1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO TƯ VẤN CHÍNH SÁCH MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ CẤP BÁCH ĐẶT RA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM TRONG NỬA ĐẦU THẾ KỶ 21

67 190 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, sự nghiệp phát triển văn hóa, con người, GD&ĐT, KH&CN có sứ mệnh vô cùng quan trọng: Tạo ra hào khí dân tộc mới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nỗ lực vượt qua tình t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

BÁO CÁO TƯ VẤN CHÍNH SÁCH MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ CẤP BÁCH ĐẶT RA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA,

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Ở VIỆT NAM TRONG NỬA ĐẦU THẾ KỶ 21

Người thực hiện: GS.TS Phạm Hồng Tung

Hà Nội – 2017

Trang 2

MỤC LỤC

NHỮNG THÔNG ĐIỆP CHÍNH 1

Phần I: MỘT SỐ PHÂN TÍCH DỰ BÁO VỀ VIỄN CẢNH CỦA THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM TRONG NHỮNG THẬP KỶ TIẾP THEO CỦA NỬA ĐẦU THẾ KỶ 21 9

1 Xu thế phát triển chủ đạo trên thế giới và ở Việt Nam trong thời gian từ nay cho tới khoảng giữa thế kỷ 21 9

2 Tình hình triển khai các nghị quyết của Đảng về văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ 29

3 Vấn đề phát triển trong cơ chế thị trường và đảm bảo định hướng XHCN của ba lĩnh vực này 32

4 Vai trò của các chủ thể, của cá nhân trong quá trình lao động sáng tạo như thế nào? 35

5 Làm thế nào để văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ thực sự trở thành những nguồn xung lực trong sự nghiệp phát triển bền vững ở nước ta? 37

Phần II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ CẤP BÁCH ĐẶT RA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG VIỄN CẢNH TOÀN CẦU HÓA VÀ CÁCH MẠNG 4.0 40

1 Vấn đề lãnh đạo và quản lý văn hóa 42

2 Vấn đề xây dựng và phát triển một nền văn hóa chính trị Việt Nam mới 49

3 Vấn đề mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển 52

4 Vấn đề mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế, tiếp thu ảnh hưởng văn hóa của thế giới và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống 56

5 Vấn đề tái cấu trúc của hệ giá trị và sự lây lan của một số xu hướng lối sống tiêu cực trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong giới trẻ 60

6 Vấn đề truyền thông công nghệ cao và văn hóa truyền thông 62

Trang 3

NHỮNG THÔNG ĐIỆP CHÍNH

Bản báo cáo này gồm có hai phần chính Trong Phần I chúng tôi cố gắng trình bày và phân tích 5 vấn đề trọng yếu nhất đang đặt ra đối với sự nghiệp phát triển văn hóa và con người, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay

và trong tầm nhìn đến giữa thế kỷ 21 Trong Phần II, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích những vấn đề trọng yếu nhất đang đặt ra đối với từng lĩnh vực nói trên Báo cáo tập trung vào việc luận giải về tầm mức quan trọng, tính phức tạp, nguyên nhân và hệ quả tác động của từng vấn đề, trên cơ sở đó, đề xuất, kiến nghị những giải pháp cần được triển khai trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý đối với các lĩnh vực nói trên Tài liệu này được xây dựng dựa trên cơ sở nhiều nghiên cứu chuyên sâu và dựa trên kết quả khảo sát, đánh giá tổng kết hoạt động thực tiễn của nhiều bộ, ngành, cơ quan

và nhóm nghiên cứu Tuy nhiên, để tiện cho việc tập trung theo dõi các vấn đề chính, ngoài những chú thích, chỉ dẫn nguồn và dẫn chứng cần thiết, chúng tôi sẽ không quá

sa đà vào việc so sánh số liệu và lập luận

Thông điệp thứ nhất:

Văn hóa, KH&CN và GD&&DT có sứ mệnh dẫn đạo và tạo ra nguồn xung lực phát triển để đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu, gia nhập vào hàng ngũ các quốc gia phát triển trong nửa đầu thế kỷ 21, “sánh vai với các cường quốc

5 châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn

Các nghiên cứu dự báo đều khẳng định rằng Toàn cầu hóa tăng tốc và Cách

mạng công nghiệp mới (4.0) sẽ là hai xu thế phát triển chủ đạo của thế giới trong

những thập kỷ tới Hai quá trình này sẽ tác động rất mạnh mẽ, làm thay đổi sâu sắc hầu hết các lĩnh vực trong đời sống nhân loại ở tất cả các nước và các khu vực, đồng thời chúng sẽ đưa lại cho các nước “đi sau” như Việt Nam nhiều cơ hội thuận lợi, tạo điều kiện để những nước này có thể thực hiện thành công chiến lược phát triển rút ngắn, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển, gia nhập vào hàng ngũ những nước phát triển nhất Mặt khác, hai quá trình trên cũng đem đến nhiều khó khăn, thách thức nan giải, khiến cho các nước chậm phát triển ngày càng bị tụt hậu xa hơn và bị lệ thuộc nhiều hơn vào các nước phát triển về tất cả các phương diện

Vì vậy, sự nghiệp phát triển văn hóa, con người, GD&ĐT, KH&CN có sứ

mệnh vô cùng quan trọng: Tạo ra hào khí dân tộc mới cho sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc, nỗ lực vượt qua tình trạng tụt hậu về trình độ phát triển; đào luyện nên

những thế hệ công dân Việt Nam mới có ý thức dân tộc và lòng yêu nước mãnh liệt, có

năng lực và phẩm chất của công dân toàn cầu, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học và công nghệ của thế giới, nỗ lực khởi nghiệp

thành công để dẫn dắt dân tộc nhanh chóng theo kịp các nước phát triển; đổi mới triệt

Trang 4

để hệ thống sáng tạo quốc gia, tạo bước phát triển bứt phá mạnh về KH&CN, kích

hoạt, phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển rút ngắn, đạt hiệu quả, nhanh và bền vững

Thông điệp thứ hai:

Cần phải triệt để khai thác và phát huy cao độ tính ưu việt của định hướng XHCN và những mặt tích cực của cơ chế thị trường để tạo nên nguồn xung lực mới cho sự phát triển văn hóa, KH&CN, GD&ĐT và của đất nước

Đảng ta đã ban hành các nghị quyết số 20, 29 và 33 của BCHTW khóa XI về việc đổi mới căn bản và toàn diện, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển KH&CN, GD&ĐT, văn hóa và con người Các văn kiện trên đây có thể coi là “cương lĩnh” của Đảng trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, chủ động hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tri thức và Cách mạng 4.0, trong đó KH&CN, GD&ĐT được coi là “quốc sách hàng đầu” trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời văn hóa cũng được khẳng định là

“nền tảng tinh thần”, vừa là động lực, vừa là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp phát triển bền vững đất nước Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đều đã xây dựng những chương trình hành động để đưa tinh thần chỉ đạo của các nghị quyết nói trên vào cuộc sống Tuy nhiên, nhìn nhận tình hình thật nghiêm túc, có thể thấy rõ rằng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vẫn chưa thực sự đi được vào cuộc

sống và chưa phát huy được hiệu quả tác động tích cực Trong cả ba lĩnh vực, tình

hình chung là vẫn còn rất lúng túng, trì trệ, “thiếu lửa” và chưa tạo ra được chuyển biến lớn, có tính bứt phá nào

Qua nghiên cứu và tổng kết thực tiễn, chúng tôi nhận thấy những “nút thắt” và

“rào cản” chủ yếu nằm trong nhận thức của toàn xã hội, nhất là của đội ngũ cán bộ

lãnh đạo quản lý các cấp và nằm ngay trong đội ngũ các nhà khoa học, nhà giáo và các

nhà hoạt động văn hóa; trong cơ chế lãnh đạo, quản lý và trong việc triển khai các

chính sách cụ thể Do hai nguyên nhân trên mà những lợi thế, ưu việt của chế độ chính trị, của định hướng XHCN chưa được phát huy đầy đủ, đồng thời, những lợi thế và yếu tố tích cực của cơ chế thị trường cũng chưa được khai thác, vận dụng triệt để và hiệu quả nhằm giải phóng các tiềm năng, tạo ra những nguồn xung lực phát triển trong từng lĩnh vực Trong khi đó, những mặt trái và yếu tố tiêu cực của cơ chế thị trường

và tàn dư của tư duy và cơ chế bao cấp lại phát tác, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đáng kể, làm hao mòn nhiệt huyết, nguồn lực và khát vọng phát triển của đội ngũ các nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ

Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp then chốt nhất là phải triệt để khai thác

các mặt, các yếu tố tích cực, lành mạnh và vận dụng hiệu quả cơ chế thị trường vào

ba lĩnh vực nói trên Chỉ có cơ chế thị trường lành mạnh mới tạo ra cạnh tranh, thông

Trang 5

qua đó “vun cao”, “nhân rộng” được những cá nhân, tập thể ưu tú, những tổ chức hoạt động hiệu quả, thải loại được những cá nhân, tổ chức yếu kém, dựa dẫm; nhờ đó mà thúc đẩy sáng tạo không ngừng; KH&CN, GD&ĐT và sự nghiệp văn hóa mới thực sự hướng tới phục vụ đắc lực đời sống, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chính của phát triển; nhờ đó mà thu hút được thêm các nguồn lực khác nhau và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực đó; cũng chỉ có thông qua cơ chế thị trường mới có được sự hội nhập và hợp tác quốc tế lành mạnh, hiệu quả, tránh để nước ta trở thành

“bãi rác công nghệ”, “thuộc địa văn hóa” và “nền kinh tế vệ tinh” của các nước phát triển

Giải pháp then chốt thứ hai chính là hiểu đúng và phát huy đầy đủ lợi thế của chế độ chính trị và tính ưu việt của định hướng XHCN Điểm cốt lõi trong tính ưu việt

XHCN là ở tính nhân văn, nhân bản, pháp quyền, dân chủ, công bằng, văn minh Đây

cũng chính là những định hướng có tính nguyên tắc, đảm bảo tạo ra một môi trường lành mạnh để các hoạt động của ba lĩnh vực trên đạt hiệu quả cao nhất, vì đó đều là những hoạt động đòi hỏi rất cao về quyền tự do sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Lợi thế lớn nhất của chế độ chính trị chính là vị thế cầm quyền của Đảng Khi Đảng

đã đề ra chủ trương, chiến lược đúng đắn thì toàn hệ thống chính trị sẽ “vào cuộc” và tạo ra sự đồng thuận chính trị rất cao – điều mà các thể chế chính trị khác khó mà đạt được Tính ưu việt của định hướng XHCN và lợi thế của chế độ chính trị cũng chính

là yếu tố đảm bảo quan trọng nhất cho việc ngăn ngừa những mặt trái và yếu tố tiêu cực của cơ chế thị trường, khai thác và phát huy được các mặt hữu ích và yếu tố tích cực của cơ chế đó

Thông điệp thứ ba:

Nâng cao vai trò và hiệu quả kiến tạo của Nhà nước, xác định rõ vai trò, phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể

Ở tất cả các quốc gia dựa trên nền kinh tế thị trường tự do – pháp trị thì vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước là rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định nhất Với quyền lực chính trị trong tay, thông qua các “đòn bẩy” cơ chế, chính sách và điều tiết

vĩ mô các nguồn lực phát triển, Nhà nước ta có sứ mệnh mở đường cho việc thực hiện thành công chiến lược phát triển nhanh và bền vững, đưa đất nước vượt qua khoảng

cách tụt hậu Trong thời gian tới, Nhà nước phải kiến tạo và sử dụng hiệu quả hơn đòn

bẩy cơ chế và chính sách để giải quyết thỏa đáng hơn mối quan hệ giữa kinh tế với KH&CN, GD&ĐT và văn hóa: kinh tế (doanh nghiệp, tập thể và cá nhân) phải đầu tư

nhiều hơn, trực tiếp hơn vào KH&CN, GD&ĐT và vào sự nghiệp văn hóa theo hình

thức đặt hàng sản phẩm đầu ra Trái lại, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo và cung cấp

dịch vụ văn hóa cũng phải hướng trực tiếp đến phục vụ phát triển kinh tế và giải quyết

Trang 6

các vấn đề do thực tiễn phát triển của đất nước đặt ra, phải đồng hành và chịu trách

nhiệm đến cùng về việc chuyển giao, ứng dụng sản phẩm đầu ra của mình Chỉ có như

vậy thì nền kinh tế mới thoát khỏi tình trạng “ăn xổi”, dựa vào tài nguyên thiên nhiên, nhân công giá rẻ, ưu đãi chính sách và công nghệ lạc hậu để đạt được tăng trưởng nhất thời, nhưng về lâu dài thì sẽ thất bại hoàn toàn Chỉ có như vậy, KH&CN, GD&ĐT cũng như sự nghiệp văn hóa mới thoát ra khỏi những “tháp ngà” giả tưởng, từ bỏ trạng thái sống bình yên nhưng thoi thóp trên “bầu sữa ngân sách nhà nước” để thực sự trở thành một nguồn lực của phát triển và vì sự phát triển Đây là mối quan hệ “nhân – quả luân hồi” trong quá trình phát triển bền vững

Vai trò kiến tạo của Nhà nước cũng đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy và tạo điều kiện để các lĩnh vực văn hóa, KH&CN, GD&ĐT chuyển nhanh và hiệu quả sang vận hành và phát triển theo cơ chế thị trường lành mạnh Theo đó, Nhà nước sẽ

hỗ trợ tối đa bằng cơ chế và đầu tư nguồn lực cho những bộ phận, những đối tượng đặc thù của ba lĩnh vực này (chẳng hạn, trong KH&CN, đó là khoa học cơ bản, KHX&NV; đội ngũ nhân tài khoa học trẻ; các nghiên cứu theo đặt hàng phục vụ chế

độ chính trị, quốc phòng, an ninh vv Trong GD&ĐT, đó là tạo điều kiện về cơ hội giáo dục cho các vùng dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn; đào tạo những ngành, nhóm ngành khoa học cơ bản, khoa học chính trị, văn hóa, nghệ thuật vv… Trong sự nghiệp văn hóa, đó là giữ gìn, bảo tồn di sản văn hóa truyền thống, văn hóa và truyền thống

cách mạng, phát triển đội ngũ nghệ nhân vv…) Các bộ phận còn lại bắt buộc phải

vận hành theo cơ chế thị trường lành mạnh thì mới thu hút được các nguồn lực từ xã

hội, thông qua cạnh tranh, chất lượng và giá trị ứng dụng của sản phẩm đầu ra mới được nâng cao Làm như vậy, sản phẩm KH&CN mới được ứng dụng; người đi học sẽ chỉ học những cái mình và xã hội cần, không chỉ vì tấm bằng, và do đó trở thành người giỏi, người hữu dụng; công nghiệp văn hóa mới có ngày càng nhiều sản phẩm cạnh tranh được với sản phẩm ngoại lai, nhờ đó mà có thêm nguồn lực và góp phần đẩy lùi “xâm thực văn hóa” của ngoại bang…

Vai trò kiến tạo quan trọng của Nhà nước ta cũng cần được thể hiện rõ ràng, minh bạch và hiệu quả hơn trong việc xác định rõ vai trò và trách nhiệm của từng loại, từng nhóm chủ thể, trên cơ sở đó ban hành những chính sách và cơ chế phù hợp trong phát triển văn hóa, KH&CN, GD&ĐT

Có thể nhận ra vai trò quan trọng của 4 chủ thể chính là: cá nhân, cộng đồng,

doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước Mỗi loại chủ thể này có vị trí, đặc điểm

riêng, và cần có cơ chế, chính sách riêng để phát huy tối đa vai trò tích cực của họ

Về cá nhân: yếu tố cốt lõi là tạo điều kiện để cá nhân các nhà khoa học, nhà

giáo, văn nghệ sĩ trí thức và bất kỳ công dân nào cũng có cơ hội để sáng tạo, có quyền

sáng tạo và chịu trách nhiệm về sự sáng tạo của mình Trên đường tìm tòi, khám phá,

Trang 7

họ cũng có thể mắc sai lầm Họ phải được quyền phạm sai lầm (nhưng không được phạm tội) và phải chịu trách nhiệm về sai lầm đó Chúng ta đấu tanh chống chủ nghĩa

cá nhân, nhưng là chống chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, “lợi mình, hại người” chứ không phải là chống mọi loại hình của chủ nghĩa cá nhân Chúng ta đề cao tinh thần cộng đồng, nhưng không được đề cao tinh thần “trung bình chủ nghĩa”, “hòa cả làng” và

“hội chứng đám đông” kỳ thị, triệt tiêu những gì là ưu trội, đổi mới, độc đáo

Về cộng đồng: yếu tố cốt lõi là nâng cao năng lực tham gia (participation capability) của cộng đồng vào các hoạt động văn hóa, KH&CN, GD&ĐT Do tính đặc

thù của ba lĩnh vực này nên sự tham gia của cộng đồng cần phải được dựa trên những năng lực nhất định thì mới có đóng góp tích cực và hiệu quả Vì vậy, ưu tiên hàng đầu phải được dành cho các chính sách và cơ chế hỗ trợ, nâng cao năng lực tham gia của các cộng đồng Năng lực này gồm có việc tiếp cận các cơ hội, tiếp nhận và xử lý thông tin; năng lực tham gia trực tiếp vào các hoạt động văn hóa, KH&CN và GD&ĐT; năng lực giám sát, kiểm tra Người dân, cộng đồng cần được bảo đảm về quyền tham gia, hỗ trợ về nguồn lực, phương tiện, được hướng dẫn để có thể tham gia Nhưng tuyệt đối không được mượn cớ “phát huy vai trò cộng đồng” để “đùn đẩy trách nhiệm”, “khoán trắng” những hoạt động, những khâu đoạn quản lý và cả những khoản đầu tư cho cộng đồng (như đã xảy ra ở nhiều nơi trong thời gian qua)

Về doanh nghiệp: trong nền kinh tế tri thức và Cách mạng 4.0, doanh nghiệp đứng ở vị trí trung tâm của hệ thống sáng tạo quốc gia Đối với ba lĩnh vực này, sự

vào cuộc của doanh nghiệp vừa tạo ra lực đẩy, vừa tạo ra lực kéo cho sự phát triển nhanh và bền vững Vấn đề là: doanh nghiệp “vào cuộc” như thế nào? Câu trả lời là:

doanh nghiệp chỉ có thể “vào cuộc” bằng cơ chế thị trường – pháp trị lành mạnh và minh bạch Chính những sự thiếu minh bạch, thậm chí là tham nhũng (bao gồm cả

tham nhũng chính sách, tham nhũng cơ hội, nạn học phiệt và tâm lý nể nang vv ) đã làm vẩn đục môi trường, bóp méo cơ chế, tạo ra nhiều rào cản cho việc thực hiện các nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm nản lòng nhiều nhà khoa học, nhà giáo, văn nghệ sĩ và khiến cho phần lớn các doanh nghiệp còn dè dặt, không “vào cuộc” hoặc nếu có “vào cuộc” thì nhiều doanh nghiệp cũng chủ yếu đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên tất cả

Về các cơ quan quản lý nhà nước: đây là chủ thể rất quan trọng có vai trò kiến

tạo, điều phối, vận hành toàn bộ hệ thống sáng tạo quốc gia, trực tiếp quản lý các lĩnh

vực văn hóa, KH&CN và GD&&DT Vấn đề cốt lõi đối với chủ thể này là phải xác

định cho đúng đối tượng, phạm vi, phương thức lãnh đạo phù hợp Trong các lĩnh vực

văn hóa, KH&CN, GD&ĐT có những thành tố và đối tượng chỉ có thể lãnh đạo bằng phương thức gây ảnh hưởng (nêu gương, giáo dục, tuyên truyền vv…) nhưng có những thành tố có thể và cần phải lãnh đạo và quản lý bằng các phương thức cưỡng

Trang 8

chế (luật pháp, hành chính, quy trình, quy ước cộng đồng vv…) Trong quá trình đó,

việc quản lý và sử dụng tốt truyền thông đại chúng, truyền thông công nghệ cao và vai trò nêu gương của cán bộ, của thầy cô giáo và các nhà khoa học, nhà trí thức lớn là

hai yếu tố quyết định nhất

Thông điệp thứ tư:

Trong lĩnh vực văn hóa, những vấn đề cốt lõi nhất là: xây dựng nhân cách văn hóa của con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa; vấn đề giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, giữa gìn giữ bản sắc dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vấn đề phát triển sức mạnh mềm quốc gia thông qua phát triển công nghiệp văn hóa

Việc giải quyết hiệu quả ba vấn đề trên đây sẽ mở đường để văn hóa thực sự trở thành một nguồn xung lực trong phát triển bền vững, thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội Việt Nam trong quá trình phục hưng hào khí dân tộc, thoát khỏi tình trạng tụt hậu, vươn lên sánh vai với các nước phát triển trên hoàn cầu

Về vấn đề thứ nhất: xây dựng nhân cách văn hóa của con người Việt Nam trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, tức là xây dựng nhân cách văn hóa của công dân toàn

cầu Việt Nam Đây chính là mục tiêu cao nhất và cũng là nền tảng của sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam Sứ mệnh cao cả, vẻ vang nhưng cũng vô cùng khó khăn, nan giải của các thế hệ người Việt Nam trong những thập kỷ tiếp theo của thế kỷ 21 chính

là nỗ lực hết mình đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi tình trạng tụt hậu, gia nhập vào

hàng ngũ những nước phát triển nhất Nếu không hoàn thành được sứ mệnh này thì

dân tộc ta sẽ vĩnh viễn bị lệ thuộc, bị chi phối bởi các nước phát triển về mọi phương

diện Đó chính là nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước, của tinh thần dân tộc Việt

Nam trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa và cách mạng 4.0 Để có đủ bản lĩnh và

năng lực hoàn thành sứ mệnh nói trên, các thế hệ người Việt Nam cần phải có ý thức dân tộc, có lòng yêu nước sâu sắc, đồng thời phải hội đủ 5 phẩm chất của công dân toàn cầu đã được Ủy ban Thanh niên của Liên hợp quốc xác định năm 2016 là:

Competence (tài năng), Confidence (bản lĩnh, tự tin), Connection (kết nối, hợp tác) Character (cá tính) và Caring (yêu thương, chu đáo).1

Trong chiến lược xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam, cần đặc biệt chú trọng xây dựng nhân cách văn hóa của các thế hệ cán bộ lãnh đạo từ cấp xã phường đến Trung ương Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng “cán bộ là cái gốc của mọi công

việc”; “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.”; “Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.”2 Trong bối cảnh hiện nay, người cán bộ

1 World Youth Report 2016: Youth Civic Engagement, Published by the United Nations, New York, 2016, tr 18

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr 309 và 313

Trang 9

Đảng vừa phải có đủ năng lực, bản lĩnh đi tiên phong, dẫn dắt, lãnh đạo quần chúng,

nhưng đặc biệt phải có ý thức đầy đủ về vai trò nêu gương của mình, và mỗi cán bộ

phải thực sự là một tấm gương đạo đức cách mạng Hiện tượng suy thoái, tha hóa của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ có chức vụ - nặng đầu óc quan lại, tham nhũng, biến chất, tha hóa về đạo đức và lối sống, ứng xử phản cảm với nhân dân vv… đã và đang làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín của chế độ,

tiền đồ của đất nước Do đó, trọng điểm ưu tiên hàng đầu trong chiến lược con người

của Đảng ta chính là công tác giáo dục và đào luyện cán bộ, đảng viên

Về vấn đề mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, phải quán triệt nguyên tắc

“bảo tồn để phát triển và phát triển để bảo tồn tốt hơn” Nguyên tắc này cần được

triển khai trên cơ sở khoa học đầy đủ, tránh nóng vội, làm liều, thương mại hóa hoặc

“khoán trắng” cho cộng đồng “Bảo tồn”: nếu không được hiểu và làm đúng thì sẽ trở

thành rào cản cho đổi mới và phát triển, thậm chí là bảo tồn cả những cái cũ nát, xấu

xa, hủ bại, lạc hậu vốn cần phải loại bỏ “Phát triển”: nếu không được hiểu và làm

đúng thì sẽ biến thành phá hoại di sản, thậm chí phát triển cả những cái xấu xa, nguy hiểm vốn cần được ngăn chặn và loại bỏ Vì vậy, đối với mỗi di sản, cần phải nghiên cứu thật cẩn trọng, phân tích, đánh giá từng bộ phận cấu thành, trên cơ sở đó xác định những thành tố nào, những giá trị nào cần được bảo tồn toàn vẹn, nguyên bản, thành

tố nào, giá trị nào cần được bảo tồn theo nguyên tắc kế thừa hoặc phát triển

Ở một bình diện khác, mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển cũng chính là mối quan hệ giữa giữ gìn, phát huy bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp thu ảnh hưởng, tinh hoa văn hóa nhân loại Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập ngày

càng sâu rộng với thế giới toàn cầu hóa, vì vậy, mở rộng cửa giao lưu, đối thoại, trao đổi và tiếp thu tinh hoa văn hóa từ bên ngoài là một yêu cầu khách quan, tất yếu Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là do buông lỏng lãnh đạo và quản lý

mà hiện nay nền văn hóa nước ta đang bị xâm thực rất nặng nề; ảnh hưởng văn hóa ngoại lai được du nhập ào ạt, không phân biệt vàng, thau, tốt, xấu, khiến cho một bộ phận không nhỏ thế hệ trẻ đang quay lưng lại với các giá trị truyền thống của dân tộc

Vì vậy, cần phải nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, lập lại kỷ cương, đồng thời tích cực, chủ động xây dựng hành trang hội nhập văn hóa cho dân tộc, nhất là cho giới trẻ thông qua các biện pháp giáo dục, tuyên truyền trong gia đình, nhà trường và xã hội

Vấn đề thứ ba là phát triển sức mạnh mềm quốc gia, nhất là thông qua phát triển công nghiệp văn hóa Trong thế giới ngày nay, “sức mạnh mềm” (soft power)

ngày càng có vai trò quan trọng, như một bộ phận hợp thành trọng yếu của năng lực cạnh tranh quốc gia Trên cơ bản người ta đều nhất trí với nhau trong quan niệm về

sức mạnh mềm với 3 thành tố: văn hóa, giá trị chính trị và chính sách đối ngoại

Trong đó, văn hóa có thể được xem như một bộ phận nền tảng, là “kênh dẫn” cho hai

Trang 10

thành tố kia Nhiều quốc gia đã sớm chú trọng đến phát triển và sử dụng sức mạnh mềm và đã trở thành những cường quốc văn hóa, nhờ đó mà có thêm những xung lực trong cuộc cạnh tranh toàn cầu, tiêu biểu là Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Ấn Độ, Pháp

Việt Nam sở hữu những tài nguyên văn hóa to lớn và phong phú Thông qua phát triển công nghiệp văn hóa, chắc chắn những tài nguyên này sẽ biến thành những nguồn lực phát triển đáng kể, làm thay đổi hình ảnh, tăng cường uy tín của đất nước

và con người Việt Nam ở cả trong nước và trên thế giới Ngày 8 tháng 9 năm 2016

Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt

Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” Có thể xem đây là một bước tiến lớn

trong tư duy về lãnh đạo, quản lý văn hóa ở Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của thời đại, trực tiếp đáp ứng đúng nhu cầu của sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa Tuy nhiên, để Chiến lược này thực sự được triển khai có hiệu quả thì còn nhiều việc phải làm, nhất là việc đưa cơ chế thị trường lành mạnh vào việc quản lý, điều hành trong thực tiễn

Trang 11

Hồ Chí Minh từng nói: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” Muốn giúp cho văn

hóa hoàn thành tốt được sứ mệnh “soi đường” đó, phải đặt văn hóa vào trong một tầm nhìn xa rộng, thấu suốt từ quá khứ tới hiện tại và tương lai, trong phạm vi địa phương

– quốc gia – khu vực và thế giới, tức là dựa trên những dự báo khoa học về những xu hướng vận động chủ đạo của nhân loại và đất nước Khoa học dự báo (Futurology), vì

vậy, đã và đang đóng vai trò tối quan trọng đối với tất cả các khâu đoạn của quá trình hoạch định và thực thi chiến lược và chính sách ở cả tầm vĩ mô và vi mô

1.1 Xu hướng vận động chủ đạo của thế giới trong kỷ nguyên văn minh trí tuệ, toàn cầu hóa và Cách mạng 4.0

Câu hỏi thứ nhất đặt ra là: những quá trình và yếu tố nào sẽ định hình tương lai

của nhân loại trong khoảng ba thập kỷ tới? Trả lời được câu hỏi này, chúng ta sẽ

mường tượng được rõ hơn bối cảnh của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam nói chung và phát triển văn hóa Việt Nam nói riêng trong tương lai gần

Quá trình toàn cầu hóa vốn được khởi phát từ cuối thế kỷ 20, tiếp tục phát triển

mạnh mẽ trong hai thập kỷ đầu thế kỷ 21 và chắc chắn sẽ còn là một quá trình góp phần quyết định nhất vào việc định hình diện mạo và chi phối đời sống nhân loại trong những thập kỷ tiếp theo

Nền văn minh nhân loại được sản sinh và nuôi dưỡng trên bề mặt trái đất vốn là một chỉnh thể thống nhất của vô vàn sự khác biệt Ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện những nỗ lực kết nối các vùng, miền, các trung tâm văn minh nhân loại với nhau: các cuộc chiến tranh, di dân, các hoạt động truyền giáo và hoạt động thương mại đã trở thành những phương thức kết nối chủ yếu Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy một số đồng tiền xu của Roma ở di chỉ khảo cổ Óc Eo (Đồng Tháp) – một minh chứng cho thấy từ rất sớm một phần của Việt Nam ngày nay đã được đặt trong hệ thống thương mại quốc tế kết nối trực tiếp hay gián tiếp với cả những trung tâm văn minh xa xôi Dẫu vậy, tình trạng chia cắt, tách biệt, cô lập và khép kín vẫn là đặc điểm bao trùm của văn minh nhân loại Phải đến cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16, các cuộc Phát kiến địa

lý vĩ đại mới tạo ra bước ngoặt quyết định trong lịch sử kết nối toàn cầu Sau các cuộc

Trang 12

du hành – phát kiến này là sự phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn của chủ nghĩa tư bản

ở phương Tây, và chẳng bao lâu sau đó, cơn lốc tư bản – thực dân đã tràn ngập khắp địa cầu, cuốn vào quỹ đạo của nó hầu hết các nền văn minh, các quốc gia, dân tộc, bộ lạc, các nền văn hóa và các tôn giáo Tính kết nối của nền văn minh nhân lại đã được nâng lên một tầm cao mới với hai yếu tố định hình cơ bản nhất: quy luật cạnh tranh – điều tiết của kinh tế thị trường và sự phát triển không ngừng của các phương tiện giao thông – vận tải và thông tin liên lạc hiện đại.3

Quá trình kết nối trên phạm vi toàn cầu của nền văn minh nhân loại cho đến trước năm 1991 cũng gặp phải muôn vàn rào cản to lớn Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch; các liên minh chính trị và kinh tế với những quy tắc cấm vận nhằm làm suy yếu hoặc triệt

hạ các đối thủ cạnh tranh; xung đột lợi ích, xung đột tôn giáo và xung đột ý thức hệ đã

đã đến sự bùng nổ của hàng nghìn cuộc chiến tranh đẫm máu và hàng trăm cuộc đấu tranh xã hội khốc liệt, bao gồm cả hàng chục cuộc cách mạng lớn, nhỏ, diễn ra trong nhiều hình thức, sắc thái khác nhau Sau Thế chiến II, cục diện Chiến tranh Lạnh chính là một thế đối đầu – chia cắt gay gắt, kéo dài và sâu sắc nhất – là rào cản lớn nhất của quá trình kết nối toàn cầu của nền văn minh nhân loại Bức tường Berlin chính là biểu tượng cụ thể và tiêu biểu nhất cho thế đối đầu này

Những rào cản về kinh tế, chính trị, quân sự, tôn giáo và xã hội chính là mảnh đất màu mỡ sản sinh ra muôn vàn định kiến, sự phân biệt và kỳ thị văn hóa Đây chính là những sản phẩm phi nhân bản nhất mà nền văn minh nhân loại sản sinh ra trong quá trình kết nối toàn cầu cho đến trước khi cuộc Chiến tranh Lạnh kết thúc

Chiến tranh Lạnh kết thúc (1991) đúng vào lúc công nghệ thông tin, công nghệ vũ trụ và công nghệ truyền thông bắt đầu bước vào thời kỳ phát triển có tính bùng nổ Sự

ra đời của internet và truyền thông kỹ thuật số đã làm cho các khoảng cách về không gian và thời gian ngày càng bị thu hẹp và thế giới đã trở nên một “thế giới phẳng” Mọi rào cản hữu hình và vô hình vốn chia cắt thế giới từ hàng nghìn năm đã bị nhanh chóng xóa bỏ

Chỉ xin nêu một số ví dụ Trước khi các phương tiện giao thông hiện đại được du nhập vào Việt Nam, việc truyền tin bằng ngựa trạm từ Kinh thành Huế đến Hà Nội

3 Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Marx và Engels viết: “Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và

làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất và trào lưu văn minh Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục

Nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản, nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản Nói tóm lại, nó tạo ra cho nó một thế giới theo hình dạng của nó (…) Cũng như nó đã bắt nông thôn phải phụ thuộc vào thành thị, bắt những nước

dã man hay nửa dã man phải phụ thuộc vào các nước văn minh, nó đã bắt những dân tộc nông dân phải phụ thuộc vào những dân tộc tư sản, bắt phương Đông phải phụ thuộc vào phương Tây.” Xem: K.Marx và F Engels,

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Chương I, https://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1840s/

tuyen/phan_01.htm

Trang 13

hoặc Gia Định nhanh nhất cũng phải mất bảy ngày đêm Đến khi có đường bộ, đường sắt thì việc chuyển thư, báo mất khoảng 2 – 3 ngày Và từ khi có điện thoại, điện tín,

fax, điện thoại di động, email và nhất là có video conferencing thì tốc độ liên lạc từ

Thủ đô Hà Nội đến tất cả mọi tỉnh thành và các vùng miền gần như chỉ còn tính bằng đơn vị phút hoặc giây! Tương tự, trước kia, việc liên lạc thư tín từ Châu Âu sang Châu

Mỹ bằng đường tàu biển phải mất từ 10 ngày đến một tháng; bằng đường hàng không cũng phải mất ít nhất một ngày Giờ đây qua internet, mọi liên lạc dường như diễn ra ngay tức khắc Việc phủ sóng toàn cầu của internet cũng giúp cho việc lan truyền thông tin, và kèm theo đó là các giá trị văn hóa, không chỉ bằng ký tự và các con số khô khan và chết cứng mà kèm theo cả hình ảnh, âm thanh sống động, trực tiếp nhờ các hình thức truyền thông tương tác, đa phương tiện công nghệ cao Những tiến bộ công nghệ này đã khiến cho các khoảng cách của không gian và cảm xúc cũng gần như bị xóa bỏ hoàn toàn Vì vậy, chỉ số sử dụng internet được xem như một tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức độ kết nối toàn cầu

Bảng 1 Tình hình sử dụng internet trên thế giới (2016)

Đơn vị: phần trăm dân số

Khối các nước CH độc lập (thuộc Liên Xô cũ) 10% 34% 67%

Nguồn: International Telecommunication Union, 2017

Đặc biệt là với thế hệ trẻ, những người được mệnh danh là thế hệ “Y” hoặc thế hệ

“thiên niên kỷ” (Generation of Millennials) thì kết nối toàn cầu được xem như một

trong những đặc điểm chính.4 Điều này càng thể hiện rõ thông qua số liệu thống kê về

tỉ lệ kết nối online của thanh niên (trong độ tuổi từ 15 đến 24) trên toàn thế giới Biểu

đồ dưới đây cho thấy mức độ kết nối toàn cầu của thanh niên ở một số khu vực trên thế giới

Biểu đồ 1: Tỉ lệ thanh niên sử dụng internet so với dân cư từng khu vực

4 Báo cáo về thanh niên của Liên hợp quốc công bố năm 2016 đã đưa ra 5 đặc trưng của công dân toàn cầu là:

Competence, Confidence, Connection, Character, Caring Xem: World Youth Report 2016: Youth Civic Engagement, Published by the United Nations, New York, 2016, tr 18

Trang 14

0 200

Nguồn: ICT facts and figures 2017 International Telecommunication Union, 2017

Tuy nhiên, sau gần 3 thập kỷ kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, người ta ngày

càng nhận rõ hơn một thực tế là: “thế giới không hề phẳng” Ngay sau khi trật tự “thế

giới hai cực” vừa bị xóa bỏ, trong vòng 3 thập kỷ đã có hàng chục cuộc chiến tranh

đẫm máu nổ ra, điển hình là các cuộc chiến tranh ở Liên bang Nam Tư cũ, chiến tranh

ở Afghanistan, ở Iraq, ở dải Gaza và gần đây là ở Syria và một số nước Bắc Phi và

Trung Đông Đặc biệt, chủ nghĩa khủng bố ngày càng phát triển, áp dụng từ các hình

thức và phương tiện chiến tranh man rợ thời Trung cổ cho tới các phương tiện công

nghệ cao để tiến hành hàng trăm cuộc tấn công khốc liệt trên khắp hoàn cầu, trong đó,

cuộc tấn công khủ bố nhằm vào nước Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001, có thể nói, đã

tạo nên một cơn địa chấn toàn cầu Chiến tranh, xung đột và sự bùng phát của chủ

nghĩa khủng bố quốc tế chứng tỏ rằng trong thế giới toàn cầu hóa đang ẩn chứa quá

nhiều mâu thuẫn, sự khác biệt và cách biệt cũng như những sự hận thù độc ác, phi

nhân tính đã và đang được sản sinh ra, tích tụ và bùng nổ trong chính quá trình kết nối

và hợp tác toàn cầu

Càng tham gia, hội nhập sâu vào thế giới toàn cầu hóa các dân tộc càng lo lắng bị

quá trình toàn cầu hóa “nuốt chửng”, tức là lợi ích, chủ quyền quốc gia bị xâm hại, bị

chi phối bởi các cường quốc kinh tế và công nghệ Cùng với đó là việc bản sắc và

truyền thống văn hóa dân tộc bị suy thoái, dân tộc bị “hòa tan” trong quá trình hội

nhập Một mặt, khoảng cách phát triển giữa nhóm nước tiên tiến nhất với các nhóm

quốc gia lạc hậu, giữa các nhóm công dân giàu nhất và các nhóm công dân nghèo nhất

càng lớn hơn, đến mức hầu như không thể thu hẹp Mặt khác, khoảng cách giàu –

nghèo trong từng quốc gia – dân tộc cũng càng ngày càng trở nên lớn hơn Đây cũng

chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến làn sóng phản đối toàn cầu hóa đã và

đang thịnh phát, lan rộng và ngày càng có tính bạo lực nhằm vào các quốc gia phát

triển nhất ở phương Tây

Trong những thập kỷ vừa qua, suy thoái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô

nhiễm môi trường đã trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng nhất trên phạm vi

toàn cầu Vấn đề này càng ngày càng trở nên trầm trọng hơn do tác động của biến đổi

Trang 15

khí hậu, và chính bản thân nó cũng lại là một trong những nguyên nhân làm gia cường

thêm quá trình biến đổi khí hậu Đây là vòng xoáy sinh thái đang đe dọa không chỉ tương lai, vận mệnh của từng doanh nghiệp hay từng cộng đồng dân cư mà là đang quyết định sự tồn vong của từng dân tộc và của toàn nhân loại Do vậy, những giải pháp ứng phó đòi hỏi phải được xây dựng và triển khai trên tầm tư duy toàn cầu, với

sự hợp tác toàn cầu, nhưng lại thông qua chính sách, hành vi quyết liệt và hữu thức cao của từng quốc gia và của mỗi cá nhân với tính cách một công dân toàn cầu –

“think globally, act locally” đã trở thành một triết lý, một khẩu hiệu lan tỏa trên toàn

thế giới

Tuy nhiên, khi đi vào thực tiễn, lợi ích vị kỷ của các tập đoàn doanh nghiệp và của các quốc gia đã trở thành rào cản chính đối với các nỗ lực toàn cầu nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu Sự gay go căng thẳng của các vòng đàm phán về các hiệp định ứng phó biến đổi khí hậu, sự rút lui mới đây nhất của nước Mỹ khỏi các cam kết tại Paris

2014 ngay sau khi Tổng thống Donald Trump lên cầm quyền và các thảm họa môi trường, các tai biến thiên nhiên khốc liệt xảy ra trên khắp bề mặt hành tinh cho thấy rõ mặt phản diện đối với xu hướng hợp tác toàn cầu vì sự phát triển bền vững

Sự hoành hành của chủ nghĩa khủng bố dưới những hình thức tàn bạo, vô nhân tính nhất và “cuộc khủng hoảng di cư” diễn ra trong những năm gần đây chính là những quá trình bộc lộ rõ nhất những hậu quả thảm khốc và những mặt trái ghê rợn nhất của quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra manh mẽ trên khắp thế giới

Cần phải nhớ rằng trong hàng ngũ hàng trăm ngàn phần tử khủng bố quốc tế dưới

bóng cờ của IS (Islamic State) không chỉ có những người Hồi giáo cực đoan mà còn

có hàng chục nghìn thanh niên được sinh ra và lớn lên, được giáo dục trong những nước phát triển nhất, như Mỹ, Đức, Anh, Áo, Pháp, Bỉ, Úc vv… Như vậy, phải đặt vấn đề, rằng tự bản thân Hồi giáo hay bất kỳ tôn giáo nào khác không phải là cha đẻ của chủ nghĩa khủng bố quốc tế Trái lại, chủ nghĩa khủng bố quốc tế là một sản phẩm của thời đại, nảy sinh ra từ chính những mâu thuẫn, những xung đột và kỳ thị vốn âm thầm phát triển và tích tụ trong tất cả các xã hội trên thế giới

Nhiều nghiên cứu liên ngành mới nhất đã chỉ ra những đứt gãy liên cá nhân

(interpersonal gaps) điển hình và phổ biến trong xã hội hiện đại Thế giới ngày càng

đạt tới độ kết nối cao hơn nhờ các phương tiện khoa học và công nghệ hiện đại thì ngày càng trở nên phi nhân bản bấy nhiêu, và con người trong thế giới đó càng bị tách biệt, trở nên cô độc hơn bấy nhiêu Trong các xã hội truyền thống, các dạng thức giao

tiếp trực tiếp, mặt đối mặt (face to face) đã khiến cho các cá nhân xích lại gần nhau

hơn, và con người thường gắn bó chặt chẽ hơn với vô vàn dạng thức cộng đồng lớn nhỏ trên khắp bề mặt hành tinh Trong thời kỳ cận đại, khi các phương tiện giao thông

và truyền thông mới ngày càng phát triển thì các “không gian cá nhân” (prevate

Trang 16

spaces) càng trở nên tách biệt hơn Đến kỷ nguyên toàn cầu hóa, một mặt thì internet

và mạng xã hội đã mở ra khả năng kết nối vô hạn cho các cá nhân và cộng đồng Nhờ

đó người ta có thể trò chuyện chia sẻ, tương tác với bất kỳ ai và cùng lúc với rất nhiều người trên khắp bề mặt hành tinh, dưới rất nhiều hình thức nhờ sự hỗ trợ của truyền

thông công nghệ cao, như viết thư (email), trò chuyện (chat) và phát trực tiếp (live

stream), mạng xã hội (social networks) kể cả chơi và thi đấu trực tuyến (game online)

vv… Tuy nhiên, đáng tiếc, đó chỉ là những hình thức kết nối ảo (virtual connections), không phải là các tương tác thật (real interractions) Con người, nhất là giới trẻ càng

ngày càng bị chìm sâu vào thế giới ảo, thoát ly thế giới thực Các tương tác của con người trong thế giới thực ngày càng bị giảm thiểu.5 Và đến khi họ buộc phải quay lại, đối diện thế giới thực thì không tránh khỏi những cuộc khủng hoảng, thất vọng về xã hội và về chính bản thân họ Hàng nghìn loại hình tội ác đã xảy ra ở thế giới thực,

nhưng có nguồn gốc từ việc con người bị tha hóa trong thế giới ảo, gọi là “offline

criminals” Đó chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp của hiện

tượng bạo lực xã hội bùng phát ở tất cả các xã hội trong thời gian qua, kể cả ở Việt Nam.6

Quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển bùng nổ của khoa học và công nghệ trong thời gian qua đã đưa lại cơ hội tăng trưởng bứt phá, vượt qua khoảng cách tụt hậu của nhiều nước đi sau Điển hình là các trường hợp Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan và ở mức độ nhất định là Malaysia, Brazil, Ấn Độ vv… Đồng thời, chính quá trình nói trên cũng lại nới rộng khoảng cách về trình độ phát triển giữa nhóm các nước phát triển nhất với nhóm cách nước lạc hậu nhất Một số nước sau khi

đã đạt tới được một trình độ phát triển nhất định thì lại rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” Cả hai nhóm nước trên đều không tránh khỏi việc trước sau đều bị lệ thuộc vào nhóm nước phát triển nhất: vừa trở thành “bãi rác công nghệ”, vừa trở thành “nền kinh

tế vệ tinh” của các siêu cường kinh tế và khoa học công nghệ Một thứ chủ nghĩa thực dân mới đã thực sự ra đời trong thập kỷ đầu thế kỷ 21

Một hệ quả trực tiếp của quá trình toàn cầu hóa chính là sự gia tăng đột biến của

những nguy cơ an ninh phi truyền thống, trong đó nghiêm trọng nhất là: vấn nạn ô

nhiễm môi trường xuyên biên giới và ô nhiễm toàn cầu; sự lây lan nhanh chóng của nhiều loại bệnh dịch toàn thế giới; tội phạm công nghệ cao bùng phát nghiêm trọng,

thậm chí nhiều nhóm hackers đã can thiệp được vào cả cuộc bầu cử tổng thống Mỹ,

5 Các nghiên cứu của Pew Research Center về thế hệ Y ở Mỹ và các cuộc điều tra quốc gia SAVY I và SAVY 2

ở Việt Nam đều cho thấy rõ các thế hệ thanh thiếu niên trong kỷ nguyên toàn cầu hóa ngày càng có ít thời gian trò chuyện với cha mẹ, gia đình và người thân, bởi phần lớn thời gian họ đã dành cho các tương tác trong thế giới ảo

6 Đã có nhiều nghiên cứu về tác động tiêu cực của thế giới ảo, nhất là game online đối với giới trẻ Ở Việt Nam,

có thể tham khảo thêm công trình của chúng tôi: Phạm Hồng Tung (2011), Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Trang 17

xâm nhập và kiểm soát các giao dịch ngân hàng và hệ điều hành của một số sân bay quốc tế; nạn buôn người, buôn ma túy dựa trên các mạng lưới và tổ chức tội phạm toàn cầu ngày càng trở nên khó kiểm soát vv… Tất cả vấn nạn trên không thể giải

quyết được nếu thiếu sự chung tay, hợp tác toàn cầu Một lần nữa, những vấn đề trên

cho thấy tư duy và tầm nhìn toàn cầu và ý thức công dân toàn cầu đã thực sự trở thành một giá trị cốt lõi, nền tảng của văn hóa nhân loại trong nửa đầu thế kỷ 21

Tất cả những quá trình và yếu tố được phân tích ở trên cho thấy nhân loại đang bước nhanh vào một kỷ nguyên văn minh mới:7 kỷ nguyên văn minh trí tuệ và kinh

tế tri thức mà chặng đường tiếp theo chính là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

mới hay còn gọi là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0)

Trong kỷ nguyên này nguồn lực trí tuệ sẽ là yếu tố cốt lõi, quyết định năng lực

cạnh tranh của từng doanh nghiệp và của từng quốc gia Hàm lượng chất xám kết tinh trong giá trị sản phẩm sẽ quyết định sức cạnh tranh của từng sản phẩm đó Vì vậy,

khoa học và công nghệ trở thành yếu tố cốt lõi, năng động nhất của nguồn lực trí tuệ

và của toàn bộ nền kinh tế Trong khoa học, tốc độ đổi mới tri thức chứ không chỉ

chính bản thân tri thức mới là thước đo giá trị và sức mạnh của khoa học; tương tự, trong công nghệ thì tốc độ rút ngắn vòng đời công nghệ chính là yếu tố cốt lõi nhất Đương nhiên, khả năng ứng dụng, trực tiếp trở thành lực lượng sản xuất chính là mục tiêu quan trọng nhất của khoa học và công nghệ Để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới, khoa học và công nghệ phải đủ sức tiếp cận và giải quyết hiệu quả các vấn đề có tính liên ngành và độ phức hợp cao ở quy mô và tầm mức toàn cầu, dựa trên triết lý nền tảng của phát triển bền vững, hướng tới sự tăng trưởng nhanh, thân thiện với môi trường tự nhiên, văn hóa và xã hội

Chặng đường Cách mạng 4.0 chính là sự tiếp nối của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra trong kỷ nguyên văn minh trí tuệ và kinh tế tri thức Cốt lõi của Cách mạng 4.0 là sự ra đời và phát triển của nền sản xuất thông minh dựa trên nền tảng của sự phát triển của của trí tuệ nhân tạo và sự phát triển của hệ thống thực

- ảo (cyber-physical system), công nghệ số, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, internet vạn vật, và hệ dữ liệu lớn, tích hợp.8 Đây chắc chắn sẽ là quá trình có tác

7 Dưới góc nhìn lịch sử văn minh, có thể khái quát rằng nhân loại đã trải qua ba kỷ nguyên văn minh lớn: Kỷ nguyên văn minh nguyên thủy bắt đầu bằng việc con người biết chế tạo ra những công cụ lao động đầu tiên, kết thúc với sự ra đời của nhà nước sơ kỳ (khoảng thế kỷ 7 TCN) Tiếp đó là Kỷ nguyên văn minh nông nghiệp kéo

dài đến khi xuất hiện máy hơi nước (1765) và sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (thế kỷ 18), được tiếp nối với các cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ hai (cuối thế kỷ 19) và Cách mạng công nghiệp

lần thứ ba (nửa sau thế kỷ 20) Kỷ nguyên văn minh công nghiệp kéo dài đến cuối thế kỷ 20 và từ đầu thế kỷ 21 nhân loại bước vào Kỷ nguyên văn minh trí tuệ

8 Klaus Schwab giải thích giản dị như sau về Cách mạng 4.0: “Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học" http://news.zing.vn/cach-mang-cong-nghiep-40-la-

Trang 18

động quyết định đối với các xu hướng phát triển chủ đạo của văn minh nhân loại trong những thập kỷ tiếp theo

Hình 1: Đặc trưng và sự khác biệt của các cuộc cách mạng công nghiệp

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Công_nghiệp_4.0

Đặc trưng quan trọng nhất của cuộc Cách mạng 4.0 là nó hướng thẳng vào việc tái tạo nền sản xuất thông qua việc áp dụng những thành tựu tích hợp mới nhất của các công nghệ cao Đây chính là đòn bẩy làm biến đổi và tái định hình toàn bộ thế giới: từ khoa học cơ bản cho đến các công nghệ mũi nhọn đã tìm được kênh dẫn để trực tiếp trở thành lực lượng sản xuất, tạo nên xung lực cho toàn bộ nền sản xuất và thực sự trở thành yếu tố cốt lõi của năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp và của toàn bộ quốc gia Do đòi hỏi của nền sản xuất thông minh, tính kết nối của thế giới sẽ được đẩy cao hơn bao giờ hết dựa trên công nghệ dữ liệu tích hợp và công nghệ số Các công nghệ mũi nhọn khác, như công nghệ số, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu vv… sẽ trở thành nền tảng và nguồn lực của nền sản xuất thông minh nên chắc chắn

sẽ đạt tới những bước phát triển nhảy vọt

Vấn đề đặt ra là: ngay ở tại thời điểm Cách mạng 4.0 vừa khởi phát ở Đức và một

số nước phát triển nhất, chúng ta có thể tiên liệu những gì về tác động của nó, theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực?

Chắc chắn cuộc Cách mạng 4.0 sẽ đưa lại cơ hội cho nhiều quốc gia đạt được những bước phát triển nhảy vọt, đặc biệt là một số quốc gia đang phát triển có thể tận dụng thời cơ và “lợi thế đi sau” để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách tụt hậu và gia nhập vào hàng ngũ những quốc gia phát triển nhất Những nước này có thể thực hiện

gi-post750267.html Xem thêm: Hồ Tú Bảo “Hiểu về Cách mạng công nghiệp lân thứ 4” http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/hieu-ve-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-4-3574624.html

Trang 19

thành công chiến lược phát triển rút ngắn, “đi tắt đón đầu”, bỏ qua những giai đoạn quá độ về công nghệ, xây dựng cơ sở hạ tầng mới và tạo điều kiện phát triển ngay nền sản xuất thông minh

Để hiện thực hóa được chiến lược phát triển này cần có ít nhất bốn điều kiện tiên

quyết: một nền giáo dục hiện đại đủ năng lực đào tạo và phát triển được nguồn nhân

lực có đầy đủ các phẩm chất của công dân toàn cầu; nguồn tài chính tương đối dồi dào

và có thể đầu tư tập trung cho một số lĩnh vực ưu tiên; một nhà nước pháp quyền –

kiến tạo mạnh, liêm chính và cởi mở; và một nền văn hóa khai phóng (liberal) và đậm tính nhân văn (humanitarian) và cởi mở cho kết nối toàn và đối thoại toàn cầu

Nếu các quốc gia đi sau và cả các quốc gia phát triển thất bại trong việc tham gia

và làm chủ cuộc cách mạng 4.0 thì khoảng cách giữa các nhóm nước này với các nước phát triển nhất sẽ ngày càng được nới rộng Hệ quả không tránh khỏi là những nước lạc hậu hơn sẽ phải lệ thuộc vào các nước tiên tiến và bị các nước tiên tiến chi phối về mọi phương diện

Quá trình này, tương tự như quá trình bành trướng và xâm thực của chủ nghĩa đế quốc – thực dân phương Tây hồi thế kỷ 19, sẽ đưa đến những ách áp bức dân tộc và áp bức xã hội mới Điều khác biệt lớn nhất là: các cường quốc phát triển sẽ không xâm lược và áp bức các dân tộc lạc hậu bằng vũ lực (tàu đồng, súng thép) mà bằng sức mạnh khoa học và công nghệ, sức mạnh kinh tế và sức mạnh văn hóa – tức là bằng

các dạng thức của “quyền lực mềm” (soft powers) Và vì thế, sự thống trị, chi phối của

các cường quốc sẽ bền vững, toàn diện và hiệu quả hơn, trong khi đó thì các nỗ lực của các dân tộc bị lệ thuộc nhằm “tự cường, cứu quốc” sẽ trở nên vô cùng gian nan, phức tạp và lâu dài

Như vậy, có thể nói trong kỷ nguyên của Cách mạng 4.0, nội hàm của các khái niệm “chủ nghĩa yêu nước” và “chủ nghĩa dân tộc” sẽ phải được định nghĩa lại

Do tác động của quá trình toàn cầu hóa, đặc biệt là của cuộc Cách mạng 4.0, tất

cả các xã hội cũng sẽ trải qua những biến đổi mạnh mẽ, nhanh chóng và sâu sắc Thứ nhất, cơ cấu ngành nghề sẽ thay đổi vô cùng nhanh chóng và mạnh mẽ Có

nghiên cứu dự báo rằng chỉ trong vòng hai thập kỷ nữa có tới 70% nghề nghiệp hiện nay sẽ biến mất, thay vào đó là hàng loạt nghề nghiệp mới sẽ ra đời Như vậy, cơ cấu ngành nghề trong nền sản xuất sẽ thay đổi, và tương ứng, trong xã hội sẽ xuất hiện nhiều nhóm xã hội – nghề nghiệp mới, trong khi nhiều nhóm xã hội – nghề nghiệp cũ

sẽ tiêu vong Không chỉ có vậy, phương thức lao động của con người cũng sẽ thay đổi

theo xu hướng giảm dần các công việc giản đơn có tính quy trình, gia tăng các công việc có hàm lượng chất xám với đòi hỏi sáng tạo cao hơn và các loại công việc mang tính nhân bản đặc trưng Trong khi đó, robot sẽ thay thế cho con người trong rất nhiều

Trang 20

công việc, kể cả các việc giản đơn có tính quy trình cho tới những việc vô cùng phức tạp, cần độ chính xác cực cao Trong bối cảnh đó, thất nghiệp sẽ trở thành một nguy

cơ xã hội trầm trọng, không chỉ đe dọa thường trực đối với những người lao động trình độ thấp mà thậm chí cả những lao động có trình độ rất cao Vấn đề là ai sẽ là những người “bơi” kịp theo các tiến bộ khoa học và công nghệ, thậm chí dẫn dắt quá

trình đó Những kẻ “đuối sức” trong cuộc chơi này sẽ bị loại bỏ

Thứ hai, Cách mạng 4.0 sẽ tiếp tục xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực lao động

và sản xuất Khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay sẽ ngày bị thu hẹp;

các lĩnh vực kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ vv… sẽ ngày càng trở nên ít sự khác biệt do việc áp dụng ngày càng phổ biến với mức độ ngày càng sâu sắc các công nghệ mới Khoảng cách giữa nông thôn và thành thị sẽ nhanh chóng bị thu hẹp do kết quả của quá trình đô thị hóa kiểu mới

Thứ ba, nhiều mô hình và phương thức phân hóa, phân tầng, phân nhóm xã hội mới sẽ xuất hiện Một mặt, khác biệt giữa nhóm xã hội giàu nhất với nhóm nghèo

nhất, giữa nhóm “elite” và các nhóm còn lại sẽ tiếp tục nới rộng Nhưng mặt khác, sự

khác biệt xã hội nhìn chung lại bị thu hẹp do cơ cấu phân tầng sẽ phức hợp hơn, phong phú hơn, đặc biệt là sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các nhóm xã hội trung lưu Ở một phương diện khác, tính chất của các sự khác biệt xã hội cũng sẽ thay

đổi sâu sắc: sự khác biệt có tính tương phản (contrast) hoặc đối kháng (contradiction)

theo kiểu giàu – nghèo hay thống trị - bị trị sẽ tiếp tục tồn tại nhưng sẽ ngày càng trở

nên tương đối (relative) và ít quan trọng hơn Tóm lại, khuynh hướng nổi bật của tất

cả các xã hội trong ba đến năm thập kỷ tới là xã hội sẽ ngày càng trở nên mở (opened)

đa dạng hơn (diversified societies) và trở thành các xã hội đa lựa chọn (multi-choice

societies)

Tuy nhiên, có thể thấy trước rằng Cách mạng 4.0 cũng không thể hoặc chưa thể loại trừ bền vững các mặt trái, tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa như vừa chỉ ra ở trên Trái lại, nó có thể sản sinh ra một số quá trình, hiện tượng tiêu cực mới, khơi sâu thêm một số xung đột hiện có và làm trầm trọng hóa một số vấn đề mà nhân loại đang phải đương đầu

Thứ nhất, có thể nhìn thấy trước là cuộc Cách mạng 4.0 sẽ không đưa lại cơ hội

và thách thức ngang bằng nhau cho tất cả các quốc gia - dân tộc và tất cả các nhóm

xã hội khác nhau Những cường quốc về kinh tế và khoa học công nghệ hiện nay chắc

chắn sẽ có nhiều cơ hội hơn, trong khi thách thức sẽ là nghiêm trọng nhất đối với các nước nghèo và lạc hậu Cơ hội bứt phá, “đi tắt, đón đầu” là có thật nhưng chỉ được hiện thực hóa trong những điều kiện xác định (như đã chỉ ra ở trên) Có thể thấy trước phần lớn các nước chậm phát triển đều không có đủ các điều kiện này Do vậy, khoảng cách phát triển giữa các nước, các khu vực sẽ ngày càng nới rộng và vĩnh viễn

Trang 21

không thể được xóa bỏ Tương tự, trong phần lớn các xã hội, cơ hội vươn lên chiếm lĩnh các lợi thế của Cách mạng 4.0 sẽ không phải dành cho số đông, nhất là ở các nước chậm phát triển Có thể trong tương lai gần, đói nghèo tuyệt đối sẽ được giảm thiểu và bị loại trừ, song bất bình đẳng và khác biệt xã hội – hay nói khác đi là nạn đói nghèo tương đối, nhất là đói nghèo văn hóa – văn minh, lại sẽ trở nên phổ biến

Thứ hai, chỉ số kết nối của thế giới càng cao, nhân loại càng bị nhấn sâu hơn vào thế giới ảo, bị lệ thuộc vào thế giới ảo và càng bị tha hóa nặng nề Tính nhân văn,

nhân bản trong đời sống xã hội ngày càng suy giảm Do đó, lối sống, thói quen, các tương tác xã hội, hệ giá trị và toàn bộ nền văn hóa nhân loại sẽ bị đảo lộn và trải qua những cuộc khủng hoảng với những mức độ trầm trọng, quy mô và hậu quả khác nhau

Thứ ba, cuộc Cách mạng 4.0 có thể đưa lại những cơ hội và phương tiện để giảm

thiểu và có thể giải quyết dứt điểm một số vấn nạn toàn cầu, như các tai biến thiên nhiên, ô nhiễm và tai biến môi trường, tăng sức chống chịu và ứng phó tốt hơn với biến đổi khí hậu Tuy nhiên, cuộc cách mạng này tự bản thân nó không giúp gì nhiều đối với việc giảm thiểu các khác biệt, xung đột về lợi ích hoặc xuất phát từ các định

kiến văn hóa, chính trị và tôn giáo Thế giới ngày càng trở nên khác biệt (diversified) thì càng khó tìm kiếm sự đồng thuận chung (general consensus) Vì vậy, những xung

đột đã và đang chia rẽ nhân loại hiện nay sẽ chưa giảm thiểu đáng kể trong một vài thập kỷ tới, thậm chí có thể đưa tới những thảm họa toàn cầu chỉ vì một sai sót kỹ thuật, một lỗi công nghệ hoặc một “tai biến nhân cách” của cá nhân hay nhóm cầm quyền nào đó

Thứ tư, Cách mạng 4.0 chắc chắn sẽ đưa lại nhiều thành tựu khoa học công nghệ vĩ

đại, hữu ích cho đời sống nhân loại Song, cũng có thể thấy trước rằng không ít những tiến bộ to lớn về khoa học và công nghệ sẽ rơi vào tay các nhóm tội phạm quốc tế và tội phạm công nghệ cao kết hợp với chủ nghĩa khủng bố quốc tế sẽ trở nên vô cùng nguy hiểm, trở thành nguy cơ đe dọa thường trực đối với sự tồn vong của nhân loại

Từ những phân tích như trên, có thể thấy xu hướng vận động của thế giới trong

một vài thập kỷ tới một mặt sẽ là sự tiếp nối và gia cường (strengthening) của những

xu hướng chủ đạo đã được định hình trong kỷ nguyên văn minh trí tuệ và toàn cầu hóa hiện nay Mặt khác, sẽ xuất hiện những xu hướng chủ đạo mới chi phối toàn bộ đời sống nhân loại trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và tâm linh ở tất cả các tầm mức cá nhân, cộng đồng và xã hội

Những xu hướng chủ đạo đó đều sẽ gắn với sự khởi phát và lan tỏa toàn cầu của Cuộc cách mạng 4.0 Cho dù còn những ý kiến khác nhau, nhưng toàn cầu hóa tăng tốc và Cách mạng 4.0 là xu hướng vận động không thể đảo ngược của nền văn minh nhân loại Cuộc cách mạng này sẽ đưa đến cho nhân loại và Việt Nam nhiều chuyển

Trang 22

biến và tác động tích cực và tiêu cực, nhiều cơ hội to lớn và thách thức gay gắt Liệu dân tộc Việt Nam có tranh thủ được cơ hội, vượt qua được thách thức, thực hiện thành công chiến lược phát triển rút ngắn hay không? Điều này chủ yếu phụ thuộc vào mức

độ sẵn sàng và động thái văn hóa của toàn thể dân tộc Việt Nam, đặc biệt là thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay trước những đòi hỏi của thời đại

1.2 Việt Nam trong bối cảnh của toàn cầu hóa và đổi mới và hội nhập quốc tế

Năm 2016, một báo cáo quốc gia được công bố dưới tiêu đề “Việt Nam 2035 –

hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ”.9 Báo cáo này do Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức xây dựng với sự tham gia nghiên cứu và chắp bút của khoảng hơn 100 chuyên gia, dưới sự chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh; ông Axel van Trotsenburg, Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới; bà Victoria Kwakwa - Giám đốc Quốc gia và ông Sudhir Shetty - Chuyên gia Kinh tế trưởng khu vực châu Á - Thái Bình Dương Có lẽ đây là nghiên cứu dự báo công phu, nghiêm túc và bài bản theo

mô hình của một futurological study đầu tiên từng xuất hiện ở Việt Nam

Trên cơ sở phân tích – dự báo tình hình, khát vọng và yêu cầu khách quan của sự nghiệp phát triển của Việt Nam hiện nay và trong tầm nhìn đến năm 2035, “Báo cáo

khuyến nghị Việt Nam cần thực hiện sáu chuyển đổi quan trọng để trở thành một nền kinh tế thu nhập trung bình cao Trước hết là hiện đại hóa nền kinh tế đồng thời với nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân Hai là phát triển năng lực đổi mới sáng tạo, lấy khu vực kinh tế tư nhân làm trung tâm Ba là nâng cao hiệu quả của quá trình đô thị hóa, tăng cường kết nối giữa các thành phố và vùng phụ cận Bốn

là phát triển bền vững về môi trường và tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí

hậu Năm là đảm bảo công bằng và hòa nhập xã hội cho các nhóm yếu thế cùng với sự phát triển của xã hội trung lưu Sáu là xây dựng một Nhà nước pháp quyền hiện đại

với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập và xã hội dân chủ phát triển ở trình độ cao

Chương trình cải cách gắn với sáu chuyển đổi này được thể hiện theo ba trụ cột chính:

thịnh vượng về kinh tế đi đôi với bền vững về môi trường; công bằng và hòa nhập xã hội; năng lực và trách nhiệm giải trình của nhà nước.”10

Có thể khẳng định chắc chắn, rằng các phân tích, lập luận và đề xuất của Báo cáo này đều được đưa ra trên cơ sở những luận cứ khoa học và thực tiễn đầy đủ và có độ tin cậy cao Vì vậy, từ sau khi công bố, Báo cáo này nhận được sự hoan nghênh của đông đảo giới khoa học và các nhà hoạch định chính sách

Trang 23

Tuy vậy, xem xét kỹ thì có thể nhận ra những hạn chế không hề nhỏ của Báo cáo

Việt Nam 2035

Thứ nhất, mặc dù là Báo cáo có tính dự báo (foresight) nhưng nhóm tác giả đã

không phân tích để chỉ ra những cơ hội, thuận lợi, khó khăn, thách thức nào đang chờ đợi nhân loại nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng trong khoảng thời gian cho tới năm 2035 Viễn cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng 4.0 cùng các yếu tố tác động khác đã dường như không được đặt trong bất kỳ hệ phân tích – dự báo nào của nhóm tác giả

Thứ hai, trong “ba trụ cột” và “sáu chuyển đổi quan trọng” mà Báo cáo đề xuất hoàn toàn không có chỗ cho văn hóa Đây thực sự là một thiếu sót rất lớn, làm suy

giảm đáng kể giá trị và độ tin cậy của Báo cáo Cần nhấn mạnh rằng bản Báo cáo này được công bố hai năm sau khi Nghị quyết số 33-NQ/TW của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước được ban hành

công bằng và dân chủ vào năm 2035 thì Việt Nam phải triển khai các chiến lược phát triển dựa trên ba phương châm / nguyên tắc chủ đạo: 1) Thịnh vượng về kinh tế đi đôi với bền vững về môi trường; 2) Thúc đẩy công bằng và hòa nhập xã hội; và 3) Tăng cường năng lực và trách nhiệm giải trình của nhà nước.11 Những thông điệp nói trên hoàn toàn đúng, nhưng chỉ tiếc là vẫn hoàn toàn không đề cập đến văn hóa và vai trò của các nhóm chủ thể của phát triển bền vững và của văn hóa Việt Nam, tức là các nhóm và các cộng đồng cư dân Việt Nam

Trên cơ sở tham khảo Báo cáo Việt Nam 2035 và nhiều nghiên cứu khác thuộc các

lĩnh vực chuyên môn khác nhau, có thể dự báo những nét chính của Việt Nam trong viễn cảnh từ nay đến giữa thế kỷ 21 như sau:

Một là, trong những thập kỷ tiếp theo chắc chắn Việt Nam sẽ hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện hơn vào thế giới toàn cầu hóa với các đặc điểm, cơ hội

và thách thức như đã phân tích ở trên Hội nhập quốc tế chẳng những là xu thế không thể đảo ngược mà còn càng ngày càng tác động mạnh mẽ và toàn diện hơn đến mọi

lĩnh vực trong đời sống cộng đồng dân tộc Việt Nam Việc Việt Nam có hội nhập

thành công hay không, thậm chí, sẽ là yếu tố quyết định đến toàn bộ tương lai, vận mệnh của quốc gia – dân tộc

Hội nhập quốc tế thành công tức là Việt Nam tranh thủ được những lợi thế do toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng 4.0 mang lại, thực hiện thành công chiến lược phát triển

11 Ngân hàng Thế giới – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Việt Nam 2035,Báo cáo tổng quan, sđd, tr xviii –

xxxiv

Trang 24

rút ngắn và trở thành một trong những nước phát triển nhất Đồng thời, về phương diện văn hóa và chính trị, Việt Nam hội nhập nhưng không “hòa tan”, giữ vững và củng cố chế độ chính trị, bảo vệ thành công chủ quyền và lợi ích quốc gia và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam Nếu không đạt được những kết quả như trên thì càng hội nhập, Việt Nam càng tụt hậu xa hơn, càng bị lệ thuộc nhiều hơn vào các nước phát triển Như thế, chẳng những chủ quyền, lợi ích quốc gia không được đảm bảo mà cả bản sắc, truyền thống văn hóa cũng bị xói mòn và chế độ XHCN cũng sẽ bị đe dọa hoặc biến đổi theo chiều hướng xấu

Có nhiều yếu tố quyết định đến sự thành bại của quá trình hội nhập quốc tế của

Việt Nam trong thời gian tới, trong đó hành trang văn hóa và tri thức, tâm thế của dân

tộc, nhất là của các thế hệ lãnh đạo đất nước và của đội ngũ thanh niên Việt Nam

chính là yếu tố quan trọng nhất Vì vậy, việc chuẩn bị hành trang văn hóa và tri thức

của dân tộc sẵn sàng cho công cuộc hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện một cách tích cực, chủ động và khôn ngoan (smart) chính là một nội dung chính trong sứ mệnh của lĩnh vực văn hóa, khoa học và giáo dục của nước ta hiện nay và trong thời gian tới

Hai là, trong thời gian tiếp theo kinh tế thị trường vẫn sẽ tiếp tục là đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế nước ta và nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, nền kinh tế thị

trường đó lại là nền kinh tế tri thức – một trong những sản phẩm chính của cuộc Cách mạng 4.0 Tác động lớn nhất của nền kinh tế này là cơ chế vận hành và quy luật của kinh tế thị trường sẽ vượt khỏi phạm vi của lĩnh vực kinh tế và ảnh hưởng, thậm chí chi phối tất cả các lĩnh vực khác của đời sống dân tộc, bao gồm cả những lĩnh vực tưởng chừng như “miễn nhiễm” với cơ chế thị trường, như y tế, giáo dục, văn hóa, chính trị, tôn giáo vv… Điều này đã và đang xảy ra và sẽ tiếp tục gia tăng trong các

thập kỷ tiếp theo, ở Việt Nam và trên toàn thế giới, với cả những tác động tích cực và

tiêu cực

Trước hết, nói về những tác động tích cực Nền kinh tế thị trường và cơ chế thị

trường ngày càng giúp cho người Việt Nam thoát khỏi lối tư duy điển hình của cơ chế

kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp (kiểu tư duy và thái độ thụ động trông chờ cấp trên, triệt tiêu nhiệt tình, sáng tạo, nhất là sáng tạo cá nhân) và giảm thiểu dần lối

tư duy và ứng phó điển hình của nền kinh tế tiểu nông làng xã (cảm tính, tùy tiện, thiển cận, thủ tiêu cạnh tranh, đố kị với những gì ưu trội), thay vào đó là lối tư duy

duy lý (rational), giàu tính phê phán – phản biện (critical), thực tế (practical), năng động, giàu tính cạnh tranh, sáng tạo và khát vọng Đây chính là những yếu tố sẽ tạo

nên nền tảng cho việc hình thành hệ giá trị văn hóa mới của người Việt Nam

Nền kinh tế thị trường và cơ chế thị trường cũng chính là yếu tố quyết định nhất khai mở, giải phóng các tiềm năng, các nguồn lực, biến chúng thành những nguồn

Trang 25

xung lực phát triển của đất nước trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và Cách mạng 4.0

Trong đó, tài nguyên văn hóa là một nguồn tài nguyên – nguồn lực đặc biệt mà chỉ có

trong cơ chế thị trường lành mạnh thì nguồn lực này mới được phát huy đầy đủ để thực sự trở thành một lực lượng sản xuất, thành “sức mạnh mềm” – nguồn xung lực đặc biệt trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững của nhiều nước

Tương tự như vậy, chỉ có trong cơ chế thị trường thì tiềm năng trí tuệ và nguồn lực

trí tuệ mới chuyển mạnh từ trạng thái “tĩnh” sang trạng thái “động”, phát huy được ưu

thế của nó trong kỷ nguyên văn minh trí tuệ để trở thành lực lượng sản xuất quan trọng nhất và thực sự đóng vai tò cốt lõi của năng lực cạnh tranh của quốc gia và của doanh nghiệp.12

Cũng chỉ trong cơ chế thị trường, tất cả các nguồn vốn (capital), nhất là nguồn vốn

xã hội (social capital) mới trở thành nguồn lực phát triển và phát huy được đầy đủ vai

trò và hiệu quả của chúng

Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường và cơ chế thị trường cũng có những tác động tiêu cực mà người ta thường gọi là “mặt trái” của cơ chế này Điều này không có gì lạ, đã

được K Marx và F Engels chỉ ra từ giữa thế kỷ 19 Những gì các ông nói về “giai cấp

tư sản” thực chất là nói về những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường của nền kinh

tế tư bản chủ nghĩa:

“Tất cả những mối quan hệ phức tạp và muôn màu muôn vẻ ràng buộc con người phong kiến với "những bề trên tự nhiên" của mình, đều bị giai cấp tư sản thẳng tay phá vỡ, không để lại giữa người và người một mối quan hệ nào khác, ngoài lợi ích trần trụi và lối "tiền trao cháo múc" không tình không nghĩa Giai cấp tư sản đã dìm những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt tình hiệp sĩ, của tính đa cảm tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán ích kỷ Nó đã biến phẩm giá của con người thành giá trị trao đổi; nó đã đem tự do buôn bán duy nhất và vô sỉ thay cho biết bao quyền tự do đã được ban cho và đã giành được một cách chính đáng Tóm lại, giai cấp tư sản đã đem lại sự bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn thay cho sự bóc lột được che đậy bằng những ảo tưởng tôn giáo và chính trị Giai cấp tư sản tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nay vẫn được trọng vọng và tôn sùng Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê được trả lương của nó Giai cấp tư sản đã xé toang tấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ

ấy chỉ còn là quan hệ tiền nong đơn thuần.”13

12 Về trạng thái “tĩnh” và trạng thái “động” của nguồn lực trí tuệ, xem: Phạm Hồng Tung và Trịnh Ngọc Thạch,

“Trí tuệ: nguồn gốc, bản chất, cấu trúc và đặc điểm”, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 3, 2009,

tr 166-176

13 K.Marx và F Engels, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Chương I,

https://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1840s/tuyen/phan_01.htm

Trang 26

Trong thời gian qua, nhiều tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường và cơ chế thị trường đã bộc lộ ra khá rõ ràng, dưới nhiều hình thức khác nhau và gây ra những hậu quả nghiêm trọng Lối sống thực dụng, tâm lý sùng bái đồng tiền, lao vào kiếm tiền bất chấp các quy phạm đạo đức và pháp luật đã sinh ra nạn tham nhũng trầm trọng, diễn ra trong tất cả các lĩnh vực của đời sống; tình trạng thương mại hóa tất cả các mối quan hệ, kể cả các mối quan hệ đạo đức và tâm linh có tính thiêng liêng, được dân tộc trân trọng từ hàng ngàn năm, cũng bị đồng tiền làm cho tha hóa; tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm nặng với rất nhiều tai biến môi trường trầm trọng, đều bắt nguồn từ một nguyên nhân sâu xa là do bị mặt trái của cơ chế thị trường chi phối Một số lối sống tiêu cực đang có xu hướng lây lan nhanh, đặc biệt là trong giới trẻ, như lối sống vô cảm, ích kỷ; hành động bạo lực, bất chấp pháp luật, tiếp thu xô bồ các ảnh hưởng từ bên ngoài vv… Thậm chí, chủ quyền, lợi ích quốc gia cũng bị xâm hại,

sự tồn vong của chế độ bị đe dọa, hệ giá trị văn hóa – đạo đức bị đảo lộn cũng do nguyên nhân này

Trong thời gian tới, chắc chắn các tác động tích cực và cả các tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường và cơ chế thị trường sẽ tiếp tục được gia cường và lan tỏa mạnh mẽ, nhất là thông qua và tích hợp với các tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa và Cách mạng 4.0 Vì vậy, trong khi thực hiện chiến lược phát triển quốc gia, chắc chắn Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải phát huy cao độ được các tác động tích cực, hạn chế, giảm thiểu được các tác động tiêu cực thì mới có thể thực hiện được chiến lược “đi tắt đón đầu”, phát triển nhanh và bền vững

Trong số các hệ thống giải pháp cần được triển khai thì xây dựng nhà nước pháp quyền mạnh, dựa trên một xã hội thượng tôn pháp luật, đồng thời tổ chức vận động xây dựng thành công đời sống văn hóa mới văn minh lành mạnh sẽ là những giải pháp

cơ bản và quan trọng nhất

Trong thực tế lịch sử, bất kỳ quốc gia nào đã và đang phát triển kinh tế thị trường thì cũng đều trải qua những giai đoạn và những dạng thức khủng hoảng nói trên, do chưa phát huy đầy đủ được những tác động tích cực và chưa hạn chế được các tác động tiêu cực Đồng thời, kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy rằng đạo đức và văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc đấu tranh “khuyến thiện, trừng ác” này Văn hóa và đạo đức chính là cái phanh hãm nhân bản để ngăn giữ không cho con người làm việc xấu, sa vào cái ác, và đó cũng chính là phương thuốc hữu hiệu cứu vớt những nhân cách, những con người một khi họ đã trót phạm sai lầm và bị chi phối bởi lợi ích

cá nhân

Ba là tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Đây

chính là các quá trình đã góp phần quyết định nhất, khiến cho toàn bộ đời sống dân tộc Việt Nam biến đổi sâu sắc và toàn diện trong hai thập kỷ vừa qua Trong khoảng ba

Trang 27

thập kỷ tới, quá trình này sẽ tiếp tục diễn ra với tốc độ lớn hơn, quy mô sâu rộng hơn, nhưng dưới những phương thức và phương tiện mới do cuộc Cách mạng 4.0 đưa lại Trước hết, phải khẳng định rằng đây là những xu hướng phát triển tất yếu, không thể đảo ngược hoặc né tránh Thứ hai, những quá trình này đều có thể đưa lại những tác động tích cực to lớn và cả những tác động tiêu cực không nhỏ, có tầm ảnh hưởng lâu dài Chính vị vậy, điểm cốt yếu trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển

là đưa ra những lựa chọn chính sách và giải pháp nhằm phuy huy tối đa (maximize) được các tác động và hiệu quả tích cực và giảm thiểu (minimize) được các tác động và

hiệu quả tiêu cực

Câu hỏi đặt ra ở đây là: các quá trình nói trên đặt ra cho nền văn hóa Việt Nam những vấn đề gì?

Thứ nhất, các quá trình nói trên đã làm thay đổi căn bản môi trường và không gian văn hóa Việt Nam Những cánh đồng lúa, những làng quê vốn là không gian –

cảnh quan quen thuộc từ ngàn đời của các di sản và hoạt động văn hóa Việt Nam nhanh chóng bị thu hẹp, thay vào đó là các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện đại, những khu đô thị mới, những đường giao thông tấp nập vv… Ngay cả những làng xã còn sót lại thì không gian – cảnh quan cũng biến đổi triệt để: thật khó tìm được những biểu tượng điển hình của làng quê Việt Nam xưa: lũy tre, cổng làng, cây đa, giếng nước vv… thay vào đó là tình trạng bê tông hóa gần như 100% các làng quê Ngay cả

ở các khu đô thị trước đây, các phần “lõi” đô thị xưa đã lọt thỏm giữa các khu vực đô thị mới náo nhiệt, sang trọng hơn, hiện đại hơn Những vùng ven sông, ven biển cho đến tận vùng rừng núi xa xôi cũng đều trải qua những biến đổi tương tự

Không gian – cảnh quan chính là môi trường – môi sinh mà trong đó các hoạt động

và di sản văn hóa tồn tại và phát triển Khi không gian – cảnh quan đó biến đổi đến một mức nào đó thì nó không còn là môi sinh dung dưỡng di sản và hoạt động văn hóa truyền thống nữa Đó chính là một trong những lý do khiến cho di sản và hoạt động văn hóa bị mai một hoặc biến dạng nghiêm trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa

Thứ hai, các quá trình nói trên tạo ra chủ thể văn hóa mới – là những lớp dân cư

đô thị ngày càng đông đảo Chỉ trong vòng 30 năm đổi mới, dân cư đô thị Việt Nam

đã tăng từ khoảng 5 triệu, tương đương khoảng 10% dân số (1986) lên khoảng 35

triệu, tương đương khoảng 37% dân số (2016) Đồng thời, các quá trình đó cũng làm

biến đổi căn bản sinh kế, lối sống, lối sinh hoạt của tất cả các nhóm, các bộ phận dân

cư Việt Nam: yếu tố đô thị, hội nhập ngày càng gia tăng do sự du nhập của lối sống đô

thị hiện đại, sự du nhập ngày càng gia tăng của các loại hình dịch vụ và thiết bị dân dụng hiện đại, đặc biệt là do sự bành trướng và xâm nhập ngày càng sâu của các phương tiện thông tin - truyền thông công nghệ cao, đa phương tiện vào đời sống của

Trang 28

người dân ở cả khu vực nông thôn và thành thị Tất cả những chuyển biến trên góp phần tạo nên tảng nền mới của văn hóa Việt Nam với nhiều đặc điểm và sắc thái mới

Thứ ba, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa không chỉ tạo ra không gian – cảnh quan mới mà còn mang lại những nguồn lực mới cho hoạt động văn hóa Không nghi ngờ gì, sau 30 năm đổi mới, mức sống và điều kiện sống của

người dân Việt Nam ở tất cả các khu vực nông thôn và thành thị đều được cải thiện rõ rệt cả về vật chất lẫn tinh thần Đây là tiền đề và là cơ sở rất quan trọng cho việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa mới văn minh, hiện đại và lành mạnh Trên cơ sở

đó, nhu cầu hưởng thụ các sản phẩm văn hóa và tham gia vào các hoạt động văn hóa ngày càng to lớn hơn, đa dạng và phong phú hơn Nhờ các thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế mà nguồn lực tài chính đầu tư cho văn hóa từ nhà nước, cộng đồng, tổ chức, doanh nghiệp và người dân cũng tăng lên đáng kể Nhờ thế mà nhiều di sản văn hóa được phục dựng, trùng tu, bảo tồn tốt hơn; nhiều cơ sở, thiết chế văn hóa mới được xây dựng và các hoạt động văn hóa cũng sôi nổi hơn rất nhiều Hàng ngàn lễ hội truyền thống đã được phục hồi và duy trì liên tục suốt hàng chục năm qua; nhiều hoạt động và lễ hội văn hóa mới có quy mô lớn, nhỏ được tổ chức thành công Việc hàng chục di sản văn hóa và di sản thiên nhiên, danh thắng, di sản tư liệu vv… được UNESCO vinh danh trong những năm qua chính là thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới, nhưng trước hết là của sự nghiệp CNH, HĐH và đô thị hóa thành công

Dự báo trong một vài thập kỷ tiếp theo, các quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tiếp tục được đẩy tới với quy mô và tốc độ ngày càng to lớn hơn Do

đó, các tác động tích cực và tiêu cực mà chúng đưa lại cho đời sống và hoạt động văn hóa sẽ tiếp tục gia cường và phức tạp hơn Do tác động của toàn cầu hóa và Cách

mạng 4.0, nội dung và hình thức của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa chắc chắn sẽ có những thay đổi cơ bản, nhất là nội hàm của công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Như đã phân tích ở trên, Cách mạng 4.0 sẽ buộc tất cả các nước, trong đó có Việt Nam tái cấu trúc lại nền sản xuất Việc đổi mới liên tục của công nghệ buộc các doanh nghiệp phải luôn cải tiến hoặc thay thế trang thiết bị, công cụ, máy móc và toàn bộ cơ

sở hạ tầng; người lao động cũng luôn phải tự đổi mới ti thức, kỹ năng để theo kịp tình hình Điều đó đòi hỏi những nguồn vốn vô cùng dồi dào Nguồn lực trí tuệ và nguồn

lực tài chính sẽ là thách thức lớn nhất đối với các nước đi sau, trong đó có nước ta Để

vượt qua được thách thức này thì sự đồng thuận, đoàn kết vững chắc và ủng hộ mạnh

mẽ của toàn dân đối với một chính phủ liêm chính và sáng tạo là điều kiện cốt yếu nhất Nếu thiếu một trong hai yếu tố trên thì Việt Nam sẽ sớm trở thành bãi rác công

nghệ của ngoại bang và sẽ bị nhấn chìm trong “kiếp nạn” tụt hậu và lệ thuộc Hàng chục dự án lớn thua lỗ hàng trăm ngàn tỉ đồng hiện nay chính là những kết quả của

Trang 29

vấn nạn tham nhũng đi đôi với kiểm soát quyền lực yếu và tình trạng lạc hậu về công nghệ

Thứ tư, trong những thập kỷ tới, Việt Nam chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều vấn nạn môi trường to lớn và phức tạp, do tác động của biến đổi khí hậu và của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa

Đây là vấn đề đã trở nên ngày càng nóng bỏng và phức tạp ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới Nhiều thảm họa môi trường đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng không chỉ về kinh tế, sinh thái mà cả trong đời sống văn hóa và chính trị của đất nước Gần đây nhất, nạn hạn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và sự cố môi trường biển miền Trung do việc xả thải của công ty Formosa gây ra là những tai biến trầm trọng nhất đã gây ra nhiều hệ lụy phức tạp cả về chính trị và văn hóa Cuộc Cách mạng 4.0

sẽ đưa lại nhiều cơ hội để giảm thiểu nguy cơ dẫn đến những tai biến, thảm họa ô nhiễm môi trường sống Những tiến bộ công nghệ mới sẽ là bệ đỡ cho các nền kinh tế carbon thấp, tạo điều kiện để thay thế “mô hình tăng trưởng nâu” bằng “mô hình tăng trưởng xanh” Đó chính là cái lõi của phát triển bền vững trong các thập kỷ tới

Tuy nhiên, việc có nắm bắt được cơ hội và phát huy được lợi thế do Cách mạng 4.0 đưa lại hay không hoàn toàn phụ thuộc vào chính con người Việt Nam – chủ nhân đất nước và chủ thể phát triển Trách nhiệm định hướng chiến lược, điều hành, quản lý

và lựa chọn ưu tiên chính sách trước hết thuộc về Đảng, Nhà nước và Quốc hội Tuy

nhiên, sự tích cực tham gia, năng lực giám sát, gắn kết xã hội (civic engagement) và

trách nhiệm công dân của toàn dân, nhất là của giới trẻ sẽ, quyết định mức độ phát huy hiệu quả tích cực của đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Vì

vậy, nâng cao ý thức công dân và năng lực tham gia chính trị - xã hội (socio-political

participation) cho các thế hệ người Việt Nam trong thời gian tới sẽ phải trở thành một

nội dung cốt yếu của các hoạt động tuyên truyền, giáo dục văn hóa công dân

Thứ năm, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ lợi ích dân tộc, bảo

vệ chế độ và đảm bảo an ninh dân sự của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong những thập kỷ tới sẽ diễn ra phức tạp do bị chi phối bởi nhiều yếu tố thời đại mới

Tuy rằng mấy chục năm qua dân tộc ta đã được sống trong hòa bình, chủ quyền

và lợi ích quốc gia về cơ bản được giữ vững, nhưng phải thấy trước rằng những nguy

cơ đang đe dọa chủ quyền và lợi ích quốc gia, đe dọa sự tồn vong của chế độ XHCN

và gay mất an ninh, an toàn xã hội luôn tồn tại thường trực và ngày càng có xu hướng trở nên nghiêm trọng và phức tạp hơn Cần phải chú ý đặc biệt đến một số biểu hiện

cụ thể của nguy cơ này:

- Các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải trên cả đất liền, trên biển và trên

không sẽ ngày càng phức tạp, gay gắt; nguy cơ xung đột vũ trang, thậm chí là bùng nổ

Trang 30

chiến tranh ngày càng hiện hữu hơn; nguy cơ xuất hiện các “nhà nước ly khai” nhằm phá vỡ sự thống nhất quốc gia, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc tuy đã được kìm chế nhưng chưa bị loại bỏ, nhất là lại bị các thế lực ngoại bang lợi dụng

- Nguy cơ chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia bị xâm hại theo các phương

thức “an ninh phi truyền thống” ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, phức tạp hơn,

đặc biệt là các dạng thức tấn công bằng công nghệ cao, vi sinh vật, ô nhiễm môi trường xuyên biên giới vv…

- Nguy cơ làm xói mòn uy tín, làm suy yếu sức mạnh đoàn kết nội bộ, tiến tới lật

đổ chế độ chính trị hoặc làm biến chất theo hình thức “diễn biến hòa bình” hoặc

“cách mạng màu sắc” ngày càng gia tăng Bên cạnh sự chống phá, mạo xưng “dân

chủ”, “nhân quyền” của các thế lực thù địch chính trị thì tình trạng tham nhũng, suy thoái chính trị của một bộ phận không nhỏ đảng viên, nhất là những người giữ cương

vị lãnh đạo, đang làm cho uy tín của Đảng, của chế độ bị xói mòn nghiêm trọng; sự tin cậy, ủng hộ của nhân dân đối với hệ thống chính trị bị giảm sút Lòng tin cậy lẫn nhau trong nội bộ từng tổ chức và trong toàn xã hội bị suy giảm, nhân tâm ly tán Đó là những nguy có trầm trọng sẽ làm hao mòn, triệt tiêu các nguồn nội lực của đất nước Trong điều kiện như vậy thì các chiến lược, kế sách phục hưng dân tộc, “đi tắt đón đầu” trong kỷ nguyên cách mạng 4.0 chỉ có rất ít cơ hội được hiện thực hóa

- Tình trạng mất an toàn xã hội và an ninh dân sự không được đảm bảo ngày

càng gia tăng Có thể nói chưa bao giờ người dân Việt Nam lại đang phải sống trong

một môi trường xã hội bất an như hiện nay An toàn dân sinh bị đe dọa từ rất nhiều nguy cơ: ô nhiễm môi trường sống, thiên tai, mất an toàn vệ sinh thực phẩm,14 mất an toàn giao thông, tình trạng bạo lực và bạo hành xã hội, tệ nạn xã hội và tội phạm đều gia tăng đến mức khó kiểm soát, nạn hàng giả và gian lận, dối trá ngày càng phổ biến, tình trạng lợi dụng mạng xã hội và các phương tiện truyền thông công nghệ cao để tán

phát tin giả, bôi xấu, công kích cá nhân và tổ chức làm nhiễu loạn xã hội … tất cả

những vấn đề trên đang khiến cho đời sống cá nhân và cộng đồng luôn luôn bị đặt trong trạng thái bất an, hoài nghi, thất vọng và bất mãn

Tất cả những hiện tượng, nguy cơ và xu hướng nói trên càng ngày sẽ càng gia tăng, nếu không sớm được khắc phục, hạn chế và loại bỏ một cách kiên quyết thông qua việc củng cố nhà nước pháp quyền, nâng cao ý thức trách nhiệm và phát huy tính tích cực gắn kết dân sự của công dân

14 Tháng 11 năm 2015, phát biểu trong một phiên họp của Quốc hội, ông Trần Ngọc Vinh (đại biểu thành phố

Hải Phòng) đã nêu nhận định: “Có thể nói con đường từ dạ dày đến nghĩa địa của mỗi người chúng ta chưa bao giờ ngắn và dễ dàng thế".https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/dai-bieu-tran-ngoc-vinh-con-duong-tu-da-day- den-nghia-dia-chua-bao-gio-ngan-the-3313306.html

Trang 31

Những vấn đề vừa được phân tích ở trên, một mặt, sẽ đặt ra cho sự nghiệp phát triển văn hóa ở Việt Nam những yêu cầu mới, mặt khác, chính thông qua việc đối diện với những thách thức này, những giá trị và xu hướng văn hóa mới, tích cực, lành mạng và hiện đại sẽ nảy sinh, tạo nên nền tảng và tầm vóc mới của văn hóa dân tộc trong bối cảnh mới của đất nước và thời đại

2 Tình hình triển khai các nghị quyết của Đảng về văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ

Nắm bắt đúng xu thế phát triển của thế giới và yêu cầu khách quan của sự nghiệp phát triển bền vững đất nước trong thời đại mới, Đảng và Nhà nước ta đã luôn dành cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ và sự nghiệp phát triển văn hóa và con người Việt Nam sự quan tâm đặc biệt Các Nghị quyết số 20 (2012), số 29 (2013) và số 33 (2014) của BCH Trung ương Đảng khóa XI đều tiếp tục

khẳng định: phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là “quốc sách hàng

đầu” Riêng đối với văn hóa, Nghị quyết số 33 khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” Có thể nói, về tư tưởng chủ đạo

và nguyên tắc thì hiếm có nước nào trên thế giới đặt ra cho ba lĩnh vực trên những sứ mệnh, vai trò và vị trí quan trọng đến như thế trong chiến lược phát triển quốc gia Bên cạnh đó, các nghị quyết số 20, 29 và 33 của Trung ương Đảng khóa XI cũng chỉ ra phương hướng và nhiều giải pháp để tạo bước chuyển biến đột phá, tích cực về KH&CN, đổi mới căn bản và toàn diện trong GD&ĐT và làm cho văn hóa trở thành

“…sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững

chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

Sau khi các nghị quyết chuyên đề nói trên của Đảng được ban hành, các bộ, ngành, địa phương và cơ quan đều có các “chương trình hành động” nhằm triển khai các chủ trương, quan điểm của Đảng, “đưa nghị quyết vào cuộc sống” Tuy nhiên, sau một vài năm nhìn lại, chúng ta có thể thấy việc triển khai các nghị quyết nói trên vào thực tiễn rất lúng túng, chưa đủ quyết liệt, chưa hiệu quả, chưa tạo ra được bước chuyển biến lớn, có tính đột phá nào Những gì đã đạt được là thực sự chưa tương xứng với kỳ vọng

- Về KH&CN: Sau 5 năm triển khai Nghị quyết 20, các chuyển biến đều rất chậm

và chưa đạt hiệu quả tác động như mong đợi Tuy số lượng công trình KH&CN có dấu hiệu tăng nhanh hơn, nhưng chưa xuất hiện những công trình đỉnh cao, có tầm vóc quốc tế; việc chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn vẫn ì ạch, kém hiệu quả Các mục tiêu đặt ra cho tới năm 2020 có thể thấy trước là không thể đạt được.15

15 Trong Nghị quyết số 20 – NQ/TW, mục tiêu cho tới năm 2020 được xác định như sau: “Đến năm 2020, khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; Đến năm 2020, thông qua yếu tố năng suất tổng hơ ̣p (TFP) hoạt động khoa học và công nghệ đóng góp khoảng 35% tăng trưởng kinh

Trang 32

- Về GD&ĐT: Sau 4 năm triển khai Nghị quyết 29, mặc dù đã rất cố gắng, nhiều

giải pháp, thử nghiệm và nhiều ý tưởng đã được đưa ra, tuy nhiên vẫn chưa có chuyển biến nào thực sự đột phá và tích cực, thậm chí có những chương trình lớn sau khi triển khai đã không đạt hiệu quả Niềm tin của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo vẫn chưa được vãn hồi

- Về văn hóa: sau 3 năm triển khai Nghị quyết số 33, tình hình cũng chưa có

nhiều chuyển biến mạnh mẽ, tích cực; nhiều hạn chế, bất cập chậm được khắc phục

Vậy câu hỏi đặt ra là: đâu là nút thắt, là điểm nghẽn; cái gì là rào cản chính khiến cho chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về ba lĩnh vực này khó đi vào cuộc sống và khó phát huy tác động tích cực, đủ mạnh để tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ, tích cực, có tính đột phá?

Đương nhiên, cần phải xem xét kỹ từng lĩnh vực và tìm ra câu trả lời cụ thể cho

mỗi lĩnh vực Ở đây, chúng tôi nhận thấy có mấy nguyên nhân chung như sau:

Thứ nhất là vấn đề nhận thức Điều này các nghị quyết của Đảng cũng đã khẳng

định, nhưng cần phải nhấn mạnh lại Thực tiễn cho thấy từ các cấp lãnh đạo cho tới người dân, thậm chí cả đội ngũ những người làm công tác lãnh đạo và quản lý trong

ba lĩnh vực nói trên, nhất là ở các địa phương, chưa nhận thức được thật sâu sắc về tầm quan trọng đặc biệt của KH&CN, GD&ĐT, phát triển văn hóa và con người đối với sự tồn vong của quốc gia – dân tộc và của mỗi người, mỗi gia đình Phải hiểu được thật sâu sắc rằng trong thời đại ngày nay nếu Việt Nam không sớm thoát khỏi tình trạng tụt hậu thì chắc chắn sẽ bị lệ thuộc, bị chi phối bởi các nước phát triển, khiến cho lợi ích, chủ quyền quốc gia và văn hóa dân tộc sẽ bị xâm hại, xói mòn, bị

“hòa tan” và bị nô dịch Mà muốn thoát khỏi tụt hậu thì chỉ có thể dựa vào việc phát triển nhanh và hiệu quả của KH&CN, GD&ĐT và văn hóa và con người Không có lựa chọn khác! Chính vì chưa đạt tới nhận thức này nên trong cả ba lĩnh vực còn đang rất “thiếu lửa”: đa số nhà khoa học vẫn âm thầm cam chịu vị thế lẽo đẽo đi sau, rất ít người dấn thân để đạt tới đỉnh cao học thuật; đa số người đi học vẫn chủ yếu quan tâm tới bằng cấp hơn là tri thức, kỹ năng, quan tâm tới chỗ làm việc sau khi tốt nghiệp chứ không phải chính bản thân nghề nghiệp; người “làm nghề” văn hóa cũng chỉ quan tâm chủ yếu đến bề ngoài mà ít quan tâm đến giá trị văn hóa, chưa quan tâm đến việc biến tài nguyên văn hóa thành nguồn lực phát triển có sức cạnh tranh cao trong thế giới toàn cầu hóa vv…

Thứ hai là vấn đề cơ chế Sau khi các nghị quyết được ban hành, đã có nhiều nỗ

lực để tháo gỡ những ràng buộc về cơ chế Tuy nhiên, như thế vẫn chưa đủ để thúc đẩy, tạo ra những bứt phá tích cực Các nỗ lực cải cách cơ chế chủ yếu vẫn giới hạn

tế Xây dựng được một số sản phẩm quốc gia mang thương hiệu Việt Nam Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 40% tổng giá trị sản xuất công nghiệp; tốc đô ̣ đổi mới công nghệ, thiê ́t bi ̣ đa ̣t khoảng 20%/năm; giá tri ̣ giao di ̣ch của thi ̣ trường khoa học và công nghệ tăng trung bình khoảng 15%/năm.”

Trang 33

trong phạm vi các lĩnh vực KH&CN, GD&ĐT và ở mức độ nào đó là trong lĩnh vực văn hóa Tình trạng này giống như những người đang ngồi trong một con thuyền mắc cạn mà cố đẩy thuyền – có chăng chỉ tạo nên những tròng trành, nhúc nhích mà thôi!

Vậy, làm thế nào để tạo ra lực kéo và lực đẩy cho con thuyền từ bên ngoài? Phải áp

dụng cơ chế thị trường và triệt để khai thác và phát huy những yếu tố lành mạnh, hạn chế những yếu tố tiêu cực của cơ chế đó Không có lựa chọn khác Chúng ta phải mất

nhiều năm thảo luận mới đi đến chấp nhận sự tồn tại khách quan của thị trường khoa học và công nghệ, và gần đây là thị trường văn hóa Còn thị trường giáo dục và đào tạo thì sao? Nỗi ám ảnh lớn và rất chính đáng là: chúng ta lo ngại cơ chế thị trường sẽ biến ngôi trường thành cái chợ Tuy nhiên, phải nói ngay rằng việc đó có diễn ra hay không là tùy thuộc vào cách chúng ta lãnh đạo và quản lý thị trường GD&ĐT Thế giới đã chấp nhận cơ chế này, và trên thực tế, cơ chế này đang tồn tại và tác động ngay tại đất nước ta Nếu chúng ta còn chậm chấp nhận thì hầu như cái mà xã hội đang nhận được chỉ là những mặt trái của cơ chế thị trường tự phát mà thôi Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu và áp dụng ngay cơ chế thị trường lành mạnh đối với cả ba lĩnh vực này để tạo nên những nguồn xung lực mới cho sự phát triển bứt phá của cả ba lĩnh vực

Thứ ba là đầu tư Mặc dù còn những ý kiến khác nhau, nhưng có thể thấy rất rõ

rằng đầu tư tài chính cho cả ba lĩnh vực này vừa thiếu hụt, vừa không trúng đích và

kém hiệu quả Thiếu hụt khi chúng ta xét cả về tỉ trọng và khối lượng đầu tư và nhất là

về nguồn gốc của số kinh phí được đầu tư Không trúng đích thể hiện chủ yếu ở chỗ

nguồn tài chính vốn đã eo hẹp lại không được tập trung đầu tư vào những địa chỉ trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng trong cả ba lĩnh vực, mà chủ yếu để nuôi hệ thống và được

đầu tư vào những khâu đoạn gián tiếp Kém hiệu quả thể hiện ra ở tỉ lệ vốn được đầu

tư với các hiệu quả tác động thực tiễn trong phát triển bền vững của đất nước Để khắc

phục tình trạng này, cần phải cải tổ toàn bộ nguyên tắc và cơ chế đầu tư cho ba lĩnh

vực trên Cần phải đa dạng hòa nguồn đầu tư cho ba lĩnh vực này Thực tế, tổng khối lượng đầu tư cho ba lĩnh vực trên là không hề nhỏ, từ các nguồn ngân sách nhà nước

và ngoài ngân sách Tuy nhiên, tính cộng hưởng của các nguồn đầu tư từ cá nhân, gia đình, cộng đồng, doanh nghiệp và nhà nước là không cao Rõ nhất là trong các lĩnh

vực GD&ĐT và văn hóa Trong khi có đến khoảng 80% lượng đầu tư của nhà nước cho lĩnh vực GD&ĐT là nhằm nuôi bộ máy thì gần 100% đầu tư của các gia đình là

cho việc học thêm và du học của con em Tính phân khúc trong đầu tư cũng không

khoa học, không phù hợp với thực tế, do đó các nguồn vốn đầu tư không hiệu quả Trong từng lĩnh vực cần xác định lại những bộ phận, những công việc gì thì Nhà nước phải tập trung đầu tư, còn bộ phận nào, công việc nào thì phải “xã hội hóa” để tham gia vào các thị trường rất đặc thù của ba lĩnh vực trên Có như vậy mới giảm nhẹ được gánh nặng cho ngân sách nhà nước, có điều kiện tập trung đầu tư tới nơi tới chốn cho

Ngày đăng: 15/05/2018, 12:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w