MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong bối cảnh toàn cầu hóa (TCH) đang phát triển mạnh mẽ và cạnh tranh địa - chính trị giữa các cường quốc nổi lên hiện nay thì việc đổi mới, thực thi một đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt vừa bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc vừa tạo dựng môi trường quốc tế hòa bình, hợp tác và phát triển cho đất nước là v ấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với các quốc gia, dân tộc, nhất là với các nước đang phát triển. Việc các nước đề ra đường lối, nội dung và quá trình triển khai chính sách đối ngoại phù hợp, thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác quốc tế nhằm thu hút nguồn lực để phát triển đất nước chính là cách bảo vệ và củng cố nền độc lập dân tộc tốt nhất trong bối c ảnh hiện nay. Nằm trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được thế giới biết đến là một quốc gia có lịch sử lâu đời với truyền thống ngoại giao hòa hiếu đã góp phần quan trọng vào thành công của công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Sau ngày đất nước thống nhất (1975), Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc tạ o dựng một môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, hợp tác hiệu quả,... không chỉ có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước mà còn trực tiếp góp phần quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc. Do đó, hoạt động đối ngoại phải từng bước trưởng thành đáp ứng yêu cầ u nhiệm vụ mới của đất nước cũng như phù hợp với xu thế vận động của thời đại. Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới tư duy đối ngoại. Với đường lối đối ngoại đổi mới phù hợp mà Đảng và Nhà nước Việt Nam thực thi suố t hơn 30 năm qua đã đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc. Thực tiễn triển khai đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam đã thu được những thành tựu rất nổi bật, đó là: Đối với một số nước láng giềng, Việt Nam chủ động cùng các nước tìm kiếm giải pháp tháo gỡ những vướ ng mắc, giải tỏa những bất đồng; với khu vực, Việt Nam chủ động và tích cực hơn trong các tiến trình hội nhập, đưa hợp tác khu vực đi vào chiều sâu, nhất là đối với tiến trình hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN. Trên bình diện toàn cầu, Việt Nam đã tiến những bước dài trong hội nhập quốc tế thông qua việc gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), được các nước thành viên Liên hợp quốc tín nhiệm bầu vào vị trí Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc khóa 2008 - 2009 và đã làm tốt nhiệm kỳ này; mặt khác, Việt Nam cũng tăng cường thúc đẩy quan hệ với các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống và các nước đang phát triển ở các châu lục. Nhờ đó, Việt Nam đã khai thác được các nhân tố sức mạnh bên ngoài, sức mạnh thời đại để phát triển đất nước, phá vỡ vòng bao vây, cấm vận và phong tỏa kinh tế của các lự c lượng thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), qua đó củng cố vững chắc nền độc lập dân tộc. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai hoạt động đối ngoại nhằm mục tiêu bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam thời gian qua vẫn còn những bất cập, trở ngại do nhận thức, tư duy, nguồn lực,... của chúng ta chưa theo kịp thực tiễ n tình hình khu vực và thế giới. Vì vậy, việc phân tích quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam qua nội dung và quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới, từ đó đánh giá những thành công, đồng thời cũng nhìn nhận lại những hạn chế, bất cập còn gặp phải để tìm giải pháp khắc phục và rút ra bài học kinh nghiệm trong hoạt độ ng đối ngoại Việt Nam để bảo vệ và củng cố vững chắc nền độc lập dân tộc là việc làm vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2015” làm luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch s ử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc.
Trang 1CHÚC BÁ TUYÊN
CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN SÂU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM TRONG
LĨNH VỰC ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015
công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc
Mã số : 62 22 52 01
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Thái Văn Long
2 PGS.TS Nguyễn Thị Quế
MỤC LỤC Trang
CÔNG NHÂN QUỐC TẾ VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2CHÚC BÁ TUYÊN
QU¸ TR×NH B¶O VÖ §éC LËP D¢N TéC CñA VIÖT NAM TRONG LÜNH VùC §èI NGO¹I Tõ N¡M 1986 §ÕN N¡M 2015
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ PHONG TRÀO CỘNG SẢN, CÔNG NHÂN QUỐC TẾ VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
Mã số: 62 22 03 12
Người hướng dẫn khoa học:
1- PGS.TS THÁI VĂN LONG 2- PGS.TS NGUYỄN THỊ QUẾ
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Chúc Bá Tuyên
Trang 4MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 6
1.1 Những vấn đề liên quan đến đề tài luận án đã được nghiên cứu 6 1.2 Đánh giá khái quát kết quả các công trình đã nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu 24
Chương 2: CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỂ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015 26
2.1 Cơ sở lý luận 26
2.2 Cơ sở thực tiễn 38
Chương 3: NỘI DUNG VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015 65
3.1 Nội dung bảo vệ độc lập dân tộc trong chính sách đối ngoại của đảng và nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới 65 3.2 Quá trình triển khai bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại (1986 - 2015) 79
Chương 4: NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015 VÀ KINH NGHIỆM 119
4.1 Nhận xét về quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại 119 4.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 138
KẾT LUẬN 152 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 155 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156 PHỤ LỤC 170
Trang 5Diễn đàn khu vực ASEAN
Ủy ban Thường trực ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEM : Diễn đàn hợp tác Á-Âu
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện
Tù nhân chiến tranh Năm nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
Trang 6TCH : Toàn cầu hóa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa (TCH) đang phát triển mạnh mẽ và cạnh tranh địa - chính trị giữa các cường quốc nổi lên hiện nay thì việc đổi mới, thực thi một đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt vừa bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc vừa tạo dựng môi trường quốc tế hòa bình, hợp tác và phát triển cho đất nước là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với các quốc gia, dân tộc, nhất là với các nước đang phát triển Việc các nước đề ra đường lối, nội dung và quá trình triển khai chính sách đối ngoại phù hợp, thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác quốc tế nhằm thu hút nguồn lực để phát triển đất nước chính là cách bảo vệ và củng cố nền độc lập dân tộc tốt nhất trong bối
cảnh hiện nay
Nằm trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được thế giới biết đến là một quốc gia có lịch sử lâu đời với truyền thống ngoại giao hòa hiếu đã góp phần quan trọng vào thành công của công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước Sau ngày đất nước thống nhất (1975), Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc tạo dựng một môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, hợp tác hiệu quả, không chỉ có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước mà còn trực tiếp góp phần quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc Do đó, hoạt động đối ngoại phải từng bước trưởng thành đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước cũng như phù hợp với xu thế vận động của thời đại
Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới tư duy đối ngoại Với đường lối đối ngoại đổi mới phù hợp
mà Đảng và Nhà nước Việt Nam thực thi suốt hơn 30 năm qua đã đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc Thực tiễn triển khai đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam đã thu được những thành tựu rất nổi bật, đó là: Đối với một số nước láng giềng, Việt Nam chủ động cùng các nước tìm kiếm giải pháp tháo gỡ những vướng mắc, giải tỏa những bất đồng; với khu vực, Việt Nam chủ động và tích cực hơn trong các tiến trình hội nhập, đưa hợp tác khu vực đi
Trang 8vào chiều sâu, nhất là đối với tiến trình hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN Trên bình diện toàn cầu, Việt Nam đã tiến những bước dài trong hội nhập quốc tế thông qua việc gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), được các nước thành viên Liên hợp quốc tín nhiệm bầu vào vị trí Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc khóa 2008 - 2009 và đã làm tốt nhiệm kỳ này; mặt khác, Việt Nam cũng tăng cường thúc đẩy quan hệ với các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống và các nước đang phát triển ở các châu lục Nhờ đó, Việt Nam đã khai thác được các nhân tố sức mạnh bên ngoài, sức mạnh thời đại để phát triển đất nước, phá
vỡ vòng bao vây, cấm vận và phong tỏa kinh tế của các lực lượng thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), qua đó củng cố vững chắc nền độc lập dân tộc
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai hoạt động đối ngoại nhằm mục tiêu bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam thời gian qua vẫn còn những bất cập, trở ngại do nhận thức, tư duy, nguồn lực, của chúng ta chưa theo kịp thực tiễn tình hình khu vực và thế giới Vì vậy, việc phân tích quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam qua nội dung và quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới, từ đó đánh giá những thành công, đồng thời cũng nhìn nhận lại những hạn chế, bất cập còn gặp phải để tìm giải pháp khắc phục và rút ra bài học kinh nghiệm trong hoạt động đối ngoại Việt Nam để bảo vệ và củng cố vững chắc nền độc lập dân tộc là việc làm vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quá trình bảo vệ độc lập dân
tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2015” làm luận
án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích
Luận án phân tích làm rõ nội dung và quá trình triển khai bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại thời kỳ đổi mới (1986-2015), đồng thời rút ra nhận xét về thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm
Trang 92.2 Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:
sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam để bảo vệ độc lập dân tộc từ năm
1986 đến năm 2015
bảo vệ nền độc lập dân tộc của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015
- Ba là, rút ra những nhận xét và kinh nghiệm về quá trình bảo vệ độc lập dân
tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2015
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại thời kỳ đổi mới
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam
trong lĩnh vực đối ngoại trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và mở cửa hội nhập
ngoại do Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ
XI (1986 - 2015) và quá trình triển khai hoạt động ngoại giao của Nhà nước Việt Nam nhằm bảo vệ độc lập dân tộc từ năm 1986 đến năm 2015 Luận án không đề cập đến đối ngoại đảng và đối ngoại nhân dân
đến năm 2015 Mốc thời gian 1986, là năm Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới tư duy đối ngoại nhằm bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng thành công CNXH Mốc 2015, là thời điểm Việt Nam tổng kết 30 năm sự nghiệp đổi mới, bảo vệ độc lập dân tộc
và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó có lĩnh vực đối ngoại
Trang 104 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời đại, về quan điểm quốc tế, về vấn đề dân tộc và quyền tự quyết dân tộc, về độc lập dân tộc và CNXH, về chính sách đối ngoại được Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ XII Tác giả coi đây là nguồn cung cấp những căn cứ lý luận, khoa học và thực tiễn giúp cho định hướng tư tưởng khi nghiên cứu đề tài luận án
Mọi nhận định, đánh giá trong luận án sẽ được xây dựng trên cơ sở phân tích, khái quát những dữ liệu thực tế, những văn kiện, tư liệu gốc được thông qua tại các đại hội, hội nghị của Đảng diễn ra từ năm 1986 đến nay, đồng thời luận án kế thừa một cách có chọn lọc những kết quả của các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án là kết hợp phương pháp lịch sử
và phương pháp lôgíc Ngoài ra, các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê cũng được tác giả vận dụng thích hợp đối với việc nghiên cứu từng nội dung cụ thể của luận án
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án làm rõ quan niệm và cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại để bảo
vệ độc lập dân tộc của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015
lĩnh vực đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2015 bao gồm: tư tưởng, nguyên tắc, mục tiêu, nhiệm vụ, phương châm đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam
đề ra Qua đó làm rõ quá trình triển khai chính sách đối ngoại giúp Việt Nam bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc qua 2 giai đoạn (1986-1995, 1995-2015) Đồng thời rút ra nhận xét về những thành công, hạn chế và kinh nghiệm của quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại từ năm
1986 đến năm 2015
Trang 11- Luận án cung cấp thêm luận cứ khoa học, giúp gợi mở một số vấn đề thực tiễn trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam nhằm mục tiêu bảo
vệ độc lập dân tộc thời gian tiếp theo
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử thế giới hiện đại, Quốc tế học và Quan hệ quốc tế
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chương 2: Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt
Nam để bảo vệ độc lập dân tộc từ năm 1986 đến năm 2015
Chương 3: Nội dung và quá trình triển khai bảo vệ độc lập dân tộc của Việt
Nam trong lĩnh vực đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2015
Chương 4: Nhận xét về quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trong
lĩnh vực đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2015 và kinh nghiệm
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu chính sách đối ngoại nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước của Việt Nam cũng như các vấn đề liên quan đã được nhiều chính khách và học giả quan tâm nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp với những khía cạnh và mức độ khác nhau Những nội dung cơ bản chỉ đạo đường lối và hoạt động đối ngoại Việt Nam được thể hiện rõ nét trong các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ đại hội, nhất là các văn kiện đại hội đảng thời kỳ đổi mới từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ XII Đây là nguồn tài liệu gốc quan trọng mà tác giả tiếp cận để nghiên cứu về chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm mục tiêu bảo vệ độc lập dân tộc
Bên cạnh đó, nhiều công trình của các học giả trong nước và nước ngoài đã phần nào nêu ra yêu cầu khách quan cần phải điều chỉnh chính sách đối ngoại Việt Nam phù hợp với sự thay đổi của tình hình đất nước, khu vực và quốc tế, nhấn mạnh
sự đúng đắn của nội dung chính sách đối ngoại trong từng hoàn cảnh cụ thể, đồng thời khái quát quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam trong công cuộc bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc Sau đây xin nêu một số công trình tiêu biểu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án đã được nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm mục tiêu bảo vệ độc lập dân tộc từ năm 1986 đến năm 2015
Một là, những công trình liên quan đến quan niệm về bảo vệ độc lập dân tộc trong lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam, tiêu biểu có các công trình sau:
Trang 13gia dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa với chủ quyền quốc gia dân tộc trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh Đồng thời cuốn sách cũng chỉ ra rằng toàn cầu hóa là một xu hướng tất yếu, khách quan Với tính chất phức tạp, đa dạng nó tác động đến mọi lĩnh vực theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực Các quốc gia trên thế giới đang đối mặt với nó, và đã có những đối sách thành công ở nhiều nước, để lại những bài học kinh nghiệm quý báu Từ sự đánh giá những thành tựu và những khó khăn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ quyền quốc gia sau hơn 20 năm đổi mới, các tác giả cũng gợi mở những khuyến nghị về chủ trương đường lối cho Đảng và Nhà nước Việt Nam để bảo vệ chủ quyền quốc gia trong bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi hiện nay
Cuốn sách “Một số vấn đề về bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đổi mới” của Nguyễn
Vĩnh Thắng [149] đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản như: Học thuyết của V.I Lênin
về bảo vệ Tổ quốc XHCN với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới; tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN trong thời kỳ đổi mới; một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa xây dựng với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn hiện nay
Cuốn “Mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Tất Giáp, Nguyễn Thị Quế, Mai Hoài Anh
[47] đã làm rõ một số khái niệm về “độc lập, tự chủ”, “chủ quyền quốc gia” và “mối quan
hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế”; phân tích quan điểm của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế Đồng thời, các tác giả phân tích kinh nghiệm xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của một số nước trên thế giới và thực tiễn xử lý mối quan hệ này ở Việt Nam giai đoạn hiện nay Từ đó đưa ra quan điểm định hướng và kiến nghị nhằm xử lý đúng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam đến năm 2020
Mác-* Tạp chí:
Bài viết “Độc lập dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay” của Phạm Thanh
Hà [50] đã nêu lên quan niệm về độc lập dân tộc và khẳng định đó là mục tiêu hàng đầu của mọi quốc gia dân tộc Từ đó, tác giả cho rằng, bảo vệ độc lập dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa đồng nghĩa với việc các quốc gia phải “mở cửa”, đẩy mạnh hội nhập quốc tế Bài
Trang 14viết cũng đề cập đến khát vọng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm là phải bảo vệ bằng được độc lập cho dân tộc
Tác giả Nguyễn Viết Thảo trong bài viết “Bảo vệ chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa” [148] đã nêu lên quan niệm về bảo vệ chủ quyền
quốc gia và bảo vệ độc lập dân tộc Bài viết cũng nhấn mạnh đến sự thay đổi trong cánh nhìn nhận về “độc lập dân tộc” và “bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia” dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa Từ thực tế nêu trên, tác giả cho rằng: Xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó bao hàm nhiệm vụ vừa nóng bỏng, cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài - đó là bảo vệ chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc
Bài viết “Độc lập dân tộc - lợi ích cơ bản của đất nước” của Mai Hải Oanh
[117] đã nêu lên quan niệm về độc lập dân tộc với hai nội dung, đó là quyền tối cao của quốc gia dân tộc trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập của quốc gia dân tộc trong quan hệ quốc tế Từ quan niệm về độc lập dân tộc nêu trên, tác giả đi vào phân tích tinh thần độc lập dân tộc qua chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đồng thời khẳng định: Bảo đảm độc lập dân tộc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là quan điểm, mục tiêu xuyên suốt của Đảng
và Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
Hai là, những công trình đề cập đến tình hình thế giới, khu vực và trong nước tác động đến việc hoạch định chính sách đối ngoại nhằm mục tiêu bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam:
và suy nghĩ về sự đổi mới của đường lối đối ngoại Việt Nam, đồng thời tác giả cũng
đề xuất những khuyến nghị cần thiết giúp Việt Nam có thể bắt kịp được với những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới
Trang 15Cuốn sách “Thế giới trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” của Nguyễn Duy Quý
[129] đã phân tích các xu hướng có ý nghĩa toàn cầu quy định sự phát triển của thế giới như: KH-CN; TCH và nền kinh tế thị trường hiện đại; CNXH trong thế kỷ XX và trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI Cuốn sách cũng chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam dưới tác động sâu rộng của quá trình TCH, sự chuyển đổi nhanh chóng của cách mạng KH-CN, trước sự cạnh tranh khốc liệt về thị trường, phạm vi ảnh hưởng giữa các nước lớn và chịu sự chống phá của các thế lực thù địch Đây là những dữ liệu quan trọng làm cơ sở để Việt Nam hoạch định chính sách đối ngoại nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nền độc lập của dân tộc
Tác giả Thái Văn Long với cuốn “Độc lập dân tộc của các nước đang phát triển trong xu thế toàn cầu hóa” [79] đã phân tích làm nổi bật những nhân tố tác động đến độc
lập của các nước đang phát triển Cuốn sách cũng thể hiện rõ những đặc điểm chung, nội dung của cuộc đấu tranh bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của các nước đang phát triển, đồng thời phân tích cụ thể về nội dung cuộc đấu tranh bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa
Nguyễn Đức Bình, “Những đặc điểm lớn của thế giới đương đại” [14]
Cuốn sách là bức tranh toàn cảnh về thế giới đương đại với các đặc điểm và xu thế lớn: cách mạng KH-CN và TCH ngày càng phát triển tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội của các quốc gia; những vấn đề toàn cầu ngày càng trở nên búc xúc; quan hệ giữa các nước phát triển và đang phát triển có nhiều thay đổi; vấn đề dân tộc, tôn giáo trong bối cảnh thế giới hiện nay ngày càng diễn biến phức tạp; vận mệnh, tiền đồ của CNTB và tương lai của CNXH trong bối cảnh quốc tế mới cũng được nhận định, đánh giá khách quan hơn Từ những nhận định trên, cuốn sách nêu bật những cơ hội và thách thức đang đặt ra đối với Việt Nam trong tương lai Tác giả luận án tiếp cận công trình này để làm rõ bối cảnh quốc tế với những đặc điểm, xu hướng lớn đang vận động có tác động như thế nào đến việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong công cuộc bảo vệ độc lập dân tộc
Các tác giả Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Hoàng Giáp, Mai Hoài Anh trong cuốn
“Phong trào chống mặt trái của toàn cầu hóa và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” [126]
đã phân tích khái quát về xu thế TCH Theo đó, TCH là xu thế tất yếu Sự ra đời của
Trang 16phong trào chống mặt trái của TCH, mục tiêu, tính chất, đặc điểm, nội dung và hình thức của phong trào chống mặt trái của TCH Việt Nam với phong trào chống mặt trái của TCH, vấn đề đặt ra và một vài khuyến nghị
Cuốn “Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh” của Nguyễn Duy Niên [116] đi vào
phân tích nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Cuốn sách làm nổi bật phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh Từ đó, tác giả đánh giá tình hình thế giới và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong những năm tới với nhiều yếu tố thuận lợi cho việc thúc đẩy quan hệ đối ngoại
Vì vậy, việc vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, cũng như tiếp tục xây dựng nền ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết để quan hệ đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới phát triển và thu được nhiều kết quả hơn
Cuốn sách “Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam với cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của các nước đang phát triển sau Chiến tranh Lạnh” của Nguyễn Hữu Toàn
[154] đã phân tích nhận thức của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tính tất yếu phải tiến hành đổi mới, nhất là nhận thức về những tác động của tình hình trong nước và quốc tế đến sự nghiệp đổi mới Từ những thàng công của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, tác giả cuốn sách rút ra những kinh nghiệm về bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam có tính chất tham khảo đối với các nước đang phát triển, cũng như những đóng góp về mặt lý luận và sự tham gia, phối hợp của Việt Nam với các nước đang phát triển trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc
Cuốn “Cạnh tranh chiến lược ở khu vực Đông Nam Á giữa một số nước lớn hiện nay” của Nguyễn Hoàng Giáp [45] đã nhấn mạnh đến yếu tố địa chiến lược và sự gia
tăng liên kết hợp tác của khu vực Đông Nam Á Cuốn sách trình bày nội dung cơ bản trong chiến lược của các nước lớn với Đông Nam Á cũng như sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước này đối với khu vực nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược của mình Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đi vào phân tích những tác động chính sách đối với ASEAN
và Việt Nam Đối với Việt Nam, sự cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn ở khu vực đang tác động theo cả hai chiều hướng thuận nghịch khác nhau, một mặt đang tạo điều kiện cho Việt Nam tăng cường thúc đẩy hợp tác với các nước lớn, tận dụng các nguồn lực để phát triển, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức, nhất là trong
Trang 17việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và nền độc lập của dân tộc trước những mưu
đồ và tính toán chiến lược của các các nước lớn
Tác giả Nguyễn An Hà trong cuốn “Tác động của toàn cầu hóa đến quá trình phát triển của một số nền kinh tế chuyển đổi Đông Âu và Việt Nam” [49] đã đề cập
đến các đặc trưng và xu thế vận động của tiến trình TCH Tác động của TCH đến quá trình phát triển của một số nền kinh tế chuyển đổi trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, trong đó có Việt Nam Theo tác giả, quá trình TCH sẽ tác động đến sự phát triển kinh
tế - xã hội Việt Nam, đáng chú ý là vấn đề đầu tư nước ngoài, việc làm và phát triển nguồn nhân lực là những vấn đề cần được quan tâm Từ đó tác giả đã đưa ra những giải pháp ứng phó đối với Việt Nam trong quá trình TCH
* Tạp chí:
Các bài viết “Bối cảnh quốc tế tác động đến chính sách của Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI” của Trần Hiệp [55]; “Xu thế đấu tranh củng cố độc lập dân tộc của các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa” của Thái Văn Long, Đinh Thanh Tú [80]; “Bảo vệ chủ quyền của các nước nhỏ trong thế giới hiện nay” của Đỗ
Sơn Hải [52], ở mức độ và cách tiếp cận khác nhau đã đề cập đến bối cảnh quốc tế, khu vực với những đặc điểm, xu thế tác động đến việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam phục vụ mục tiêu phát triển đất nước và bảo vệ độc lập dân tộc
Như vậy, những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên ở mức độ khác nhau đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại nhằm bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015, bao gồm: Quan niệm về bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại; những đặc điểm, xu hướng nổi trội của thế giới và khu vực; tình hình và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới và mở cửa hội nhập Đây là những tài liệu quan trọng, cần thiết để tác giả tham khảo, kế thừa trong thực hiện đề tài luận án
Thứ hai, những công trình nghiên cứu nội dung chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm mục tiêu bảo vệ độc lập dân tộc
* Sách:
Cuốn “Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000” của Nguyễn Đình Bin [13] là công
trình viết khá công phu về nền ngoại giao Việt Nam kể từ khi giành được độc lập dân
Trang 18tộc Trong công trình này, các tác giả đã làm nổi bật chủ trương, chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước Việt Nam phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng ở mỗi thời kỳ Các bước triển khai hoạt động đối ngoại được các tác giả khắc họa sinh động, cụ thể, đồng thời đánh giá khách quan, trung thực những thành quả mà ngoại giao Việt Nam giành được suốt chiều dài lịch sử từ năm 1945 đến năm 2000
Các tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Minh Sơn trong cuốn “Đối ngoại Việt Nam truyền thống và hiện đại” [65] đã khắc họa bức tranh tổng thể về đối ngoại
Việt Nam từ buổi ban đầu dựng nước cho đến những năm đầu thế kỷ XXI Qua cuốn sách này cho thấy, từ thuở bình minh dựng nước đấu tranh ngoại giao của tổ tiên ta đã góp phần quan trọng vào những chiến công chói lọi và để lại những kinh nghiệm quý báu cho truyền thống ngoại giao Việt Nam Ngày nay, trên nền tảng truyền thống ngoại giao của tổ tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn có những bước phát triển mới về đường lối, chính sách đối ngoại cho phù hợp với mỗi thời kỳ cách mạng, đưa Việt Nam chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tạo dựng cho mình một vị thế mới trên thế giới
Cuốn sách “Ngoại giao Việt Nam” của Lưu Văn Lợi [83] đã khái quát lịch sử
ngoại giao Việt Nam trong nửa thế kỷ (1945-1995) với những sự kiện quan trọng như: quá trình đàm phán, thương lượng, ký kết các văn kiện ngoại giao trong thời
kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt - Trung, Việt - Mỹ, khôi phục các quan hệ cũ, thiết lập các quan hệ mới, hội nhập quốc tế và khu vực Ngoài ra, cuốn sách cũng tái hiện lại sự đoàn kết của mặt trận nhân dân các nước Đông Dương chống kẻ thù chung và mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam trong 30 năm chiến tranh giải phóng, đồng thời làm nổi bật những đóng góp của hoạt động đối ngoại Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu với tư cách là thành viên trong cộng đồng quốc tế
Nguyễn Xuân Sơn, Nguyễn Văn Du, “Chiến lược đối ngoại của các nước lớn
và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” [138] Từ những nhận
định về chiều hướng chính sách, những thay đổi, xác định trọng tâm chính sách của các nước lớn, các tác giả đưa ra những định hướng chiến lược, sách lược của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, nhằm thúc
Trang 19đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước lớn, vừa giúp chúng ta tranh thủ mọi nguồn lực để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mặt khác, tạo ra mối quan hệ ràng buộc, đan xen lợi ích với các nước lớn giúp Việt Nam
có thể khai thác nhân tố nước lớn trong từng mối quan hệ cụ thể theo tinh thần thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ
Cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới” của Đinh Xuân Lý [85] đã phân tích cơ sở hình thành, các giai
đoạn phát triển và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, cũng như những thành tựu hoạt động đối ngoại Việt Nam đạt được dưới ánh sáng tư tưởng đối ngoại
Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, cuốn sách đi vào nhận định đánh giá quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức và vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới với những thành tựu nổi bật trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2006
Ban nghiên cứu lịch sử Ngoại giao - Bộ Ngoại giao, “Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập quốc tế” [6] Đây là tập hợp các bài viết của
nhiều tác giả về vận dụng tư tưởng đối ngoại, phong cách và nghệ thuật ngoại giao
Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập quốc tế với nhiều vấn đề cốt lõi như: Xử lý quan hệ với các nước lớn; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về độc lập tự chủ, gắn liền với đoàn kết, hợp tác quốc tế trong thời kỳ đổi mới và mở cửa hội nhập
Cuốn “Quá trình đổi mới đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam (1986-2012)” của Đinh Xuân Lý [86] đã làm nổi bật quá trình đổi mới
đường lối đối ngoại và tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến 2012
Từ việc nêu đặc điểm và xu thế quốc tế, những yêu cầu thực tiễn đất nước cần phải đổi mới về đối ngoại, tác giả đi vào phân tích các bước đổi mới tư duy đối ngoại, từ tư duy đối ngoại thời Chiến trạnh Lạnh sang tư duy đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế và phát triển lên thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng vào thế giới, mở rộng và phát triển các quan hệ song phương và đa phương thu được nhiều thành quả quan trọng
Trang 20“Ngoại giao Việt Nam góc nhìn và suy ngẫm” của Nguyễn Khắc Huỳnh [67]
là tập hợp các bài viết của tác giả trong những năm gần đây Phần lớn nội dung cuốn sách tập trung vào phân tích, đánh giá 3 sự kiện ngoại giao quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong 30 năm chiến tranh giải phóng Bên cạnh đó, tác giả cũng khái quát hoạt động ngoại giao Việt Nam chặng đường 25 năm (1986-2010) với nhiều thành công rực rỡ, từ sự phân tích, đánh giá đúng tình hình và xu thế quốc
tế, đánh giá sát tình hình trong nước để đi đến đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt
là sự đổi mới tư duy, mở rộng quan hệ đối ngoại, giúp Việt Nam phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tiến đến chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Phạm Bình Minh, “Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới” [91] Đây là tập hợp các bài viết của các lãnh đạo, nhà ngoại giao và các học
giả trong nước Các bài nghiên cứu trong cuốn sách chủ yếu mang tính lý luận về công tác đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới, đặc biệt có nhiều bài viết của các lãnh đạo cấp cao Việt Nam về việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại theo tinh thần Đại hội lần thứ XI của Đảng
Cuốn “Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986-2010)” của Phạm
Quang Minh [99] đã phân tích làm rõ nguyên nhân hình thành chính sách đối ngoại đổi mới, đồng thời trình bày một cách hệ thống đường lối, chính sách đối ngoại đổi mới của Đảng qua các kỳ Đại hội và các Nghị quyết Trung ương từ Đại hội VI đến Đại hội XI Cuốn sách cho thấy, qua mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta lại có sự đánh giá, nhìn nhận bối cảnh quốc tế và trong nước một cách sát thực để đề ra đường lối đối ngoại phù hợp Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá việc thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới với những kết quả đạt được là hết sức to lớn, nhưng đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế mà chúng ta còn gặp phải trong quá trình triển khai thực hiện và rút
ra những bài học kinh nghiệm
Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết
Thông, “30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam” [66] Đây là công trình đánh giá
khá đầy đủ, khách quan, khoa học và toàn diện những thành tựu, hạn chế trong 30 đổi mới đất nước của Việt Nam Trong công trình này, các tác giả đã khái quát bối cảnh quốc tế và trong nước đưa Việt Nam bước vào sự nghiệp đổi mới toàn diện đất
Trang 21nước, trong đó có đổi mới tư duy đối ngoại Đặc biệt, các tác giả đã giành một chương để trình bày về đường lối, chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam Đáng chú ý, công trình đã thể hiện rõ quá trình phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế Đây là những nội dung mà tác giả luận án có thể tham khảo phục vụ cho việc hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ mà đề tài luận án đề ra
* Tạp chí:
“Đa phương hóa, đa dạng hóa trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam sau chiến tranh lạnh” của Nguyễn Danh Quỳnh [133]; “Quá trình phát triển đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta” của Chu Văn Chúc [26]; “Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới” của Phạm Quang Minh [98]; “Đường lối đối ngoại đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam sau 25 năm nhìn lại” của Nguyễn Văn Lan [74]; “Quá trình hình thành, phát triển đường lối đổi mới của Đảng ta qua gần 30 năm đổi mới” của Vũ Văn Phúc [119];
“Nắm vững quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” của Trần Đại Quang [122], Các bài viết của
các tác giả đã trình bày khái quát đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới Các tác giả cũng chỉ ra, ở mỗi giai đoạn lịch sử với yêu cầu cách mạng khác nhau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã điều chỉnh chính sách đối ngoại một cách linh hoạt, phù hợp, thúc đẩy các mối quan hệ quốc tế và thu được nhiều thành quả, góp phần vào sự thành công của sự nghiệp đổi mới, xây dựng
và bảo vệ đất nước
Thứ ba, các công trình nghiên cứu liên quan đến việc triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam để bảo vệ độc lập dân tộc thời kỳ đổi mới
* Sách:
Cuốn “ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam” của Đào Huy Ngọc [107] đã
trình bày khá rõ về quá trình ra đời và sự hợp tác giữa các nước ASEAN trên các lĩnh vực Cuốn sách đã chỉ ra, thời kỳ Chiến tranh Lạnh hợp tác giữa các nước ASEAN chủ yếu là ở lĩnh vực chính trị, an ninh, hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế
và văn hóa, xã hội còn khá mờ nhạt Cuốn sách cũng đánh giá quan hệ Việt Nam - ASEAN qua các gia đoạn với những thăng trầm khác nhau, lúc căng thẳng đối đầu,
Trang 22lúc hòa dịu, hợp tác Đồng thời, cuốn sách cũng có những dự báo triển vọng của việc Việt Nam tham gia ASEAN
Cuốn sách “Việt Nam và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc” của Nguyễn Hồng
Thao [145] đã nhấn mạnh việc Việt Nam tìm hiểu và đấu tranh gia nhập vào Liên hợp quốc Đồng thời, cuốn sách đã làm nổi bật vai trò của Việt Nam khi trở thành thành viên chính thức của tổ chức này, đó là việc Việt Nam không chỉ hợp tác toàn diện với Liên hợp quốc mà còn tổ chức các hoạt động tại Hội đồng Bảo an, đưa hình ảnh và uy tín của Việt Nam ngày một nâng cao trên trường quốc tế
Vũ Đình Hòe, Nguyễn Hoàng Giáp, “Hợp tác chiến lược Việt - Nga: Những quan điểm, thực trạng và triển vọng” [60] Cuốn sách đánh giá thực trạng hợp tác
Việt - Nga trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa, xã hội với nhiều thành tựu quan trọng, là tiền đề cho việc thúc đấy quan hệ đối tác chiến lược giữa hai bên phát triển mạnh mẽ hơn nữa Cuốn sách cũng chỉ ra những hạn chế còn gặp phải trong quan hệ giữa hai bên và cho rằng, quan hệ Việt - Nga chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của hai nước cũng như chưa ngang tầm của mối quan hệ đối tác chiến lược Trên cơ sở những nhận định, các quan điểm phát triển quan hệ giữa hai bên, cuốn sách đưa ra một số kiến nghị để phát triển quan hệ đối tác chiến lược Việt - Nga thời gian tới
Cuốn “Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ 1994-2010” của Bùi Thị Phương Lan [73]
đi từ bối cảnh trước bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đến việc Hoa Kỳ tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam Từ những kết quả đạt được trong quan hệ hai nước từ sau bình thường hóa, cuốn sách đi vào xác định vị trí của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ tại châu Á khi bước vào thiên niên kỷ mới, đồng thời đưa ra những cơ sở cho việc phát triển mối quan hệ giữa hai nước và dự báo triển vọng của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Học viện Ngoại giao, “Hỏi - đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta” [59] Cuốn sách được viết dưới dạng hỏi và đáp nhưng
cũng đã thể hiện được rất nhiều nội dung Từ việc đi vào phân tích tình hình thế giới trong thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI như là nhân tố quan trọng tác động đến chính sách đối ngoại của các nước nói chung, chính sách đối ngoại Việt Nam nói riêng, cuốn sách trình bày quá trình đổi mới tư duy, phát triển đường lối đối
Trang 23ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới Trên cơ sở đó, cuốn sách cũng khái quát những thành tựu cơ bản và phương hướng chiến lược đối ngoại của Việt Nam; các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, các khu vực và các tổ chức quốc
tế Đặc biệt, cuốn sách cũng đề cập đến các vấn đề về biên giới lãnh thổ và đấu tranh trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, vấn đề người Việt Nam ở nước ngoài,
Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế, “Chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới” [46] Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về đường lối và quan hệ
đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới Cuốn sách được chia làm 4 phần Từ việc làm
rõ cơ sở hoạch định chính sách đến quá trình đổi mới tư duy và nội dung chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, các tác giả đi vào trình bày các bước triển khai chính sách đối ngoại với các hoạt động, các quan hệ nổi trội cả song phương và đa phương tạo nên một bức tranh tổng thể của quan hệ đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới Trong phần cuối cùng, cuốn sách đánh giá kết quả thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới cả thành công và hạn chế để rút ra bài học kinh nghiệm Trên cơ sở đó, cuốn sách cũng đề xuất kiến nghị, giải pháp nhằm tăng cường quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới và mang lại hiệu quả cao nhất
Tác giả Vũ Dương Ninh (2015) trong cuốn “Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940-2010” [114] đã khai thác vấn đề từ góc độ khoa học lịch sử, dẫn giải theo tiến trình
lịch sử để phác họa một cách hệ thống về quan hệ đối ngoại của Việt Nam từ năm 1940 đến năm 2010 Trong nội dung cuốn sách đã trình bày bối cảnh quốc tế và trong nước dẫn đến các sự kiện; những nét cơ bản về đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, cũng như những diễn biến trong quan hệ đối ngoại qua từng giai đoạn và từ đó tác giả đưa ra những nhận định, đánh giá chung và cuối cùng là rút ra những bài học kinh nghiệm
Cuốn sách “Việt Nam và ASEAN: 20 năm hợp tác, phát triển (1995-2015)” do các
tác giả Nguyễn Văn Lan, Nguyễn Viết Thảo chủ biên [75] ra đời nhân kỷ niệm 20 năm Việt Nam gia nhập ASEAN Từ đánh giá về sự ra đời của ASEAN và quá trình gia nhập, đóng góp của Việt Nam cho ASEAN, cuốn sách đi vào trình bày các lĩnh vực hợp tác cụ thể trên nền tảng các trụ cột mà ASEAN xây dựng Cộng đồng: Chính trị - an ninh, kinh
tế và văn hóa - xã hội Đồng thời, cuốn sách cũng xác định hợp tác Việt Nam - ASEAN
Trang 24bên cạnh những thuận lợi làm tiền đề cho triển vọng hợp tác trong tương lai, còn gặp phải nhiều khó khăn, thách thức cần phải khắc phục, từ đó, cuốn sách đề xuất các khuyến nghị để thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và ASEAN
Bài viết “Đẩy mạnh đối ngoại đa phương phục vụ hội nhập quốc tế” của Đặng
Đình Quý [130] đã nhấn mạnh đến vai trò của ngoại giao đa phương đối với tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Theo đó, nhờ phát triển ngoại giao đa phương đã giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn với thế giới, qua đó phát huy vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình được xuất bản và đăng tải như:
“Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ 1986 - 1996” của
Vũ Quang Vinh [166] đã phác họa những điểm nổi bật của hoạt động đối ngoại
Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong 10 năm đầu thời kỳ đổi mới; “Góp phần tìm hiểu lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ” của Phạm Xanh [169] đã khái
quát lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ năm 1987 đến năm 2007 với những
mốc lịch sử lớn, những sự kiện quan trọng; “Quan hệ Việt - Nga: Một mô hình của quan hệ truyền thống và đối tác chiến lược” của Lê Quỳnh Nga [106] đã tạo
dựng một bức tranh tổng thể về mối quan hệ Việt - Nga từ lịch sử tới hiện tại;
“Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020” của Phạm Bình Minh
[90] bao gồm các bài viết của các tác giả với những dự báo về chiều hướng của
đối ngoại Việt Nam theo hướng đa phương, đa dạng; “Thúc đẩy quan hệ Việt Nam
- Ấn Độ trong bối cảnh mới” của Ngô Xuân Bình [17] đã đưa ra những dự báo triển vọng của mối quan hệ giữa hai nước trong tương lai; “Nhìn lại 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt - Trung: Từ nhận thức đến thực tiễn” của Nguyễn
Phương Hoa [57] đã đánh giá những kết quả hết sức tốt đẹp trong quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc trong 20 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ;
Trang 25“Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác thông tin đối ngoại 1991 - 2010”
của Nguyễn Chí Thảo [146] đi sâu vào phân tích đường lối lãnh đạo công tác thông tin đối ngoại của Đảng, những thành quả đạt được từ việc thúc đẩy công tác thông tin đối ngoại nhằm đáp ứng với yêu cầu hội nhập,
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trong lĩnh vực vực đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2015 chủ yếu tập trung đề cập đến sự thay đổi của tình hình thế giới và khu vực tác động đến việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam Bên cạnh đó có một số công trình nghiên cứu về sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Việt Nam sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là quan hệ với các nước lớn, tiêu biểu:
* Sách:
Cuốn “Internationnal Relations and the End of The Cold War” (Quan hệ quốc
tế và sự kết thúc Chiến tranh Lạnh) của Richard Ned Lebow, Thomas Rise Kappen
[184] đã đưa ra những dự báo về sự thay đổi của quan hệ quốc tế sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc Cuốn sách chỉ ra sự tất yếu phải điều chỉnh đường lối đối ngoại của các nước lớn nhỏ trên thế giới Đồng thời các tác giả cũng khẳng định, trong quan hệ quốc tế sau Chiến tranh Lạnh, vai trò của các nước đang phát triển được chú ý hơn, cơ hội lẫn thách thức cùng tồn tại trong quan hệ giữa các nước này với các nước phát triển trên thế giới
Các tác giả Carlyle A Thayer, Ramses Amer với cuốn “Vietnamese Foreign Policy in Transition” (Chính trị ngoại giao Việt Nam trong sự chuyển đổi) [174]
đã giới thiệu về chủ nghĩa đa phương và sự đe dọa của diễn biến hòa bình ở Việt Nam, những vấn đề lý luận trong chính sách đối ngoại của Việt Nam Các tác giả cho rằng, chính sách đối ngoại của Việt Nam đang chuyển từ mô hình chính sách đối ngoại nặng về hệ tư tưởng sang mô hình lấy lợi ích quốc gia làm trọng tâm, nhấn mạnh tính chất đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại và là một quá trình dài có nhiều điều chỉnh Vấn đề bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, quan
hệ Việt - Trung trong quá khứ, hiện tại, tương lai và triển vọng trong thế kỷ XXI cũng được đề cập trong công trình này
Trang 26Cuốn “Southeast Asian Perspectives on Security” (Viễn cảnh an ninh Đông Nam Á) của Da Cunha Derek [175] đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về an ninh
khu vực Đông Nam Á, xu hướng chiến lược và phát triển quân đội, phản ứng của các quốc gia Đông Nam Á đối với môi trường khu vực thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, nhận thức về Đông Nam Á của Nhật Bản và Trung Quốc
Các tác giả Simon S.C Tay, Jesus Estanislao, Hadi Soesatro xuất bản cuốn “A new Asean in a new Millennium” (ASEAN mới trong thiên niên kỷ mới) [187] Cuốn
sách tập trung chủ yếu vào các mảng hợp tác kinh tế và an ninh, chính trị trong ASEAN, xem xét những vấn đề đặt ra đối với những tiến trình và thể chế của ASEAN hay cái được gọi là “cách thức ASEAN” Cuốn sách đưa ra ý tưởng về ASEAN trong tương lai với tầm nhìn đến năm 2030 trên quan điểm hoạch định chính sách cần phải bao quát cả hiện tại và tương lai
Bruce W Jentleson, “American Foreign Policy: The dynamics of choice in the
kỷ XXI) [173] Cuốn sách gồm hai phần lớn và chia thành 10 chương, được biên soạn
như một giáo trình về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Phần I tập trung vào trình bày
cơ sở lý luận và lịch sử hình thành chính sách đối ngoại Hoa Kỳ Phần II đi sâu vào phân tích một số nội dung cơ bản, cũng như những lựa chọn và thách thức đang đặt ra cho chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thế kỷ XXI Cuốn sách cũng thể hiện rõ mục tiêu, động cơ lựa chọn, phân tích chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam
Cuốn “Southeast Asia in Search of an ASEAN Community” (Đông Nam Á đang tìm kiếm một cộng đồng ASEAN) của Rodolfo C Severino [186] đã đề cập đến
phương cách ASEAN, vấn đề tư cách thành viên ASEAN đối với một số quốc gia Đông Nam Á, vấn đề không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vai trò của ASEAN trong các vấn đề an ninh và hội nhập kinh tế khu vực, các mối quan hệ của ASEAN với các cường quốc bên ngoài, khái niệm về một cộng đồng và con đường
mà ASEAN có thể lựa chọn trong tương lai
“Hubungan Internasional di Asia Tenggara: teropong terhadap dinamika, realitas dan masa depan” (Quan hệ ngoại giao ở Đông Nam Á: qua lăng kính
Trang 27quá khứ, thực tại và tương lai) của Bambang Cipto [172] chủ yếu viết về quan hệ
quốc tế ở Đông Nam Á nói chung và giữa các nước ASEAN nói riêng thời kỳ Chiến tranh Lạnh Tác giả cho rằng, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh các nước ASEAN buộc phải thay đổi chính sách ngoại giao cho phù hợp với tình hình quốc tế và có lợi nhất cho đất nước mình, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam (1954 - 1975) cũng như thời kỳ sau khi Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đề cập đến quan hệ ngoại giao giữa các nước trong khu vực thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh cũng như đề cập đến những vấn đề xung đột trong khu vực cũng như an ninh, chính trị và những thách thức trong tương lai đối với ASEAN
“US - Vietnam Relation: Background and Issues for Congress” (Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Bối cảnh và những vấn đề dành cho quốc hội) của Mark E Manyin
[181] được xem là bản tập hợp thông tin quan hệ nhiều mặt giữa Việt Nam và Hoa
Kỳ cũng như sơ lược lịch sử quan hệ gữa hai nước từ năm 1975 đến 2008 nhằm phục
vụ cho quốc hội Mỹ Tác giả đã đề cập đến quan hệ quân sự, kinh tế và viện trợ kinh
tế, tình hình nhân quyền và vấn đề di sản từ cuộc chiến tranh Việt Nam Bản báo cáo cũng cho thấy những đánh giá của người Mỹ về chiến lược và chiến thuật đằng sau những nỗ lực của Việt Nam nhằm nâng cấp quan hệ với Mỹ Đồng thời bản báo cáo này đã gợi mở cho việc trả lời câu hỏi mà lâu nay nhiều người vẫn tìm lời giải, đó là
vì sao người Mỹ lại cố gắng cô lập chính phủ cộng sản Việt Nam sau năm 1975 và tại sao hiện nay Mỹ lại quan tâm đến mối quan hệ với Việt Nam
“Changing Worlds: Vietnam’s Transition from Cold War to Globalization” (Thế giới thay đổi: Việt Nam chuyển đổi từ Chiến tranh Lạnh sang toàn cầu hóa) của David
Elliott [177] đã phân tích sự thay đổi trong nhận thức của tầng lớp tinh hoa ở Việt Nam,
từ chịu ảnh hưởng nặng nề của ý thức hệ thời kỳ tồn tại trật tự hai cực sang một giai đoạn mới bị chi phối bởi yếu tố kinh tế thị trường của thời kỳ toàn cầu hóa
* Luận án:
Nghiên cứu ở nước ngoài về chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi
mới đáng chú ý là luận án tiến sĩ của Lương Ngọc Thanh, “Chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh: ý thức hệ và thực tiễn” [143] bảo vệ
Trang 28tại Đại học Hiroshima, Nhật Bản Luận án gồm 7 chương, thể hiện sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Việt Nam nhằm đối phó với những thách thức về an ninh và chính trị thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh Luận án chia làm 3 giai đoạn 1986 -
1991, 1991 - 2001 và 2001 - 2011 với những bước điều chỉnh khác nhau trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam để vừa bắt kịp với thực tiễn chính trị hậu Chiến tranh Lạnh, vừa đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa
* Tạp chí:
Bài viết “Asia Pacific security”(An ninh châu Á - Thái Bình Dương) của
Peter Poloka [183] đã đưa ra những nhận định mới, trong đó nổi bật quan điểm cho rằng, sau Chiến tranh Lạnh ý thức hệ không còn là vấn đề chi phối trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao của các nước Các nước có chế độ chính trị khác nhau đều có thể chung sống hòa bình, vừa hợp tác vừa đấu tranh Từ quan điểm trên cho thấy, quan hệ đối ngoại của Việt Nam thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh có điều kiện phát triển, do không còn bị chi phối bởi yếu tố ý thức hệ như trước đây
Tác giả Hồ Tài trong bài viết “Quan hệ Việt - Trung sau bình thường hóa: nhìn lại thời gian qua và triển vọng” [139] đã nêu lên những kết quả đạt được của
mối quan hệ Việt - Trung kể từ sau khi bình thường hóa quan hệ, đồng thời cũng đưa ra những dự báo triển vọng cho mối quan hệ giữa hai nước trong tương lại Tác giả cũng nhấn mạnh, việc khôi phục và xây dựng mối quan hệ Việt - Trung láng giềng thân thiện là hợp thời cuộc, thuận lòng dân
“Diplomacy of Isolation United States Unilateral Sanctions Policy and Vietnam 1975-1995” (Chính sách trừng phạt cô lập đơn phương về ngoại giao của
Mỹ với Việt Nam 1975-1995) của Oliverer Babson [182] đã trình bày những tính
toán của Mỹ thi hành chính sách ngoại giao nước lớn nhằm cô lập Việt Nam, xem Việt Nam là nơi cân bằng chiến lược với Liên Xô và Trung Quốc Qua công trình
có thể khẳng định rằng, những tính toán của Mỹ trong việc cô lập Việt Nam đã không thành công khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, trong
đó có lĩnh vực đối ngoại Điều này gợi mở cho tác giả luận án trong việc đánh giá
Trang 29sự thành công về sách lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch
“The International Relations of Japan and South East Asia: Foging a new Regionalism” (Mối quan hệ quốc tế của Nhật Bản và Đông Nam Á: tiến tới một chủ nghĩa khu vực mới) của Sueo Sudo [188] nêu lên bức tranh tổng thể về tiến
trình của mối quan hệ Nhật Bản - Đông Nam Á thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh, đồng thời tác giả cũng khái quát chính sách đối ngoại của Nhật Bản, đánh giá mối quan hệ Nhật Bản với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam là một thành công của ngoại giao Nhật Bản
Quách Minh với công trình “Diễn biến quan hệ Việt - Trung trong 40 năm qua” [97] đã giải thích về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại với Trung Quốc
của Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội lần thứ VI (1986) Tác giả Quách Minh cho rằng: Thành tựu của Trung Quốc trong những năm cải cách, mở cửa hết sức hấp dẫn đối với Việt Nam; nhiều cán bộ và đông đảo nhân dân Việt Nam có tâm
lý chống lại đối với chính sách chống Hoa và hậu quả của nó, họ luôn ghi nhớ sự viện trợ to lớn và tình hữa nghị của Trung Quốc trước kia đối với Việt Nam nên mong muốn sớm khôi phục quan hệ hữu hảo Trung - Việt
Ngoài ra, có một số công trình, bài viết về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ như:
US Government Printing office với tập tài liệu “United States - Vietnam relation
1945 - 1967” [189] đã cung cấp những tư liệu quý báu liên quan đến quan hệ hai
nước từ năm 1945 đến 1967 như điện văn, thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ yêu cầu họ công nhận nền độc lập của Việt Nam;
“Opportunity Knocks - Moving US - Vietnam Relations Forward” của John Kerry
[180] đã nêu ra những cơ hội để thúc đẩy quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam tiến về phía
trước và đưa ra cái nhìn lạc quan về mối quan hệ này trong tương lai; “Why the US Should Normalize with Vietnam” của Frederick Brown [178] đi sâu vào nghiên cứu,
phân tích nguyên nhân vì sao Hoa kỳ cần phải bình thường hóa quan hệ với Việt
Nam; “US - Vietnam Normalization - Past, Present, Future” của Frederick Brown
[179] đã phân tích quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ quá khứ đến hiện tại và đưa ra những dự đoán trong tương lai
Trang 301.2 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Đánh giá khái quát kết quả các công trình đã nghiên cứu liên quan đến luận án
Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài với số lượng đông đảo, đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến nhiều nội dung của đề tài luận án Tựu chung, có những nội dung sau đây:
Một là, nhiều công trình và bài viết đã luận giải về độc lập dân tộc nói chung,
bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam nói riêng trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Nhiều công trình đã đề cập đến bối cảnh quốc tế, khu vực và tình hình trong nước làm cơ sở để Đảng và Nhà nước Việt Nam hoạch định chính sách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới, thu được nhiều thành quả quan trọng góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
Hai là, nghiên cứu về nội dung chính sách đối ngoại của Việt Nam nhằm mục
tiêu bảo vệ độc lập dân tộc Trên hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu luận giải sự cần thiết phải đổi mới đường lối đối ngoại cho phù hợp với bối cảnh quốc tế, khu vực và tình hình nhiệm vụ cách mạng Việt Nam Nhiều công trình, bài viết đã
đề cập một cách khá toàn diện quá trình phát triển quan điểm, đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng ta qua các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay
Ba là, nhiều công trình, bài viết đi vào nghiên cứu quá trình triển khai chính
sách đối ngoại của Việt Nam cả trên bình diện song phương và đa phương Theo đó, hoạt động đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới diễn ra sôi động, theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, các mối quan hệ quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, làm cho hình ảnh và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, góp phần quan trọng vào sự thành công của sự nghiệp đổi mới và công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc
Bốn là, trên cơ sở đường lối đối ngoại đổi mới, sự phát triển vượt bậc của quan
hệ đối ngoại Việt Nam thời gian qua, nhiều công trình đi vào đánh giá thành quả đạt được, những hạn chế còn gặp phải cần được khắc phục và bước đầu rút ra những bài
Trang 31học kinh nghiệm Tuy nhiên, về cơ bản các công trình chủ yếu mới đánh giá khái quát thành tựu, hạn chế của hoạt động đối ngoại Việt Nam nói chung, chưa có công trình nào đi sâu vào luận giải gắn những thành tựu, hạn chế đó với quá trình bảo vệ độc lập dân tộc
1.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã tiếp cận quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại ở nhiều góc độ và mức độ khác nhau, cung cấp nhiều dữ liệu quan trọng cho tác giả luận án tham khảo, kế thừa để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ đặt ra của luận án Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu vào phân tích cũng như luận chứng một cách tổng hợp, hệ thống về quá trình bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2015 Do vậy, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu những nội dung sau:
Một là, luận án tập trung làm rõ cơ sở lý luận về độc lập dân tộc và bảo vệ độc
lập dân tộc trong lĩnh vực đối ngoại Trong đó có nội hàm bảo vệ độc lập dân tộc trong lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam Đồng thời, phân tích tình hình thế giới, khu vực và trong nước làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015 nhằm bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và phát triển đất nước
Hai là, trên cơ sở làm rõ nội hàm về bảo vệ độc lập dân tộc trong lĩnh vực đối
ngoại của Việt Nam, luận án phân tích nội dung bảo vệ độc lập dân tộc trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới Đồng thời luận án làm rõ thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế nhằm bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc và phát triển đất nước
Ba là, luận án nhận xét về những thành tựu và hạn chế của quá trình bảo vệ
độc lập dân tộc của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2015; đồng thời rút ra một số kinh nghiệm
Trang 32Chương 2
CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG
VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỂ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “độc lập” của một nước vừa là tính từ vừa
là danh từ Trên phương diện tính từ thì độc lập là không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác; còn trên phương diện danh từ thì độc lập là trạng thái của một nước hoặc một dân tộc có chủ quyền về chính trị, không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác [164, tr.444]
Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam cho rằng: “Độc lập” (Independence) là chế
độ tự trị của một đất nước, một quốc gia bởi người dân sinh sống ở đó, nghĩa là có chủ quyền tối cao [4] Độc lập theo đó có thể là trạng thái ban đầu của một quốc gia mới xuất hiện, cũng có thể là giành được nhờ việc chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân đế quốc
luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữa nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến
chương Liên hợp quốc (1970) thì nội hàm của “độc lập” bao gồm: Quyền toàn vẹn lãnh
thổ, quyền bình đẳng, quyền dân tộc tự quyết, nghĩa vụ tôn trọng các quyền con người cơ bản, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực đe dọa sử dụng
vũ lực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tự nguyện tiến hành các cam kết quốc tế Tuyên bố một lần nữa nhấn mạnh những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ, ở quyền bình đẳng giữa các quốc gia lớn và nhỏ [161]
Như vậy, độc lập là quyền của mọi quốc gia dân tộc được quyết định vận mệnh của mình, trước hết là giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, quyết định
Trang 33chế độ chính trị - xã hội bằng cách thiết lập một nhà nước, xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với thể chế chính trị - xã hội và một nền kinh tế được định hướng theo những mục tiêu của từng nước
Theo quan điểm của các học giả phương Tây thì, toàn cầu hóa đã làm cho nhiều nhân tố kinh tế - văn hóa vượt ra ngoài biên giới quốc gia dân tộc mâu thuẫn với ý thức độc lập dân tộc và bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc Vì vậy, họ cho rằng có sự xung đột giữa toàn cầu hóa và chủ quyền quốc gia dân tộc Giáo sư Youer Khunin (Đại học Yuwasjula - Phần Lan) cho rằng: “Trong tình thế toàn cầu hóa thời đại của quốc gia dân tộc đã qua rồi Tư bản không chịu sự ràng buộc của nhà nước, lực lượng thị trường vượt
xa lực lượng nhà nước” [165, tr.5] Thực chất đây là quan điểm “quốc gia hậu dân tộc” hay còn gọi là quốc gia siêu dân tộc, đa dân tộc theo mô hình Liên minh châu Âu (EU) Còn các thành viên “Câu lạc bộ Roma” lại cho rằng: “Chủ quyền quốc gia là một chướng ngại cản trở giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu” và như vậy họ đề cao ý thức toàn nhân loại: “Ý thức nhân loại đi trước ý thức giai cấp và ý thức dân tộc” [165, tr.5] Họ luận giải rằng giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu cần có sự tham gia chung của các quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại
Ở Việt Nam, trong bài viết “Bảo vệ chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc trong thế giới toàn cầu” của tác giả Nguyễn Viết Thảo cho rằng: “Độc lập dân tộc (national
independence) là chủ quyền về mặt pháp lý (sovereignity de jure), hay chủ quyền danh nghĩa (conceptual sovereignity) trên tất cả các lĩnh vực: lãnh thổ, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, an ninh,… phản ánh trạng thái không bị phụ thuộc, không chịu sự khống chế của các thế lực khác” [148, tr.89]
đề đặt ra với Việt Nam” của tác giả Phan Văn Rân, Nguyễn Hoàng Giáp lại cho rằng:
“Độc lập dân tộc thể hiện ở quyền độc lập tự chủ trong việc lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình, thể hiện qua việc quyết định mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, trong việc thiết lập và thực thi quyền lực thông qua các hoạt động lập pháp, tư pháp, tiến hành mà không có sự can thiệp từ phía các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế” [136, tr.65]
Trang 34Tác giả Mai Hải Oanh trong bài viết “Độc lập dân tộc - lợi ích cơ bản của đất nước” nhận định: “Quan niệm về độc lập dân tộc được thể hiện rõ nhất ở hai nội dung là
quyền tối cao của quốc gia dân tộc trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập của quốc gia dân tộc trong quan hệ quốc tế” [117, tr.54]
Như vậy, các quan điểm trên về cơ bản có sự thống nhất về nội hàm quan niệm
độc lập dân tộc, với hai nội dung chính Thứ nhất, trong phạm vi lãnh thổ (đối nội),
mỗi quốc gia dân tộc phải có quyền lực tối cao, tức là có quyền sở hữu và quyền lực
Về quyền sở hữu, quốc gia dân tộc có quyền sở hữu đầy đủ và trọn vẹn môi trường
tự nhiên của quốc gia dân tộc trên cơ sở phù hợp với lợi ích của cộng đồng dân cư sống trên vùng lãnh thổ, gồm: đất đai, không gian, mặt nước, biển, đảo, rừng, tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất trong phạm vi giới hạn bởi biên giới quốc gia Đồng thời, quốc gia dân tộc được hưởng quyền lợi từ việc cho các quốc gia dân tộc khác, các chủ thể khác thuê sử dụng, khai thác trên lãnh thổ của mình hoặc cho quá cảnh qua lãnh thổ, Quyền lực quốc gia, được thể hiện trong việc quốc gia dân tộc
có quyền lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa riêng của mình; có đầy đủ quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp để tự quyết định mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của mình; không lệ thuộc hoặc bị thao
túng bởi các dân tộc khác Thứ hai, quyền độc lập của quốc gia dân tộc trong quan
hệ quốc tế (đối ngoại) Thể hiện ở việc các quốc gia dân tộc được hoàn toàn bình đẳng với nhau theo luật pháp quốc tế, có quyền tự quyết định mọi vấn đề mang tính chất đối ngoại của mình; đồng thời, cam kết và thực hiện cam kết tôn trọng độc lập, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác
Từ những quan niệm trên, tác giả luận án nêu ra quan niệm: Độc lập dân tộc là khái niệm dùng để chỉ trạng thái của một quốc gia không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào bất cứ một thế lực nào khác bên ngoài cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ không bị nước ngoài đe doạ, đó là quyền làm chủ thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một quốc gia được thể hiện trên mọi phương diện: chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa,
xã hội và đối ngoại; được đảm bảo toàn vẹn, đầy đủ về mọi mặt, cả lập pháp, hành pháp lẫn tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó và được thế giới công nhận
Trang 352.1.1.2 Quan niệm về bảo vệ độc lập dân tộc
Bảo vệ độc lập dân tộc là sự bảo đảm cho một quốc gia dân tộc có hoà bình, ổn
định về chính trị, phát triển về kinh tế và văn hóa, thống nhất về lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, độc lập tự chủ trong quan hệ với các quốc gia dân tộc khác dựa trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi
Bảo vệ độc lập dân tộc cũng đồng nghĩa với việc phải bảo vệ được các yếu tố cấu
thành độc lập dân tộc, đó là: bảo vệ những giá trị thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc; là bảo vệ chủ quyền quốc gia về lãnh thổ, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, đối ngoại trong các quan hệ quốc tế, không bị lệ thuộc và phụ thuộc vào bên ngoài; là bảo vệ lợi ích dân tộc, chủ quyền quốc gia gắn với bảo đảm quyền con người; là đấu tranh chống mọi sự áp đặt, nô dịch dân tộc, sự lợi dụng hội nhập quốc tế để chống phá độc lập dân tộc, xâm phạm an ninh quốc gia của các thế lực thù địch… trong mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời Do đó, bảo vệ độc lập dân tộc luôn là mục tiêu hàng đầu của mọi quốc gia dân tộc, đặc biệt là của các dân tộc nhỏ yếu Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sự tồn vong và phát triển của mỗi quốc gia đều gắn liền với việc giành
và giữ vững nền độc lập của dân tộc mình Sống trong độc lập luôn là nguyện vọng thiết tha, chính đáng của các dân tộc trên thế giới và được đo bằng “những khả năng và điều kiện đảm bảo cho dân tộc thoát khỏi tình cảnh nô lệ, phụ thuộc, bị áp bức, bóc lột và nô dịch; đảm bảo cho dân tộc đó vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu so với các dân tộc khác trong thế giới ngày nay, ngày càng vươn lên đỉnh cao của sự giàu có, văn
minh, hiện đại, công bằng và bình đẳng” [127, tr.8]
Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập quốc tế đã và đang phát triển như vũ bão hiện nay làm cho khái niệm “độc lập dân tộc” và “bảo vệ độc lập dân tộc”,
“chủ quyền quốc gia” không còn nguyên nội hàm như cũ, mặc dù xét về hình thức, mỗi quốc gia vẫn có chủ quyền và lãnh thổ của riêng mình Nếu như trước đây, khi nhắc đến bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia “nhiều khi người ta nghĩ đến một chính sách khép kín về chính trị theo kiểu biệt lập, tự cấp tự túc về kinh tế” [123, tr.37] thì ngày nay, quốc gia nào càng có mối quan hệ rộng mở, đang dạng hóa, đa phương hóa trong quan
hệ quốc tế thì lại càng có khả năng tăng cường thế “tự chủ” trong việc thực thi chính sách, đường lối đối nội, đối ngoại và cũng chính là quốc gia có khả năng tự vệ tốt nhất
Trang 36Như vậy, bảo vệ độc lập dân tộc là tổng thể những hoạt động tích cực, tự giác, mang tính chủ động cao của các chủ thể, của nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn các hoạt động xâm phạm, phá hoại để giữ gìn, bảo vệ nền độc lập dân tộc Đó là việc huy động sức mạnh nội sinh, sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, kết hợp với ngoại lực để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm, phá hoại Đó là biểu hiện hành vi tích cực tự bảo vệ trước sự tác động của tình hình và mọi sự đe dọa, uy hiếp, xâm phạm độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia từ bên ngoài Bảo vệ độc lập dân tộc không có nghĩa chỉ bằng sự nỗ lực và sức mạnh của bản thân mình, mà phải kết hợp tốt với sức mạnh bên ngoài, tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất để bảo vệ, đặc biệt trong điều kiện tác động mạnh mẽ của hội nhập quốc tế
2.1.1.3 Quan niệm về bảo vệ độc lập dân tộc trong lĩnh vực đối ngoại
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, bảo vệ độc lập dân tộc không có nghĩa là
“đóng cửa khép kín” như cách thức của chủ nghĩa dân tộc vị kỷ trước đây, bởi đó là sự tự
cô lập, tự tụt hậu Để phát triển, các dân tộc giờ đây phải “mở cửa” và thiết lập quan hệ hợp tác đa phương, đa diện; biết kết hợp lợi ích của dân tộc mình với lợi ích của các dân tộc khác và chung hơn cả là lợi ích của toàn nhân loại [50, tr.23] Song, cũng cần khẳng định rõ rằng, hội nhập quốc tế không phải là “hoà tan” để rồi đánh mất chính mình; mở rộng quan hệ đối ngoại nhưng không phải bằng mọi giá để rồi rơi vào tình trạng lệ thuộc
Do vậy, bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc mình và tôn trọng nền độc lập của các dân tộc khác là một nguyên tắc cơ bản để các dân tộc mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, cùng thúc đẩy thế giới không ngừng phát triển
Bảo vệ độc lập dân tộc trong lĩnh vực đối ngoại có nghĩa là mỗi quốc gia phải tìm
cho mình một hướng đi, một chiến lược đối ngoại thích hợp với xu thế thời đại, phù hợp với đặc điểm, đặc thù của quốc gia, dân tộc là đòi hỏi bức thiết của các nước để có thể vừa phát triển, vừa đảm bảo ổn định và giữ vững độc lập dân tộc
Trước tác động của xu thế toàn cầu hóa, vừa tích cực, vừa tiêu cực đến các quốc gia, vừa tạo cơ hội cho các nước tận dụng nguồn lực của thế giới để phát triển nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức đe dọa đến sự tồn vong của các quốc gia dân tộc Điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia dân tộc phải có sự phân tích và đánh giá một cách đúng
Trang 37đắn về những ảnh hưởng của toàn cầu hoá đối với dân tộc mình, trên cơ sở đó đề ra chủ trương, đường lối đối ngoại phù hợp nhằm tranh thủ thời cơ, khắc phục hạn chế, biến thách thức thành thời cơ để phát triển Hơn nữa, hiện nay có nhiều vấn đề mang tính toàn cầu và thậm chí nảy sinh từ bên ngoài đe dọa đến sự ổn định và độc lập, chủ quyền quốc gia của mỗi nước, đòi hỏi sự phối hợp giữa các chủ thể quốc gia dân tộc để loại trừ Các nguy cơ từ vấn đề an ninh phi truyền thống, tội phạm khủng bố quốc tế, các chính sách kinh tế mang tính áp đặt từ quốc gia khác, các lực lượng phản động chính trị hoạt động ở nước ngoài, đòi hỏi công cuộc đấu tranh bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc ở tất cả các quốc gia phải luôn đề cao vai trò của hoạt động đối ngoại nhằm hình thành lợi ích đan xen, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để các nước cùng phối hợp với nhau trong cuộc đấu tranh chung này
Đối với các nước đang phát triển, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của hoạt động đối ngoại theo hướng tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế sẽ tạo điều kiện để các nước này phối hợp lực lượng nhằm đấu tranh thiết lập trật tự thế giới công bằng, dân chủ cả trên lĩnh vực chính trị lẫn kinh tế cũng như ở các lĩnh vực khác Nhất là mở rộng quan hệ với các nước lớn trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tạo ra thế đan xen lợi ích giữa chính các nước lớn, một mặt sẽ trực tiếp thu hút được nguồn lực bên ngoài cho phát triển; mặt khác tránh rơi vào sự phụ thuộc bất kỳ một nước lớn nào; đồng thời giúp cho các nước tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng thế giới trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của đất nước mình Nhận thức đúng đắn, đầy đủ về độc lập dân tộc và vai trò của đối ngoại đối với tiến trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc là cơ sở khoa học quan trọng để mỗi quốc gia có những đối sách phù hợp trong quá trình phát triển đất nước giai đoạn hiện nay
Giữ vững được độc lập dân tộc trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường dưới tác động của xu thế TCH, các quốc gia đều ý thức được việc thiết lập sức mạnh dân tộc từ sự kết hợp nhiều yếu tố tạo nên sức mạnh quốc gia tổng hợp trong quá trình phát triển đất nước Nếu như trước đây, với sự phổ biến của tư duy chính trị quyền lực (Realpolitik), sức mạnh chính trị, quân sự được xem là thước đo sức mạnh tự vệ của mỗi nước và là nhân tố quyết định vị trí cũng như tầm ảnh hưởng quốc tế của quốc gia, dân tộc đó, thì hiện nay, sức mạnh của mỗi quốc gia được tạo dựng nên không chỉ bởi
Trang 38nguồn lực chính trị, quân sự mà còn bởi tiềm lực kinh tế, những giá trị văn hóa và quan
hệ đối ngoại Trong đó xây dựng và củng cố quan hệ đối ngoại có vai trò đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ quá trình này Nhiệm vụ của hoạt động đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, thực chất là tăng cường khả năng bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
2.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc
hiện trong nhiều tác phẩm, bài viết, điển hình là các bài viết: “Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ”, “Cuộc đấu tranh của nhân dân Aidơlen chống thực dân Anh” Đặc biệt là trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Mác cho rằng, giai cấp vô sản muốn hoàn thành
được sứ mệnh của mình, trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành quốc gia dân tộc, phải tự quyết về vận mệnh của dân tộc mình, phải tự mình trở thành dân tộc [88, tr.105] Mác còn nêu: “Không khôi phục độc lập và thống nhất cho từng dân tộc thì về phương diện quốc tế, không thể thực hiện được sự đoàn kết của giai cấp vô sản và sự hợp tác hòa bình và tự giác của các dân tộc để đạt tới mục đích chung” [87, tr.534]
nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa (1920) Trong bản sơ thảo trên, V.I.Lênin đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia dân tộc, đặc biệt nhấn mạnh đến quyền dân tộc tự quyết và quyền bình đẳng giữa các quốc gia dân tộc Theo V.I.Lênin, một dân tộc có độc lập khi có “Quyền dân tộc tự quyết có nghĩa là quyền phân lập về mặt nhà nước của các dân tộc đó ra khỏi các tập thể dân tộc khác, có nghĩa là sự thành lập một quốc gia dân tộc độc lập” [77, tr.303] Điều đó cũng có nghĩa là dân tộc đó có quyền tự quyết cả trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại; có quyền tự quyết,
tự chủ đối với vận mệnh của quốc gia dân tộc mình, với con đường phát triển của quốc gia dân tộc mình, đồng thời có quyền quyết định việc thành lập một nhà nước độc lập hay liên minh với quốc gia khác trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện Do đó, V.I.Lênin phê phán sự thôn tính, xâm lược của một dân tộc này đối với một dân tộc khác, ông cho đó là
Trang 39sự vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết dân tộc, là kiến lập biên giới của một quốc gia trái với ý muốn của dân cư Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại Quyền bình đẳng của các quốc gia dân tộc còn thể hiện ở sự tôn trọng quyền làm chủ của mỗi quốc gia dân tộc, đặt lên hàng đầu việc xóa bỏ sự nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác
thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa của V.I.Lênin Trên cơ sở tiếp cận quan điểm “độc lập dân tộc”, “quyền dân tộc tự quyết” và tìm thấy cách giải quyết đúng đắn của cách mạng giải phóng dân tộc trong luận cương của V.I.Lênin, vấn đề “độc lập dân tộc, tự do, quyền bình đẳng và tự quyết cho toàn thể dân tộc” đã trở thành cốt lõi trong tư tưởng của Hồ Chí Minh Theo Người, độc lập dân tộc là làm cho dân tộc thoát khỏi tình trạng áp bức, bóc lột và nô dịch bởi các thế lực ngoại xâm Độc lập dân tộc phải là nền độc lập, tự do thực sự, hoàn toàn chứ không phải là thứ độc lập giả hiệu Một quốc gia dân tộc có được độc lập là quốc gia đó phải có vị thế bình đẳng trên trường quốc tế, có một nhà nước dân chủ thực sự để đảm bảo quyền lực nhà nước là của nhân dân Người dân của một nước độc lập phải là người chủ của đất nước mình, mọi công dân sống trong nước đó có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc Hồ Chí Minh khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng
tôi, không có sự can thiệp ở bên ngoài” [95, tr.136]
Tư tưởng của Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ tinh thần nhân văn cao cả, và quan niệm của Người về độc lập, tự do thực sự là quan điểm mang tính cách mạng sâu sắc, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân Vì lẽ đó, trong Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người nhấn mạnh: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” [93, tr.555] Hồ Chí Minh cũng cho rằng, nền độc lập thực sự của một quốc gia dân tộc bao gồm độc lập về nhiều mặt, trong đó độc lập về chính trị được xác định là điều kiện tiền đề cho độc lập thực sự, độc lập về kinh tế là sự bảo đảm, điều kiện quyết định cho nền độc lập ấy
ích chính đáng của dân tộc, thực hiện các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay khi mà lợi ích của các dân tộc đan xen, chồng chéo
Trang 40lẫn nhau, thì bảo vệ độc lập dân tộc không phải là sự biệt lập và chủ nghĩa bè phái
mà bảo vệ độc lập dân tộc phải gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế Đoàn kết
và hợp tác quốc tế nhằm mục tiêu tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các nước và các dân tộc trên thế giới cả về vật chất lẫn tinh thần, làm tăng thêm khả năng tự bảo vệ nền độc lập của dân tộc mình Vì vậy, bảo vệ độc lập của dân tộc mình phải gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế Đây chính là một trong những nguyên lý cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các hoạt động quốc tế và ngoại giao của Người trong tiến trình cách mạng Việt Nam
Một trong những điểm nhấn trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc là quan điểm kết hợp giữa “độc lập dân tộc và CNXH” Bởi vì, theo Người: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc để có độc lập tự do, không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản; độc lập dân tộc là nền tảng để xây dựng CNXH và chỉ có CNXH mới tạo cơ sở vững chắc để củng cố, bảo vệ độc lập dân tộc Hơn nữa, từ kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và của chính chúng ta,
Hồ Chí Minh đã nhận ra rằng, chỉ với CNXH, độc lập dân tộc mới đạt tới giá trị đích thực là phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động Vì trên thực tế, chỉ có CNXH mới hoàn toàn giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người; chỉ có CNXH mới xoá bỏ căn nguyên sâu xa của tình trạng người bóc lột người và đưa dân tộc tới sự phồn vinh về kinh tế, sự phát triển phong phú về văn hoá, mới thực hiện đầy đủ nhất quyền lực của nhân dân Có thể thấy, khát vọng lớn lao nhất trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là mang lại độc lập cho dân tộc, quyền tự do và hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam Do vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn con đường phát triển lên CNXH sau khi đã giành được độc lập là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan và xu thế phát triển của lịch sử xã hội
2.1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về độc lập dân tộc, bảo vệ độc lập dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc trong lĩnh vực đối ngoại
mục tiêu hàng đầu của tất cả các quốc gia, dân tộc Đối với Việt Nam, độc lập dân tộc là