Một trong những nguyên nhân đó là sự vận hành hoạt động quản lý đối với hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Tây Hồ chưa thật sự đáp ứng các yêu cầu của phân cấ
Trang 1TRẦN THỊ THÚY HẰNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN
Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN TÂY HỒ - HÀ NỘI
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2017
Trang 2TRẦN THỊ THÚY HẰNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN
Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN TÂY HỒ - HÀ NỘI
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin xam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các tác giả và đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác trong lĩnh vực này
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Thúy Hằng
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS, TS Bùi Văn Quân, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, định hướng, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn này
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các Giáo sư, Tiến sĩ, các thầy giáo cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; các thầy cô ở Phòng sau đại học đã trực tiếp chỉ đạo, giảng dạy, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu!
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong ban lãnh đạo, cán bộ chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận Tây Hồ; xin cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên, các em học sinh một số trường Tiểu học Quận Tây Hồ và bạn
bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ, tạo mọi điều kiện, cung cấp và chia sẻ những tư liệu cần thiết cho tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài
Tuy đã rất cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những hạn chế, rất mong các thầy cô giáo, các nhà khoa học, các anh chị em đồng nghiệp đóng góp ý kiến để tác giả hoàn thiện hơn nữa trong những nghiên cứu tiếp theo
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Thúy Hằng
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
3 CB - GV - NV Cán bộ - Giáo viên - Nhân viên
6 CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
9 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
10 GDNGLL Giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Nghiên cứu về quản lý hoạt động chuyên môn 5
1.1.2 Nghiên cứu về phân cấp quản lý trong giáo dục 6
1.2 Các khái niệm cơ bản 7
1.2.1 Quản lý 7
1.2.2 Quản lý giáo dục 9
1.2.3 Quản lý nhà trường 10
1.2.4 Hoạt động chuyên môn 12
1.2.5 Quản lý hoạt động chuyên môn 12
1.2.6 Phân cấp quản lý 12
1.2.7 Phân cấp quản lý giáo dục 13
1.2.8 Phân cấp quản lý trong giáo dục Tiểu học 14
1.3 Trường Tiểu học và quản lý hoạt động chuyên môn theo phân cấp quản lý ở trường Tiểu học 14
1.3.1 Trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân 14
1.3.2 Hoạt động chuyên môn trong trường Tiểu học 18
Trang 71.3.3 Nội dung quản lý hoạt động chuyên môn theo định hướng
phân cấp quản lý ở trường Tiểu học 33
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động chuyên môn theo hướng phân cấp quản lý ở trường Tiểu học 39
1.4.1 Quy chế chuyên môn và quy chế quản lý hoạt động chuyên môn 39
1.4.2 Năng lực cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên 39
1.4.3 Cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học 40
1.4.4 Môi trường giáo dục và môi trường dạy học 40
Kết luận chương 1 40
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN TÂY HỒ - HÀ NỘI THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ 42
2.1 Khái quát về các trường Tiểu học và đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục Tiểu học Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội 42
2.2 Thực trạng hoạt động chuyên môn ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ, TP Hà Nội 46
2.2.1 Thực trạng phân công giảng dạy cho đội ngũ giáo viên 46
2.2.2 Thực trạng hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên 48
2.2.3 Thực trạng về hoạt động học tập của học sinh 57
2.2.4 Thực trạng về sinh hoạt chuyên môn 59
2.2.5 Thực trạng về bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 63
2.2.6 Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 65
2.3 Phân tích thực trạng quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ theo định hướng phân cấp quản lý 67
2.3.1 Thực trạng vai trò của các cấp quản lý hoạt động chuyên môn các trường Tiểu học Quận Tây Hồ theo định hướng phân cấp quản lý 67
2.3.2 Thực trạng kế hoạch hóa hoạt động chuyên môn 69
2.3.3 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo hoạt động chuyên môn 70
2.3.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động chuyên môn 72
2.3.5 Thực trạng xây dựng môi trường dạy học tích cực, tạo động lực cho giáo viên và học sinh 73
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Tiểu học thuộc Quận Tây Hồ theo định hướng phân cấp quản lý 74
Trang 82.4.1 Ưu điểm 74
2.4.2 Nhược điểm 75
Kết luận chương 2 76
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN TÂY HỒ HÀ NỘI THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ 77
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 77
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 77
3.1.2 Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống 77
3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 77
3.1.4 Đảm bảo tính đồng bộ 77
3.2 Một số biện pháp hoàn thiện quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ theo định hướng phân cấp quản lý 78
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho các chủ thể tham gia quản lý hoạt động chuyên môn trong nhà trường về quản lý hoạt động chuyên môn đáp ứng yêu cầu phân cấp quản lý 78
3.2.2 Tăng cường đầu tư và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động chuyên môn theo định hướng phân cấp quản lý 80
3.2.3 Hoàn thiện quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn giáo viên của các trường Tiểu học trên địa bàn Quận theo định hướng phân cấp quản lý 82
3.2.4 Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý hoạt động chuyên môn theo yêu cầu của phân cấp quản lý 85
3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu của phân cấp quản lý đối với hoạt động chuyên môn của giáo viên 87
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi các biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Tây Hồ 91
Kết luận chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 9
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng số 2.1: Tổng hợp đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý các trường Tiểu
học ở Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội (năm học 2016-2017) 42
Bảng số 2.2: Quy mô lớp học, số lượng học sinh Tiểu học toàn Quận Tây Hồ năm học 2016 – 2017 44
Bảng số 2.3: Số lượng học sinh Tiểu học Quận Tây Hồ qua 6 năm học 45
Bảng 2.4: Thực trạng phân công giảng dạy cho đội ngũ giáo viên 46
Bảng 2.5: Thực trạng hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên 48
Bảng 2.6: Thực trạng việc thực hiện chương trình của giáo viên 49
Bảng 2.7: Thực trạng việc soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên 50
Bảng 2.8: Thực trạng giờ lên lớp của giáo viên 52
Bảng 2.9: Thực trạng việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học 53
Bảng 2.10: Thực trạng việc thực hiện đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 55
Bảng 2.11: Thực trạng về hồ sơ chuyên môn của giáo viên 56
Bảng 2.12: Thực trạng hoạt động học tập của học sinh 57
Bảng 2.13: Đánh giá của học sinh về các biện pháp quản lý thực hiện hoạt động học tập của học sinh ở nhà trường 58
Bảng 2.14: Thực trạng trình độ chuyên môn và nhu cầu bồi dưỡng 63
của đội ngũ giáo viên các trường 63
Bảng 2.15: Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 67
Bảng 2.16 Nhạ n thức của CBQL và GV ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ về tầm quan trọng của các cấp quản lý hoạt động chuyên môn 68
Bảng 2.17: Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn 70
Bảng 2.18: Thực trạng tổ chức, chỉ đạo hoạt động chuyên môn 71
Bảng 2.19: Tổng hợp ý kiến nhận xét của cán bộ giáo viên về công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động chuyên môn của CBQL 72
Bảng 3.1: Kết quả thống kê khảo sát về tính cấp thiết và tính khả thi 92
của các biện pháp đề xuất 92
Biểu đồ 3.1: Sự tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi 93
của các biện pháp đề xuất 93
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong bối cảnh hệ thống giáo dục quốc dân đang có những thay đổi theo định hướng đổi mới căn bản và toàn diện, vấn đề đổi mới quản lý giáo dục nói chung, quản lý trường học nói riêng trở thành vấn đề được đặc biệt quan tâm đối với các nhà giáo dục và quản lý giáo dục
Đổi mới quản lý giáo dục (trong đó có giáo dục Tiểu học) được thực hiện ở tất cả các cấp, từ trung ương đến địa phương đến các cơ sở giáo dục, ở tất cả các khâu của quá trình quản lý, từ xây dựng kế hoạch đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá đối với các nội dung cũng như lĩnh vực quản lý khác nhau ở cấp độ hệ thống giáo dục và ở từng cơ sở giáo dục Trong đó quản lý hoạt động chuyên môn ở các cơ sở giáo dục là một nội dung quản lý quan trọng, bởi các hoạt động giáo dục là hoạt động đặc thù của nhà trường và giữ
vị trí trung tâm trong các hoạt động của nhà trường Chất lượng giáo dục quyết định uy tín của nhà trường Giáo dục được thực hiện ở cấp độ hoạt động thông qua hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh Các hoạt động này được khái quát trong khái niệm hoạt động chuyên môn ở trường học, và hoạt động chuyên môn lại được triển khai thực tiễn tại các tổ chuyên môn và từng giáo viên Hoạt động chuyên môn góp phần quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường Vì vậy, quản lý hoạt động chuyên môn là yêu cầu tất yếu và là một trong những nội dung quản lý quan trọng trong quản lý trường học
Khẳng định tính tất yếu và tầm quan trọng của quản lý hoạt động chuyên môn của trường học cũng có nghĩa khẳng định sự cần thiết của những nghiên cứu về quản lý hoạt động chuyên môn
1.2 Trong khoa học Quản lý giáo dục, quản lý hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học là một trong những vấn đề được nghiên cứu tương đối phổ biến Tuy nhiên, những nghiên cứu về quản lý chuyên môn của trường Tiểu học trong bối cảnh phân cấp quản lý trong lĩnh vực giáo dục đào tạo lại rất hạn chế và không mang tính hệ thống
Trang 111.3 Công tác quản lý hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học Quận Tây Hồ thành phố Hà Nội đã có nhiều cố gắng, song hiệu quả quản lý chưa được như mong muốn, chất lượng quản lý hoạt động chuyên môn chưa cao Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Có nhiều nguyên nhân của thực trạng này Một trong những nguyên nhân đó là sự vận hành hoạt động quản lý đối với hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Tây
Hồ chưa thật sự đáp ứng các yêu cầu của phân cấp quản lý trong giáo dục hiện nay
Từ những lý do trên, đề tài “Quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường
Tiểu học Quận Tây Hồ - Hà Nội theo định hướng phân cấp quản lý” được
tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ - Hà Nội, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn theo định hướng phân cấp quản lý để nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ - Hà Nội
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động chuyên môn và phân cấp quản
lý ở trường Tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn ở
trường Tiểu học theo định hướng phân cấp quản lý
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Quản lý hoạt động chuyên môn theo định hướng phân cấp quản lý ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội được nghiên cứu ở cấp độ trường học (không nghiên cứu về quản lý của Sở, Phòng Giáo dục với các trường Tiểu học và hoạt động chuyên môn của các trường Tiểu học);
- Nghiên cứu thực tiễn được giới hạn từ năm 2014 đến 2016
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn ở các
Trang 12trường Tiểu học trên địa bàn Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội theo hướng: nâng cao nhận thức về quản lý hoạt động chuyên môn đáp ứng yêu cầu cầu phân cấp quản lý cho các chủ thể tham gia quản lý hoạt động chuyên môn trong nhà trường; Xây dựng và hoàn thiện quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn giáo viên của các trường Tiểu học trên địa bàn Quận theo định hướng phân cấp quản lý; Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý hoạt động chuyên môn theo yêu cầu của phân cấp quản lý; Tăng cường xây dựng, đầu tư, quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động chuyên môn theo định hướng phân cấp quản lý và đổi mới và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu của phân cấp quản lý đối với hoạt động chuyên môn của giáo viên thì hoạt động chuyên môn trong các trường Tiểu học trên địa bàn Quận sẽ được quản lý phù hợp với yêu cầu của phân cấp quản lý giáo dục hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động chuyên môn theo định hướng phân cấp quản lý ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội
- Đề xuất những biện pháp hoàn thiện quản lý hoạt động chuyên môn theo định hướng phân cấp quản lý và khảo sát tính khả thi của các biện pháp đó
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp được tiến hành trên cơ
sở các tài liệu khoa học với mục đích tổng hợp các kiến thức có liên quan đến
đề tài; phân tích, so sánh, tổng hợp tài liệu, hệ thống hóa, khát quát hóa tài liệu để xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết cho vấn
đề nghiên cứu
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra xã hội học (bằng phiếu hỏi): Phương pháp được tiến hành thông qua việc thiết kế các phiếu hỏi, điều tra các khách thể khảo
Trang 13sát là cán bộ quản lý, lãnh đạo giáo dục, giáo viên về thực trạng phân cấp quản lý và quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Tiểu học Quận Tây
Hồ - Thành phố Hà Nội
- Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia: Là phương pháp được tiến hành bằng việc lấy ý kiến, hội thảo, trao đổi Mục đích của phương pháp này là khai thác tài nguyên tri thức của các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực giáo dục & đào tạo nói chung và quản lý hoạt
động chuyên môn ở trường Tiểu học nói riêng
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Phương pháp được tiến hành trên
cơ sở tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn của quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội; các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động chuyên môn ở trường Tiểu học theo định hướng phân cấp quản lý
6.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ
- Phương pháp thống kê toán học: Là phương pháp sau khi điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi cần phải thống kê toán học để đánh giá tổng hợp thực trạng và đánh giá các nội dung điều tra liên quan đến đề tài
- Phương pháp sơ đồ hóa: Dùng thống kê toán học để tập hợp số liệu thông qua điều tra để sơ đồ hóa thực trạng, đánh giá, nhận xét bằng các sơ đồ, bảng biểu
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được kết cấu thành
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu về quản lý hoạt động chuyên môn
Vấn đề quản lý hoạt động CMNV của GV cũng là một vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm trong nhiều năm qua Đó là tác giả Nguyễn Ngọc Hợi, Đặng Quốc Bảo, Thái Văn Thành Trong quá trình nghiên cứu, các tác giả đều nêu lên nguyên tắc chung của việc quản lý của hoạt động chuyên môn trong các nhà trường như sau:
- Xác định đầy đủ nội dung hoạt động CMNV của GV
- Xây dựng hoàn thiện quy chế đánh giá, xếp loại CMNV của GV
- Tổ chức đánh giá xếp loại chuyên môn nghiệp vụ của GV
- Thực hiện sắp xếp điều chuyển những GV không đáp ứng được các yêu cầu về CMNV
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của xã hội, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Giáo dục và Đào tạo là vấn đề bồi dưỡng nghiệp vụ, năng lực quản lý cho các đội ngũ quản lý nhà trường để họ có thể “vừa hồng vừa chuyên” trong công tác quản lý, đây là một yếu tố vô cùng quan trọng trong nhà trường nói chung, nhà trường Tiểu học nói riêng, nhiệm vụ chính trị trọng tâm là công tác quản lý chuyên môn - là “xương sống” trong hoạt động của mỗi đơn vị trường học
Mặc dù trong những năm qua ngành Giáo dục và Đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và đang bộc lộ những yếu kém, chất lượng giáo dục còn thấp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới và so với các nước có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; nội dung chương trình, phương pháp dạy học (PPDH), công tác thi, kiểm tra đánh giá chậm đổi mới, QLGD còn nhiều bất cập, một bộ phận nhà giáo và CBQL chưa đáp ứng được
Trang 15yêu cầu Trước xu thế phát triển của xã hội cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học, đổi mới công tác QLGD, hoàn thành tốt việc đào tạo bồi dưỡng nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước
Từ các nguyên tắc chung, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của quản lý CMNV trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Bởi tính chất nghề nghiệp mà hoạt động chuyên môn của trường Tiểu học rất phong phú Ngoài việc quản lý CMNV của GV, học tập của học sinh, còn bao gồm cả công việc như tổ chức cho GV tự học, tự bồi dưỡng, giáo dục học sinh NGLL, sinh hoạt chuyên môn, nghiên cứu khoa học giáo dục Hay nói cách khác, quản lý hoạt động chuyên môn ở trường Tiểu học thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của người thầy
1.1.2 Nghiên cứu về phân cấp quản lý trong giáo dục
Các công trình nghiên cứu về phân cấp quản lý giáo dục ở nước ta còn hạn chế và chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Tác giả Trần Kiểm [59],[60], [61], [62], Bùi Văn Quân [77], [78], có đề cập đến vấn đề phân cấp quản lý giáo dục khi trình bày quan niệm về quan hệ quản lý với tư cách là đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lý giáo dục, từ
đó xác định các kiểu quan hệ quản lý trong quản lý giáo dục và đặc trưng của quan hệ quản lý giáo dục
Tác giả Nguyễn Tiến Hùng [50], [51], [52], [53], [54], là một trong nhưng tác giả có nghiên cứu sâu về phân cấp quản lý giáo dục
Những nghiên cứu về phân cấp quản lý trong quản lý hoạt động chuyên môn của trường Tiểu học được thực hiện theo các hướng sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về quản lý nhà nước về giáo dục, trong đó xác định nhiệm vụ, chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nói chung
và trong quản lý hoạt động chuyên môn nói riêng Hướng nghiên cứu này được thể hiện trong các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về giáo dục của các tác giả: Nguyễn Minh Đường, Vũ Ngọc Hải [40], [41],[43], Phan Văn Kha, Đặng Quốc Bảo[1], [2], [3],[4],[5],[6],[43], Bùi Minh Hiền [43], [44]
Trang 16Thứ hai, nghiên cứu về quản lý hoạt động chuyên môn dưới góc độ quản
lý tác nghiệp tại trường học, trong đó xác định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể quản lý trường học như Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn và giáo viên Hướng nghiên cứu này được thực hiện ở một số công trình nghiên cứu của các tác giả như: Trần Kiểm [59],[60], [61], [62], ; Bùi Văn Quân [77], [78], Đặng Quốc Bảo [1], [2], [3],[4],[5],[6],[43], Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc [16]
Hai hướng nghiên cứu nêu trên đã bước đầu xác định cụ thể vị trí, vai trò chức năng của các chủ thể quản lý tham gia vào quản lý hoạt động chuyên môn ở trường học Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các chủ thể quản lý này được thể hiện trong quan hệ quản lý như thế nào vẫn chưa được thiết lập cụ thể và chưa được phân tích một cách kỹ lưỡng
Thời gian gần đây, trong xu hướng thực hiện phân cấp quản lý và tăng cường vai trò tự chủ, trách nhiệm xã hội của trường học, tác giả Bùi Minh Hiền [43], [44] đã bàn nhiều về phân cấp quản lý trong giáo dục
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Trong các giáo trình và tài liệu có liên quan, khi trình bày khái niệm quản lý, ngoài việc trích dẫn những tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, các tác giả thường dẫn ra quan điểm của một số tác giả nước ngoài như: Frederich Winslon Taylor (1855-1915); Henry Fayol (1841-1925); Mary Parkor Pollet (1868-1933); Harold Koontz [42],… và một số tác giả Việt Nam như: Nguyễn Ngọc Quang [75], [76], Hồ Văn Vĩnh [87], Phạm Minh Hạc [38], Đặng Quốc Bảo [1], [2], [3],[4],[5],[6],[43], Nguyễn Duy Quý, Bùi Trọng Tuân, Nguyễn Lộc, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc,…
Các nghiên cứu về quản lý có thể được khái quát theo những khuynh hướng như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu quản lý theo quan điểm của điều khiển học và lý
thuyết hệ thống Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật
Trang 17v.v…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó Quản lý là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển
Thứ hai, nghiên cứu quản lý với tư cách là một hoạt động, một lao động
tất yếu trong các tổ chức của con người Theo tác giả Trần Quốc Thành trong
Đề cương bài giảng Khoa học quản lý đại cương: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”; “Hoạt động quản lý bao gồm hai quá trình tích hợp với nhau: Đó là, quá trình "quản" và quá trình "lý" Quá trình “quản" bao gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình “lý" bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ thống, đưa hệ thống vào thế phát triển Nếu chỉ lo việc “quản" tổ chức sẽ trì trệ, bảo thủ; nếu chỉ quan tâm đến “lý" tổ chức đó sẽ rơi vào thế mất cân bằng, mất ổn định Như vậy, quản lý chính là hoạt động tạo ra sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của
tổ chức đến một trạng thái mới có chất lượng mới cao hơn [1, tr23]
Thứ ba, nghiên cứu quản lý với tư cách là một quá trình trong đó các
chức năng quản lý được thực hiện trong sự tương tác lẫn nhau Theo hướng này, quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định
Các đặc điểm chung của khái niệm quản lý thường được đề cập đến bao gồm: Quản lý bao giờ cũng là quản lý một tổ chức, quản lý một con người; Quản lý luôn nhằm đạt được những mục tiêu đã xác định của tổ chức; Quản lý phải bao hàm hai yếu tố chủ thể quản lý và đối tượng quản
lý (con người hoặc một tổ chức, một bộ máy); Quản lý là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý; Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống, có cấu trúc và vận hành trong một môi trường xác định
Từ những phân tích trên tác giả quan niệm: Quản lý là quá trình tiến hành
những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các
Trang 18tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động
1.2.2 Quản lý giáo dục
Theo khái niệm quản lý đã trình bày, có thể định nghĩa khái niệm quản
lý giáo dục như sau: Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội
trong đó diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn,
tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo
kế hoạch chủ động để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự
ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với giáo dục
Quản lý giáo dục, xét về bản chất là một khoa học và một nghệ thuật trong việc điều khiển, phối kết hợp các bộ phận, phân hệ và các cá nhân trong phần tử của hệ thống giáo dục nhằm đưa hệ thống đạt đến những trạng thái phát triển mới về chất đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục
Quản lý giáo dục được thực hiện ở cấp độ vĩ mô và vi mô Trọng tâm của quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô là quản lý nhà nước về giáo dục Trọng tâm của quản lý giáo dục vi mô là quản lý hoạt động dạy học và giáo dục toàn diện trong nhà trường và cơ sở giáo dục
Khi đề cập đến quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô là đề cập đến việc quản
lý toàn bộ hệ thống giáo dục trên các mặt qui mô, cơ cấu và chất lượng Đó là quản lý nhà nước về giáo dục Còn khi đề cập đến quản lý giáo dục ở cấp độ
vi mô, là đề cập đến quản lý tác nghiệp tại các cơ sở giáo dục mà trường học
là hạt nhân Trọng tâm của quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô là quản lý trường học và tất cả các hoạt động, các quan hệ trên – dưới, các hoạt động có liên quan đến nhà trường Theo Bùi Văn Quân (2010), quản lý tác nghiệp tại trường học là quản lý giáo dục ở cơ sở với trọng tâm là quản lý các hoạt động dạy học và giáo dục
Trang 19Có thể mô tả các cấp độ của khái niệm quản lý giáo dục như hình 1.1
Hình 1.1: Các cấp độ của khái niệm quản lý giáo dục
1.2.3 Quản lý nhà trường
Theo Bùi Minh Hiền - Nguyễn Vũ Bích Hiền: “Quản lý nhà trường là quá trình tác động có mục đích, có định hướng, có tính kế hoạch của các chủ thể quản lý (đứng đầu là hiệu trưởng nhà trường) đến các đối tượng quản lý (giáo viên, cán bộ nhân viên, người học, các bên liên quan, ) và huy động,
sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện sứ mệnh của nhà trường đối với hệ thống giáo dục và đào tạo, với cộng đồng và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định trong một môi trường luôn luôn biến động” [44]
Từ khái niệm, các cách tiếp cận về quản lý nhà trường cho thấy: Nội dung của quản lý nhà trường được xác định cho từng loại chủ thể quản lý như sau:
MÔ -QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC
QUẢN LÝ GIÁO DỤC VI
MÔ - QUẢN LÝ TÁC NGHIỆP TẠI TRƯỜNG HỌC/CƠ SỞ GIÁO DỤC
Hệ thống giáo dục với các phân
hệ từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học
Quản lý của lãnh đạo nhà trường/cơ sở giáo dục
Quản lý của các tổ chuyên môn
Quản lý của người dạy và người học
Quản lý của nhà nước từ trung ương đến địa phương
Trường học/cơ sở giáo dục
Hoạt động dạy học và giáo dục
Trang 20Các chủ thể quản lý cấp trên nhà trường: Các chủ thể quản lý trên nhà
trường là các cấp quản lý nhà trường theo trách nhiệm và phạm vi quyền hạn của mình, trong đó các chủ thể quản lý chủ yếu là các chủ thể nằm trong cơ cấu dọc của bộ máy quản lý giáo dục theo phân cấp quản lý Đó là Bộ Giáo dục & Đào tạo, Sở Giáo dục & Đào tạo và Phòng Giáo dục & Đào tạo
Các chủ thể quản lý này thực hiện các nội dung quản lý sau:
- Đề ra mục tiêu giáo dục cho hệ thống giáo dục và từng phân hệ của hệ thống đó một cách cụ thể với từng cấp, bậc học làm cơ sở cho việc hoạch định chương trình giáo dục tương ứng
- Hoạch định chương trình giáo dục với tư cách là chuẩn trong giáo dục
để các phân hệ của hệ thống giáo dục và các nhà trường/cơ sở giáo dục của mỗi phân hệ có cơ sở phát triển chương trình và kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục của mình Ví dụ: ở đại học, sau khi có chương trình khung của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, căn cứ vào khung chương trình, các trường xây dựng chương trình cho các ngành đào tạo và lập kế hoạch để triển khai chương trình đó Với giáo dục phổ thông, các chương trình giáo dục đã được Bộ giáo dục & Đào tạo xác định cụ thể, Sở Giáo dục & Đào tạo và Phòng Giáo dục & Đào tạo hướng dẫn tới các nhà trường nên các trường không có nhiều cơ hội tham gia vào quá trình phát triển chương trình giáo dục Tuy nhiên, xu hướng gia tăng khả năng của các trường vào quá trình phát triển chương trình giáo dục sẽ được quan tâm triển khai trong tương lai
- Khai thác, sử dụng tổ chức thực hiện các nguồn lực hỗ trợ nhà trường/cơ sở giáo dục trong việc triển khai chương trình giáo dục thông qua
hệ thống công cụ như chính sách, các nguồn viện trợ theo dự án, theo chương trình mục tiêu
- Giám sát và đánh giá việc thực hiện chương trình giáo dục ở nhà trường và cơ sở giáo dục
Các chủ thể quản lý trong (của) nhà trường: Đây là các chủ thể có vai
trò trực tiếp trong quản lý quá trình giáo dục ở cơ sở Với các chủ thể này, nhà trường trở thành khách thể quản lý đối với hoạt động quản lý của họ Chất
Trang 21lượng, hiệu quả của chương trình giáo dục, chất lượng của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng quản lý quá trình giáo dục của các chủ thể này Chủ thể quản lý trong nhà trường bao gồm: Lãnh đạo nhà trường (Ban giám hiệu nhà trường mà đại diện là Hiệu trưởng), Tổ trưởng chuyên môn và nhà giáo Mỗi chủ thể nói trên khác nhau về vị trí, vai trò trong bộ máy quản
lý của nhà trường nên họ quản lý quá trình giáo dục với nội dung khác nhau Tóm lại, Quản lý nhà trường trước hết phải là quản lý của các chủ thể quản lý giáo dục cấp trên (bên ngoài) nhà trường Các chủ thể quản lý trong nhà trường thực hiện quản lý quá trình giáo dục diễn ra trong phạm vi nhà trường của mình Nói một cách chính xác hơn, các chủ thể quản lý trong nhà trường thực hiện quản lý hoạt động giáo dục (hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp) Trên thực tế, các chủ thể quản lý trong nhà trường không có nhiều cơ hội để tác động đến những thành tố của quá trình giáo dục nói chung
1.2.4 Hoạt động chuyên môn
Hoạt động chuyên môn là hoạt động cốt yếu và quan trọng nhất của nhà trường, phản ánh lao động sư phạm của người giáo viên, của tổ chuyên môn
và tập thể sư phạm nhà trường trong các lĩnh vực liên quan đến vấn đề chuyên môn, học thuật, giảng dạy, bồi dưỡng nâng cao trình độ, giao lưu chuyên môn với đồng nghiệp trong phạm vi nội bộ nhà trường và cộng đồng giáo dục cùng cấp học, thông qua đó thực hiện có kết quả qui chế chuyên môn và các nhiệm
vụ chuyên môn mà người giáo viên được giao trách nhiệm
1.2.5 Quản lý hoạt động chuyên môn
Quản lý hoạt động chuyên môn là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý xét theo quan hệ thuộc cấp quản lý nhằm thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục toàn diện của nhà trường
1.2.6 Phân cấp quản lý
Phân cấp quản lý là giao bớt một phần quản lý cho cấp dưới, qui định quyền hạn và nhiệm vụ cho mỗi cấp [88] Theo Từ điển Anh của Collin and the
Trang 22University of Birmingham (1994): phân cấp là dịch chuyển một số đơn vị (hay
bộ phận) của một tổ chức lớn khỏi cơ quan trung ương, hoặc trao thêm quyền lực cho các đơn vị địa phương
Quan niệm phổ biến hiểu phân cấp là chuyển giao quyền quyết định xuống các cấp thấp hơn cho phù hợp với trách nhiệm, quyền hạn; hoặc phân cấp tương đương với cấu trúc tổ chức mà trong đó nhiều cá nhân hay các đơn
vị thành phần có thể ra các quyết định
Cách hiểu phân cấp nêu trên đã phản ánh được một mặt của phân cấp, đó
là phân công lại hoặc trao thêm trách nhiệm và quyền quyết định phù hợp với các chức năng hoặc thành phần cụ thể của chức chức năng cho cấp thấp hơn của chính phủ trung ương Tuy nhiên, để hiểu đầy đủ về phân cấp cần phải đề cập đến các mặt còn lại của phân cấp, đó là tính chịu trách nhiệm của từng cấp và mối quan hệ công việc giữa các cấp trong và ngoài hệ thống quản lý
1.2.7 Phân cấp quản lý giáo dục
Từ quan niệm về phân cấp quản lý như đã trình bày, khi vận dụng vào hệ thống giáo dục, nhiều chuyên gia cho rằng, phân cấp quản lý giáo dục là trao các chức năng hoặc thành phần đặc biệt của chức năng từ chính phủ trung ương cho chính quyền địa phương theo địa lý hoặc trao trách nhiệm hoặc các hoạt động của hệ thống giáo dục từ chính phủ trung ương cho các chính quyền cấp dưới như tỉnh/thành phố hoặc quận/huyện, xã/phường; hay phân cấp quản lý giáo dục là quá trình phân công lại trách nhiệm và quyền ra quyết định tương ứng với các chức năng cụ thể từ cấp cao tới cấp thấp hơn của các
cơ quan chính phủ trung ương và tổ chức; hoặc cụ thể hơn nữa: phân cấp quản
lý giáo dục là chuyển trách nhiệm lập kế hoạch, quản lý và phân bổ nguồn lực
từ chính phủ trung ương tới các cơ quan chuyên ngành của chính phủ, các cơ quan cấp dưới của chính phủ, các đơn vị công lập tự chủ một phần, các đơn vị vùng chức năng hoặc các tổ chức tư nhân hay tình nguyện (Faguet, 2000 and Gropello, 2002)
Tác giả Nguyễn Tiến Hùng (2014) [54] đưa ra khái niệm phân cấp quản
lý giáo dục: Phân cấp quản lý giáo dục nói chung và phân cấp quản lý giáo
Trang 23dục phổ thông nói riêng là quá trình thiết kế lại hệ thống quy trình trách nhiệm, quyền hạn và tính chịu trách nhiệm (theo các chức năng hoặc thành phần của chức năng quản lý giáo dục) theo hướng dịch chuyển từ cấp trên xuống dưới, nhà trường và cộng đồng cũng như qui trình quan hệ công việc giữa các bên liên quan (trong và ngoài hệ thống quản lý giáo dục) nhằm sử dụng tối đa các nguồn lực đạt tới mục tiêu đã đề ra
1.2.8 Phân cấp quản lý trong giáo dục Tiểu học
Phân cấp quản lý trong quản lý giáo dục Tiểu học thực chất là phân cấp quản lý giáo dục đối với một phân hệ của hệ thống giáo dục quốc dân – giáo dục Tiểu học
Vì vậy, có thể quan niệm rằng, phân cấp quản lý trong quản lý giáo dục Tiểu học là quá trình thiết kế lại hệ thống quy trình trách nhiệm, quyền hạn và tính chịu trách nhiệm theo các chức năng hoặc thành phần của chức năng quản lý giáo dục Tiểu học theo hướng dịch chuyển từ cấp trên xuống dưới, nhà trường Tiểu học và cộng đồng cũng như qui trình quan hệ công việc giữa các bên liên quan trong và ngoài hệ thống quản lý giáo dục Tiểu học nhằm sử dụng tối đa các nguồn lực đạt tới mục tiêu quản lý đã đề ra, trong và bằng cách đó đạt được mục tiêu phát triển giáo dục Tiểu học
1.3 Trường Tiểu học và quản lý hoạt động chuyên môn theo phân cấp quản lý ở trường Tiểu học
1.3.1 Trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân của các nước trên thế giới đều có phân chia thành các bậc học Mỗi bậc học có đặc điểm riêng, một phương thức riêng; mỗi bậc học có mục tiêu giáo dục, có nội dung và phương pháp tổ chức giáo dục đặc thù phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh và yêu cầu của xã hội với bậc học đó, trong đó giáo dục Tiểu học được mọi quốc gia quan tâm
Ở nước ta, bậc học Tiểu học là bậc học phổ thông đầu tiên và được xác định
là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân
Trường Tiểu học vừa là một thiết chế xã hội trong quản lý quá trình đào
Trang 24tạo trung tâm, vừa là một bộ phận của cộng đồng trong guồng máy giáo dục quốc dân Hoạt động quản lý của trường Tiểu học thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động quản lý, mang tính xã hội, tính khoa học, tính kỹ thuật và nghệ thuật của hoạt động quản lý
Trong trường Tiểu học hiện nay, cơ cấu bộ máy quản lý và các mối quan hệ, phối hợp các lực lượng quản lý bao gồm:
+ Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng do Nhà nước bổ nhiệm chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường Hiệu trưởng được bổ nhiệm theo định kỳ, quản lý các hoạt động của nhà trường theo chế độ thủ trưởng
+ Hội đồng trường đối với trường công lập, Hội đồng quản trị đối với trường tư thục được gọi chung là hội đồng trường Hội đồng trường là tổ chức chịu trách nhiệm quyết định về phương hướng hoạt động của nhà trường, huy động và giám sát việc sử dụng các nguồn lực dành cho nhà trường, gắn nhà trường với cộng đồng và xã hội, đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục Hội đồng trường Tiểu học công lập gồm: Đại diện tổ chức Đảng, Ban giám hiệu (gồm Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng), đại diện Công đoàn, đại diện Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Tổng phụ trách Đội, đại diện các tổ chuyên môn, đại diện tổ văn phòng
+ Tổ chức Đảng trong nhà trường Tiểu học lãnh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, Pháp luật và Điều lệ Đảng
+ Công Đoàn giáo dục, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong trường theo quy định của Pháp luật và Điều lệ của mỗi tổ chức giúp nhà trường thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục
+ Mỗi trường Tiểu học có một giáo viên Tổng phụ trách Đội TNTP Hồ Chí Minh và Sao Nhi đồng, có trách nhiệm phối hợp với nhà trường tổ chức
và quản lý các hoạt động của Đội và các hoạt động GDNGLL
Sự phối hợp giữa chính quyền và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường tạo nên một sức mạnh tổng hợp trong việc quản lý trường học
Điều 2 trong Điều lệ trường Tiểu học được ban hành kèm theo Thông
tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã
Trang 25quy định vị trí của trường Tiểu học: Trường Tiểu học là cơ sở giáo dục phổ
thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng [14]
Hình 1.2: Trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Qua các tài liệu nghiên cứu và qua thực tiễn cho thấy, trẻ em Tiểu học ngày nay không phải chỉ có nhu cầu học 9 môn (theo chương trình quy định)
mà các em còn có mong muốn được tìm hiểu thêm về môi trường xung quanh, được tham gia các hoạt động tập thể, được làm quen với các phương tiện thông tin Ngoài những môn học chính khóa, các em học sinh còn thích được học thêm các môn học năng khiếu nghệ thuật, ngoại ngữ, tin học Cũng
có nhiều học sinh muốn được học hoặc tham gia đồng thời nhiều môn, nhiều hoạt động Điều đó chứng tỏ học sinh Tiểu học có nhu cầu đòi hỏi được phát
Trang 26triển toàn diện Chính vì vậy, bậc học Tiểu học có bản sắc riêng và có tính độc lập tương đối của nó vì nó không bắt buộc phụ thuộc vào sự giáo dục của bậc học trước nó (bậc học mầm non) và các bậc học sau đó Mà ngược lại, các bậc học sau đó phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả giáo dục của bậc Tiểu học
Điều 27 của Luật Giáo dục đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục Tiểu học là: “Giáo
dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, thể chất, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở”
Như vậy, có thể thấy: Bậc Tiểu học tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản
và bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên bậc học trên, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách, những gì thuộc về tri thức và kỹ năng, về hành vi và tính người được hình thành và định hình ở học sinh Tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi người (như chữ viết, kỹ năng thực hiện phép tính, kỹ năng ứng xử trong cuộc sống hàng ngày ) Những gì đã được hình thành và định hình ở trẻ
em rất khó thay đổi, khó cải tạo lại Đặc điểm này đòi hỏi sự chuẩn xác với tính khoa học tính nhân văn cao ở một nền giáo dục và mỗi CBQL giáo dục
Nhiệm vụ của trường Tiểu học
Điều 3 trong Điều lệ trường Tiểu học đã chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của
trường Tiểu học là:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ
em đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lý các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục Tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình Tiểu học cho học sinh trong nhà trường và trẻ
em trong địa bàn trường được phân công phụ trách
Trang 27- Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo và nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương
- Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục
- Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
- Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
- Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục
- Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.3.2 Hoạt động chuyên môn trong trường Tiểu học
1.3.2.1 Hoạt động dạy của giáo viên
* Thực hiện chương trình dạy học, sử dụng sách giáo khoa
Chương trình dạy học quy định nội dung giảng dạy, thời gian giảng dạy
cụ thể cho từng môn học, từng tiết học, tuần học, trong từng năm học nhằm thực hiện những yêu cầu, mục tiêu của bậc Tiểu học Thực hiện chương trình dạy học chính là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu của trường Tiểu học Chương trình dạy học Tiểu học là Pháp lệnh của Nhà nước, do Bộ GD&ĐT ban hành thống nhất sử dụng trong toàn quốc Nội dung giáo dục Tiểu học bao gồm nội dung dạy học các môn học và nội dung các hoạt động ngoài giờ lên lớp (NGLL)
Các môn học ở Tiểu học:
+ Giai đoạn các lớp 1, 2, 3 gồm 8 môn học: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức,
Tự nhiên và Xã hội, Thể dục, Thủ công, Mỹ thuật và Âm nhạc
+ Giai đoạn các lớp 4, 5 gồm 9 môn học: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Thể dục, Kỹ thuật, Mỹ thuật và Âm nhạc
+ Các môn học tự chọn gồm: Tiếng nước ngoài, Tin học, Tự chọn nội dung nâng cao cho các môn học bắt buộc
Trang 28- Các hoạt động ngoài giờ lên lớp bao gồm:
+ Vui chơi giải trí, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao
+ Hoạt động xã hội theo chủ điểm trong tổ chức của học sinh (Lớp,
Sao, Đội tổ chức tự quản ở địa bàn dân cư)
+ Hoạt động lao động công ích (phù hợp với sức khỏe và khả năng trong nhà trường hoặc cộng đồng)
Vì vậy, nhà trường phải thực hiện nghiêm chỉnh, không được phép tuỳ tiện thay đổi, thêm bớt, làm sai lệch chương trình dạy học
Dạy đúng, dạy đủ chương trình được thể hiện qua hoạt động dạy của giáo viên: Soạn bài, lên lớp, ôn tập, kiểm tra, tổ chức các hình thức học tập ngoài giờ…
Muốn thực hiện tốt điều này thì đòi hỏi người CBQL phải:
- Tổ chức cho GV học tập nắm vững những nguyên tắc cấu tạo chương trình, nội dung và phạm vi kiến thức dạy học của từng khối lớp, từng lớp, từng môn học mà GV sẽ giảng dạy
- Yêu cầu GV xây dựng chương trình giảng dạy lớp học, môn học do mình đảm nhiệm Bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng môn học, bài học, tiết học
và việc điều chỉnh nội dung dạy học thực hiện theo công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01/9/2011 về việc Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học các môn học cấp Tiểu học
- Nắm vững phương pháp dạy học của từng môn học, từng khối lớp trong cấp học
- Không được giảm nhẹ, nâng cao hoặc mở rộng so với yêu cầu nội dung, phạm vi kiến thức quy định của từng chương trình môn học
- Phương pháp dạy đặc trưng của bộ môn, của bài học phù hợp với từng loại lớp học, từng loại bài của cấp học
- Vận dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau, kết hợp giữa các hình thức dạy học trên lớp, ngoài lớp, thực hành, tham quan… một cách hợp lý
- Dạy học và coi trọng tất cả các môn học theo quy định của phân phối chương trình - nghiêm cấm việc cắt xén, dồn ép bài học, thêm bớt tiết học với
Trang 29bất cứ môn học nào, lớp học nào, dưới bất kỳ hình thức nào
- Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện chương trình dạy học thông qua lịch báo giảng, thời khoá biểu của từng khối lớp, từng lớp
Để việc thực hiện chương trình dạy học đạt kết quả, đảm bảo thời gian cho việc thực hiện chương trình dạy học, CBQL phải chú ý sử dụng thời khoá biểu như là công cụ để theo dõi, điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình dạy học, để thường xuyên, kịp thời điều chỉnh những lệch lạc trong quá trình thực hiện chương trình dạy học Bên cạnh đó, nhà trường cần trang bị đầy đủ sách giáo khoa, sách bài tập và một số sách tham khảo cho giáo viên Đối với học sinh, nhà trường yêu cầu phụ huynh học sinh phải mua
đủ bộ sách giáo khoa, sách bài tập của năm học và khuyến khích mua một số sách tham khảo Chất lượng dạy học không thể cao nếu như không có đủ sách giáo khoa cho cả thầy và trò
* Soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp
Soạn bài là khâu quan trọng nhất trong việc chuẩn bị của GV cho giờ lên lớp, tuy nó chưa dự kiến hết các tình huống trong quá trình lên lớp nhưng soạn bài thực sự là lao động sáng tạo của từng GV Giáo án chính là công cụ làm việc không thể thiếu của người GV, nó là bản thiết kế cụ thể cho từng giờ lên lớp Nội dung giáo án xác định rõ mục đích yêu cầu của bài dạy về nội dung tri thức, kỹ năng, thái độ đối với học sinh sau khi học xong bài học đó, đồng thời cũng nêu rõ các hoạt động dạy học, các PPDH sẽ sử dụng, các hình thức tổ chức dạy học và thời gian cụ thể cho từng hoạt động trong từng tiết học, từng môn học
Soạn bài và chuẩn bị lên lớp phải đảm bảo những yêu cầu cần thiết là:
- Đảm bảo tính tư tưởng, tính giáo dục của bài giảng
- Thực hiện soạn bài phải đúng quy chế, soạn bài chu đáo trước khi lên lớp, chống việc soạn bài để đối phó với kiểm tra
- Đảm bảo nội dung, tri thức khoa học mang tính giáo dưỡng Đưa việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp vào nề nếp, nghiêm túc và phải đảm bảo chất lượng
- Chỉ đạo không rập khuôn máy móc, đảm bảo và khuyến khích tính tích cực, tự giác và sáng tạo của GV
Trang 30Để soạn bài chuẩn bị lên lớp của GV có thể thực hiện theo một kế hoạch đồng bộ và có hiệu quả, CBQL nhà trường cần phải phân công trách nhiệm cụ thể cho cán bộ giáo viên trong nhà trường, tạo mọi điều kiện để họ thực hiện tốt việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, có kế hoạch thường xuyên kiểm tra, theo dõi để khuyến khích kịp thời, đồng thời điều khiển những sai lệch nhằm thực hiện đúng những quy định đề ra
* Giờ lên lớp của giáo viên
Hoạt động dạy học ở trường Tiểu học được thực hiện chủ yếu là bằng hình thức dạy học trên lớp với những bài dạy, những giờ lên lớp Giờ lên lớp thực chất là quá trình tổ chức nhận thức cho học sinh, là một tập hợp gắn bó chặt chẽ với nhau với những phương pháp, phương tiện và kỹ thuật giúp học sinh tự tìm ra kiến thức Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học
và người quyết định chất lượng giờ lên lớp lại chính là giáo viên Giờ lên lớp của GV phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu là:
- Xây dựng được “chuẩn” giờ lên lớp của GV Chuẩn này, ngoài những quy định chung của ngành như Thông tư số 28/2009/TT-BGDĐT ngày 21/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, cần thường xuyên bổ sung, điều chỉnh để thể hiện được sự tiến bộ chung của trường và của GV
- Phải xây dựng nề nếp giờ lên lớp cho thầy và trò nhằm đảm bảo tính nghiêm túc trong mọi hoạt động hết sức nhịp nhàng của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
- Phải tác động đến giờ lên lớp một cách tích cực và càng trực tiếp càng tốt để mọi giờ lên lớp góp phần thực hiện mục tiêu
- Phải yêu cầu cụ thể từng đối tượng thực hiện đầy đủ, nghiêm túc những quy định của nhà trường, thực hiện nghiêm túc quy chế có liên quan đến giờ lên lớp
Để đảm bảo được những yêu cầu giờ lên lớp, CBQL nhà trường cần quy định rõ chế độ thực hiện và kiểm tra, sử dụng thời khóa biểu nhằm kiểm soát các giờ lên lớp, duy trì nề nếp dạy học, điều khiển nhịp điệu dạy học và
Trang 31tạo nên bầu không khí sư phạm trong nhà trường
* Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
So với chương trình Tiểu học trước năm 2000, chương trình sách giáo khoa Tiểu học mới có rất nhiều thay đổi về nội dung Sự thay đổi này nhằm đưa giáo dục Tiểu học Việt Nam tiếp cận với sự tiến bộ về khoa học công nghệ tiên tiến của các nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới Chương trình này
có lượng thông tin phong phú, mang tính thời sự, hiện đại Nội dung thay đổi, do
đó PPDH cần phải có sự đổi mới thì mới phù hợp với thay đổi nội dung dạy học Nếu cứ sử dụng các PPDH truyền thống thì khó có thể đáp ứng được yêu cầu mà
xã hội đặt ra cho ngành giáo dục đó là nâng cao chất lượng giáo dục và nhất là trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đã, đang và sẽ quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết số 29-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI
ngày 04/11/2013 về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Do vậy, vấn đề
đổi mới PPDH là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong nhà trường Tiểu học Tuy nhiên, vấn đề đổi mới PPDH ở đây không có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống thay vào đó là các PPDH mới mà là đổi mới cách sử dụng phương pháp, cách lựa chọn, phối hợp các phương pháp Để chỉ đạo tốt việc thực hiện đổi mới PPDH trong trường Tiểu học, người CBQL cần hướng GV vào đổi mới PPDH hiện nay theo các định hướng sau:
- Phát huy tính tích cực, chủ động, hứng thú trong học tập của học sinh
và vai trò chủ đạo của GV
- Bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình
- Thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lý hoạt động của thầy và trò Thiết kế hệ thống câu hỏi hợp lý, tập trung vào trọng tâm, tránh nặng nề, quá tải
- Sử dụng hợp lý sách giáo khoa khi giảng bài trên lớp, tránh tình trạng yêu cầu học sinh ghi chép quá nhiều theo lối đọc - chép
- Dạy học sát đối tượng, coi trọng bồi dưỡng học sinh khá giỏi và giúp
đỡ học sinh yếu kém
Trang 32- Giáo viên sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động, dễ hiểu, tác phong thân thiện, khuyến khích học sinh học tập, tổ chức hợp lý cho học sinh làm việc cá nhân và theo nhóm
- Tăng cường ứng dụng CNTT trong dạy học, thực hiện đầy đủ thí nghiệm, thực hành, liên hệ thực tế phù hợp với nội dung bài học
* Đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh được tồn tại đồng thời với quá trình dạy học, đó là quá trình thu nhập và xử lý thông tin về trình độ
và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợp giúp học sinh học tiến bộ Qua việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh của GV, người quản lý sẽ nắm bắt được chất lượng dạy và học ở từng giáo viên một, nó vừa là cơ sở để đánh giá quá trình
và hiệu quả của người dạy lẫn người học
Việc kiểm tra đánh giá kết quả của học sinh, là việc làm hết sức cần thiết của CBQL trong nhà trường nhằm tác động trực tiếp đến GV thực hiện đầy đủ và chính xác quá trình kiểm tra đánh giá, thúc đẩy quá trình nâng cao hiệu quả dạy học theo mục tiêu Hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phải đạt được những yêu cầu cơ bản sau đây:
- Phải thực hiện nghiêm chỉnh quy chế chuyên môn trong nhà trường thông qua đánh giá chất lượng học của học sinh và giảng dạy của GV, từ đó rút ra được những vấn đề cần phải điều chỉnh, uốn nắn và bổ sung, giúp cho người quản lý chỉ đạo hoạt động này một cách đầy đủ, chặt chẽ hơn
- Phải thực hiện đầy đủ nghiêm túc các văn bản hướng dẫn về đánh giá xếp loại học sinh theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về đánh giá học sinh Tiểu học, được áp dụng kể từ ngày 15/10/2014 Thông tư này thay thế Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT ngày 27/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh Tiểu học
- Phải đánh giá xếp loại học sinh một cách công bằng chính xác, tránh những biểu hiện không đúng trong việc đánh giá xếp loại học sinh Trong quá
Trang 33trình thực hiện, Hiệu trưởng cần phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đối tượng như Hiệu phó chuyên môn, Tổ trưởng và GV, yêu cầu họ lập kế hoạch kiểm tra đánh giá học tập một cách đầy đủ theo yêu cầu của chương trình Đồng thời, Hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra, xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng để đảm bảo công việc đã đề ra, từng bước nâng cao chất lượng toàn diện của quá trình dạy học
* Hồ sơ chuyên môn của giáo viên
Hồ sơ chuyên môn của GV là phương tiện phản ánh quá trình quản lý
có tính khách quan và cụ thể, giúp CBQL nắm chắc hơn, cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của GV
Có thể nói hồ sơ chuyên môn của GV là một trong những cơ sở pháp lý để nói lên việc thực hiện nề nếp chuyên môn, việc chuẩn bị, đầu tư cho công việc của
GV Nhưng hồ sơ chuyên môn của GV không thể xem đồng nghĩa với năng lực giảng dạy của GV trên lớp Nó chỉ là điều kiện cần chứ không phải đủ
Hồ sơ của GV phục vụ cho hoạt động dạy theo Điều 30.2 của Điều lệ trường Tiểu học bao gồm các loại hồ sơ sau [9]:
- Giáo án (bài soạn)
- Các loại sổ: Sổ ghi chép sinh hoạt chuyên môn, sổ dự giờ, sổ chủ nhiệm (đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp), kế hoạch giảng dạy bộ môn, sổ theo dõi chất lượng, sổ công tác
- Các loại sách: Sách giáo khoa, sách hướng dẫn, phân phối chương trình, các tài liệu tham khảo
Trong quá trình quản lý, Hiệu trưởng cần hướng dẫn cụ thể yêu cầu của từng loại hồ sơ, cùng với Hiệu phó chuyên môn và Tổ trưởng chuyên môn thường xuyên kiểm tra bằng nhiều hình thức khác nhau để kịp thời điều chỉnh những sai lệch trong hoạt động dạy và học
Tóm lại: Hoạt động dạy của thầy là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học, đòi hỏi các cấp quản lý và GV phải hiểu hết nội dung, yêu cầu, mục tiêu để đưa ra những quyết định, xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện vừa mang tính nghiêm chỉnh, chính xác nhưng lại vừa mềm dẻo linh hoạt
Trang 34để đưa hoạt động dạy của thầy vào nề nếp kỷ cương nhưng vẫn phát huy được khả năng sáng tạo khoa học của GV trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình 1.3.2.2 Hoạt động học tập của học sinh
Hoạt động học tập của HS là một hoạt động song song tồn tại cùng với hoạt động dạy học của thầy giáo Phải làm cho HS có động cơ và thái độ đúng đắn trong học tập, rèn luyện, ham thích đến trường đến lớp, ham học các môn học không chỉ riêng ở lĩnh vực tự nhiên mà còn ở cả lĩnh vực xã hội Tự giác tìm tòi phát hiện vấn đề, chủ động lĩnh hội kiến thức, biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục Phải tổ chức hướng dẫn HS học tập, giúp HS học tập có phương pháp, nắm được các phương pháp học của từng bộ môn, làm cho HS
có nền nếp thói quen học tập tốt, làm cho hoạt động học tập của nhà trường có
kỷ luật trật tự Kết quả kiểm tra, xếp loại phản ánh được khả năng học tập của
HS Kết quả này phải giúp cho HS nhận ra mặt mạnh, mặt còn hạn chế để vươn lên, đồng thời giáo dục cho HS tính trung thực trong học tập và trong cuộc sống Hoạt động học tập của HS được thực hiện đầy đủ, toàn diện mang tính giáo dục cao Nội dung cơ bản bao gồm:
- Giáo dục phương pháp học tập của học sinh
Phương pháp học tập là hệ thống các cách sử dụng hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của HS Vì vậy, việc giáo dục phương pháp học tập cho HS cần phải đạt được những yêu cầu cụ thể là:
- Làm cho HS nắm được kỹ năng chung của hoạt động học tập
- Làm cho HS có kỹ năng học tập phù hợp với từng bộ môn
- Giúp cho HS có phương pháp học tập ở trên lớp và ở nhà
Để đạt được những yêu cầu trên, CBQL phải vạch ra kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện học tập nghiên cứu, bồi dưỡng để toàn thể GV trong nhà trường nắm vững và thống nhất các phương pháp học tập cũng như trách nhiệm của các đối tượng thông qua việc hướng dẫn phương pháp học tập cho
HS Bên cạnh đó, CBQL phải thường xuyên kiểm tra đôn đốc, điều chỉnh uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai lệch nhằm thực hiện có hiệu quả việc giáo dục phương pháp học tập cho HS
Trang 35- Nền nếp học tập của học sinh
Nền nếp học tập, kỷ luật học tập của HS là những điều quy định cụ thể
về tinh thần thái độ hành vi ứng xử nhằm làm cho hoạt động học tập được nhịp nhàng và có hiệu quả Nền nếp học tập sẽ quyết định nhiều đến kết quả học tập Vì vậy, cần phải xây dựng và hình thành được những nề nếp học tập sau đây:
- Tinh thần, thái độ học tập tốt, chuyên cần, chăm chỉ, có nề nếp học bài và làm bài đầy đủ
- Nề nếp tổ chức hoạt động ở trường cũng như ở nhà và ở những nơi hoạt động văn hóa
- Nề nếp sử dụng, bảo quản và sử dụng đồ dùng học tập
- Nề nếp về khen thưởng và kỷ luật sự chấp hành nội quy học tập
Nề nếp học tập tốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Vì vậy, CBQL nhà trường cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra, nhận xét tình hình thực hiện nề nếp và phân công trách nhiệm cụ thể cho các đối tượng để phối hợp thực hiện tạo ra bầu không khí thuận lợi cho sự giáo dục của nhà trường
- Học tập, vui chơi, giải trí
Yêu cầu quan trọng đối với nhà trường trong các hoạt động học tập vui chơi giải trí được tổ chức một cách hợp lý, phù hợp với tâm lý và sức khỏe của HS CBQL phải cân nhắc, tính toán cân đối để điều khiển các hoạt động hàng tháng, học kỳ, cả năm học để tránh tình trạng lôi kéo HS vào những hoạt động, phong trào một cách tùy tiện, bất thường, gián đoạn học tập của HS,
xáo trộn chương trình và kế hoạch hoạt động của nhà trường
- Đánh giá kết quả học tập của học sinh
Đánh giá kết quả học tập của HS là yêu cầu cần thiết trong quá trình dạy và học cũng như trong quản lý Đánh giá thường xuyên hay định kỳ bằng điểm số hay là những lời nhận xét cho HS phải được cập nhật đúng tiến độ theo quy định GV đánh giá và nhận xét chính xác, có theo tinh thần đổi mới
“vì sự tiến bộ của người học”, phát hiện và chỉ ra hướng khắc phục sửa chữa những lỗi của HS thường hay mắc phải Căn cứ vào sổ theo dõi chất lượng
Trang 36giáo dục, việc dự giờ thăm lớp CBQL, GVCN lớp, giáo viên bộ môn phân tích, đánh giá kết quả học tập của HS thường xuyên trong tháng Nội dung cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu là:
- Tình hình thực hiện nền nếp học tập, tinh thần thái độ học tập, sự chuyên cần và kỷ luật HS
- Chất lượng học tập của HS trong các môn học, các yêu cầu, các kỹ năng đạt được của HS qua các môn học
Những kết luận sau khi đã qua phân tích sẽ chính là những thông tin phản hồi để CBQL thấy rõ thêm hoạt động dạy học, trên cơ sở đó có những quyết định quản lý kịp thời, chính xác
- Phối hợp các lực lượng giáo dục quản lý hoạt động học tập của HS
CBQL trong nhà trường cần phải tổ chức phối hợp tốt giữa GVCN, Tổng phụ trách Đội và gia đình học sinh nhằm đưa hoạt động học tập của HS vào nề nếp chặt chẽ từ trong trường, lớp cho đến gia đình Trong sự phối hợp này, đặc biệt chú ý đến hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh trong nhà trường Thông qua các hoạt động tập thể giúp cho các em có tinh thần tích cực, phát huy được vai trò tự giác, tự quản các công việc trong mỗi HS, đồng thời thông qua hoạt động, cần động viên khích lệ kịp thời tinh thần học tập và
sự tiến bộ của các em một cách thường xuyên, nhằm thúc đẩy sự vươn lên, nâng cao chất lượng học tập theo yêu cầu, mục tiêu Sự phối kết hợp với gia đình học sinh trong việc quản lý hoạt động học tập của HS là rất cần thiết Phải thống nhất được với gia đình các biện pháp giáo dục, thông tin qua lại kịp thời về tình hình học tập và rèn luyện đạo đức của HS
Như vậy, hoạt động học tập của HS là một trong những hoạt động đặc biệt quan trọng, không thể thiếu trong quá trình dạy và học Nếu tổ chức và quản lý tốt hoạt động này thì sẽ tạo được cho HS ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện, các
em có thái độ, động cơ học tập đúng đắn, từ đó góp phần và quyết định hiệu quả của các hoạt động dạy và học nói riêng và thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung
1.3.2.3 Sinh hoạt chuyên môn
SHCM là một hoạt động nhằm bồi dưỡng CMNV, năng lực sư phạm
Trang 37cho người GV nói chung và GV cấp Tiểu học nói riêng, để góp phần tháo gỡ những khó khăn trong quá trình giảng dạy và thực hiện nhiệm vụ năm học Nội dung SHCM là những vấn đề về thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục HS, thực hiện các văn bản chỉ đạo, thực thi nhiệm vụ năm học và các yêu cầu mang tính thực tiễn được mang ra thảo luận, phân tích dưới nhiều góc độ
và rút ra những kết luận sư phạm, những biện pháp khả thi có thể vận dụng vào thực tiễn, từ đó nâng cao trình độ CMNV của GV nhằm góp phần bồi dưỡng GV theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học Theo quy định, SHCM được thực hiện hàng tuần ở tất cả các nhà trường Nó có thể được tổ chức tại mỗi nhà trường hoặc cụm trường SHCM trong nhà trường hiện nay được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó hai hình thức: Tổ chức theo các chuyên đề và dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học là chủ yếu và thường xuyên hơn
Ở hình thức thứ nhất, SHCM bao gồm việc triển khai học tập các văn bản chỉ đạo về chuyên môn của cấp trên, tập huấn PPDH và thường do Ban giám hiệu (BGH) triển khai Với hình thức thứ hai là dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học, nhà trường tổ chức thường xuyên hơn Trong mỗi buổi dự giờ có sự tham gia của BGH, tổ trưởng và hầu hết GV trong tổ Sau dự giờ tổ chuyên môn tiến hành thảo luận rút kinh nghiệm và đánh giá xếp loại tay nghề GV dạy
Cả hai hình thức trên nhiều trường đã thực hiện khá tốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS Tuy vậy, SHCM hiện nay còn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập cần phải thay đổi Đó là, chất lượng các buổi SHCM chưa cao, chưa thu hút sự tham gia tích cực của đội ngũ GV Nội dung sinh hoạt chuyên đề chưa được chú trọng, nhất là việc phổ biến áp dụng các SKKN còn nhiều hạn chế Các báo cáo chuyên đề, SKKN được nghiệm thu xong để đấy Đối với công tác
dự giờ và đặc biệt là việc trao đổi rút kinh nghiệm tiết dạy GV cũng không mấy hứng thú nên buổi thảo luận thường trầm lắng, ít ý kiến phát biểu
Vậy làm thế nào để qua mỗi buổi SHCM từng GV sẽ học tập được một điều gì hữu ích cho CMNV của mình? Làm thế nào để SHCM trở thành “món
Trang 38ăn tinh thần” không thể thiếu của mỗi thầy cô giáo? Làm thế nào để SHCM mang lại hiệu quả thiết thực nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và mang lại hiệu quả học tập cho HS, nâng cao chất lượng giáo dục?
Chính vì vậy, những năm gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chú trọng cải tiến cách SHCM hướng tới việc phát triển năng lực chuyên môn cho đội ngũ GV và nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường Từ năm học 2006 -
2007 mô hình SHCM theo nghiên cứu bài học được triển khai thí điểm tại các trường học của tỉnh Bắc Giang đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Mô hình này đã được triển khai rộng rãi tới trường Tiểu học từ năm học 2014 - 2015
SHCM theo nghiên cứu bài học là hoạt động GV cùng nhau học tập từ thực tế việc học của HS Ở đó, GV cùng nhau thiết kế kế hoạch bài học, cùng
dự giờ, quan sát, suy ngẫm và chia sẻ (tập trung chủ yếu vào việc học của HS) bài học Đồng thời, đưa ra những nhận xét về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các nhiệm vụ học tập mà GV đưa ra có ảnh hưởng đến việc học của
HS Trên cơ sở đó, GV được chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung, PPDH vào bài học hằng ngày một cách hiệu quả SHCM theo hướng nghiên cứu bài học không nhằm đánh giá, xếp loại giờ dạy mà ở
đó GV được khuyến khích học tập lẫn nhau, cùng nhau tìm nguyên nhân tại sao HS học/không học, đồng thời đề xuất các biện pháp giúp tất cả HS học tập thực sự, qua quá trình đó GV sẽ có khả năng tự điều chỉnh nội dung, PPDH một cách linh hoạt, phù hợp với đối tượng HS của lớp mình
Mục đích, ý nghĩa của SHCM theo nghiên cứu bài học là:
- Tạo cơ hội cho tất cả HS học tập và phát triển, đặc biệt những HS có khó khăn về học tập
- Xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong nhà trường (CBQL-GV, GV-GV, GV-HS, HS-HS) trên cơ sở cùng cộng tác, học hỏi để phát triển Đồng thời, tạo môi trường làm việc dân chủ, thân thiện, hướng tới sự phát triển cho các thành viên trong nhà trường Từ đó, góp phần đổi mới quan trọng đến nhà trường
Trang 39- Giúp GV giải quyết những vấn đề khó khăn gặp phải từ thực tiễn trong việc giảng dạy của chính bản thân họ Ở đó, GV giữ vai trò là người cải cách, nhà quan sát, tự đánh giá thực tiễn công việc của mình và là nhà nghiên cứu phát triển
Để việc SHCM trong nhà trường đi đúng hướng, đạt được mục tiêu thì cần thiết phải quản lý, chỉ đạo nội dung này một cách khoa học, chặt chẽ và
có những biện pháp quản lý khả thi nhất phù hợp điều kiện thực tế về đội ngũ
GV, tình hình HS trong môi trường sư phạm của nhà trường Đồng thời, phải đảm bảo được các nguyên tắc chung về quản lý, về kỹ thuật và xây dựng, thực thi kế hoạch hoạt động Cụ thể là:
* Nguyên tắc chung về quản lý
- Coi SHCM là trụ cột, là chính sách quan trọng nhất
- Hiểu rõ và tin tưởng ý nghĩa, tầm quan trọng và cùng nhau nhất trí quyết tâm thực hiện; cùng được tham gia và thực hiện đúng kỹ thuật
- Có sự hỗ trợ cụ thể, thường xuyên từ các cấp quản lý
- Vận dụng, trải nghiệm những ý tưởng sáng tạo, những hiểu biết mới
- Thực hiện theo 2 giai đoạn và thực hiện liên tục đó là: Thứ nhất, là hình thành cách dự giờ, suy ngẫm mới, xây dựng quan hệ đồng nghiệp mới Thứ hai, là tập trung phân tích các nguyên nhân, các mối quan hệ trong giờ học và tìm ra biện pháp cải tiến và nâng cao chất lượng bài học
* Nguyên tắc chung về kỹ thuật
- Khuyến khích sự chủ động tìm tòi, sáng tạo của tất cả các GV khi chuẩn bị bài dạy minh họa và áp dụng vào việc dạy học hàng ngày
- Ai cũng phải có ý kiến riêng; ý kiến phải cụ thể, tỉ mỉ; lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhau; không xếp loại giờ dạy; không phê bình, chỉ trích
- Chỉ quan sát suy ngẫm về việc học và các vấn đề liên quan đến việc học của HS
* Xây dựng và thực thi kế hoạch hoạt động
Mỗi buổi SHCM cần thực hiện đầy đủ theo 4 bước:
Bước 1 Chuẩn bị bài dạy minh họa
Trang 40Phân công người dạy, chuẩn bị bài dạy Yêu cầu đối với bài dạy minh họa là phải có sự sáng tạo
Bước 2 Tiến hành bài học và dự giờ
Là bước để GV dạy minh họa bài học và các GV dự giờ, thu thập thông tin để chuẩn bị cho việc suy ngẫm và chia sẻ Lưu ý vị trí dự giờ, khi dự giờ phải tập trung vào việc học của HS và có thể kết hợp quay video bài học
Bước 3 Suy ngẫm và thảo luận về bài học
Suy ngẫm và chia sẻ ý kiến của các GV về bài học sau khi dự giờ là đặc biệt quan trọng, là công việc có ý nghĩa quan trọng nhất trong SHCM, là yếu
tố quyết định chất lượng và hiệu quả của SHCM Vì suy ngẫm gắn liền với thảo luận và chia sẻ ý kiến Các ý kiến đưa ra nhiều hay ít, tinh tế và sâu sắc hay hời hợt và nông cạn sẽ quyết định hiệu quả học tập, phát triển năng lực của tất những người tham gia SHCM Tuy nhiên, đây là khâu khó và phức tạp nhất nhưng đặc biệt thú vị, rất cần có tinh thần cộng tác, xây dựng của người tham gia và đặc biệt là vai trò, năng lực của người chủ trì
Suy ngẫm khác đánh giá ở chỗ không có tiêu chuẩn và tiêu chí cụ thể nào Suy ngẫm là những phán đoán về những thực tế vừa xảy ra trong giờ dự
và đã từng xảy ra với bản thân người dự giờ (dựa vào năng lực, hiểu biết, kinh nghiệm vốn có để suy ngẫm)
Bước 4 Áp dụng cho thực tế dạy học hàng ngày
Đây là bước làm gián tiếp, không nằm trực tiếp trong quy trình SHCM Tuy nhiên, nó không tách rời việc SHCM, GV sẽ nghiên cứu, vận dụng, kiểm nghiệm những gì đã học và tự đúc rút thêm những vấn đề thắc mắc, băn khoăn Trên cơ sở đó tiếp tục tìm tòi trong SHCM (GV có thể dạy lại bài học đó, chuẩn bị bài minh họa tiếp theo) hoặc áp dụng các giờ dạy hàng ngày của mình
Trong quá trình thực hiện bước 4 cần chú ý đến các nguyên tắc đổi mới bài học hàng ngày: Ngừng truyền thụ kiến thức bằng phương pháp truyền thống;
Áp dụng học tập cộng tác; Sử dụng đồ dùng học tập thực tế; Học tập “cùng nhảy” (trong các nhóm nhỏ gồm ba hay bốn HS); Học tập vươn tới; Chia sẻ ý tưởng