nâng lên; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của cơ sở mầm non tư thục nói riêng và giáo dục mầm non Quận Hà Đông, TP Hà Nội nói chung
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, cụ thể là:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phân tích, tổng hợp hoá, hệ thống hoá và khai quát hoá các tài liệu khoa học, các văn bản có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp quan sát: Tổ chức quan sát các khâu, các bước trong quy
trình phát triển ĐNGV các cơ sở mầm non tư thục, như: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển ĐNGV; quan sát tổ chức hoạt động bồi dưỡng
để nâng cao chất lượng ĐNGV các cơ sở mầm non tư thục trên địa bàn Quận
Phương pháp điều tra: Thực hiện điều tra bằng phiếu đối với CBQL
thuộc phòng GD&ĐT quận Hà Đông, các trường mầm non công lập, tư thục và giáo viên mầm non của các cơ sở mầm non tư thục trên địa bàn 17 phường thuộc quận Hà Đông
Trang 13Trao đổi, toạ đàm trực tiếp với các chuyên viên quản lý chuyên môn và hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng các trường mầm non công lập xung quanh vấn
đề phát triển ĐNGV các cơ sở mầm non tư thục theo chuẩn nghề nghiệp
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia của các nhà khoa học,
nhà quản lý
Phương pháp dự báo: Trên cơ sở nghiên cứu những chủ trương, chính
sách phát triển giáo dục và thực tiễn phát triển giáo dục mầm non ở quận Hà Đông, dự báo nhu cầu phát triển ĐNGV các cơ sở mầm non tư thục để đề xuất biện pháp phù hợp với thực tiễn
Phương pháp khảo nghiệm: Tiến hành khảo nghiệm để khẳng định tính
cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
Phương pháp toán thống kê: Sử dụng thống kê toán học để xử lý số
liệu, cụ thể hoá bằng các sơ đồ, bảng biểu
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, cấu trúc của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các cơ sở mầm non
tư thục quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp
Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các cơ sở mầm non
tư thục quận Hà Đông, TP Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON
THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Không có mô hình chung cho GDMN ở tất cả các nước Tuy nhiên, vai trò của giáo dục ngày càng được coi trọng đối với mọi quốc gia Đến nay có
160 nước và các tổ chức quốc tế đã cam kết coi GDMN là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “thời
kỳ vàng của cuộc đời'' và thực hiện chính sách: trường mầm non là trường tự nguyện do chính quyền địa phương quản lý, trẻ 5 tuổi có thể theo học không mất tiền, 3 tiếng/ngày Ở New Zealand, Chính phủ hỗ trợ cho các loại trường GDMN dựa trên kết quả họat động mà các cơ sở đó đã đạt được Điều kiện được nhận hỗ trợ là cơ sở GDMN phải đáp ứng được các Chuẩn do Bộ Giáo dục đưa ra Chính phủ hỗ trợ 50% chi phí hoạt động của các cơ sở GDMN không phân biệt cơ sở công lập hay tư thục Phần còn lại do cha mẹ đóng góp Các gia đình khó khăn về thu nhập hoặc có con ở tuổi mầm non bị khuyết tật
có thể làm đơn xin miễn đóng góp Luật hệ thống giáo dục quốc gia Indonesia
đã công nhận GDMN là giai đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản Luật Giáo dục của Thái Lan nhấn mạnh gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ
Trang 152015” đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục mầm non thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tiếp thu các lý luận và kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới Đề án cũng đã tổng kết, phân tích
và đánh giá thực trạng giáo dục mầm non cả nước và mỗi vùng miền trong hơn 10 năm qua; trên cơ sở đó, đặt yêu cầu phát triển giáo dục mầm non trong bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội chung của đất nước Đề án đã được đóng góp ý kiến của các Bộ, ngành, các Sở Giáo dục và Đào tạo nên có tính khả thi cao [6]
Hiện nay, Việt Nam thực hiện chính sách Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong thực hiện các chính sách phát triển GDMN; trong đó khuyến khích mở rộng các loại hình trường, nhóm lớp mầm non tư thục, dân lập Trên bình diện nghiên cứu, trong những năm gần đây có nhiều đề tài nghiên cứu về chuyên ngành QLGD, trong đó có nhiều đề tài nghiên cứu về GDMN như:
- Hướng nghiên cứu về qui hoạch phát triển đội ngũ giáo viên mầm
non có: Một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non ở các xã đặc biệt khó khăn tỉnh Sơn Lam của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân (2006) [42]; Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Bắc Giang đến năm 2010 của tác giả Nguyễn Thị Lư (2006) [27]
- Hướng nghiên cứu về đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non có: Giải pháp bồi dưỡng chuẩn hóa giáo viên mẫu giáo các tỉnh Duyên hải
Miền trung, Nguyễn Huy Thông (1999) [39]
- Hướng nghiên cứu về quản lý đội ngũ giáo viên mầm non có: Biện
pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non Hà Nội của tác giả Vũ
Thị Minh Hà (2004) [20]; Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo
viên mầm non trên địa bàn huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh của tác giả Vũ Đức
Đạm (2005) [18]; Các biện pháp tăng cường quản lý đội ngũ giáo viên của
Hiệu trưởng trường mầm non quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh của
tác giả Trần Thị Kim Thoa (2006) [40]; Biện pháp quản lý hiệu trưởng nhằm
Trang 16nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non thành phố Thái Nguyên
của tác giả Lưu Thị Kim Phương (2009) [33]
- Hướng nghiên cứu về trường mầm non có: Phát triển các trường mầm
non công lập trên địa bàn tỉnh Bạc liêu đến năm 2020 của tác giả Cao Xuân
Thu Vân (2013) [46]
- Hướng nghiên cứu về bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề
nghiệp có: Quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề
nghiệp ở trường THCS Nguyễn Huy Tưởng, Đông Anh, Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2015) [21]
Từ các nghiên cứu trên, ta có thể rút ra một số nhận xét sau: Các tác giả nêu trên với đề tài của luận văn thạc sỹ chuyên ngành QLGD đề cập đến công tác phát triển và chuẩn hóa đội ngũ và quản lý đội ngũ cán bộ quản lý, GV, nhân viên khác của cơ sở GDMN, quy hoạch phát triển mầm non Các đề tài của các tác giả nêu trên đều mang tính riêng của mỗi địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục bậc mầm non
ở địa phương Tuy nhiên, những nghiên cứu dành cho bậc học này còn khá khiêm tốn, các nghiên cứu đã có tập trung nghiên cứu những khía cạnh như việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp để xây dựng quy hoạch phát triển GDMN quản lý bồi dưỡng GV, bồi dưỡng chuẩn hóa GV, phát triển đội ngũ GV ở vùng đặc thù Riêng ở quận Hà Đông, TP Hà Nội cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu về phát triển đội ngũ GV các cơ sở MN tư thục theo chuẩn nghề nghiệp
1.2 Phát triển và phát triển đội ngũ giáo dục
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học, dùng chỉ khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật, hiện tượng Theo Từ
điển từ và ngữ Việt Nam, phát triển là “Mở mang rộng rãi; Làm cho tốt hơn
lên”; từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Phát triển là biến đổi hoặc làm biến đổi
Trang 17từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ đơn giản đến phức tạp Theo quan điểm
duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong bản thân mỗi sự vật, đó là quá trình đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn bên trong từng sự vật, hiện tượng Phát triển là quá trình khách quan, độc lập với ý thức con người
Phát triển là một quá trình tiến hoá của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc, trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững
và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống Như vậy, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất và lượng, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật, hiện tượng, con người trong xã hội Do đó, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên Phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, trong đó cái cũ dần chuyển biến mất đi và cái mới ra đời; đây là quá trình nội tại của sự vật, hiện tượng
Phát triển đội ngũ giáo dục thực chất là quá trình xây dựng và phát triển các yếu tố cơ bản về: Số lượng, cơ cấu, chất lượng, tạo sự đồng thuận cao trong đội ngũ những người làm công tác giáo dục, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chung Phát triển đội ngũ giáo dục chính là quá trình phát triển nguồn nhân lực giáo dục trong các cơ sở giáo dục Nghị quyết Trung ương 8 (khoá XI) đã xác định: “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế ”
Để phát triển đội ngũ giáo dục cần tập trung vào các nội dung như: quy hoạch, kế hoạch, số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ, bố trí, sử dụng hợp lý,
Trang 18hiệu quả đội ngũ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý đòi hỏi ngày càng cao, làm cho các yếu tố này ngày càng tăng lên Phát triển đội ngũ giáo dục phải trên cơ sở kế thừa những ưu điểm, phát huy nhân tố tích cực, khắc phục những hạn chế, bất cập Đồng thời, đây cũng là trách nhiệm của ngành giáo dục, của cấp uỷ đảng, và của các nhà quản lý cơ sở giáo dục
Từ luận giải trên, có thể quan niệm: Phát triển đội ngũ giáo dục là tổng
hợp các tác động của các chủ thể quản lý trong các nhà trường (cơ sở giáo dục) mầm non đến đội ngũ giáo viên mầm non, nhằm làm cho đội ngũ này có
đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn về chất lượng và đảm bảo cho họ thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và không ngừng phát triển
1.3 Vị trí, vai trò Giáo dục Mầm non tư thục trong hệ thống giáo dục quốc dân
Khác với các bậc học khác, công lập là chủ yếu, giáo dục mầm non được cho là bậc học cần thực hiện xã hội hóa nhiều hơn Trên thế giới, không một Chính phủ nào đủ sức lo cho cả một nền giáo dục Mà chỉ lo được một phần mà thôi, còn lại chủ yếu là dân lo Tuy vậy với nước ta, nhà nước lại chú
ý phát triển công lập từ giáo dục tiểu học, Giáo dục trung học và Đại học Gần đây, Luật Giáo dục đã bắt đầu mở rộng hơn cho giáo dục ngoài công lập cho các bậc học này Giáo dục mầm non có gần 62,1% số trường, lớp là ngoài công lập thu hút 80% số trẻ độ tuổi nhà trẻ, 70% số trẻ mẫu giáo đến trường lớp Thực hiện Đề án mới, giáo dục mầm non công lập sẽ được phá triển tại các vùng có nhiều khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo và công lập tự chủ hoàn toàn đối với một số thành phố Vùng kinh tế phát triển, khuyến khích phát triển giáo dục mầm non dân lập, tư thục; các vùng còn lại chủ yếu là mầm non dân lập [6]
Điều 69 - Luật giáo dục số 38/2005/QH11 quy định [35]: Cơ sở giáo
dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Nhóm trẻ, nhà trẻ; các
Trang 19lớp độc lập gồm lớp mẫu giáo, lớp xóa mù chữ, lớp ngoại ngữ, lớp tin học, lớp dành cho trẻ em vì hoàn cảnh khó khăn không được đi học ở nhà trường, lớp dành cho trẻ tàn tật, khuyết tật, lớp dạy nghề và lớp trung cấp chuyên nghiệp được tổ chức tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo, tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình
giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí ttuệ,thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tố đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời
Điều 2 - Quyết định số 41/2008/QĐ-BGDĐT Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động trường mầm non tư thục quy định: Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập, tư thục là cơ sở GDMN thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước CHXHCN Việt Nam do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
- nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Nguồn đầu tư XD cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước
Khoản 2, Điều 3, Thông tư 13/2015/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động trường mầm non tư thục: Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần cùng Nhà nước chăm lo sự nghiệp giáo dục, đáp ứng yêu cầu xã hội
Trang 20Như vậy, cơ sở giáo dục mầm non tư thục nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân và có trách nhiệm xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên để thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non vì vậy việc phát triển đội ngũ GV các cơ sở mầm non tư thục theo chuẩn nghề nghiệp là phù hợp với mục tiêu, Luật giáo dục và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
1.4 Đổi mới giáo dục mầm non và yêu cầu chuẩn nghề nghiệp đối với đội ngũ giáo viên mầm non tư thục
1.4.1 Đổi mới giáo dục mầm non và phát triển đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong việc phát triển nguồn nhân lực giáo dục
Thế kỷ 21 là thế kỷ của trí tuệ, là thế kỷ của nền kinh tế trí thức Đất nước Việt Nam tiến tới năm 2020 với sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội và công nghệ cùng với nó là hình ảnh người công dân Việt Nam mới với trình độ học vấn cao, năng động, sáng tạo, có khả năng xử lý thông tin cao, có khả năng tự lựa chọn và giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống, thích ứng với sự biến đổi không ngừng của xã hội Trách nhiệm này đặt trên vai ngành giáo dục đòi hỏi ngành phải có những nội dung chương trình phù hợp, đổi mới phương pháp dạy và học một cách tích cực, giáo dục không chỉ hoàn thành việc đào tạo những con người thích ứng với xã hội mà còn đào tạo ra những con người đủ phẩm chất và trí tuệ để đón đầu sự phát triển của xã hội GDMN là tiền đề cho giáo dục tiểu học với nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ
từ 0 đến 5 tuổi một lứa tuổi vô cùng quan trọng Trẻ ở tuổi MN ngoài sự chăm sóc dạy dỗ của ông bà, cha mẹ trẻ ở gia đình thì yếu tố quan trọng quyết định lớn về sự phát triển toàn diện của những trẻ đến trường mầm non là đội ngũ giáo viên mầm non GVMN cần hình thành cho trẻ những khái niệm chuẩn về đạo đức, lao động, tình cảm xã hội, thẫm mỹ trong cuộc sống, để cháu được phát triển một cách tốt nhất trong thời đại mới
Trang 21Do đó, đổi mới giáo dục và phát triển đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong việc phát triển nguồn nhân lực giáo dục của Thành phố Hà Nội nói chung và quận Hà Đông nói riêng
Phát triển đội ngũ GVMN tư thục quận Hà Đông, bồi dưỡng năng lực, chuyên môn cho đội ngũ cán bộ QLGD, đội ngũ GVMN hằng năm theo chương trình đổi mới của ngành giáo dục, của Bộ GD&ĐT, của Sở Giáo dục, chưa có bước đột phá trong phát triển đội ngũ GVMN tư thục
1.4.2 Khái niệm về chuẩn và chuẩn nghề nghiệp giáo viên
* Chuẩn là một khái niệm đem hàm ý quy định “mực thước”, căn cứ vào đó để làm theo Theo tác giả Nguyễn Lân: “Chuẩn là cái được coi là căn
cứ để đối chiếu” Theo các tác giả Nguyễn Văn Hùng, Thái Xuân Đệ:
“Chuẩn là vật được chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đo lường” Như vậy, chuẩn là một khái niệm lý thuyết, được nhiều người chấp nhận và coi là
“mốc” để căn cứ vào đó làm theo Chuẩn là cái mẫu, cái đích để nhắm tới Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hiểu “chuẩn” như sau:
Chuẩn là mẫu lý thuyết có tính chất nguyên tắc, tính công khai và tính
xã hội hoá được đặt ra bằng quyền lực hành chính hoặc chuyên môn; chuẩn bao gồm những yêu cầu, tiêu chí, qui định kết hợp lôgic với nhau một cách xác định; được làm công cụ xác minh sự vật, làm thước đo để đánh giá hoặc
so sánh khuynh hướng điều chỉnh những sự vật này theo nhu cầu, mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lý hoặc chủ thể sử dụng công việc, sản phẩm hay dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ năng sư phạm mà GVMN cần phải đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu GDMN [3]
* Chuẩn nghề nghiệp giáo viên nhấn mạnh chất lượng tay nghề và đạo đức nghề nghiệp Trong chuẩn nghề nghiệp GV thường có chuẩn đạo đức, chuẩn học vấn khoa học chuyên môn, chuẩn năng lực giảng dạy, chuẩn năng lực công nghệ, chuẩn năng lực giao tiếp, chuẩn năng lực thiết kế dạy học, chuẩn năng lực đánh giá người học và học tập, [25, tr.15]
Trang 221.4.3 Khái niệm về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non
Chuẩn nghề nghiệp cho đội ngũ Giáo viên mầm non theo văn bản của ngành nhằm [3]:
1 Làm cơ sở để xây dựng, đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo, bồi dưỡng GVMN ở các cơ sở đào tạo GVMN
2 Giúp GVMN tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình
độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ
3 Làm cơ sở để đánh giá GVMN hằng năm theo Quy chế đánh giá xếp loại GVMN và giáo viên phổ thông công lập ban hành kèm theo Quyết định
số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21 tháng 3 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, phục vụ công tác quản lý, bồi dưỡng và quy hoạch đội ngũ GVMN
4 Làm cơ sở để đề xuất chế độ, chính sách đối với GVMN được đánh giá tốt về năng lực nghề nghiệp
* Nội dung chuẩn nghề nghiệp GVMN bao gồm [3]:
- Các yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống:
1 Nhận thức tư tưởng chính trị, thực hiện trách nhiệm của một công dân, một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2 Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước Gồm các tiêu chí sau:
3 Chấp hành các quy định của ngành, quy định của trường, kỷ luật lao động
4 Có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo; có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp
5 Trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ với đồng nghiệp; tận tình phục vụ nhân dân và trẻ
* Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức
1 Kiến thức cơ bản về GDMN
2 Kiến thức về chăm sóc sức khoẻ trẻ lứa tuổi mầm non
3 Kiến thức cơ sở chuyên ngành
Trang 234 Kiến thức về phương pháp giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non
5 Kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội liên quan đến giáo dục mầm non
* Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kỹ năng sư phạm
1 Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ
2 Kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho trẻ
3 Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ
4 Kỹ năng quản lý lớp học
5 Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng
Từ những phân tích trên có thể hiểu: Chuẩn nghề nghiệp GVMN là
hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ năng sư phạm mà GVMN cần phải đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu GDMN
Chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống: GVMN phải nhận thức tư tưởng chính trị, thực hiện trách nhiệm của một công dân, một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước; Chấp hành các quy định của ngành, quy định của trường,
kỷ luật lao động; Có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo; có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp; Trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ với đồng nghiệp; tận tình phục vụ nhân dân và trẻ
Chuẩn về kiến thức GVMN có kiến thức cơ bản về GDMN: Kiến thức về chăm sóc sức khoẻ trẻ lứa tuổi mầm non Kiến thức cơ sở chuyên ngành Kiến thức về phương pháp giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non Kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội liên quan đến GDMN
Chuẩn về kỹ năng sư phạm: GVMN có lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ Kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho trẻ
Trang 24Kỹ năng quản lý lớp học, kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ nằm trong huynh và cộng đồng
1.5 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên các cơ sở mầm non tư thục theo chuẩn nghề nghiệp
1.5.1 Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên
Muốn phát triển ĐNGV trước hết phải định hình được đội ngũ Nghị
quyết Trung ương 3 khoá, VIII đã khẳng định: “Quy hoạch cán bộ là một
nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, đảm bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài”
Quy hoạch là sự bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn Quy hoạch được hiểu theo nghĩa chung nhất là bước cụ thể hoá chiến lược ở mức độ toàn hệ thống,
đó là kế hoạch mang tính tổng thể, thống nhất với chiến lược về mục đích, yêu cầu và là căn cứ để xây dựng kế hoạch
Quy hoạch phát triển ĐNGV là bản luận chứng khoa học về phát triển đội ngũ đó để góp phần thực hiện các định hướng của địa phương và của chính nhà trường về công tác nhân sự, phục vụ việc xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, đồng thời làm nhiệm vụ điều khiển, điều chỉnh trong công tác quản lý, chỉ đạo các cấp quản lý
Quy hoạch ĐNGV là lập kế hoạch để đáp ứng những nhu cầu hiện tại cũng như tương lai về ĐNGV của các trường khi tính đến cả những nhân tố bên trong và những nhân tố của môi trường bên ngoài
Nội dung của quy hoạch phát triển ĐNGV bao gồm: Đánh giá thực trạng ĐNGV; dự báo quy mô phát triển giáo viên: về số lượng, cơ cấu, chất lượng; xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, chất lượng ĐNGV; xây dựng các biện pháp thực hiện quy hoạch phát triển ĐNGV
Trang 25Quy hoạch phát triển ĐNGV mầm non phải đảm bảo được yêu cầu về chuyên môn; vừa phải đảm bảo yêu cầu về năng lực sư phạm, khuyến khích những giáo viên thật sự tâm huyết, trách nhiệm với nghề, cống hiến tài năng cho sự nghiệp giáo dục, đồng thời có cơ sở để thay thế những giáo viên, CBQL không đủ phẩm chất, năng lực công tác Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn chất lượng đội ngũ nhà giáo và giáo viên chuyên ngành
Trong quy hoạch phát triển ĐNGV mầm non phải tổ chức điều tra, đánh giá đúng thực trạng ĐNGV về tình hình tư tưởng, đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy
Hàng năm phải rà soát, bố trí, sắp xếp lại những giáo viên không đáp ứng yêu cầu của nhà trường bằng các giải pháp như: đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ Có kế hoạch chuẩn bị ĐNGV theo quy định của Điều lệ trường mầm non và Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non
Việc xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV phải xuất phát từ nhiệm
vụ phát triển giáo dục mầm non của Quận, của từng cơ sở giáo dục; trên cơ
sở phân tích đánh giá ĐNGV hiện có, dự kiến khả năng phát triển quy mô của đội ngũ trong tương lai; xem xét khả năng phát triển của ĐNGV hiện tại và tính đến khả năng bổ sung từ nguồn bên ngoài để xây dựng kế hoạch tổng thể; xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng giai đoạn cụ thể Quy hoạch ĐNGV cần làm rõ số lượng, chất lượng về trình độ chuyên môn - nghiệp
vụ sư phạm, cơ cấu của từng trường cụ thể và tính đến quy hoạch chung cho các cơ sở giáo dục trong Quận làm cơ sở cho việc quản lý, tổ chức, chỉ đạo trong từng giai đoạn phát triển Tất cả hướng đến mục tiêu đảm bảo đủ
về số lượng, ổn định về chất lượng để thực hiện tốt kế hoạch, nội dung, đào tạo của cơ sở giáo dục
Trang 261.5.2 Tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu
1.5.2.1 Công tác tuyển chọn đội ngũ giáo viên
Để có một ĐNGV mầm non có đủ trình độ, năng lực thì việc tuyển chọn ĐNGV phải được tiến hành theo một trình tự nhất định, hợp lý và khách quan Công tác tuyển chọn ĐNGV trong hiện nay phải đảm bảo đầy đủ các mặt đó là:
về số lượng ĐNGV, về cơ cấu ĐNGV và về chất lượng ĐNGV Tuyển chọn ĐNGV được thực hiện bằng nhiều cách thức biện pháp khác nhau và từ nhiều nguồn khác nhau Nguồn tuyển chọn ĐNGV có thể từ địa phương khác chuyển đến, từ các quận, huyện của Thành phố hoặc từ sinh viên các trường
sư phạm có đủ điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định
Phát triển về số lượng ĐNGV mầm non của Quận
Số lượng ĐNGV là biểu thị về mặt định hướng của đội ngũ này, nó phản ánh quy mô của ĐNGV tương xứng với quy mô của mỗi cơ sở giáo dục
Số lượng ĐNGV phụ thuộc vào sự phân chia tổ chức trong cơ sở, quy mô phát triển cơ sở giáo dục, nhu cầu đào tạo và các yếu tố tác động khách quan khác, chẳng hạn như: Định biên giáo viên của cơ sở, các chế độ chính sách đối với ĐNGV Tuy nhiên, dù trong điều kiện nào, muốn đảm bảo hoạt động giảng dạy thì người quản lý cũng đều cần quan tâm đến việc giữ vững sự cân bằng động về số lượng đội ngũ với nhu cầu đào tạo và quy mô phát triển của
cơ sở giáo dục
Tổ chức, sắp xếp cơ cấu ĐNGV mầm non của Quận
Cơ cấu ĐNGV là một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh, bao gồm:
Về chuyên môn, nghiệp vụ: Đảm bảo tỷ lệ giáo viên và phù hợp với yêu
cầu của chương trình giáo dục từng lớp, từng độ tuổi học sinh mầm non
Về độ tuổi: Đảm bảo sự cân đối giữa các thế hệ trong cơ sở giáo dục,
tránh tình trạng “lão hoá” trong ĐNGV, tránh sự hẫng hụt về ĐNGV trẻ kế cận, cần có thời gian nhất định để thực hiện chuyển giao giữa các thế hệ giáo viên
Trang 27Bảo đảm sự phát triển về chất lượng ĐNGV mầm non của Quận
Phát triển chất lượng ĐNGV bao gồm phẩm chất chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; phẩm chất nghề nghiệp sư phạm của giá viên mầm non
Về trình độ chuyên môn, trước hết là trình độ được đào tạo về chuyên
môn, nghiệp vụ và sự phát triển về kiến thức, tư duy sư phạm phù hợp với đối tượng học sinh mầm non
Về năng lực nghề nghiệp, đặc biệt là năng lực sư phạm được thể hiện ở
chỗ phát triển năng lực dạy học, giáo dục học sinh; phát triển phương pháp dạy học hiện đại để học sinh phát huy tư duy độc lập và khả năng sáng tạo của mình trong học tập và tìm kiếm tri thức khoa học; kỹ năng, kinh nghiệm sống Lựa chọn giáo viên là quá trình xem xét những người có đủ tiêu chuẩn làm giáo viên theo qui định của ngành, của cấp học, của các cơ sở giáo dục Căn cứ vào Luật Giáo dục, Điều lệ trường mầm non và nhu cầu sử dụng của
cơ sở mầm non để đưa ra các tiêu chuẩn lựa chọn giáo viên
Thực tế cho thấy, kết quả của việc tuyển chọn giáo viên không chỉ phụ thuộc vào việc tuyển chọn mà còn ở chỗ người đứng đầu đơn vị và các tổ chức trong cơ sở giáo dục có trách nhiệm giúp đỡ họ thích ứng với nghề nghiệp thông qua các khâu bố trí công việc ban đầu
1.5.2.2 Bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên
Sử dụng ĐNGV là sắp xếp, bố trí, phân công giáo viên và giao nhiệm
vụ, gắn với chức danh cụ thể, nhằm phát huy khả năng hiện có của ĐNGV để vừa hoàn thành được mục tiêu của tổ chức và tạo ra sự đồng thuận trong cơ sở giáo dục, hạn chế sự bất mãn ít nhất Việc bố trí, sử dụng ĐNGV chính là tạo
ra sự hợp lý về cơ cấu để phát huy hết tiềm năng, phẩm chất, năng lực chuyên môn của ĐNGV trong hoạt động sư phạm
Để sử dụng ĐNGV có hiệu quả thì phải phân công công tác đúng người, đúng việc Nếu bố trí sử dụng giáo viên hợp lý thì sẽ phát huy được những khả
Trang 28năng tiềm ẩn, vốn có của từng giáo viên Thực hiện tốt nội dung này đòi hỏi người quản lý cần:
Hiểu rõ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực, sở trường cũng như thế mạnh của từng giáo viên từ đó bố trí đúng người, đúng việc;
Xem xét đến nguyện vọng của cá nhân để quyết định;
Gắn chặt nghĩa vụ và quyền lợi của giáo viên, đảm bảo công bằng
1.5.3 Đào tạo, bồi dưỡng phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên
Đào tạo ĐNGV là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành hệ thống kiến thức, nguồn lực sư phạm, thái độ nghề nghiệp theo những yêu cầu về Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên mầm non phù hợp với yêu cầu của Ngành và của cơ sở giáo dục mầm non
Theo UNESCO, bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao trình độ nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp
Xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng, Chuẩn nghề nghiệp có
sự phát triển; do vậy cơ sở giáo dục cũng không ngừng thay đổi để phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội Việc đào tạo, bồi dưỡng cho ĐNGV của các cơ sở phải được diễn ra thường xuyên, liên tục và phải có kế hoạch dài hạn, nếu không sẽ bị tụt hậu và bị đào thải
Việc đào tạo, bồi dưỡng có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên có sự phát triển về chất lượng cao đáp ứng với yêu cầu giảng dạy, giáo dục học sinh Việc bồi dưỡng
Trang 29nhằm mục tiêu đạt chuẩn theo quy định của bậc học, ngành học và để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Bên cạnh việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng tri thức, văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên, CBQL cơ sở giáo dục cần phải coi trọng việc bồi dưỡng tư tưởng, chính trị, đạo đức cho giáo viên để họ có thể
hoàn thiện mình hơn đáp ứng được yêu cầu của nhà trường và hoạt động XH
1.5.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả phát triển đội ngũ giáo viên
Kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng trong công tác phát triển đội ngũ vì chỉ có kiểm tra, đánh giá đúng mới lựa chọn và sắp xếp cán bộ hợp lý
và mới sử dụng được khả năng tiềm ẩn của mỗi người
Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó xem xét việc thực hiện nhiệm vụ được giao của từng cá nhân trong tương quan với các mục tiêu
và tiêu chuẩn của tổ chức Kích thích, động viên cán bộ, giáo viên thông qua các điều khoản về đánh giá, ghi nhận và hỗ trợ
Đánh giá cán bộ, giáo viên thực chất là xem xét nhân cách của họ, đây là vấn đề rất nhạy cảm và tế nhị Đánh giá bao gồm cả việc thu thập, phân tích, giải thích và thu thập thông tin về con người nói chung Nói cách khác đó là sự thu thập các “bằng chứng” về các hoạt động mà người giáo viên phải làm với
tư cách nhà giáo, công dân,… Trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét nhằm giúp giáo viên tiến bộ và qua đó nhiệm vụ của nhà trường cũng được hoàn thành
Việc kiểm tra, đánh giá còn ảnh hưởng đến uy tín của người lãnh đạo Đánh giá đúng, chính xác thì sẽ là nguồn kích thích, động viên cán bộ, giáo viên nâng cao hiệu quả công tác, uy tín người lãnh đạo tăng Ngược lại, kiểm tra, đánh giá sai lệch, thiên vị, không công bằng làm cho uy tín lãnh đạo giảm, giáo viên thì chán nản, không tập trung trong công việc, ảnh hưởng đến tâm lý
và không khí làm việc của tập thể
Hiệu quả đánh giá phụ thuộc vào nghệ thuật đánh giá Tiêu chuẩn đánh giá phải dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn trong văn bản Nhà nước và văn bản của bản thân các CSGD Tiêu chuẩn cơ bản nhất trong đánh giá là sự công tâm
Trang 301.5.5 Thực hiện chế độ chính sách để phát triển đội ngũ giáo viên
ĐNGV được hưởng đầy đủ: Chính sách về tiền lương, chế độ nghỉ lễ, phép,
ốm đau, thai sản, được học tập, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ…
Luật Giáo dục (2005) đã chỉ rõ: Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hoá nhà giáo Nhà giáo được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ được hưởng lương và phụ cấp ưu đãi theo nghề và các phụ cấp khác theo quy định của Chính phủ
Trong phát triển ĐNGV, Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng chỉ rõ: cần rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định, chính sách, chế độ và bổ nhiệm, sử dụng, đãi ngộ, kiểm tra, đánh giá đối với nhà giáo, CBQL giáo dục cũng như các điều kiện bảo đảm việc thực hiện các chính sách, chế độ đó, nhằm tạo động lực thu hút, động viên đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục Có chế độ phụ cấp ưu đãi thích hợp cho nhà giáo, CBQL giáo dục
Việc thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đối với giáo viên theo các văn bản Nhà nước đã ban hành vừa đảm bảo cho giáo viên được hưởng những quyền lợi chính đáng, đồng thời vừa giáo dục họ thấy rõ bổn phận và trách nhiệm trước nhiệm vụ của mình trước tập thể nhà trường và toàn xã hội Mỗi một cơ sở giáo dục đều có quy định, chuẩn riêng để duy trì nề nếp, trật tự, kỷ cương của đơn vị mình Người làm tốt thì được khen thưởng, người vi phạm
sẽ bị kỷ luật Việc khen thưởng và kỷ luật chính xác sẽ tạo nên sự công bằng trong tập thể và sẽ đạt được hiệu quả giáo dục cao Khen thưởng kịp thời sẽ
có tác dụng động viên mọi thành viên trong tập thể phấn đấu Kỷ luật nghiêm minh sẽ tạo nên nề nếp kỷ cương cho tập thể
Người quản lý cần đảm bảo cho mỗi thành viên được hưởng quyền lợi chính đáng, đồng thời cũng thấy rõ được bổn phận và trách nhiệm của mình trong tập thể
Trang 31Thực hiện tốt chế độ chính sách đối với giáo viên là điều kiện cần để động viên, khuyến khích giáo viên cống hiến tốt hơn nữa cho công tác giảng dạy Một chế độ chính sách tốt sẽ là sự động viên kịp thời giáo viên, giúp họ tái tạo sức lao động tốt hơn và ngược lại Vì vậy, trong công tác phát triển ĐNGV cần phải rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định, chính sách, chế độ
về sử dụng, đãi ngộ, kiểm tra, đánh giá đối với nhà giáo, cũng như các điều kiện bảo đảm việc thực hiện các chính sách, chế độ đó, nhằm tạo động lực thu hút, động viên đội ngũ nhà giáo toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục
Tóm lại, những nội dung phát triển ĐNGV mầm non gồm 5 khâu của
quá trình phát triển nguồn nhân lực ở cấp độ tổ chức Mỗi khâu là một mắt xích của quá trình, chúng có quan hệ mật thiết với nhau, sự vận hành của quá trình được bảo đảm bởi các điều kiện vật lực và tài lực Có thể được biểu thị qua sơ đồ hoá sau:
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các khâu trong phát triển ĐNGV
Quy hoạch
Sử dụng Đánh giá
Trang 32Tiểu kết chương 1
Chương 1 đề cập các vấn đề: phát triển và phát triển đội ngũ giáo dục;
vị trí, vai trò GVMN tư thục trong hệ thống giáo dục quốc dân; đổi mới giáo dục mầm non và yêu cầu chuẩn nghề nghiệp đối với đội ngũ GVMN tư thục; chuẩn nghề nghiệp GVMN, nội dung phát triển đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp Từ những luận giải các chuẩn, các tiêu chí cần phải đạt đối với GVMN, sự cần thiết phải phát triển đội ngũ GVMN các cơ sở mầm non tư thục quận Hà Đông hiện nay để đáp ứng yêu cầu GD, yêu cầu thực tiễn của địa phương Đồng thời nêu rõ yêu cầu và nội dung phát triển đội ngũ GVMN
Từ đó phân tích vị trí, vai trò, nhiệm vụ của GVMN và yêu cầu chuẩn nghề nghiệp được đào tạo dành cho GVMN làm cơ sở nghiên cứu những vấn đề liên quan đến phát triển đội ngũ GVMN các cơ sở mầm non tư thục quận Hà Đông theo chuẩn nghề nghiệp hiện nay
Những nội dung được trình bày trong chương 1 là những vấn đề cơ bản xuất phát từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ GVMN Đây
là những vấn đề thuộc về lý luận, làm cơ sở để khảo sát, nghiên cứu thực trạng công tác quản lý, phát triển đội ngũ GVMN các cơ sở mầm non tư thục quận Hà Đông sẽ được trình bày ở chương 2 của luận văn
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC CƠ SỞ MẦM NON TƯ THỤC QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
2.1 Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội Quận Hà Đông, TP Hà Nội
Sau khi sáp nhập, Hà Đông là quận nội thành của thành phố Hà Nội, có diện tích tự nhiên 4 832,64 ha, gồm 17 đơn vị hành chính Dân số hiện nay 313.875 người (năm 2013 gần 280 nghìn người) Hiện nay Hà Đông nằm trong chuỗi đô thị của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đây là vị trí địa lý có lợi thế rất lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội
Quận Hà Đông nằm liền kề và là một trong những cửa ngõ quan trọng của Thủ đô, Hà Đông không chỉ giữ vai trò quan trọng về mặt giao thông, cơ sở hạ tầng mà còn cả về mặt kinh tế - xã hội và giáo dục Trong quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội đã xác định, quận
Hà Đông cùng chuỗi đô thị Miếu Môn - Xuân Mai - Hoà Lạc - Sơn Tây sẽ là vành đai vệ tinh phát triển không gian của Thủ đô, là một điểm nhấn của Hà Nội trong định hướng phát triển không gian vùng đô thị Hà Nội mở rộng, tác động lan toả ra các vùng lân cận thành các trục phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Đặc biệt, sau 6 năm hợp nhất về Hà Nội, kinh tế - xã hội của quận Hà Đông phát triển khá vững chắc, là một trong những quận có nguồn thu tương đối ổn định trong Thành phố
Về cơ sở hạ tầng, nhất là cơ sở phục vụ sản xuất được quan tâm đầu tư Cùng với việc đẩy mạnh và phát triển kinh tế, Quận đã có chủ trương giải quyết tốt các vấn đề xã hội, thực hiện các chính sách xã hội hướng vào việc lành mạnh hoá xã hội tạo động lực mạnh mẽ để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp bằng các biện pháp hữu hiệu như: tạo ra nhiều
Trang 34việc làm mới, mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội, đẩy nhanh chương trình xoá đói giảm nghèo, làm tốt chính sách ưu đãi xã hội, vận động nhân dân tham gia phong trào đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng cao chất lượng dân số Hoạt động y tế, giáo dục, văn hoá thông tin, thể dục thể thao có bước chuyển biến mạnh, đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự kỷ cương xã hội, an ninh chính trị được giữ vững, trật
tự an toàn xã hội có mặt tiến bộ Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá đề cao trách nhiệm chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và các tổ chức xã hội
Về quy mô trường học: Hệ thống trường học công lập trên địa bàn quận được phân bổ đều khắp tại các phường, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh
và cha mẹ học sinh trên địa bàn quận Quy mô trường, lớp ngày càng phát triển: Năm học 2012 - 2013, toàn quận có 31 trường mầm non công lập nhưng đến năm học 2016 - 2017 đã có 38 trường mầm non công lập Quy mô trường lớp tuy được đầu tư, mở rộng, cơ sở vật chất được tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng dạy và học nhưng chưa đáp ứng kịp sự gia tăng dân số của quận, sĩ số học sinh/lớp cao nên ảnh hưởng đến chất lượng dạy học tại các nhà trường [31]
Những điều kiện kinh tế - xã hội trên đây đang tác động lớn đến phát triển giáo dục - đào tạo của Quận nói chung và giáo dục mầm non nói riêng Khi đô thị phát triển mạnh sẽ kéo theo dân số tăng nhanh, nhu cầu sinh hoạt, học tập của người dân cũng tăng theo và gánh nặng đảm bảo các vấn đề an sinh xã hội đòi hỏi cần được giải quyết, hệ thống trường học mầm non công lập đã được quan tâm quy hoạch nhưng nguồn vốn đầu tư xây dựng trường mới và đầu tư các vấn đề an sinh khác gặp nhiều khó khăn; thực hiện chủ trương xã hội hóa, loại hình tư thục phát triển nhanh đòi hỏi huy động nguồn lực xã hội để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục mầm non Nhu cầu phát triển giáo dục mầm non tư thục tăng lên cả về số lượng học sinh và đòi hỏi
Trang 35chất lượng ngày càng cao đã đặt ra yêu cầu khách quan phải phát triển ĐNGV các cơ sở mầm non tư thục trên địa bàn Quận
2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên các cơ sở mầm non tư thục quận
Hà Đông theo chuẩn nghề nghiệp
* Tình hình chung của các cơ sở mầm non tư thục Quận Hà Đông
Hà Đông là một quận mới, có tốc độ đô thị hoá nhanh và mạnh, dẫn đến tốc độ tăng dân số cơ học cũng như nhu cầu ra lớp của trẻ rất cao Quận
Hà Đông đang triển khai thực hiện Đề án 01/ĐA-QU về nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của Quận; trong đó đã ban hành kế hoạch quy hoạch mạng lưới trường lớp trên địa bàn quận, tập trung đầu tư xây dựng các điểm trường, các khu trung tâm, đáp ứng phần nào nhu cầu cho trẻ đến trường mầm non của người dân địa phương
Các cơ sở mầm non ngoài công lập phát triển mạnh, ngày càng ổn định, hoạt động có nề nềp và có sự quản lý chặt chẽ của Phòng Giáo dục và Đào tạo quận, của Ủy ban nhân dân các phường và các trường mầm non công lập trên địa bàn quận Trong đó, 100% lớp mầm non thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới Vì thế, giáo dục mầm non quận Hà Đông có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Cụ thể như sau:
* Quy mô các cơ sở mầm non tư thục trên địa bàn quận Hà Đông
Các cơ sở mầm non tư thục được phân bố đều khắp tại 17 phường trên địa bàn quận (phường ít nhất có 3 cơ sở, những phường có nhiều khu chung
cư, khu dân cư mới có tới 25 cơ sở), đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh và cha mẹ học sinh trên địa bàn quận, toàn quận có 221 cơ sở mầm non tư thục Các cơ sở mầm non tư thục chủ yếu tiếp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ độ tuổi Nhà trẻ, trẻ Mẫu giáo 3-4 tuổi và số ít trẻ 5 tuổi
Trong vài năm trở lại đây, cùng với sự quan tâm của Nhà nước và các cấp lãnh đạo địa phương, phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hà Đông, UBND các phường, các cán bộ quản lý các nhà trường mầm non công lập, Chủ các
cơ sở mầm non tư thục nên công tác chăm sóc - giáo dục trẻ tại các cơ sở
Trang 36mầm non tư thục trên địa bàn quận Hà Đông đã đi vào nề nếp và từng bước được phụ huynh tin tưởng
Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng, quy mô các cơ sở mầm non tư thục trên địa bàn quận Hà Đông
* Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ
Thực hiện sự chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, Phòng Giáo dục và Đào tạo Hà Đông đã chú trọng chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ, thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn, xây dựng
Trang 37các đợt kiến tập với nhiều nội dung phong phú, phù hợp loại hình cơ sở mầm non tư thục để đảm bảo thực hiện chương trình giáo dục mầm non hiệu quả Giao nhiệm vụ cho các trường mầm non công lập làm điểm cho Quận về các nội dung chăm sóc nuôi dưỡng, xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, tích cực cho trẻ mầm non để cho các cơ sở mầm non tư thục trao đổi, học tập, chia
sẻ kinh nghiệm
Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hà Đông đã xây dựng kế hoạch tiếp tục triển khai thực hiện Thông tư số 13/2010/TT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn quận bao gồm cả các cơ sở mầm non tư thục; Phòng Giáo dục và Đào tạo quận đã chỉ đạo các cơ sở mầm non tư thục tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn
về công tác phòng chống tai nạn thương tích, phòng chống cháy nổ Các cơ
sở mầm non tư thục đều đã tự kiểm tra, đánh giá công tác phòng chống tai nạn, thương tích; phòng chống cháy nổ theo Thông tư số 13/2010/TT-BGD&ĐT Qua kết quả kiểm tra đánh giá cuối năm, 100% các cơ sở mầm non tư thục đều đạt các nội dung trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích
* Về cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên: Tổng số cán bộ quản lý
(chủ các cơ sở), giáo viên, nhân viên tại các cơ sở mầm non tư thục trong toàn quận: 2.077 người (Chủ cơ sở: 221 người; giáo viên: 1.334 người, nhân viên 522 người) Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn: 98,2% ( tỷ
lệ giáo viên trên chuẩn đạt 8,3%) Giáo viên dạy lớp 5 tuổi đạt chuẩn 100% Giáo viên, Nhân viên còn 1,8% chưa đạt chuẩn (đang học đạt chuẩn
hệ vừa học vừa làm)
Trang 38Bảng 2.2 Thống kê trình độ chuyên môn chủ cơ sở, giáo viên các cơ
sở mầm non tư thục qua các năm học 2012 - 2013 đến 2016 - 2017
Năm học
Tổng số cán
bộ, giáo viên, nhân viên
Trên chuẩn Đạt chuẩn Dưới
(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hà Đông, thành phố Hà Nội)
* Về đầu tư trang thiết bị: Các cơ sở đã đầu tư xây dựng CSVC, thuê
địa điểm đầu tư phòng học, đảm bảo diện tích theo quy định của ngành; mua sắm trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi phục vụ chăm sóc, nuôi dưỡng - giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu chương trình đổi mới giáo dục và theo hướng đồng bộ, hiện đại hoá đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý
* Tình hình tổ chức và quản lý các cơ sở giáo dục mầm non tư thục:
Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa, có nhiều khu chung cư mới, hệ thống trường mầm non công lập quá tải, không đáp ứng kịp với nhu cầu; để góp phần giảm tải cho các trường công lập và đáp ứng nhu cầu gửi con của người dân, các loại hình trường mầm non, cơ sở mầm non tư thục đã phát triển khá nhanh, quy mô ngày mở rộng, tính đến tháng 5/2017 đã có 221 cơ sở mầm non tư thục với 16.502 học sinh và 2.077 chủ cơ
sở, giáo viên, nhân viên tăng so với năm học 2012 - 2013 là 131 cơ sở Các nhóm lớp, cơ sở MN tư thục tăng nhanh và hoạt động ổn định dưới sự chỉ đạo về
Trang 39chuyên môn của phòng GD&ĐT và cùng với UBND các phường trên địa bàn thực hiện việc cấp phép thành lập, kiểm tra, xử lý vi phạm, đình chỉ, giải thể đối với những cơ sở vi phạm các quy định phát luật thuộc lĩnh vực giáo dục, không đảm bảo an toàn cho học sinh… nhằm đảm bảo kỷ cương của ngành
Hàng năm phòng GD&ĐT quận Hà Đông tổ chức định kỳ 02 tháng 1 lần Hội nghị với chủ các cơ sở MN tư thục nhằm quán triệt nhắc nhở những tồn tại, hạn chế của các cơ sở MN tư thục trong việc thực hiện quy chế chuyên môn thông qua ánh giá của đoàn kiểm tra của các tổ công tác và của phòng Giáo dục; triển khai nhiệm vụ trọng tâm trong những tháng tiếp theo Các cơ sở mầm non tư thục sinh hoạt chuyên môn với các trường mầm non công lập trên địa bàn phường
UBND quận tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ quản lý các cơ sở GDMN ngoài công lập cho cán bộ UBND các phường như việc kiểm tra đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo an toàn cho trẻ, kiểm tra hồ sơ của chủ cơ sở, giáo viên, nhân viên, công tác thu - chi tài chính… theo quy định của ngành Bồi dưỡng cho chủ cơ sở, giáo viên, nhân viên làm việc tại các cơ
sở MN tư thục, tập trung các nội dung: Giáo dục đạo đức nghề nghiệp; Hướng dẫn xây dựng môi trường giáo dục; Đổi mới tổ chức hoạt động trò chuyện sáng, hoạt động chiều; Bồi dưỡng về phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo; Công tác phòng chống tai nạn thương tích, phòng cháy chữa cháy trong cơ sở mầm non; công tác đảm bảo vệ sinh an toàn trong chế biến thực phẩm … Đồng thời bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ quản lý các cơ sở MN tư thục cho đội ngũ cán bộ quản lý các trường MN công lập như: Hướng dẫn kiểm tra công tác quản lý nuôi dưỡng, kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn chăm sóc, giáo dục trẻ, kiểm tra hồ sơ nhân sự… của các cơ sở
2.3 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các cơ sở mầm non tư thục theo chuẩn nghề nghiệp
Đại đa số giáo viên mầm non ở các cơ sở mầm non tư thục có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống tốt; thực hiện nghiêm túc nội quy, quy chế
Trang 40của ngành cũng như sự chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chính trị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Quá trình công tác luôn cố gắng trong tự học tập, rèn luyện giữ gìn phẩm chất đạo đức nhà giáo, nâng cao trình độ đào tạo, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
ĐNGV tận tuỵ với nghề, năng động, sáng tạo, mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học và các hoạt động giáo dục, hoàn thành tốt yêu cầu nhiệm vụ được giao, có ý thức đấu tranh với những hành vi tiêu cực Tích cực tham gia các cuộc vận động lớn trong ngành, như cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Hai không”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, cuộc vận động “Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ĐNGV các cơ sở mầm non tư thục có lối sống giản dị, gần gũi với học sinh, có tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong công tác và trong cuộc sống Thực hiện tốt phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, tạo môi trường giáo dục thân thiện, lành mạnh
Bảng 2.3 Tổng hợp ý kiến đánh giá của chuyên gia về phẩm chất ĐNGV
các chủ trương, đường lối
của Đảng và pháp luật của