1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố việt trì, tỉnh phú thọ

142 436 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ THANH NGA QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRONG THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH NGA

QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG

THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRONG THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ THANH NGA

QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG

THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRONG THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hồng Loan

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, các Thầy giáo, Cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp

đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Trần Thị Hồng Loan

người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn:

- Lãnh đạo, chuyên viên, cán bộ phòng GDMN, phòng GD&ĐT thành phố Việt Trì

- Ban giám hiệu, các giáo viên dạy ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì

- Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ, khích lệ và giúp đỡ

em hoàn thành luận văn này

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân em đã luôn cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Nga

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài

trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” đƣợc thực hiện từ tháng 2 năm 2017 đến hết tháng 11

năm 2017

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công

trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Nga

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thiết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI CHO TRẺ MẦM NON 7

1.1 Sơ lược vấn đề nghiên cứu 7

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 9

1.2 Các khái niệm cơ bản 11

1.2.1 Khái niệm quản lý 11

1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục 12

1.2.3 Khái niệm quản lý nhà trường 14

1.2.4 Khái niệm kỹ năng sống 15

1.2.5 Khái niệm giáo dục kỹ năng sống 21

1.3 Giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mầm non lớp 5 - 6 tuổi 22

1.3.1 Vai trò của giáo dục KNS và của công tác quản lí giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo lớp 5 - 6 tuổi trong giai đoạn hiện nay 24

1.3.2 Mục tiêu giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường Mầm non 28

1.3.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 29

Trang 6

1.3.4 Hình thức giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời

cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 36

1.3.5 Phương pháp giáo dục kỹ năng cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời 38

1.4 Nội dung quản lí giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 39

1.4.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 40

1.4.2 Tổ chức thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 42

1.4.3 Chỉ đạo quá trình thực hiện giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 43

1.4.4 Tổ chức kiểm tra, đánh giá giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 44

1.5 Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản lí giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 45

1.5.1 Điều kiện kinh tế - xã hội ở địa phương 45

1.5.2 Yêu cầu của giáo dục kĩ năng sống 46

1.5.3 Số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý nhà trường 48

1.5.4 Điều kiện trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ dạy học 49

1.5.5 Điều kiện và hoàn cảnh sống của gia đình học sinh 50

Tiểu kết chương 1 51

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRONG THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ 52

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và vài nét về các trường mầm non trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 52

Trang 7

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục KNS thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ 5 - 6 tuổi ở địa phương 52 2.1.2 Vài nét về các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 55

2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 59

2.2.1 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về giáo dục kĩ năng sống 59 2.2.2 Thực trạng nội dung giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ 60 2.2.3 Thực trạng hình thức giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 64 2.2.4 Thực trạng phương pháp giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 66

2.3 Thực trạng công tác quản lý giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 69

2.3.1 Thực trạng việc xây dựng kế hoạch giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 69 2.3.2 Thực trạng việc tổ chức thực hiện quản lý giáo dục kĩ năng sống 73 2.3.3 Thực trạng việc chỉ đạo quá trình thực hiện giáo dục Kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 76 2.3.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 78

Tiểu kết chương 2 87

Trang 8

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRONG THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ TRONG

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 88

3.1 Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp 88

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 88

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi, thực tiễn 88

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 89

3.2 Một số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ 89

3.2.1 Xác định mục tiêu giáo dục mầm non và yêu cầu giáo dục kỹ năng sống phù hợp với đặc điểm của địa phương 89

3.2.2 Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy học cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý nhà trường 97

3.2.3 Trang bị đầy đủ hệ thống thiết bị và CSVC phục vụ giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 101 3.2.4 Tạo ra sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong việc thực hiện giáo dục KNS thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 102

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 105

3.4 Khảo nghiệm tính khả thi và sự cần thiết của các biện pháp đề xuất 106 Tiểu kết chương 3 110

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Dương của Liên hợp quốc

Trang 10

hợp quốc

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tăng trưởng kinh tế của thành phố thời kỳ 2014 - 2016

(Tỷ đồng, %) 54 Bảng 2.2 Thực trạng nhận thức của CBQL về việc giáo dục KNS cho trẻ

mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 59 Bảng 2.3 Thực trạng nhận thức của GV về việc giáo dục KNS cho trẻ mẫu

giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 60 Bảng 2.4 Thực trạng nội dung giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở

các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 60 Bảng 2.5 Thực trạng hình thức giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở

các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 65 Bảng 2.6 Thực trạng phương pháp giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo 5 - 6

tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 66 Bảng 2.7 Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch giáo dục KNS thông qua

hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 70 Bảng 2.8 Thực trạng tổ chức thực hiện quản lý gáo dục KNS thông qua

hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 73 Bảng 2.9 Thực trạng về chỉ đạo quá trình thực hiện giáo dục KNS thông

qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 76 Bảng 2.10 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá và quản lý các điều kiện

hỗ trợ trong việc giáo dục KNS thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 78 Bảng 2.11 Nguyên nhân ảnh hưởng đến giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo 5 -

6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 83

Trang 12

Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lý giáo dục

KNS cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 107 Bảng 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục

KNS cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 108

Trang 13

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Các chức năng quản lý 14 Biểu đồ 2.1: Bản đồ hành chính thành phố Việt Trì, Phú Thọ 53

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thế kỷ XXI, thế kỷ của nền văn minh trí tuệ với tốc độ phát triển mạnh

mẽ trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã có ảnh hưởng đến nhân cách của thế hệ trẻ Điều này đã làm cho các nhà giáo dục luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề giáo dục trẻ ở mọi lĩnh vực nhất là việc giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ nói chung và cho trẻ mầm non nói riêng Công tác giáo dục kỹ năng sống nhằm cung cấp cho học sinh nói chung và trẻ mầm non nói riêng những kỹ năng để giải quyết các tình huống trong cuộc sống là điều hết sức cần thiết Không những thế, kỹ năng sống cũng là một phần quan trọng góp phần hoàn thiện nhân cách con người trong xã hội hiện đại bởi muốn thành công trong cuộc sống đòi hỏi con người không chỉ có tri thức mà còn phải có kỹ năng sống tốt Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống vừa là mục tiêu vừa là nhiệm vụ cho sự phát triển nhân cách của trẻ

Bộ GD&ĐT cho rằng kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp trẻ thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Có thể dạy và hình thành cho trẻ lứa tuổi mầm non một số nhóm kỹ năng sống như: Nhóm kỹ năng chăm sóc bản thân, nhóm

kỹ năng nhận thức, nhóm kỹ năng giao tiếp, nhóm kỹ năng cảm xúc, là điều rất cần thiết Trong quá trình phát triển nhân cách nếu trẻ sớm được hình thành và tôn vinh những giá trị đích thực của mình thì trẻ sẽ phát triển nhân cách được toàn diện, bền vững có khả năng thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống Trẻ em ở lứa tuổi mầm non đang trong giai đoạn học hỏi, khám phá, tiếp thu, lĩnh hội những giá trị sống để phát triển nhân cách nên việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ để trẻ có nhận thức đúng và có hành vi ứng xử phù hợp là điều quan trọng Với tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nên hiện nay Việt Nam đang đặc biệt quan tâm đến giáo

Trang 15

dục kỹ năng sống cho học sinh nói chung và trẻ mầm non nói riêng Vì vậy, nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được đưa vào chương trình giáo dục ở tất

cả các trường học từ cấp học mầm non đến các trường Cao đẳng, Đại học Tuy nhiên, việc triển khai giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở tất cả các trường nhất là các trường mầm non vẫn còn gặp khá nhiều khó khăn như: chưa có định nghĩa rõ ràng và đầy đủ về kỹ năng sống nên chưa đưa ra được tiêu chuẩn cụ thể để áp dụng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ một cách đồng bộ trong trường học; vấn đề giáo dục kỹ năng sống còn mới, chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm, hiệu quả của giáo dục kỹ năng sống chưa rõ ràng Bên cạnh đó, giáo viên mầm non chưa được đào tạo bồi dưỡng về việc tổ chức các hoạt động dạy và hình thành những kỹ năng sống cho trẻ một cách cụ thể nên việc đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống vào dạy trẻ cho phù hợp còn là nỗi trăn trở của nhiều giáo viên và cán bộ quản lý,

Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở trong các hoạt động là điều cần thiết Xong việc tích hợp dạy kỹ năng sống cho trẻ vào thời điểm nào để mang lại hiệu quả cao nhất và tốt nhất cho trẻ là điều chúng ta cần quan tâm? Mà trẻ mầm non hoạt động chủ đạo là vui chơi nên việc cung cấp kỹ năng sống cho trẻ được tích hợp trong các hoạt động học, ăn, ngủ, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, Trong đó, dạy kỹ năng sống cho trẻ trong hoạt động ngoài trời đạt kết quả tốt bởi ở hoạt động này trẻ được trải nghiệm thực tế trong không gian rộng rãi, phong phú, Xong việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời là một việc rất khó khăn bởi đây là một hoạt động cần phải có lượng thời gian nhất định và phải được tổ chức trong một không gian hợp lý Thêm vào đó, mỗi giáo viên ngoài nghiên cứu chuyên môn thì còn phải tìm cho mình những nội dung để giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời trong khi còn nhiều nội dung rất khó tích hợp giáo dục

kỹ năng sống sao cho hợp lý, khoa học và gây được hứng thú cho trẻ Vì vậy,

Trang 16

công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mầm non đặc biệt trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là rất cần thiết bởi trẻ ở độ tuổi này là tiền

đề cho trẻ chuẩn bị bước vào bậc học cao hơn - bậc học tiểu học vì khi tìm ra được cách thức để quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ một cách hợp lý mới có thể hình thành kỹ năng, nâng cao nhận thức, phát triển tình cảm, niềm tin, thái độ, hành vi, thói quen, bản lĩnh, tính tích cực chủ động sáng tạo của trẻ mầm non và nhất là với trẻ 5 - 6 tuổi Hiện nay, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong trường mầm non nói chung và các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nói riêng đặc biệt dạy kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi còn nhiều hạn chế do giáo viên chưa được đào tạo chuyên sâu về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, vốn kinh nghiệm dạy kỹ năng sống cho trẻ của giáo viên còn nghèo nàn, điều kiện

cơ sở vật chất để phục vụ việc dạy kỹ năng sống thiếu thốn, sự năng động sáng tạo của giáo viên còn hạn chế Vì vậy, muốn công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đạt hiệu quả thì đòi hỏi phải có sự thay đổi toàn diện về mọi mặt như: điều kiện cơ sở vật chất, trình độ giáo viên,… Chính vì các lí do trên

tác giả đã chọn đề tài “Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động

ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mầm non, tác giả đề xuất một số biện pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Trang 17

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lí giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

4 Giả thiết khoa học

Trong thực tiễn, công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ còn nhiều hạn chế nên kết quả đạt được chưa cao Nếu các nhà trường có những biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời một cách khoa học, hợp lý, có tính khả thi thì giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ sẽ đạt hiệu quả cao theo mục tiêu mong muốn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu lý luận của công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

5.2 Đánh giá thực trạng quản lí giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lí giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn nghiên cứu: Luận văn tập chung nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

Trang 18

- Phạm vi nghiên cứu: 6 trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong 4 năm học 2012 - 2013, 2013 - 2014, 2014 - 2015 và

2015 - 2016

- Đối tượng khảo sát: Gồm 20 cán bộ quản lý và 80 giáo viên ở các trường mầm non thuộc phường Nông Trang, Gia Cẩm, Tiên Cát, Hùng Lô, Bạch Hạc, Thụy Vân trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

- Chủ thể quản lý: Hiệu trưởng

7 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận: Gồm phương pháp phân

tích, tổng hợp, khái quát hóa,… được sử dụng để hệ thống các vấn đề lý luận của đề tài

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Bao gồm các phương pháp điều tra, thu thập thông tin, phương pháp quan sát, phương pháp trò chuyện, phỏng vấn, phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, được sử dụng để tìm hiểu thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

7.3 Nhóm các phương pháp xử lý thông tin: Gồm các phương pháp phân

tích số liệu, phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lý các tài liệu thu thập được

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mầm non

Trang 19

Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ

Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản

lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5

- 6 tuổi ở các trường mầm non trong thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI CHO TRẺ MẦM NON 1.1 Sơ lược vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Từ xa xưa, kỹ năng sống và vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho con người

đã xuất hiện và được nhiều người quan tâm như: Học ăn, học nói, học gói, học mở, học chữ để làm người, học để đối nhân xử thế, học để đối phó với thiên nhiên Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm phù hợp với đời sống và giai cấp của xã hội ở những thời điểm khác nhau

Kỹ năng sống có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO (Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc) cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội ở trong nước và ngoài nước Ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng

đó Trong chương trình này chỉ giới thiệu những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng xác định giá trị

Từ năm 1997, ở Lào bắt đầu quan tâm Giáo dục kỹ năng sống với cách tiếp cận nội dung quan tâm đến giáo dục cách phòng chống HIV/AIDS được tích hợp trong chương trình giáo dục chính quy Năm 2001 giáo dục kỹ năng sống ở Lào được mở rộng sang các lĩnh vực như: Giáo dục dân số, giới tính, sức khỏe, sinh sản, vệ sinh cá nhân, giáo dục môi trường,

Giáo dục Kỹ năng sống ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực sống của con người, kỹ năng làm việc Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống

Trang 21

được triển khai theo hướng là giáo dục các kỹ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hàng ngày và kỹ năng nghề nghiệp

Giáo dục kỹ năng sống ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, kỹ năng sống trong đời sống gia đình

Ở Bangladesd: Giáo dục kỹ năng sống được khai thác dưới góc độ các

kỹ năng hoạt động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tương lai

Ở Ấn Độ: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em được xem xét dưới góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh về thể chất, tinh thần nhằm phát triển năng lực Các kỹ năng sống được khai thác là các kỹ năng: Giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan hệ liên nhân cách,

Ở Mỹ: Giáo dục kỹ năng sống ở Mỹ thể hiện qua các bài học sẽ được lồng ghép vào nhiều tiết học khác nhau như đọc sách, tổ chức dã ngoại,… chứ không có một cuốn sách nào nói về giáo dục KNS một cách chuyên biệt Tuy nhiên, theo quan điểm người Mỹ thì cho rằng giáo dục KNS cho trẻ phải bắt đầu ngay từ khi trẻ còn nhỏ và có thể dạy trẻ những kỹ năng đơn giản như: kỹ năng tự lập, lễ phép, tôn trọng,…

Ở Nhật Bản: Là một quốc gia rất coi trọng vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ngày từ những năm đầu đời Ở Nhật Bản không có môn học kỹ năng sống riêng lẻ mà việc dạy kỹ năng sống được thông qua các môn học khác giống như ở Mỹ xong Nhật Bản đặc biệt chú trọng giáo dục KNS qua môn đạo đức ở trong trường học Người Nhật Bản quan niệm rằng gia đình mới là nơi đầu tiên ươm mầm sống cho những kỹ năng của trẻ Một số kỹ năng người Nhật trú trọng giáo dục đó là: Kỹ năng sinh tồn, kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng giao tiếp - ứng xử, kỹ năng tự lập cho trẻ

Trang 22

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Giáo dục kỹ năng sống là yếu tố quan trọng góp phần đổi mới toàn diện nền giáo dục đào tạo gắn với 4 mục tiêu quan trọng của giáo dục đó là: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để khẳng định mình

Khái niệm “Kỹ năng sống” thực sự được hiểu với nội hàm đa dạng sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF, Viện chiến lược

và chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23-25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội Từ đó, người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về

kỹ năng sống

Từ năm học 2002-2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông trong cả nước Trong chương trình Tiểu học đổi mới đã hướng đến giáo dục kỹ năng sống thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm năng như: Giáo dục đạo đức, tự nhiên - xã hội (ở lớp 1 - 3) và môn Khoa học (ở lớp 4 - 5) Kỹ năng sống được giáo dục thông qua một số chủ đề “Con người

và sức khỏe”

Đề tài cấp bộ của TS Nguyễn Thanh Bình [2] nghiên cứu về “Thực trạng kỹ năng sống cho trẻ em và đề xuất một số giải pháp về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em” Ở đề tài này, tác giả đã phân tích thực trạng kỹ năng sống cho trẻ em và đề xuất một số giải pháp thiết yếu về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong giai đoạn hiện nay

Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác như:

- Tác giả Từ Thanh Nguyên với đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý và tổ chức văn hóa - giáo dục “Những biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em của Hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Trà Vinh” Tác giả đã khái quát về thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường THPT tỉnh Trà Vinh trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp về nâng cao nhận thức, tổ

Trang 23

chức hình thức quản lý, tăng cường đánh giá chất lượng giáo dục kỹ năng sống [ 15]

- Tác giả Nguyễn Văn Trung với đề tài luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục: “Công tác quản lý của Hiệu trưởng trong việc tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em ở các trường THPT huyện Châu Thành, Đồng Tháp” Đề tài luận văn Thạc sỹ khoa học quản lý giáo dục này đã phân tích thực trạng công tác quản lý của Hiệu trưởng trong công tác tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em ở các trường THPT huyện Châu Thành, Đồng Tháp Trên cơ sở đó đưa

ra một số giải pháp phát huy tiềm năng của cán bộ quản lý trường học [24]

- Tác giả Nguyễn Xuân Hùng (2009) nghiên cứu đề tài “Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa” Đề tài đã phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú như nâng cao nhận thức, cải tiến hình thức giáo dục, phương thức và tăng cường nội dung giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên

- Tác giả Lữ Thị Kim Hoa (2012) có thực hiện đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em các trường tiểu học quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng” Tác giả đã phân tích thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp như: giải pháp phát huy tiềm năng của cán bộ, giáo viên và nhu cầu rèn luyện của trẻ em, kế hoạch công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em

Nói tóm lại, giáo dục kỹ năng sống cho con người nói chung, cho trẻ em nói riêng đã được các nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm, khai thác, nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên, vấn đề quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em đặc biệt trẻ mẫu giáo lớn thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu

Trang 24

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm quản lý

Từ khi xã hội loài người hình thành thì hoạt động tổ chức, quản lý đã được quan tâm Hoạt động quản lý được bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến

sự phong phú về quan niệm Sau đây là một số khái niệm thường gặp:

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [ 17, tr.55] Theo Đảng cộng sản Việt Nam: Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và lý Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển” [8, tr.78]

Theo tác giả Hà Thế Ngữ thì: Quản lý là quá trình làm việc với nhau và thông qua những người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động” [15, tr.36]

Như vậy, khái niệm quản lý chúng ta có thể hiểu như sau: Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung Bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng

Trang 25

1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục

* Khái niệm:

Quản lí giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành, người nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới khái niệm giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục nói chung mà hệ thống đó là các cơ sở trường học Về khái niệm quản lý giáo dục các nhà nghiên cứu đã quan niệm như sau:

- Theo tác giả Trần Thị Trọng: “Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất tiến lên trạng thái chất lượng mới về chất” [22,tr.68]

- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ

- Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn: Đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất [17, tr.89]

Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy quản

lý giáo dục từ Trung ương đến Địa phương, còn đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục đào tạo Hiểu một cách cụ thể là:

- Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý

- Quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên, trẻ em và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối

Trang 26

hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục đích đã định

- Trên cơ sở lý luận chúng ta thấy rằng thực chất của nội dung quản lý hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động cuả trẻ em nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của trẻ em

Tóm lại: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp

quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”

* Chức năng quản lý giáo dục:

Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý Quản lý có các chức năng cơ bản, chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau Hiện nay, đa số các nhà khoa học và các nhà quản lý cho rằng quản lý có 4 chức năng cơ bản, đó là:

- Chức năng lập kế hoạch: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý Từ trạng thái xuất phát của hệ thống, căn cứ vào mọi tiềm năng đã có

và sẽ có, dự báo trạng thái kết thúc của hệ thống, vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động vào cuối năm học

- Chức năng tổ chức: Là giai đoạn tổ chức thực hiện kế hoạch đã được xây dựng Tổ chức là sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, bộ phận nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch Nếu người quản lý biết cách tổ chức có hiệu quả, có khoa học thì sẽ phát huy được sức mạnh của tập thể

- Chức năng chỉ đạo: Là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, là phương thức tác động của chủ thể quản lý, điều hành mọi việc nhằm đảm bảo cho hệ vận hành thuận lợi Chỉ đạo là biến mục tiêu quản lý thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực

Trang 27

- Chức năng kiểm tra: Đây là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ quản lý Giai đoạn này làm nhiệm vụ là đánh giá, kiểm tra, tư vấn, uốn nắn, sửa chữa để thúc đẩy hệ đạt được những mục tiêu, dự kiến ban đầu và việc bổ sung điều chỉnh và chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo

Ngoài ra, còn chức năng điều chỉnh báo cáo

Biểu đồ 1.1: Các chức năng quản lý 1.2.3 Khái niệm quản lý nhà trường

Theo tác giả Trần Thị Trọng: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục - đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng trẻ em” [tr 24, 25]

Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh: “Quản lý nhà trường phổ thông là quản

lý và dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tới mục tiêu giá dục” [16, tr43]

Như vậy, Quản lý nhà trường là những hoạt động của chủ thể Quản lý (Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, nhân viên, tập thể trẻ em, cha mẹ trẻ em

và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

Trường học là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục và để tiến hành quá trình giáo dục đào tạo nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội

Kế hoạch

Kiểm tra

Chỉ đạo

Tổ chức

Trang 28

Thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai Trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục

cơ sở vừa mang tính chất giáo dục vừa mang tính chất xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương Như vậy “Quản lý trường học bao gồm xử lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường Người ta có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống gồm 6 thành tố Các thành tố này được chia ra làm 3 loại: Thành tố con người, thành tố tinh thần và thành tố vật chất

1.2.4 Khái niệm kỹ năng sống

* Khái niệm kỹ năng:

Nghiên cứu kỹ năng có rất nhiều quan điểm khác nhau, có thể đưa ra một

số quan điểm sau:

Theo L.Đ.Lêvitôv nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [13, tr45] (Tác giả Phạm Trọng Ngọ chủ biên) Theo ông, người có kỹ năng hành động là người có phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông còn nói thêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế

Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh thì: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn thì “Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động” [17, tr.28] Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt

Trang 29

được mục đích đặt ra cho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định

Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kỹ năng một cách chung nhất: Kỹ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra

* Khái niệm kỹ năng sống:

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về KNS Theo UNESCO định nghĩa: KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) cho rằng “KNS là những kỹ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn khỏe mạnh Đó là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống trong cuộc sống hàng ngày” Theo Quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF 1996), “KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới KNS bao gồm những kỹ năng cốt lõi như: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao thiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định

và kỹ năng đạt mục tiêu”

Theo tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) cho rằng: KNS gắn liền với 4 trụ cột của giáo dục đó là: học để biết, học làm người, học để chung sống với người khác và học để làm

Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến nhiều từ chương trình UNICEF (1996) “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV - AIDS cho thanh niên trong và ngoài trường” Khái niệm KNS được giới thiệu trong chương trình này bao gồm những KNS cốt lõi như: Kỹ năng nhận thức,

Trang 30

kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu Tham gia chương trình đầu tiên này có ngành giáo dục và hội chữ thập đỏ Sang giai đoạn 2 chương trình này mang tên : “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS” Ngoài ngành giáo dục còn có Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam Hội liên hiệp phụ nữ đã định nghĩa như sau: KNS là các kỹ năng thiết thực mà con người cần đến để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và hiệu quả Theo họ những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng ra quyết định, kỹ năng từ chối, kỹ năng thương thuyết, đàm phán, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng nhận biết Ở đây kỹ năng giao tiếp để chị em phụ nữ dễ hiểu hơn Khái niệm KNS được hiểu với nội dung, nội hàm đầy đủ và đa dạng hơn sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS được tổ chức từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm

2003 tại Hà Nội Đó là:

- Năng lực, hành vi tích cực làm cho cá nhân thích ứng và giải quyết có hiệu quả trước những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày

- Những kỹ năng có liên quan đến tri thức

- Năng lực thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống

Từ những quan hệ trên có thể thấy các quốc gia đều dựa trên quan niệm

về kỹ năng sống của các tổ chức quốc tế (WHO, UNESCO,UNICEF) nhưng

có tính khác biệt do điều kiện chính trị, kinh tế văn hóa của từng quốc gia Nội dung giáo dục KNS vừa đáp ứng những cái chung có tính chát toàn cầu vừa có tính chất đặc thù quốc gia Một số quốc gia coi trọng KNS như: kỹ năng tư duy, kỹ năng thích ứng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác và cạnh tranh, kỹ năng luân chuyển công việc Một số nước khác lại chú trọng đến kỹ năng xóa đói giảm nghè, kỹ năng phòng chống HIV/AIDS

Kỹ năng sống từ quan điểm giáo dục là tất cả những kỹ năng cần thiết trực tiếp giúp cá nhân sống thành công và hiệu quả, trong đó tích hợp những

Trang 31

khả năng, phẩm chất, hành vi tâm lý, xã hội và văn hóa phù hợp và đương đầu với những tác động của môi trường Những KNS cốt lõi cần nhấn mạnh

là kỹ năng tư duy, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng hợp tác

và cạnh tranh, kỹ năng thích ứng cao, kỹ năng làm chủ bản thân, kỹ năng tự nhận thức

Trong đề tài này chúng tôi hiểu: Kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản

thân cuả mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với

xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

* Phân loại kỹ năng sống:

Các nhà giáo dục Thái Lan xem kỹ năng sống là thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân đương đầu với tất cả tình huống hàng ngày một cách có hiệu quả và có thể đáp ứng với hoàn cảnh tương lai để có thể sống hạnh phúc, bao gồm: 1) Kỹ năng ra quyết định một cách đúng đắn; 2) kỹ năng sáng tạo; 3) kỹ năng giải quyết xung đột; 4)kỹ năng phân tích và đánh giá tình hình; 5) kỹ năng giao tiếp; 6) kỹ năng quan hệ liên nhân cách; 7) kỹ năng làm chủ cảm xúc, 8) kỹ năng làm chủ được cú sốc; 9) kỹ năng đồng cảm; 10) kỹ năng thực hành

Người Ấn Độ hiểu KNS là những khả năng tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người, gồm có: kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đàm phàn, kỹ năng đối phó với tình trạng căng thẳng, kỹ năng từ chối , kỹ năng kiên định, hài hòa và kỹ năng ra quyết định

Philipine cho rằng kỹ năng sống là những năng lực thích ứng và tích cực của hành vi giúp cho cá nhân đối phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày, gồm 11 kỹ năng sau: 1) Kỹ năng tự nhận thức; 2) kỹ năng đồng cảm; 3) Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả; 4) kỹ năng quan hệ liên nhân cách; 5) kỹ năng ra

Trang 32

quyết đinh; 6) Kỹ năng giải quyết vấn đề; 7) kỹ năng tư duy sáng tạo; 8) kỹ năng tư duy phê phán; 9) kỹ năng ứng phó; 10) kỹ năng làm chủ cảm xúc và căng thẳng; 11) kỹ năng làm doanh nghiệp

Theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trâm hiểu “Kỹ năng là bất kỳ kỹ năng nào góp phần phát triển xã hội kinh tế, chính trị, văn hóa, tinh thần và tạo quyền cho cá nhân trong cuộc sống hàng ngày của họ và giúp xóa bỏ nghèo đói dẫn đến phẩm cách và cuộc sống hạnh phúc trong xã hội” [ 21, tr.29] Đó

là những giá trị tinh thần, Niềm tin và thực hành; Cầu nguyện và những thực hành tôn giáo khác; Truyền thống xã hội; Ra quyết định; Giải quyết vấn đề; Giao tiếp liên nhân cách; lãnh đạo; Đào tạo kỹ năng nghề nghiệp; Hệ thống tín dụng nhỏ; Hợp tác; Những hoạt động thúc đầy văn hóa; Trao đổi giữa những nền văn hóa; Văn hóa địa phương; tính thống nhất và cái riêng biệt về văn hóa; các nhóm kỹ năng sống từ các góc độ xã hội

Kỹ năng nhận thức bao gồm các kỹ năng cụ thể như tư duy phê phán,

tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, ra quyết định, xác định mục tiêu, định hướng giá trị

+ Các nhóm kỹ năng sống từ góc độ giáo dục giá trị (UNESCO) bao gồm: Vệ sinh, thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng, các vấn đề về giới tính, sức khỏe sinh sản; ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS; phòng tránh rượu và thuốc lá; ngăn ngừa thiêu tai, bạo lực và rủi ro; hòa bình và giải quyết xung đột; gia đình và cộng đồng; giáo dục công dân; bảo vệ thiên nhiên; môi trường; phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ

+ Các nhóm KNS từ góc độ giáo dục hành vi xã hội (UNICEF): Theo UNICEF thì KNS được phân thành 3 nhóm đó là:

Nhóm 1: Nhóm kỹ năng xã hội gồm có: Kỹ năng giao tiếp (Truyền thông bằng lời và không bằng lời, Lắng nghe tích cực, Biểu lộ cảm xúc, phản hồi,

Kỹ năng quan hệ, tương tác liên nhân cách); Kỹ năng đàm phán, thương

Trang 33

lượng, từ chối (Thương lượng và xử lý mâu thuẫn, Kỹ năng tự khẳng định,

Kỹ năng từ chối); Kỹ năng quan hệ xã hội; Kỹ năng làm việc nhóm/ hợp tác;

Kỹ năng thấu cảm; Kỹ năng động viên (Kỹ năng ảnh hưởng và thuyết phục,

Kỹ năng tạo mạng lưới và động viên)

Nhóm 2: Nhóm kỹ năng phát triển nhận thức gồm: Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề (Kỹ năng thu thập thông tin, Đánh giá hệ quả tương lai của những hành động hiện tại đối với bản thân và người khác, Xác định các giải pháp khác nhau cho vấn đề, Kỹ năng phân tích ảnh hưởng của các giá trị, thái độ, động cơ của bản thân và người khác); Kỹ năng suy nghĩ có phán đoán; Kỹ năng tư duy, sáng tạo

Nhóm 3: Nhóm kỹ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân gồm:

Kỹ năng quản lý căng thẳng (Quản lý thời gian, Tư duy tích cực, Kỹ thuật thư giãn); Kỹ năng quản lý cảm xúc (Làm chủ sự tức giận, Xử lý những đau buồn

và lo âu, Đối phó với những sự mất mát, lạm dụng, chấn thương); Kỹ năng tự điều chỉnh (Ý thức về giá trị bản thân/ Kỹ năng xây dựng sự tự tin, Ý thức về bản thân bao gồm Ý thức về quyền, ảnh hưởng, giá trị, thái độ, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân)

+ Các nhóm kỹ năng sống theo những quan điểm khác nhau:

Bên cạnh cách phân loại về KNS của tổ chức UNICEF thì có nhiều tổ chức khác cũng có sự phân chia về KNS Mỗi tổ chức khác nhau đều có sự phân chia KNS khác nhau Điều đó được thể hiện:

Theo tổ chức ESCAP (Hội đồng kinh tế xã hội Châu Á Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc) thì phân loại KNS thành 3 dạng đó là: Kỹ năng sống để phát triển cá nhân; Kỹ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác; Kỹ năng công nghệ thông tin

Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) thì KNS được phân loại thành 3 loại:

Trang 34

Một là: Các kỹ năng cơ bản: Kỹ năng đọc, viết, tính toán cho các chức năng hàng ngày

Hai là: Các kỹ năng chung (Kỹ năng nhận thức, kỹ năng cảm xúc, kỹ năng xã hội) như các kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp,…

Ba là: Các kỹ năng trong tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống xã hội như các vấn đề về giới, giới tính; các vấn đề về phòng chống ma túy, rượu, thuốc lá; các vấn đề về môi trường, phòng chống bạo lực; …… Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì các KNS được phân loại thành

3 nhóm:

Nhóm 1: Nhóm các kỹ năng nhận thức gồm Kỹ năng tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, ra quyết định,… Nhóm 2: Nhóm các kỹ năng xã hội gồm kỹ năng giao tiếp, kỹ năng cảm thông, kỹ năng hợp tác

Nhóm 3: Nhóm kỹ năng cảm xúc gồm kỹ năng ứng phó với cảm xúc, kỹ năng ứng phó với căng thẳng, tự giám sát và điều chỉnh cảm xúc,…

Nói tóm lại, phân loại KNS có nhiều cách phân loại khác nhau xong việc phân loại KNS chỉ mang tính tương đối, tùy thuộc vào khía cạnh xem xét và đặc thù của từng quốc gia Qua một số cách phân loại trên thấy rằng cách phân loại của tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) dễ hiểu hơn

cả, phù hợp với việc tổ chức giáo dục KNS

1.2.5 Khái niệm giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục KNS chính là quá trình hình thành, rèn luyện và phát triển cho người học khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người xung quanh trong cộng đồng xã hội và ứng phó tích cực trước các tình huống trong cuộc sống

Hiểu theo nghĩa rộng, giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các

Trang 35

quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm của xã hội loài người

Theo nghĩa hẹp “Giáo dục là hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành những phẩm chất, quan điểm, niềm tin cho con người về các phương diện đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, lao động”

Trong luận văn này, giáo dục kĩ năng sống chính là quá trình hình thành, rèn luyện và phát triển cho trẻ khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người xung quanh trong cộng đồng xã hội và ứng phó tích cực trước các tình huống trong cuộc sống

1.3 Giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ mầm non lớp 5 - 6 tuổi

* Khái niệm kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời

Hoạt động ngoài trời là hoạt động không thể thiếu trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ Bởi thông qua đó, trẻ được tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên, hít thở bầu không khí trong lành, đồng thời được khám phá, thỏa mãn tính tò mò của trẻ

Giai đoạn bé đi nhà trẻ (2- 6 tuổi) là giai đoạn phát triển quan trọng trong cuộc đời của bé Ở giai đoạn này, trẻ hình thành, phát triển giao tiếp xã hội, phát triển về mặt tư duy, trí tuệ, thể chất và nhiều kĩ năng khác Nếu không được tham gia các hoạt động ngoài trời sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý, tình cảm, kĩ năng giao tiếp trẻ, có thể khiến trẻ mất tự tin, thiếu sự linh hoạt, khó hòa đồng một lợi ích quan trọng của các hoạt động ngoài trời là tăng cường kĩ năng giao tiếp của trẻ, sẽ tiếp xúc, làm quen, nói chuyện với các bạn trong lớp, từ đó giúp trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp Ngoài ra, trẻ dễ dàng thích nghi, hòa nhập khi đến với các môi trường khác Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động ngoài trời có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ của trẻ

Trang 36

Hoạt động ngoài trời bao gồm các hoạt động có chủ đích (nhằm rèn luyện một số kiến thức, kĩ năng cho trẻ một cách khoa học, theo đúng mục tiêu của chương trình); các hoạt động giúp trẻ nhận biết và làm quen với môi trường và cuộc sống xung quanh Có thể nói khi trẻ tham gia hoạt động ngoài trời khi trẻ đùa, cười nói, chạy nhảy thực chất là trẻ khám phá, học hỏi

và có điều kiện phát triển tốt nhất những cảm xúc tích cực của mình

Bên cạnh đó, khi trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời là trẻ được trải nghiệm với cuộc sống thực, trẻ được vận động chạy nhảy, vui đùa cùng với các trò chơi vận động cô giáo tổ chức cũng như với các thiết bị đồ chơi ngoài trời giúp cho trẻ phát triển thể chất tốt nhất, tiêu hao năng lượng làm cho trẻ ăn được nhiều hơn, ngủ sẽ ngon giấc hơn Đồng thời, trẻ còn được hít thở bầu không khí trong lành làm cho đầu óc trẻ thấy thoải mái hơn, sảng khoái hơn từ đó làm cho trẻ tiếp thu bài học trong lớp được nhẹ nhàng

và đạt kết quả cao

Hoạt động ngoài trời không chỉ giúp bé phát triển thể chất mà đây còn là môi trường lý tưởng cho trẻ được phát triển ngôn ngữ Bởi các hoạt động ngoài trời tăng cường kĩ năng giao tiếp của trẻ Trẻ sẽ tiếp xúc, làm quen, nói chuyện với các bạn trong lớp, từ đó giúp trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp Ngoài ra, trẻ sẽ dễ dàng thích nghi, hòa nhập khi đến các môi trường khác.Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động ngoài trời có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ của trẻ

Như vậy khái niệm kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài trời được hiểu là quá trình hình thành rèn luyện và phát triển cho trẻ các kĩ năng thông qua các hoạt động có chủ đích, nhằm rèn luyện một số kiến thức, kỹ năng cho trẻ một cách khoa học, theo đúng mục tiêu của chương trình Các hoạt động giúp trẻ nhận biết và làm quen với môi trường và cuộc sống xung quanh

Trang 37

1.3.1 Vai trò của giáo dục KNS và của công tác quản lí giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo lớp 5 - 6 tuổi trong giai đoạn hiện nay

1.3.1.1 Giáo dục KNS cho trẻ mầm non nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay

Đặc điểm cuả trẻ MG 5 - 6 tuổi đã hình thành nhân cách, cho nên trẻ có khả năng khám phá và tìm hiểu khả năng của mình, hiểu được thái độ của những người xung quanh, có phản xạ vui, buồn về thành công và thất bại xong kĩ năng, kiến thức của trẻ chỉ ở mức độ đơn giản Trong giai đoạn cuối tuổi mẫu giáo trẻ bắt đầu biết hành động theo mục đích, biết lập kế hoạch để thực hiện, tuy nhiên trẻ chưa biết đánh giá kết quả thực hiện Tư duy lô gic cũng xuất hiện ở độ tuổi này, trẻ có khả năng lĩnh hội một số khái niệm khoa học đơn giản Vì vậy, khi dạy trẻ người lớn cần kết hợp với lời giải thích Trong trường MN, việc giáo dục KNS cho trẻ được thực hiện thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ như: giờ đón trẻ, thể dục sáng, giờ hoạt động chung, hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trời những hoạt động nối tiếp nhau và được lặp lại hàng ngày Thông qua hoạt động này cô giáo thực hiện nhiều yêu cầu giáo dục KNS cho trẻ, dạy trẻ biết quan tâm, tự tin, tự ý thích, tôn trọng mọi người xung quanh, giáo dục tinh thần tự lực, tự giác, ý thức kỷ luật, trật tự trong sinh hoạt hành vi văn minh, giữ gìn vệ sinh, giáo dục tình thương, quan hệ đoàn kết thân ái với bạn bè, biết yêu mến và tôn trọng người lớn, tinh thần chăm sóc và giữ gìn của công cũng như của riêng mình Việc giáo dục KNS ở trường mầm non, sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực cho trẻ; đồng thời tạo những tác động tốt đối với các mối quan hệ giữa thầy và trò, bạn bè với nhau; giúp tạo nên sự hứng thú trong học tập cho trẻ đồng thời giúp hoàn thành nhiệm vụ của giáo viên một cách đầy

đủ hơn và đề cao các chuẩn mực đạo đức, góp phần nâng cao vị trí của nhà trường trước yêu cầu đổi mới GDMN ở nước ta hiện nay

Trang 38

1.3.1.2 Giáo dục KNS góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của trường mầm non

Mục tiêu của giáo dục KNS nói chung và giáo dục kĩ năng xử lý tình huống, kĩ năng ra quyết định cho trẻ em nói riêng là làm thay đổi hành vi của con người từ thói quen sống thụ động, có thể gây rủi ro mang lại hiệu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thần và góp phần phát triển bền vững cho xã hội

Trang bị cho các em những kiến thức hiểu biết về một số chuẩn mực về hành vi đạo đức và nhận thức trong mối quan hệ của các em với những tình huống cụ thể, những lời nói việc làm của bản thân với những người thân trong gia đình với bạn bè và công việc của lớp, của trường; với Bác Hồ và những người có công với đất nước; với dân tộc, với hàng xóm láng giềng, với bạn bè quốc tế; với cây trồng vật nuôi và nguồn nước

Giúp trẻ em vận động, rèn luyện những kĩ năng nói, nhận xét, nhận thức, lựa chọn, thực hiện hành vi ứng xử và quyết đoán

Giúp trẻ em có những nhận thức đúng đắn về lời nói việc làm của bản thân, tự tin vào khả năng của bản thân, yêu thương ông bà, cha mẹ, anh chị và bạn bè, biết ơn Bác Hồ và các thương binh liệt sỹ, biết đoàn kết bạn bè và biết bảo vệ môi trường

Chính những mục tiêu trên và việc giáo dục kĩ năng xử lý tình huống, kĩ năng ra quyết định cho trẻ mầm non, kĩ năng sinh tồn, bé biết lễ phép, có ý nghĩa quan trọng với cuộc sống nói chung và chính bản thân các em nói riêng KNS như là cây cầu nối giúp con người vượt qua những bến bờ của thử thách, ứng phó với những thay đổi của cuộc sống hàng ngày

Giáo dục kĩ năng cho trẻ mầm non giúp cho trẻ phát triển kỹ năng cá nhân, kỹ năng nhóm, kỹ năng tập thể

Trang 39

Giáo dục KNS cho trẻ MN giúp các bé bắt đầu làm quen với các kỹ năng như giao tiếp, thích nghi, khám phá thế giới xung quanh, kỹ năng tự chăm sóc bản thân, kỹ năng tạo niềm vui, tự bảo mình, kỹ năng làm việc nhóm, và kỹ năng tự quyết định một số tình huống phù hợp với lứa tuổi

1.3.1.3 Giáo dục KNS là quá trình chuẩn bị hành trang cho trẻ em thích ứng với những thách thức của cuộc sống hội nhập và phát triển

Trong cuộc sống hiện nay, kỹ năng sống là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho con người hoàn thiện hơn, vững vàng hơn trước những khó khăn, thử thách Vì vậy, việc giáo dục KNS là điều không thể thiếu trong mỗi nhà trường đặc biệt trong môi trường giáo dục cho trẻ ở độ tuổi mầm non bởi đây chính là nơi chuẩn bị cho trẻ những kỹ năng đơn giản, thiết thực, gần gũi với trẻ Tuy nhiên, ta nhận thấy rằng giữa nhận thức và hành vi của con người

có khoảng cách nhất định Do vậy, KNS là cầu nối giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi tích cực lành mạnh để thích ứng với những thay

đổi trong cuộc sống

Đặc biệt, trong cuộc sống hội nhập phát triển hiện nay, ta dễ dàng nhận thấy rằng người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng, tự tin biết ứng xử tích cực và phù hợp với những biến cố xảy ra từ đó cơ hội họ sẽ thành công nhiều hơn Còn người giáo dục KNS còn nhiều hạn chế thì thường hay bị vấp ngã,

dễ bị thất bại trong cuộc sống làm cho ý trí, tinh thần của họ bị giảm dẫn đến chán nản

Bên cạnh việc chuẩn bị hành trang cho cá nhân, giáo dục KNS còn góp phần ngăn ngừa các vấn đề xã hội có thể xảy ra, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống trong xã hội

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định: Giáo dục KNS là điều kiện tốt nhất để trẻ em phát triển kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thích nghi, kỹ năng khám phá thế giới xung quanh và kỹ năng tự chăm sóc bản thân và có vai

Trang 40

trò, ý nghĩa quan trọng, giáo dục KNS thực sự là một bộ phận hữu cơ của hệ thống hoạt động GD ở trường Mầm non góp phần vào việc phát triển toàn diện cho trẻ

1.3.1.4 Quản lý giáo dục KNS sẽ nâng cao hiệu hiệu quả của giáo dục KNS, nâng cao chất lượng giáo dục

- Giáo dục KNS cho trẻ mầm non nhằm đến các mục tiêu trang bị cho trẻ

em những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp để hình thành cho các

em những hành vi, thói quen lành mạnh tích cực

- Giáo dục KNS cho trẻ em còn tạo cơ hội thuận lợi cho các em thực hiện tốt quyền, bổn phận cuả mình, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức

- Quản lý tốt công tác giáo dục KNS chính là góp phần phát triển nhân cách cuả trẻ em cũng như nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

KNS như là một cây cầu nối giúp cho con người vượt qua những bến bờ của thử thách, ứng phó với những thay đổi của cuộc sống hàng ngày

1.3.1.5 Quản lý giáo dục KNS góp phần phát huy tiềm năng của nhà trường và xã hội, tạo ra sự thống nhất trong hoạt động giáo dục KNS nói riêng, thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em mầm non nói chung trong giai đoạn hiện nay

- Giáo dục KNS đòi hỏi có sự phối kết hợp tham gia của 3 môi trường giáo dục đó là gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội Trong sự phối kết hợp này nhà trường giữ vai trò chủ đạo

- Có kế hoạch tổng thể để huy động tích cực các nguồn lực trong và bên ngoài nhà trường phục vụ cho công tác giáo dục KNS

- Việc giáo dục KNS ở trường học sẽ giúp thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực cho người học, đồng thời tạo những mối quan hệ tích cực cho người học, đồng thời tạo những tác động tốt đối với các mối quan hệ giữa

Ngày đăng: 15/05/2018, 09:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w