Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường Đại học sư phạm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHẠM TRUNG SƠN
QUẢN LÝ HỌC TẬP THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHẠM TRUNG SƠN
QUẢN LÝ HỌC TẬP THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHAN THỊ HỒNG VINH
HÀ NỘI – 2017
Trang 3Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc, sự giúp đỡ tận tình, trách nhiệm cao của PGS.TS Phan Thị Hồng Vinh
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, lãnh đạo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, giảng viên dạy chuyên ngành Quản lí giáo dục, cán bộ, giảng viên Khoa đào tạo sau đại học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã dành cho tác giả những điều kiện hết sức thuận lợi, nhiều giảng viên đã nhiệt tình đóng góp những ý kiến quý báu giúp tác giả nâng cao trình độ và hoàn thiện luận văn
Tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phan Thị Hồng Vinh, tới các thầy cô giáo đã và đang tham gia giảng dạy chuyên ngành Quản lí giáo dục, CBQL, giảng viên Khoa đào tạo sau đại học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô
và các tập thể sinh viên chuyên ngành Quốc phòng An ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu khoa học, khảo sát thực tế, thu thập số liệu để hoàn thành đề tài luận văn
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để thực hiện bản luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Trung Sơn
Trang 4Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của cô giáo, PSG.TS Phan Thị Hồng Vinh
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là thực
tế, trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình !
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Học viên
Phạm Trung Sơn
Trang 51 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học 3
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5
7 Kết cấu của đề tài 5
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HỌC TẬP THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Những tư tưởng và công trình nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới 6
1.1.2 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam 8
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 12
1.2.1 Khái niệm về học tập và tính tích cực học tập của người học 12
1.2.2 Khái niệm về tích cực hóa học tập và quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học 17
1.3 Những vấn đề chung về quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở các trường đại học 25
1.3.1 Đặc điểm học tập của sinh viên ngành giáo dục giáo dục quốc phòng và an ninh ở các trường đại học 25
1.3.2 Quan niệm về quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở các trường đại học 29
1.3.3 Nội dung quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở các trường đại học 32 1.3.4 Những yếu tố tác động đến học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở các trường đại học hiện nay 36
Trang 62.1 Khái quát chung về quá trình đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 và Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội 2 trong quản lý hoạt động học tập của sinh viên 41 2.1.1 Khái quát chung về quá trình đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng và an ninh
ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 41 2.1.2 Khái quát về chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội
2 trong quản lý hoạt động học tập của sinh viên 43 2.2 Thực trạng học tập và quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 hiện nay 47 2.2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 47 2.2.2 Thực trạng học tập của sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 hiện nay 48 2.2.3 Thực trạng quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 hiện nay 56 2.3 Đánh giá chung về thực trạng và nguyên nhân thực trạng học tập, quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 hiện nay 68 2.3.1 Đánh giá chung về thực trạng học tập, quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 hiện nay 68 2.3.2 Nguyên nhân thực trạng học tập, quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 hiện nay 71
Trang 73.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 74
3.1.1 Đảm bảo thống nhất giữa tính khoa học và tính mục đích 74
3.1.2 Đảm bảo thống nhất tính đồng bộ và tính khả thi 74
3.1.3 Đảm bảo thống nhất, phù hợp giữa khả năng của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý 75
3.1.4 Đảm bảo tính nhất quán và tính sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt trong quản lý hoạt động học tập 75
3.2 Biện pháp quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 hiện nay 76
3.2.1 Tổ chức bồi dưỡng động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho sinh viên 76
3.2.2 Hướng dẫn sinh viên xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập 79
3.2.3 Quản lý hoạt động học tập trên cơ sở phát huy năng lực tự học của sinh viên 83
3.2.4 Chỉ đạo giảng viên đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của sinh viên 87
3.2.5 Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo định hướng phát triển năng lực 92
3.2.6 Bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động học tập của sinh viên 96
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 hiện nay 99
3.3.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm 99
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC
Trang 8TT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT
06 Giáo dục quốc phòng và an ninh GDQP&AN
Trang 9Bảng 2.1 Thực trạng về động cơ học tập của sinh viên 49
Bảng 2.2.Thực trạng về các phương pháp học tập của sinh viên 52
Bảng 2.3 Thực trạng về các hình thức học tập của sinh viên 54
Bảng 2.4 Thực trạng về CSVC và phương tiện học tập của sinh viên 55
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát ở sinh viên về quản lý hoạt động xây dựng động cơ, thái độ học tập của sinh viên 57
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát ở CBQL và ĐNGV về quản lý hoạt động xây dựng động cơ, thái độ học tập của sinh viên 57
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát ở CBQL và giảng viên về quản lý kế hoạch học tập của sinh viên 60
Bảng 2.8 Kết quả khảo sát ở sinh viên về quản lý kế hoạch học tập của sinh viên 61
Bảng 2.9 Kết quả khảo sát ở CBQL và giảng viên về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá học tập của sinh viên 65
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát ở sinh viên về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá học tập của sinh viên 65
Bảng 3.1 Tính cần thiết của các biện pháp 100
Bảng 3.2 Tính khả thi của các biện pháp 102
Bảng 3.3 Về so sánh mức độ tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi 103
Trang 10Sơ đồ 2.1 Cơ cấu, tổ chức của Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội 2 44 Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ sinh viên lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập 51 Biểu đồ 3.1 Tương quan tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 104
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng ta đặc biệt coi trọng công tác đào tạo giáo viên, giảng viên GDQP&AN ở các trường đại học; đồng thời, xác định đây là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định trong nâng cao chất lượng tuyên truyền giáo dục “Kiến thức quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước
và giữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [34] cho học sinh, sinh viên ở các trường từ THPT đến đại học Chính vì thế, trong những năm gần đây, Chính phủ đã ban hành nhiều quyết định khác nhau xung quanh vấn đề đào tạo giáo viên, giảng viên GDQP&AN Cụ thể, gần đây nhất, ngày 24/4/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 607/QĐ-TTG Phê duyệt Đề
án “Đào tạo giáo viên, giảng viên GDQP&AN cho các trường THPT, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học đến năm 2020” với mục tiêu “Đến năm 2020 bảo đảm đào tạo đáp ứng được 90% nhu
cầu giáo viên và 70% nhu cầu giảng viên GDQP&AN giảng dạy ở các trường THPT, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học” [40]; đồng thời giao nhiệm vụ cho Trường ĐHSP Hà Nội 2 là một trong 12 cơ
sở giáo dục đại học thực hiện nhiệm vụ đào tạo giáo viên, giảng viên GDQP&AN
Quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo trên, thời gian qua, cùng với các trường đại học khác, Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã thực hiện đồng bộ nhiều phương hướng, giải pháp khác nhau nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đối tượng giáo viên, giảng viên GDQP&AN; trong đó tập trung thực hiện theo hướng “Đào tạo ra những con người
có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng với những biến động” [41] Để giải quyết vấn đề này, nhà trường đã xác định việc thực hiện có hiệu quả quản lý quá trình đào tạo nói chung, quản lý học tập của sinh viên ngành GDQP&AN theo hướng tích cực hóa người học
Trang 12nói riêng là một trong những khâu đột phá, nội dung quan trọng hàng đầu nhằm góp phần trực tiếp giúp cho người học phát huy được tính tự giác, chủ động, sáng tạo, xây dựng được phương pháp học tập đúng đắn; biết phát huy hết năng lực của bản thân trong quá trình học tập cũng như trong thực tiễn, trên cơ sở đó xây dựng được phẩm chất, năng lực đáp ứng tốt với mục tiêu, yêu cầu đào tạo đặt ra
Tuy nhiên, từ thực tiễn cho thấy, trong quản lý học tập của sinh viên GDQP&AN ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 theo hướng tích cực hóa người học thời gian qua bên cạnh những ưu điểm vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, cụ thể: Trong quản lý học tập vẫn “chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của sinh viên” [41] Trong tất cả các khâu, các bước, các nội dung của quá trình quản lý như: quản lý xây dựng kế hoạch học tập, quản lý việc phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập, quản lý phương pháp tự học, quản lý kết quả học tập của sinh viên hiệu quả còn chưa cao, chưa thực sự đáp ứng được với yêu cầu của thực tiễn Đây vừa là thực trạng, nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến thực trạng “Đội ngũ giáo viên GDQP&AN còn yếu về chất lượng… chất lượng môn học GDQP&AN của học sinh, sinh viên ở một số trường THPT, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề và cao đẳng, đại học còn nhiều hạn chế” [39]
Để khắc phục những hạn chế trên, trong những năm gần đây, ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đa chiều, trên nhiều khía cạnh khác nhau xung quanh đến quản lý học tập của sinh viên sư phạm ngành GDQP&AN theo hướng tích cực hóa người học Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT hiện nay; trước thực tiễn đào tạo giáo viên GDQP&AN ở nhà trường đã và đang đặt ra những yêu cầu mới, nhưng cho đến hiện nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đảm bảo có tính hệ thống, khoa học chuyên sâu về quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục QP&AN Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả lựa
chọn “Biện pháp quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2” làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 132 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về học tập, quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành GDQP&AN ở các trường đại học
- Khảo sát, đánh giá thực trạng học tập và quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành GDQP&AN ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 hiện nay
- Đề xuất các biện pháp quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành GDQP&AN ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 hiện nay Đồng thời, tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình học tập của sinh viên ngành GDQP&AN ở Trường ĐHSP Hà Nội 2
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành GDQP&AN ở Trường ĐHSP Hà Nội 2
4 Phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
4.1 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan
đến học tập và quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học của sinh viên ngành GDQP&AN ở Trung tâm GDQP&AN Trường ĐHSP Hà Nội 2 theo Quyết định số 607/QĐ - TTG ngày 24/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể là đối
tượng đào tạo dài hạn, chính quy tập trung thời gian 4 năm
* Phạm vi về khách thể khảo sát: Đề tài thực hiện khảo sát, tọa đàm, trao đổi
với các đối tượng là CBQL, giảng viên và sinh viên ngành GDQP&AN ở Trường
ĐHSP Hà Nội 2
Trang 14* Phạm vi về thời gian: Các số liệu sử dụng trong đề tài được giới hạn chủ
yếu từ năm 2013 đến nay
4.2 Giả thuyết khoa học
Quản lý học tập của sinh viên ngành GDQP&AN ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 theo hướng tích cực hóa người học là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao
chất lượng học tập của sinh viên hiện nay Theo đó, nếu đề xuất được các biện pháp quản
lý học tập cho sinh viên theo hướng tích cực hóa người học phù hợp với tính đặc thù trong đào tạo giáo viên GDQP&AN, cũng như đặc thù của Trung tâm giáo dục quốc
phòng Hà Nội 2 – Trường ĐHSP Hà Nội 2 thì kết quả học tập của sinh viên sẽ được
nâng cao; trên cơ sở đó góp phần đào tạo được đội ngũ giáo viên GDQP&AN có phẩm chất, năng lực đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh mới
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về GD&ĐT, nhất là các vấn đề xung quanh đến GDQP&AN hiện nay Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tiếp cận vấn đề theo quan điểm hệ thống - cấu trúc; hoạt động - giá trị - nhân cách; quan điểm lịch sử - logic ; quan điểm thực tiễn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
* Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, bao gồm các phương pháp:
phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, hệ thống hoá các vấn đề qua nghiên cứu hệ thống tài liệu lý luận, chuyên khảo, các bài báo khoa học thuộc phạm vi
nghiên cứu của đề tài
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, bao gồm các phương pháp:
- Tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu các văn bản, báo cáo tổng kết của các cơ quan quản lý đào tạo giáo viên GDQP&AN ở Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Điều tra: Xây dựng phiếu điều tra và tiến hành điều tra, khảo sát với 03 đối tượng
là CBQL, ĐNGV và sinh viên sư phạm ngành GDQP&AN ở Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Phương pháp tọa đàm, trao đổi: Tổ chức tọa đàm, trao đổi với CBQL, ĐNGV, sinh viên ngành GDQP&AN xung quanh vấn đề nghiên cứu
Trang 15- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến một số nhà khoa học trong và ngoài
Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý các số
liệu điều tra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài bổ sung, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về học tập và quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành GDQP&AN ở các trường đại học; đề xuất được những biện pháp quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành GDQP&AN ở Trường ĐHSP Hà Nội 2, trên cơ
sở đó góp phần nâng cao kết quả học tập của sinh viên đáp ứng được với mục tiêu,
yêu cầu đào tạo của nhà trường
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo và vận dụng ngay vào trong thực tiễn quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành GDQP&AN ở Trường ĐHSP Hà Nội 2 Trên cơ sở đó, góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinh viên, cũng như chất lượng đào tạo giáo viên GDQP&AN của nhà trường đáp ứng tốt với yêu cầu của thực tiễn đặt ra
7 Kết cấu của đề tài
Đề tài bao gồm: Mở đầu, 3 chương, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu
tham khảo, phụ lục
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HỌC TẬP THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những tư tưởng và công trình nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới
* Nghiên cứu về hoạt động học tập của học sinh, sinh viên
Có thể khẳng định, việc nghiên cứu những vấn đề xung quanh đến học tập của người học được các nhà giáo dục trên thế giới đề cập từ rất sớm Ngay thời Cổ đại, các nhà giáo dục nổi tiếng như: Khổng Tử (551 - 479 TCN), Socrate (469 - 399 TCN)… đã có những tư tưởng liên quan đến vấn đề này Đặc biệt, khi thế giới bước vào thời kỳ hiện đại, việc nghiên cứu về hoạt động học tập của học sinh, sinh viên
đã được nghiên cứu một cách chỉnh thể, có hệ thống và khoa học hơn Trong đó, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nước Tây Âu và Mỹ đã quan tâm tìm phương pháp giáo dục mới dựa trên cơ sở cách tiếp cận “Lấy học sinh làm nhân vật trung tâm” bắt đầu từ một tư tưởng nhân văn, tiến bộ mong muốn giải phóng năng lực sáng tạo của người học do John Dewey (1859 - 1952) nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng đầu thế kỷ XX đề xướng: Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục Điều này đã tạo nên một đối trọng với các phương pháp dạy học truyền thống lúc đó vốn coi “Giáo viên là nhân vật trung tâm”, chỉ chú ý tới sự ghi nhớ thụ động của người học Kể từ đây, một loạt các phương pháp dạy học theo
tư tưởng “Học sinh là nhân vật trung tâm” đã được đưa vào thử nghiệm như
“Phương pháp tích cực”, “Phương pháp hợp tác”, “Phương pháp cá thể hóa” Trong đó, phương pháp tích cực và phương pháp hợp tác được chú ý nhiều hơn cả
Hoạt động học tập cũng được đề cập trong các công trình nghiên cứu về giáo dục hiện đại Tiêu biểu như: Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm
“Giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng của Châu Á - Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm về quá trình "Nhận biết dạy - học" [35]; Công trình “Cách mạng học tập” của hai tác giả Cordon Dryden và Jeannette Vos đã đề ra công thức
Trang 17MASTER để hướng dẫn người học phát huy năng lực học tập của bản thân (M Mind set Forsuccess, A: Acquire knowledge, S: Search out the meanig, T Trigger the memory, E Exhibit, OR Reflect how to learn) [6]; James H Stronge với tác phẩm “Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả” thông qua việc phân tích những điều kiện kiên quyết giúp cho việc giảng dạy hiệu quả, tác giả đã chỉ ra những yếu tố cần thiết để nâng cao chất lượng HĐHT của học sinh [20]
Năm 1996, Hội đồng Quốc tế về giáo dục cho thế kỷ XXI đã gửi UNESCO bản báo cáo “Học tập một kho báu tiềm ẩn” [19] Báo cáo đã phân tích nhiều vấn đề của giáo dục thế kỷ XXI, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người học, cách học cần phải dạy cho thế hệ trẻ do Chủ tịch Hội đồng Quốc tế về giáo dục -Jacques Delors nêu ra, gồm 4 trụ cột: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định Học tập suốt đời ngày nay ở rất nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới không còn tồn tại chỉ là một khái niệm hay một nguyên tắc đơn thuần trong học tập, mà nó trở thành một trong những chìa khóa quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội
* Nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên
Công trình nghiên cứu của M.I.Kônđakốp [28], Savin [36] Dựa trên cơ sở lý luận của học thuyết Mác-Lênin, các nhà khoa học đã phân tích vai trò, mối quan hệ của các thành tố trong quá trình giáo dục tổng thể tác động đến nội dung, phương pháp, phương tiện và kết quả học tập của học sinh Trong công trình “Những vấn đề quản lý trường học", tập thể tác giả dưới sự chủ biên của P.V.Zimin, M.I.Kônđakốp, N.I.Xaxerđôtốp đã đưa vào công trình nghiên cứu của mình những nguyên tắc quản
lý của Lênin về sự lãnh đạo nền giáo dục nhân dân để xây dựng cơ sở lý luận khoa học quản lý giáo dục [33]
Từ cuối thế kỷ XX, thế giới chuyển dần từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, vấn đề hiệu quả quản lý nhà trường
đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Từ đây, việc quản lý dạy học nói chung và quản lý HĐHT nói riêng trở thành một nội dung gắn bó hữu cơ với việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà trường Các công trình nghiên cứu điển hình như:
Trang 18cuốn “Những ý tưởng mới để nhà trường hiệu quả" [62] của Ramsay W và Clark E.E đã viết ; cuốn “Quản lý và những kết nối của nó với hiệu quả trường học"[63]
của Wily H Năm 1990, tổ chức UNESCO đã xuất bản tập tài liệu “Sổ tay kế hoạch
và quản lý giáo dục cấp vĩ mô" Trong tài liệu này, các tác giả đã thông qua việc hướng dẫn xác lập kế hoạch quản lý giáo dục cấp vĩ mô để nêu lên quan điểm và phương thức đánh giá hiệu quả quản lý trường học thông qua hiệu quả đào tạo Đây cũng là cơ sở khoa học có giá trị cho các nhà trường trong quản lý dạy học nói chung và quản lý HĐHT nói riêng
Năm 2004, nhà xuất bản chính trị Quốc gia ấn hành cuốn “Phương pháp lãnh đạo và quản lý nhà trường hiệu quả” bao gồm tập hợp các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc các Viện nghiên cứu giáo dục, các trường Đại học nổi tiếng trên thế giới Cuốn sách có ba chương, đã tiếp cận công tác lãnh đạo quản lý nhà trường từ nhiều góc độ Vấn đề quản lý hoạt động học tập và giảng dạy được bàn ngay trong chương đầu tiên của cuốn sách [47] Cùng năm, nhà xuất bản chính trị Quốc gia tiếp tục cho xuất bản cuốn “Dành cho Hiệu trưởng, chiến lược và lời khuyên thực tế giúp
công việc hiệu quả hơn” [31] của tác giả Pam Robbins và Harvey B Alvy Được xem
là một cẩm nang dành cho Hiệu trưởng, cuốn sách gồm có 7 phần với 23 chương, luận bàn khá sâu sắc về cách thức điều hành và quản lý trong nhà trường Đặc biệt, tác giả cuốn sách đã dành hẳn phần thứ tư để nghiên cứu và đưa ra nhiều giải pháp để xây dựng tổ chức quản lý HĐHT Đây là một công trình tương đối công phu về quản
lý HĐHT của học sinh Công trình “Quản lý các trường học trong thế kỷ XXI”, tác giả Brent Davies và Linda Ellison tuy không đi sâu vào các giải pháp nhưng những luận bàn về quản lý HĐHT của học sinh vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn cao cũng hết sức quan trọng Đặc biệt, các quan điểm về quản lý luôn được trình bày khá cụ thể và tường minh [1]
1.1.2 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam
* Nghiên cứu về hoạt động học tập và tích cực hóa hoạt động của học sinh, sinh viên
Trang 19Ở nước ta, việc nghiên cứu về hoạt động học tập và tích cực hóa hoạt động của người học được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ, đề cập đa chiều, trên nhiều khía cạnh, bình diện khác nhau, trong đó có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Học và dạy cách học” của Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo [43]; “Tự học - Một chìa khóa vàng của giáo dục” của Phan Trọng Luận [27]; “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới" của Thái Duy Tuyên [56]; “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường" của Phan Trọng
Ngọ [29] Các công trình trên đã làm rõ nhiều vấn đề về lý luận hoạt động dạy và
học; vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trong tổ chức hoạt động dạy và học, đề cập đến nhiều lĩnh vực liên quan đến công tác tổ chức hoạt động học, quản
lý hoạt động học nhằm không ngừng phát huy tính sáng tạo, chủ động; nâng cao chất lượng hoạt động học tập của người học Song nhìn tổng thể các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng để nâng cao chất lượng đào tạo đại học cần phải tăng cường quản lý hoạt động học tập của người học Đây là một nhiệm vụ, một nội dung quan trọng khẳng định và bảo đảm chất lượng đào tạo đại học hiện nay
Tác giả Nguyễn Ngọc Phú khi nghiên cứu về “Hoạt động học và vấn đề tích cực hoá hoạt động học tập của sinh viên” [32], đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản về vấn đề TCH HĐHT của HV Theo tác giả, muốn TCH HĐHT của sinh viên phải giáo dục hình thành cho họ hệ thống động cơ, mục đích học tập đúng đắn; gắn liền với việc rèn luyện các hành động học tập cụ thể TCH HĐHT của sinh viên còn thông qua các tác động tích cực của đội ngũ giáo viên, tập thể lớp học, thông qua các chính sách xã hội cụ thể
Tác giả Lê Thị Xuân Liên với quan niệm TTC học tập thực chất là TTC nhận thức đã chỉ ra các hình thức biểu hiện của TTC như là: xúc cảm học tập, chú ý, kết quả lĩnh hội Đồng thời tác giả cũng chỉ ra TTC học tập có mối liên hệ với phẩm chất nhân cách của người học, bao gồm: tính tự giác, tính độc lập tư duy, tính chủ động và tính sáng tạo [24]
Tác giả Lê Duy Tuấn khi nghiên cứu về “Cơ sở tâm lý của tính tích cực học tập của sinh viên đào tạo sĩ quan quân đội” [54], đã chỉ ra các thành tố cơ bản của
Trang 20TTC học tập của sinh viên bao gồm những nhân tố chủ quan và khách quan Những nhân tố thuộc về chủ quan: động cơ học tập, kỹ năng học tập, ý chí học tập; những yếu tố khách quan tác động đó là: giảng viên, cán bộ quản lý sinh viên, môi trường
sư phạm và tập thể lớp học, môi trường xã hội Trên cơ sở đó tác giả đã chỉ ra các dấu hiệu của TTC học tập, bao gồm: nhận thức rõ vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc học tập đối với sự nghiệp xây dựng quân đội và phát triển nhân cách bản thân; say
mê học tập; có kỹ năng thực hiện các hành động học tập; có phương pháp học tập phù hợp với nội dung các môn học; tích cực vận dụng kiến thức vào thực tiễn hoạt động nghề nghiệp quân sự và kết quả học tập tốt
* Nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập và quản lý hoạt động học tập theo hướng tích cực hóa
Chất lượng giáo dục phải được đánh giá từ chất lượng học tập của người học, quản lý nhà trường hiệu quả phải được nhìn nhận từ quản lý tốt HĐHT của học sinh Do vậy, Quản lý học tập được đề cập trong nhiều nội dung của các công trình nghiên cứu
như : “Quản lý nhà trường” [3] của Nguyễn Phúc Châu, “Những bài giảng về quản lý trường học” [17] của Hà Sĩ Hồ , khi phân tích về quản lý dạy học, các tác giả chú trọng
việc quản lý HĐHT của học sinh, xem đây là một khâu quan trọng cấu thành nên quá trình dạy học
Các luận án nghiên cứu về quản lý dạy học, vấn đề quản lý HĐHT của học sinh đã được nhiều tác giả đề cập đến Các đề tài tiêu biểu như: “Những giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường trung học
phổ thông” [4] của Nguyễn Văn Châu; “Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học
phân hóa ở trường trung học phổ thông Việt Nam hiện nay” của Lê Hoàng Hà [10]
Quản lý dựa vào chuẩn là một trong những tiếp cận và xu hướng của quản lý hiện đại Để quản lý chất lượng đào tạo, cần thiết phải thiết lập được chuẩn đào tạo, trong đó, thiết lập chuẩn đầu ra có ý nghĩa rất quan trọng Trong chuẩn đầu ra, kết quả học tập của người học là một trong những thành tố cấu trúc trung tâm Đây là lý
do khiến cho vấn đề đánh giá kết quả học tập của người học nhận được sự quan tâm đặc biệt trong các nghiên cứu gần đây, như: “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực
Trang 21trong thế kỷ XXI” của Trần Khánh Đức [7]; “Nghiên cứu quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học ở Việt Nam ” của Cấn Thị Thanh Hương [18]; “Kiểm tra - đánh giá trong dạy - học đại học” của Đặng Bá Lãm [23]; “Vắn tắt
về đo lường và đánh giá thành quả học tập trong giáo dục đại học ” của Lê Đức Ngọc [30] Ngoài các công trình trên đây, vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học còn được nhiều hội thảo khoa học quan tâm, như “Kỷ yếu hội
thảo khoa học: Đánh giá kết quả học tập của sinh viên”[59] và ”Kỷ yếu hội thảo
khoa học: Phương pháp đánh giá kết quả học tập sinh viên đại học” [58] của Viện nghiên cứu giáo dục - ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh; “Kỷ yếu hội thảo khoa học: Vai trò của hoạt động kiểm tra đánh giá trong đổi mới giáo dục ở Việt Nam” của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục [60]
HĐHT và quản lý HĐHT của học sinh được nhắc đến trong nhiều công trình khoa học, nhưng nhìn chung chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu lồng ghép với quản
lý dạy học nói chung hoặc nghiên cứu trên một phương diện cụ thể là khâu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Công trình “Quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo
hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Thanh Hải năm
2014 có thể được xem là công trình đầu tiên bàn trực tiếp về quản lý HĐHT [12] Tuy nhiên, công trình chỉ đi sâu vào nghiên cứu quản lý HĐHT của sinh viên theo
hệ thống tín chỉ Vấn đề quản lý HĐHT của học sinh, sinh viên tại các nhà trường nói chung vẫn còn nhiều nội dung cần phải quan tâm
Tóm lại, ưu điểm nổi bật của các nghiên cứu trong và ngoài nước về HĐHT
và quản lý HĐHT là các nhà giáo dục, nhà khoa học đã đề xuất được quan niệm, quan điểm về học tập, đánh giá cao vai trò của HĐHT trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy năng lực cá nhân Vị thế và nội lực của người học cũng luôn được chú trọng trong hàng loạt các công trình nghiên cứu Tư tưởng lấy học sinh làm trung tâm, lấy việc học làm trung tâm là một tư tưởng giáo dục hiện đại, tích cực, chi phối cả mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và đánh giá hiệu quả dạy học Các nhà nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh sự tự học mỗi khi luận bàn về các nội dung tổ chức HĐHT của học sinh, sinh viên Theo các nhà
Trang 22nghiên cứu, phát huy tinh thần tự học chính là con đường đúng đắn để phát huy nội lực con người, phát triển năng lực cá nhân Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu
về tự học cũng chiếm ưu thế Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh, phát huy sự
tự học ở học sinh chính là một trong những giải pháp quan trọng giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng học tập Đây là một quan điểm dạy học hoàn toàn đúng đắn và sẽ tiếp tục được chúng tôi kế thừa, triển khai sâu hơn trong luận văn này Các công trình trên đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo trong hệ thống các học viện, trường đại học hiện nay Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công
trình nào trực tiếp đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống đến vấn đề “Biện pháp quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trường ĐHSP Hà Nội 2” Điều này càng khẳng định
rõ hơn tính cấp thiết và sự cần thiết của đề tài đã lựa chọn và nghiên cứu
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm về học tập và tính tích cực học tập của người học
1.2.1.1 Khái niệm về học tập
Theo từ điển Tiếng Việt: “Học tập là quá trình tiếp thu kiến thức và rèn luyện
kỹ năng dưới sự dạy bảo, hướng dẫn của nhà giáo và hợp thành hoạt động dạy học
trong lĩnh vực sư phạm” [13, tr.201]
Dưới góc độ lí luận dạy học ĐH, N.V Cudomina coi “Học tập là loại hoạt động nhận thức cơ bản của sinh viên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy Trong quá trình đó, việc nắm vững nội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thể tiến hành được hoạt động nghề nghiệp tương lai” [dẫn theo 37, tr 89]
Theo góc độ tâm lí học, học tập thường quan tâm nhiều đến mục đích và động cơ của nó “Do tác động của hoạt động dạy học nói riêng, quá trình đào tạo nói nhung, sinh viên, khi mới vào trường đại học, … từ chỗ chưa yêu nghề đến chỗ yêu nghề, gắn bó với nghề nghiệp tương lai mà mình đã chọn;… từ chỗ chưa nhận thức được mục đích đào tạo dần dần hiểu được đầy đủ, sâu sắc mục đích, nhiệm vụ học
tập, rèn luyện nói chung, đối với từng bộ môn nói riêng;” [15, tr 39]
Trang 23Học tập là việc học có chủ ý, có mục đích định trước, được tiến hành bởi một hoạt động đặc thù – hoạt động học, nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân Đặc trưng của học tập nhằm thỏa mãn một nhu cầu nhất định, được kích thích bởi động cơ học và được thực hiện bởi một hoạt động chuyên biệt: hoạt động học với nội dung, phương pháp và phương tiện riêng Học tập có thể được thực hiện theo nhiều hình thức phong phú
Từ quan điểm về học tập nói trên, chúng ta có thể nhận thấy đó là một hoạt động mà chủ thể chính là người học, tri thức và kỹ năng chính là đối tượng của nó Việc tiếp nhận tri thức, kỹ năng được diễn ra theo cơ chế nhập tâm Quá trình đó diễn ra trên cơ sở hoạt động của hệ thần kinh, cấu trúc của nó bao gồm các giác quan, nơ ron thần kinh và não Mỗi bộ phận này có những chức năng khác nhau
Nguyễn Thạc - Phạm Thành Nghị cho rằng, “Hoạt động học tập ở đại học là một loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo của sinh viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện sáng tạo
và có trình độ nghiệp vụ cao” [dẫn theo 37, tr 90]
Charles Towley cho rằng, sinh viên đến trường ĐH để học tập và trưởng thành Trong dạy học hiện đại, sinh viên và giảng viên là những người cộng tác của nhau Trong mối quan hệ này, sinh viên vừa là người cộng tác, vừa là người kiến tạo kiến thức Sinh viên học tập thông qua việc tạo ra những mối liên hệ, và khám phá ra những mối liên hệ đó Sinh viên chủ động xây dựng, khám phá, biến đổi và
mở rộng kiến thức của mình Để khuyến khích sinh viên thực hiện việc học tập có hiệu quả, giảng viên cần nỗ lực phát huy năng lực của mình Quá trình dạy học đòi hỏi phải có sự hợp tác tốt, giảng viên và sinh viên phải cùng nhau làm việc, biến
quá trình đào tạo thành một quá trình trao đổi giữa các cá nhân với nhau [2, tr39]
Học tập của sinh viên là hoạt động lĩnh hội tri thức Khi tiến hành học tập, sinh viên không chỉ tiếp nhận kiến thức chuyên ngành thụ động từ người thầy mà họ cần chủ động trong quá trình học tập Sinh viên tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập sáng tạo Học tập của sinh viên mang tính tự giác, tích cực, chủ động Quá trình học tập được hình thành và tổ chức một cách có khoa học thông qua công tác tổ chức quản lý giáo dục của nhà trường
Trang 24Học tập có nhiều hình thức bao gồm cả hình thức học tập chính thức và hình thức học tập không chính thức Hình thức chính thức diễn ra ở trong trường học, có mục đích, nội dung, phương pháp và hình thức theo đúng quy định của Bộ GDĐT thông qua các quy chế, thông tư hướng dẫn Hình thức học tập không chính thức bao gồm nhiều hình thức và mức độ như tự nghiên cứu không có hướng dẫn, học thông qua trao đổi, hội thảo khoa học
1.2.1.2 Khái niệm về tính tích cực học tập của người học
Theo nghĩa chung nhất, có thể hiểu tính tích cực là sự chủ động có ý thức, có hướng đích của con người được biểu hiện trong mọi hoạt động và suy nghĩ để cuộc sống được tồn tại và ngày càng phát triển
Thuật ngữ tích cực được hiểu trên hai khía cạnh: Thứ nhất, có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, tác dụng thúc đẩy sự phát triển, trái với tiêu cực Thứ hai, tỏ ra chủ
động, có những hoạt động nhằm cải tạo sự biến đổi theo hướng phát triển Hăng hái
tỏ ra nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc [43; 947]
Tính tích cực thể hiện sự nỗ lực tự thân, phản ánh tính chất biện chứng của mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với hiện thực xung quanh Thông qua hoạt động và giao tiếp, cá nhân con người khẳng định vai trò, vị trí, chức năng xã hội của mình, đồng thời lĩnh hội các kiến thức, kinh nghiệm, các kỹ xảo, kỹ năng hoạt động xã hội để phát triển năng lực của mình Đó cũng chính là quá trình “xã hội hóa
cá nhân” Tính tích cực là một trong những tiêu chí đánh giá tính chất, trình độ phát triển nhân cách cá nhân
Hoạt động học là một hoạt động tích cực của con người Con người muốn đấu tranh, muốn phát triển cuộc sống, cần phải học hỏi những kinh nghiệm của người đi trước mà lâu dần, những kinh nghiệm ấy đã trở thành kho tàng tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy Những ai muốn làm việc tốt hơn, năng suất hơn, có khả năng tạo ra cái mới nhiều hơn, đều phải học Đó là sự tích cực hoạt động của con người Những người này tự giác học, hăng say học, coi việc học là sự nghiệp của mình Kết quả là, cuộc sống mỗi ngày một phát triển, xã hội ngày một giàu hơn, đẹp hơn cũng nhờ sự tích cực hoạt động của những người như vậy Tuy nhiên, một nghịch lí xảy ra là: xã
Trang 25hội phát triển, người đi học ngày càng nhiều, sự ảnh hưởng tiêu cực ngược lại từ xã hội đến người học, làm cho tính tích cực trong học tập không phải ai cũng thường trực trong người và tất yếu là hiệu quả trong học tập không phải lúc nào cũng tốt Vì thế, việc giáo dục động cơ học tập cho học sinh phải bắt đầu từ khi các em còn nhỏ,
từ gia đình, xã hội và đặc biệt là từ nhà trường Tính tích cực học tập của học sinh phải xuất phát từ động cơ học tập đúng Xã hội càng phát triển, càng cần những con người có tri thức, hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực mà họ làm việc Họ phải là những con người luôn luôn năng động, sáng tạo trong công việc Muốn thế, ngay khi còn trên ghế nhà trường, họ phải là những học sinh học tập tốt về khoa học lẫn hoạt động tích cực
Đối với sinh viên ở các trường đại học, tính tích cực thường được thể hiện ở các dạng hoạt động khác nhau như: học tập, lao động, hoạt động xã hội, giao tiếp… trong đó, học tập là được coi là hoạt động chủ đạo, giữ vị trí vai trò quan trọng nhất Theo lý luận dạy học đại học, tính tích cực trong học tập của sinh viên được xác định là điều kiện, nhưng đồng thời cũng là kết quả của sự phát triển nhân cách của sinh viên trong quá trình giáo dục
Tính tích cực trong học tập của sinh viên chính là sự nỗ lực tự thân thể hiện ở lòng khát khao hiểu biết, có những cố gắng cao về trí lực, thể lực trong học tập; linh hoạt, năng động và sáng tạo trong quá trình tiếp thu và vận dụng các kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng vào thực tiễn nghề nghiệp và cuộc sống Ở họ không bao giờ tự dừng lại hay thoả mãn với những gì mình đã có mà luôn chủ động, tích cực vươn lên giành kết quả cao trong học tập và rèn luyện
Khi đề cập đến tính tích cực trong học tập, theo quan điểm của L.V Relrova (1975) thì tính tích cực là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập Còn theo P.V Edrơniev học tập là một trường hợp riêng của nhận thức, một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi
và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên Vì vậy, nói đến tính tích cực là nói tới tính tích cực của học tập, thực chất là nói đến tính tích cực nhận thức Theo tác giả Trần Bá Hoành “Tính tích cực trong hoạt động học tập - về thực chất là
Trang 26tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức” [16]
Như vậy, có thể thấy, tính tích cực trong học tập của người học là mong muốn, khát vọng được chiếm lĩnh tri thức; thể hiện ở sự ham hiểu biết, tích cực, chủ động, biết khắc phục mọi khó khăn, nhạy bén, cố gắng trong suy nghĩ, kiên trì linh hoạt và sáng tạo trong giải quyết các nhiệm vụ học tập để đạt được hiệu quả cao nhất
Tính tích cực nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí (như: hứng thú, chú ý, ý chí ) nhằm đạt được mục đích đặt ra với mức độ cao Có trường hợp tính tích cực học tập biểu hiện ở những hoạt động cơ bắp nhưng quan trọng là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ Hai loại hoạt động này thường phải đi đôi với nhau, hỗ trợ cho nhau trong các hoạt động học
Những dấu hiệu của tính tích cực học tập ở người học: Mong muốn đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học; khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên hoặc bổ sung ý kiến khi thấy câu trả lời của bạn chưa hoàn chỉnh; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi phải giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức các vấn đề mới; hay hỏi thầy khi không hiểu, hay chất vấn bạn khi bạn trình bày; sự tập trung chú ý cao độ trong giờ học thể hiện qua ánh mắt (tỉnh táo, sáng rõ khi hiểu ra vấn đề) hướng nhìn (vào giáo viên hoặc lên bảng) và luôn cố gắng ở mức độ tối đa để hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao (làm bài tập, làm thí nghiệm, tự đọc một vấn đề trong tài liệu học) Ở mức
độ cao của tính tích cực học tập: Người học hay trao đổi với thầy về các vần đề học tập, làm thêm bài tập, hoàn thành nhiệm vụ được giao luôn luôn có chất lượng, luôn muốn trình bày lại vấn đề theo sự hiểu biết của mình, ngôn ngữ của mình
Có thể phân biệt ba mức độ tích cực ở người học dựa vào thực chất và kết quả
của công việc học tập: Tích cực làm theo (hay tích cực thụ động): người học tích cực làm
việc theo phong trào và chỉ cố gắng bắt chước hành động, thao tác của GV, của bạn bè
Kết quả học tập thường không cao; Tích cực chủ động: người học xác định được đúng
động cơ học tập chăm chỉ, chịu khó hoạt động Người học có thể tự sắp xếp thời gian học
Trang 27hợp lí ở nhà, cố gắng tối đa để hoàn thành nhiệm vụ được thầy giao trên lớp Kết quả học
tập cũng như sự phát triển về trí tuệ sẽ có chiều hướng đi lên và Tích cực sáng tạo: Biểu
hiện người học luôn luôn thích nhận nhiệm vụ khó khăn phức tạp, mong muốn được thử sức mình (đa phần là những học sinh khá giỏi, có thời gian và sở thích sáng tạo)
1.2.2 Khái niệm về tích cực hóa học tập và quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học
1.2.2.1 Khái niệm về tích cực hóa học tập người học
* Tích cực hóa
Theo tác giả Thái Duy Tuyên “Tích cực hoá là một tập hợp các hoạt động nhằm chuyển vị trí người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang
chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập” [55]
Theo giáo trình lý luận dạy học của tác giả Lê Phước Lộc, khi bàn về tích cực khẳng định trong quá trình dạy học cần phải tổ chức, hướng dẫn người học tự tìm hiểu, phát hiện và giải quyết vấn đề trên cơ sở tự giác, tự do, được tạo khả năng
và điều kiện chủ động trong hoạt động đó [25]
Như vậy, về ngữ nghĩa, TCH là tác động để làm của ai đó, sự vật nào đó trở nên năng động hơn, linh hoạt hơn, thể hiện hoạt tính của chúng nhiều và cao hơn so với trạng thái trước đây Trong Lý luận dạy học, TCH được sử dụng theo nghĩa làm cho tích cực hơn, so sánh với thụ động, trì trệ, nhu nhược hoàn toàn không liên quan đến việc đánh giá đạo đức, hành vi xã hội như tích cực (tốt) và tiêu cực (xấu)
Vấn đề TCH được đặt ra từ lâu, được bàn đến bằng những thuật ngữ khác nhau như: TCH quá trình dạy học; TCH quá trình nhận thức của học sinh; phát huy TTC nhận thức của học sinh; nâng cao TTC, tự giác, chủ động của học sinh; TCH hoạt động học tập của học sinh; hoạt động hoá người học và quá trình học tập; phát huy trí lực của học sinh; phát huy tính tích cực, sáng tạo, năng động của người học…
do đó, khi nói đến TCH thực chất là nói đến người học, quá trình học tập, các hoạt động, các quan hệ và đời sống học đường của người học, TCH có nghĩa làm cho người học sống và làm việc tích cực đến mức tối đa so với tiềm năng và bản chất của mỗi người, so với những điều kiện và cơ hội thực tế mà mỗi người có được
Trang 28Học tập là quá trình hoạt động phức tạp, phong phú, đa chất lượng, đa thành phần, đa nội dung và giàu giá trị hơn rất nhiều so với nhận thức, thực hành, kể cả so với nhận thức của nhà khoa học Cơ cấu chung của học tập bao gồm những loại hành động, hành vi hay công việc sau:
- Nhận thức;
- Giao tiếp;
- Làm việc tay chân (thể chất);
- Tự quản lý (kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh);
- Hoạt động logic (phân tích, mô tả, so sánh, tổng hợp, phán đoán, nêu giả thuyết, đánh giá, đo lường, khái quát hoá);
- Các động thái và hành vi biểu cảm, thể hiện cảm xúc, thái độ, ý chí và lập trường giá trị cá nhân;
- Hoạt động và quan hệ xã hội, thể hiện kỹ năng văn hoá, hành động và hành
vi sinh hoạt, thói quen ứng xử, hoạt động ngôn ngữ Trong học tập tích hợp rất nhiều dạng hành vi và hoạt động khác nhau của cá nhân, kể cả các hoạt động sinh
lý, tâm lý và xã hội
Có thể nói, bản chất chung của TCH biểu hiện: tác động đến người học và quá trình học tập để làm chuyển biến trạng thái của họ từ chỗ là chủ thể tiếp nhận học vấn một cách thụ động, một chiều, trở thành chủ thể tích cực, tự lực, tự giác và năng động tiến hành quá trình học tập của mình ở cấp độ hoạt động cá nhân, làm chuyển biến việc học từ chỗ đơn giản là sự học, sự bắt chước, sự tái hiện, sự ghi nhớ, sự ôn luyện máy móc, sự sao chép những bài bản và chân lý có sẵn, sự chấp nhận và thừa hành những chỉ bảo, điều kiện, yêu cầu và những giáo điều sách vở trở thành hoạt động học tập, tức là có động cơ học tập, có hệ thống hành động học tập với những mục đích xác định, có kỹ năng và phương pháp, phương tiện thích hợp,
có sự hoạch định các nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động, dựa trên những nguyên tắc, tư tưởng và định hướng giá trị nhất định của cá nhân
* Tích cực hóa học tập
Trang 29Học tập là một trường hợp riêng của nhận thức, một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi, và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên Vì vậy tích cực học tập là thực chất là tính tích cực nhận thức Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức Học tập của người học trở nên và được xem là tích cực khi có động cơ, thái độ học tâp đúng đắn, luôn luôn có hứng thú nhận thức, xác định rõ mục đích học tập, biết lựa chọn và sử dụng có hiệu quả các phương pháp học tâp tiên tiến, thực sự khoa học, có chuyển biến, tiến bộ vững chắc trong học tập Để TCH hoạt động nhận thức của người học, các lực lượng sư phạm cần đi sâu nghiên cứu, nắm vững đối tượng người học, giáo dục xây dựng động cơ học tập đúng, sử dụng đồng bộ các phương pháp dạy học, phát huy TTC của người học, quan tâm chăm lo đời sống, động viên khích lệ người học Dưới góc độ Tâm lý học sư phạm để TCH học tập của người học là tập hợp hệ thống những yếu tố bên trong và bên ngoài, các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ tác động biện chứng lẫn nhau để hoạt động học cũng như những hành động học luôn diễn ra một cách tích
cực [42, tr 362 - 363]
Xét dưới góc độ Giáo dục học, TCH quá trình học tập biện pháp cải tiến hình thức và phương pháp dạy học nhằm phát huy TTC, chủ động, tự lập trong học tập lý thuyết và rèn luyện thực hành của học sinh Đây là biện pháp khắc phục tình trạng thụ động trong quá trình học tập của học sinh, đồng thời là một phương tiện thúc đẩy học sinh hăng hái tham gia vào quá trình hoạt động trí tuệ, làm quen với logic của khoa học, với quá trình lao động thực tiễn và biết cách ứng dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn đời sống Muốn đạt được yêu cầu TCH, khi giảng bài mới giáo viên nêu lên những tình huống có vấn đề và cố gắng giúp học sinh tự mình nêu ra được những giả thuyết
và cùng nhau kiểm nghiệm Khi cần làm thí nghiệm để thuyết minh lời giảng, nên làm những thí nghiệm khác nhau để rồi học sinh tự nêu ra được kết luận của những thí nghiệm thành công Khi ra bài tập thì không nên cho những bài học lại đơn thuần, mà nên có thêm những dữ kiện, những tình tiết biến đổi để học sinh suy ngẫm, tìm tòi, lựa chọn ra giải pháp tối ưu Khi ra câu hỏi kiểm tra thì không nên đưa ra những câu hỏi
Trang 30ngẫu nhiên, phân tán, mà nên hướng theo một chủ điểm đã học và chuẩn bị cơ sở nhận thức để dễ dàng bắt nhập với chủ điểm bài giảng mới Ngoài ra cần tận dụng các tình huống cụ thể dễ gây cảm xúc để lôi cuốn sự chú ý của học sinh, kích thích các em tham gia tìm hiểu và giải quyết vấn đề, do đó việc kết hợp hoạt động học tập trong lớp với hoạt động ngoại khóa là rất cần thiết để TCH quá trình dạy học [53, tr.382 - 383]
Từ những quan niệm trên chúng tôi cho rằng, TCH học tập người học là một tập hợp các hoạt động nhằm chuyển trạng thái người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm kiến thức để nâng cao hiệu quả học tập
TCH học tập của người học là một trong những nhiệm vụ của người giáo viên trong nhà trường và cũng là một trong những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tuy không phải là vấn đề mới, nhưng trong xu hướng đổi mới dạy học hiện nay thì việc TCH học tập của người học là một vấn đề được quan tâm Nhiều nhà nghiên cứu đang hướng tới việc tìm kiếm con đường tối ưu nhằm TCH học tập của người học, nhiều cuộc tranh luận cũng đã và đang đề cập đến lĩnh vực này Tất
cả đều hướng tới việc thay đổi vai trò người dạy và người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học nhằm đáp ứng được yêu cầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới Trong đó, học sinh chuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cực tham gia tìm kiếm kiến thức Còn thầy giáo chuyển từ người truyền thông tin sang vai trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh tự mình khám phá kiến thức mới
Tích cực hóa học tập của người học sẽ góp phần làm cho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò ngày càng gắn bó và hiệu quả hơn TCH vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học, đồng thời nó góp phần rèn luyện cho người học những con người lao động mới tự chủ, năng động, sáng tạo Đó là một trong những mục tiêu mà nhà trường phải hướng tới
1.2.2.2 Khái niệm về quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học
* Quản lý
Trang 31Quản lý tồn tại như một tất yếu khách quan từ khi loài người xuất hiện và ngày nay đã trở thành một khoa học, có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại ở mọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế, quân sự, giáo dục, ; vì vậy, quản lý được thể hiện ở các cách tiếp cận khác nhau như:
- Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Với tư cách thực
hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [9]
- Theo Trần Kiểm “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với hiệu quả cao nhất” [22]
Với cách tiếp cận hệ thống, Phan Văn Kha đã đưa ra khái niệm: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” hay “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ
thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [21]
- Theo quan điểm hành vi (thuyết quan hệ con người) của Mary Parker Follett, quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau; trong đó sự “phối hợp (coordination)” là điều kiện sống còn của sự quản lý hiệu quả qua hoạt động của người quản lý Nhà quản lý cần phải xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với người thuộc cấp (tiếp xúc trực tiếp, thẳng thắn, chân tình) để lôi cuốn họ tham gia quá trình ra
quyết định nhất là khi họ sẽ chịu ảnh hưởng của chính những quyết định đó [26]
Với những cách diễn đạt khác nhau, song trong các quan niệm của các nhà nghiên cứu đều thể hiện: quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của quá trình lao động xã hội; là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm người trong xã hội Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý Chính vì vậy, trong hoạt động quản lý, chủ thể quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo
để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích
Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý)
Trang 32nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra
* Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Với cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các các khái niệm quản lý giáo dục như sau:
- Theo Trần Kiểm, QLGD có thể chia hai cấp độ là vĩ mô và vi mô QLGD ở cấp vĩ mô là quản lý nền giáo dục hoặc hệ thống giáo dục; ở cấp vi mô - là QLGD tại các cơ sở giáo dục, các trường học [22]
- Theo Nguyễn Minh Đường, QLGD với nghĩa rộng: “là hoạt động, điều hành, phối hợp các LLXH nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu
xã hội hiện nay”; với nghĩa hẹp: “QLGD, quản lý trường học cụ thể là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích tự giác, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những LLGD trong
và ngoài trường, nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào hoạt động của nhà trường, làm cho quy trình này vận hành tới việc hoàn thành những
mục đích dự kiến” [8]
Tác giả Bùi Minh Hiền quan niệm: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục,
mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [14, tr.26]
Như vậy, tùy thuộc vào cách thức tiếp cận, khái niệm quản lý giáo dục được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Tuy nhiên, có thể hiểu một cách khái quát quản lý giáo dục bao gồm hai cấp độ chủ yếu, đó là vĩ mô và vi mô:
- Quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục): Ở cấp độ này,
“Quản lý giáo dục” được hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật,… của chủ thể quản lý giáo dục các cấp đến các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả việc
tổ chức, huy động, điều phối, giám sát và điều chỉnh,… các nguồn lực giáo dục
Trang 33(nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin) để hệ thống giáo dục vận hành đạt được mục tiêu phát triển giáo dục
- Quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô (quản lý một cơ sở giáo dục): Ở cấp độ này, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật,… của chủ thể quản lý một cơ sở giáo dục đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể người học và các lực lượng tham gia giáo dục khác trong và ngoài cơ sở giáo dục đó, để thực hiện có chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục và dạy học, nhằm làm cho cơ sở giáo dục vận hành luôn luôn ổn định và phát triển để đạt tới mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục đó
Dù hiểu theo nghĩa nào đặc trưng chủ yếu của QLGD là: Sản phẩm giáo dục
có tính đặc thù, là nhân cách nên QLGD phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng như không cho phép tạo ra phế phẩm Như vậy, QLGD có thể hiểu khái quát như sau: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục,
là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm đưa hoạt động
sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra
* Quản lý nhà trường
- Theo Trần Kiểm thì quản lý nhà trường là QLGD ở tầm vi mô trong phạm
vi một nhà trường; “là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực có được, nhằm đảm bảo cho các hoạt động của nhà trường tiến triển tốt, đạt được mục tiêu giáo dục mà trọng tâm của nó là hoạt động dạy học
và HĐGD” [22] Nhà trường là khách thể quản lý cơ bản của tất cả các cấp QLGD trong hệ thống giáo dục quốc dân; đồng thời, trường học lại là một hệ thống độc lập
tự quản của xã hội; lý do tồn tại của các cấp QLGD trước hết và trên hết là vì chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhà trường mà trung tâm ở đó là HĐGD hay đào tạo (nghĩa rộng)
- Theo Nguyễn Minh Đường, quản lý nhà trường là QLGD dưới cấp độ nghĩa hẹp; ngoài ra, quản lý nhà trường là quản lý theo mục tiêu chất lượng, tức là phải làm cho chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù
Trang 34hợp với các đối tượng học sinh cụ thể, các điều kiện học tập cụ thể [8] Điều này, một mặt đòi hỏi nhà QLGD phải quản lý được mục tiêu, quản lý các nguồn lực, quản lý các hoạt động, phải có kế hoạch tổ chức thực hiện chương trình, mặt khác chỉ đạo tổ chức thực hiện tất cả các HĐGD trong nhà trường, điều kiện CSVC, ứng dụng công nghệ thông tin, công tác đào tạo, bồi dưỡng tức là triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường ở Việt Nam là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với thế hệ trẻ và
với từng học sinh” [11, tr.2]
Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [61, tr.17-19]
Như vậy, quản lý nhà trường, nhìn chung, là tác động có mục đích, kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh
và các LLGD khác cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD - ĐT của nhà trường; đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và tiến đến mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường là hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng đặc thù của nó Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu xã hội và được xã hội thừa nhận
Trong quản lý ở các trường đại học, quản lý học tập của sinh viên là một trong những nội dung quan trọng nhất nhằm hướng tới giúp cho sinh viên lĩnh hội được kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng hiệu quả theo đúng mục tiêu, yêu cầu đặt ra Trong
Trang 35đó, đối tượng quản lý ở đây là sinh viên, quá trình học tập của sinh viên Phương tiện quản lý là các chế độ, chính sách, kế hoạch được cụ thể hoá hoặc vật chất hoá thành công cụ quản lý Quản lý là một khoa học, vừa có tính khách quan (theo quy luật), vừa mang tính chủ quan của chủ thể quản lý
Từ những vấn đề trên, chúng tôi quan niệm về quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý tác động đến quá trình học tập của sinh viên, chuyển trạng thái người học từ thụ động sang chủ động, nhằm hướng tới mục tiêu giúp cho sinh viên luôn tích cực, chủ động, biết tự chủ trong lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để đáp ứng tốt với mục tiêu, yêu cầu đào tạo đặt ra
Quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học có vai trò rất quan trọng
trong quá trình đào tạo: Một là, xây dựng người học có động cơ học tập đúng đắn; Hai là, hình thành và phát triển các phẩm chất tâm lý cần thiết để lĩnh hội các kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng; Ba là, giúp cho người học tự xây dựng được phương pháp học tập khoa học; biết cách tự tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề; Bốn là, giúp cho
người học biết cách vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức đã lĩnh hội vào trong thực tiễn nghề nghiệp có hiệu quả
1.3 Những vấn đề chung về quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở các trường đại học
1.3.1 Đặc điểm học tập của sinh viên ngành giáo dục giáo dục quốc phòng
và an ninh ở các trường đại học
Một là, nội dung, chương trình đào tạo giáo viên GDQP&AN của nhà trường tương đối lớn, khối lượng kiến thức đa dạng, phong phú, đòi hỏi người học cần phải có ý chí, nỗ lực cao trong học tập
Để đáp ứng mục tiêu yêu cầu GDQP&AN trong tình hình mới Chương trình, nội dung đào tạo giáo viên GDQP&AN được thiết kế, xây dựng vừa đảm bảo tính toàn diện, nhưng cũng đảm bảo chuyên sâu, phù hợp đặc thù nhiệm vụ mà sinh viên sau tốt nghiệp phải đảm nhiệm Chương trình, nội dung đào tạo gần với một số trường đại học đào tạo sĩ quan chỉ huy binh chủng hợp thành trong quân đội Phần lớn trong chương
Trang 36trình đào tạo là các môn học thuộc lĩnh vực khoa học quân sự như: Kỹ thuật bắn súng bộ binh, chiến thuật, quân sự chung; các môn thuộc lĩnh vực khoa học chính trị như: Công tác Đảng, công tác chính trị; Tư tưởng Hồ Chí Minh, Triết học…, cùng với đó là các môn học nhằm trau dồi các kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên như: Lý luận và phương pháp dạy học GDQP&AN, Tâm lý học sư phạm, Giáo dục học…
Chương trình, nội dung đào tạo giáo viên GDQP&AN được thiết kế, xây dựng theo hướng chứa đựng tính thực hành cao và chiếm khối lượng thời gian tương đối lớn trong tổng số chương trình, nội dung đào tạo như: thực hành các kỹ năng sử dụng, tháo lắp các vũ khí trang bị; kỹ, chiến thuật chiến đấu (các tư thế, động tác vận động trên chiến trường; lợi dụng địa hình, địa vật…), kỹ năng thực hiện các động tác điều lệnh (đi đều, đứng lại, dậm chân tại chỗ…), kỹ năng tuyên truyền, phối hợp với người khác trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật
tự, an toàn xã hội (tham gia bảo vệ tài sản của nhà nước, tham gia phòng, chống tội phạm, các tệ nạn xã hội)… Ngoài ra, trong chương trình, nội dung đào tạo cũng thể hiện rõ yêu cầu cần số lượng lớn cơ sở vật chất, vũ khí, trang thiết bị đảm bảo đặc thù như: súng, lựu đạn, vật liệu nổ, mô hình học cụ Trên cơ sở đó, giúp cho sinh viên có nhiều điều kiện thuận lợi để lĩnh hội sâu sắc các kiến thức chuyên ngành; các kỹ năng thực hành thành thạo; kiến thức sư phạm vững chắc để có thể đảm nhiệm tốt nhiệm vụ giảng dạy môn học GDQP&AN sau khi tốt nghiệp ra trường Đặc điểm về chương trình, nội dung đào tạo như trên tác động rất lớn đến sinh viên, đòi hỏi họ cần phải có ý chí, nỗ lực cao trong học tập, đặc biệt cần xây dựng kế hoạch, nội dung, phương pháp hình thức học tập phù hợp để thích ứng và đáp ứng tốt mục tiêu, nội
dung, chương trình đào tạo giáo viên đề ra
Hai là, quá trình học tập của sinh viên được tổ chức một cách chặt chẽ luôn chịu sự quản lý bởi đội ngũ cán bộ quản lý
Để có đội ngũ giáo viên GDQP&AN có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng mục tiêu GDQP&AN trong giai đoạn cách mạng mới, quá trình học tập của sinh viên ngành GDQP&AN ở các trường đại học luôn được tổ chức chặt chẽ cả về nội dung, chương trình, thời gian và duy trì mọi mặt hoạt động theo đúng chế độ quy định, có
Trang 37nhiều chế độ nề nếp quy định tương đồng với sinh viên sĩ quan trong các nhà trường quân đội Đặc biệt có sự duy trì, giám sát của đội ngũ quản lý sinh viên, đây là là lực lượng có tác động rất lớn đến tích cực hóa học tập của sinh viên Bởi lẽ, cán bộ quản lý vừa là người quản lý chỉ huy các lớp sinh viên; vừa là nhà sư phạm, nhà giáo dục trực tiếp tổ chức mọi mặt hoạt động của tập thể sinh viên ngành GDQP&AN; họ là người nắm vững quá trình học tập, rèn luyện và định hướng, chỉ đạo, tổ chức cho sinh viên phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu đào tạo Họ là người trực tiếp bồi dưỡng niềm tin, xây dựng động cơ trách nhiệm học tập, bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm, vốn sống, phương pháp học tập cho sinh viên Những yếu tố trên tạo ra môi trường học tập, rèn luyện có tác động tích cực đến việc hình thành cho sinh viên phong cách, tác phong hoạt động khoa học, tỉ mỉ, cụ thể; phát triển ở họ tính kỷ luật Trong môi trường đó sinh viên không tránh khỏi những căng thẳng trí lực và thể lực buộc họ phải từ bỏ những thói quen, phong cách sống không phù hợp Do vậy, chỉ khi nào sinh viên tự ý thức về động cơ, mục đích,
có các phương pháp học tập phù hợp cũng như hiểu sâu sắc chính mình là chủ thể tích cực của quá trình học tập, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo thì
họ mới vượt qua được khó khăn, thách thức trong học tập, rèn luyện, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đào tạo
Ba là, phương thức, phương tiện học tập của sinh viên mang tính đặc thù
Phương thức, phương tiện học tập của sinh viên ngành GDQP&AN ở các trường đại học có tính đặc thù so với các ngành khác Ở chỗ, phương thức học tập không chỉ trên sách vở, thư viện, phòng thí nghiệm mà chủ yếu trên vũ khí, trang bị kỹ thuật chiến đấu của bộ đội, như các loại súng, đạn, bom, mìn,… diễn ra trong một không gian rộng, ở trên thao trường, bãi tập khác nhau
Trong quá trình học tập, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của người giảng viên, sinh viên tiến hành các hành động học tập nhằm lĩnh hội tri thức khoa học do giảng viên truyền đạt và các tri thức trong tài liệu, sách giáo khoa, giáo trình, trên các phương tiện,
vũ khí làm cho nó được tái hiện một lần nữa và trở thành tài sản riêng của chính bản thân họ Cùng với lĩnh hội các tri thức khoa học, sinh viên phải hướng đến chiếm lĩnh cách thức, phương pháp học tập, cách vận dụng nó vào trong cuộc sống và thực tiễn
Trang 38dạy học GDQP&AN Sinh viên phải rèn luyện để phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ, xử lý thông tin về tình huống mọi mặt, phát triển các phẩm chất trí nhớ, tư duy, năng lực tổ chức, quản lý
Về phương tiện học tập cũng có tính đặc thù, ở chỗ sinh viên chủ yếu sử dụng các thao tác như: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, cụ thể hoá; tư duy bằng các khái niệm khoa học, lấy khái niệm làm công cụ Sinh viên không chỉ dừng lại ở việc chiếm lĩnh các khái niệm kinh nghiệm mà còn phải hình thành và phát triển các khái niệm khoa học, các thuật ngữ khoa học quân sự Do vậy, khi học tập đòi hỏi sinh viên phải tích cực, sáng tạo, độc lập, suy nghĩ cao, tính quyết đoán, mưu trí, linh hoạt, tư duy nhanh nhạy để tiếp thu các tri thức khoa học, xử lý các tình huống theo yêu cầu bài học, đòi hỏi sinh viên có sức bền bỉ dẻo dai, cũng như ý chí quyết tâm của sinh viên trong quá trình học tập
Bốn là, các điều kiện đảm bảo phục vụ cho học tập của sinh viên tương đối chu đáo, đầy đủ
Do đặc thù mục tiêu đào tạo, chương trình, nội dung đào tạo, bên cạnh việc trang bị những kiến thức cơ bản giống như các đối tượng đào tạo giáo viên khác, sinh viên ngành sư phạm GDQP&AN chủ yếu học tập các môn học kiến thức cơ sở, kiến thức chuyên ngành, đó là những môn học gắn liền với các hoạt động quân sự Điều này đặt ra yêu cầu cao về hệ thống cơ sở vật chất kèm theo Do đó, ngoài những cơ sở vật chất phục vụ cho đời sống, sinh hoạt hàng ngày, hoặc phục vụ học tập các môn học cơ bản như: giảng đường, nhà ở, phương tiện kỹ thuật dạy học, giáo trình, tài liệu… quá trình học tập của sinh viên ngành GDQP&AN còn đòi hỏi những cơ sở vật chất đặc thù như: Thao trường, bãi tập, đồng phục, vũ khí, trang bị, vật nổ, mô hình học cụ… Ngoài ra, “Người học được hưởng các chế độ: tiền học phí, tiền quân trang, tiền hỗ trợ trang bị phục vụ học tập, tiền ăn, tiền ở nội trú, bảo hiểm y tế, tiền
hỗ trợ các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị như quy định hiện hành đối với sinh viên sĩ quan cấp phân đội học tại trường sĩ quan lục quân thuộc Bộ Quốc phòng” [40] Điều này cho thấy, chế độ, chính sách cho sinh viên ngành sư phạm GDQP&AN tương đối cao, tương đương với chế độ của sinh viên sĩ quan ở các nhà
Trang 39trường quân đội Do đó, nó cũng đòi hỏi nguồn tài chính lớn hơn so với các đối tượng khác trong suốt quá trình học tập
1.3.2 Quan niệm về quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở các trường đại học
Từ sự luận giải về học tập, tích cực hóa học tập của sinh viên, đặc điểm học tập của sinh viên ngành GDQP&AN, có thể thấy rằng, quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành GDQP&AN ở các trường đại học là một nội dung của quản lý nhà trường, một khâu quan trọng trong quy trình quản lý giáo dục - đào tạo Do đó có thể khẳng định:
Quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành GDQP&AN ở các trường đại học là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý tác động đến quá trình học tập của sinh viên nhằm hướng tới mục tiêu giúp cho sinh viên yên tâm học tập, công tác; tích cực, chủ động trong lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của người giáo viên GDQP&AN
Thực chất quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành GDQP&AN là những tác động quản lý có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo của người học để tìm tòi, nghiên cứu, lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành, phát triển, hoàn thiện phẩm chất nhân cách theo mục tiêu yêu cầu đào tạo
Mục tiêu quản lý: Là những kết quả dự kiến sẽ đạt được do quá trình vận động
của đối tượng quản lý dưới sự tác động của chủ thể quản lý; sự thống nhất trong nhận thức tư tưởng và hành động của chủ thể và đối tượng quản lý Mục tiêu quản lý học tập theo hướng tích cực hóa người học cho sinh viên ngành GDQP&AN ở các trường đại học là xây dựng môi trường sư phạm, nâng cao chất lượng đào tạo Phát huy tối
đa tiềm năng, trí tuệ, sự năng động, sáng tạo, tính “tích cực hoá” của chủ thể quản lý, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, hoàn thiện phẩm chất, nhân cách của sinh viên; đúc rút ra những kinh nghiệm quản lý hoạt động học
tập hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo
Trang 40Chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý là tập thể, cá nhân được tổ chức giao nhiệm
vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc gián tiếp trong lãnh đạo, quản lý giáo dục, rèn luyện sinh viên trong suốt quá trình đào tạo Chủ thể quản lý học tập của sinh viên ở là: Ban giám hiệu các nhà trường; trực tiếp là Trung tâm/khoa giáo dục quốc phòng, các cơ quan chức năng, khoa; đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục; các tập thể sinh viên và tự quản lý của từng sinh viên Mỗi chủ thể có vai trò khác nhau đối
với quá trình quản lý học tập của sinh viên Cụ thể: Ban giám hiệu có chức năng chỉ
đạo, quản lý tất cả các mặt của Nhà trường Phân công trách nhiệm quản lý hoạt động học tập đến từng cơ quan, đơn vị trong toàn trường, trong đó chủ yếu là Trung
tâm/khoa giáo dục quốc phòng ; Các cơ quan chức năng (Phòng Đào tạo, Phòng
Khảo thí và bảo đảm chất lượng giáo dục, Phòng công tác và giáo dục sinh viên…)
là cơ quan tham mưu cho ban giám hiệu về quản lý điều hành hoạt động đào tạo cho mọi đối tượng sinh viên Có vai trò trung tâm để phối hợp các lực lượng trong nhà trường nhằm quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát quá trình học tập của sinh viên ;
Khoa giáo viên là lực lượng sư phạm chủ yếu và trực tiếp giảng dạy, quản lý nội
dung, phương pháp, chương trình môn học Thông qua quá trình sư phạm và phẩm chất nhân cách của giảng viên ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành, phát triển phẩm
chất của sinh viên sau khi ra trường ; Cán bộ quản lý sinh viên là bộ phận trực tiếp
quản lý, giáo dục rèn luyện sinh viên Tổ chức cho họ tham gia các hoạt động học tập, nhận xét đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của sinh viên Ngoài ra cán bộ quản lý sinh viên còn có nhiệm vụ tổ chức hoạt động chính trị, văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi giải trí cho sinh viên nhằm tạo động cơ, hứng thú cho sinh viên trong việc phát triển thể chất
và trí tuệ
Khách thể quản lý: Là những sinh viên, tập thể sinh viên và hoạt động học
tập của họ chịu sự tác động, điều khiển, quản lý của chủ thể lãnh đạo, quản lý trong suốt quá trình đào tạo Như vậy, sinh viên và tập thể sinh viên vừa là khách thể (đối tượng chịu sự quản lý của chủ thể) vừa là chủ thể trong quá trình tổ chức tự quản lý những hoạt động học tập của mình