Tên đề tài: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CÁC BÀI TẬP CHUYỂN ĐỘNG A/ PHẦN MỞ ĐẦU 1/ Lí do chọn đề tài: Hưởng ứng cuộc vận động của ngành giáo dục: "Trường học thân thiện,học sinh tích cực”, “Mỗi
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
CÁC BÀI TẬP CHUYỂN ĐỘNG
MÔN: VẬT LÍ
Năm học: 2015 - 2016
Trang 2MỤC LỤC
A/ PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lí do chọn đề tài
II/ Mục đích nghiên cứu
III/ Nhiệm vụ nghiên cứu
IV/ Đối tượng nghiên cứu
V/ Phương pháp nghiên cứu
VI/ Phạm vi và thời gian thực hiện đề tài
B/ NỘI DUNG ĐỀ TÀI
V/ Bài học kinh nghiệm
1/ Đối với giáo viên
2/ Đối với học sinh
VI/ Điều kiện áp dụng đề tài
VII/ Những kiến nghị và đề xuất
Trang 3Tên đề tài: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
CÁC BÀI TẬP CHUYỂN ĐỘNG
A/ PHẦN MỞ ĐẦU 1/ Lí do chọn đề tài:
Hưởng ứng cuộc vận động của ngành giáo dục: "Trường học thân thiện,học sinh tích cực”, “Mỗi thầy cô là một tấm gương sáng về tự học và rèn luyện”,
“ Nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục”, hơn bao giờ hết,chất lượng giáo dục phải được đặt lên hàng đầu Học sinh phải học thật, thi thật.giáo viên phải kiểm tra, đánh giá và phản ánh thật Như vậy sẽ không tránh khỏinhững kết quả thực tế cũng “rất thật” nhưng lại không như mong muốn! Vậylàm thế nào để có được một kết quả phản ánh đúng thực tế lại vừa được xã hộimong muốn và chấp nhận? Có lẽ chỉ có con đường là nâng cao chất lượng giáodục mới làm thỏa mãn đòi hỏi của xã hội cũng nhu xu thế chung của thời đại.Muốn vậy, học sinh phải tích cực, không ngừng học tập, giáo viên phải khôngngừng tìm tòi, nghiên cứu để để trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ
“Chuyển động” là một trong những chủ đề tương đối đa dạng, phong phú
và hết sức quan trọng trong chương trình vật lý lớp 8 Tuy nhiên, hiện nay vớichương trình đổi mới, nội dung các bài học trong sách giáo khoa đã tinh giảm đikhá nhiều khiến cho việc cung cấp kiến thức nâng cao cho các đối tượng họcsinh khá, giỏi và nhất là việc bồi dưỡng kiến thức nâng cao cho học sinh giỏigặp không ít khó khăn Vậy làm thế nào để học sinh có thể nắm bắt lý thuyết,hiểu rõ vấn đề và vận dụng linh hoạt, có được thao tác, kỹ năng trong việc giảibài tập chuyển động và yêu thích môn học này Để nâng cao chất lượng giảngdạy, giúp học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng giải các bài tập chuyển động thìgiáo viên phải có phương pháp giảng dạy phù hợp, đạt hiệu quả Muốn cóphương pháp phù hợp, hiệu quả cao thì cần phải có nhiều đề tài nghiên cứu vềvấn đề này Chính vì vậy, tôi cũng xin mạnh dạn đóng góp một vài ý kiến về
" Phương pháp giảng dạy các bài tập chuyển động”.
2/ Mục đích nghiên cứu.
Sau khi nhận thấy những tồn tại về cách giải bài tập vật lý lớp 8, tôi đã đisâu nghiên cứu, khảo sát thực trạng giải bài tập phần chuyển động ở các em.Thông qua đó tôi đã tìm ra biện pháp khắc phục những tồn tại để hướng tới chohọc sinh cách giải bài tập có hiệu quả hơn Nhằm hình thành cho học sinh mộtcách tổng quan về phương pháp giải một bài tập chuyển động, từ đó các em cóthể vận dụng một cách thành thạo và linh hoạt trong việc giải các bài tập, nângcao hiệu quả của bài tập, giúp các em nắm vững kiến thức trong quá trình họctập
Trang 43/ Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài nêu và giải quyết một số vấn đề sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về việc giải bài tập phần chuyển động
- Tìm hiểu cơ sở thực tế về thực trạng giảng dạy sao cho phù hợp với đốitượng học sinh
- Phân loại và hướng dẫn học sinh giải một số bài tập Vật Lí
- Kết quả đạt được
4/ Đối tượng nghiên cứu:
Phương pháp giảng dạy các bài tập chuyển động áp dụng cho học sinhtrường THCS Phú Sơn qua năm học 2015-2016
5/ Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu liên quan tớiviệc sử dụng bài tập trong dạy học Vật Lí, các tài liệu nói về phương pháp giảibài tập Vật Lí
Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế
Phương pháp giao tiếp: tìm hiểu ở học sinh về cách giải các loại bài tậpphần chuyển động
Phương pháp so sánh đối chiếu, soạn giáo án dạy thực nghiệm để so sánhchất lượng đạt hiệu quả như thế nào?
Phương pháp điều tra Sư Phạm
Phương pháp quan sát Sư Phạm
Phương pháp thực nghiệm Sư Phạm: Áp dụng đề tài vào dạy học thực tế
từ đó thu thập thông tin để điều chỉnh cho phù hợp
6/ Phạm vi và thời gian thực hiên đề tài:
Đề tài được thực hiện ở môn Vật Lí tại trường THCS Phú Sơn trong nămhọc 2015 - 2016
Trang 5B/ NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I/ Cơ sở lí luận:
Phương pháp dạy học là một bộ phận hợp thành của quá trình Sư Phạmnhằm đào tạo thế hệ trẻ có tri thức khoa học, về thế giới quan và nhân sinh quan,thói quen và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tế
Phương pháp dạy học có mối liên hệ biện chứng với các nhân tố của quátrình dạy học Những phương pháp dạy học phải thống nhất biện chứng giữagiảng dạy của giáo viên với việc học tập của học sinh Đồng thời góp phần cóhiệu quả vào việc thực hiện tốt các khâu của quá trình dạy học Xác định kếhoạch giáo dục, giáo dưỡng, phát triển bộ môn một cách nhịp nhàng, cụ thể hóanhiệm vụ dạy học trên cơ sở đặc điểm học sinh, điều chỉnh kế hoạch dạy họccho sát với diễn biến thực tế, tổ chức và hướng dẫn học sinh học tập ở trên lớpcũng như ở nhà phù hợp với dự định Sư Phạm
Đối với môn Vật Lí ở trường THCS, bài tập vật lí đóng một vai trò hếtsức quan trọng, Việc hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lí là một hoạt động dạyhọc, là một công việc khó khăn, ở đó bộc lộ rõ nhất trình độ của người giáo viênVật lí trong việc hướng dẫn hoạt động trí tuệ của học sinh vì thế đòi hỏi ngườigiáo viên và học sinh phải học tập và lao động không ngừng Bài tập Vật lí sẽgiúp học sinh hiểu sâu hơn những quy luật Vật lí, những hiện tượng Vật lí vì bàitập Vật lí là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động Khi giải bàitập Vật lí học sinh cần phải nhớ lại các kiến thức đã học, có khi phải sử dụng cáckiến thức của nhiều chương nhiều phần của chương trình Có nhiều bài tập Vật líkhông chỉ dừng lại trong phạm vi những kiến thức đã học mà còn giúp bồidưỡng cho học sinh tư duy sáng tạo Đặc biệt là các bài tập thực nghiệm Thôngqua các bài tập ở dạng khác nhau tạo điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạtnhững kiến thức để tự lực giải quyết thành công những tình huống cụ thể khácnhau thì những kiến thưc đó mới trở nên sâu sắc hoàn thiện và trở thành vốnriêng của học sinh Trong quá trình giải quyết vấn đề, tình huống cụ thể do bàitập đề ra học sinh phải vận dụng các thao tác tư duy như so sánh phân tích, tổnghợp khái quát hóa để giải quyết vấn đề, từ đó sẽ giúp phát triển năng lực tưduy làm việc tự lực được nâng cao, tính kiên trì được phát triển
Việc dạy bộ môn Vật Lý nói chung, dạy bài tập nói riêng được xem là mộthoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, đó là việc sử dụng bộ mã gồmhai phương diện: Một mặt đó là quá trình tư duy của các em, vận dụng các côngthức vào việc giải bài tập Mặt khác là sự vận dụng lý thuyết vào thực tế, đốichiếu kết quả ở lý thuyết tìm được so với kết quả khảo sát ở thực tế
Bài tập vật lý phần chuyển động ở chương trình vật lý lớp 8 có liên quanđến quá trình tìm hiểu thực tế ở các em Các em càng tìm hiểu nhiều, càng khámphá nhiều thì việc học tập ở các em sẽ đạt kết quả khả quan hơn
Trang 6II/ Cơ sở thực tiễn:
và sách giáo khoa tương đối đầy đủ
Các em có nhận thức tương đối đồng đều, các em thấy rõ tầm quan trọngcủa chuyển động trong đời sống và kỹ thuật , một số bậc phụ huynh cũng quantâm đến việc học tập của con em, họ tạo mọi điều kiện cho con em họ đến lớptiếp thu mọi tinh hoa văn hoá kiến thức của nhân loại làm cho giáo viên đã yêunghề lại càng yêu nghề hơn dốc hết mọi tâm sức, kiến thức nhằm truyền thụ đếnvới các em một cách tối ưu
2/ Khó khăn:
Đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn Vật lí của trường THCS Phú Sơn chỉ
có một Giáo viên nên ít được giao lưu, học hỏi, tọa đàm trao đổi kinh nghiệmcũng như chuyên môn nghiệp vụ
Vì đặc thù của huyện nhà kinh tế còn nhiều khó khăn, trào lưu ham họccủa các em chưa thật mạnh, một số phụ huynh có tư tưởng phó mắc cho nhàtrường và thầy cô giáo
Các em nắm bắt kiến thức một cách thụ động, lý thuyết chưa vững, côngthức chưa nắm thật kỹ Nên việc giải bài tập gặp không ít khó khăn
Vì vậy, qua nhiều năm giảng dạy tôi trăn trở, suy nghĩ là làm thế nào đểcác em nắm bắt kiến thức vật lý và đặc biệt là bài tập các dạng bài tập để vậndụng một phần vào đời sống thực tế đồng thời làm nền tảng để mai này các em
có điều kiện học cao hơn Do đó:
* Công việc của giáo viên:
Để kích thích học sinh hứng thú học tập, các thầy giáo, cô giáo cần:
- Nêu phương pháp giải bài tập của từng dạng cụ thể
- Chọn lọc một số bài tập điển hình (có cả định tính và định lượng) từ dễđến khó, từ đơn giản đến phức tạp, chọn những bài tập có chứa đựng những mâuthuẫn, những điều mang tính chất nghịch lý so với nhận xét thông thường củahọc sinh, những bài tập có liên quan đến thực tế cuộc sống
- Gợi ý nêu vấn đề để kích thích học sinh suy nghĩ đúng hướng bài tập
Trang 7- Hình thành bài giải mẫu cụ thể, ngắn gọn, chính xác.
* Công việc của học sinh:
Tích cực suy nghĩ để vận dụng các kiến thức có liên quan đến vấn đề,dùng lời văn diễn đạt thành một bài giải hoàn chỉnh (chủ yếu bằng phươngpháp phân tích)
III/ Quá trình thực hiện đề tài
1/ Khảo sát thực tế.
Năm học 2015 - 2016, tôi được ban giám hiệu trường THCS Phú Sơnphân công giảng dạy bộ môn Vật Lí 8 Trong quá trình giảng dạy, tôi phát hiệnthấy các bài tập liên quan đến phần chuyển động tưởng chừng như đơn giảnnhưng học sinh lại gặp nhiều lúng túng, khó khăn Khi cho học sinh làm bài tập
về chuyển động thì các em không những không biết làm mà ngay cả tóm tắt,các em cũng làm không xong
Một tình trạng thực tế nữa làm cho các em nắm bài chưa sâu cũng nhưkhông giải được các bài tập chuyển động, đó là các em không thuộc, không biếtbiến đổi thành thạo công thức, không biết đổi đơn vị
Tóm lại, qua giảng dạy bộ môn Vật lí phần chuyển động tôi thấy việc địnhhướng giải bài tập của các em còn yếu ở các mặt sau:
- Các em chưa biến đổi thành thạo công thức
- Các em chưa biết tóm tắt một cách thành thạo cũng như phân tích dữliệu, tư duy tìm hướng giải quyết
- Các em chưa xác định được các bước giải bài tập
Như vậy, các em học bài trên lớp về chuyển động còn thụ động nhiều, còntrông trờ nhiều vào sự gợi ý, giảng giải của giáo viên điều đó dẫn đến một thựctrạng là môn Vật Lí học sinh thực sự chưa hứng thú học tập, cũng như chưa tíchcực tham gia xây dựng bài, trái ngược hẳn với sự học tập sôi nổi học tập mônvật lí của các em khi còn đang học ở lớp 6, lớp 7
2/ Số liệu điều tra trước khi thực hiện.
Khi điều tra về thành tích học tập môn vật lí của 113 học sinh thuộc khối
8 trường THCS Phú Sơn năm 2014 – 2015, kết quả như sau:
Trang 83/ Những biện pháp thực hiện.
Trong quá trình thực hiên đề tài tôi đã thực hiện như sau:
a/ Làm cho học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản.
* Chuyển động đều là chuyển động mà vận tốc của vật có độ lớn khôngđổi theo thời gian
Công thức vận tốc của chuyển động s
v t
s v
Sau khi học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản tôi đưa ra một số ví dụ
cụ thể có hướng dẫn làm mẫu, và một số bài tập tương tự để học sinh tự làmnhằm nắm chắc kiến thức hơn
* Dạng bài tập trắc nghiệm.
- Với dạng bài toán này học sinh phải nắm chắc công thức
v: Là vận tốc của vật, đơn vị là m/s; km/h
s v
t
= s: Là quãng đường vật đi được, đơn vị là m hoặc km
t: Là thời gian vật đi hết quãng đường đó, đơn vị s hoặc h
s = v t
- Từ công thức s
v t
=
s
t v
=
- Sau khi học sinh nắm chắc công thức nói trên tôi đưa ra một số ví dụ cụ
Trang 9D : Chuyển động có vận tốc vừa tăng vừa giảm.
Sau khi đọc song đề bài yêu cầu học sinh suy nghĩ và trả lời
Ở ví dụ này đáp án đúng là đáp án B
Trên đây là một ví dụ đơn giản xong nó đã hình thành kiến thức cơ bản
về sự chuyển động mà vận tốc thay đổi theo thời gian Song tôi lại đưa ra một ví
dụ khác như sau:
* Ví dụ 2 :
Một người đi quãng đường s1 hết t1 giây, đi quãng đường tiếp theo s2 hết t2 giây Trong các công thức sau đây công thức nào tính được vận tốc trungbình của vật trên cả đoạn đường s1 và s2:
=
Ở ví dụ này tôi làm phiếu học tập và phát cho các em và yêu cầu các emkhoanh tròn vào đáp án đúng Sau khi tôi thu phiếu học tập và hỏi những em nàokhoanh tròn đáp án A; B; C; D để xem khả năng nắm kiến thức của các em
Ở ví dụ này đáp án đúng là đáp án C
Trên đây là một ví dụ khác tuy không khó song cơ bản làm cho học sinh nắm chắc được công thức tính vận tốc trung bình của chuyển động không đều
Trang 10* Ví dụ 3:
Một viên bi được thả lăn xuống một cái dốc dài 1,2m hết 0,5s Khi lêndốc bi lăn tiếp một quãng đường nằm ngang dài 3m trong 1,5s Vận tốc trungbình của viên bi cả hai đoạn đường trên là bao nhiêu? Hãy chọn đáp án đúngtrong các kết quả sau:
Vậy đáp án đúng là đáp án C
Qua ví dụ này học sinh cơ bản biết thay số vào công thức để tính toán từ
đó chọn ra được đáp án đúng Song tôi lại đưa ra một ví dụ khác ở mức độ caohơn
* Ví dụ 4:
Một xe chuyển động với vận tốc trung bình là 36km/h trong 45 phút.Trong 45 phút tiếp theo, xe chuyển động với vận tốc trung bình là 42km/h Vậyvận tốc trung bình của xe trên cả đoạn đường là bao nhiêu? Trong các đáp ánsau:
A : 39km/h C : 45km/h
B : 40km/h D : Một kết quả khác
Trang 11Qua ví dụ này học sinh phải suy nghĩ để tìm độ dài mỗi chặng đường mà
xe đó đi được để từ đó có thể áp dụng được công thức vận tốc trung bình Hơnnữa tôi phải cho các em thống nhất đơn vị đo trước khi tính toán, qua đó củng cốđược đơn vị đo
a/ Sau bao lâu vật đến được B? Hãy chọn kết quả đúng trong các kết quả sau:A: t = 0,8s B: t = 0,48s C: t = 480s D: Một kết quả khác
b/ Vận tốc trung bình trên cả quãng đường AB có thể nhận giá trị nào trong cácgiá trị sau:
Trang 12Hoàn thành nội dung bài giải vào các chỗ trống sau:
a Thời gian đi nửa đoạn đường đầu là:
Một vật chuyển động trên đoạn đường thẳng AB nửa đoạn đường đầu vật
đi với vận tốc v1 = 25km/h Nửa đoạn đường sau vật đi theo hai giai đoạn trongnửa thời gian đầu vật đi với vận tốc v2 =18km/h, nửa thời gian sau vật đi với vậntốc v3 = 12km/h Vận tốc trung bình của vật trong cả đoạn đường AB có thểnhận giá trị nào trong các giá trị sau
A: vtb = 18,75km/h C: vtb = 1,875km/h
B: vtb = 187,5km/h D: Một giá trị khác
Đây là một ví dụ phức tạp bởi một số yếu tố trong bài lại cho ở dạng tổng quát, đòi hỏi các em phải có kỹ năng biến đổi toán học một cách hợp lý để
Trang 13v v
v v
s v
s t
t
2 1
1 3
2 1
2 1
1 2
1 2
Vận tốc trung bình vật đi hết quãng đường AB là:
v v
v
v v
v v
v v
s
s t
s
vtb
/ 75
, 18 12
18 25
2
12 18
25 2
2
2 1
2
1
3 2
1
3 2
1
= +
+
+
=
+ +
=
=
Vậy đáp án đúng là đáp án A
Trang 14Trên đây là một số ví dụ cụ thể về dạng bài tập trắc nghiệm, xắp xếp theomức độ từ dễ đến khó, nhằm cung cấp cho các em tính thực tế và phong phú củakiến thức.
Sự đa dạng của các câu hỏi thể hiện vào một hay nhiều đơn vị kiến thức
và có 4 phương án trả lời kèm theo, qua đó các em chủ động về mặt kiến thức vàhiểu được bản chất về chuyển động cơ học
Sau khi kết thúc các ví dụ trên tôi tóm lại cách trả lời chung cho dạng bàitập này như sau:
B1: Đọc kỹ đề bài và thống nhất đơn vị cho từng đại lượng
B2 : Trình bày lời giải
A: Chuyển động của ô tô khi khởi hành
B: Chuyển động của xe đạp khi xuống dốc
C: Chuyển động của tào hoả khi vào ga
D: Cả 3 chuyển động trên đều là những chuyển động không đều
*Bài 2:
Một đoàn tàu chuyển động với vận tốc trung bình là 30km/h, quãngđường tàu đi được sau 4 giờ là bao nhiêu? Chọn kết quả đúng trong các kết quảsau
A: 120m B: 120km C: 1200k D: Một kết quả khác
*Bài 3:
Một người đi xe đạp xuống 1 cái dốc dài 120m hết 30 giây Khi hết dốc
xe lăn tiếp một quãng đường nằm ngang dài 60m trong 24s rồi dừng lại
a Vận tốc trung bình trên mỗi đoạn đường có thể nhận giá trị nào trongcác giá trị sau:
A : v1 = 2,5m/s và v2 = 4m/s
Trang 15A : v = 6km/h C : v = 6,25km/h
B : v = 6,5km/h D : Một kết quả khác
*Bài 5:
Một người đi xe đạp trên một đoạn đường thẳng AB 1/3 đoạn đường đầu
xe đi với vận tốc 14km/h, 1/3 đoạn đường tiếp theo xe đi với vận tốc 16km/h;1/3 đoạn đường cuối cùng đi với vận tốc 8km/h.Vận tốc trung bình của xe đạptrên cả đoạn đường AB có thể nhận giá trị nào trong các giá trị sau:
A : v’ = 30km/h C : v’ = 40km/h
B : v’ = 35km/h D : v’ =45km/h
*Bài 7:
Một người đi xe máy chuyển động theo 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Chuyển động thẳng đều với vận tốc v1 = 15km/h trong 3km