1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm lâm học và khả năng tích lũy cacbon của các lâm phần mỡ (manglietia conifera blume) tại huyện mường lát, tỉnh thanh hóa

110 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới như: Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới World Agroforestry Centre, 2006, Anon 1996 đã nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Vối thuốc Schima

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học và khả năng tích lũy các bon của các lâm phần Mỡ (Manglietia conifera Blume) tại

huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Nếu công trình nghiên cứu của tôi trùng lập với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Hà nội, ngày tháng năm 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học và khả năng tích lũy các bon của các lâm phần Mỡ (Manglietia conifera Blume) tại huyện Mường Lát, tỉnh

Thanh Hóa” được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam theo

chương trình đào tạo Cao học Lâm sinh, chuyên ngành Lâm học khoá 23 (2015 – 2017)

Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa lâm học, Phòng Sau đại học và các thầy cô giáo đã hỗ trợ và tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả xin chân thành cám ơn lãnh đạo cơ quan, thuộc UBND huyện, UBND xã Mường Lý, huyện Mường Lát đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn, tác giả đã được sự giúp đỡ, hướng dẫn, giảng dạy tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Bùi Thế Đồi Qua đây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất

Mặc dù có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn, song do mới tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót

mà bản thân chưa nhận thấy Tác giả rất mong được sự góp ý của quý Thầy,

Cô giáo để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

1.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài cây 3

1.1.2 Nghiên cứu vế sinh khối 6

1.1.3 Nghiên cứu về khả năng tích lũy carbon 9

1.2 Tình hình nghiên cứu ở việt nam 14

1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài cây 14

1.2.2 Nghiên cứu về sinh khối 17

1.2.3.Nghiên cứu xác định khả năng tích lũy carbon của rừng ở Việt Nam 18

1.3 Nghiên cứu về cây mỡ 20

1.3.1 Đặc điểm hình thái, sinh thái: 21

1.3.2 Giá trị sử dung gỗ Mỡ 22

1.4 Nhận xét chung: 25

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 27

2.1.1 Mục tiêu lý luận 27

2.1.2 Mục tiêu thực tiễn 27

Trang 4

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: 27

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu: 27

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, vật hậu loài Mỡ tại KVNC 28

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố loài Mỡ tại KVNC 28

2.3.3 Nghiên cứu về sinh trưởng rừng trồng Mỡ 28

2.3.4 Xác định trữ lượng Carbon của rừng Mỡ và dự toán giá trị thương mại CO2 từ rừng trồng Mỡ tại huyện Mường lát, tỉnh Thanh Hóa: 28

2.3.5 Đề xuất một số biện pháp phát triển rừng Mỡ tại KVNC 28

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 28

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 30

2.4.3 Phương pháp xử lý nội nghiệp 32

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 35

3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 35

3.1.1 Vị trí, ranh giới, diện tích: 35

3.1.2 Đặc thù địa hình 35

3.1.3 Khí hậu, thủy văn: 36

3.1.4 Tài nguyên rừng, thảm thực vật và hiện trạng đất rừng và đất sản xuất nông nghiệp: 37

3.2 Thực trạng về kết cấu hạ tầng 38

3.2.1 Giao thông 38

3.2.2 Thuỷ lợi 39

3.2.3 Hệ thống cấp điện 39

3.2.4 Chợ nông thôn 39

Trang 5

3.3 THỰC TRẠNG VỀ VĂN HOÁ-XÃ HỘI 41

3.3.1 Giáo dục 41

3.3.2 Y tế: 42

3.4 Đánh giá thực trạng kinh tế xã hội của huyện Mường Lát 42

3.4.1 Nguồn nhân lực 42

3.5 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế-xã hội 43

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

4.1 Đặc điểm hình thái, vật hậu loài mỡ tại khu vực nghiên cứu 44

4.1.1 Đặc điểm hình thái 44

4.1.2 Vật hậu 46

4.2 Đặc điểm sinh thái và phân bố loài mỡ tại mường lát, thanh hóa 49

4.2.1 Đặc điểm hoàn cảnh rừng nơi có loài Mỡ phân bố tự nhiên 49

4.2.2 Đặc điểm phân bố của loài Mỡ theo đai cao, trạng thái rừng 51

4.2.3 Đặc điểm quần xã thực vật rừng nơi có loài Mỡ phân bố tự nhiên tại Mường Lát 51

4.3 Đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng của loài cây mỡ tại 3 vị trí địa hình khác nhau 56

4.3.1 Sinh trưởng về đường kính ngang ngực (D1.3) 56

4.3.2 Sinh trưởng chiều cao vút ngọn (HVN) của Mỡ trông thuần loài đều tuổi 58 4.3.3 Sinh trưởng chiều cao dưới cành (Hdc) và Đường kính tán lá (Dt) của cây Mỡ trồng thuần loài đều tuổi 60

4.3.4 Đánh giá chất lượng rừng trồng thuần loài Mỡ 63

4.4 Xác định sinh khối và khả năng hấp thụ co2 của rừng mỡ tại mường lát, thanh hoá 65

4.4.1 Xác định sinh khối rừng Mỡ trồng thuần loài đều tuổi 65

4.4.2 Xác định khả năng tích lũy carbon 67

Trang 6

4.3.4 Xác định giá trị thương mại hấp thụ CO2 từ rừng Mỡ tại huyện Mường

Lát, tỉnh Thanh Hóa 69

4.5 Đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển diện tích cây mỡ tại huyện mường lát 69

4.5.1 Giải pháp kỹ thuật 70

4.5.2 Giải pháp về kinh tế 70

4.5.3 Giải pháp về xã hội 71

KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 72

1 Kết luận 72

1.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của loài Mỡ tại Mường Lát, Thanh Hóa: 72

1.2 Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng của loài cây Mỡ tại 3 vị trí địa hình khác nhau 73

1.3 Đánh giá chất lượng rừng trồng thuần loài Mỡ 74

1.4 Sinh khối của rừng Mỡ 74

1.5 Lượng carbon tích lũy trong rừng Mỡ 74

1.6 Giá trị thương mại CO2 từ rừng Mỡ tại huyện Mường Lát 74

2 Tồn tại 74

3 Khuyến nghị 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đối khí hậu

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

4.1 Một số chỉ tiêu khí hậu, thời tiết của khu vực nghiên cứu 46

4.2 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao rừng tự nhiên nơi có Mỡ phân

bố ở xã Mường Lý, Mường Lát, độ cao 500 - 800m 49

4.3 Công thức tổ thành tầng cây cao rừng tự nhiên nơi có

4.4 Cấu trúc mật độ Mỡ trong quần xã thực vật rừng tự nhiên nơi

4.5 Kết quả điều tra ô 6 cây rừng tự nhiên OTC1 51 4.6 Biểu điều tra ÔTC 6 cây rừng trồng OTC2 52 4.7

Sinh trưởng đường kính của rừng trồng Mỡ thuần loài đều

4.8 Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của lâm phần rừng trồng Mỡ

4.9 Sinh trưởng chiều cao dưới cành và đường kính tán của lâm

4.11 Sinh khối khô và trữ lượng Carbon của các lâm phần Mỡ

trồng thuần loài 12 tuổi ở khu vực nghiên cứu 61 4.12 Tổng trữ lượng Carbon trong các lâm phần Mỡ trồng 63

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thực vật có khả năng hấp thụ một khối lượng lớn khí CO2 phát thải vào không khí bởi con người Điều này đã khẳng định vai trò cây xanh trong việc giảm hàm lượng CO2 trong khí quyển Mỗi cây rừng đều có khả năng hấp thụ carbon, nên việc trồng rừng mới và hạn chế suy thoái rừng đều có vai trò lớn trong việc làm giảm hàm lượng CO2 trong khí quyển, từ đó giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu

Cây Mỡ tên khoa học là Manglietia conifera Blume, thuộc họ Ngọc Lan (Magnoliaceae), là loại cây có giá trị và đem lại lợi ích kinh tế cao, đặc biệt

có ý nghĩa với huyện Mường Lát nói chung và các xã còn nhiều khó khăn nói riêng trong kế hoạch xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững của huyện Cây Mỡ được đánh giá là có nhiều đặc tính thuận lợi như phân bố tự nhiên nhiều, dễ gây trồng, sinh trưởng, phát triển tương đối nhanh

Tiềm năng sản xuất cây mỡ lấy gỗ trên địa bàn huyện còn rất lớn Thị trường tiêu thụ tương đối thuận lợi, diện tích có thể trồng được cây Mỡ còn khá nhiều, nếu được đầu tư sẽ trở thành vùng nguyên liệu tốt trong tương lai, đáp ứng nhu cầu sử dụng của các hộ gia đình, cũng như thị trường Ngoài ra

có thể đầu tư trồng rừng Mỡ thành rừng phòng hộ ở các khu vực phù hợp, nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường, hạn chế những tác hại của thiên tai, góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay, đồng thời kết hợp trồng thêm các cây dược liệu dưới tán, sẽ đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân

Tiềm năng kinh tế, xã hội là vậy, tuy nhiên đến nay chưa có một nghiên cứu nào về đặc điểm lâm học, sinh thái, sinh trưởng, diện tích, sản lượng, chất lượng, giá trị kinh tế, khả năng thích nghi và các yếu tố khác của cây Mỡ trên

Trang 11

địa bàn huyện Mường Lát để làm cơ sở đề ra các biện pháp phát triển bền vững, cũng như mở rộng diện tích loài cây này

Đặc biệt là yếu tố tích lũy các bon có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định khối lượng nhằm chi trả các dịch vụ môi trường rừng đang được quan tâm thực hiện hiện nay Ngoài ra, Mường Lát là huyện nằm trong khu vực lưu vực của 6 nhà máy thủy điện đã và đang xây dựng, hiện tại đã có 3 6 nhà máy

đã phát điện Tiến tới nếu yếu tố tích lũy các bon được áp dụng vào diện được chi trả dịch vụ môi trường rừng, sẽ là nguồng động lực không nhỏ để nhân dân huyện Mường Lát thực hiện tốt hơn nữa công tác trồng mở rộng diện tích, cũng như chăm sóc, bảo vệ hiệu quả hơn nữa đối với các loại rừng hiện có trên địa bàn huyện, góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân, nâng cao hiệu quả trong mục tiêu xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững của địa phương, giúp người dân thêm yên tâm sống dựa vào nghề rừng ổn định, lâu

dài Xuất phát từ lý do đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc

điểm lâm học và khả năng tích lũy các bon của các lâm phần Mỡ

(Manglietia conifera Blume) tại huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa”, góp

phần giải quyết những vấn đề tồn tại nêu trên

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 T nh h nh nghiên cứu trên th gi i

Liên quan đến các đặc điểm lâm học, cũng như vẫn đề tích lũy các bon, trên thế giới đã có những nghiên cứu như sau:

1.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài cây

Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó

Tái sinh là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng,

đó là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng Hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố

Odum E.P (1971) [22] đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý

W Lacher (1978) đã chỉ rõ những vấn đề cần nghiên cứu trong sinh thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, độ nhiệt, độ ẩm, nhịp điệu khí hậu Lowdermilk (1927) đã đề ghị sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống để điều tra tái sinh, với diện tích ô

đo đếm từ 1 đến 4 m2 Richards P.W (1952) [23] đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Để

giảm sai số, Barnard (1955) đã đề nghị phương pháp "Điều tra chẩn đoán"

theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh (Dẫn theo Nguyễn Thị Hương Giang, 2009) [10]

Trang 13

Baur G.N (1962) [1] cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng đã làm ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hưởng đó thường không rõ ràng Đối với rừng nhiệt đới, số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp

Baur G.N (1962) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong

đó đi sâu nghiên cứu các nhân tố về cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Catinot (1965) [4], Plaudy J [15] đã nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến,

Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa (1933- 1934) đề sướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan, đến nay phương pháp đó vẫn được sử dụng nhưng nhược điểm là chỉ minh hoạ được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề nhau và đưa lại một hình tượng về không gian 3 chiều

Richards P.W (1968) [16] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thường có nhiều tầng Ông

nhận định: "Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây"

Việc nghiên cứu về cấu trúc rừng đã và đang được chuyển từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học

Trang 14

Rollet B.L (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất Balley (1972) [21] sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông, Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết được những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các phương pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng này không được vận dụng trong đề tài

Từ việc vận dụng các lý luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây Một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới như:

Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996) đã nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Vối thuốc

(Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình thái thân,

lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp cơ sở cho việc gây trồng

và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009) [7] Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á Vối thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng như tại các vùng có khí hậu lạnh Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt Nam (World Agroforestry Centre, 2006) Vối thuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Laos tree seed project, 2006) (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009) [7]

Theo Khamleck (2004), Họ Dẻ có phân bố khá rộng, với khoảng 900 loài chúng được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, song chưa có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi

Trang 15

Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam có tới 216 loài và ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (dẫn theo Trần Hợp, 2002) [33]

Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung Đó là cơ sở để lựa chọn cho hướng nghiên cứu trong luận văn

1.1.2 Nghiên cứu về sinh khối

Sinh khối (Biomass – W) và năng suất rừng là tổng lượng chất hữu cơ của thực vật tích lũy trong hệ sinh thái, là toàn bộ nguồn vật chất và cơ sở năng lượng vận hành trong hệ sinh thái, nó phản ánh chỉ tiêu quan trọng của môi trường sinh thái rừng (Feng, 1999)

Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của cây rừng đến phát thải khí nhà kính chủ yếu người ta dựa vào tăng trưởng sinh khối bình quân hàng năm Phương pháp xác định có ý nghĩa rất quan trọng vì nó liên quan đến độ chính xác của kết quả nghiên cứu, đây cũng là vấn đề được nhiều tác giả quan tâm Tùy từng tác giả với những điều kiện khác nhau mà sử dụng các phương pháp xác định sinh khối khác nhau, trong đó có thể kể đến một số tác giả chính như sau:

- Riley, G.A (1944), Steemann Nielsen, E (1954), Fleming, R.H (1957)

đã tổng kết quá trình nghiên cứu và phát triển sinh khối rừng trong các công trình nghiên cứu và phát triển sinh khối của mình

- P.s Roy, K.G.Saxena và D.S.Kamat (Ấn Độ, 1956) trong công trình:

“Đánh giá sinh khối thông qua viễn thám” đã nêu tổng quát vấn đề sản phẩm sinh khối và việc đánh giá sinh khối của mình

- Một số tác giả như Transnean (1962), Huber (Đức,1952), Monteith (Anh,1960 -1962), Lemon (Mỹ, 1960- 1987) đã dùng phương pháp dioxit

Trang 16

cacbon để xác định sinh khối Theo đó sinh khối được đánh giá bằng cách xác

định tốc độ đồng hóa CO2

- Aruga và Maidi (1963): đưa ra phương pháp “Chlorophyll” để xác

định sinh khối thông qua hàm lượng Cholorophyll trên một đơn vị diện tích

mặt đất Đây là một chỉ tiêu biểu thị khả năng của hệ sinh thái hấp thụ các tia

bức xạ hoạt động quang hợp

- Sinh khối rừng có thế xác định nhanh chóng dựa vào mối liên hệ giữa

sinh khối với kích thước của cây hoặc của từng bộ phận cây theo dạng hàm

toán học Phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở các nước Bắc Mỹ và

Châu Âu (Whittaker,1966; Tritton và Hornbeck,1982: Smith và Brand, 1983)

Tuy nhiên, do khó khăn trong việc thu thập rễ cây, nên phương pháp này chủ

yếu dùng để xác định sinh khối của bộ phận trên mặt đất (Grier và cộng sự,

1989; Reichel,1991; Burton V Barner và cộng sự, 1989)

- Phương pháp lấy mẫu rễ để xác định sinh khối được mô tả bởi

Shurrman và Geodewaaen (1971), Moore (1973), Gadow và Hui (1999),

Oliveira và các cộng sự (2000), Voronoi (2001)

Các nhà sinh thái rừng đã dành sự quan tâm đặc biệt tới việc nghiên

cứu sự khác nhau về sinh khối ở các vùng sinh thái Tuy nhiên, việc xác định

sinh khối một cách chính xác gặp nhiều khó khăn, nên việc làm sáng tỏ vấn

đề trên đòi hỏi nỗ lực hơn nữa mới đưa ra được những dẫn liệu mang tính

thực tiễn và có sức thuyết phục cao Hệ thống lại có ba cách tiếp cận để xác

định sinh khối rừng như sau:

* Tiếp cận thứ nhất: Dựa vào mối liên hệ giữa sinh khối rừng với kích

thước của cây hoặc từng bộ phận thân cây theo dạng hàm toán học nào đó

Hướng tiếp cận này được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và Châu Âu (Whittaker,1966; Tritton và Hornbeck, 1982: Smith và Brand, 1983) Tuy

nhiên gặp khó khăn trong việc thu thập rễ cây, nên hướng tiếp cận này chủ

Trang 17

yếu để xác định sinh khối của bộ phận trên mặt đất (Grier và cộng sự,1989; Reichel, 1991)

* Tiếp cận thứ hai: Xác định sinh khối rừng bằng cánh đo trực tiếp quá

trình sinh lý điểu khiển cân bằng cacbon trong hệ sinh thái Cách này bao gồm việc đo cường độ quang hợp và hô hấp cho từng thành phần trong hệ sinh thái rừng (thân, cành, lá, rễ) sau đó ngoại suy ra lượng CO2 tích lũy trong toàn bộ

hệ sinh thái Các nhà sinh thái rừng thường sử dụng phương pháp này để tính tổng sản lượng nguyên, hô hấp của hệ sinh thái và sinh khối hiện có của nhiều dạng rừng trồng hỗn giao ở Bắc Mỹ (Botkin và cộng sự, 1970; Woodwenll và Botkin, 1970)

* Tiếp cận thứ ba: Được phát triển trong những năm gần đây với sự hỗ

trợ của kỹ thuật vi khí tượng học (Micrometeological techiques) Phương pháp hiệp phương sai dòng xoáy đã cho phép định lượng sự thay đổi của lượng CO2 theo mặt thẳng đứng của tán rừng Căn cứ vào tốc độ gió, hướng gió, nhiệt độ, số liệu CO2 theo mặt thẳng đứng sẽ được sử dụng để dự toán lượng cacbon đi vào và đi ra hệ sinh thái rừng theo định kỳ từng giờ, từng ngày, từng năm Kỹ thuật này áp dụng thành công ở rừng thứ sinh Harward – Massachucds Tổng lượng carbon tích lũy dòng xoáy là 11,1 megagram ha năm tổng lượng cacbon hô hấp của toàn bộ hệ sinh thái là 11,1 megagram ha năm (Wofsy và cộng sự, năm 1993)

Trang 18

Chu trình carbon toàn cầu (Theo UNEP, 2005) 1.1.3 Nghiên cứu về khả năng tích lũy carbon

1 1 3 1 hả năng tích lu carbon

Theo nguồn từ UNEP, trong chu trình carbon toàn cầu, lượng carbon lưu trữ trong thực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2,5 Tt1

(bao gồm trong đất, sinh khối tươi và vật rơi rụng), trong khi đó khí quyển chỉ chứa 0,8

Tt Dòng carbon trao đổi do sự hô hấp và quang hợp của thực vật là 0,61 Tt và dòng trao đổi giữa không khí và đại dương là 0,92 Tt

1

1 terra ton (Tt) = 1012tấn = 10 18

g

Trang 19

Theo chu trình trên, trong tổng số 5,5 Gt 2

- 6,6 Gt lượng carbon thải ra

từ các hoạt động của con người, có khoảng 0,7 Gt được hấp thụ bởi các hệ sinh thái bên trên bề mặt trái đất Và hầu hết lượng carbon trên trái đất được tích lũy trong đại dương và các hệ sinh thái rừng, đặc biệt là rừng mưa nhiệt đới

Từ những nghiên cứu trong lĩnh vực này, Woodwell và Pecan (1973)

đã đưa ra lượng carbon trong các kiểu rừng trên lục địa, trong đó rừng mưa nhiệt đới có lượng carbon tích trữ lớn nhất khoảng 340 tỷ tấn, đất trồng trọt thấp nhất 7 tỷ tấn Điều đó chứng tỏ rằng, việc chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp sẽ làm mất cân bằng sinh thái, gia tăng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính

Các nhà khoa học đã cố gắng xác định quy mô của các vùng dự trữ carbon toàn cầu và sự đóng góp của rừng vào các vùng dự trữ cũng như những thay đổi về lượng carbon được dự trữ như: Bolin (1977); Post, Emanuel và cộng sự (1982); Detwiler và Hall (1988); Brown, Hall và cộng sự (1996); Dixon, Brown (1994); Malhi, Baldocchi (1999)

Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại biến đổi khí hậu do ảnh hưởng của nó đến chu trình carbon toàn cầu (C) Tổng lượng hấp thu dự trữ carbon của rừng trên toàn thế giới, trong đất và thảm thực vật là khoảng

830 PgC, trong đó carbon trong đất lớn hơn 1,5 lần carbon dự trữ trong thảm thực vật (Brown, 1997) Đối với rừng nhiệt đới, có tới 50% lượng carbon dự trữ trong thảm thực vật và 50% dự trữ trong đất (Dixon et al, 1994; Brown, 1997; IPCC, 2000; Pregitzer and Euskirchen, 2004)

Rừng trao đổi carbon với môi trường không khí thông qua quá trình quang hợp và hô hấp Rừng ảnh hưởng đến lượng khí nhà kính theo 4 con

2

1 giga ton (Gt)= 109tấn=10 15

g

Trang 20

đường: carbon dự trữ trong sinh khối và đất, carbon trong các sản phẩm gỗ, chất đốt sử dụng thay thế nguyên liệu hóa thạch (IPCC, 2000) Theo ước tính, hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng trên thế giới có tỷ lệ hấp thu CO2 ở sinh khối trên mặt đất và dưới mặt đất là 0,4 - 1,2 tấn ha năm ở vùng cực bắc, 1,5 - 4,5 tấn ha năm ở vùng ôn đới, và 4-8 tấn ha năm ở các vùng nhiệt đới (Dixon et al., 1994; IPCC, 2000) Brown et al (1996) đã ước lượng, tổng lượng carbon mà hoạt động trồng rừng trên thế giới có thể hấp thụ tối đa trong vòng 55 năm (1995 - 2050) là vào khoảng 60 - 87 Gt C, với 70% ở rừng nhiệt đới, 25% ở rừng ôn đới và 5% ở rừng cực bắc (Cairns et al., 1997) Tính tổng lại, rừng, trồng rừng có thể hấp thu được 11 - 15% tổng lượng CO2 phát thải

từ nguyên liệu hóa thạch trong thời gian tương đương (Brown, 1997)

Tại Philippines, (1999) Lasco R cho thấy ở rừng tự nhiên thứ sinh có 86

- 201 tấn C ha trong phần sinh khối trên mặt đất; ở rừng già con số đó là 370 -

520 tấn sinh khối ha (tương đương 185 - 260 tấn C ha, lượng carbon ước chiếm 50% sinh khối) Nghiên cứu của Lasco năm 2003 cũng cho thấy rừng trồng thương mại cây mọc nhanh tích luỹ được 0,5 - 7,82 tấn C ha năm tuỳ theo loài cây và tuổi

Tại Thái Lan, Noonpragop K đã xác định lượng carbon trong sinh khối trên mặt đất là 72 - 182 tấn ha Còn ở Malaysia, lượng carbon trong rừng biến động từ 100 - 160 tấn ha và tính cả trong sinh khối và đất là 90 - 780 tấn ha (Abu Bakar, R)

Năm 1999, một nghiên cứu về lượng phát thải carbon hàng năm và lượng carbon dự trữ trong sinh quyển được Malhi, Baldocchi thực hiện Theo những tác giả này, sự phát thải từ các hoạt động của con người (như đốt nhiên liệu hoá thạch,…) tạo ra 7,1 ± 1,1 Gt C năm đi vào khí quyển, 46% còn lại trong khí quyển, trong khi đó 2,0 ± 0,8 Gt C năm được chuyển vào đại dương; 1,8 ± 1,6 Gt C năm được giữ trong bể trữ carbon trái đất

Trang 21

Năm 2000, ở Indonesia: Noordwijk đã nghiên cứu khả năng tích luỹ carbon của các rừng thứ sinh, các hệ NLKH và thâm canh cây lâu năm trung bình là 2,5 tấn ha năm và đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa điều kiện xung quanh với loài cây: khả năng tích luỹ carbon này biến động từ 0,5 - 12,5 tấn ha năm, rừng Quế 7 tuổi tích luỹ từ 4,49 - 7,19 kg C/ha

Nghiên cứu lượng carbon lưu trữ trong rừng trồng nguyên liệu giấy, Romain Pirard (2005) đã tính lượng carbon lưu trữ dựa trên tổng sinh khối tươi trên mặt đất, thông qua lượng sinh khối khô (không còn độ ẩm) bằng cách lấy tổng sinh khối tươi nhân với hệ số 0,49, sau đó nhân sinh khối khô với hệ số 0,5 để xác định lượng carbon lưu trữ trong cây

Nhiều phương pháp tính lượng CO2 dự trữ đã được đưa ra như phương pháp của Y Morikawa đã tính khối lượng carbon chiếm 50% khối lượng sinh khối khô, từ lượng carbon suy ra lượng CO2 Phương pháp này đã được Trung tâm Hợp tác Quốc tế và xúc tiến Lâm nghiệp Nhật Bản (JIFPRO) áp dụng Một phương pháp khác được tính theo Viện nghiên cứu Nissho Iwai - Nhật Bản (NIRI)

Nghiên cứu sự biến động carbon sau khai thác rừng một số nhà khoa học đã cho thấy rằng:

- Lượng sinh khối và carbon của rừng nhiệt đới châu Á bị giảm khoảng

22 - 67% sau khai thác (Lasco, 2003)

- Tại Philippines, ngay sau khi khai thác lượng carbon bị mất là 50%,

so với rừng thành thục trước khai thác ở Indonesia là 38 - 75% (Lasco, 2003)

- Phương thức khai thác cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới mức thiệt hại do khai thác hay lượng carbon bị giảm Bằng việc áp dụng phương thức khai thác giảm thiểu (RIL) tác động ở Sabah (Malaysia) sau khai thác một năm, lượng sinh khối đã đạt 44 - 67% so với trước khai thác Lượng carbon trong lâm phần sau khai thác theo RIL cao hơn lâm phần khai thác theo phương thức thông thường đến 88 tấn ha (Putz F.E & Pinard M.A, 1993)

Trang 22

- Quá trình sinh trưởng của cây trồng cũng đồng thời là quá trình tích lũy carbon Theo Noordwijk (2000), ở Indonesia khả năng tích lũy carbon ở rừng thứ sinh, các hệ thống nông lâm kết hợp và thâm canh cây lâu năm trung bình là 2,5 tấn ha năm và có sự biến động rất lớn trong các điều kiện khác nhau từ 0,5 - 12,5 tấn ha năm

155 quốc gia đã ký kết Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) Công ước có hiệu lực năm 1994 tới nay đã có 189 nước kí kết công ước Công ước này sau đó được cụ thể hóa bằng nghị định thư Kyoto năm 1997 nhằm ràng buộc nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính ở các nước công nghiệp phát triển, Nhật Bản tháng 12 năm 1997 Đặc biệt nghị định thư

đã đưa một số cơ chế linh hoạt nhằm giúp cho bên bị ràng buộc bởi các cam kết có thể tìm giải pháp giảm khí phát thải ra bên ngoài phạm vi địa lý của quốc gia mình với chi phí chấp nhận được

Các cơ chế này bao gồm: Cơ chế đồng thực hiện (Jiont Implementation

- JI); Cơ chế buôn bán quyền phát thải (International Emissions Trading - IET); Cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism - CDM) Nghị định thư Kyoto với cơ chế phát triển sạch - CDM - mở ra cơ hội cho các nước đang phát triển trong việc tiếp nhận đầu tư từ các nước phát triển để thực hiện các dự án lớn về trồng rừng, phục hồi rừng, quản lý bảo vệ rừng tự nhiên, hạn chế tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất lâm nghiệp sang đất

Trang 23

nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng nông lâm kết hợp, góp phần phát triển đất nước mình theo hướng bền vững

Mua bán phát thải được định nghĩa trong điều 17 của nghị định thư Kyoto Các bên thuộc Phụ lục I có thể có các đơn vị lượng chỉ định (Assigned amount units), đơn vị giảm phát thải (ERUs), giảm phát thải được chứng nhận (CERs), và các đơn vị khử (RMUs) của các bên khác thuộc Phụ lục I thông qua mua bán phát thải Như vậy, trong các dịch vụ về môi trường mà các nước đang phát triển được hưởng đó là dịch vụ về carbon là một dịch vụ giàu tiềm năng

Với việc triển khai thực hiện REED+

tại nước ta từ 2009 đến nay, đã và đang mở ra cơ hội lớn cho nghành lâm nghệp nước ta phát triển bền vững, nâng cao các giá trị của tài nguyên rừng mang lại Với REED+ việc quản lý, chăm sóc, sử dụng các loại rừng nước ta hiện nay hiệu quả hơn, chú trọng đến vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị của rừng đối với môi trường nhiều hơn thông qua nỗ lực giảm suy thoái rừng, kết hợp quản lý rừng bền vững

1.2 T nh h nh nghiên cứu việt nam

1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài cây

Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài cây bản địa đã có khá nhiều nhưng còn tản mạn, có thể tổng hợp một số thông tin

có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:

Nguyễn Bá Chất (1996) [6] đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa

Trần Minh Tuấn (1997) [20] đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc gia Ba

Vì - Hà Tây (cũ), ngoài những kết quả về các đặc điểm hình thái, tái sinh tự

Trang 24

nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng

về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này

Vũ Văn Cần (1997) [5] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, ngoài những kết luận về các đặc điểm phân bố, hình thái, vật hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần có Chò đãi phân bố, tác giả cũng đã đưa ra những kỹ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài cây Chò đãi

Nguyễn Thanh Bình (2003) [2] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang Với những kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, ngoài những đặc điểm

về hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc và tái sinh tự nhiên của loài, tác giả còn cho rằng phân bố N-H và N-D đều có một đỉnh; tương quan giữa Hvn và

D1,3 có dạng phương trình Logarit

Lê Phương Triều (2003) [19] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài

ra tác giả còn kết luận là: có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân bố N-D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H-D1,3, Dt-D1,3

Vương Hữu Nhi (2003) [14] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học

và kỹ thuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc - Tây Nguyên, từ kết quả nghiên cứu với những kết luận về đặc điểm hình thái, phân bố, cấu trúc, tái sinh tự nhiên, tác giả còn đưa ra những kỹ thuật gây trồng đối với loài cây này

Nguyễn Toàn Thắng (2008) [17] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm

học của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng Tác giả đã có

những kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử

Trang 25

dụng, về tổ thành tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 đến 41 loài, với các loài ưu thế là Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa, Du sam,

Lê Văn Thuấn (2009) đã thực hiện công trình nghiên cứu về đặc điểm

sinh học của loài Vối thuốc răng cưa (Schima superba) tại khu vực Tây

Nguyên Kết quả nghiên cứu đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình thái, vật hậu, sinh thái, cấu trúc tầng cây cao, cấu trúc tầng cây tái sinh, đặc điểm tái sinh, của loài cây này tại khu vực Tây Nguyên [18]

Tóm lại, với những kết quả của những công trình nghiên cứu như trên,

là cơ sở để đề tài lựa chọn những nội dung thích hợp để tham khảo vận dụng trong đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài Mỡ

Trang 26

1.2.2 Nghiên cứu về sinh khối

So với vấn đề nghiên cứu khác trong lĩnh vực Lâm Nghiệp, nghiên cứu

về sinh khối rừng nước ta được tiến hành khá muộn (cuối thập kỷ 80) các công trình còn tản mạn và không hệ thống Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng đem lại những kết quả rất có ý nghĩa và để lại nhiều dấu ấn

Trước hết phải kể đến đóng góp của Nguyễn Hoàng Trí (1986): Với công trình “Sinh khối và năng suất rừng Đước” đã áp dụng phương pháp

“Cây mẫu” Nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quấn xã thực vật rừng Đước (Zhizophora appiculata) rừng ngập mặn ven biển Minh Hải là đóng góp có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và thực tiễn đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển nước ta

Hà Văn Tuệ (1994) cũng trên cơ sở phương pháp “Cây mẫu” của Newboul, P.J (1967) nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng trồng nguyên liệu giấy tại trung du Vĩnh Phúc

Trong công trình nghiên cứu “Đánh giá sinh trưởng, tăng trưởng, sinh

khối và năng suất rừng Thông ba lá (Pinus keysia Royle ex Gordon) vùng Đà

Lạt – Lâm Đồng, Lê Hồng Phúc (1966) đã tìm ra quy luật tăng trưởng sinh khối, cấu trúc thành phần tăng trưởng sinh khối thân cây Tỷ lệ sinh khối khô,tươi và thân,cành, rễ, lượng rơi rụng, tổng sinh khối cá thể và quần thể Thông ba lá Tiếp đó, Nguyên Ngọc Lung và Nguyễn Đình Quế cũng đã nghiên cứu về động thái ,kết cấu sinh khối và tổng sinh khối cho loài cây này

Đặng Trung Tấn (2001) với công trình nghiên cứu “Sinh khối rừng Đước” đã xác định được: Tổng sinh khối khô rừng Đước ở Cà Mau là 327m3 ha, tăng trưởng sinh khối bình quân hành năm là 9500kg ha

Theo Nguyễn Văn Dũng (2005), rừng trồng Thông đuôi ngựa thuần loài 20 tuổi có tổng sinh khối tươi (trong cây và vật rơi rụng) là 321,7 – 495,4 tấn ha, tương đương với lượng sinh khối khô là 173,4 – 266,2 tấn Rừng Keo

Trang 27

là tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối tươi (Trong cây và vật rơi rụng) là 251,1 – 433,7 tấn ha, tương đương với lượng sinh khối khô thân là 132,2 – 223,4 tấn ha

1.2.3 Nghiên cứu ác đ nh khả năng tích lũy carbon c a r ng Vi t Nam

Ở nước ta, vấn đề nghiên cứu khả năng tích luỹ carbon còn rất mới nếu không muốn nói là hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu nào có quy mô đủ lớn Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây, các nghiên cứu về khả năng tích luỹ carbon của các dạng thảm thực vật cũng đã được tiến hành

ở ở một số khía cạnh khác nhau Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào đánh giá lượng carbon tích luỹ ở rừng trồng của một số loài cây trồng rừng chủ yếu như các loài Keo, Mỡ, Thông,… và nghiên cứu lượng carbon tích tụ trong đất dưới tán rừng, carbon có trong cây bụi thảm tươi dưới tán rừng và ngoài chỗ trống Các nghiên cứu này đều nhằm mục tiêu xây dựng cơ sở lí luận cho việc xác định khả năng hấp thụ carbon, trong đó có đường cơ sở cho các dự án trồng rừng CDM và tính toán giá trị khả năng hấp thụ carbon của rừng Tuy mới chỉ dừng lại ở bước đầu thăm dò tạo cơ sở lí luận nhưng những nghiên cứu này đã đạt được những kết quả đáng kể Hiện nay đã có một dự án được Bộ tài nguyên và Môi trường xác nhận ý tưởng để có thể phát triển thành dự án CDM tại Việt Nam Đặc biệt trong thời gian qua, có nhiều bài viết đề cập đến các thông tin về Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto và các nhận xét, ý kiến xung quanh vấn đề

này như:

- “CDM - Cơ hội mới cho ngành Lâm nghiệp” (Cao Lâm Anh, 2005)

- Tài liệu “Nghị định thư yoto, cơ chế phát triển sạch và vận hội mới - 4/2005” của Trung tâm Sinh thái & Môi trường rừng

- “Cơ chế phát triển sạch và cơ hội thương mại Carbon trong Lâm nghiệp” của Phạm Xuân Hoàn (2005)

Trang 28

Trong các tài liệu này các tác giả đã khái quát toàn bộ thông tin về hoàn cảnh ra đời cũng như nội dung, mục tiêu của Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto và đặc biệt quan tâm đến “Cơ chế phát triển sạch” - một cơ hội thương mại lớn cho ngành Lâm nghiệp Bên cạnh đó một số tác giả như Phạm Văn Điển (2004), Vũ Tấn Phương (2004), Ngô Đình Quế (2005), cũng đã đưa ra các phương pháp lượng hoá giá trị thương mại của Carbon về mặt phương pháp luận

Ngô Đình Quế (2003) cùng các cộng sự tiến hành đề tài “Nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí, chỉ tiêu trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam”, trong đó đã xây dựng được bảng đề xuất tiêu chí, chỉ tiêu trồng rừng

theo cơ chế phát triển sạch CDM và bước đầu cũng đánh giá được khả năng hấp thụ CO2 thực tế của một số loại rừng trồng ở Việt Nam như: Thông nhựa, Keo lai, Keo lá tràm và Bạch đàn Uro,… Kết quả đã đánh giá khả năng hấp thụ CO2 của một số loại rừng trồng ở một số tuổi khác nhau, khả năng hấp thụ CO2 thực tế với Thông nhựa, Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm và Bạch đàn Urophylla ở Việt Nam

Nguyễn Ngọc Lung (2004) và Nguyễn Tường Vân đã Thử nghiệm tính toán giá trị giá trị bằng tiền của rừng trồng trong cơ chế phát triển sạch Dựa vào công thức tổng quát của quá trình quang hợp cho rừng cây là:

192

6 162 90

5 264

Nguyễn Văn Dũng (2005) tiến hành nghiên cứu sinh khối và lượng carbon tích luỹ của một số trạng thái rừng trồng tại Núi Luốt trường Đại học Lâm nghiệp Nghiên cứu này đã đạt được một số kết quả sau: Ước tính được

Trang 29

tổng sinh khối tươi, khô của rừng trồng thông mã vĩ và Keo lá tràm Với rừng thông mã vĩ 20 tuổi lượng carbon tích luỹ (trong cây, trong vật rơi rụng và trong đất) là 80,7 - 122 tấn ha; giá trị tích luỹ carbon ước tính đạt 25,8 - 39,0 triệu VNĐ ha Với rừng Keo lá tràm 15 tuổi; Lượng carbon tích luỹ (trong cây, trong vật rơi rụng và trong đất) là 62,5 - 103,1 tấn ha; Giá trị tích luỹ carbon ước tính đạt 20 - 33 triệu VNĐ ha (với giá bán carbon là 20 USD tấn) Nghiên cứu đã đưa ra được bảng tra lượng carbon hấp thụ qua mật độ, Dg và

HL Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến rừng trồng 2 loài Keo lá tràm và Thông mã vĩ ở 2 cấp tuổi, chưa đề cập đến nhân tố cấp đất Do đó cần phải tiến hành thêm các nghiên cứu mở rộng cho các loài khác ở nhiều cấp đất khác nhau

Vũ Tấn Phương (2006) tiến hành nghiên cứu trữ lượng carbon thảm tươi và cây bụi - Cơ sở để xác định đường cacbon cơ sở trong các dự án trồng rừng tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam Đối tượng chính

là thảm cỏ tươi và cây bụi gồm lau lách, tế guột, trảng cây bụi cao 2-3 m, cây bụi dưới 2 m, các loại cỏ lá tre, cỏ tranh, cỏ chỉ (hoặc cỏ lông lợn) ở các vùng đất không có rừng ở Hoà Bình và Thanh Hoá Kết quả đề tài đã xác định được sinh khối tươi, sinh khối khô của các loại thảm tươi cây bụi Từ sinh khối khô, tác giả đã tính được trữ lượng carbon trong sinh khối thảm tươi cây bụi là: 20 tấn ha với lau lách, 14 tấn ha với cây bụi cao 2-3 m, khoảng 10 tấn ha với cây bụi dưới 2m và tế guột; 6,6 tấn ha với cỏ lá tre; 4,9 tấn ha với cỏ tranh, cỏ chỉ cỏ lông lợn là 3,9 tấn ha Nghiên cứu này đã bổ sung cơ sở lý luận trong xây dựng kịch bản đường cơ sở cho các dự án trồng rừng CDM sau này

1.3 Nghiên cứu v cây mỡ

Cây Mỡ tên khoa học là Manglietia conifera Blume, thuộc họ Ngọc Lan (Magnoliaceae)

Trang 30

1.3.1 Đặc điểm hình thái, sinh thái:

1.3.1.1 Đặc điểm hình thái

Lê Mộng Chân (2000) đã mô tả Mỡ là cây gỗ nhỡ cao 20-25m, đường kính 30-60cm, thân tròn rất thẳng, vỏ màu xám bạc, thịt màu trắng, có mùi thơm Chiều cao dưới cành đạt tối thiểu 3 4 chiều cao cây Thân cây đơn trục, một ngọn chính, lúc non có hình tháp Cành nhỏ mọc quanh thân Lá đơn mọc cách, phiến lá hình trái xoan dài, gân nổi rõ ở cả hai mặt, cuống lá mảnh Hoa lưỡng tính, màu trắng phớt vàng mọc đơn ở đầu cành, ra hoa vào tháng 2-3 Quả kép hình trụ, chín vào tháng 8-9 Hạt có lớp vỏ giả màu đỏ, lớp trong màu đen nhẵn bóng, có mùi thơm Một kg quả có đến 25.000 hạt Mỡ là cây sinh trưởng tương đối nhanh, ở rừng trồng mỗi năm có thể cao thêm 1,4-1,6m,

từ tuổi 20 tốc độ sinh trưởng chậm dần

1.3.1.2 Về đặc điểm sinh thái

Mỡ là cây đặc hữu của miền Bắc nước ta Phân bố nhiều ở vùng Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ vào đến Thanh Hóa, Hà Tĩnh, rải rác đến tận Quảng Bình Những quần thụ Mỡ còn gặp đều là thuần loại thứ sinh phục hồi sau nương rẫy và những rừng trồng Mỡ thường sống hỗn loài với Kháo, Giổi, Vạng trứng, Chò nâu, Trám, Gội, Xoan đào, Re

Mỡ thường phân bố ở độ cao tuyệt đối 300-400m trở xuống, trong các

hệ đồi núi thấp dạng bát úp Mỡ thích hợp với nơi có lượng mưa: 1400 - 2000

mm năm Tháng khô hạn (lượng mưa nhỏ hơn 50 mm tháng) không quá 2 tháng Mỡ thích hợp với nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 24oC, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 42oC, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối -1oC Mỡ ít chịu nắng nóng

và giá rét, đặc biệt ở giai đoạn tuổi non (Ngô Quang Đê, 1992) Không trồng

Mỡ ở nơi có gió Lào thổi mạnh Mỡ mới trồng nếu gặp sương muối, nhiệt độ xuống thấp cũng bị hại, táp lá, héo ngọn

Mỡ thích hợp trồng trên đất rừng kiệt, rừng mới khai thác trắng, rừng nứa,

Trang 31

rừng nứa xen cây bụi, đất feralit đỏ vàng, sâu, ẩm, mát, thoát nước, nhiều mùn, thành phần cơ giới sét nhẹ đến sét phát triển trên phiến thạch mica, phiến thạch sét, riolit, poóc phia Không trồng được Mỡ trên đất cỏ tranh, đất đồi trọc

Mỡ là loài cây ưa sáng, khi nhỏ cần ánh sáng yếu Ánh sáng gay gắt mùa hè và mùa thu không thuận lợi cho sinh trưởng của mỡ Ánh sáng thấp trong mùa đông và ánh sáng tán quang trong mùa xuân thích hợp với sinh trưởng của mỡ (Nguyễn Hữu Thước, Nguyễn Liễn, 1965) Lớn lên đòi hỏi nhiều ánh sáng Hệ rễ rất phát triển, rễ cọc ăn sâu 2-3m Rễ ngang nhiều nhánh, ăn khá dài ra các hướng, xong tập trung ở tầng đất mặt trong khoảng sâu 10-30 cm Mỡ tái sinh tự nhiên ít, chỉ thấy ở nơi thảm tươi thưa Có khả năng tái sinh chồi khỏe Tán cây tự nhiên trong băng chừa che băng mỡ trồng (5 tuổi) đứng cạnh (cách 2,5 m), Mỡ thiếu ánh sáng, mọc yếu, lá úa, thân mảnh, sinh trưởng xấu hơn với các hàng khác (Lâm Công Định, 1965) Mỡ thường xanh quanh năm Ra hoa vào tháng 3-4 Quả chín vào tháng 8-9

để sản xuất giấy chất lượng cao

Trang 32

- Nông Văn Tuấn (1998), Nghiên cứu ảnh hưởng của biến động lượng mưa tới tăng trưởng đường kính và chiều cao cây Mỡ trồng tại Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Hữu Lũng – Lạng sơn (Đề tài tốt nghiệp Đại học

Lâm nghiệp) Kết quả của đề tài đã đưa ra được sự ảnh hưởng của lượng mưa tới tăng đường kính và chiều cao cây gỗ Mỡ

- Lê Bá Sin, Nguyễn Thế Nghiệp, Trần Kim Trọng (2004-2005),

Nghiên cứu sử dụng gỗ Mỡ 10, 20, 25 tuổi để sản xuất ván ghép thanh dạng Fingerjoint (Đề tài tốt nghiệp Đại học Lâm) Kết luận của đề tài là gỗ mỡ phù

hợp trong việc sản xuất ván ghép thanh và đưa ra được các thông số ngón ghép, áp suất ép, độ gia công phù hợp cho từng độ tuổi của gỗ

Vũ Văn Đăng (2004), Nghiên cứu về cấu tạo và cấu tạo hiển vi của gỗ

Mỡ theo năm tuổi (Đề tài tốt nghiệp Đại học Lâm) Kết luận của đề tài đã đưa

ra được kết quả về cấu tạo thô đại và hiển vi của gỗ mỡ ở các cấp tuổi từ 5,

10, 15, 20, 25 (bảng 1.1-1.6) Đề tài đã đưa ra kết luận đánh giá gỗ Mỡ là loài cây có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh (tăng trưởng đường kính có thể đạt tới 2 cm năm) Thông số hình học được xem như là loài cây lý tưởng cho quá trình gia công chế biến, tỷ lệ lợi dụng nguyên liệu cao Thớ gỗ thẳng và mịn, đây là một ưu thế rất lớn cho quá trình gia công và trang sức bề mặt sản phẩm Cấu tạo gỗ tương đối đồng đều, phù hợp với nhiều mục đích sử dụng khác nhau: Công nghệ sản xuất đồ mộc, sản xuất ván nhân tạo: Ván dăm, ván sợi, ván ghép thanh, sản xuất giấy Tia gỗ nhỏ, chiều dài sợi lớn - đây là loại

gỗ đáp ứng được yêu cầu của nguyên liệu để sản xuất giấy chất lượng cao

Đồng thời, một chỉ số hết sức quan trọng đối với nguyên liệu để sản xuất ván ghép thanh là tỷ lệ co rút theo phương tiếp tuyến/ tỷ lệ co rút theo phương xuyên tâm tương đối lý tưởng (tỷ số này đối với gỗ Mỡ là 1,59), đều nhỏ hơn 1,80 Đây là loại gỗ có cấu tạo đồng nhất, dễ sấy, dễ gia công, biến dạng mặt cắt của thanh ghép nhỏ (trong sản xuất ván ghép thanh) Khả năng hút ẩm của

Trang 33

gỗ gỗ Mỡ tương đối lớn, đây là một đặc tính rất thuận lợi cho quá trình sấy, ngâm tẩm, biến tính… Khả năng hút ẩm của gỗ Mỡ giảm dần theo tuổi cây, bởi

vì trong quá trình phát triển gỗ dần ổn định các đặc tính sinh học

Nguyễn Chí Kiên, khi nghiên cứu về “Ảnh hưởng của điều kiện sinh trưởng và phát triển đến chất lượng gỗ Mỡ” đã kết luận: Đường kính và chiều cao cây gỗ Mỡ 10 tuổi có ảnh hưởng đến chất lượng cây gỗ như tính chất vật

lý (độ ẩm tuyệt đối, độ hút nước, khối lượng thể tích, khả năng co dãn) và tính chất cơ học (độ bền ép dọc, độ bền kéo dọc, độ bền uốn tĩnh) Nhưng sự ảnh hưởng đó không nhiều lắm và không theo một quy luật cụ thể, có những tính chất không có sự ảnh hưởng của chiều cao hoặc cả hai như: khả năng dãn nở của gỗ Chất lượng gỗ Mỡ 10 tuổi được trồng tại Bình Trung cho kết quả tốt nhất, nhưng đường kính trung bình lại nhỏ nhất Điều đó phù hợp với quy luật, cây gỗ cùng độ tuổi phát triển nhanh hơn sẽ cho chất lượng gỗ thấp hơn Tuy nhiên, sự chênh lệch đó là không đáng kể Hay nói các khác, điều kiện sinh trưởng của cây có ảnh hưởng rất nhỏ tới chất lượng gỗ

Khi rừng có độ tàn che 0,7 trở lên, cây đã xuất hiện tỉa cành tự nhiên, thực bì thân thảo yếu ớt hoặc không còn tồn tại thì tiến hành tỉa thưa Áp dụng tiêu chuẩn ngành QTN24-82 – quy trình kỹ thuật tỉa thưa rừng Mỡ trồng thuần loại ban hành kèm theo quyết định số 1222 QĐ Kth ngày 15 12 1982 của Bộ Lâm nghiệp

Đất trồng Mỡ chia 3 hạng dựa vào chiều cao bình quân của rừng, hạng đất tốt có chiều cao rừng đạt 4,8-6,0m ở tuổi 3; 4,8-8,2m ở tuổi 4; hạng đất trung bình có chiều cao rừng đạt 3,6-4,8m ở tuổi 3; 5,4-6,8m ở tuổi 4; 6,8-8,4m ở tuổi 5; hạng đất xấu có chiều cao rừng đạt 2,5-3,6m ở tuổi 3; 4,0-5,4m

ở tuổi 4; 5,2-6,8m ở tuổi 5; 6,0-7,8m ở tuổi 6

Sau khi khai thác chính, có thể kinh doanh rừng chồi Mỡ theo tiêu chuẩn ngành QTN87 ban hành kèm theo quyết định số 372 ngày 9 5 1987 của

Bộ Lâm nghiệp

Trang 34

đó, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể, đặc biệt là những loài cây quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên để có biện pháp bảo tồn vẫn đang là hướng nghiên cứu hết sức cần thiết và cấp bách

Ở Việt Nam, mặc dù các nghiên cứu về cấu trúc, tái sinh rừng, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể,… được thực hiện tương đối chậm so với thế giới nhưng cũng đạt được những thành tựu đáng kể Chúng ta đã có nhiều công trình nghiên cứu cung cấp những hiểu biết về vấn đề diễn thế, tái sinh, cấu trúc của hầu hết các hệ sinh thái rừng trong cả nước Các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể cũng rất được quan tâm nghiên cứu, góp phần cung cấp

cơ sở cho việc gây trồng, bảo tồn nhiều loài cây gỗ quý như Vù hương, Lim xanh, Pơ mu,… Tuy nhiên hiện nay, tài nguyên rừng đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự khai thác quá mức của con người dẫn tới nhiều loài cây gỗ quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, số lượng loài bổ sung vào sách đỏ Việt Nam ngày càng nhiều Do đó, nếu chúng ta không có biện pháp bảo tồn cấp bách thì tương lai không xa nguồn gen quý hiếm của các loài cây này sẽ biến mất ngoài tự nhiên

Trang 35

Mỡ (Manglietia conifera Blume) là loài cây có gỗ tốt, thơm, khó mối

mọt, khi khô không nẻ cũng không biến dạng, dùng đóng đồ dùng gia đình, làm đồ mỹ nghệ, chạm khắc Ở Việt Nam, Mỡ trồng thuần loại, phục hồi sau nương rẫy, Mỡ thường phân bố ở độ cao 300-400m trở xuống, trong các hệ đồi bát úp, sinh trưởng tốt trên các đất Jeralit đỏ vàng, sâu, ẩm, mát, thoát nước, nhiều mùn, phát triển trên phiến thạch, mica, sét, Gneis, poócphia Tốt nhất là trên đất rừng vừa mới khai thác xong Không trồng được mỡ trên đất

cỏ tranh, đất đồi trọc

Tuy nhiên, cho tới nay những hiểu biết về đặc điểm sinh học, sinh thái, nhân giống, gây trồng loài cây này còn rất ít, thông tin tản mạn do thiếu các công trình nghiên cứu chuyên sâu Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu được đặt ra là cần thiết và cấp bách

Trang 36

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu lý luận

Góp phần cung cấp cơ sở khoa học (các đặc điểm sinh thái, sinh trưởng

và khả năng tích lũy carbon) của cây Mỡ nhằm phục vụ công tác phát triển rừng trồng cây Mỡ tại huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa nói riêng và tại các khu vực khác ở Miền Bắc Việt Nam nói chung

2.1.2 Mục tiêu thực tiễn

- Xác định được đặc điểm lâm học cơ bản của cây Mỡ tại huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

- Xác định được một số đặc điểm sinh thái, phân bố và tái sinh của loài

Mỡ tại khu vực nghiên cứu

- Xác định sinh trưởng và lượng carbon tích lũy ở rừng Mỡ tại huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

- Đề xuất biện pháp phát triển rừng trồng Mỡ tại khu vực

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Cây Mỡ mọc tự nhiên và được trồng tại huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu:

Để tài tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng và khả năng tích lũy carbon của tầng cây cao ở các mô hình rừng tự nhiên và rừng trồng Mỡ 12 tuổ tại các xã thuộc huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

Trang 37

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, vật hậu loài Mỡ tại VNC

- Đặc điểm hình thái: thân, cành, lá, hoa, quả, hạt

- Đặc điểm vật hậu của loài

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố loài Mỡ tại VNC

- Đặc điểm hoàn cảnh rừng (khí hậu, đất đai) nơi có loài Mỡ phân bố

- Cấu trúc tổ thành nơi có cây Mỡ tự nhiên phân bố

- Đặc điểm phân bố của loài Mỡ theo đai cao, trạng thái rừng

2.3.3 Nghiên cứu về sinh trư ng r ng trồng Mỡ

- Nghiên cứu sinh trưởng D1.3 của loài Mỡ

- Nghiên cứu sinh trưởng Hvn của loài Mỡ

- Nghiên cứu sinh trưởng Dt của loài Mỡ

- Đánh giá chất lượng sinh trưởng của rừng Mỡ

- Đánh giá sinh trưởng trên 3 vị trí (Chân, sườn, đỉnh)

2.3.4 ác đ nh tr lượng Carbon c a r ng Mỡ và dự toán giá tr thương mại CO 2 t r ng trồng Mỡ tại huy n Mường lát, tỉnh Thanh Hóa:

Dự toán giá trị thương mại CO2 của rừng trồng Mỡ

2.3.5 Đề u t m t số bi n pháp phát triển r ng Mỡ tại VNC

2.4 Phương pháp nghiên cứu:

2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận c a đề tài

Đặc điểm sinh học của loài là một khái niệm rộng bao gồm các đặc điểm về hình thái, sinh thái,… của loài Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài đặc điểm sinh học của loài chỉ bao gồm đặc điểm về hình thái, vật hậu, sinh thái, phân bố Để có thể đề xuất biện pháp bảo tồn, phát triển và nhân rộng loài Mỡ đòi hỏi cần có sự hiểu biết rất kỹ về đặc điểm sinh học của loài

Trang 38

Do thời gian nghiên cứu có giới hạn, nên quan điểm kế thừa các nghiên cứu đã có và chỉ tiến hành điều tra bổ sung các thông tin còn thiếu được quán triệt sử dụng Tiếp cận đa chiều theo nhiều hướng khác nhau để thu được kết

quả là tốt nhất và có độ tin cậy cao Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài được thể hiện như sau:

Thu thập số liệu, tài

liệu đã có về loài Mỡ

Khảo sát khu vực, lựa chọn khu vực điều tra

Bố trí tuyến điều tra, lập OTC và điều tra chi tiết

Mỡ

NC đặc điểm sinh trưởng và tích luỹ Carbon của rừng

Mỡ

Đề xuất biện pháp phát triển

rừng Mỡ Phân tích

Trang 39

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu có sẵn

- Số liệu về điều kiện tư nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu

- Các tài liệu, công trình nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh thái, giá trị sử dụng,… của loài Mỡ được thực hiện ở cả trong và ngoài nước

- Tài liệu liên quan đến phương pháp xác định lượng tích lũy carbon,

2.4.2.2 Phương pháp ngoại nghiệp

a) Phương pháp điều tra đặc điểm hình thái và vật hậu loài Mỡ

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài:

Sử dụng phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng lựa chọn đại diện kết hợp với phương pháp đối chiếu, so sánh với các tài liệu đã có Các đặc điểm vật hậu của loài Mỡ thể hiện qua những thời gian cụ thể trong năm

Cụ thể như sau:

+ Quan sát, mô tả hình thái và xác định kích thước của các bộ phận: Thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa, quả, hạt và rễ của cây Mỡ (cây được quan sát phải đạt độ trưởng thành nhất định, hiện đang tồn tại trong rừng tự nhiên)

Dụng cụ và thiết bị hỗ trợ: Máy ảnh, thước dây, thước kẹp palme…

- Nghiên cứu vật hậu:

Sử dụng phương pháp quan sát, mô tả, theo dõi trực tiếp tại hiện trường: Bằng mắt thường quan sát trực tiếp vật hậu trong quá trình điều tra thực địa Chú ý sự biến đổi các bộ phận (cành, chồi, hoa, quả) của loài

b) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phân bố

Đề tài nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Mỡ bằng phương pháp điều tra theo tuyến lập 03 tuyến điều tra (có độ dài >2km), tại khu vực có loài

Mỡ phân bố tiến hành lập OTC điển hình, lập 09 OTC trên các tuyến điều tra

Trang 40

Tiến hành điều tra sinh trưởng, quan sát, nhận dạng qua đặc điểm hình thái trên những OTC

2.4.2.2 Phương pháp điều tra sinh trưởng cây Mỡ

Sơ thám toàn bộ khu vực nghiên cứu, chọn một số diện tích điển hình

(25 x 40m), chiều dài hướng theo đường đồng mức, chiều rộng vuông góc với đường đồng mức, cạnh góc vuông được xác định theo định lý pitago với sai số khép góc ≤ 1 200 chu vi của mỗi ÔTC, mỗi một

vị trí điều tra lập một ÔTC

- Lập 03 ÔTC ở vị trí chân đồi

- Lập 03 ÔTC ở vị trí sườn đồi

- Lập 03 ÔTC ở ở vị trí đỉnh đồi

Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng:

+ Đo chiều cao vút ngọn (Hvn): bằng thước đo cao điện tử, hoặc bằng sào có độ chính xác đến cm

+ Đo chiều cao dưới cành (Hdc): bằng thước đo cao điện tử, hoặc bằng sào có độ chính xác đến cm

+ Đo đường kính ngang ngực(D1.3): Đo chu vi tất cả các cây trong ÔTC với độ chính xác đến cm

+ Đo dường kính tán(Dt): đo tất cả các cây trong ÔTC theo hai chiều Đông Tây, Nam Bắc bằng thước dây, đo hình chiếu của tán lá xuống mặt đất, sau đó lấy giá trị trung bình

- Phẩm chất của cây rừng được phân theo 3 chỉ tiêu: cây tốt (A), trung

Ngày đăng: 16/05/2018, 10:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm