Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Đào Gia Bản xã Thịnh Đức thành phố Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Đào Gia Bản xã Thịnh Đức thành phố Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Đào Gia Bản xã Thịnh Đức thành phố Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Đào Gia Bản xã Thịnh Đức thành phố Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Đào Gia Bản xã Thịnh Đức thành phố Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Đào Gia Bản xã Thịnh Đức thành phố Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Đào Gia Bản xã Thịnh Đức thành phố Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)
Trang 1Khóa học : 2013 - 2017
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 2Khoa : KT & PTNT Khóa học : 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Quốc Huy Cán bộ cơ sở hướng dẫn: Đào Gia Bản
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi sinh viên, đây là thời gian để sinh viên làm quen với công tác điều tra, nghiên cứu, áp dụng những kiến thức lý thuyết với thực tế, củng cố và nâng cao khả năng phân tích, làm việc sáng tạo của bản thân phục vụ cho công tác sau này Đồng thời đó là thời gian quý báu cho mỗi sinh viên có thể học tập nhiều hơn từ bên ngoài về cả kiến thức chuyên môn và những kỹ năng khác như giao tiếp, cách nhìn nhận công việc và thực hiện công việc đó như thế nào
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và nhu cầu bản thân đồng thời được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Kinh Tế và Phát Triển Nông Thôn, chúng tôi thực hiện đề
tài: “Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang
trại Đào Gia Bản xã Thịnh Đức - thành phố Thái Nguyên”
Trong quá trình thực hiện đề tài này, ngoài sự cố gắng nỗ lực hết mình của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của chủ trang trại, các kỹ sư, công nhân trong trang trại, các thầy cô giáo khoa Kinh Tế và Phát Triển Nông Thôn - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới: Ban chủ nhiệm Kinh Tế và Phát Triển Nông Thôn, thầy giáo Nguyễn Quốc Huy, chú Đào Gia Bản và toàn thể các anh chị trong trang trại đã hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này
Do kiến thức còn hạn hẹp nên trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã gặp không ít những khó khăn, do vậy mà đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Mã Thị Hà
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vii
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập 1
1.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện 4
1.3.1 Nội dung thực tập 4
1.3.2 Phương pháp thực hiện 4
1.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 4
1.3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 5
1.4 Thời gian và địa điểm thực tập 7
Phần 2: TỔNG QUAN 8
2.1 Cơ sở lý luận 8
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập 8
2.1.1.1 Khái niệm về tổ chức sản xuất 8
2.1.1.2 Các khái niệm về kinh tế trang trại 8
2.1.1.3 Bản chất của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng 12
2.1.1.4 Vai trò, đặc trưng của kinh tế trang trại 14
2.1.1.5 Tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại 17
2.2 Cơ sở thực tiễn 19
2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên thế giới 19
2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại tại Việt Nam và một số
địa phương 20
Trang 52.2.3 Kinh nghiệm của các địa phương 22
Phần 3: KẾT QUẢ THỰC TẬP 25
3.1 Quá trình hình thành và phát triển của trang trại Đào Gia Bản 25
3.1.1 Những thành tựu đã đạt được của trang trại Đào Gia Bản 26
3.1.2 Những thuận lợi và khó khăn của trang trại Đào Gia Bản 27
3.1.2.1 Thuận lợi 27
3.1.2.2 Khó khăn 28
3.2 Kết quả thực tập 29
3.2.1 Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Đào Gia Bản 29
3.2.1.1 Tìm hiểu về công ty TINH GRIMAUD Việt Nam 29
3.2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 30
3.2.1.3 Chi phí xây dựng trang trại cơ bản của trang trại 31
3.2.1.4 Tìm hiểu quy trình chăm sóc vịt trong trang trại 33
3.2.1.5 Công tác phòng dịch của trang trại Đào Gia Bản 37
3.2.1.6 Tìm hiểu hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi của trang trại 38
3.2.1.7 Các yếu tố đầu vào của trang trại Đào Gia Bản 39
3.2.1.8 Các yếu tố đầu ra 40
3.2.1.9 Chi phí hàng năm của trang trại 41
3.2.1.10 Quy trình vận hành chăn nuôi của trang trại Đào Gia Bản 42
3.2.1.11 Đánh giá hiệu quả kinh tế của trang trại 43
3.2.1.12 Phân tích SWOT 45
3.2.2 Các công việc thực tập tại trang trại 46
3.2.2.1 Nhặt trứng 46
3.2.2.2 Lau trứng và phân loại 47
3.2.2.3 Cho vịt ăn 48
3.2.2.4 Rửa chuồng vịt 49
3.2.2.5 Làm ổ đẻ cho vịt 50
3.2.2.6 Rắc trấu 50
3.2.2.7 Rắc vôi khử trùng 51
Trang 63.2.2.8 Lấy nước cho vịt con và pha thuốc 51
3.2.3 Tóm tắt kết quả thực tập 51
3.2.3.1 Tìm hiểu về công ty tinh Grimaud Viêtnam 51
3.2.3.2 Tìm hiểu cơ cấu tổ chức của trang trại Đào Gia Bản 51
3.2.3.3 Chi phí xây dựng trang trại cơ bản của trang trại 52
3.2.3.4 Tìm hiểu quy trình chăm sóc vịt trong trang trại 52
3.2.3.5 Công tác phòng dịch của trang trại Đào Gia Bản 52
3.2.3.6 Tìm hiểu hệ thống xử lý rác thải của trang trại 52
3.2.3.7 Các yếu tố đầu vào, đầu ra của trang trại Đào Gia Bản 53
3.2.3.8 Chi phí hàng năm của trang trại 53
3.2.3.9 Quy trình vận hành chuỗi giá trị chăn nuôi vịt của trang trại
Đào Gia Bản 53
3.2.3.10 Đánh giá hiệu quả kinh tế của trang trại 53
3.2.3.11 Phân tích SWOT 54
3.2.3.12 Các công việc thực tập tại trang trại Đào Gia Bản 54
3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế 54
3.4 Đề xuất giải pháp 55
3.4.1 Đối với công ty TINH GRYMAUD Việt Nam 55
3.4.2 Đối với trang trại 56
Phần 4: KẾT LUẬN 57
4.1 Kết luận 57
4.2 Kiến nghị 58
4.2.1 Đối với Nhà nước và địa phương 58
4.2.2 Đối với Công ty 59
4.2.3 Đối với chủ trang trại chăn nuôi 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
I Tiếng Việt 60
II Các tài liệu tham khảo từ Internet 60
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Số trang trại phân theo ngành hoạt động và phân theo địa phương
trong cả nước 20
Bảng 3.1 Chi phí xây dựng chuồng trại 31
Bảng 3.2 Chi phí đầu tư trang thiết bị 32
Bảng 3.3: Thức ăn hàng năm trang trại nhập từ công ty 39
Bảng 3.4: Lượng thuốc thú y hàng năm trang trại nhập từ các đại lý
và công ty thuốc thú y 39
Bảng 3.5 Chi phí hàng năm của trang trại Đào Gia Bản 41
Bảng 3.6 Hiệu quả kinh tế của trang trại 43
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức của trang trại Đào Gia Bản 30
Hình 3.2 Sơ đồ nguyên lý quy trình xử lý chất thải chăn nuôi 38
Hình 3.3 Các kênh tiêu thụ sản phẩm của trang trại 40
Hình 3.4 Sơ đồ quy trình chăn nuôi của trang trại 42
Trang 9: Nghị định - Chính phủ : Nông nghiệp - Phát triển nông thôn : Nghị quyết - Chính phủ
: Quyết định - Thủ tướng
: Quốc Hội khóa 10 : Quốc Hội khóa 12 : Trung học cơ sở : Trách nhiệm hữu hạn : Trang trại
: Trung Ương : Ủy ban nhân dân : Giá trị gia tăng
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập
Trong điều kiện phát triển kinh tế theo định hướng thị trường có sự quản lý của nhà nước, ngành nông nghiệp Việt Nam có vị trí vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước Nông nghiệp là một ngành sản xuất tạo ra hàng hóa nông sản cung cấp và phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài
Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến trong nông nghiệp, có hiệu quả cao và được hình thành từ lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam Để đáp ứng mục đích này, chủ trang trại cần phải sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó cơ bản nhất là: đất đai, vốn đầu tư, lao động, thông tin thị trường, Kinh tế trang trại đã tạo ra cho xã hội phần lớn sản phẩm hàng hóa về nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của con người
Từ lâu chăn nuôi được coi là một trong hai nghề chính của nông nghiệp nông thôn, và lâu dài không thể thiếu được vì chăn nuôi cung cấp trực tiếp thực phẩm cho gia đình và toàn xã hội, hỗ trợ phát triển trồng trọt Tận dụng lao động nông thôn trong mọi lứa tuổi, tiết kiệm, tích lũy vốn tăng thu nhập
cho người dân, tạo ra sự cân bằng sinh thái, nông nghiệp - nông thôn
Trong những năm gần đây chăn nuôi đã đạt được những tiến bộ đáng
kể về cải tiến con giống, chuồng trại, thức ăn, thú y và quy mô diện tích được
mở rộng Chăn nuôi hiện nay tụ tập các ưu thế của kinh nghiệm truyền thống, tiến bộ kỹ thuật, cơ chế thị trường Tiếp tục cải tiến về giống, kỹ thuật chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, sử dụng thức ăn công nghiệp Thực tế đã
Trang 11chứng minh kinh tế trang trại đã phát huy được vai trò to lớn, tạo ra sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn, phát triển KTTT đã khai thác sử dụng hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo, phân bổ lao động, dân cư không những vậy mà việc phát triển kinh tế trang trại còn góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế
KTTT của tỉnh Thái Nguyên nói chung và của xã Thịnh Đức nói riêng
đã được hình thành và phát triển từ lâu và ngày càng được chú trọng và được phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng Tuy nhiên bên cạnh đó vấn đề quy hoạch chăn nuôi còn dàn trải, chưa đồng bộ, việc phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi cũng gặp không ít những khó khăn như: chủ trang trại hầu hết còn thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật, thiếu vốn, khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm, lao động trang trại chưa qua đào tạo, thị trường các yếu tố đầu vào, đầu ra còn bấp bênh thiếu ổn định, nguy cơ gặp rủi ro cao
Việc tìm hiểu công tác tổ chức sản xuất tại trang trại để đề ra hướng giải pháp phát triển KTTT chăn nuôi trên địa bàn xã Thịnh Đức không chỉ giải quyết vấn đề thực tiễn đóng góp về kinh tế cho địa phương, mà còn nhận thức rõ vai trò to lớn của KTTT trong tiến trình CNH - HĐH nông nghiệp nông nghiệp nông thôn Để thấy rõ những ưu việt của kinh tế trang trại cũng
như những mặt hạn chế cần khắc phục tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm
hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Đào Gia Bản xã Thịnh Đức - thành phố Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu cụ thể
Về chuyên môn:
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại trang trại Đào Gia Bản xã Thịnh Đức - thành phố Thái Nguyên, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế trang trại
Trang 12- Bổ sung và hệ thống hóa lý luận cơ bản về tổ chức sản xuất trang trại chăn nuôi, tổng kết những loại hình sản xuất, kinh nghiệm phát triển hình thức tổ chức sản xuất kinh tế trang trại chăn nuôi ở Việt Nam nói chung và xã Thịnh Đức nói riêng
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong việc phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở xã Thịnh Đức - thành phố Thái Nguyên
- Xác định được cách thức tổ chức quản lý của chủ trang trại để đưa ra giải pháp phù hợp
- Phân tích được các hoạt động sản xuất của trang trại và vai trò của chủ trang trại trong hoạt động kinh doanh
- Đề xuất được một số biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi vịt, góp phần phát triển ngành chăn nuôi vịt nói chung và nghề chăn nuôi vịt đẻ trứng nói riêng ở trang trại
Về thái độ:
- Tạo mối quan hệ thân thiện, hòa nhã với mọi người trong trang trại
- Có tinh thần trách nhiệm cao khi nhận công việc được giao, làm đến nơi đến chốn, chính xác kịp thời do đơn vị thực tập phân công
- Chủ động trong các công việc, sẵn sàng trợ giúp, hỗ trợ mọi người trong trang trại để hoàn thành tốt các công việc chung bên cạnh đó cũng tự khẳng định được năng lực của bản thân sinh viên
Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc:
- Tạo được thói quen sống và làm việc trong trang trại chăn nuôi
- Có ý thức trong công việc, thực hiện đầy đủ các quy trình phòng dịch của trang trại
- Thực hiện tốt những công việc được giao trong trang trại, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để chăm sóc vịt
- Vận dụng các kiến thức đã học trên giảng đường để thu thập thông tin
về trang trại
Trang 131.3 Nội dung và phương pháp thực hiện
1.3.1 Nội dung thực tập
- Tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của trang trại Đào Gia Bản
- Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất của trang trại Đào Gia Bản trên địa bàn xã Thịnh Đức
- Phân tích những khó khăn, thuận lợi và các yếu tố ảnh hưởng tới tổ chức sản xuất kinh doanh của trang trại Đào Gia Bản
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tổ chức sản xuất trang trại
chăn nuôi Đào Gia Bản trên địa bàn xã Thịnh Đức - thành phố Thái Nguyên
+Trong phạm vi đề tài em thu thập các số liệu đã được công bố liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại UBND xã Thịnh Đức và trang trại Đào Gia Bản
+ Số liệu thống kê của UBND xã thu thập ở trên báo, trên internet liên quan tới phát triển mô hình Kinh Tế Trang Trại
* Thu thập số liệu sơ cấp
+ Phương pháp PRA: PRA là một loạt các biện pháp tiếp cận và phương pháp khuyến khích lôi cuốn người dân tham gia cùng chia sẻ thảo luận, phân tích kiến thức của họ về đời sống, điều kiện nông thôn để họ lập kế hoạch thảo luận cũng như thực hiện và giám sát, đánh giá Đề tài này đã sử
dụng các công cụ PRA sau:
Trang 14+ Phỏng vấn trực tiếp:Tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối với chủ trang trại Đào Gia Bản và hộ gia đình để tìm hiểu về quá trình triển khai, thực hiện
mô hình kinh tế trang trại nói chung, trạng trại nuôi vịt đẻ trứng nói riêng Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn và xu hướng thực hiện trong tương lai Tìm hiểu vai trò của người dân trong thực hiện các công việc
+ Quan sát trực tiếp: Quan sát một cách có hệ thống các sự việc, sự vật, sự kiện với các mối quan hệ và trong một bối cảnh tồn tại của nó Quan sát trực tiếp cũng là một phương cách tốt để kiểm tra chéo những câu trả lời của người dân địa phương Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp thực trạng công tác tổ chức của chủ trang trại Đào Gia Bản
1.3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê: Được coi là chủ đạo để nghiên cứu các mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào, đầu ra, qua đó đánh giá so sánh và rút ra những kết luận, nhằm đưa ra các giải pháp có tính khoa học cũng như thực tế trong việc phát triển kinh tế trang trại
- Phương pháp chuyên khảo: dùng để thu thập và lựa chọn các thông tin, tài liệu, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Thông qua việc nghiên cứu để lựa chọn, kế thừa những gì tiến bộ vận dụng vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả sản xuất của trang trại
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh: phương pháp này đòi hỏi người quản lý trang trại phải ghi chép tỷ mỷ, thường xuyên, liên tục suốt trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm biết được các yếu tố đầu vào, đầu ra từ đó biết được thu nhập của trang trại trong một kỳ sản xuất kinh
doanh, thông qua kết quả đó rút ra các kết luận nhằm định hướng cho kỳ tới
* Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất
Hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại như: giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, cụ thể là:
Trang 15+ Giá trị sản xuất (Gross Output): là giá trị bằng tiền của sản phẩm sản xuất ra ở trang trại bao gồm phần giá trại để lại để tiêu dùng và giá trị bán ra thị trường sau một chu kỳ sản xuất thường là một năm Được tính bằng sản lượng của từng sản phẩm nhân với đơn giá sản phẩm Chỉ tiêu này được tính như sau:
GO = ∑ Pi.Qi Trong đó: GO : giá trị sản xuất
Pi : giá trị sản phẩm hàng hóa thứ i
Qi : lượng sản phẩm thứ i + Chi phí trung gian (Intermediate Cost) là toàn bộ các khoản chi phí vật chất bao gồm các khoản chi nguyên vật liệu, giống, chi phí dịch vụ thuê ngoài Chỉ tiêu này được tính như sau:
IC = ∑ Cij Trong đó: IC : là chi phí trung gian
Cij : là chi phí thứ i cho sản phẩm thứ j
+ Giá trị gia tăng (Value Added): là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các ngành sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này được xác định theo công thức sau:
VA = GO - IC
Trong đó: VA : giá trị gia tăng
GO : giá trị sản xuất
IC : chi phí trung gian
* Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất
+ GO/IC
+ VA/IC
Trang 16* Phương pháp trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp
đường thẳng:
+ Công thức:
Mức trích khấu hao hàng năm Nguyên giá tài sản cố định
Thời gian trích khấu hao
1.4 Thời gian và địa điểm thực tập
Thời gian: Từ ngày 20/2/2017 - 10/5/2017
Địa điểm: Trang trại Đào Gia Bản, xóm Mới, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên
Trang 17Phần 2 TỔNG QUAN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập
2.1.1.1 Khái niệm về tổ chức sản xuất
Tổ chức sản xuất là sự bố trí các công đoạn, các khâu trong cả dây chuyền nhằm thực hiện chu trình kinh doanh từ “đầu vào” đến “đầu ra” [7] Mục tiêu của tổ chức sản xuất là sự bố trí các công đoạn, các khâu nhằm tạo ra năng suất, chất lượng cao hơn, nhịp độ sản xuất nhanh hơn, tận dụng và huy động tối đa các nguồn lực vật chất vào sản xuất, giảm chi phí sản xuất một đơn vị đầu ra tới mức thấp nhất, rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ.[9]
2.1.1.2 Các khái niệm về kinh tế trang trại
Khái niệm trang trại:
Trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp Ở đây nói về trang trại trong nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá, với các khái niệm cụ
- Trang trại là tổ chức sản xuất nông nghiệp có vị trí trung tâm thu hút các hoạt động kinh tế của các tổ chức sản xuất tư liệu sản xuất, các hoạt động dịch vụ và các tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản.[10]
Trang 18- Trang trại là loại hình sản xuất đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp
Trang trại có các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phương thức quản lý khác nhau
- Trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông nghiệp ở tất cả các nước, thường do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể
sử dụng lao động thuê ngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất (ruộng đất, công cụ sản xuất, vốn …) cũng có thể đi thuê ngoài một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất trên
- Trang trại tư bản tư nhân là loại hình trang trại nông nghiệp ít phổ biến ở các nước, đến nay số lượng không nhiều thường là các trang trại tư bản
tư nhân, công ty cổ phần, sản xuất kinh doanh trên cơ sở sử dụng lao động làm thuê kể cả lao động sản xuất và lao động quản lý
- Trang trại thường có các quy mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn ) song song tồn tại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và quy mô trung bình…Trang trại thường có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong và ngoài nông nghiệp, với phương thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm) với trình độ năng lực sản xuất khác nhau
Tóm lại: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập Sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao: hoạt động
tự chủ và luôn gắn với thị trường
Trang 19Khái niệm kinh tế trang trại
- Kinh tế trang trại là nền kinh tế sản xuất nông sản hàng hoá, phát sinh
và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, thay thế cho nền kinh tế tiểu nông
tự cấp tự túc.[4]
- Kinh tế trang trại là tổng thể các quan hệ kinh tế của các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp bao gồm: các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại thuộc các ngành, nông, lâm, ngư nghiệp ở các vùng kinh tế khác nhau.[4]
- Kinh tế trang trại là sản phẩm thời kỳ công nghiệp hoá Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá kinh tế trang trại với tỷ trọng còn thấp, quy mô nhỏ và năng lực sản xuất hạn chế, nên chỉ đóng vai trò xung kích trong sản xuất nông sản hàng hoá phục vụ công nghiệp hoá Thời kỳ công nghiệp hoá đạt trình độ kinh tế trang trại với tỷ trọng lớn, quy mô lớn và năng lực sản xuất lớn trở thành lực lượng chủ lực trong sản xuất nông sản hàng hoá cũng như hàng nông nghiệp nói chung phục vụ công nghiệp hoá
- Kinh tế trang trại phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, phục vụ nhu cầu sản xuất hàng hoá trong công nghiệp là phù hợp với quy luật phát triển kinh tế, là một tất yếu khách quan của nền kinh tế nông nghiệp trong quá trình chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá
- Kinh tế trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp mới có tính ưu việt hơn hẳn so với các loại hình sản xuất nông nghiệp khác như: Kinh tế nông nghiệp phát canh thu tô, kinh tế tư bản tư nhân, đồn điền, kinh tế cộng đồng, nông nghiệp tập thể, kinh tế tiểu nông
- Kinh tế trang trại đến nay đã khẳng định vị trí của mình trong sản
xuất hàng hoá thời kỳ công nghiệp hoá ở các ngành sản xuất nông - lâm - ngư
Trang 20nghiệp ở các vùng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Đã thích ứng với các trình độ công nghiệp hoá khác nhau
Thời gian tới bước vào thế kỷ 21 theo dự báo của nhiều nhà kinh tế trên thế giới, kinh tế trang trại có bước phát triển mạnh mẽ, với số lượng ngày càng nhiều ở các nước đang phát triển, trên con đường công nghiệp hoá và vấn đề còn tồn tại ở các nước công nghiệp hoá cao, trên cơ sở điều chỉnh số lượng và cơ cấu trang trại cho phù hợp
Khái niệm kinh tế trang trại chăn nuôi
- Cũng như khái niệm về kinh tế trang trại nói chung, ta đi vào xem xét khái niệm cụ thể về kinh tế trang trại chăn nuôi
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền sản xuất kinh tế trong nông nghiệp với nông sản hàng hoá là sản phẩm của chăn nuôi đại gia súc, gia cầm… Đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh nông nghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi Bao gồm các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm
là hệ thống các trang trại chăn nuôi ở các vùng kinh tế khác nhau
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hoá, quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao, tỷ trọng hàng hoá từ thấp đến cao cũng như trình độ sản xuất, quy mô và năng lực sản xuất đáp ứng được nhu cầu sản phẩm hàng hoá như thịt, trứng, sữa… Trên thị trường, phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền tảng lớn của một hệ thống kinh
tế trang trại nói chung, là một bộ phận của nền sản xuất trong nông nghiệp, khác với các ngành sản xuất khác: Lâm nghiệp hay thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện đất đai, khí tượng và thời tiết nhưng đối với chăn nuôi đó chỉ là
Trang 21những ảnh hưởng tác động đến vật nuôi, nó phụ thuộc chính vào điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng của các trang trại Sản phẩm của chăn nuôi phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của đại đa số người dân trong cả nước
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là sự phát triển tất yếu của quy luật sản xuất hàng hoá, trong điều kiện kinh tế thị trường, xuất phát từ nhu cầu thị trường, do vậy các yếu tố đầu vào như: vốn, lao động, giống, khoa học công nghệ, cũng như các sản phẩm đầu ra như: thịt, trứng, sữa đều là hàng hoá Vậy có thể đúc kết lại khái niệm về kinh tế trang trại chăn nuôi nó là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp với mục đích chủ yếu
là sản xuất hàng hoá như: thịt, trứng, sữa… với quy mô đất đai, các yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, có tổ chức và quản lý tiến bộ, có hạch toán kinh tế như các doanh nghiệp
2.1.1.3 Bản chất của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng
Bản chất của trang trại nói chung:
- Kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất trồng trọt trên đồng ruộng và chăn nuôi trang chuồng trại với quy mô lớn, trình độ sản xuất và quản lý tiến bộ… là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm nghiệp và thuỷ sản với mục đích chính là sản xuất ra hàng hoá để cung ứng ra thị trường Là loại hình sản xuất hàng hoá với tỷ trọng hàng hoá chiếm từ 70% đến 80% trở lên, đáp ứng phần lớn hàng hoá ra thị trường không chỉ ở trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài
- Kinh tế trang trại với hình thức sản xuất nông nghiệp theo kiểu tập chung, quy mô lớn và đã có từ lâu trên Thế giới và ở Việt nam
+ Ở Trung Quốc kinh tế trang trại có từ thời Hán với các hình thức: hoàng trang, cung trang, gia trang và điền trang
Trang 22+ Ở Việt Nam kinh tế trang trại đã có từ thời Lý, Trần với các hình thức như thái ấp, các điền trang trong nông nghiệp Thời nhà Lê Nguyễn, kinh
tế trang trại tồn tại dưới các hình thức như: đồn điền, điền trang
- Đến thời kỳ chủ nghĩa tư bản : Lực lượng sản xuất phát triển thì hình thức sản xuất tập chung quy mô lớn trong nông nghiệp theo kiểu trang trại Đến Nghị quyết 10 của Bộ chính trị khoá VI (4/1988) về phát huy quyền làm chủ kinh tế hộ, đã đặt nền móng cho sự phát triển một cách nhanh chóng Vì vậy kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm : Nông - Lâm - Thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của một chủ trang trại, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất tập chung đủ lớn, trình độ kỹ thuật cao hơn phương thức tổ chức sản xuất tiến bộ gắn với thị trường có hạch toán kinh tế theo kiểu doanh nghiệp
Bản chất của kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một đơn vị kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất về chăn nuôi trong chuồng trại với quy mô lớn, trình độ sản xuất và quản lý tiến bộ, là hình thức sản xuất với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá là các sản phẩm chăn nuôi để cung ứng ra thị trường, tỷ trọng hàng hoá chiếm từ 70% đến 80% trở lên, đáp ứng được sản phẩm hàng hoá ra thị trường trong và ngoài nước
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng được phát triển rất sớm, nhưng với quy mô nhỏ, tỷ trọng hàng hoá chưa cao cho nên hàng hoá cung ứng ra thị trường còn ít
- Cho đến hiện nay thì kinh tế trang trại chăn nuôi đã phát triển cả về quy mô số lượng, tỷ trọng hàng hoá cao, nhưng tập chung chủ yếu ở các vùng đồng bằng; đối với các khu vực trung du niềm núi phía bắc thì còn chưa phát triển nhiều tuy nhiên đã có một số trang trại chăn nuôi sản xuất kinh doanh khá hiệu quả
Trang 232.1.1.4 Vai trò, đặc trưng của kinh tế trang trại
Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại
- Phát triển kinh tế trang trại có vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân nó có tác động lớn về kinh tế, xã hội và môi trường
- Vì nó là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nền sản xuất hàng hoá Vì vậy nó có vai trò rất lớn trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm cung cấp cho xã hội
- Trang trại là tế bào quan trọng để phát triển nông nghiệp nông thôn, thực hiện sự phân công lao động xã hội trong điều kiện nước ta chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá
- Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại có vai trò cực kỳ to lớn được biểu hiện :
+ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất lấy việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phương thức sản xuất chủ yếu Vì vậy nó cho phép huy động khai thác đất đai, sức lao động và nguồn lực khác một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả Nhờ vậy nó góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong nông nghiệp nông thôn nói riêng
và phát triển kinh tế xã hội nói chung
+ Trang trại với kết quả và hiệu quả sản xuất cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng manh mún tạo vùng chuyên môn hoá cao, đẩy nhanh nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá
+ Qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại tạo ra nhiều nông sản, nhất là các nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp Vì vậy trang trại góp phần thúc đẩy công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến và dich vụ sản xuất ở nông thôn phát triển
Trang 24+ Kinh tế trang trại là đơn vị sản xuất có quy mô lớn hơn kinh tế hộ, vì vậy có khả năng áp dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực
+ Với cách thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh tiên tiến, trang trại là nơi tiếp nhận và truyền tải các tiến bộ khoa học công nghệ đến hộ nông dân thông qua chính hoạt động sản xuất của mình
+ Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại làm tăng hộ giàu ở nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động và dân cư ở nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn là tấm gương cho các hộ nông dân về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến
và có hiệu quả Tất cả những vấn đề đó góp phần quan trọng giải quyết các
vấn đề kinh tế - xã hội ở nông thôn
+ Về mặt môi trường: Phát triển kinh tế trang trại góp phần cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái Thực hiện phát triển kinh tế trang trại nước ta đã đem lại nhiều kết quả về kinh tế xã hội và môi trường Nhưng phát triển kinh
tế trang trại ở nước ta phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế từng vùng
và từng địa phương Nhất là những vùng địa phương có điều kiện đất đai và điều kiện sản xuất hàng hoá
Đặc trưng của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại công nghiệp nói riêng
• Đặc trưng của kinh tế trang trại
Trong điều kiện kinh tế thị trường, trang trại là một đơn vị kinh tế tự chủ với đặc trưng chủ yếu sau:
- Tư liệu sản xuất mà trước hết là ruộng đất và vốn được tập chung theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa
- Người chủ trang trại có ý chí, có hiểu biết chuyên môn kỹ thuật và có khả năng nhất định về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp
Trang 25- Các trang trại đều có thể thuê mướn lao động Có 2 hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại đó là; lao động thường xuyên và lao động thời vụ Trong hình thức thuê lao động thường xuyên, trang trại thuê người lao động ổn định quanh năm, còn hình thức thuê lao động thời vụ, trang trại chỉ thuê người lao động làm việc theo thời vụ sản xuất
• Đặc trưng của kinh tế trang trại chăn nuôi
Trên cơ sở khái niệm về KTTT nói chung và KTTT chăn nuôi nói riêng chúng ta đi vào tìm hiểu đặc trưng KTTT chăn nuôi được thể hiện qua những đặc điểm sau:
- Kinh tế trang trại chăn nuôi sản xuất các sản phẩm thịt, trứng, sữa… Trong điều kiện kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá nên mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều xuất phát nhu cầu thị trường Chính vì vậy tất cả các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, giống, khoa học công nghệ… cũng như các yếu tố đầu ra như sản phẩm thịt, trứng, sữa… Đều là sản phẩm hàng hoá
- Do đặc trưng sản xuất hàng hoá ngành chăn nuôi chi phối mà phải đòi hỏi tạo ra ưu thế cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh, để thực hiện yêu cầu tái sản xuất mở rộng, hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi theo xu thế tích tụ, tập trung sản xuất kinh tế ngày càng cao, tạo ra tỷ xuất hàng hoá cao, khối lượng hàng hoá ngày càng nhiều, chất lượng tốt Đi đôi với việc tập trung, nâng cao năng lực sản xuất của từng trang trại còn diễn ra xu thế tập trung các trang trại thành các vùng chuyên môn hoá về từng loại như vùng chuyên canh nuôi đại gia súc như: trâu, bò …Vùng thì chuyên môn hoá nuôi lợn nái sinh sản, lợn thịt, sữa với mục đích tạo ra khối lượng hàng hoá lớn
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng có nhiều loại hình khác nhau trong
đó trang trại gia đình vẫn là phổ biến, có đặc trưng rất linh hoạt trong từng hoạt động, vì có thể dung nạp các trình độ sản xuất khác nhau về xã hội hoá, chuyên môn hoá Dung nạp các quy mô sản xuất trang trại chăn nuôi khác
Trang 26nhau như các trang trại chăn nuôi nhỏ, vừa và lớn và thậm chí đến cực lớn Dung nạp các cấp độ công nghệ sản xuất khác nhau từ thô sơ đến hiện đại, riêng biệt hoặc đan xen Liên kết các loại hình kinh tế khác nhau cá thể,
tư nhân, hợp tác quốc doanh…Với các hình thức hợp tác sản xuất kinh doanh
đa dạng Chính vì vậy mà kinh tế trang trại chăn nuôi có khả năng thích ứng với các nước đang phát triển và ở các nước công nghiệp phát triển
- Kinh tế trang trại chăn nuôi có đặc trưng là tạo ra năng lực sản xuất cao
về nông sản hàng hoá mà chủ yếu là sản phẩm thịt, trứng, sữa … Do đặc điểm
về tính chất quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại quyết định Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và có kinh nghiệm trong sản xuất chăn nuôi, cũng như kinh doanh trong cơ chế thị trường
2.1.1.5 Tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại
Theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 27/2011/TT - BNNPTNT ngày 13/04/2011 của Bộ NN - PTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng
nhận kinh tế trang trại [2]
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại thỏa mãn điều kiện sau:
* Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp
- Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
+ 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long + 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
- Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
* Đối với cơ sở chăn nuôi
Giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên
* Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp
Diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt
500 triệu đồng/năm trở lên
Trang 272.1.2 Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập
- Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP Ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính Phủ về kinh tế trang trại
- Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK Ngày 23 tháng 6 năm 2000 của Liên bộ NN & PTNT – Tổng cục thống kê hướng dẫn tiêu chí
để xác định kinh tế trang trại
- Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.[8]
- Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì hộ gia đình và
cá nhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn có thu nhập cao thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Giao Bộ Tài chính nghiên cứu trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 14/2008/QH10 ngày 03 tháng 06 năm 2008 của Quốc hội về Quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng quy định đối tượng nộp thuế là những hộ làm kinh tế trang trại đã sản xuất kinh doanh ổn định, có giá trị hàng hóa và lãi lớn, giảm thấp nhất mức thuế suất, nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, được nhân dân đồng tình và có khả năng thực hiện
- Trang trại phát triển sản xuất, kinh doanh trong những lĩnh vực thuộc đối tượng quy định tại Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm
2013 của Chính phủ được vay vốn từ Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước và việc vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thực hiện theo các quy định của Nghị định này
Trang 28- Trang trại phát triển sản xuất, kinh doanh được vay vốn tín dụng thương mại của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việc vay vốn được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về "Một số chính sách tín dụng ngân hàng phát triển nông nghiệp và nông thôn", chủ trang trại được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay theo quy định tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP, ngày 09 tháng 06 năm 2015 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên thế giới
Ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức sản xuất giữ vị trí xung kích trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn và trở thành lực lượng chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao Kinh tế trang trại phát triển mạnh ở thời kỳ các nước tiến hành công nghiệp hoá sau đó, khi công nghiệp phát triển thì số lượng trang trại có xu hướng giảm dần và quy mô trang trại có xu hướng tăng lên Ở những vùng đất mới như châu Mỹ, châu Úc thì quy mô trang trại là rất lớn Như ở Mỹ mỗi trang trại có diện tích bình quân từ 180-200 ha, ở Canađa là 400 - 450 ha, ở Úc là 500 ha, thậm chí hàng nghìn ha… Họ gọi là trang trại nhưng thực chất đó là những đồn điền được Nhà nước khuyến khích, bảo vệ bằng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
Ở châu Á, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm luôn là một cản trở đối với phát triển kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường Do vậy, kinh tế trang trại cũng xuất hiện muộn hơn và quy mô nhỏ hơn ở châu Âu, châu Mỹ, nhiều nghiên cứu cho thấy quy mô trang trại nhỏ ở châu Á chiếm từ 60-70% về số lượng, canh tác 30% diện tích và sản xuất 35% tổng sản phẩm nông nghiệp
Ở Nhật Bản, trang trại gia đình có vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp, bảo đảm lương thực, thực phẩm cho xã hội Nhật Bản có xu hướng
mở rộng quy mô trang trại lên từ 10-20 ha, nhưng vẫn chưa thực hiện được
Trang 29Năm 1970 Nhật Bản có 5.342 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 1,1 ha/trang trại, đến 1993 còn 3.691 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 1.38 ha/trang trại
Một số nước khác thuộc Châu Á như: Inđônêsia, Malaixia… đang trong quá trình công nghiệp hoá nên luôn có sự biến động về số lượng và diện tích bình quân của trang trại
2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại tại Việt Nam và một số địa phương
Mặc dù đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng kinh tế trang trại của Việt Nam chỉ phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, có thể xem thực hiện chỉ thị
100 Ban bí thư TW khóa IV, NQ 10 của bộ chính trị về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân và đặc biệt sau khi luật đất đai ra đời năm 1993 thì kinh tế trang trại thực sự đã có bước phát triển khá nhanh và đa dạng
Bảng 2.1 Số trang trại phân theo ngành hoạt động và phân theo địa
phương trong cả nước Tiêu chí
TT trồng cây hằng năm
TT Trồng cây lâu năm
TT chăn nuôi
TT nuôi trồng thủy sản Tổng số
Trang 30Nếu theo quy định của cục thống kê về tiêu chuẩn trang trại (Quyết định số 359/1998/QĐ- TCTK ngày 01/07/1989) thì năm 2015 cả nước có 45.372 trang trại Trong đó chia theo hướng sản xuất có 37.949 trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm và cây hàng năm, chiếm 83,6%; 1306 trang trại nuôi trồng thủy sản, chiếm 3,8%; 2559 trang trại kinh doanh tổng hợp đa ngành, chiếm 5,6%
Chia theo vùng kinh tế: vùng Đông Bắc có 3.491 trang trại, chiếm 7,7%; vùng Tây Bắc có 238 trang trại, chiếm 0,5%; vùng Đồng Bằng Sông Hồng có 1394 trang trại, chiếm 9,2%; vùng Duyên Hải Miền Trung có 2.706 trang trại, chiếm 4,6%;vùng Tây Nguyên có 6.333 trang trại, chiếm 13,6%; vùng Đông Nam Bộ có 8402 trang trại, chiếm 18,4%; vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có 19.259 trang trại, chiếm 42,4%
Số lao động bình quân/ trang trại là 2,8 người, lao động thuê ngoài theo thời vụ là 11,5 người Bình quân một trang trại trồng trọt có 5,3 ha đất nông nghiệp, lâm nghiệp có 26,8 ha, nuôi trồng thủy sản có 10,7 ha Vốn sản xuất bình quân của một trang trại là 60,2 triệu đồng, thu nhập bình quân một trang trại là 22,6 triệu đồng (thu nhập đã trừ chi phí)
Về quy mô diện tích của mỗi trang trại ở nước ta theo điều tra của cục thống kê cho thấy: trang trại dưới 1ha chiếm 15%; từ 1-5 ha chiếm 28%,từ 5-
10 ha chiếm 34%, từ 10-20 ha chiếm 4% và trên 50ha chiếm 3%
Ngoài việc góp phần làm giàu cho các chủ trang trại, phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam trong những năm qua đã giải quyết việc lam tại chỗ cho hơn 50.000 lao động làm thuê thường xuyên và 520.000 lao động làm thuê theo thời vụ tạm thời ở nông thôn Tổng số vốn huy động đầu tư phát triển kinh tế trang trại ước tính là 2.730,8 tỷ đồng, thu nhập hằng năm của từ các hoạt động kinh tế trang trại là 1.032,6 tỷ đồng Ngoài ra các trang trại còn đóng góp đáng kể vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao độ che phủ
Trang 31của rừng từ 22% lên 28% Kinh tế trang trại đã tự khẳng đinh vai trò của mình trên hầu khắp các vùng kinh tế: đồi núi, đồng bằng, ven biển
2.2.3 Kinh nghiệm của các địa phương
Khu vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay có gần 11 triệu hộ nông dân, chủ yếu sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, giá trị sản xuất thấp và có nhiều rủi ro Tuy nhiên trong số đó có số hộ nông dân tổ chức phát triển sản xuất với quy mô lớn hơn theo hướng sản xuất tập trung, áp dụng khoa học công nghệ và mang lại giá trị kinh tế cao, ít rủi ro hơn Đây chính là các hộ gia đình, cá nhân phát triển theo hướng kinh tế trang trại Trong thực tiễn sản xuất, các mô hình kinh tế trang trại làm ăn có hiệu quả, đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp của đất nước Do đó Đảng và Nhà nước có chủ trương khuyến khích, thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế trang trại trong trong thời gian tới
Theo báo cáo của các địa phương, trên địa bàn cả nước hiện có khoảng 29.500 trang trại Trong đó, có 8.800 trang trại trồng trọt (chiếm 29,83%), 10.974 trang trại chăn nuôi (chiếm 37,20%), 430 trang trại lâm nghiệp (chiếm 1,46%), 5.268 trang trại thủy sản (chiếm 17,86%) và 4.028 trang trại tổng hợp (chiếm 13,66%) Số lượng trang trại đã tăng 9.433 trang trại so với năm 2011 Tuy nhiên các địa phương mới chỉ cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho 6.247 trang trại.[3]
Các trang trại phân bố nhiều ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (6.911 trang trại, chiếm 30%) chủ yếu sản xuất thủy sản và trái cây; Đông Nam Bộ (6.115 trang trại, chiếm 21%) chủ yếu là chăn nuôi; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (5.693 trang trại, chiếm 20%) chủ yếu kinh doanh tổng hợp; Đồng bằng Sông Hồng (5.775 trang trại, chiếm 19,5%) chủ yếu là chăn nuôi; Trung du và miền núi phía Bắc (2.063 trang trại, chiếm 7%) chủ yếu là chăn nuôi và lâm nghiệp.[3]
Trang 32Quy mô diện tích đất bình quân của các trang trại hiện nay về trồng trọt
là 12 ha/trang trại; chăn nuôi là 2 ha/trang trại; tổng hợp là 8 ha/trang trại; lâm nghiệp là 33 ha/trang trại; thủy sản là 6 ha/trang trại Trong quá trình tổ chức sản xuất cho thấy một số trang trại thực hiện tích tụ ruộng đất nên quy mô diện tích lớn, đặc biệt có trang trại có tới trên 100 ha Nhiều trang trại đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như sản xuất an toàn, sản xuất sạch, công nghệ cao, nên tạo ra năng suất và chất lượng cao và hiệu quả kinh tế Theo báo cáo của các địa phương, thu nhập bình quân của trang trại đạt 02 tỷ đồng/năm, đã tạo thêm công ăn việc làm cho lao động ở địa phương, mỗi trang trại bình quân giải quyết được khoảng 8 lao động, có nhiều trang trại thu hút được hàng trăm lao động
Có thể khẳng định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến của kinh tế hộ, mang lại hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp do đó cần
có chính sách phát triển
* Một số tồn tại, hạn chế
- Về quy mô và số lượng: Số lượng trang trại hiện nay tăng chậm và phân bố không đều giữa các vùng trong cả nước Khu vực Trung du miền núi phía Bắc là nơi có diện tích đất đai rộng nhưng số lượng trang trại ít, trong khi
đó khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ lại tập trung nhiều trang trại thì quy mô diện tích lại thấp, việc phân bố này cũng không đồng đều
ở các vùng và các lĩnh vực
- Về giá trị sản xuất: Mặc dù giá trị sản xuất hàng hóa bình quân một trang trại tương đối lớn (trung bình 02 tỷ đồng/trang trại) nhưng số có thu nhập cao chỉ tập trung ở một số loại hình trang trại chăn nuôi, thủy sản còn các loại hình trang trại trồng trọt, lâm nghiệp, kinh doanh tổng hợp giá trị sản xuất thấp, do chất lượng sản phẩm chưa cao, sản phẩm bán ra chủ yếu dưới dạng thô hoặc tươi sống, chưa qua chế biến nên giá bán thấp, sức cạnh tranh
Trang 33yếu, nhiều chủ trang trại chưa nắm bắt được nhu cầu thị trường nên sản xuất thụ động
- Về khoa học công nghệ: Số lượng trang trại ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, chế biến bảo quản còn hạn chế mới chỉ tập trung ở một số lĩnh vực và khu vực nhất định
- Sản xuất của các trang trại chưa thật sự bền vững: phần lớn chất lượng sản phẩm chưa được quản lý chặt chẽ Ô nhiễm môi trường do nước thải, chất thải không được xử lý Quy mô sản xuất càng lớn nguy cơ ô nhiễm càng tăng, nhất là đối với các trang trại chăn nuôi và thủy sản
- Trình độ quản lý và sản xuất của các chủ trang trại: Chủ trang trại chủ yếu là nông dân, không được đào tạo chuyên môn về quản lý, kỹ thuật nên khả năng quản lý sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, liên kết tiêu thụ nông sản còn nhiều hạn chế, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm thực tế Lực lượng lao động của các trang trại chưa được đào tạo nghề cơ bản lao động chưa được đào tạo nghề, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn
- Việc cơ giới hóa trong nông nghiệp: Chưa được chú trọng do trang trại chủ yếu quy mô nhỏ, dẫn đến sử dụng nhiều lao động, hiệu quả thấp
Trang 34Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP
3.1 Quá trình hình thành và phát triển của trang trại Đào Gia Bản
Sau khi tham gia nghĩa vụ quân sự đến năm 1998 chú Đào Gia Bản lập gia đình Bố mẹ mua cho mảnh đất rộng 40.000 m2 tại xóm Mới, xã Thịnh Đức và làm nhà cho Chú Bản sinh ra và lớn lên tại tỉnh Hà Nam, một vùng đất có truyền thống chăn nuôi vịt từ lâu đời Mỗi lần về quê chú thấy người dân chăn nuôi vịt rất tốt vì vậy chú đã nghĩ đến mảnh đất mà bố mẹ đã mua cho mình để nuôi vịt Sau nhiều năm tích lũy vốn và học hỏi kỹ thuật chăn nuôi từ bà con vùng quê đến năm 2003 chú bắt đầu xây dựng chuồng trại Ban đầu với 2 chuồng nuôi chú nuôi ngan và giống vịt bơ với số lượng mỗi chuồng là 200 con vịt giống Sau dần dần mỗi năm chú xây thêm chuồng trại
và mở rộng chăn nuôi Hồi mới khởi nghiệp chú cũng gặp phải rất nhiều khó khăn như thiếu vốn và kinh nghiệm chăn nuôi Nhờ có sự kiên trì và chăm chỉ ông trời không phụ lòng người, công sức chú bỏ ra đều được đền đáp xứng đáng Đàn vịt phát triển và cho trứng không mắc phải dịch bệnh Thị trường tiêu thụ trứng hồi bấy giờ là người dân lân cận và trong tỉnh thành Thái Nguyên
Năm 2007 vì thấy chỉ bán trứng không đem lại nhiều lợi nhuận và bán cũng chậm hơn nên chú đã quyết định mua máy ấp trứng để ấp bán giống cho
bà con Vậy là chú mở rộng thêm trang trại và từ khi ấp thành công với tỷ lệ trứng nở 80% Thị trường tiêu thụ cũng được mở rộng theo từng năm sang các tỉnh lân cận như Bắc Kạn, Bắc Giang, Hà Nội Sau nhiều năm chăn nuôi chú đã làm giấy tờ xin cấp giấy chứng nhận điều kiện vệ sinh thú y do chi cục thú y Thái Nguyên cấp để được hoạt động Sau nhiều năm làm ăn có hiệu quả, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương trang trại Đào Gia Bản được nhiều người biết đến