1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH TRẠNG NHIỄM GIUN, SÁN KÝ SINH TRÊN ĐƯỜNG TIÊU HÓA CỦA GÀ LƯƠNG PHƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ

15 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 174 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA MEN BIOVET ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÒNG BỆNH TIÊU CHẢY Ở GÀ THỊT TẠI HUYỆN TAM ĐẢO I.Đặt vấn đềNước ta đang bước vào thời kỳ công nghiêọ hóa hiện đại hóa đất nước. CÙng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống kinh tế xã hội của người dân đang ngày được nần cao, nhu cầu đời sống con người ngày một cao hơn. Để đáp ứng được nhu cầu đó thì một trong những ngành có khả năng sản xuất ra sản phẩm nhanh nhất, kinh tế nhất là ngành chăn nuôi gia cầm đặc biệt là ngành chăn nuôi gà lấy thịt. Nó chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp protein động vật cho con người.

Trang 1

PHẦN III CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA MEN BIOVET ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÒNG BỆNH TIÊU CHẢY Ở GÀ THỊT TẠI HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC”

I Đặt vấn đề

Nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiêọ hóa hiện đại hóa đất nước CÙng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống kinh tế xã hội của người dân đang ngày được nần cao, nhu cầu đời sống con người ngày một cao hơn

Để đáp ứng được nhu cầu đó thì một trong những ngành có khả năng sản xuất

ra sản phẩm nhanh nhất, kinh tế nhất là ngành chăn nuôi gia cầm đặc biệt là ngành chăn nuôi gà lấy thịt Nó chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp protein động vật cho con người

Cùng với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giứoi đã có nhiều giống gà mới có năng xuất cao, phẩm chất thịt ngon, thời gian nuôi ngắn, chi phí thức ăn thấp Trong đó kể đến là giống gà siêu thịt ROS – 308 do công ty CP Việt Nam phân phối có khả năng sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt ngon, phát triển tốt với điều kiện thời tiết ở Việt Nam

Nuôi gà công nghiệp có những ưu điểm rất cơ bản: Tăng trọng nhanh, hiệu xuất chuyển hóa thức ăn cao, quay vòng vốn nhanh và tạo ra lượng hàng hóa lớn Vì vậy phải nghiên cứu làm sao cho nó có hiệu quả nhất, giảm chi phí đến mức thấp nhất Khi chăn nuôi gà thịt có xu hướng phát triển mạnh thì dịch bệnh cũng ngày một tăng làm giảm năng xuất chăn nuôi gà công nghiệp, do đó đòi hỏi người chăn nuôi phải có biện pháp xử lý trong khâu phòng chống dịch bệnh thật tốt Để đàn gà nuôi thịt có đủ nhu cầu tối cần thiết tring quá trình sống để gà ăn khỏe, lớn nhanh nhờ đó mà người chăn nuôi mới thu được hiệu quả cao nhất

Một trong những biện pháp được đề ra là sử dụng các chế phẩm sinh học

để bổ sung trong quá trình chăn nuôi BIOVET là một trong những chế phẩm sinh học đáp ứng được yêu cầu bổ sung này Men BIOVET bổ sung các vi sinh vật hữu hiệu, các vitamin và acid amin, kích thích tiêu hóa, tăng tính thèm ăn, tăng sức đề kháng, phòng ngừa tiêu chảy, giảm mùi hôi phân, có hiệu quả tốt đối với đương tiêu hóa của gia cầm, làm cơ sở khoa học để khuyến cáo đối với người chăn nuôi Để hiểu dõ thêm về tác dụng của men BIOVET đối với gà thịt tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tác dụng của men Biovet đến khả năng sinh trưởng và phòng bệnh tiêu chảy ở gà thịt tại huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc”

Mục đích của đề tài:

1 Xác định ảnh hưởng của men BIOVET tới khả năng phòng bệnh tiêu chảy của giống gà thịt ROS – 308

2 Đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn gà thịt giống ROS – 308 khi

sử dụng men BIOVET

Trang 2

3 Từ kết quả đã nghiên cứu để khuyến cáo đối với người chăn nuôi gia cầm trong việc sử dụng loại men BIOVET này

II Tổng quan tài liệu

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong chăn nuôi hiện nay, bên cạnh sự phát triển không ngừng về chất lượng

và số lượng đàn gà thì dịch bện cũng cảy ra nhiều hơn, mạng mẽ hơn cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhiều nhà máy xí nghiệp mạc lên, thải ra các chất gây ô nhiễm môi trường và làm ảnh hưởng không nhỏ đến ngành chăn nuôi nhất là ngành chăn nuôi gia cầm Gia cầm có đặc tính là tiêu hóa và hô hấp nhanh nên khi chuồng trại không được vêh sinh sạch sẽ hay môi trường xung quanh bị ô nhiễm thì làm ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn gia cầm từ đó làm xuất hiện những mầm bệnh gây bệnh cho gia cầm Khi bệnh đã phát ra mà không điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến năng xuất chăn nuôi, vì vậy khi bổ sung men BIOVET vào thành phần nước uống cho gà sẽ làm cho gà được nâng cao sức đề kháng với môi trường và bệnh tật, tăng khả năng sinh trưởng, phòng các bệnh đường ruột, bệnh hô hấp , bổ sung một số vitamine và acid amin

2.1.1 Bệnh đường tiêu hóa

Bệnh bạch lỵ: còn gọi là bệnh ỉa phân trắng là một bệnh truyền nhiễm khá nguy hiểm do vi khuẩn Salmonella pullorum gây nên Mầm bệnh có thể truyền nhiễm qua trứng ( gà mẹ mang bệnh thì con được nở ra từ trứng của nó cũng mang mầm bệnh) Thông thường gà nhiễm bệnh qua đường tiêu hóa là chủ yếu, cũng có thể qua đường hô hấp, gà đã khỏi bệnh vẫn tiếp tục bài thải ra vi khuẩn

ra theo đường phân Đó là nguồn lây lan quan trọng và nguy hiểm nhất đối với

gà Bệnh thường ở thể cấp tính trên gà con và mãn tính trên gà lớn Nếu sức đề kháng yếu, điều kiện ngoại cảnh không tốt thì gà sơ sinh sẽ phát bệnh, tỷ lệ nuôi sống thấp, gà nở ra yếu ớt, chậm lớn ủ rũ, kém ăn, tăng trọng kém

Bệnh có thể lây lan gián tiếp qua thức ăn, nước uống, chuồng trại vệ sinh môi trường không đảm bảo, mầm bệnh sẽ dễ dàng vào cơ thể qua đường tiêu hóa và gây bệnh Ở giai đoạn đầu vì trùng vào máu gây nhiễm trùng huyết Gà con chết, niêm mạc và các cơ quan nội tạng bị sưng và xuất huyết Nếu bệnh tiến triển chậm sẽ xuất hiện viêm và hoại tử các phủ tạng, gan sưng màu nhợt nhạt, tim phổi sưng tụ máu Manh tràng sưng và xuất huyết, ruột đầy chất lonhr màu xám, lòng đỏ trong bụn gà con chưa tiêu hết

Chẩn đoán bệnh: Dựa vào triệu trứng, bệnh tích điển hình có thể chẩn đoán vi khuẩn học và huyết thanh học (phản ứng ngưng kết), để phát hiện gà mắc bệnh hay gà mang vi khuẩn làm lây lan bệnh

+ Công tác vệ sinh phòng bệnh: Phải chú ý thường xuyên đến vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống, thay chất độn chuồng Tẩy uế chuòng trại băng Formol 2% hoặc Cloramin T 0.5%, dùng vacxin vô hoạt keo phèn tiêm

1-2 ml/con hoặc kháng sinh Genta – costrim,

- Bệnh cầu trùng: Là do ký sinh trùng lớp đơn bào thuộc giống Eimeria gây nên

và rất phổ biến ở gà, đặc biệt là ở gà nuôi tập chung bệnh gây tác hại chủ yếu cho gà con, tỷ lệ chết cao, những con khỏi bệnh thueòng còi cọc, chậm lớn hồi

Trang 3

phục sưc khỏe lâu Gà lớn mắc bệnh cở thể nhẹ hơn, giảm sản lượng thịt, trứng

và là loài động vật mang bệnh

+ Giống Eimeria có loài cầu tùng khác nhau Gà thường nhiễm một hay nhiều laoì cầu trùng Trong đó có 4 loài thường gây bệnh là: E tenelle,

E.acervilia, E brunettis và E necatrix, với các triệu trứng đặc trưng: Gà ủ rũ, phân đỏ hoặc nâu sáp (màu nâu) nếu bị nặng phân có thể có lẫn máu, giảm đẻ Mức độ bệnh phụ thuộc vào phương pháp nuôi, Nuôi lồng hoặc nuôi trên sàn bệnh ít xảy ra hơn ở dưới nền, nuôi theo phuong pháp coong nghiệp cps trộn thuốc chống cầu trùng vào thức ăn hay nước uống thì bệnh ít hơn là nuôi thả rong, hoặc cho ăn thức ăn không được phòng bệnh Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa, gà con ăn phait noãn nang của cầu trùng nhiễm trong thức ăn , nước uống, dụng cụ chăn nuôi, Noãn nang vào đường tiêu hóa của gà gặp điều kiện thuận lợi phát triển gây bệnh Bệnh tích chủ yếu tập chung ở manh tràng

và ở ruột non, manh tràng sưng màu đỏ sãm hoặc tím đen, bên trong chứa đầy máu (đã đông), hoặc nước màu đỏ nhaitj, ruột non bị viêm có các đám sần sùi xuất huyết

+ Chẩn đoán bệnh cầu trùng: Dựa vào triệu chứng lâm sàng, bệnh tích

mổ khám hay kiểm tra phân tìm noãn nang cầu trùng qua kính hiển vi

+ Việc phòng và trị bệnh cầu trùng cho gà là rất quan trọng Ngoài công tác vệ sinh thú y, vệ sing chuồng trại nên sử dụng thuốc kháng sinh hay một số chế phẩm để phòng bệnh làm tăng sức đề kháng cho gà bằng cách cho uống nước

Do đặc diểm tồn tại thường xuyên của mầm bệnh trong tự nhiên vì vậy

đề phòng không cho bệnh nổ ra cần chú ý là tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng,

về sinh thú y, có thể điều trị bằng kháng sinh

2.1.2 Nguyên nhân gây bệnh đường tiêu hóa

II.2 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

II.2.1 Sức sống và khả năng chống chịu bệnh tật

Sức sống và khả năng chống chịu bệnh tật cả gia cầm là yếu tố quan trọng giúp chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao Sức sống của gia cầm là một tính trạng di truyền số lượng, nó đặc trưng cho từng cá thể và nó thể hiện ở khả năng chống chịu bệnh tật., khả năng thcihs nghi với môi trường và được thể hiện ở tỷ lệ nuôi sống của đàn gà từ khi sơ sinh đến khi giết thịt Ngoài ra tỷ

lệ nuôi sống còn phụ thuộc vào mức độ tỷ lệ giao phối cận huyêt, mức độ giao phối cận huyết cao thì tỷ lên nuôi sống giảm, ngược lại sự lai tạo giống cho ưu thế lai sẽ tăng tỷ lệ nuôi sống, tăng khả năng sinh trưởng

Theo Hoàng Toàn Thắng (1996)[12] thì Marco A.S and Etar (1982) cho rắng sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định trước hêt bởi khả năng

Trang 4

có tính di truyền ở động vậtc ó thể chống lại ảnh hưởng xấu của môi trường và ảnh hưởng khác của dịch bệnh

II.2.2 Sự sinh trưởng ở gia cầm

Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Cường(1992)[8] thì sự sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ do quá tình đồng hóa và quá trình dị hóa, sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận, toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền từ đời trước Sinh trưởng là sự tích lũy dần dần các chất, chủ yếu là protein, mà tốc độ và sự tích lũy các chất do tốc độ hoạt động của các gen điều khiển Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy khả năng tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng

II.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

CŨng như các động vật khác, khả năg sinh trưởng của gà chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: dòng, giống, tuổi, tính biệt, hướng sản xuất và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Các yếu tố: dòng, giống có ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng của gia cầm Trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng, mỗi giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau

Theo tài liệu của Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994)[2] sự khác nhau về khối lượng cơ thể gia cầm là rất lớn

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng còn phải kể đến chế dộ sinh dưỡng

Theo Bùi Đức Dũng, Lê Hồng Mận (1995)[5] để phat huy được kahr năng sinh trưởng của gia cầm phải cung cấp đủ thức ăn tối ưu và đầy đủ, chât dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt fiaữ protein và axit amin với năng lượng Ngoài ra cũng cần cung cấp đầy đủ các chất kháng, vitamin và các chất kích tích sinh trưởng

Khi đánh giác khả năng sinh trưởng của gia cầm người ta đưa vào hai chỉ tiêu chính là:

- Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, kích thước

và thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (tiêu chuẩn Việt Nam 2.39.77)[10] sinh trưởng tuyệt đối tính bằng gam/con/ngày Dồi thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng Parabol

- Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khả sat so với lúc ban đầu khả sát (tiêu chuẩn Việt Nam 2.40.77)[11]

Ngoài ra môi trường cũng ảnh hưởng đáng kể đối với khả năng sinh trưởng của gia cầm

Nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến nhu cầu năng lượng và protein của gà vì vậy tiêu thụ thức ăn của gà phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường

Wasburm, K Wetal (1992)[17] cho biết nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn ở cá khu vực chăn nuôi gà Broiner công nghiệp vung khí hậu nhiệt đới

Trang 5

Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng vì rất nhạy cảm với ánh sáng do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: ẩm độ, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa, nhiệt đội khoong khí và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

II.3 Tình hình sử dụng thuốc trong phòng bệnh và làm tăng súc đề kháng của gà

Hiện nay ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt, đảm bảo quy trình vệ sinh thú

y, vệ sinh chuồng trại thì công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi là rất quan trọng Có nhiều loại hóa dược có tác dụng tốt cho phòng một số bệnh do vi khuẩn, virut gây nên và phòng chống được các bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng,

Để đánh giá hiệu lực của men BioVet là một loại chế phẩm mới do Viện Khoa Học Sự Sống Thái Nguyên nghiên cứu ra Men BioVet mới được sử dụng cho nên thí nghiệm trên đây đã được đặt ra để lựa chọn men dùng cho thích hợp trong việc bổ sung các vi sinh vật hữu hiệu, vitamine, axit amin và phòng ngừa bệnh đường tiêu hóa cho chơ thể

Men BioVet là một loại men tiêu hóa sống sử dụng để chộn vào thức ăn, thành phần của men bao gồm:

- Bacillus sublitis 3.1010 CFU

- Saccharomyces cerevisiae 7.1010 CFU

Cơ chế tác động của men BioVet bao gồm một số loại vi sinh vật hữu hiệu, vitamine, axit amin trộn vào thức ăn bổ sung cho gia cầm Men được cân bằng và tính toán tỷ lệ các loại vi khuẩn hữu ích và các thành phần khác một cách vùa đủ phù hợp với nhu cầu của gia cầm chăn nuôi tỏng điều kiện chăn nuôi công nghiệp ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới

Chỉ định: bổ sung men BioVet cho gia cầm để kích thích tiêu hóa, hấp thu tốt thức ăn, tăng trưởng nhanh, tăng sức đề kháng, phòng ngừa tiêu chảy, giảm mùi hôi của phân

Tăng cường sức đề kháng của cơ thể, có hiệu quả trong phòng ngừa bệnh

hô hấp ở gà, vịt ngan

Liều dùng : gia cầm 100g/ 100kg thức ăn

Trộn đều vào thức ăn, cho vật nuôi ăn liên tục

Sau khi vào cơ thể đến đường tiêu hóa các

2.3.1 Vai trò của các vi khuẩn hữu ích

Trang 6

Vi sinh vật hữu ích là hỗn hợp bổ sung có bản chất vi sinh vật sống, có tác động có lợi đối với vật chủ nhờ các tác động sau:

- Cải thiện hệ vi sinh liên kết với vật chủ hoặc sống tự do trong môi trường

- Cải thiện việc sử dụng thức ăn hoặc tăng cường giá trị dinh dưỡng của thức ăn

- Gia tăng khả năng đề kháng của vật chủ đối với mầm bệnh

- Cải thiện chất lượng của môi trường sống

Cơ chế tác động chính xác của các vi sinh vật hữu ích hiếm khi được làm

rõ một cách hoàn toàn Có thể tóm tắt 7 cơ chế tác động của vi sinh vật hữu ích như sau:

- Sản sinh ra các hợp chất ức chế vi sinh vật có hại

- Cạnh tranh chất dinh dưỡng và năng lượng với vi sinh vật có hại

- Cạnh tranh chất sắt với vi sinh vật có hại

- Cạnh tranh nơi cư trú với vi sinh vật có hại

- Tăng cường các phản ứng miễn dịch

- Tác động qua lại với thực vật phù du

- Cải thiệnchất lượng nước

[tienthanh.tab.2.bacilus day du]

2.3.1.1 Vai trò của vi khuẩn Bacillus sublitis

Bacillus subtilis, còn được gọi là trực khuẩn cỏ khô hoặc trực

khuẩn cỏ, là một loại vi khuẩn Gram dương, catalase dương tính Thuộc

chi Bacillus ,Bacillus subtilis là trực khuẩn hình que, có khả năng tạo bào tử, có

khả năng chịu đựng các điều kiện môi trường khắc nghiệt

Hầu hết những loài B subtilis không độc hại đối với động vật, khả năng sản sinh kháng sinh và enzym Enzyme do vi khuẩn B subtilis tiết ra phân hủy rất có hiệu quả các chất như carbonhydrate, chất béo và đạm thành những đơn

vị nhỏ hơn Giống B subtilis có thể sinh trưởng tốt với nguồn carbon và nitơ thấp

Bacillus có thể tạo ra một số chất kháng khuẩn hoặc một vài sản phẩm có thể khống chế Vibrio harveyi B subtilis cũng được tìm thấy có khả năng tiết ra một số hợp chất diệt khuẩn và diệt nấm Sản phẩm các kháng sinh được tiết ra

là difficidin, oxydifficidin, bacitracin, bacillin, bacilomycin B có khả năng kháng các loài vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí

[tienthanh.tab.2.bacilus day du]

B subtilis có thể phân chia đối xứng để tạo thành hai tế bào con (nhị

phân phân hạch), hoặc không đối xứng, tạo bào tử trong điều kiện môi trường bất lợi như hạn hán, độ mặn, bức xạ cực cao, pH và dung môi, môi trường nghèo dinh dưỡng Trong môi trường sống khắc nghiệt, trước giai đoạn hình thành bào tử, các tế bào vi khuẩn có thể tự tạo ra các chất đề kháng (kháng sinh), hoặc giết chết đồng loại để tìm kiếm dinh dưỡng

Trang 7

Tính ổn định cao của B subtilis trong điều kiện môi trường khắc nghiệt làm cho vi sinh vật trở thành một trong những ứng cử viên hoàn hảo giúp cho gia cầm tiêu hóa thức ăn tốt và tăng sức đề kháng hiệu quả Cụ thể:

- B subtilis có khả năng sản sinh nhiều enzyme, nhưng quan trọng nhất

là amylase và protease, 2 loại enzyme thuộc hệ thống men tiêu hóa

- B subtilis có khả năng sinh tổng hợp một số chất kháng sinh có tác dụng ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả

vi khuẩn Gram(-), Gram(+) và nấm gây bệnh

- B subtilis thường tồn tại trong sản phẩm ở trạng thái bào tử, nhờ vậy khi uống vào dạ dày, nó không bị acid cũng như các men tiêu hóa ở dịch vị phá hủy Ở ruột, bào tử nẩy mầm và phát triển thành thể hoạt động giúp cân bằng hệ

vi sinh có ích trong đường ruột, cải thiện hệ thống tiêu hóa, nhất là sau khi sử dụng kháng sinh kéo dài

[tienthanh.tab.1.bacilus]

2.3.1.2 Vai trò của vi khuẩn Lactobacilus

Những vi khuẩn họ Lactobacillus thường được dùng làm thức ăn bổ sung cho gia cầm dưới dạng cho ăn trực tiếp vi khuẩn hoặc dưới dạng thức ăn trong men tiêu hóa như sản phẩm men sống BioVet Vì nhiểu lý do, nhằm giảm lượng kháng sinh thông thường đưa vào cơ thể gà, mà tỏng khi đó khi bổ sung vi khuẩn thuôc họ Lactobacillus vào qua thức ăn thì vi khuẩn này lại có khả năng làm tăng khả năng miễn dịch của cơ thể gà, tăng hấp thu chất dinh dưỡng, ổn định men tiêu hóa ở đường ruột

Khi bổ sung vi khuẩn hữu ích này thì có lợi cho đường ruột, giúp ổn định lượng men và lượng vi khuẩn có lợi trong đường ruột Giúp ổn định việc tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất của thức ăn đưa vào cơ thể Chủng vi khuẩn này còn

có tác dụng tăng sức đề kháng, miễn dịch của cơ thể

Trong quá trình tìm hiểu tại sao Lactobacillus có khả năng tăng cường miễn dịch, các nhà khoa học đã khám phá ra rằng phần vách tế bào sau khi bị phân giải có hiệu quả điều hòa và kích thích hệ miễn dịch nhiều hơn bội lần do với vi khuẩn sống Lactobacillus đặc biệt liên quan đến sự phòng ngừa hay giảm bớt những rối loạn đường ruột như tính không dung nạp được đường lactose, bệnh tiêu chảy do virus hay vi khuẩn gây ra, táo bón, viêm đường ruột,

dị ứng thức ăn

Khi cho gà broiler ăn có chứa thành phần Lactobacillus, tăng trọng đến

35 ngày tăng lên, nhưng không có sai khác giữa các lô về mức thức ăn ăn được

Trong những lô ăn Lactobacillus, khả năng tiêu hoá Ca và P tăng lên, độ nhão

của phân cũng như sự phát tán khí ammoniac trong phân giảm rõ rệt

[tienthanh.tab.3.lactobacilus]

2.3.1.3 Vai trò cảu vi khuẩn Sac Cerevisiae

2.3.2 Vai trò của các axit amin

2.3.2.1 vai trò của Lysine

Trang 8

Lysine là một α-amino axít thiết yếu của cơ thể động vật Về mặt chăn nuôi, trong chăn nuôi gia cầm, gia súc, lysine dùng làm chất phụ gia đã làm cho vật nuôi trưởng thành nhanh chóng, mang hiệu quả kinh tế cao Người chăn nuôi luôn muốn có được protein thực vật giá trị thấp Vì vậy TACN phải tận dụng protein thực vật làm nguyên liệu, gắng giảm sử dụng các loại bột cá, bột xương Nhất là gần đây việc chăn nuôi gia súc trên thế giới tăng mạnh, dẫn đến bột cá, bột xương khan hiếm và ngày càng trầm trọng Ðể giải quyết sự khan hiếm đó, một trong những giải pháp là bổ sung Lysine qua các chế phẩm

Lysine giữ vai trò sống cong trong tổng hợp protein, là chìa khóa trong sản xuất enzime, hoocmon và các kháng thể giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng, chống bệnh tật

Cơ thể con người và động vật thiếu Lysine cơ thể sẽ không hoạt động bình thường, đặc biệt là ở động vật còn non và trẻ em sẽ xảy ra hiện tượng chậm lớn Do vậy việc cung cấp thêm Lysine vào khẩu phần ăn là rất cần thiết

2.3.3 Vai trò của Vitamin B1

Dinh dưỡng là một quá trình sinh học nhằm duy trì cơ thể và không ngừng đổi mới những vật chất tạo nên cơ thể Nhữngvật chất mà cơ thể ngùng đòi hỏi gọi là các chất dinh dưỡng Tùy theo loại chức năng mà chúng được chia ra thành các nhóm sau:

- Những chất có hoạt tính sinh học như các Vitamin

- Ngoài những Vitamin ra để tồn tại được, cơ thể sinh vật nới chung và gia cầm nói riêng đòi hỏi phải có một nhóm chất rất cần thiết nữa đó là chất khoáng Một số chất khaons tham gia vào các thành phần của các chất có hoạt tính sinh học hay ở dưới dạng dung dịch trong tế bào và điều chỉnh áp suất thẩm thấu, đội PH

 Vai trò của Vitamin B1

Vitamin là các hợp chất hữu cơ tham gia trong mọi hoạt động sinh hóa sinh

lý của cơ thể gà với vai trò nhue một chất xúc tác, bởi vậy nếu thiết một loại nào đó sẽ gây rối loạn sinh lý mà ở mức độ cao chính là các bệnh

Vitamin B1 chi phối sự trao đổi Gluxit và Decacboxyl, tăng tính thèm ăn

và tăng tính hấp thu đường ruột Duy trì hoạt động bình thường của hệ thần kinh

Nếu thiếu Vitamin B1 trong quá trình nuôi thì sẽ làm tăng nguy cơ bị liệt thần kinh ở gà con 2 tuần tuổi, gà ngồi bệt đít, đầu ngửa kém ăn do mất tính thèm ăn, rối loạn tiêu hóa, yếu cơ đi lại không bình thường, rối loạn hệ thần kinh cơ tim, hô hấp, sinh bệnh gà cắn mổ nhau, gà thịt tăng trọng kém, lông

xù, ở gà đẻ: sức đẻ giảm nếu thiếu kéo dài sinh bệnh nghẹo cổ, cong xương III TÌnh hình nghiên cứu trong và ngoài nước

3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trang 9

Ở Việt Nam trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu về một số bệnh của gà như bệnh bạch lỵ, bệnh do ký sinh trùng gây nên, bệnh truyền nhiễm, sự ảnh hưởng của nó rất lớn đến khả năng sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn gây thiệt hại đến số lượng, chất lượng đàn vật nuôi Bệnh

do một số loài ký sinh trùng gây và trú ngụ ở đường tiêu hóa xảy ra ở hầu hết các giống gà Con đường lây truyền chủ yếu là qua thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa, bệnh phát triển rộng khắp trên thế giới Ở các loài khác nhau thì khả năng gây bệnh và thể hiện các triệu chứng khác nhau

Theo Nguyễn Thị Kim Lan - Nguyễn Quang Tuyên - Nguyễn Văn Quang (1999)[3], Johannes Kaufmann (1996) thì bệnh cầu trùng được coi là vấn đề lớn thứ hai sau bệnh do vi trùng gây nên Đặc điểm quan trọng của cầu trùng gà là vòng đời rất ngắn (5 – 7 ngày) và không cần ký chủ trung gian Bệnh cầu trùng gây tác hại lớn cho chăn nuôi gà, nhất là chăn nuôi với mật độ cao Tỷ lệ chết từ

50 – 70% số gà mắc bệnh

Bệnh này thường gây tác hại nhiều nhất đối với gà từ 1 – 8 tuần tuổi, gà con sau mắc bệnh rất khó hồi phục sức khỏe, chậm lớn Gà thường phần lớn là vật mang cầu trùng làm ảnh hưởng nhiều đến sản lượng thịt và trứng Ở hầu hết các loại gà đều có thể mắc bệnh cầu trùng qua khảo sát (1996 – 1998)

Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (1992)[4] gà 9 – 10 ngày tuổi đã nhiễm Eimeria tỷ lệ cao nhất ở gà 34 ngày tuổi và bệnh xảy ra phổ biến ở gà 50 ngày tuổi Cũng theo tác giả trên thì bệnh bạch lỵ có thể lây gián tiếp do thức ăn, nước uống, chuồng trại, vệ sinh môi trường không đảm bảo do vậy mầm bệnh

dễ dàng vào cơ thể gà qua đường tiêu hóa và gây bệnh xả ra ở gà con từ 1 – 30 ngày tuổi

Yếu mùa vụ có ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm cầu trùng mà các tác giả Hoàng Thạch và cộng sự (1999) đã nêu bật về sự ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ: Giữa các mùa vụ có sự chênh lệch rất lớn về nhiệt độ và ẩm độ Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến vòng đơig phát triển của Eimẻia, qua quan sát đã cho thấy bệnh cầu trùng gà cũng xảy ra ở mùa mưa nhiều hơn mùa khô (24,83 – 25,4 > 20,30 – 21,19) Trịnh Văn Thịnh và cộng sự (1993)[14] cho biết rằng

Salmonella Pollorum gây bệnh cho phôi thai gà, làm cho gà con chết sau khi ở hoặc có nhuengx triệu trứng bại huyết cấp tính, phân trắng bạch và nhão, bệnh tích là gan mật sưng có đặc điểm hoại tử ở tim và phổi, tỷ lệ chết từ 50 – 90%

gà lớn hơn một tháng tuổi mắc bệnh nhẹ hơn Bệnh tiến triển nặng hay nhẹ là tùy thuộc vào sức đề kháng của gia cầm, độ tuổi, điều kiện nuôi dưỡng, chế độ chăm sóc (Lê Hồng Mận - Phương Song Liên - Nguyễn Thị Lan (1998)[7]

Theo Lê Văn Năm (1998)[9] nghiên cứu thấy gà bị bệnh bạch lỵ thường ghép với bệnh ỉa chảy do lạnh

Bệnh bạch lỵ là bệnh truyền nhiễm khá nguy hiểm cho gà con, gây ra bởi

vi khuẩn Salmonella Pullorum Vi khuẩn này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa, gà con khỏi bệnh mang vi khuẩn, vi khuẩn làm cho ảnh hưognr đến buồng trứng, buồng trứng teo lại hoặc đẻ trứng đem ấp nở ra gà con mang mầm bệnh

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000)[1] bệnh có thể lây lan từ mẹ sang con (do cơ thể mẹ bị nhiễm bệnh mãn tính) lây truyền qua vỏ trứng do nhiễm bẩn từ

Trang 10

phân, chất độn chuồng trại, lò ấp, thức ăn nước uống bị nhiễm mầm bệnh Bệnh

có thể lây truyền qua niêm mạc khí quản bị tổn thương, qua vết thương hở vào

cơ thể

Tác giả Lê Hồng Mận – Phương song Liên (1999)[6] cho biết gà có triệu chứng không đặc trưng như mệt mỏi, tụ lại thành đám, xù lông, niêm mạc miệng, mắt có màu vàng nhợt, lỗ huyệt dính bết phân Tỷ lệ chết có thể từ 10 – 30% hoặc cao hơn nữa

3.2 TÌnh hình nghiên cứu trong nước

Trong chăn nuôi hiện nay có rất nhiều các loại bệnh và mỗi loại ngày càng có những biểu hiện phức tạp, ghép với nhiều bệnh khác mức độ mắc ngày càng nặng và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con vật Bên cạnh những bệnh do vi khuẩn, virut gây ra thì một số bệnh về ký sinh trùng đương tiêu hóa phát triển mạnh như: E.coli, cầu trùng bệnh xảy ra thường xuyên ở các đàn gà khi công tác vệ sinh phòng bệnh làm không tốt

Theo Hewtt, 1982[15] tỷ lệ chết do bệnh bạch lỵ xả ra rất nghiêm trọng

có thể lên tới 100% và thiệt hại lớn thường xảy ra vào tuần thứ hai sau khi ấp

nở Đồng thời giảm đi nahnh chóng ở gà tuần thứ 3 thứ 4 trở đi

Cũng theo tác giả trên khi quan sat gà bị bệnh thường thấy biểu hiện triệu trứng: ngủ lịm đi, yếu, giảm ăn nghiêm trọng, mất tính thèm ăn nhiều khi chết đột ngột Tỷ lệ chết cao nhất thương thấy ở tuần thứ 2 thứ 3 Nhưng đôi khi bệnh cũng có gặp ở gà từ 4 -6 tháng tuổi gà 3 – 4 tuần tuổi nhạy cảm và nhiêm vầu trùng nặng nhất, tỷ lệ chết cao (N.A Kolapxki, P:I.Paskin)[16]

Theo thông báo của Natt, 1959 Etênlla gây ra ở gà côn những biến đổi trong thành phần lâm ba cầu từ ngày thứ 5 sau khi nhiễm cầu trùng, lcú đó trong ruột đã có những điểm xuất huyết và có thể gà mất nhiều máu

Bệnh càu trùng gà xảy ra nhiều và phổ biến ở gà nuôi theo lối tập chung công nghiệp Bệnh gây bởi ký sinh trùng lớp đơn bào Ở gà có 9 loại cầu trùng gây bệnh kahcs nhau, trong đó chủ yếu là 5 loại thường gặp nhất là: Eimeria maxima, Eimeria brunetti, Eimeria aceurelina, Eimeria necatrix, Eimeria

tenalla Tuy là bệnh ký sinh trùng nhưng bệnh có tính chất lây lan rất nhanh

Theo Braunius và I.B listend, 1986 nhiễm trùng thường phụ thuộc rất lớn vào số luọng noãn nang ăn vào trạng thái miễn dịch của gia cầm Các khảo sát

ở vùng Bắc và Nam Mỹ cho thấy ở hầu hết các trại nuôi gà tỷ lệ % dương tính cao, kết quả trên cũng được báo cáo ở Châu Âu

Theo Fletcher O.J.J.F.Munell và R.K.Page, 1975 tổn thương tổ chức và những biến đổi chức năng ở ruột có thể tạo điều kiện cho rất nhiều vi khuẩn có hại cư chú như: Clostridium persungens dẫn đến viêm hoại tử ở ruột hoặc Salmonella Tuphimurium và bệnh Gumboro có thể kết hợp với bệnh cầu trùng

và làm cho quá trình điều trị bệnh cầu trùng vô cùng khó khăn

IV Nội dung và phương pháp nghiên cứu

4.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Thí nghiệm được nghiên cứu trên đàn gà gà thịt giống Ros – 308 do công ty CP Việt Nam cung cấp Bắt đầu nghiên cứu gà từ 1 – 45 ngày tuổi

Ngày đăng: 16/05/2018, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w