1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng tại thành phố huế

104 829 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Tác Động Về Kinh Tế Của Festival Huế 2004 Đối Với Khách Sạn, Nhà Hàng Tại Thành Phố Huế
Trường học Trường Đại Học Huế
Chuyên ngành Kinh Tế Du Lịch
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng tại thành phố huế

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ngày nay, Du lịch Lễ hội đã trở thành một loại hình Du lịch phát triểntrên thế giới Các quốc gia có ngành công nghiệp Du lịch phát triển rất chútrọng đến việc tổ chức các Lễ hội nhằm mục đích thu hút khách Du lịch.Những Lễ hội nổi tiếng thế giới như: Festival de la Rochell, Festival d' Avigon

(cộng hòa Pháp), Lễ hội Canaval ở Braxin, đã thu hút hàng triệu du khách

đến với đất nước của họ Rõ ràng, Lễ hội đang ngày càng có sức hấp dẫn mạnh

mẽ với khách Du lịch

Việt Nam chúng ta, một đất nước hàng ngàn năm văn hiến, với 54 dântộc anh em, mỗi năm có khoảng 402 Lễ hội truyền thống [5] mang nhiều sắcthái văn hóa khác nhau là tiềm năng to lớn để phát triển loại hình Du lịch Lễhội Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh:" Phát triển Du lịch trởthành ngành kinh tế mũi nhọn, khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái,truyền thống văn hóa lịch sử " Quan điểm đó tiếp tục được phát triển trongchương trình hành động quốc gia về Du lịch, đó là :" Du lịch văn hóa gắn với

Lễ hội " được xem như định hướng chiến lược phát triển Du lịch bền vững tạiViệt Nam

Xét ở những góc độ khác nhau, mỗi một Lễ hội đều có những nội dungđặc thù của nó và có những mục tiêu riêng biệt Tuy nhiên, đứng trên quanđiểm kinh tế, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, dù trực tiếp hay gián tiếp, việc

tổ chức các Lễ hội bao giờ cũng hàm chứa mục tiêu kinh tế Điều này ngàycàng được quan tâm nhiều hơn trong các kỳ Lễ hội của các địa phương trong

cả nước

Đối với Tỉnh Thừa Thiên Huế (TTH), với chủ trương xây dựng Thànhphố Huế trở thành Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam nhằm tạo cơ hội

Trang 2

giao lưu văn hóa giữa các vùng miền trong nước và giữa các nước trên thế giới;Giới thiệu, quảng bá những tinh hoa văn hóa Huế, văn hóa Việt Nam; góp phầnthúc đẩy kinh tế địa phương, đặc biệt là kinh tế Du lịch - một thế mạnh của tỉnhTTH Festival Huế đã được tổ chức 3 lần vào các năm 2000, 2002, 2004 Theođánh giá của Ban tổ chức Festival Huế và Lãnh đạo tỉnh TTH, các kỳ Festivalvừa qua đã thành công nhiều mặt, đã đạt được các mục tiêu đề ra, đã có tácđộng tốt đến kinh tế, văn hóa, xã hội và nhiều lĩnh vực khác của tỉnh.

2 Lý do chọn đề tài

Tuy đã có khá nhiều đánh giá về Festival Huế nhưng hầu hết đều ởphương diện tổng quát và chủ yếu mang tính chất mô tả, định tính Các đánhgiá chủ yếu tập trung vào lĩnh vực Văn hóa, Xã hội, yếu tố tác động về kinh tếcủa Festival chưa được đặt lên đúng mức Cho đến nay, chưa có công trìnhnghiên cứu nào đánh giá một cách cụ thể sâu sắc và toàn diện về những tácđộng của Festival Huế đến sự phát triển kinh tế Du lịch của Tỉnh

Với những lý do đã nêu trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: "Đánh giá tác động về kinh tế của Festival Huế 2004 đối với Khách sạn, Nhà hàng tại Thành phố Huế" với mong muốn sử dụng lý luận về tác động kinh tế của

ngành Du lịch; kinh nghiệm nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế của Festivaltại một số nước có ngành công nghiệp Du lịch phát triển để đánh giá tác độngkinh tế của Festival Huế 2004 đối với Khách sạn, Nhà hàng trên địa bàn Thànhphố Huế (TPH) một cách sâu sắc và toàn diện hơn

3 Mục tiêu của đề tài

3.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở lý luận về Du lịch, Lễ hội; những tác động về mặt kinh tế của

Du lịch, Lễ hội; các lý luận và thực tiễn việc đánh giá tác động kinh tế của Dulịch Lễ hội (Festival) tại một số nước có ngành công nghiệp Du lịch phát triển,xây dựng các chỉ tiêu đánh giá đánh giá tác động của Festival Huế Thông qua

Trang 3

doanh Khách sạn, Nhà hàng trên địa bàn TPH, đánh giá tổng quát tác động trựctiếp của của Festival 2004 phát sinh bởi mức chi tiêu của khách tham dự Đisâu đánh giá các yếu tố tác động trực tiếp về kinh tế của Festival 2004 đối vớicác cơ sở kinh doanh Khách sạn, Nhà hàng tại TPH

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Du lịch, Du lịch Lễhội, những tác động ảnh hưởng của Du lịch nói chung và Du lịch Lễ hội nói

riêng đến kinh tế của quốc gia, vùng và địa phương Trên cơ sở đó, bước đầu

xây dựng phương pháp luận đánh giá tác động kinh tế của Festival Huế

- Giới thiệu phương pháp ước tính những tác động về kinh tế của một

Lễ hội (Festival) Xây dựng cơ sở khoa học cho việc đánh giá nhằm lượng hóacác tác động về kinh tế của Festival Huế

- Thông qua số liệu điều tra, khảo sát của các kỳ Festival Huế đi sâuphân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu của khách tham quan Festival

2004, thông qua đó đánh giá tổng quát tác động chi tiêu của khách đến kinh tế

Du lịch địa phương

- Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra các kết luận ban đầu về tác động kinh tếcủa Festival Huế 2004 đối với các cơ sở kinh doanh Khách sạn, Nhà hàng tạiTPH, đề ra các giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực về kinh tế củaFestival Huế

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Về nội dung

Một đánh giá đầy đủ về tác động kinh tế của Lễ hội (Festival) đòi hỏiphải đánh giá các "tác động trực tiếp", "tác động gián tiếp" và "tác động lâudài" Để thực hiện những việc này cần phải có cơ sở dữ liệu về “hệ số tăng gấp

bội” trong ngành Du lịch của vùng nghiên cứu (Tỉnh TTH) Tuy nhiên, hiện

nay chúng ta chưa xây dựng được các dữ liệu này Đồng thời do hạn chế về

Trang 4

thời gian nghiên cứu, đề tài chỉ dừng lại ở giai đoạn đánh giá tác động (trựctiếp) của lượng tiền chi tiêu do khách tham dự Festival Huế 2004 mang lại đốivới các Khách sạn và Nhà hàng tại TPH Đây là những thành phần kinh tếhưởng lợi trực tiếp từ Festival Huế 2004

Mặt khác, đề tài được thực hiện vào thời điểm Festival 2004 đã kết thúckhá lâu, Festival 2006 lại chưa đến nên việc điều tra, khảo sát khách tham dựngay trong thời gian diễn ra Festival không thể thực hiện được, đây là nguyênnhân dẫn đến kết quả điều tra khách tham dự có nhiều hạn chế về cả số lượnglẫn thông tin Do vậy, kết quả phân tích, đánh giá của đề tài mang nhiều tínhhọc thuật hơn là thực tiễn

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH, TÁC ĐỘNG

KINH TẾ CỦA LỄ HỘI (FESTIVAL)

1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH - CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH

VÀ DU LỊCH LỄ HỘI

1.1.1 Khái niệm về Du lịch

Ngày nay, Du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biếnkhông chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển Tuy nhiên,cho đến nay không chỉ ở nước ta mà trên cả bình diện quốc tế, nhận thức về Dulịch và nội dung của Du lịch vẫn chưa thống nhất một cách triệt để

Trong số những quan điểm phổ biến hiện nay, quan điểm của các tác giảHoa kỳ gồm Robert W McIntosh, Charles R.Goeldner, J.R Brent Ritcie đượcnhiều nhà nghiên cứu, nhiều đọc giả đánh giá là mang tổng hợp và khái quátcao, được sử dụng làm cơ sở cho nhiều nghiên cứu Các tác giả này phát biểu

rằng: "Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách Du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp Du khách”[37,5].

Với cách tiếp cận tổng hợp ấy các tác giả Goeldner, Ritchie và McIntosh,cho rằng cần phải xác định đầy đủ các thành phần tham gia vào hoạt động Dulịch Các thành phần đó bao gồm [37,5]:

- Thành phần thứ nhất là Khách Du lịch: đây là những người tìm kiếm

kinh nghiệm và sự thoả mãn về vật chất hoặc tinh thần Du khách sẽ xác địnhđiểm đến và được lựa chọn các hoạt động tham gia, thưởng thức

- Thành phần thứ hai là các Doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch

vụ cho Khách Du lịch: các nhà kinh doanh xem Du lịch là cơ hội để kiếm lợi

Trang 6

nhuận thông qua việc cung cấp các hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhucầu của thị trường khách.

- Thành phần thứ ba là chính quyền sở tại: những người lãnh đạo

chính quyền địa phương nhìn nhận Du lịch như là một yếu tố có tác dụng tốtcho nền kinh tế thông qua triển vọng về thu nhập từ hoạt động kinh doanh chodân cư địa phương, ngoại tệ thu được từ khách Quốc tế và tiền thuế thu đượccho ngân quỹ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

- Thành phần thứ tư là cộng đồng dân cư địa phương: dân cư địa

phương xem Du lịch là một nhân tố tạo ra việc làm và giao lưu văn hoá Mộtđiều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là hiệu quả của sự giao lưu giữa số lượnglớn du khách Quốc tế và dân cư địa phương Hiệu quả này diễn ra trên haihướng vừa có lợi vừa có hại

Đối với Việt Nam, Du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhànghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra nhiều quan điểm, khái niệm xét trênnhiều góc độ khác nhau về Du lịch

Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam (xuất bản năm 1996) thì Du

lịch được giải thích trên 2 góc độ Thứ nhất: “Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá nghệ thuật,v v." Theo nghĩa thứ hai: “Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp

có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế Du lịch

là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là ngành xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ”.

Theo pháp lệnh Du lịch do Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam công bố ngày 20/02/1999: “Du lịch là hoạt động của con người

Trang 7

ngoài nơi cư trú thuờng xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [33,5].

Tuy có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung, Dulịch luôn được hiểu theo hai góc độ chính [12,5] đó là:

- Dưới góc độ khách Du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú của

con người ngoài nơi cư trú thường xuyên và quay trở lại nhằm thoả mãn nhữngnhu cầu khác nhau với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích nhận làmcông và nhận thù lao ở nơi đến

- Dưới góc độ nhà kinh doanh Du lịch: Du lịch là một lĩnh vực bao gồm

các hoạt động tạo ra những dịch vụ, hàng hoá để thoả mãn nhu cầu của khách

du lịch nhằm mục đích thu lợi nhuận

Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về Du

lịch họp tại Roma (Ý) đã thống nhất định nghĩa về Du lịch như sau: “Du lịch

là tổng hợp các mối quan hệ, các hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ” [27,12].

Tùy theo từng góc độ nghiên cứu, chúng ta có thể sử dụng khái niệm nêu

tại pháp lệnh Du lịch hoặc khái niệm của Liên Hiệp Quốc (1963) Hai khái

niệm nêu trên sẽ là cơ sở lý luận của luận văn này

1.1.2 Một số khái niệm liên quan khác

Để thuận lợi cho quá trình học tập, nghiên cứu, tập thể tác giả trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân đã biên dịch một số thuật ngữ khác trong Du lịch [12,6-7] như sau:

1.1.2.1 Lữ khách (Traveller)

Là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến nơi nào

Trang 8

đó với những mục đích khác nhau và quay trở lại.

1.1.2.2 Khách viếng thăm (Visitor)

Là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơinào đó với những mục đích khác nhau và quay trở lại, loại trừ mục đích làmcông và nhận thù lao ở nơi đến

1.1.2.3 Khách tham quan (Excursionit, Samedayvisitor)

Là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơinào đó và quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làmcông và nhận thù lao nơi đến; có thời gian lưu lại nơi đến không quá 24 giờ

(không sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm).

1.1.2.4 Khách Du lịch (Tourist)

Là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơinào đó và quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làmcông và nhận thù lao nơi đến; có thời gian lưu lại nơi đến từ 24 giờ trở lên

(hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) và không quá một thời gian qui định

tuỳ theo từng Quốc gia

1.1.2.5 Khách Du lịch quốc tế (International tourist)

Là khách Du lịch có điểm xuất phát và điểm đến Du lịch thuộc phạm vilãnh thổ của hai quốc gia khác nhau

1.1.2.6 Khách Du lịch nội địa (Internal tourist)

Là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang cư trú tạiquốc gia đó đi Du lịch trên lãnh thổ quốc gia đó

1.1.3 Các lĩnh vực kinh doanh trong Du lịch

Trên thực tế, việc phân định rõ ràng các lĩnh vực kinh doanh trong Dulịch là không đơn giản bởi nhu cầu Du lịch rất đa dạng và biến đổi theo sự tăng

Trang 9

trưởng kinh tế toàn cầu Cho đến nay, về phương diện lý thuyết cũng như thực

tế được chấp nhận ở nhiều nước trên thế giới [27,77-78], có bốn loại hình kinhdoanh Du lịch tiêu biểu sau

1.1.3.1 Kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business)

Kinh doanh lữ hành có nhiệm vụ: “Giao dịch, ký kết với các tổ chức kinhdoanh Du lịch trong nước, nước ngoài để xây dựng và thực hiện các chươngtrình Du lịch đã bán cho khách” Đối với ngành kinh doanh lữ hành, có haihoạt động chủ yếu như sau:

- Kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business): là thực hiện các hoạt

động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình Du lịch trọn gói haytừng phần; quảng cáo và bán chương trình trực tiếp hoặc gián tiếp qua cáctrung gian đại lý, văn phòng; tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn Dulịch

- Kinh doanh đại lý lữ hành (Travel Sub - Agency Business): là việc thực

hiện các dịch vụ đưa đón, đăng ký nơi lưu trú, vận chuyển, hướng dẫn thamquan, bán các chương trình Du lịch của các doanh nghiệp lữ hành (để hưởnghoa hồng), cung cấp thông tin Du lịch và tư vấn Du lịch

Việc phân định này chỉ mang tính tương đối vì trong một doanh nghiệp

có thể tồn tại nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau

1.1.3.2 Kinh doanh khách sạn (Hospitality Business)

Kinh doanh khách sạn có nhiệm vụ tổ chức đón tiếp, phục vụ việc lưutrú, ăn uống, vui chơi giải trí, bán hàng cho khách Du lịch Theo Pháp lệnh Dulịch Việt Nam ban hành năm 1999, tại Chương V, Điều 25 lĩnh vực kinh doanhnày được qui định là “Kinh doanh cơ sở lưu trú Du lịch” Trong thực tế nócũng gần như đồng nghĩa với “Kinh doanh Khách sạn, Nhà hàng”

1.1.3.3 Kinh doanh vận chuyển Du lịch (Tourist Transportation Business)

Trang 10

Nhiệm vụ chủ yếu của lĩnh vực kinh doanh này là giúp cho khách dịchchuyển từ nơi này đến nơi khác trong chuyến Du lịch của mình Ngày nay, với

sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật nhiều loại phương tiện vận chuyển được đưavào phục vụ kinh doanh Du lịch như: ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay và ngay

cả những phương tiện thô sơ cũng được sử dụng

1.1.3.4 Kinh doanh các dịch vụ khác (Other tourism business)

Cùng với xu hướng phát triển ngày càng đa dạng của nhu cầu Du lịchviệc bổ sung các dịch vụ cho khách Du lịch là hết sức cần thiết Vì vậy, ngoài

ba lĩnh vực kinh doanh như đã nêu trên, trong Du lịch còn có một số hoạt độngkinh doanh bổ trợ như kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí; hệ thống các cơ sởbán lẻ; tuyên truyền, quảng bá, tư vấn đầu tư Du lịch

1.1.4 Nhu cầu Du lịch

Nhu cầu Du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người[12,8-9], được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý và tinhthần Nhu cầu Du lịch phát sinh là kết quả tác động của lực lượng sản xuất vàtrình độ sản xuất xã hội

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khi mà hoạt động xã hội càng cao mốiquan hệ xã hội càng được hoàn thiện thì nhu cầu Du lịch trở nên quan trọng vàđược ưu tiên giải quyết hàng đầu trong cuộc sống Khi nhu cầu Du lịch trởthành cầu Du lịch tức là khách hàng có khả năng thanh toán, có sẵn thời giannhàn rỗi thì sẵn sàng có những chuyến Du lịch Nhu cầu của khách Du lịch baogồm: nhu cầu thiết yếu, nhu cầu đặc trưng và nhu cầu bổ sung

1.1.4.1 Nhu cầu thiết yếu

Nhu cầu thiết yếu trong Du lịch là những nhu cầu về vận chuyển, lưu trú

và ăn uống cần phải được thoả mãn trong chuyến hành trình Du lịch

1.1.4.2 Nhu cầu đặc trưng

Trang 11

Nhu cầu đặc trưng là những nhu cầu xác định mục đích chính của chuyến

đi, ví dụ như du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, giải trí, thăm viếng, tham gia Lễhội, học tập nghiên cứu,…

1.1.4.3 Nhu cầu bổ sung

Nhu cầu bổ sung là những nhu cầu phát sinh trong chuyến hành trình Dulịch như thông tin, giặt là, tư vấn… Việc thoả mãn nhu cầu bổ sung làm chochuyến đi của du khách được hoàn hảo hơn

1.1.5 Các loại hình Du lịch

1.1.5.1 Các tiêu thức phân loại thông dụng

Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại Du lịch thành các loại hìnhkhác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu Thông thường các nhà nghiên cứuphân loại theo các tiêu thức sau:

- Mục đích chuyến đi;

- Hình thức tổ chức chuyến đi;

- Loại hình lưu trú khách sử dụng;

- Đặc điểm địa hình của điểm đến, phương tiện sử dụng

1.1.5.2 Các loại hình Du lịch theo mục đích chuyến đi

Do giới hạn về mục tiêu của đề tài, chúng tôi chỉ xin giới thiệu một sốloại hình Du lịch được phân loại theo tiêu thức mục đích chuyến đi [12;24;27]gồm các loại sau: Du lịch tham quan; Du lịch giải trí; Du lịch nghỉ dưỡng; Dulịch khám phá; Du lịch thể thao; Du lịch Lễ hội; Du lịch gắn với thiên nhiên

(Du lịch sinh thái); Kết hợp Du lịch trong chuyến đi vì mục đích tôn giáo (Du lịch tôn giáo); Kết hợp Du lịch trong chuyến đi vì mục đích học tập nghiên cứu (Du lịch nghiên cứu học tập); Kết hợp Du lịch trong chuyến đi vì mục đích hội nghị công vụ (Du lịch hội nghị công vụ); Kết hợp Du lịch trong chuyến đi vì

Trang 12

mục đích chữa bệnh (Du lịch chữa bệnh); Kết hợp với mục đích kinh doanh (Du lịch kinh doanh); Kết hợp Du lịch trong chuyến đi với mục đích thăm thân nhân (Du lịch thăm thân nhân).

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu nên đề tài sẽ giới thiệu sâu hơn đối vớiloại hình Du lịch Lễ hội

1.1.6 Du lịch Lễ hội, Festival Du lịch

1.1.6.1 Lễ hội và Du lịch Lễ hội

* Khái niệm về Lễ hội

- Theo từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2001 của Viện ngôn ngữ học:

“Lễ hội là cuộc vui tổ chức chung, có các nghi lễ mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc” [34, 561].

- Theo Bách khoa tri thức xuất bản năm 2001: “Lễ hội (hay hội lễ) là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của nông dân hay thị dân diễn ra trong những chu kỳ không thời gian nhất định để làm nghi thức về vật được sùng bái, để tỏ rõ những ước vọng, để vui chơi trong tinh thần cộng mệnh, cộng cảm” [15,1215].

Dù là Lễ hội hiện đại hay Lễ hội truyền thống thì cấu trúc của Lễ hội

luôn bao gồm: Phần Lễ (là yếu tố chính) và Phần Hội (yếu tố phát sinh) không

có Lễ thì không thể gọi là Lễ hội nữa "Lễ được hình thành bởi nhân vật thờ mang tính thiêng liêng Hội được cấu thành bởi những hình thức sinh hoạt vui

chơi, những trò bách hí, không gian, thời gian, cảnh quan môi trường, tâm lýhội và hành động hội" [15,1216]

Như vậy, chúng ta có thể hiểu Lễ hội là hình thức sinh hoạt tổng hợp baogồm nhiều hoạt động: nghi lễ, tín ngưỡng, tôn giáo, ca hát, âm nhạc, múa, tròdiễn sân khấu, trò chơi, thể thao, thi tài Tất cả các Lễ hội của Việt Nam từ sơkhai, cổ truyền đến hiện đại đều mang những nét bản chất chung đó là mangnét văn hóa, và có sự sinh hoạt cộng đồng

Trang 13

* Du lịch Lễ hội

- Du lịch Lễ hội là loại hình Du lịch trong đó du khách thực hiện chuyến

đi vì mục đích tham quan, tham gia vào các hoạt động của Lễ hội tại điểm đến

* Đặc điểm của Du lịch Lễ hội

- Thời gian của Lễ hội thường ngắn và định kỳ trong năm, lượng kháchgia tăng đột biến trong cùng một thời điểm Vì vậy, dễ xảy ra tình trạng quá tải

về sức chứa và khả năng cung ứng các sản phẩm, dịch vụ của điểm đến Tìnhtrạng tăng giá, ô nhiễm môi trường cũng thường xảy ra vào thời điểm tổ chức

Lễ hội

- Khách Du lịch đến với Lễ hội phần lớn trong số họ muốn tham gia vàocác hoạt động, muốn hoà mình vào không khí tưng bừng của Lễ hội Vì vậy họthường ít quan tâm đến sự thiếu thốn, thiết hụt trong dịch vụ hơn những dukhách đi vì mục đích khác

- Du lịch Lễ hội thu hút rộng rãi cộng đồng địa phương tham gia các hoạtđộng cùng với khách Du lịch, đồng thời họ cũng tích cực tham gia vào việccung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho khách Du lịch

1.1.6.2 Festival, Festival Du lịch

* Festival

Theo từ điển Anh - Việt [17,418] Festival có nghĩa là Lễ hội, Đại hội,Liên hoan Ví dụ như Jazz Festival là đại hội liên hoan nhạc Ja hay FilmFestival là liên hoan phim

Như vậy, có thể hiểu Festival là các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tínngưỡng được tổ chức định kỳ Tại Việt Nam, đã bắt đầu quen thuộc với từFestival, nó đã được dùng khá nhiều trong quảng cáo ra nước ngoài các chươngtrình Lễ hội, liên hoan đặc biệt là sau khi Festival Huế 2000 được tổ chức

* Festival Du lịch

Trên thực tế, chưa có khái niệm rõ ràng về Festival Du lịch Tuy nhiên,

Trang 14

chúng ta có thể hiểu đó là Lễ hội Du lịch hay liên hoan Du lịch… của địaphương, vùng, quốc gia cụ thể nào đó

Việc gắn kết các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể thao, hội nghị, hộithảo, triển lãm, ẩm thực, với hoạt động Du lịch nhằm giới thiệu với ngườidân, với khách Du lịch trong và ngoài nước về tiềm năng Du lịch của địaphương, vùng hay quốc gia đó; tạo cơ hội kinh doanh, hợp tác phát triển Dulịch giữa các quốc gia, các doanh nghiệp, các tổ chức Du lịch đều có thể gọi làFestival Du lịch [5]

Giữa Lễ hội và Festival có những điểm khác biệt nhưng cũng có nhữngtương đồng về nội dung Tuy nhiên, việc thu hút khách Du lịch đến tham dự Lễhội hay Festival đều có thể gọi là loại hình Du lịch Lễ hội và do đó trên phươngdiện kinh tế, chúng ta có thể đồng nhất chúng trong việc đánh giá tác động

1.2 TÁC ĐỘNG KINH TẾ CỦA DU LỊCH VÀ FESTIVAL

1.2.1 Quan điểm về tác động kinh tế của Du lịch và Festival

Du lịch có hiệu quả trực tiếp đối với một số ngành và lĩnh vực kinhdoanh như Giao thông vận chuyển, Lưu trú, ăn uống Mặt khác, một số ngànhkhác có liên quan đến Du lịch như công nghiệp hàng tiêu dùng, nông nghiệpcũng có lợi ích đáng kể bởi việc cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp các sản phẩm,dịch vụ của mình cho khách Du lịch Quan điểm về tăng gấp bội được áp dụnghầu hết cho các đánh giá tác động kinh tế, đặc biệt là đánh giá tác động kinh tếcủa Du lịch, các Festival, các sự kiện thể thao Quan điểm này đã được các tácgiả Chris Coooper, John Flecher, David Gilbert, Rebecca Shepherd, StephenWanhill trình bày khá chi tiết trong giáo trình “Tourism Principles andPractice” (1998) [36] như sau:

1.2.1.1 Quan điểm về tăng gấp bội (The multiplier concept)

Quan niệm tăng gấp bội dựa vào sự nhận thức rằng hàng hoá của một

Trang 15

tế của địa phương Bởi vậy, bất kỳ một thay đổi nào trong mức tiêu dùng của

du khách cũng đem lại sự thay đổi về mức độ sản xuất, thu nhập hộ gia đình,việc làm, thu nhập của chính phủ Những thay đổi này có thể lớn hơn, có thểbằng hoặc nhỏ hơn các giá trị của sự thay đổi mức chi tiêu của du khách mang

lại "Thuật ngữ tăng gấp bội Du lịch (tourist multiplier) chỉ ra tỉ lệ của hai sự thay đổi - thay đổi một trong các biến thể kinh tế then chốt đầu ra (như là thu nhập, việc làm hay nguồn thu thuế của chính phủ) đối với sự thay đổi mức tiêu dùng của du khách" [36,132-133].

Tuy nhiên, việc cung cấp các hàng hóa dịch vụ cho những cơ sở kinhdoanh thuộc ngành Du lịch lại không hoàn toàn nằm trong phạm vi của vùng(điểm đến của Du khách) nên số tiền mà khách Du lịch hoặc khách tham dựFestival đã chi tiêu trong vùng chỉ đọng lại một phần trong nền kinh tế vùng đểtiếp tục tham gia vào chuỗi chi tiêu - thu nhập trong vùng Thuật ngữ “rò rỉ(thất thoát)” (leakage) [24,117] được áp dụng cho những khoản tiền thoát rakhỏi nền kinh tế vùng (chẳng hạn như doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu,thuê nhân công ngoài vùng ) Những vùng khả có khả năng tự cung ứng chongành Du lịch càng cao thì tỷ lệ rò rỉ càng nhỏ và ngược lại Điều này cũng cónghĩa là những vùng có khả năng tự cung ứng cho ngành Du lịch càng cao thì

tỷ lệ tăng gấp bội càng lớn và ngược lại

Như vậy, tăng gấp bội Du lịch phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế, xãhội của quốc gia hoặc vùng Những quốc gia hoặc vùng có điều kiện kinh tếkhác nhau thì tỷ lệ tăng gấp bội Du lịch cũng khác nhau

Để hiểu rõ hơn, chúng ta nghiên cứu sơ đồ 1

Trang 16

M H LB G

M: Nhập khẩu

H: Thu nhập hộ gia đình

LB: Các doanh nghiệp địa phương

G: Chính phủ (chính quyền địa phương)

Sơ đồ 1: Qui trình tăng gấp bội

Chi phi của khách Du lịch

M

Chi phi doanh nghiêp địa phương

Trang 17

1.2.1.2 Các loại hệ số tăng gấp bội

Có nhiều hệ số tăng gấp bội được sử dụng thường xuyên trong đánh giátác động kinh tế và mỗi loại có cách sử dụng đặc trưng riêng biệt Sau đây làmột số loại hệ số tăng gấp bội chính thường gặp khi đánh giá tác động kinh tếcủa Du lịch hoặc Festival

* Hệ số tăng gấp bội đầu ra (Output Multiplier)

Là tỷ lệ phụ trội (tăng thêm) để ước tính doanh thu bán hàng, dịch vụ phụ

trội được tạo ra trong một nền kinh tế, nó là kết quả của sự gia tăng mức tiêudùng của khách Du lịch Sau đây chúng ta tham khảo một vài số liệu về hệ sốtăng gấp bội đầu ra một số vùng của Mỹ và một số quốc gia năm 1990:

Bảng 1: Hệ số tăng gấp bội đầu ra Du lịch ở một số hạt của Mỹ

và một số nước

Quốc gia hoặc Vùng Hệ số tăng gấp bội đầu ra Du lịch

Nguồn: Trích dẫn từ giáo trình “Tourism – Principles and practice”

Chúng ta có thể thấy rằng, ngay trong cùng một quốc gia, các vùng khácnhau về đặc điểm kinh tế xã hội thì có hệ số tăng gấp bội khác nhau

* Hệ số tăng gấp bội thu nhập (Income Multiplier)

Là tỷ lệ phụ trội để ước tính mức thu nhập phụ trội (tiền thưởng, lương bổng, tiền thuê, lợi tức, và tiền lãi) được tạo ra trong một nền kinh tế là kết quả

Trang 18

sự gia tăng mức tiêu dùng của du khách Thu nhập này có thể được tính là thu

nhập quốc gia (hoặc thu nhập của một vùng trong trường hợp là Du lịch nội địa) hoặc thu nhập cá thể

Tuy nhiên, thu nhập tích lũy cho những người không thuộc quốc gia chủnhà, hoặc không phải là người địa phương mà được nhập cư vào khu vực đó thìcũng bị loại trừ bởi vì thu nhập mà họ nhận xem như không nằm trong nướcchủ nhà, địa phương Trái lại, hiệu ứng kinh tế phụ được tạo ra bởi sự tái sửdụng đồng tiền trong mức thu nhập của người nhập cư trong phạm vi khu vựccũng được tính trong các công thức này Sau đây chúng ta tham khảo một vài

số liệu về Hệ số tăng gấp bội thu nhập của một số quốc gia năm 1990 (bảng 2)

Bảng 2: Hệ số tăng gấp bội thu nhập Du lịch của một số quốc gia

Nguồn: Trích dẫn từ giáo trình “Tourism – Principles and practice”

* Hệ số tăng gấp bội việc làm (Employment Multiplier)

Là tỷ lệ phụ trội để ước tính tổng số việc làm được tạo ra bởi một đơn vịtiêu dùng phụ trội của du khách hoặc là tỷ lệ giữa tổng số việc làm được tạo rabởi cùng mức tiêu dùng này tính trên lao động trực tiếp Hệ số tăng gấp bộiviệc làm cung cấp nguồn thông tin hữu ích về những hiệu ứng phụ của Du lịch

Trang 19

Sau đây chúng ta tham khảo một vài số liệu về Hệ số tăng gấp bội việc làm củamột số quốc gia năm 1990 (bảng 3).

Bảng 3: Hệ số tăng gấp việc làm ở một quốc gia

Nguồn: Trích dẫn từ giáo trình “Tourism – Principles and practice”

* Hệ số tăng gấp bội nguồn thu chính phủ (Government Revenue Multiplier)

Là tỷ lệ phụ trội để ước tính mức phụ trội của nguồn thu của Chính phủ,

từ khi có sự gia tăng tiêu dùng của du khách

Hệ số tăng gấp bội phụ thuộc rất nhiều yếu tố, đặc biệt là cơ cấu kinh tế,dân số, trình độ phát triển của nền kinh tế quốc gia hoặc vùng Đồng thời nócũng thay đổi theo thời gian, vì vậy sau một thời gian nó phải được tính toán,điều chỉnh

1.2.2 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đánh giá tác động kinh tế của Lễ hội (Festival)

Trang 20

- Vùng ở đây được hiểu một giới hạn về địa giới hành chính, có thể làmột xã, một huyện, một thành phố, một tỉnh, hoặc một quốc gia cụ thể nào đó.

1.2.2.2 Đánh giá tác động kinh tế

- Quan điểm của các tác giả thuộc trường Đại học Alaska Fairbanks [52]

(Canada): "Đánh giá tác động kinh tế là ước tính những hiệu ứng tăng dần

mức chi tiêu thông qua một nền kinh tế của một vùng"

- Theo Daniel J Stynes [40,3]: "Đánh giá tác động kinh tế là ước tínhnhững thay đổi trong hoạt động kinh tế của một vùng, địa phương hay mộtquốc gia cụ thể nào đó, những thay đổi này bắt nguồn từ những nguyên nhânkhác nhau Có nhiều nguyên nhân gây tác động về kinh tế như: việc thực hiệnmột dự án mới, hay việc tổ chức các Lễ hội văn hóa, sự kiện thể thao để thu hútkhách Du lịch hoặc thay đổi, ban hành các chính sách phát triển kinh tế địaphương,

Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập tới các tác động của Dulịch, Festival Du lịch đến kinh tế của một vùng, một địa phương cụ thể nào đó.Theo Mathieson và Wall [24,110], tác động của Du lịch (hoặc Festival)

bao gồm 3 yếu tố căn bản: Thứ nhất là yếu tố động lực liên quan đến chuyến đi; Thứ hai là yếu tố tĩnh tại liên quan đến sự lưu lại ở nơi đến; Thứ ba là yếu

tố kết quả nhận được liên quan đến hiệu quả kinh tế, tự nhiên, xã hội mà khách

Du lịch tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp (Sơ đồ 2)

Cơ cấu kinh tế

Trang 21

Sơ đồ 2: Các yếu tố cấu thành và tác động của Du lịch

1.2.2.3 Đánh giá tác động kinh tế của Festival

Tùy theo đặc điểm của từng vùng, từng quốc quốc gia, việc đánh giá tácđộng kinh tế của Festival có thể được quan tâm trên từng khía cạnh khác nhau,nhưng qua nghiên cứu cho thấy quan điểm chung về đánh giá tác động kinh tếcủa Festival [24;40;25] được thể hiện như sau:

- Sử dụng các loại phân tích kinh tế để ước tính những thay đổi trong chitiêu của khách tham dự Festival

Trang 22

- Xác định các thành phần (factor) kinh tế trong nền kinh tế của vùng

chịu tác động trực tiếp và gián tiếp

- Ước tính những thay đổi về thu nhập của doanh nghiệp, hộ gia đình, cánhân, chính quyền của vùng

- Ước tính cơ hội việc làm mới được tạo ra trong vùng bởi Festival

1.2.2.4 Một số loại (dạng) phân tích kinh tế của Du lịch thường được

sử dụng trong đánh giá tác động kinh tế

Để đánh giá tác động kinh tế của Du lịch hoặc Festival, cần phải sử dụngnhững loại phân tích tác động kinh tế khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu,sau đây là một số loại thường gặp:

* Phân tích tác động kinh tế (Economic Impact Analysis)

Phân tích tác động kinh tế là ước tính những đóng góp của Du lịch(Festival) cho nền kinh tế địa phương Một báo cáo phân tích tác động kinh tếthường nghiên cứu các luồng chi tiêu của du khách và các hoạt động kinh doanh

Du lịch trong vùng để xác định các thay đổi trong kinh doanh, thu thuế, thunhập và việc làm mà sự chi tiêu du khách mang lại Những phương pháp chínhđược sử dụng ở đây là khảo sát mức chi tiêu của du khách, phân tích nguồn dữliệu thống kê kinh tế, các mẫu hình kinh tế nền tảng của vùng, sử dụng hệ số

tăng gấp bội đầu vào - đầu ra của kinh tế vùng (Frechtling 1994)

* Phân tích chi phí - lợi nhuận (Benefit - Cost Analysis)(B/C)

Là ước tính hiệu quả kinh tế tương ứng với những chính sách bằng cách

so sánh lợi nhuận và chi phí qua các thời kỳ Phân tích B/C cho biết chính sáchlinh động nào sẽ thúc đẩy được địa phương thu lợi nhuận ròng cao nhất cho xãhội trong mọi thời kỳ Phân tích chi phí - lợi nhuận hơn thế nữa sẽ định hướngnhững chính sách hiệu quả nhất từ triển vọng của phúc lợi xã hội, bao gồm cả

Trang 23

giá trị tiền tệ và phi tiền tệ (Stokey và Zeckhauser 1978; Sudgen và Williams1978)

* Phân tích cầu (Demand Analysis)

Là xác định sự thay đổi về số lượng và lọai khách Du lịch (tham dựFestival) đến vùng khi có những thay đổi về giá cả, khuyến mãi, cạnh tranh,chất lượng và số lượng trang thiết bị hay các thay đổi về nhu cầu khác Việcphân tích cầu cho phép tính toán hay dự đoán được số lượng và loại khách Dulịch (tham dự Festival) đến một địa phương trong tương lai (Walsh 1986,

và nhằm hỗ trợ Du lịch

- Đánh giá tác động kinh tế cho biết về những biến đổi trong nhu cầu du lịch, thay đổi về vị trí cạnh tranh trong vùng, về hoạt động tiếp thị hay thay đổitrong thị hiếu khách hàng Đánh giá tác động kinh tế có thể ước tính được tầmquan trọng và bản chất của những tác động kinh tế này

- Việc đánh giá tác động kinh tế sẽ cung cấp thông tin giúp chính quyềnđịa phương, các doanh nghiệp ra những quyết định tốt hơn

Trang 24

- Đánh giá tác động kinh tế cho biết mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau vềmặt kinh tế của những thành phần khác nhau và cấu trúc của nền kinh tế.Nghiên cứu tác động kinh tế giúp chúng ta hiểu rõ hơn qui mô và cấu trúc củangành Du lịch trong một vùng nhất định và mối liên kết của nó đối với cácthành phần kinh tế khác Những hiểu biết này sẽ rất có ích trong việc xác địnhcác đối tác tiềm năng cho ngành Du lịch cũng như trong việc xác định mục tiêucủa những ngành mang tính chiến lược cho phát triển kinh tế địa phương

- Đánh giá tác động kinh tế làm cơ sở cho việc phân bổ các nguồn tàinguyên của địa phương đến từng các thành phần kinh tế trong vùng Bằng cáchchỉ ra rằng Du lịch tác động đến kinh tế một cách rõ rệt, có thể thuyết phụcnhững người đưa ra quyết định phân bố nhiều nguồn tài nguyên hơn cho Dulịch hay thiết lập các chính sách khuyến khích Du lịch

- Kết quả của đánh giá tác động kinh tế có thể sử dụng làm cơ sở so sánhnhững tác động kinh tế của phân bố tài nguyên thay thế, chính sách, cơ chếquản lý hay các dự án phát triển Ví dụ như việc sử dụng đất nông nghiệp đểphát triển một dự án Du lịch hay thay vì khai thác gỗ thì rừng được giữ lại đểphát triển Du lịch sinh thái,

1.2.3 Các thuật ngữ liên quan đến đánh giá tác động kinh tế của Festival

1.2.3.1 Hiệu ứng trực tiếp (Direct effects)

Là kết quả những thay đổi về sản xuất kinh doanh do tác động tức thời vàcùng lúc với những thay đổi trong chi tiêu của khách Du lịch Ví dụ như việcgia tăng số lượng khách tham dự Festival lưu trú qua đêm tại các khách sạn sẽtrực tiếp mang lại những gia tăng trong hàng hóa ở các thành phần khách sạn,đồng thời sẽ có thay đổi liên quan đến việc chi trả tiền thưởng hoặc tiền lương,thuế, trợ cấp và dịch vụ, bố trí việc làm tại các khách sạn, đây là những hiệuứng trực tiếp do việc chi tiêu của khách tham dự Festival

Trang 25

Là kết quả của những thay đổi phát sinh từ những chu kỳ chi tiêu tiếptheo của ngành công nghiệp Du lịch và các ngành công nghiệp có liên quan

khác (các ngành công nghiệp cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho Khách sạn, Nhà hàng ) Chu kỳ chi tiêu tiếp theo này cũng làm phát sinh những thay đổi

về doanh thu, việc làm và thu nhập trong các ngành công nghiệp cung ứnghàng hoá dịch vụ cho các cơ sở kinh doanh Du lịch

1.2.3.3 Hiệu ứng lâu dài (mang lại)(Induced effects)

Là kết quả của những thay đổi trong hoạt động kinh tế phát sinh từ việcchi tiêu của hộ gia đình từ nguồn thu nhập mà họ kiếm được một cách trực tiếphay gián tiếp từ việc chi tiêu của ngành Du lịch Ví dụ: thu nhập của các nhân

viên của khách sạn và các nhân viên của ngành cung cấp vải lanh (cho khách sạn), là những khoản thu nhập trực tiếp và gián tiếp bởi Du lịch Những người

này chi tiêu phần thu nhập mà họ kiếm được cho nhà cửa, thức ăn, phương tiện

đi lại, các sản phẩm gia dụng và nhu cầu dịch vụ khác và hiệu ứng lại được tiếptục tạo ra Hàng hóa, thu nhập và nghề nghiệp bắt nguồn từ việc chi tiêu cho hộgia đình từ tiền thưởng, lương bổng hay thu nhập của người chủ sở hữu đượcgọi là hiệu ứng lâu dài (mang lại)

1.2.3.4 Tác động tổng thể

Là tổng của các tác động trực tiếp, tác động gián tiếp, tác động lâu dài

1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá tác động kinh tế của Festival

Theo Daniel J Stynes [40], một nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế củaFestival là sự đánh giá những đóng góp của hoạt động đó cho nền kinh tế trongvùng (địa phương) Những câu hỏi căn bản mà nghiên cứu tác động kinh tế phảigiải quyết đó là:

- Khách Du lịch chi tiêu bao nhiêu ở các điểm Du lịch trong vùng trongthời gian tổ chức Lễ hội?

Trang 26

- Nhờ vào Festival, doanh nghiệp địa phương tiêu thụ được các loại hànghóa nào?

- Thu nhập mà Festival mang lại cho kinh tế hộ gia đình và doanh nghiệptrong vùng là bao nhiêu?

- Festival tạo ra được bao nhiêu việc làm trong vùng?

- Thuế thu và các khoản phí trực tiếp được từ Festival là bao nhiêu?Đồng thời, một sự đánh giá đầy đủ về tác động kinh tế của Festival phải đánhgiá tác động ở 3 cấp độ: cấp độ trực tiếp, cấp độ gián tiếp, cấp độ lâu dài và tácđộng tổng thể [40;36, 132-135]

Như vậy, các chỉ tiêu đánh giá tác động của Festival là:

- Tác động trực tiếp về doanh thu, thu nhập (cá nhân, doanh nghiệp, hộgia đình), cơ hội việc làm

tế của Festival Huế 2004 đối với Khách sạn, Nhà hàng được xác định như sau:

- Mức thu hút khách tham dự Festival Huế 2004 ngoài địa phương;

- Tổng chi tiêu của khách tham dự Festival tại các Khách sạn, Nhà hàng;

Trang 27

- Mức đầu tư của các Khách sạn, Nhà hàng phục vụ kinh doanh trong dịpFestival;

- Mức độ tác động về lao động;

- Các tác động khác

1.2.5 Phương pháp ước tính mức các chỉ tiêu tác động

1.2.5.1 Xác định số lượng khách tham dự Festival

Việc xác định số lượng khách tham dự Festival được thực hiện theonguyên tắc:

- Loại trừ khách tham dự là người địa phương

Vì rằng, những đồng tiền mà dân cư địa phương chi tiêu không phải lànhững đồng "tiền mới" được "bơm vào" nền kinh tế địa phương nên nó khônggây ra tác động Mặt khác, những người dân trong vùng không chi tiêu vào dịp

Lễ hội thì họ cũng sẵn sàng chi tiêu cho những trò giải trí khác trong vùng, chonên chi tiêu của dân cư địa phương vào Lễ hội không tạo ra tác động kinh tếđối với vùng [40]

- Loại trừ khách Du lịch đến vùng trùng hợp với thời gian tổ chứcFestival

Bởi vì, không có mục đích tham dự Festval nên dù có hay không cóFestival thì họ vẫn thực hiện chuyến Du lịch của mình Do đó, những đồng tiềncủa họ dù có hay không có Lễ hội vẫn được chi tiêu tại vùng

Như vậy, chỉ những khách Du lịch ngoài địa phương đến với mục đích

tham dự Lễ hội mới được xem là tác nhân tạo ra tác động kinh tế.

Thông thường việc ước tính khách tham dự Festival là dựa vào kết quảcông bố của các cơ quan thống kê phối hợp với khảo sát điều tra mục đíchchuyến đi của khách bằng bảng câu hỏi

Trang 28

1.2.5.2 Tổng số và cơ cấu chi tiêu của khách Du lịch

Tổng mức chi tiêu được ước tính bởi một trong 2 công thức sau:

Công thức 1:

Công thức 2:

- Mức chi tiêu bình quân một lượt khách trong cả chuyến đi hoặc 1 ngày/người được xác định thông qua điều tra, khảo sát chi tiêu của khách tại tất cảcác điểm hoạt động và thực hiện trong suốt thời gian tổ chức Festival

- Cơ cấu chi tiêu cũng được điều tra và thông thường phân chia như sau:+ Chi phí lưu trú;

+ Chi phí ăn uống;

+ Chi phí đi lại (trong vùng);

+ Chi phí vui chơi giải trí;

+ Chi phí hàng lưu niệm và mua bán lẻ khác

- Khi sử dụng phiếu điều tra để ước tính mức chi tiêu của khách tham dự

Festival, cần lưu ý đến việc phân đoạn thị trường khách thông thường đượcphân đoạn như sau [ 45,3] :

1 Người tiêu dùng ban ngày của địa phương

2 Người tiêu dùng ban ngày ngoài địa phương

3 Du khách cắm trại qua đêm

4 Du khách thuê khách sạn và các loại hình lưu trú khác

5 Du khách lưu trú qua đêm tại bà con, bạn bè

Tổng lượt khách ngoài địa phương tham dự Festival x

Mức chi tiêu bình quân một ngày/người

Mức chi tiêu bình quân một ngày/người x

số ngày lưu trú bình quân của một khách tham dự

số ngày lưu trú bình quân của một khách tham dự

Tổng mức

chi tiêu Tổng mức chi tiêu =

Tổng lượt khách ngoài địa phương tham dự Festival

Tổng lượt khách ngoài địa phương tham dự Festival x

Mức chi tiêu bình quân một chuyến đi/lượt khách

Mức chi tiêu bình quân một chuyến đi/lượt khách

Trang 29

Chi phí tổng thể của từng phân được xác định bởi công thức:

S j = N* M i * S i j

Trong đó:

Sj : Tổng chi phí của loại chi tiêu j, j = 1, J;

N: Tổng số du khách tham dự;

m: Số lượng phân đoạn thị trường;

Mi: Thị phần của phân đoạn thị trường i (%) trong tổng số khách tham dự, i = 1, m;

Si j:mức chi tiêu trung bình của 1 khác của đoạn thị trường i cho dịch vụ

j

Tổng chi phí của tất cả các đoạn thị trường là tổng chi phí của kháchtham dự Festival

1.2.5.3 Thu nhập của chính phủ thông qua phí và thuế

Thường được ước tính bằng cách nhân từng loại chi phí của khách Dulịch tại Festival với các tỷ lệ thuế tương ứng, đồng thời xem xét các báo cáo về

các khoản thu phí trực tiếp

1.2.5.4 Tổng số việc làm mới được tạo ra

Tổng số việc làm được tạo ra do sự gia tăng chi tiêu của khách đi lịch,thông thường được dựa vào tỉ lệ giữa lao động trực tiếp và mức doanh thu Cóthể tính toán bằng cách một lao động mỗi năm tạo ra bao nhiêu doanh thu hoặc

là một triệu doanh thu trong một năm thì cần bao nhiêu lao động Tỷ lệ nàycũng thường được các ngành chức năng công bố hàng năm Ví dụ như báo cáocủa Sở Du lịch TTH, năng suất lao động trong Doanh nghiệp nhà nước là 70triệu đồng/người/năm và Doanh nghiệp tư nhân là 57,7 triệu đồng/người/năm.Một công bố của bang MICHIGAN (Mỹ) năm 1996 cho biết rằng, cứ 23 laođộng thì tương ứng với 1 triệu USD/năm doanh thu đối với ngành khách sạn[36,5-13]

i = 1 m

Trang 30

Khi đánh giá tác động của Lễ hội, cần phải lưu ý khi ước tính số việc làmmới được tạo ra, bởi thời gian diễn ra Lễ hội ngắn, nên phải có sự qui đổi việclàm bán thời gian thành việc làm ổn định.

1.2.5.5 Chi phí từ ngân sách và các khoản tài trợ

Chi phí từ ngân sách thông thường là những khoản chi đầu tư của chínhquyền địa phương về xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng những công trình mớihoặc các chi phí trực tiếp cho Festival được xem là tác động tích cực vì nó làmgia tăng các hoạt động kinh tế trong vùng, tạo ra các cơ hội việc làm mới

Đối với các khoản chi phí về đảm bảo an ninh trật tự, phòng cháy chữacháy, y tế, chống xuống cấp cơ sở hạ tầng, giữ gìn môi trường, môi sinh thìđược xem là tác động tiêu cực

Việc xác định các chi phí này thường thông qua báo cáo của các cơ quanchức năng thuộc chính quyền địa phương

1.2.6 Kinh nghiệm của một số quốc gia về đánh giá tác động kinh tế của Du lịch, Festival

Đánh giá tác động kinh tế của Du lịch đã được các nước có ngành Dulịch phát triển thực hiện từ hơn 3 thập kỷ qua Lý luận cũng như thực tiễn củavấn đề này đã được đưa vào các giáo trình kinh tế Du lịch để giảng dạy ở cáctrường đại học, ví dụ như giáo trình “Tourism – Principles and practice” củacác tác giả Chris Coooper, Jonh Fletcher, David Gilbert và Stephen Wanhillxuất bản lần đầu tiên năm 1993, hay “ Economic impacts of Tourism” của

Daniel J Stynes xuất bản năm 1997, 1998 Tuy nhiên, đánh giá tác động kinh

tế của Festival lại được nghiên cứu muộn hơn, chủ yếu là từ sau những năm

1990

Theo các tài liệu tìm thấy trên các Website thì từ năm 1992 việc đánh giátác động kinh tế của Du lịch nói chung và Festival nói riêng trở nên thuận tiện

Trang 31

và đơn giản hơn nhờ ứng dụng các mô hình toán kinh tế dựa trên các chươngtrình máy tính Các mô hình đánh giá thường được sử dụng là:

- The National Park Service’s “Money Generation Model” (MGM) (tạmdịch là Mô hình phát sinh tiền tệ của dịch vụ công viên quốc gia) Đây là môhình đơn giản nhất, nó đã được sử dụng để đánh giá tác động kinh tế các côngviên quốc gia Mammoth Cave ở Kentucky vào những năm 1990

- BEA’s RIM II là mô hình của ban phân tích kinh tế của bang Michigan(Mỹ) xây dựng để đánh giá tác động kinh tế của Du lịch Mô hình này thườngđược sử dụng cho việc ước tính các “hiệu ứng tác động tác động phụ” (tổngcủa hiệu ứng gián tiếp và hiệu ứng lâu dài)

- The MI - REC/IMPLAN System (tạm dịch là hệ thống MI - REC/IMPLAN) Đây là mô hình do Stynes và Propst xây dựng trên cơ sở ứng dụngmáy tính Mô hình này hiện nay được sử dụng rộng rãi không chỉ ở Mỹ mà còn

ở nhiều quốc gia khác để đánh giá tác động kinh tế của Du lịch, Festival hoặcmột sự kiện nào đó

Trang 32

Sau đây là một số công trình nghiên cứu đã được công bố:

1.2.6.1 Công bố của phòng thông tin và cơ quan nghiên cứu Du lịch Ottawa

Tại vùng Ottawa (Canada) mỗi năm có 21 Lễ hội và sự kiện (Festivals vàevents) diễn ra từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm Cục Du lịch và hội nghịOttawa là cơ quan nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế đã công bố năm 2003

đã có tổng số 1,5 triệu khách tham dự vào các Lễ hội và sự kiện trong vùng Tàiliệu này đã đề cập khá toàn diện đến quá trình và phương pháp thu thập dữ liệu,phương pháp tính toán các chỉ tiêu tác động kinh tế của Festival và sự kiện Đãlượng hóa được tác động của Festival và sự kiện thông qua các chỉ tiêu nhưmức chi tiêu và cơ cấu chi tiêu của khác Du lịch; mức tác động trực tiếp, tácđộng gián tiếp, tác động lâu dài và tổng tác động về kinh tế; tổng đóng góp vàoGDP của địa phương; tổng số việc làm được tạo ra; thu nhập chính phủ (cáckhoản thuế và phí) Phương pháp chủ yếu trong đánh giá tác động kinh tế là đisâu nghiên cứu khách tham dự Festival và sự kiện bằng cách chọn mẫu điều tra(điều tra tại chỗ bằng phỏng vấn, gửi bảng câu hỏi, điều tra qua điện thoại )

1.2.6.2 Công trình nghiên cứu của Joe Halstead

Joe Halstead đã nghiên cứu về tác động kinh tế của Caribana - mộtFestival có qui mô lớn, được tổ chức định kỳ tại thành phố Toronto Ông vànhóm nghiên cứu đã đánh giá các tác động trực tiếp, gián tiếp, lâu dài về kinh tếcủa Festival Caribana theo các chỉ tiêu tổng mức chi tiêu của khách, việc làm,thu nhập chính phủ Ngoài ra, nhóm còn nghiên cứu đánh giá tác động kinh tếcủa các khoản đầu tư cho việc tổ chức Festival

1.2.6.3 Các nghiên cứu của Australia

Trang 33

Tại Australia gần đây đã công bố khá nhiều các tài liệu về đánh giá tácđộng kinh tế của Festival và sự kiện Ví dụ như các Festival được tổ chức tạibang Victoria, tác động kinh tế của Olympic năm 2000 Trong các tài liệu đócác chỉ tiêu đánh giá tác động cũng là mức chi tiêu của khách tham dự, số việclàm mới được tạo ra, thu nhập chính phủ Tài liệu còn nêu lên các mô hìnhđánh giá, phương pháp chọn mẫu điều tra, thu thập thông tin và xử lý dữ liệu.

Tóm lại, đánh giá tác động kinh tế của Festival đã được thực hiện mộtcách thường xuyên và chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia, nhiều vùng trong mộtquốc gia Điểm chung nhất mà chúng ta nhận thấy là: các chỉ tiêu đánh giá;phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu; ứng dụng mô hình IMPLAN để ước tínhtác động trực tiếp, tác động gián tiếp, tác động lâu dài đối với các chỉ tiêu thunhập, việc làm, nguồn thu chính phủ

Chương 2

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội

TTH là tỉnh miền Trung Việt Nam cách Hà Nội 660km về phía Bắc vàcách Thành phố Hồ Chí Minh 1.080km về phía Nam; có diện tích tự nhiên là

5054 km2 với 120 km bờ biển, chiếm 1,5% diện tích quốc gia

Cơ cấu địa hình của tỉnh khá đa dạng, bao gồm: Đồi núi, đầm phá, duyênhải và biển liên kết với nhau trong một không gian hẹp Nhiệt độ trung bìnhhàng năm ở khu vực đồng bằng là 24,60C - 250C, ở vùng núi là 21,60C - 220C

Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1600 - 1800 giờ; lượng mưa trung bìnhhàng năm khoảng 2800mm với số ngày mưa trung bình là 158 ngày

Trang 34

Năm 2004, dân số của tỉnh là 1.091.994 người Mật độ dân số: 216người/km2 Dân cư của TTH chủ yếu gồm có 4 dân tộc: Kinh, Pakô, Tà Ôi,Vân Kiều

Về mặt kinh tế, TTH được xác định là một trong những khu kinh tế trọngđiểm của miền Trung Cơ cấu kinh tế của tỉnh đang thay đổi theo hướng tăngdần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng của ngành nôngnghiệp Năm 2004, tỷ trọng ngành dịch vụ 43,8%, tiếp đó là công nghiệp33,6%, nông nghiệp 22,6% Sự phát triển với tốc độ cao của ngành Du lịch đã

và đang góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh

tế của tỉnh

2.1.2 Tài nguyên Du lịch chủ yếu của TTH

TTH là một trong những tỉnh có tài nguyên Du lịch vào loại phong phú nhất Việt Nam

Các tài nguyên nhân văn có tính hấp dẫn lớn, có sức thu hút khách cao,

gồm: hai di sản văn hoá thế giới (Quần thể di tích Cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế); nhiều di tích lịch sử được xếp hạng quốc gia; di tích Hồ Chí

Minh, Phan Bội Châu; các công trình kiến trúc tôn giáo; các bảo tàng; các làngnghề thủ công truyền thống; các Lễ hội dân gian, Lễ hội tôn giáo; phong tục,tập quán của các dân tộc ít người; nghệ thuật và mỹ thuật Huế; ẩm thực Huế Bên cạnh tài nguyên nhân văn, tài nguyên tự nhiên của TTH cũng rất đadạng, tạo thuận lợi cho phát triển Du lịch tự nhiên, Du lịch biển, Du lịch nghỉdưỡng như Sông Hương, Vườn quốc gia Bạch Mã với diện tích hơn 22.000ha.Các bãi biển Lăng Cô, Cảnh Dương, Thuận An Hệ thống đầm phá Tam Giang

- Cầu Hai lớn nhất vùng Đông Nam Á, dài 68km, chạy dọc theo bờ biển, có hệsinh thái đa dạng; mạch nước khoáng Mỹ An, Thanh Phước, Thanh Tân, ARoàng

Trang 35

Điểm nổi trội của các tài nguyên Du lịch tại TTH là chúng được phân bốtập trung, có tính liên kết cao, bền vững và đặc biệt là tính độc đáo (Di sản vănhoá phi vật thể, quần thể kiến trúc cung đình khá nguyên vẹn và văn hoá cungđình) Lợi thế về vị trí địa lý và tài nguyên Du lịch cho phép TTH phát triểnnhiều loại hình Du lịch như: Tham quan, nghỉ dưỡng, Văn hoá gắn với Lễ hội(Festival), sinh thái, nghiên cứu học tập Cũng chính vì vậy, Thành phố Huế

đã được Tổng cục Du lịch công nhận là Thành phố Du lịch và Tỉnh TTH nằmtrong vùng trọng điểm Du lịch quốc gia Trong chiến lược phát triển kinh tế từnăm 2000 – 2010, Tỉnh TTH đã xác định Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn vàxây dựng TPH trở thành thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam

di sản văn hóa thế giới vào 12/1993 đã dẫn tới sự bùng nổ về Du lịch quốc tếđến TTH, số khách Du lịch quốc tế đến TTH thời gian đó tăng với tốc độ bìnhquân là 63%/năm (từ 11.500 khách năm 1990 lên đến 131.407 khách năm1995)

Tốc độ tăng số của khách quốc tế đến TTH trong giai đoạn này cao hơntốc độ tăng lượng khách quốc tế đến Việt Nam, nên thị phần tỷ lệ khách đếnTTH trong tổng số khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng từ 4,6% (năm 1990)

lên đến 9,7% (năm 1995).

2.1.3.2 Giai đoạn 1996 - 2004

* Về khách Quốc tế

Trang 36

Năm 2004, lượng khách quốc tế đến TTH tăng gấp 1,96 lần so với năm

1996 (từ 138.000 lượt khách năm 1996 lên đến 261.440 lượt khách năm 2004)như vậy, tốc độ tăng lượng khách quốc tế đế TTH thấp hơn nhiều so với giaiđoạn 1990-1995, chỉ đạt mức bình quân xấp xỉ 12%/năm; song vẫn cao hơn tốc

độ tăng bình quân hàng năm về lượng khách quốc tế đến Việt Nam

* Về khách Nội địa

Lượng khách nội địa đến TTH tăng 3,15 lần (từ 157.000 lượt khách năm

1996 lên đến 496.000 lượt khách năm 2004) Khách nội địa, tốc độ tăngtrưởnggiai đoạn này đạt 16,2%/năm

* Về thu nhập

Tổng thu thuần túy Du lịch năm 2004 đạt 368 tỷ đồng, tăng 3,57 lần sovới năm 1996 (102,806 tỷ đồng) Tốc độ tăng thu nhập bình quân hàng năm là 16% (xem biểu đồ 1)

Nguồn Sở Du lịch TTH

Biểu đồ 1: Số lượt khách Du lịch đến TTH (1990 – 2004)

ĐVT: Triệu đồng

70.000 93.400102.806

116.320 140.000 154.040

189.620 232.080

302.000 280.000 386.000

194.610 232.330

270.000 210.000 261.440

15.000 11.500

385.000 400.000 496.000

Trang 37

Nguồn: Sở Du lịch TTH

Biểu đồ 2 : Thu nhập thuần túy của Du lịch (1990 - 2004)

Tốc độ tăng thu nhập bình quân hàng năm của ngành Du lịch cao hơn tốc

độ tăng bình quân về thu nhập từ các ngành khác, do vậy, mức đóng góp củaNgành Du lịch vào thu nhập chung vào GDP của tỉnh đã tiếp tục tăng từ 3,5%

(năm 1996) lên 9,35% (năm 2004)

2.1.4 Hệ thống cơ sở bán lẻ và các ngành sản xuất Tiểu thủ Công nghiệp (TTCN) phục vụ Du lịch

Theo số liệu của Ban kinh tế TPH, đến năm 2004 toàn thành phố cókhoảng 5.761 cơ sở bán lẻ gồm: Nhà hàng quán ăn, Sản xuất tiểu thủ côngnghiệp phục vụ Du lịch với 12.833 lao động, doanh thu 815 tỷ đồng Trong đó

hệ thống cơ sở bán lẻ là 3.024 cơ sở, kinh doanh các loại hàng hoá chủ yếunhư: Hàng lưu niệm, văn hoá phẩm, vật phẩm, hàng đặc sản; doanh thu năm

2004 khoảng 378 tỷ đồng; lao động khoảng 4.000 người Hệ thống Nhà hàng quán ăn 1.661 cơ sở; doanh thu năm 2004 khoảng 256 tỷ đồng; lao độngkhoảng 2.717 người Cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp phục vụ Du lịch vàxuất khẩu là 1.076 cơ sở; doanh thu 181 tỷ đồng; lao động khoảng 6.161 người.Tiểu thủ công nghiệp của địa phương tập trung chủ yếu vào các nhóm nghề:

Trang 38

-Mộc mỹ nghệ - Chạm khảm, Khảm xương - Ốc - Xà cừ - Sơn mài, Thêu truyềnthống, Đúc đồng mỹ nghệ, Mây tre đan lát, Nón lá, Đóng dày dép, Kim hoàn,May trang phục, Sản xuất kẹo mè xững – bánh kẹo, Sản xuất mắm - Nướcchấm các loại, Sản xuất Nem - Chả - Tré, Sản xuất Bún - Bánh (xem phụ lục 3)

Trong những năm qua, hệ thống cơ sở bán lẻ và các ngành tiểu thủ côngnghiệp đã có những đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế Du lịch của TỉnhTTH

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện các mục tiêu đã nêu, đề tài sử dụng các phương phápnghiên cứu sau đây:

2.2.1 Phương pháp Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Đây là phương pháp có tính chất chung và xuyên suốt nhằm đảm bảo cho

đề tài đạt được sự logic về nội dung, hình thức, trình tự thời gian Đồng thời, đềtài sử dụng kết hợp chặt chẽ giữa tư duy biện chứng với quan điểm lịch sử, tính

kế thừa, xu hướng phát triển trong nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn Đặtvấn đề nghiên cứu tác động kinh tế của Festival Huế trong mối quan hệ với bảotồn và phát huy các giá trị Văn hóa truyền thống địa phương; sự phát triểnchung của Du lịch thế giới, Du lịch Việt Nam và Du lịch tỉnh TTH

2.2.2 Phương pháp phân tích thống kê tổng hợp

Để đánh giá tác động kinh tế của Festival Huế 2004, đề tài sử dụng kếthợp cả hai loại phân tích thống kê thông dụng: phân tích định tính và phân tíchđịnh lượng Hai phương pháp phân tích này sẽ hỗ trợ tích cực cho nhau trongviệc làm sáng tỏ các nhận định hoặc rút ra các kết luận của vấn đề nghiên cứu

Nguồn số liệu phục vụ cho nghiên cứu đánh giá là số liệu thứ cấp đượcthu thập từ các báo cáo đã được công bố của các cơ quan, tổ chức và số liệu thứcấp thu thập bằng phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi kín hoặc phỏng

Trang 39

- Đối với số liệu thứ cấp: các số liệu về tình hình kinh doanh Du lịch,

phát triển cơ sở vật chất, lao động qua các năm được thu thập qua sở Du lịch,cục thống kê và một số công trình nghiên cứu đã được công bố Các số liệu vềđặc điểm địa bàn nghiên cứu thu thập qua cục thống kê Thu thập thông qua sởtài chính vật giá và ban tổ chức Festival Huế các số liệu về nguồn thu, chi trựctiếp cho Festival Ngoài ra, số liệu sơ cấp còn được thu thập qua các báo cáotổng kết của sở Du lịch, ban tổ chức Festival, báo cáo khoa học, và các nguồn

số liệu cập nhật từ các trang Web của tổ chức Du lịch thế giới (WTO), Tổngcục Du lịch (VNAT), ban tổ chức Festival Huế

- Đối với số liệu sơ cấp: Sử dụng 2 bảng câu hỏi kín dành cho 2 đối

tượng là khách Du lịch ngoài địa phương có mặt tại TPH vào thời gian tổ chứcFestival 2004 và các doanh nghiệp kinh doanh Khách sạn, Nhà hàng trên địabàn (phụ lục 1 và 2)

Bảng câu hỏi dành khách được thiết kế trên cơ sở tham khảo các tài liệunước ngoài về đánh giá tác động kinh tế của Festival Mục đích chính của bảngcâu hỏi này là để điều tra về mục đích chuyến đi, nơi thường trú và đặc biệt làmức chi tiêu và cơ cấu chi tiêu của khách tại TPH trong thời gian diễn raFestival Huế 2004 Ngoài ra, còn điều tra thêm các thông tin đánh giá theothang điểm Likert để lượng hóa các đánh giá và mức độ hài lòng của kháchtham dự Festival Huế 2004

Bảng câu hỏi dành cho các cơ sở kinh doanh Khách sạn, Nhà hàng đượcthiết kế nhằm mục đích thu thập số liệu về doanh thu, mức đầu tư chuẩn bị đểphục vụ khách trong dịp Festival 2004, mức tăng thêm về lao động, thuế Sửdụng thang điểm Lekert để lượng hóa mức độ đánh giá của chủ doanh nghiệp

về tác động kinh tế của Festival

- Về phương pháp chọn mẫu điều tra

Trang 40

Đối với điều tra khách tham dự Festival Huế 2004: Theo kinh nghiệmđánh giá động kinh tế của Festival tại một số quốc gia, việc điều tra khách tham

dự phải thực hiện ngay trong thời gian diễn ra Festival và sử dụng phương phápchọn mẫu xác suất theo cách “lấy mẫu ngẫu nhiên đơn thuần” [4,79] Tuynhiên, do thời gian thực hiện đề tài và thời gian tổ chức Festival Huế 2004không trùng nhau nên phải điều tra khách qua đường bưu điện Một khó khăntrong qua trình điều tra là hầu hết các khách sạn không lưu lại địa chỉ cụ thể củakhách hàng mà chỉ lưu số chứng minh nhân dân Tìm hiểu qua 75 cơ sở kinhdoanh, chỉ tìm được 350 địa chỉ để gửi thư, do đó, đề tài phải sử dụng phươngpháp chọn mẫu phi xác suất và có định hướng theo cơ cấu thị trường khách Dulịch nội địa đến Huế trong thời gian qua Cách chọn mẫu này có hạn chế làkhông đưa ra cơ sở sở để đánh giá qui mô giao động của mẫu và sai số ướclượng Tuy nhiên, chọn mẫu phi xác suất có thể áp dụng cho việc chứng minh,làm rõ cơ sở các giả thuyết, nhận định, Nếu có sự kết hợp tốt với số liệu thứcấp để phân tích thì kết quả vẫn có thể đảm bảo tính đại diện cho tổng thể.Đối với các Khách sạn, Nhà hàng tại địa bàn Thành phố Huế: đề tài thựchiện điều tra 75 cơ sở kinh doanh Khách sạn, Nhà hàng trên địa bàn, đây lànhững Khách sạn, Nhà hàng chuyên phục vụ khách Du lịch Trên thực tế thìvẫn còn một số cơ sở kinh doanh lưu trú, ăn uống khác không được điều tranhưng đây là những cơ sở cấp thấp, chủ yếu phục vụ cho khách địa phương Vìthế, có thể xem như đề tài đã thực hiện điều tra toàn bộ các cơ sở kinh doanhkhách sạn, nhà hàng chuyên phục vụ khách Du lịch trên địa bàn TPH

2.2.3 Phương pháp chuyên gia

Sử dụng phương pháp chuyên gia với những nhận định mang tính chấtđịnh hướng; những đánh giá định tính, chuyên sâu nhưng chưa đủ nguồn sốliệu để phân tích định lượng Phương pháp được sử dụng là phỏng vấn trực tiếpcác chuyên gia là giám đốc khách sạn, chủ các cơ sở kinh doanh lớn trên địa

Ngày đăng: 04/08/2013, 14:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1:  Qui trình tăng gấp bội - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Sơ đồ 1 Qui trình tăng gấp bội (Trang 16)
Bảng 1: Hệ số tăng gấp bội đầu ra Du lịch ở một số hạt của Mỹ  và một số nước - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 1 Hệ số tăng gấp bội đầu ra Du lịch ở một số hạt của Mỹ và một số nước (Trang 17)
Bảng 4: Một số chỉ tiêu quan trọng của các lần Festival - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 4 Một số chỉ tiêu quan trọng của các lần Festival (Trang 44)
Bảng 5: Số ngày Lưu trú bình quân của khách tham dự Festival - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 5 Số ngày Lưu trú bình quân của khách tham dự Festival (Trang 50)
Bảng  9:    Mức chi tiêu bình quân  và cơ cấu chi tiêu của khách tham dự Festival Huế 2004 - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
ng 9: Mức chi tiêu bình quân và cơ cấu chi tiêu của khách tham dự Festival Huế 2004 (Trang 57)
Bảng 10: Kết quả kiểm định mối liên hệ giữa chi phí của khách tham dự với các nhân tố ảnh hưởng - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 10 Kết quả kiểm định mối liên hệ giữa chi phí của khách tham dự với các nhân tố ảnh hưởng (Trang 59)
Bảng 11: Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức  chi tiêu của khách - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 11 Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức chi tiêu của khách (Trang 61)
Bảng 12:  Kết quả ước tính tổng mức chi tiêu của khách tham dự Nội địa - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 12 Kết quả ước tính tổng mức chi tiêu của khách tham dự Nội địa (Trang 64)
Bảng 14: Kết quả ước tính tổng mức chi tiêu của khách tham dự Nội địa - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 14 Kết quả ước tính tổng mức chi tiêu của khách tham dự Nội địa (Trang 65)
Bảng 15: Doanh thu và cơ cấu Doanh thu các doanh nghiệp điều tra - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 15 Doanh thu và cơ cấu Doanh thu các doanh nghiệp điều tra (Trang 69)
Bảng 16: Tỷ lệ doanh thu tăng lên Chỉ tiêu So sánh tháng - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 16 Tỷ lệ doanh thu tăng lên Chỉ tiêu So sánh tháng (Trang 70)
Bảng 17: Đánh giá của Chủ Doanh nghiệp về các tác động kinh tế của  Festival Huế 2004 - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 17 Đánh giá của Chủ Doanh nghiệp về các tác động kinh tế của Festival Huế 2004 (Trang 75)
Bảng 19: Chi phí đầu tư của cơ sở kinh doanh - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 19 Chi phí đầu tư của cơ sở kinh doanh (Trang 78)
Bảng 20: Phân tích các khoản đầu tư phục vụ Festival Huế 2004 của các Doanh nghiệp - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 20 Phân tích các khoản đầu tư phục vụ Festival Huế 2004 của các Doanh nghiệp (Trang 79)
Bảng 22: Tác động của Festival với quy mô và cấp hạng khách sạn - Đánh giá tác động về kinh tế của festival huế 2004 đối với khách sạn, nhà hàng  tại thành phố huế
Bảng 22 Tác động của Festival với quy mô và cấp hạng khách sạn (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w