Ngành quản lý đất đai đã ứng dụng rất nhiều khoa học kỹ thuật tiên tiến vào từng khâu trong công tác quản lý của mình và đem lại hiệu quả rất cao và một trong những khoa học ứng dụng tươ
Trang 1BÙI THỊ HẢO
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI TỶ LỆ 1:50000 PHỤC VỤ CÔNG TÁC PHÂN HẠNG THÍCH NGHI ĐẤT ĐAI VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐỊNH HÓA
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo Chuyên ngành Khoa
Khóa học
: Chính quy : Quản lý đất đai : Quản lý tài nguyên : 2013 – 2017
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 2BÙI THỊ HẢO
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI TỶ LỆ 1:50000 PHỤC VỤ CÔNG TÁC PHÂN HẠNG THÍCH NGHI ĐẤT ĐAI VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐỊNH HÓA
: ThS Trương Thành Nam
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ lượng kiến thức đã học, vận dụng
lý thuyết vào thực tiễn, bước đầu làm quen với những kiến thức khoa học Qua
đó sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện hơn về kiến thức lý luận, phương pháp làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công việc sau này Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm và Ban chủ nhiệm khoa Khoa Quản lý Tài nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu đề
tài:“Nghiên cứu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai tỷ lệ 1:50000 phục vụ công tác phân hạng thích nghi đất đai và định hướng phát triển nông nghiệp huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”
Trong suốt quá trình thực tập em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô giáo và anh chị nơi em thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, Ban chủ nhiệm khoa Khoa Quản lý Tài nguyên, các thầy, cô giáo bộ môn và
đặc biệt là thầy giáo Ths.Trương Thành Nam người đã trực tiếp hướng dẫn
em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Do trình độ có hạn mặc dù đã rất cố gắng song bản khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo, ý kiến đóng góp của bạn bè để bài khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Sinh viên
Bùi Thị Hảo
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của huyện
Định Hoá năm 2016 38
Bảng 4.2: Số lượng vật nuôi của huyện Định Hóa 39
Bảng 4.3: Tình hình dân số và lao động của huyện 40
Bảng 4.4: Cơ cấu sử dụng các loại đất chính huyện Định Hóa 43
Bảng 4.5: Hiện trạng sử dụng các loại đất theo đơn vị hành chính 44
Bảng 4.6: Các loại đất huyện Định Hóa 47
Bảng 4.7: Kết quả phân cấp yếu tố thổ nhưỡng 48
Bảng 4.8: Phân cấp các chỉ tiêu độ cao huyện Định Hóa 50
Bảng 4.9:Bảng kết quả phân cấp chỉ tiêu độ cao huyện Định Hóa 50
Bảng 4.10: Phân cấp chỉ tiêu về độ dốc huyện Định Hóa 52
Bảng 4.11: Kết quả phân cấp chỉ tiêu về độ dốc huyện Định Hóa 52
Bảng 4.12 : Phân cấp các chỉ tiêu về chế độ tưới huyện Định Hóa 54
Bảng 4.13: Kết quả phân cấp các chỉ tiêu về chế độ tưới huyện Định Hóa 54 Bảng 4.14: Tổng hợp phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 56 Bảng 4.15: Tổng hợp phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 60
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Quy trình đánh giá đất theo FAO 11
Hình 2.2: Các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 15
Hình 2.3: Quan hệ giữa dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính 24
Hình 2.4 Mô hình chồng xếp bản đồ trong GIS 25
Hình 4.1: Sơ đồ vị trí huyện Định Hóa trong tỉnh Thái Nguyên 33
Hình 4.2: Qui trình xây dựng bản đồ ĐVĐĐ huyện Định Hóa 45
Hình 4.3 Quy trình chồng xếp bản đồ đơn vị đất đai huyện Định Hóa 57
Hình 4.4: Bảng thuộc tính của bản đồ đơn vị đất đai huyện Định Hóa 59
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ
FAO Food and Agriculture
Organization
Tổ chức nông lương thế giới
LMU Land Mapping Unit Đơn vị bản đồ đất đai
GIS Geographical Information
System
Hệ thống thông tin địa lý
UNESCO United Nations Educational
Scientific and Cultural
Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hoá của Liên Hợp Quốc
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3.Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong việc học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan về công tác đánh giá đất 4
2.1.1 Tầm quan trọng của công tác đánh giá đất 4
2.1.2 Tình hình nghiên cứu đánh giá đất của các nước trên thế giới 4
2.1.3 Các chương trình nghiên cứu đánh giá đất ở Việt Nam 8
2.1.4 Phương pháp đánh giá đất theo FAO 10
2.2 Thành lập bản đồ đơn vị đất đai 15
2.2.1 Một số khái niệm 15
2.2.2 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 15
2.2.3 Ý nghĩa của việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 17
2.2.4 Một số kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong quá trình đánh giá đất Việt Nam theo chỉ dẫn của FAO 18
Trang 82.3 Hệ thống thông tin địa lý và cơ sở ứng dụng cho việc xây dựng bản đồ
đơn vị đất đai 21
2.3.1 Giới thiệu về hệ thống thông tin địa lý 21
2.3.2 Các thành phần và chức năng của hệ thống thông tin địa lý 22
2.3.3 Cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin địa lý 22
2.3.4 Chồng xếp bản đồ 25
2.4 Tình hình ứng dụng GIS 27
2.4.1 Tình hình ứng dụng GIS trên thế giới 27
2.4.2.Tình hình ứng dụng GIS tại Việt Nam 28
2.5 Giới thiệu một số phần mềm GIS được sử dụng 29
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
3.2.1 Địa điểm 30
3.2.2 Thời gian 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.3.1 Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Định Hóa 30
3.3.2 Ứng dụng cụng nghệ GIS trong xây bản đồ đơn vị đất đai 30
3.4 Phương pháp thành lập bản đồ đơn vị đất đai 31
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 31
3.4.2 Phương pháp tham vấn 31
3.4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 31
3.4.4 Phương pháp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 32
3.4.5 Phương pháp chồng xếp bản đồ bằng công nghệ GIS 32
Trang 93.4.6 Phương pháp phân tích, đánh giá, trình bày kết quả 32
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 33
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
4.1.3 Thực trạng quản lý và sử dụng đất 42
4.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 45
4.2.1 Xác định các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 45
4.2.2 Xác định các chỉ tiêu phân cấp 46
4.2.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bằng phương pháp chồng xếp bản đồ 56 4.3 Mô tả các đơn vị đất đai huyện Định Hóa 60
4.3.1 Mô tả các đơn vị bản đồ đất đai (LMU) theo các loại đất 60
4.3.2 Nhận xét các đơn vị đất đai 62
4.3.3 Ý nghĩa của việc đánh giá các đơn vị đất đai và xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Định Hóa 63
4.4 Đề xuất các phương án cải tạo và sử dụng có hiệu quả cho từng đơn vị bản đồ đất đai 63
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC
Trang 10
PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Đất đai là sản phẩm tự nhiên mà tạo hoá đã ban tặng cho loài người, trải qua hàng triệu năm với những biến động thăng trầm của thiên nhiên, của lịch sử xã hội loài người Đất đai đã trở thành tài nguyên vô cùng quý giá, là nơi tạo ra hầu hết của cải vật chất phục vụ cho cuộc sống hàng tỷ người trên trái đất Mặt khác đất đai có những tính chất đặc trưng nên nó được coi là một
tư liệu sản xuất nhưng lại khác với các tư liệu sản xuất khác vì đất đai có hình dáng tự nhiên, không thể di dời được hay biến đổi nó theo ý muốn chủ quan của con người Trong nông nghiệp nó là một tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế
Hiện nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của ngành khoa học công nghệ đã trở thành một nhu cầu thiết yếu đối mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống Ngành quản lý đất đai đã ứng dụng rất nhiều khoa học kỹ thuật tiên tiến vào từng khâu trong công tác quản lý của mình và đem lại hiệu quả rất cao và một trong những khoa học ứng dụng tương đối phổ biến là xây dựng Bản đồ đơn vị đất đai (xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu về đặc tính đất đai) bằng
hệ thống thông tin địa lý (GIS) một trong những khâu quan trọng trong công tác đánh giá đất đai nhằm phân hạng thích nghi đất đai phục vụ cho quy hoạch
sử dụng đất hợp lý trên cơ sở sinh thái và phát triển bền vững
Định Hoá là một huyện miền núi nằm ở phía Tây - Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, có quốc lộ 254 chạy qua và cách thành phố Thái Nguyên 50km Huyện có đặc điểm về địa chất và khí hậu rất đặc trưng, địa hình nhiều phức tạp đồi núi có độ dốc cao, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn Là một trong những huyện miền núi của tỉnh nên điều kiện dân trí thấp dẫn tới việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp vẫn ở mức thấp Bắt
Trang 11nguồn từ những thực tại trên cho thấy hiệu quả sử dụng đất của huyện Định Hóa còn nhiều hạn chế Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ vào lĩnh vực thành lập bản đồ Đơn vị đất đai tại địa phương là hết sức cần thiết, làm cơ sở để so sánh các yêu cầu sử dụng đất trong từng loại hình nhằm sử dụng đất hiệu quả
về kinh tế, xã hội và môi trường; giúp cho việc xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả cao tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp bền vững ở huyện Định Hóa nói riêng và cả nước nói chung
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự
hướng dẫn của thầy giáo: ThS Trương Thành Nam, em tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai tỷ lệ 1:50000 phục
vụ công tác phân hạng thích nghi đất đai và định hướng phát triển nông nghiệp huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai tỷ lệ 1:50000 phục vụ công tác phân hạng thích nghi đất đai và định hướng phát triển nông nghiệp huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định quy mô diện tích và sự phân bố các đơn vị đất đai và mô tả được các đơn vị đất đai đó trên bản đồ đơn vị đất đai được thành lập cho huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Trang 121.3.Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong việc học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên thu thập được những kinh nghiệm và kiến thức thực tế, củng cố và hoàn thiện kiến thức đã học
- Nâng cao kỹ năng sử dụng và tích hợp các phần mềm tin học ứng dụng
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Quá trình tìm hiểu thực tế và nghiên cứu thành lập bản đồ đơn vị đất đai bằng ứng dụng công nghệ GIS tạo thuận lợi cho công tác quản lý đất đai tại địa
phương và làm căn cứ để xây dựng các phương án quy hoạch sử dụng đất
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về công tác đánh giá đất
2.1.1 Tầm quan trọng của công tác đánh giá đất
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất C.Mac đã nhấn mạnh "Lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất xã hội" Đất đai là cội nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm và vật chất khác cho con người Để sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đang là một vấn đề cấp bách đặt ra cho các nhà khoa học
Khoa học đánh giá đất đai ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của khoa học nông nghiệp và các lĩnh vực khoa học khác Đánh giá đất đai là một phần quan trọng của việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên và cũng là cơ sở để định hướng sử dụng đất hợp lý, bền vững trong sản xuất nông, lâm nghiệp Đánh giá đất đai từ lâu đã được các nhà khoa học ở nhiều quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu, những kết quả đánh giá đất đó được tổng kết và khái quát chung trong khuôn khổ hoạt động của các tổ chức liên hợp quốc như: FAO, UNESCO và được coi như tài sản tri thức chung của nhân loại
2.1.2 Tình hình nghiên cứu đánh giá đất của các nước trên thế giới
Hiện nay, tổng diện tích đất trồng trọt của toàn thế giới khoảng 1,5 tỷ
ha (xấp xỉ 10% tổng diện tích tự nhiên của trái đất) Trong nhiều năm qua, theo kết quả đánh giá của "Chương trình môi trường của Liên hợp quốc" cho thấy: 1,2 tỷ ha đất đang bị thoái hoá ở mức trung bình hoặc nghiêm trọng do những hoạt động của con người (WB 1992) Cho đến những năm đầu của thế
kỷ 21 này vẫn còn gần 1/10 dân số thế giới thiếu ăn và bị đe doạ, hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực trên thế giới vẫn thiếu hụt từ
Trang 14150 - 200 triệu tấn Trong khi đó, hiện tại vẫn có từ 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn và thoái hóa
Vấn đề sử dụng hợp lý đất đai, cải tạo và bảo vệ tài nguyên đất đang được nhiều nước đặt thành nội dung chính trong chương trình bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Sử dụng đất trên cơ sở điều tra, nghiên cứu để nắm số lượng và chất lượng đất Đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất hợp lý là yêu cầu không thể thiếu được của các chủ sử dụng đất
Hiện nay, có nhiều quan điểm, nhiều trường phái đánh giá đất đai khác nhau đang thịnh hành ở một số nước trên thế giới Trong đó đáng chú ý là các trường phái sau đây:
* Phương pháp đánh giá đất đai ở Liên Xô cũ
Phân loại đất đai ở Liên Xô dựa vào quy luật và tiến trình phát triển thổ nhưỡng trên các vùng lãnh thổ khác nhau Cơ sở phân loại đất được đặt trên mối liên hệ tương hỗ của các yếu tố: mẫu chất, khí hậu, thuỷ văn, sinh vật và tác động của con người Hệ thống phân loại đất này đó được sử dụng rộng rãi trong các cuộc điều tra đất ở Liên Xô, các nước Đông Âu và một vài nước khác thuộc Châu Á, Châu Phi
Việc phân hạng và đánh giá đất được tiến hành theo các bước:
• Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên)
• Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp với khí hậu, độ ẩm, địa hình)
• Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai)
Tóm lại, phương pháp đánh giá đất ở Liên Xô cũ mới chỉ quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đối tượng đất đai, chưa xem xét đầy đủ đến khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng đất (PGS.TS Đào Châu Thu và cs, 1998) [12]
Trang 15* Phương pháp đánh giá đất đai ở Bungargi
Đánh giá đất được tiến hành theo từng loại cây trồng (lúa mỳ, khoai tây, ) Đối với mỗi loại cây trồng, người ta tiến hành xác định tính chất có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng (thành phần cơ giới, mức độ mùn, độ dầy tầng mùn, độ dầy tầng đất và tính chất lý hóa học của đất) Trên cơ sở đó, xác định các yêu cầu thích hợp cho từng loại cây trồng bằng cách xây dựng các thang điểm đánh giá với mức tối ưu là 100 điểm (Lê Quang Vịnh, 1998) [17]
* Phương pháp đánh giá đất đai ở Anh
Ở Anh có 2 phương pháp đánh giá đất đai đó là dựa vào sức sản xuất tiềm năng của đất hoặc dựa vào sức sản xuất thực tế của đất
Theo phương pháp đánh giá đất đai dựa vào sức sản xuất tiềm năng của đất thỡ việc đánh giá đất dựa vào sức sản xuất tiềm năng của đất phụ thuộc vào 3 nhóm yếu tố chính là:
• Nhóm các yếu tố tự nhiên của đất
• Nhóm các yếu tố đòi hỏi các biện pháp đầu tư lớn mới khắc phục được (các công trình tưới tiêu, rửa mặn )
• Nhóm các yếu tố đòi hỏi người sử dụng đất thực hiện các biện pháp thông thường hàng năm như cải tạo độ chua, cung cấp chất dinh dưỡng cho đất để khắc phục đất
Theo phương pháp đánh giá đất đai dựa vào sức sản xuất thực tế của đất thì việc đánh giá đất đai căn cứ vào năng suất thực tế trên đất, bằng cách lấy năng suất trung bình nhiều năm ở loại đất tốt nhất hoặc đất trung bình để
so sánh với năng suất thực tế trên đất cần xác định Tuy nhiên, khi đánh giá đất đai theo phương pháp này còn gặp nhiều khó khăn vì năng suất của cây trồng còn phụ thuộc vào loại cây được chọn và khả năng đầu tư của người sử dụng đất (Lê Quang Vịnh, 1998) [17]
Trang 16* Phương pháp đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ
Năm 1964, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) đề xuất hệ thống phân loại đất đai theo tiềm năng Cơ sở đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai dựa vào các yếu tố hạn chế trong sử dụng đất Chúng được phân chia làm 2 nhóm sau:
• Nhóm những yếu tố hạn chế tạm thời có khả năng khắc phục được bằng các biện pháp cải tạo trong quản lý đất đai như độ phì, thành phần dinh dưỡng
• Nhóm yếu tố hạn chế vĩnh viễn bao gồm những hạn chế không dễ dàng thay đổi và cải tạo được như độ dốc, độ dày tầng đất, lũ lụt và khí hậu khắc nghiệt và những trở ngại về tưới, tiêu
Đánh giá phân loại về mức độ khả năng sử dụng đất đai chủ yếu được xác định dựa trên cơ sở những yếu tố nào, có mức độ hạn chế lớn và khả năng chi phối mạnh đến sử dụng là yếu tố quyết định mức độ thích hợp, mà không cần tính đến những khả năng thuận lợi của các yếu tố khác trong đất Đánh giá khả năng sử dụng đất đó chia đất đai trong lãnh thổ Hoa Kỳ ra thành 8 nhóm khác nhau, trong đó:
• Bốn nhóm đầu (từ 1 đến 4) là thích hợp cho sản xuất nông nghiệp
• Bốn nhóm sau (từ 5 đến 8) là những nhóm không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp được dùng vào các mục đích sử dụng khác
Hệ thống phân loại đất đai của USA đó đánh giá được những yếu tố hạn chế bất lợi của đất để có biện pháp bảo vệ đất trên cơ sở duy trì và sử dụng đất bền vững Đây chính là điểm mạnh của phương pháp
Nhận xét chung về các phương pháp đánh giá đất trên thế giới
Các phương pháp trên tiêu biểu cho những xu hướng đánh giá đất đai đang được áp dụng trên thế giới Bên cạnh sự khác nhau về mục đích, phương thức, phương pháp và hệ thống phân vị thì các trường phái đánh giá đất đó có một số điểm giống nhau như sau:
Trang 17- Xác định đối tượng đánh giá đất đai là toàn bộ tài nguyên đất của
vùng lãnh thổ nghiên cứu
- Quan niệm đất đai là một thể tự nhiên bao gồm thổ nhưỡng và các
yếu tố khác như địa hình, mẫu chất, khá hậu, thủy văn, thảm thực vật, động
vật Đánh giá đất đai gắn với loại hình sử dụng đất nông nghiệp theo nghĩa
rộng, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi
- Hệ thống phân vị khép kín cho phép đánh giá từ khái quát đến chi tiết,
trên quy mô lãnh thổ quốc gia, vùng, các đơn vị hành chính và cơ sở sản xuất
2.1.3 Các chương trình nghiên cứu đánh giá đất ở Việt Nam
Trong quá trình sản xuất, từ lâu nông dân Việt Nam không chỉ tích lũy
được những kinh nghiệm nhận biết phân loại đất đai mà còn đánh giá đất với
các khái niệm “tứ hạng điền, lục hạng thổ”
Ở miền Nam, trong giai đoạn (1954 - 1975) đã có một số công trình
nghiên cứu về đất và lập bản đồ đất của MoormanE.R (1958, 1959, 1960),
Thái Công Tụng, Moorman E.R (1958), Trương Đình Pho (1960, 1961),
Nguyễn Hoài Văn (1960) Các công trình trên đã xác định được hầu hết các
loại đất chính phân bố trên địa bàn Việt Nam về nguồn gốc phát sinh, tính
chất lý, hóa học, hiện trạng và khả năng sử dụng đất (Phạm Quang Khánh và
cs, 1/1994) [7]
Tuy nhiên, những nghiên cứu đánh giá đất ở Việt Nam mới chỉ thực sự
bắt đầu ở những năm đầu thập kỷ 70, thời kỳ này công tác đánh giá đất đai
chủ yếu tập trung vào việc phân hạng đất lúa trong phạm vi Hợp tác xã Bùi
Quang Toản, Vũ Cao Thái, Đinh Văn Thỉnh, Nguyễn Văn Thân, đã thực hiện
cộng tác nghiên cứu đánh giá đất và phân hạng đất ở 23 huyện, 286 HTX và 9
vùng chuyên canh Kết quả bước đầu đã thực hiện công tác tổ chức lại sản
xuất (Bùi Quang Toản, 1986) [13] Từ các kết quả nghiên cứu đó, Bùi Quang
Toản đã đề xuất quy trình phân hạng đất đai áp dụng cho các HTX và các
Trang 18vùng chuyên canh gồm 4 bước trong đó các yếu tố chất lượng đất được chia thành yếu tố thuận và yếu tố nghịch, đất đai được chia thành 4 hạng: rất tốt, tốt, trung bình và kém Quy trình này đã được áp dụng trong một thời gian dài
ở nhiều nơi Tuy nhiên, khía cạnh kinh tế, xã hội và sự tác động tới môi trường vẫn chưa được nghiên cứu sâu Năm 1983, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành “Dự thảo phương pháp phân hạng đất lúa nước cấp huyện” Theo phương pháp này, đất được chia thành 8 hạng, chủ yếu dựa vào năng suất cây trồng, ngoài ra còn sử dụng các chỉ tiêu như độ dày tầng canh tác, địa hình, thành phần cơ giới, độ nhiễm mặn, nhiễm phèn (Tổng cục quản lý ruộng đất, 1992) [14]
Vào những năm đầu thập kỷ 90, việc nghiên cứu, ứng dụng phương pháp phân loại đất thích hợp của FAO đã được triển khai rộng rãi: Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên Tổng cục Quản lý ruộng đất đã thí điểm đánh giá đất trên địa bàn xã Tứ Quận - Huyện Yên Sơn - Tuyên Quang theo phương pháp phân loại đất thích hợp của FAO Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã xây dựng đề cương, phương pháp luận “Đánh giá các loại hình sử dụng đất làm cơ sở cho việc lập các dự án phát triển cây trồng” trên cơ sở đề cương đánh giá đất của FAO và triển khai xây dựng bản đồ đơn vị đất và bản đồ thích nghi các tỷ lệ 1/1.000, 1/25.000, 1/50.000, 1/100.000 ở nhiều vùng trong
cả nước Nhiều công trình đã được công bố như công trình đánh giá đất đai toàn quốc của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp được tiến hành trong 2 năm 1993 – 1994 (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 1993-1994) [15] Đánh giá vùng Tây Bắc của Lê Thái Bạt (1995); vùng Tây Nguyên của Phạm Dương Ưng - Nguyễn Khang - Đỗ Đình Đài (1995); vùng đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Văn Nhân (1995, 1996); vùng Đông Nam Bộ của Phạm Quang Khách (1995); vùng đồng bằng sông Hồng của Nguyễn Công Pho (1995) (Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp) [16]
Trang 192.1.4 Phương pháp đánh giá đất theo FAO
Đánh giá phân hạng đất đai cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để các nhà quy hoạch xem xét, lựa chọn và đưa ra quyết định sử dụng đất đai Những thông tin, tư liệu đầy đủ và toàn diện cả về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
và môi trường trong đánh giá đất giúp cho các phương án quy hoạch sử dụng đất đai hoàn toàn khả thi bởi đã lường trước được những thuận lợi và khó khăn, đề xuất được những giải pháp phù hợp nhằm sử dụng đất hợp lý và đạt hiệu quả cao Năm 1972, tổ chức Nông nghiệp và lương thực của Liên hợp quốc (FAO) đã phác thảo được đề cương đánh giá đất và được các chuyên gia đầu ngành bổ sung biên soạn Sau đó được BlinKman và Smyth soạn thảo lại
và in ấn năm 1973 Năm 1975, tại hội nghị Rome, những ý kiến đóng góp cho bản dự thảo năm 1973 đã được các chuyên gia hàng đầu về đánh giá đất đai của FAO (K.J.Beek, J.Berema, P.J.Mabiler, G.A.Smyth ) biên soạn lại để hình thành nội dung phương pháp đánh giá đất đai đầu tiên của tổ chức FAO công bố năm 1976 (A Framework for Land Evaluation, 1976) Tài liệu này được thử nghiệm ban đầu ở các nước đang phát triển và tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện vào các năm sau đó để áp dụng đánh giá đất cho từng đối tượng chuyên biệt cụ thể như:
- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Land Evaluation for Rainfed agriculture, 1983)
- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tưới (Land Evaluation for Irrigated agriculture, 1985)
- Đánh giá đất đai cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh (Land Evaluation for Extensive Grazing agriculture, 1989)
- Đánh giá đất đai cho phát triển nông nghiệp (Land Evaluation for Development agriculture, 1990)
Trang 20- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (FAO 1992)
Các tài liệu này được coi như cẩm nang cho nhiều nước trên thế giới nghiên cứu vận dụng, thử nghiệm và được coi là phương tiện tốt nhất để đánh giá đất đai phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp
2.1.4.1 Quy trình đánh giá đất của FAO
Theo FAO (1976) "Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại sử dụng đất yêu cầu phải có” Trong tài liệu "Đánh giá đất vì sự nghiệp phát triển" (FAO 1986) đã chỉ dẫn các bước thực hiện đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất
Hình 2.1 Quy trình đánh giá đất theo FAO
Xác định loại hình
sử dụng đất
Xác định đơn
vị đất
Đánh giá khả năng thích hợp
XĐ hiện trạng KT-XH-
Xác định LUT thích hợp
Quy hoạch
sử dụng đất
Áp dụng của việc đánh giá đất
Trang 21Cả quy trình đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất gồm 9 bước Trong đó, bước 7 là bước chuyển tiếp giữa đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất Cuối cùng là việc áp dụng đánh giá đất để triển khai thực hiện vào sản xuất cho vùng nghiên cứu
2.1.4.2 Nguyên tắc đánh giá đất theo FAO
Nguyên tắc đánh giá đất đai của tổ chức FAO là đánh giá đất đai phải gắn với loại hình sử dụng xác định có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết Đánh giá đất liên quan chặt chẽ với các yếu tố môi trường tự nhiên của đất và các điều kiện kinh tế xã hội
Để tiến hành đánh giá đất trên quan điểm thích hợp và bền vững, FAO đưa ra 6 nguyên tắc đánh giá đất đó là:
- Các loại hình sử dụng đất được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát triển, hoàn cảnh và đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu
- Các loại hình sử dụng đất cần được mô tả và định rõ các thuộc tính về
kỹ thuật, kinh tế, xã hội
- Đánh giá đất đai cần sự so sánh của hai hay nhiều loại hình sử dụng đất
- Khả năng thích hợp của đất đai cần đặt trên cơ sở sử dụng đất bền vững
- Đánh giá khả năng thích hợp đất đai bao gồm cả sự so sánh về năng suất (lợi ích) thu được và đầu tư (chi phí) cần thiết của loại sử dụng đất
- Đánh giá đất đai đòi hỏi một phương pháp tổng hợp đa ngành
2.1.4.3 Mục đích đánh giá đất đai theo FAO
Đánh giá đất đai nhằm tăng cường nhận thức và hiểu biết phương pháp đánh giá đất đai trong khuôn khổ quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm tăng cường lương thực cho một số nước trên thế giới và giữ gìn nguồn tài nguyên đất không bị thoái hoá, sử dụng đất đai được lâu bền
Trang 222.1.4.4 Yêu cầu trong đánh giá đất theo FAO
- Thu thập được những thông tin phù hợp về tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu
- Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất với các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục đích và nhu cầu của con người
- Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm
vi quy hoạch là toàn quốc, tỉnh, huyện hoặc cơ sở sản xuất
Tuỳ theo mục tiêu, quá trình đánh giá phân hạng đất có thể tiến hành theo phương pháp 2 bước hoặc phương pháp song song
- Phương pháp 2 bước: Gồm có đánh giá đất tự nhiên (bước thứ nhất), tiếp theo là phân tích kinh tế xã hội (bước thứ 2)
- Phương pháp song song: Các bước đánh giá đất tự nhiên cùng đồng thời với phân tích kinh tế xã hội Phương pháp này thường được đề nghị để đánh giá chi tiết và bán chi tiết
Trong thực tế sự khác nhau giữa 2 phương pháp không thật rõ nét nên khi
áp dụng cần lựa chọn phương pháp thích hợp tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể
Có 2 phương pháp đánh giá phân loại đất thích hợp:
- Phân hạng định tính: kết quả được trình bày trong phạm vi tính chất
mà không có sự đánh giá riêng biệt ở đầu vào và đầu ra
- Phân hạng định lượng: kết quả được trình bày bằng số Nếu kết quả chỉ đề cập đến số lượng đầu tư chi phí ở đầu vào và khối lượng sản xuất ở đầu
ra thì đó là phân hạng định lượng thông thường, còn nếu kết quả đề cập tới chi phí, giá thành ở đầu vào và giá cả, lợi nhuận ở đầu ra thì đó là phân hạng thích hợp kinh tế Kiểu đánh giá này cho biết tổng hợp trực quan nhiều khía cạnh về lợi nhuận, xã hội, môi trường cũng như về mặt kinh tế
Trong đánh giá đất cần sử dụng cả hai thể loại phân hạng thích hợp đất đai định tính và định lượng
Trang 23Trong đánh giá đất đai, FAO đã đưa ra những khái niệm về loại hình sử dụng đất và đơn vị đất đai Đánh giá đất đai có mối liên quan giữa các đơn vị đất đai với các loại hình sử dụng đất đai cụ thể, các loại hình sử dụng đất đai được coi như một đối tượng dùng trong đánh giá đất đai
Loại hình sử dụng đất (Land Use Types hoặc Land Utilization Types - LUTs) là một cây trồng, một tổ hợp cây trồng hoặc phương thức canh tác trên một vạt đất với những phương thức quản lý trong điều kiện kinh tế - xã hội và
kỹ thuật được xác định
Ưu điểm của phương pháp đánh giá đất theo FAO
- Phương pháp đánh giá đất theo FAO là sự kết hợp hài hòa giữa hai trường phái đánh giá đất của Liên Xô (cũ) và của Mỹ Phương pháp đánh giá đất theo FAO đã đưa ra các chỉ dẫn thích hợp về đất đai cho từng loại hình sử dụng đất cụ thể trong sản xuất, kết quả đánh giá được thể hiện một cách cụ thể đối với các yếu tố đánh giá
- Khắc phục được những chủ quan trong đánh giá đất: Trong các phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô và Hoa Kỳ đều thiếu những giới hạn phân chia giá trị cho các tiêu chuẩn phân loại sử dụng riêng rẽ, điều này
sẽ không tránh khỏi dẫn đến ý thức chủ quan trong đánh giá Phương pháp của FAO đã xác định được khá rõ các giới hạn về giá trị của các yếu tố đánh giá nên kết quả đánh giá mang tính khách quan và rõ ràng hơn so với 2 phương pháp trên
- Phương pháp đánh giá đất theo FAO ngoài việc đề cập đến các chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên đối với đất đai còn đề cập đến các chỉ tiêu kinh tế,
xã hội có liên quan đến khả năng sử dụng và khả năng sinh lợi của đất, do đó kết quả đánh giá đất mang tính thực tiễn cao hơn
- Việc nhấn mạnh các yếu tố hạn chế trong sử dụng đất có tính đến các vấn đề môi trường và đánh giá riêng rẽ, chi tiết đối với từng loại hình sử
Trang 24dụng đất cho phép phương pháp đánh giá đất của FAO đánh giá các yếu tố được rõ ràng hơn và có ý nghĩa trong việc tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái trên những vùng đất dễ bị suy thoái
Tóm lại, phương pháp đánh giá đất của FAO là sự so sánh giữa yêu cầu
sử dụng đất với chất lượng của đất gắn với việc phân tích các khía cạch kinh
tế - xã hội và môi trường để lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất
2.2 Thành lập bản đồ đơn vị đất đai
2.2.1 Một số khái niệm
Theo FAO: Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit- LMU) là một
khoanh, vạt đất được xác định cụ thể trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt thích hợp đồng nhất cho từng loại hình sử dụng đất, có cùng một điều kiện quản lý đất và cùng một khả năng sản xuất, cải tạo đất Mỗi đơn vị đất đai có chất lượng riêng và nó có khả năng thích hợp với một loại hình sử đất nhất định (FAO, 1983) Tập hợp các đơn vị bản
đồ đất đai trong khu vực, vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai (Nguyễn Văn Thông, 2002) [11]
- Các đặc tính của đất: là các thuộc tính của đất có tác động riêng biệt,
khác biệt ảnh hưởng đến tính thích hợp của đất đối với các loại hình sử dụng đất riêng biệt Các đặc tính đất đai là các đặc thù của đất, có ảnh hưởng đến sử dụng đất theo các cách riêng biệt
- Tính chất đất đai: là các thuộc tính của đất có thể đo đếm, ước tính được
2.2.2 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Hình 2.2: Các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
đồ đơn tính
3 Xây dựng bản đồ đơn
vị đất đai
4 Mô tả bản đồ đơn
vị đất đai
Trang 25Bước 1: Lựa chọn và phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
- Cơ sở lựa chọn chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phụ thuộc vào phạm vi chương trình đánh giá đất đai, mối quan hệ giữa yêu cầu đánh giá đất với tỷ lệ bản đồ cần có
- Việc phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai dựa vào yêu cầu, mục đích của chương trình đánh giá đất kết hợp với nguồn tài liệu sẵn có hoặc bổ sung thêm để lựa chọn chỉ tiêu phân cấp phù hợp với mục đích, yêu cầu sử dụng đất và mức độ thích hợp đất đai
Kết thúc bước 1 giúp chúng ta xác định được các chỉ tiêu để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cho vùng nghiên cứu phù hợp với yêu cầu của đề tài đó đặt ra
Bước 2: Xây dựng các bản đồ đơn tính
Bản đồ đơn tính là bản đồ thể hiện đặc tính, tính chất khác nhau của đất Sau khi lựa chọn xác định được các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai kết hợp với việc thu thập tài liệu, điều tra, khảo sát thực địa, tiến hành xây dựng bản đồ đơn tính (mỗi chỉ tiêu được thể hiện bằng một bản đồ đơn tính) Trong hệ thống thông tin địa lý (GIS) thì các dữ liệu để xây dựng các
bản đồ đơn tính được thể hiện trên cơ sở kỹ thuật số hóa bản đồ (Digital Map) Bước 3: Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Các bản đồ đơn tính được chồng ghép trên hệ toạ độ chung để tạo thành đơn vị đất đai Về cách thức có thể chồng ghép bản đồ bằng tay (phương pháp thủ công) hoặc bằng kỹ thuật máy vi tính theo công nghệ GIS
Tuy nhiên trong thực tế, khi xây dựng bản đồ đơn vị đất đai còn gặp nhiều hạn chế Trong khi làm bản đồ khó thể hiện hết được các điều kiện thực
tế của đơn vị đất đai nhất là ở bản đồ tỷ lệ nhỏ, vì vậy khi xác định và xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cần tuân thủ các yêu cầu sau:
Trang 26- Các đơn vị đất đai (LMU) cần đảm bảo tính đồng nhất tối đa hoặc các chỉ tiêu phân cấp phải được xác định rõ, nếu chúng không thể hiện được lên bản đồ thì cũng phải được mô tả chi tiết
- Các LMU phải có ý nghĩa thực tiễn cho các loại hình sử dụng đất sẽ được đề xuất lựa chọn
- Các LMU phải vẽ được trên bản đồ
- Các LMU phải được xác định một cách đơn giản dựa trên những đặc điểm quan sát trực tiếp trên đồng ruộng hoặc qua sử dụng máy bay, viễn thám
- Các đặc tính và tính chất của các LMU phải là đặc tính và tính chất khá ổn định vì chúng sẽ là các yêu cầu sử dụng đất thích hợp cho các loại hình sử dụng đất trong đánh giá đất (LE - Land Evaluation)
Bước 4: Mô tả các đơn vị đất đai
Mô tả các đơn vị đất đai thường được đưa vào phần chú giải của bản đồ đơn vị đất đai trong đánh giá tài nguyên đất của chương trình đánh giá đất đai Nội dung và mức độ chi tiết mô tả các đơn vị đất đai tùy thuộc vào các chỉ tiêu lựa chọn và phân cấp của mỗi loại bản đồ đất đai
2.2.3 Ý nghĩa của việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Bản đồ đơn vị đất đai là sự thể hiện tổng hợp của các điều kiện sinh thái, môi trường tự nhiên của mỗi vùng Các đặc tính và tính chất trong phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là sự thể hiện rõ nét các điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu như đặc điểm đất đai, khí hậu, thủy văn, địa hình… Các đặc điểm tự nhiên này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để xác định các lợi thế, hạn chế về mặt tự nhiên của vùng, từ đó đưa ra các hướng phát triển nông nghiệp phù hợp
Bản đồ đơn vị đất đai có ý nghĩa to lớn trong phân vùng sinh thái nông nghiệp, tạo cơ sở cho việc sử dụng các tài nguyên nông nghiệp có hiệu quả tối
Trang 27đa, phát huy tiềm năng sinh thái của vùng, đồng thời góp phần quan trọng trong việc lựa chọn bước đầu các LUT cây trồng, chăn nuôi và lâm nghiệp
Xây dựng đơn vị bản đồ đất đai là bước đầu tiên mang tính chất kỹ thuật không thể thiếu trong quy trình đánh giá đất theo FAO
2.2.4 Một số kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong quá trình đánh giá đất Việt Nam theo chỉ dẫn của FAO
* Cấp quốc gia
Năm 1995, Viện quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã hoàn thành việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai toàn quốc ở tỷ lệ bản đồ 1/1.000.000 và xác định 7 chỉ tiêu phân xây dựng bản đồ đơn vị đất đai gồm: nhóm đất (G) từ G1 đến G13; tầng dầy lớp đất (D) từ D1 đến D3; độ dốc (SL) từ SL1 đến SL3; lượng mưa/năm (R) từ R1 đến R3; thủy văn nước mặt gồm: ngập lụt (F)
từ F1 đến F4 và xâm nhập mặn (SA) từ SA1 đến SA4; tưới tiêu (I); tổng tích
ôn (T) từ T1 đến T3 (NXB Nông nghiệp, (1996) [8]
* Cấp vùng lãnh thổ
Theo Nguyễn Công Pho: vùng đồng bằng sông Hồng có diện tích tự nhiên là 1,25 triệu ha, là vùng đông dân, bình quân đất nông nghiệp cho dân sống ở nông thôn là 650 m2/người, đã sử dụng triệt để đất đai và sản xuất nông nghiệp độc canh lúa là chủ yếu Kết quả xây dựng bản đồ dơn vị đất đai vùng đồng bằng sông Hồng (tỷ lệ 1/250.000) có 33 đơn vị đất đai trong đó có
22 đơn vị thuộc đất đồng bằng và 11 đơn vị thuộc đất đồi núi Xác định được
4 chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là: Loại đất (9 nhóm), độ dốc mặt đất (3 cấp độ), chế độ tưới tiêu (4 cấp độ) và tình trạng ngập úng (Đoàn Công Quỳ, 2000) [9]
Theo Nguyễn Văn Nhân: vùng đồng bằng sông Cửu Long có 123 đơn
vị đất đai ở tỷ lệ bản đồ 1/250.000 trong đó có 63 đơn vị đất đai ở các vùng đất phèn, 10 đơn vị đất đai ở vùng đất mặn, 22 đơn vị đất đai ở vùng đất phù
Trang 28sa không bị hạn chế và 18 đơn vị đất đai ở vùng đất khác Tác giả đã xác định được 6 chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là: nhóm đất, tình trạng xâm nhập mặt, độ sâu ngập, khả năng tưới, lượng mưa trung bình năm
và thời gian canh tác nhờ mưa (NXB Nông nghiệp, 1996) [8]
Theo Phạm Quang Khánh: kết quả xây dựng bản đồ đất đai vùng Đông Nam Bộ ở tỉ lệ bản đồ 1/250.000 đó xác định được 54 đơn vị đất đai với 602 khoanh và xác định được 6 chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đất đai là: nhóm đất, phân bố mưa, khả năng tưới, độ dốc, tầng dày đất mịn và đá lộ đầu (Phạm Quang Khánh và cs, 1/1994) [7]
Theo Lê Thái Bạt: vùng Tây Bắc có 230 đơn vị đất đai trong đó có
157 đơn vị đất đai trên đất trống đồi núi trọc (đất chưa sử dụng) với diện tích 3.246.395 ha Đơn vị có diện tích lớn nhất là 264.068 ha, 114 đơn vị đất đai phân bố ở độ dốc dưới 250 và có tầng dầy trên 50 cm (Lê Thái Bạt, 1/1995) [1]
* Cấp tỉnh
Theo Nguyễn Đình Bồng: kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai của đất trống, đồi núi trọc tỉnh Tuyên Quang được phân thành 125 đơn vị đất đai Trong đó có 70 đơn vị đất đai với diện tích 144.263 ha có nhiều hạn chế đối với sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp về độ dốc và tầng dày, 55 đơn vị đất đai còn lại với diện tích 124.460 ha hạn chế ít hơn Tác giả đó xác định được 5 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai gồm: tổ hợp đất (G) từ G1 đến G7, địa hình, độ dốc (SL) từ SL1 đến SL4, độ dầy tầng đất (D) từ D1 đến D3, tổng nhiệt độ/năm (T) từ T1 đến T3 và tổng lượng mưa (R) từ R1 đến R3 (Vũ Thị Bình, 1995) [3]
Theo Nguyễn Chiến Thắng - Cấn Triển: toàn tỉnh Bình Định có 45 đơn
vị đất đai với diện tích là 353,663 ha (58,2%) có độ dốc trên 150, tầng dày dưới 50 cm (phần lớn không có khả năng phát triển nông nghiệp); 28 đơn vị
Trang 29đất đai với diện tích 205.565 ha, độ dốc dưới 80, tầng dầy hơn 50 cm, có khả năng phát triển nông nghiệp hoặc nông lâm kết hợp; 8 đơn vị đất đai với diện tích 20,312 ha (3,35%) có độ dốc 8 - 150, tầng dày đất mỏng, chỉ phát triển trồng màu và nông lâm kết hợp Đó xác định được 5 chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là: nhóm đất (G) - 7 nhóm, độ dốc (S) - 4 cấp, tầng dày (D) - 3 cấp, chế độ tưới (I) - 2 cấp và lượng mưa (RF) - 3 cấp (Nguyễn Chiến Thắng
và cs, 1995) [10]
* Cấp huyện
Theo Vũ Thị Bình: kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai ở tỷ lệ bản
đồ 1/25.000 của huyện Gia Lâm là: Toàn huyện có 20 đơn vị đất đai với gần
200 khoanh đất, có 4 đơn vị đất đai ngoài bãi với diện tích 2,515 ha (27,5%),
16 đơn vị đất đai nội đồng với diện tích 6.649 ha (72,5%) Xác định 6 chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai gồm: loại đất (G) - 3 loại, thành phần cơ giới (T) - 3 cấp, điều kiện tưới (I) – 3 cấp, điều kiện tiêu (F) - 2 cấp, ngập úng (L) - 3 cấp và độ phì (P) - 2 cấp (Vũ Thị Bình, 1995) [3]
Theo nghiên cứu của Đoàn Công Quỳ (2000): tổng diện tích điều tra huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là 48.801,2 ha, bao gồm 680 khoanh và được chia thành 52 đơn vị đất đai trên cơ sở xác định 8 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là: nhóm đất, thành phần cơ giới, địa hình tương đối, độ dốc, độ cao, độ dầy tầng đất, chế độ tưới và chế độ tiêu (Đoàn Công Quỳ, 2000) [9]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thông (2002): kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cho đất nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định ở tỷ lệ bản
đồ 1/25.000 gồm 40 đơn vị đất đai trên cơ sở xác định 7 chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là loại đất, thành phần cơ giới, độ phì đất, địa hình tương đối,
độ nhiễm mặn, chế độ tưới và ngập úng (Nguyễn Văn Thông, 2002) [11]
Trang 30Dựa vào kết quả trên ta thấy rằng: việc xác định các chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai ở các vùng khác nhau là khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng nghiên cứu, vào cấp tỷ lệ bản đồ đơn vị đất đai cần xây dựng Các chỉ tiêu yếu tố được lựa chọn cho xây dựng bản đồ đơn vị đất đai chủ yếu là các chỉ tiêu thể hiện về tính chất của đất đai (địa hình, độ dốc), các chỉ tiêu thể hiện đặc tính còn ít
2.3 Hệ thống thông tin địa lý và cơ sở ứng dụng cho việc xây dựng bản
đồ đơn vị đất đai
2.3.1 Giới thiệu về hệ thống thông tin địa lý
Trong vài thập kỷ gần đây, chuyên ngành địa lý học đã áp dụng mạnh
mẽ kỹ thuật thông tin, trong đó có những phương pháp ứng dụng mới về các
mô hình toán học và thống kê cũng như những ứng dụng các nguồn thông tin mới như dữ liệu viễn thám Trong bối cảnh này, hệ thống thông tin địa lý (GIS) đó đóng một vai trò quan trọng như là một kỹ thuật tổ hợp GIS đã phát triển bởi sự liên kết một số kỹ thuật rời rạc vào một tổng thể hơn là cộng những phần của nó lại Ngoài ra, GIS còn cho phép tạo ra cơ sở dữ liệu bản
đồ, xây dựng mô hình, hỏi đáp và phân tích một lượng lớn dữ liệu mà tất cả đều được lưu trữ trong một cơ sở dữ liệu Hiện nay, GIS đang được sử dụng rộng rãi ở các nước đã và đang phát triển, đặc biệt ở các lĩnh vực quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, sử dụng đất đai, rừng và quản lý đô thị Trong nông nghiệp, phần lớn GIS được ứng dụng để lập kế hoạch cũng như đánh giá sử dụng đất đai
Sự phát triển rộng rãi và mạnh mẽ của kỹ thuật vi tính cả về phần cứng
và phần mềm đó tạo điều kiện cho việc thể hiện các số liệu địa lý ở dạng bản
đồ phát triển nhanh chóng Do nhu cầu cần thiết về sự lưu trữ, phân tích và thể hiện các số liệu địa lý cho các vùng rộng lớn và phức tạp đó dẫn đến sự
Trang 31cần thiết phải sử dụng máy tính để lưu giữ và tạo ra các hệ thống thông tin tỉ
mỉ và chi tiết (Nguyễn Trọng Bình và cs, 1996) [2]
2.3.2 Các thành phần và chức năng của hệ thống thông tin địa lý
GIS được cấu thành bởi 5 thành tố chính sau
- Dữ liệu (Data): đây là thành phần quan trọng nhất của GIS, GIS có 2 loại dữ liệu
- Phần cứng (Hardware): Bao gồm máy tính và các thiết bị ngoại vi
- Phần mềm (Software): Bao gồm nhiều modul, công cụ để thực hiện các chức năng:
+ Thu thập dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
+ Xử lý sơ bộ dữ liệu
+ Lưu trữ và truy cập dữ liệu
+ Tìm kiếm và phân tích không gian
+ Hiển thị đồ hoạ và tương tác
- Con người (People): yếu tố con người có ảnh hưởng rất lớn tới việc quản lý, xây dựng và phát triển các ứng dụng Một dụ án GIS chỉ thành công khi nó được quản lý tốt và con người tại mỗi công đoạn phải có
kỹ năng thành thạo
- Phương pháp (Method): để hệ thống GIS thành công phụ thuộc vào phương pháp sử dụng để thiết kế hệ thống
2.3.3 Cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin địa lý
Cơ sở dữ liệu GIS là một tập hợp các thông tin (các tệp dữ liệu) ở dạng vector, raster và bảng số liệu với những cấu trúc chuẩn bảo đảm cho các bài toán
đề tài có mức độ phức tạp khác nhau (Nguyễn Trọng Bình và cs, 1996) [2]
Cơ sở dữ liệu trong GIS bao gồm 2 loại đó là: cơ sở dữ liệu không gian
và cơ sở dữ liệu thuộc tính
Trang 322.3.3.1 Cơ sở dữ liệu không gian
Dữ liệu không gian dùng để mô tả vị trí, hình dạng và kích thước của đối tượng trong không gian, chúng bao gồm toạ độ và các ký hiệu dựng để xác định các đối tượng trên bản đồ Hệ thống thông tin địa lý dựng các số liệu không gian để tạo ra bản đồ hay hình ảnh bản đồ trên màn hình máy tính hoặc trên giấy thông qua thiết bị ngoại vi
Dữ liệu không gian bao gồm 3 loại đối tượng: điểm (point), đường (polyline) và vùng (polygon) Các đối tượng không gian này được lưu trữ ở 2
mô hình dữ liệu là vector và raster
- Mô hình dữ liệu raster: trong mô hình này, thực thể không gian được biểu diễn thông qua các ô (cell) hoặc ô ảnh (pixel) của một lưới các ô Trong máy tính, lưới ô này được lưu trữ ở dạng ma trận trong đó mỗi cell là giao điểm của một hàng hàng hay một cột trong ma trận Trong cấu trúc này, điểm được xác định bởi cell, đường được xác định bởi một số các cell kề nhau theo một hướng và vùng được xác định bởi một số các cell mà trên đó thực thể phủ lên
- Mô hình dữ liệu vector: trong mô hình này, thực thể không gian được biểu diễn thông qua các phần tử cơ bản là điểm, đường, vùng và các quan hệ topo (khoảng cách, tính liên thông, tính kề nhau…) giữa các đối tượng với nhau Vị trí không gian của các thực thể được xác định bởi toạ độ chung trong một hệ thống toạ độ thống nhất toàn cầu
+ Điểm dùng cho tất cả các đối tượng không gian được biểu diễn như một cặp toạ độ (X,Y) Ngoài giá trị toạ độ (X,Y), điểm còn thể hiện kiểu điểm, màu, hình dạng và dữ liệu thuộc tính đi kèm Do đó, trên bản đồ điểm
có thể được biểu hiện bằng ký hiệu hoặc dạng text (dạng chữ)
+ Đường dùng để biểu diễn tất cả các thực thể có dạng tuyến và được tạo nên từ hai hoặc nhiều hơn 2 cặp toạ độ (X,Y)
Trang 33+ Vùng là một đối tượng hình học hai chiều, vùng có thể là một đa giác đơn giản hay hợp của nhiều đa giác đơn giản Như vậy, mô hình dữ liệu vector sử dụng các đoạn thẳng hay điểm rời rạc để nhận biết các vị trí của thế giới thực Việc đo diện tích và khoảng cách của các đối tượng được thực hiện bằng cách tính toán hình học từ các toạ độ của các đối tượng thay vì việc đếm các cell trong mô hình raster (Mẫn Quang Huy, 1999) [6]
2.3.3.2 Cơ sở dữ liệu thuộc tính
Dữ liệu thuộc tính (dữ liệu phi không gian) là các thông tin đi kèm với các dữ liệu không gian, nó được dùng để chỉ ra các tính chất đặc trưng cho mỗi đối tượng điểm, đường và vùng trên bản đồ Thông thường, dữ liệu thuộc tính được tổ chức thành các bảng theo mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ, phân cấp và mạng lưới
Ví dụ: Cơ sở dữ liệu của bản đồ đơn vị đất đai
Hình 2.3: Quan hệ giữa dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
Cơ sở dữ liệu trong hình 2.3 cho ta biết được các thuộc tính của thửa đất trên bản đồ Trong việc xây dựng bản đồ đơn vị bản đồ đất đai, mối quan
hệ này giúp cho việc mô tả các LMU được thuận lợi và rõ ràng
Tóm lại, đối với việc xây dựng các LMU thì mối quan hệ giữa cơ sở dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính là rất quan trọng và cần thiết vì chúng có
Số thửa LMU Loại đất TP cơ giới Chế độ tưới
1 1 Fluvisol Nhẹ Chủ động
2 2 Glaysols Trung bình Tưới hạn chế
3 3 Acrisols Nặng Nhờ nước trời
Trang 34thể giúp cho việc thu nạp và kiểm chứng những thuộc tính liên quan đến các đặc tính và tính chất của các LMU
2.3.4 Chồng xếp bản đồ
"Chồng xếp" là thao tác không gian trong đó những lớp đề tài được chồng lên nhau để tạo ra một lớp đề tài mới chứa
đựng những thông tin mới Để rút ra
những thông tin này, các thao tác số học
hoặc thao tác logic được vận dụng trên
những lớp dữ liệu khác nhau được nhập
vào Chồng xếp những lớp dữ liệu khác
nhau là một quá trình bậc thang Hai lớp
dữ liệu nhập vào được tổ hợp vào một
lớp trung gian, sau đó nó lại được tổ hợp
với lớp thứ 3 để tạo ra lớp trung gian
khác Điều này được thực hiện tới khi tất
cả các lớp dữ liệu nhập vào đều được
chồng xếp lên nhau (hình 2.4)
Hình 2.4 Mô hình chồng xếp
bản đồ trong GIS
Việc thi hành các thao tác chồng xếp chủ yếu tuỳ thuộc vào dạng của
mô hình dữ liệu đang được sử dụng Chức năng chồng xếp trong mô hình raster và vector được thực hiện theo các cách khác nhau
Trong hệ thống raster, diện tích không gian được chia nhỏ thành những ô đều nhau, mỗi một thuộc tính ứng với một lớp Trong hệ thống vector, thao tác chồng xếp phức tạp hơn Trong hệ thống này, khu vực thông tin được biểu diễn bởi các vùng và thuộc tính Toàn bộ các vùng có mã nhận dạng riêng biệt bằng một khóa (ID) và nó được dùng để liên kết một bảng tính chất với các vùng đó
Trang 35Dữ liệu dùng trong thao tác chồng xếp được lưu trữ trong bảng thuộc tính này Bước đầu tiên của thao tác chồng xếp trong hệ thống vector là tạo ra những vùng trên lớp mới bằng việc dùng thuật toán giao cắt vùng Khi các vùng của lớp được đặt trên một lớp thứ hai thì sẽ ghộp liên tiếp các vùng được tạo ra bởi sự chia cắt nhỏ của những vùng trước bằng chính những đường bao của chúng Việc tổ hợp các giá trị thuộc tính của các vùng bao trùm trên bản
đồ gốc làm sinh ra bảng thuộc tính mới được gọi là quá trình "chồng xếp" Trong GIS có 6 phương pháp chồng xếp bản đồ như sau:
* Chồng xếp bản đồ bằng phương pháp số học: chồng xếp số học
bao gồm các thao tác như: cộng, trừ, nhân, chia Thao tác số học được thiết lập trên mỗi giá trị của lớp dữ liệu và giá trị trên vị trí tương ứng của lớp dữ liệu thứ hai
* Chồng xếp bản đồ bằng phương pháp logic: phương pháp này
dùng các phép toán logic (and, or và not) để thực hiện việc chồng xếp
* Chồng xếp bản đồ bằng phương pháp có điều kiện: theo phương
pháp này thì các phép toán logic được thay bằng các biểu thức có điều kiện khi thực hiện chồng xếp
* Chồng xếp bản đồ bằng phương pháp sử dụng một cột của bảng thuộc tính: phương pháp này sử dụng một cột của bảng thuộc tính và bản đồ
gốc để xây dựng lên bản đồ đơn tính
* Chồng xếp bản đồ bằng bảng phân lớp
* Chồng xếp bản đồ bằng phương pháp trượt (Map Crossing):
phương pháp này thực hiện bằng cách lấy hai bản đồ trượt qua nhau
Phương pháp chồng xếp bản đồ được thực hiện trên cả hai mô hình dữ liệu raster và vector tuy nhiên, chồng xếp bản đồ bằng mô hình raster sẽ tiết kiệm được thời gian và đạt được hiệu quả cao hơn so với mô hình vector
Trang 36Đối với việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai thì các phương pháp chồng xếp này rất có ý nghĩa Sau khi xây dựng được các bản đồ đơn tính về các đặc tính và tính chất của các LMU (ví dụ: bản đồ đơn tính về loại đất, thành phần
cơ giới, chế độ tưới, chế độ tiêu, ), công nghệ GIS sẽ giúp chúng ta chồng xếp các loại bản đồ này để tạo ra bản đồ đơn vị đất đai
2.4 Tình hình ứng dụng GIS
2.4.1 Tình hình ứng dụng GIS trên thế giới
Các nước trên thế giới đặc biệt là những nước phát triển đó và đang ứng dụng GIS trong nhiều lĩnh vực khác nhau như điều tra quy hoạch, quản lý
sử dụng đất, bảo vệ môi trường Năm 1989, các nhà nghiên cứu bảo vệ môi trường của Hà Lan đó nghiên cứu và ứng dụng thành công công nghệ GIS vào đánh giá mức độ ảnh hưởng của khí thải và các phương tiện giao thông ở vùng Amstecdam Hiện nay, trên thế giới thì có khoảng trên 60.000 tổ chức
và cá nhân sử dụng GIS trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau Trong nhiều năm trở lại đây, GIS đó được các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực như: địa chất, thổ nhưỡng, quy hoạch đô thị, nông lâm nghiệp, nghiên cứu và đó ứng dụng thành công trong nhiều công trình có giá trị Cụ thể điểm qua một số thành tựu đó là:
- FAO (1983) đó ứng dụng GIS trong mô hình phân vùng sinh thái nông nghiệp để đánh giá tài nguyên đất đai trên phạm vi toàn thế giới ở tỷ lệ bản đồ 1/5.000.000
- Ứng dụng mô hình số hóa độ cao DEM để xây dựng bản đồ địa hình
từ đó phân tích địa chất, địa mạo của khu vực
- Năm 1995 đó tiến hành đánh giá đất trồng lúa vùng lưu vực sông Ping
- huyện Mactang - tỉnh ChiangMai - Thái Lan
- Ứng dụng hệ công nghệ GIS xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Khsách Kandal tỉnh Kandal, Campuchia của NCS Choum Sinnara, trường Đại
Trang 37học Nông nghiệp I - Hà Nội Theo nghiên cứu này, tác giả đó xác định được 6 chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị là: loại đất, thành phần giới, địa hình, độ phì đất, chế độ tưới, ngập úng và đã xác định toàn huyện có 19 đơn vị đất đai (Bùi Quang Toản ,1986) [13]
Một số nước phát triển như Úc, Canada, Thụy điển đó ứng dụng GIS
để xây dựng một hệ thống thông tin chuyên dụng khác như hệ thông tin địa chính phục vụ cho các mục đích đa dạng về quản lý trong ngành địa chính
2.4.2.Tình hình ứng dụng GIS tại Việt Nam
Công nghệ GIS mới phát triển mạnh ở Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại đây Hiện nay, đã có nhiều cơ quan Nhà nước, các trường Đại học và các Viện nghiên cứu áp dụng công nghệ GIS trong việc thực thi các kế hoạch
và dự án nghiên cứu của mình Đặc biệt trong công tác đánh giá đất, những ứng dụng GIS đó có những đóng góp thiết thực trong việc bảo vệ, khai thác
và sử dụng một cách có hiệu quả, bền vững nguồn tài nguyên đất đai Sau đây
là một số chương trình và đề tài ứng dụng GIS tại Việt Nam:
- Năm 1990, lần đầu tiên FAO đó ứng dụng GIS vào xây dựng bản đồ vùng sinh thái cho vùng đồng bằng sông Hồng ở lỷ lệ bản đồ 1/250.000
- Mẫn Quang Huy (1999) nghiên cứu đề tài “Ứng dụng GIS thiết kế cơ
sở dữ liệu bản đồ cho hệ thống thông tin đánh giá tài nguyên đất cấp huyện” Kết quả nghiên cứu đó ứng dụng GIS trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên đất huyện Đông Anh – thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin cho việc quản lý và khai thác tài nguyên đất hợp lý và hiệu quả (Nguyễn Chiến Thắng và cs, 1995) [10]
Với nghiên cứu: “Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu bản đồ đơn vị đất đai dựa trên công nghệ GIS của huyện Yên Châu – tỉnh Sơn La”, tác giả Vann Varth (2003) đã xây dựng khá thành công cơ sở dữ liệu bản đồ đơn vị đất đai trên máy tính cho địa bàn toàn huyện Yên Châu (Lê Quang Vịnh, 1998) [17]
Trang 38Tóm lại, với những ứng dụng công nghệ GIS vào trong đánh giá đất theo FAO của các tác giả và các nhà khoa học đó gúp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở Việt Nam, thúc đẩy nhanh công cuộc áp dụng khoa học công nghệ mới vào trong sản xuất nói chung cũng như trong ngành nông nghiệp nói riêng để sớm hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo chủ trương của Đảng và Nhà nước đó đề ra
2.5 Giới thiệu một số phần mềm GIS được sử dụng
Trong phạm vi đề tài này tôi áp dụng 2 phần mềm chủ yếu là: phần mềm MapInfo và phần mềm Arcview
* Phần mềm MapInfo: là một công cụ khá hữu hiệu để tạo và quản lý
cơ sở dữ liệu địa lý, một phần mềm của hệ thống thông tin địa lý với các chức năng chính như sau:
- Số hóa các đối tượng đồ họa
- Xây dựng thuộc tính và liên kết dữ liệu thuộc tính với dữ liệu không gian
- Lập các biểu đồ và các bản đồ đề tài
- Liên kết trao đổi dữ liệu với các phần mềm khác trong GIS
* Phần mềm Arcview: ARCView là sản phẩm của hãng ESRI, đây là
một trong những phần mềm đứng đầu trong thế hệ GIS để bàn (Desktop) và thành lập bản đồ, là một phần mềm được cải tiến từ phần mềm ArcInfo Các chức năng của phần mềm này được sử dụng trong đề tài:
- Chồng xếp bản đồ đơn tính để thành lập bản đồ đơn vị đất đai
- Xử lý dữ liệu thuộc tính
- Xây dựng và trình bày các bản đồ kết quả
- Biên soạn, thuyết minh cho các bản đồ và bảng biểu
Trang 39PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Bản đồ đơn vị đất đai tỷ lệ 1:50000 của huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Theo đơn vị hành chính: Huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm
- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
- Địa điểm thực tập: Khoa Quản lý Tài nguyên – Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian
Từ 15/08/2016 đến 23/10/2016
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Định Hóa
• Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lí
- Địa hình, địa mạo
- Khí hậu, thuỷ văn, các nguồn tài nguyên khác
• Điều kiện kinh tế - xã hội
- Thực trạng phát triển kinh tế
- Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
• Hiện trạng sử dụng đất của huyện
3.3.2 Ứng dụng công nghệ GIS trong xây bản đồ đơn vị đất đai
- Xác định các đặc tính đất đai thông qua nguồn cơ sở dữ liệu sẵn có
Trang 40- Xác định được đặc điểm các đơn vị đất đai thông qua thu thập số liệu
và các loại bản đồ đề tài
3.3.3 Nhận xét các đơn vị đất đai
Từ kết quả bản đồ đơn vị đất đai đã xây dựng rút ra nhận xét về các đơn
vị đất đai của huyện Từ đó giúp người dân hiểu rõ hơn về đặc tính và tính chất đất đai của các đơn vị đất mình đang sử dụng trồng trọt và xác định được các loại hình sử dụng đất hợp lý hơn cho từng đơn vị đất
3.3.4 Ý nghĩa của việc đánh giá các đơn vị đất đai và xây dựng bản đồ đơn
vị đất đai huyện Định Hóa
Bản đồ đơn vị đất đai của huyện Định Hóa được thành lập sẽ giúp cho công tác đánh giá đất, quy hoạch sử dụng đất của huyện một cách hiệu quả hơn
3.3.5 Đề xuất các phương án cải tạo và sử dụng có hiệu quả cho từng đơn
vị bản đồ đất đai
3.4 Phương pháp thành lập bản đồ đơn vị đất đai
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập các thông tin dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính về các mặt điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội, các số liệu về đất đai (đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, tình hình sử dụng đất đai…), nguồn tư liệu thống kê đất đai của huyện Định Hóa, bản đồ hiện trạng, bản đồ địa hình, bản đồ đất…từ các cơ quan chuyên môn (Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng nông nghiệp của huyện Định Hóa) kết hợp kế thừa có chon lọc
- Khảo sát thực địa giúp cập nhật và xây dựng nguồn cơ sở dữ liệu
3.4.2 Phương pháp tham vấn
Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ GIS, xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, quản lý tài nguyên đất…
3.4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Dựa vào bản đồ tiến hành khảo sát thực địa và điều tra các yêu tố đất đai, thủy hệ, hiện trạng sử dụng đất