1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ

150 799 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
Tác giả Nguyễn Chí Thắng
Người hướng dẫn TS. Vũ Đình Chính
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Trồng Trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 14,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-

NGUYỄN CHÍ THẮNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ðỘ TRỒNG, LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỈA CÀNH ðẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY SƠN TRỒNG TRÊN ðẤT ðỒI TẠI HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT

Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ ðÌNH CHÍNH

HÀ NỘI – 2008

Trang 2

LỜI CAM DOAN

- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược sử dụng ñể bảo vệ bất kỳ một học vị nào

- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Chí Thắng

Trang 3

- Gia ñình, bạn bè, ñồng nghiệp và người thân ñã ñộng viên cổ vũ

và giúp ñỡ trong quá trình học tập và thực hiện ñề tài /

Tác giả

Nguyễn Chí Thắng

Trang 4

2.2 Những kết quả nghiên cứu cây sơn trên thế giới

3.2 Thời gian, ñịa ñiểm và nội dung nghiên cứu 40

4.1.2 Hiện trạng sử dụng tài nguyên ñất trên ñịa bàn huyện 53 4.1.3 Hiện trang sản xuất sơn nhựa tại huyện Tam Nông 57

Trang 5

4.2.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến sinh

trưởng phát triển và năng suất nhựa của cây sơn 63 4.2.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức phân

bón ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất nhựa sơn 76 4.2.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa

cành ñến sinh trưởng phát triển và năng suất của cây sơn 92

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

2.1 Diện tích trồng sơn và lượng nhựa thu mua ñược (1952- 1959) 15 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng sơn ở tỉnh Phú Thọ (1975- 2007) 17 4.1 Diễn biến một số yếu tố khí hậu năm 2007 và ñầu năm 2008 52 4.2 Kết quả phân tích phẫu diện ñất tại ñồi ổi Rồng xã Dị Nậu, huyện

4.3 Diện tích, năng suất, sản lượng sơn ở huyện Tam Nông 1999- 2007 57 4.4 Kết quả ñiều tra các yếu tố hạn chế sản xuất sơn huyện Tam Nông 60 4.5 ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao

4.8 ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến tốc ñộ tăng trưởng ñường kính

4.9 ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến khả năng phân cành cấp 1, 2

4.10 ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến chiều rộng tán cây (cm) 72 4.11 ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến ra hoa của cây 73 4.12 ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây 74 4.13 ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến một số yếu tố cấu thành năng

4.14 ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến ñộng thái tăng trưởng

Trang 8

4.15 ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến tốc ñộ tăng trưởng chiều

4.16 ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến ñộng thái tăng trưởng

4.17 ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến tốc ñộ tăng trưởng

4.18 ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến khả năng phân cành cấp

4.19 ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến chiều rộng tán cây (cm) 86 4.20 ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến ra hoa của cây 87 4.21 ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến một số chỉ tiêu sinh

4.22 ảnh hưởng của liều lượng phân bónñến một số yếu tố cấu thành

4.23 ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến một số chỉ tiêu chất

4.24 ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến hiệu quả kinh tế 91 4.25 ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành ñến ñộng thái tăng

4.26 ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành ñến tốc ñộ tăng trưởng

4.27 ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành ñến ñộng thái tăng

4.28 ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành ñến tốc ñộ tăng trưởng

4.29 ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành ñến chiều rộng tán cây 99 4.30 ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành ñến ra hoa của cây 100

Trang 9

4.31 ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành ñến một số chỉ tiêu

4.32 ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật tỉa cành ñến một số yếu tố cấu

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

4.1 ảnh hưởng của mật ñộ trồng ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao

4.6 ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến tốc ñộ tăng trưởng chiều

Trang 11

1 MỞ ðẦU

1.1 Tính cấp thiết của ñề tài

Cây sơn là cây trồng có nguồn gốc nhiệt ñới, cây công nghiệp lâu năm nhưng thời gian thu hoạch tương ñối ngắn so với chè, cà phê Cây sơn tương ñối dễ trồng nhanh cho thu hoạch, ñó là một ñặc ñiểm mà nông dân trồng sơn rất thích Sơn có tiềm năng và triển vọng phát triển trên ñất vùng ñồi trung du, miền núi Hiện nay, sơn là cây trồng có giá trị và hiệu quả cao so với các loại cây trồng dài ngày trên ñất vùng ñồi, ñặc biệt là ñất ñồi thấp, có ñộ dốc vừa phải Vì vậy trồng cây sơn vừa có tác ñộng thúc ñẩy phát triển kinh tế, vừa có

ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc khai thác ñất trống, ñồi núi trọc Góp phần thực hiện chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững, gắn với quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp - hiện ñại hóa nông thôn Trồng cây sơn lấy nhựa cung cấp cho công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và khôi phục ngành nghề, làng nghề truyền thống, ñể sản xuất các mặt hàng xuất khẩu ñặc thù ñịa

lý có lợi thế cạnh tranh cao ðặc biệt là phát huy những ñặc tính và giá trị quý báu của nhựa sơn ñể duy trì và phát triển nghề sơn mài truyền thống ñộc ñáo góp phần xây dựng nền văn hoá ñậm ñà bản sắc dân tộc và hiện ñại của Việt Nam ðối với người dân trồng cây sơn, thì nhựa sơn ñược xem là nguồn thu nhập chính, cây sơn ñược xem là cây xóa ñói giảm nghèo, cây giúp cho nông dân vươn lên làm giàu ngay trên mảnh ñất quê hương

Trong bối cảnh ñất nước ñang ñẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế Quốc tế, thì việc lựa chọn ñối tượng sản xuất có lợi thế cạnh tranh là hướng ñến bền vững với sản xuất nông nghiệp hàng hóa nhằm phát huy ñược thế mạnh ñặc thù của từng vùng Tuy nhiên, ñối với bất kỳ sản phẩm hàng hóa nào khi ñưa ra thị trường hiện nay cũng cần yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm, về khối lượng hàng hóa và về giá thành Muốn ñáp ứng ñược yêu

Trang 12

cầu ựó của thị trường phải thúc ựẩy thâm canh nâng cao năng suất, chất lượng

và sản lượng nhựa sơn, bằng việc ựầu tư phân bón, xác ựịnh mật ựộ trồng, cùng với xây dựng các biện pháp trồng trọt phù hợp ựể nâng cao hiệu quả của việc trồng sơn Song ựây là vấn ựề hoàn toàn mới trên ựối tượng cây trồng ựặc thù ựịa lý, nên cần ựược nghiên cứu ựầy ựủ ựể ựưa ra qui trình trồng trọt hợp

lý làm tài liệu cho công tác chỉ ựạo, khuyến cáo, hướng dẫn kỹ thuật giúp nông dân mở rộng và phát triển sản xuất sơn ựạt hiệu quả cao

để góp phần giải quyết vấn ựề trên, ựược sự hướng dẫn trực tiếp của

Tiến sĩ Vũ đình Chắnh, chúng tôi tiến hành ựề tài: ỘNghiên cứu ảnh hưởng của mật ựộ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành ựến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên ựất ựồi tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú ThọỢ

Trang 13

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Là ñề tài nghiên cứu ñầu tiên có hệ thống trên ñối tượng cây sơn (cây lấy nhựa), cây trồng ñặc thù ñịa lý, nhằm xác ñịnh mật ñộ, liều lượng phân bón phù hợp và biện pháp kỹ thuật tỉa cành hợp lý ñể mở rộng diện tích trồng cây sơn lấy nhựa trên ñất vùng ñồi huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

Kết quả nghiên cứu của ñề tài góp phần cho việc xây dựng qui trình trồng thâm canh cây sơn tại Phú Thọ Cung cấp tài liệu cho hệ thống khuyến nông cơ sở tổ chức tập huấn hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân

Kết quả nghiên cứu bổ sung vào tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chỉ ñạo phát triển sản xuất sơn

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Góp phần xây dựng và phát triển vùng trồng cây sơn trên ñất vùng ñồi thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ nói riêng và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nói chung

Góp phần cung cấp nguyên liệu có chất lượng cao, phục vụ một số ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển và khôi phục làng nghề, nghề truyền thống

Hạn chế bớt rủi ro, ñảm bảo tăng thu nhập cho người nông dân trồng sơn

Từng bước thay ñổi tập quán canh tác lạc hậu, khai thác tài nguyên ñất quá mức, thúc ñẩy phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững

1.4 Giới hạn của ñề tài

ðề tài ñược thực hiện trên ñất vùng ñồi của huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

Giống sơn ñược tham gia thí nghiệm: Giống sơn ñỏ (còn gọi là sơn giềng, sơn lá si)

Trang 14

Thời gian tiến hành thí nghiệm: trong 2 năm, chủ yếu nghiên cứu cây sơn ở thời kỳ kiến thiết cơ bản "Sơn hố, sơn rạ" và giai ñoạn ñầu của thời kỳ sơn kinh doanh "Sơn non" Ngoài ra có kế thừa các kết quả nghiên cứu trong

2 năm trước ñó của ñề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh trong công tác chọn giống, trồng mới và theo dõi sinh trưởng năm thứ nhất của cây sơn sau trồng

ñể tham khảo và làm cơ sở nghiên cứu

Trang 15

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu chung về cây sơn

2.1.1 Nguồn gốc lịch sử và phát triển của cây sơn

Từ xa xưa, do có nhiều ựặc tắnh ựộc ựáo nên nhựa sơn ựã sớm ựược ựưa vào sử dụng trong ựời sống nhân dân các nước từ Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Thái Lan, Myanma Do vậy cũng nảy sinh nhiều luận ựiểm và tranh cãi khác nhau về nguồn gốc của nghề sơn

Theo lời dẫn của đỗ Ngọc Quỹ (1986) [31] thì một số tác giả cho rằng

cây sơn nguyên sinh gốc Trung Quốc sau ựược phát triển sang các nước Những tài liệu sưu tầm ựược trên thế giới ựưa ra nhận ựịnh cây sơn phân bố ở các vùng Trung Quốc, Mông Cổ, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam, Triều Tiên, Miến điện, Lào, phắa ựông vùng núi Hi -ma-lay-a và Ấn độ Nghĩa là sơn chỉ phân bố trong vùng nhiệt ựới, ở ựộ cao khoảng 1000-2000 m so với mặt biển Luận ựiểm này không ựúng vì, ở Việt Nam, Nhân dân dân ta thường dùng nhựa Sơn Phú Thọ ựể làm sơn quang dầu (bàn, ghế, tủ) sơn gắn (thuyền, ựồ ựựng, ựồ gia dụng nông thôn) sơn mài (mỹ nghệ, tạo hình) Năm 1895, Việt Nam ựã bắt ựầu xuất khẩu nhựa sơn sang Nhật Bản Sơn nước ta tập trung ở các tỉnh, ven sông Hồng như Phú Thọ, Hà Tây, Yên Bái, Tuyên Quang Nhưng cây sơn chỉ trồng tập trung tại một số nơi trong tỉnh Phú Thọ (ở các huyện Tam Nông, Lâm Thao, Phù Ninh) Các xã trồng sơn nổi tiếng là: Tiên Kiên, Cổ Tắch, Vinh Quang, Phú Lợi (cũ), đào Xá, Dị Nậu, Phú Hộ Huyện Phong Châu có câu ca dao: ỘCổ tắch có cây Bồ ựề, có giếng tắm mát, có nghề cắt SơnỢ, có thể nói Phú Thọ là quê hương của cây sơn ở Việt Nam

Theo tài liệu của Lê Huyên (1995) [22] có ựoạn dẫn nội dung ghi trong cuốn Gia Phả họ Trần lưu tại thư viện Khoa học xã hội ỘBình Vọng Trần Thi Gia PhảỢ vào thời Lê Hiến Tông, hiệu Canh Thống ( 1498 Ờ 1564) ở làng

Trang 16

Bình Vọng- Thường Tắn- Hà đông có cụ Trần Dư có tên khác là Lương, tự là

Tu Khê, Trần Thượng Công, sinh năm Canh Dần ( 1470), năm Nhâm Tuất (1502) khi ông 32 tuổi, Trần Dư ựỗ Tiến sĩ, ông là người rất giỏi về nghề sơn

và ựã truyền dạy nghề sơn cho dân làng, khi ông chết dân làng ựã dựng ựền thờ ở quê ông và coi ông là Ông tổ của nghề sơn Về sau các thế hệ học trò của ông ựã lập thành nhiều phường thợ, toả ựi bốn phương làm nghề kiếm sống Phường giỏi thì vào cung ựình phục vụ nhà Vua, phường thì ựi ựến những nơi có nhu cầu về nghề sơn như các cung ựình, chùa, miếu hoặc nơi có ựời sống khá giả, những gia ựình giàu có ựể nhận làm hoành phi, câu ựối, tràng kỷ, ngai thờ Theo dòng lịch sử thợ sơn ngày càng ựông lên về số lượng, trưởng thành về nghề nghiệp và phân chia thành nhiều phường thợ ở nhiều ựịa phương khác nhau, mỗi nơi lại sáng tạo, cải tiến thêm làm cho nghề sơn phát triển một cách rực rỡ ựạt nhiều thành tựu huy hoàng Những tên ựất, tên làng

ựã gắn với nghề sơn như đình Bảng, Bình Cầu ( Hà Bắc),Liên Hà ( Hà Nội), Bình Vọng, Chuông The, đồng Vàng, Bối Khê, Hà Thai ( Hà Tây), đồng Tâm ( Nam Hà), mỗi nơi có thế mạnh riêng của ựịa phương mình về nghề sơn như : Sơn then (ựen) đình Bảng, đồ Nẹt Cát đằng ( Nam Hà), hàng tráp quả chợ Bằng ( Hà đông), hàng thúng, khảo chợ Dầu ( Nam Hà)

- Theo các tài liệu nghiên cứu về thực vật học và khảo cổ học ở Việt Nam, thì cây sơn Phú Thọ là một dạng sơn ựộc ựáo của Việt Nam

Tháng 4/1960, một ựoàn chuyên gia nông nghiệp Quảng Tây- Trung Quốc ựã sang Việt Nam tham quan cây sơn trồng tại Trại thắ nghiệm trồng trọt Phú Hộ - Bộ Nông Nghiệp Qua trao ựổi kinh nghiệm ựã xác nhận cây sơn Quảng đông, Tứ Xuyên khác cây sơn Phú Thọ, vì thuộc loại hình cây gỗ lớn, trồng ven các ựường ựi, cây 8 tuổi, ựường kắnh 30 cm mới cho khai thác nhựa, cây sơn Trung Quốc sống ựược 30 năm

Những tài liệu nghiên cứu năm 1961 của viện khảo cổ học Việt Nam

Trang 17

chứng minh người Việt cổ ựã biết dùng nhựa sơn từ thời ựại Vua Hùng dựng nước (cách ựây 2500 năm) Tháng 5 năm 1961, Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam ựã phát hiện ngôi mộ cổ ở Việt Khê ở Thuỷ Nguyên- Hải Phòng, thuộc thời ựại cuối đồng Thau- ựầu ựồ Sắt khoảng 500 năm trước công nguyên Trong mộ có nhiều hiện vật ựồ ựồng, ựồ gỗ và 3 hiện vật có vết tắch sơn : mái chèo gỗ, mảnh da thú và tráp gỗ quét sơn [45]

Khi đinh Văn Kiều và Lê Xuân Diệm( 1972) [11], khai quật ngôi mộ

cổ đường Dù ở đông Sơn- Thuỷ Nguyên- Hải Phòng, thu ựược rất nhiều di vật, trong ựó có ựồ làm sơn như : bát ựựng sơn, chổi quét sơn, vầy quét sơn Các tác giả trên có nhận xét ngôi mộ này chôn vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, những dụng cụ làm sơn của mộ đường Dù càng làm rõ thêm nghề sơn cổ truyền của Việt Nam ựã có từ lâu

Khi Phạm Quốc Quân (7/1976) nghiên cứu mộ thuyền Châu Sơn ở Cống Bùi- Kim Bảng - Hà Nam Trong mộ này cũng có những công cụ làm sơn giống như ở mộ đường Dù gồm các ựồ ựựng (thố) bằng sơn có trang trắ hoa văn theo nghệ thuật đông Sơn [25]

Ngoài những hiện vật ựã phát hiện ựược dưới những ngôi mộ cổ, trong các ựình, ựền, chùa, miếu thì ở nhiều gia ựình còn lưu giữ lại vô số những sản phẩm của nghề sơn, có thể nói rằng trong việc phục vụ tắn ngưỡng của nhân dân, ựồ sơn chiếm ưu thế lớn như ở ựình Trúc Khê ( Hà Nội), trong số 77 ựồ thờ ựã có ựến 68 di vật có sử dụng sơn Ở ựền Ngọc Sơn ( Hà Nội) trong số

129 di vật, chỉ có 6 di vật là không phủ sơn Hiện nay, vẫn còn lưu giữ ựược nhiều tác phẩm nghệ thuật ựiêu khắc có phủ sơn như các tượng phật bằng gỗ trạm nổi, bằng ựất ựắp rồi sơn son thiếp vàng, các ựồ thờ, ngai thờ, bàn kỷ cử

ở các chùa, miếu thời Lý, Trần, Lê như : Bút Tháp có tượng nghìn tay nghìn mắt, chùa Phật Tắch ( Hà Bắc), Chùa đậu ( Hà đông- Hà Tây), chùa Tây Phương, chùa Tây Hồ, Văn Miếu, chùa Trấn Quốc, ựặc biệt là công trình kiến

Trang 18

trúc Cung đình Triều Nguyễn, nay ựã ựược UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, ựã có sự ựóng góp quan trọng của sơn mài như ựồ thờ các Vua ở Hiển Lâm Các, ở Hưng Miếu và ở Thế Miếu các hàng cột ở ựây cũng ựược sơn son thiếp vàng lộng lẫy đồ sơn ựi vào cuộc sống nó phù hợp với nếp sinh hoạt thời Phong Kiến như : hoành phi, câu ựối, lẵng, hòm, sắc, ống quyển, tráp quả, kiệu võng, áng thư, ựèn nến Phải nói rằng nghề sơn là một nghề cổ truyền thống của nước ta, từ thế kỷ XV ựến thế kỷ XVII ựã phát triển huy hoàng với trình ựộ kỹ thuật khá cao, kỹ thuật pha chế sơn theo lối truyền nghề, gia truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ựã ựạt ựến trình ựộ tuyệt hảo, ựến mức có thể ựiều chế ựược các loại sơn phù hợp với các loại sản phẩm khác nhau [22]

Theo tài liệu đại Việt sử Ký Ngoại Kỷ Toàn Thư tập 1 của Ngô Sỹ Liên (bản in 1967) có ghi : ỘKỷ nhà Lý- Canh tý Thiên phù Duệ vũ năm thứ 1 (6/1920), chủ ựô Giáp Tất Bắc, thợ sơn là đăng An dâng chim sẻ trắngỢ

Như vậy phường thợ sơn ở Việt Nam ựã có từ lâu trước sự tắch Trần Thượng Công (1498 Ờ 1564)

Tóm lại, cây sơn mọc tự nhiên hay gieo trồng ở Phú Thọ (Rhus

Succedanea L) là ựiển hình của cây sơn Việt Nam một dạng sơn ựộc ựáo,

nghề sơn cũng ựã có từ thế kỷ thứ XII

2.1.2 Yêu cầu sinh thái của cây sơn

2.1.2.1 Yêu cầu về nhiệt ựộ

Nhiệt ựộ có ảnh hưởng rất lớn ựến sinh trưởng, phát triển và khả năng cho nhựa của cây sơn Cây sơn thường sinh trưởng mạnh vào mùa hè khi nền nhiệt ựộ ở khoảng 30- 35 oC Trên 40 oC cây sơn bắt ựầu sinh trưởng chậm lại và ngừng sinh trưởng khi nhiệt ựộ trên 45 oC và dưới 10oC

Cây sơn chịu ựược nhiệt ựộ 39- 40 0C mà không chết, nhưng mùa ựông rét khi nhiệt ựộ xuống 15 oC, ẩm ựộ thấp nên sơn rụng hết lá gọi là ỘSát lá- sát

Trang 19

lộcỢ

Mùa ựông, nhiệt ựộ thấp sơn không chảy hoặc kém nhựa cho nên phải giảm số lần thu hoạch sơn; mùa hè, nhựa chảy nhiều, có thể cắt nhiều lần

2.1.2.2 Yêu cầu nắng và gió

- Gió: sơn thường trồng trên sườn ựồi, nơi thường chịu ảnh hưởng nhiều của gió, bão Khi cây sơn cao ựến 3- 4 m, tán lá lớn, rễ lại ăn nông, những cơn bão hoặc giông làm cho cây sơn vật ựi, vật lại theo chiều gió, dễ bị

ỘLong gốcỢ, thậm chắ có thể ựổ cây, trên thân cây có nhiều chỗ nứt vỏ Ộ Vỡ bầuỢ, nhựa sơn chảy liên tục làm kiệt sức cây sơn, ở xã Phù Ninh- Lâm Thao

- Phú Thọ, ựã có những nương sơn trồng trên sườn ựồi, dọc theo sông Thao bị gió bão, ựổ rạp cả nương sơn

- Nắng: nắng ảnh hưởng ựến sản lượng và chất lượng sơn rõ rệt Sơn cắt ngày mưa hoặc những hôm trời nhiều mây, tuy thu ựược nhiều nhựa, nhưng chất lượng kém, sơn có tỷ lệ nước cao hay còn gọi là ỘSơn bầu giácỢ, nên phải bảo quản riêng ựể tránh bị chua Thu hoạch nhựa sơn trong những ngày trời nắng, tuy sản lượng giảm, nhưng chất lượng tốt

Nắng cũng có ảnh hưởng nhiều ựến chất lượng nhựa sơn, thu hoạch nhựa sơn ở những ngày trời nắng bao giờ màu nhựa cũng ựỏ, ựẹp, những ựợt thời tiết âm u nhiều ngày thì nhựa sơn khi thu hoạch thường có màu trắng hơn

Nắng làm nhựa sơn bị ựông thành màng cứng, khi mặt trời mọc nhựa không chảy nữa gọi là ỘSơn cắt ngòiỢ, nên chi phối ựến thời gian thu hoạch nhựa theo từng mùa Mùa hè phải thu hoạch thật sớm, khi mặt trời mọc là phải chuẩn bị thu sơn ỘTrút sơnỢ Mùa thu trời mát có thể cắt nhựa muộn và thu sơn cũng muộn hơn, về mùa ựông có thể thu hoạch muộn hơn nữa Trong thực tế nương sơn phắa Tây, buổi sáng không có ánh nắng mặt trời thu hoạch ựược lâu hơn và thời gian thu hoạch có thể muộn hơn nương sơn phắa đông

Trang 20

2.1.2.3 Yêu cầu về nước

- ðộ ẩm ñất khi gieo trồng, vì hạt sơn có vỏ rất cứng nên cần hút nhiều nước mới mọc mầm ñược, có năm gặp hạn, hạt sơn gieo xong, không mọc, phải gieo trồng lại

- Sinh trưởng của cây sơn trong giai ñoạn kiến thiết cơ bản “ Từ sơn hố, sơn rạ ñến sơn non” Cây tăng trưởng nhanh về chiều cao và ñường kính, nên rất cần nước, vì vậy trong năm cây thường sinh trưởng mạnh vào mùa hè có lượng mưa tập trung nhiều nhất trong năm

- Thu hoạch nhựa sơn: những ngày mưa to không thu hoạch sơn, trong mùa mưa, sơn nhiều nhựa, nhưng chất lượng kém, ít mặt dầu

Theo kết quả nghiên cứu của ðỗ Ngọc Dũng [12] cây sơn rất cần nước, nên khi gặp những ñợt nắng nóng kéo dài sơn ít nhựa, là bị vàng Tuy ưa nước nhưng cây sơn lại không chịu ñược úng ngập, do ñó cây sơn chỉ trồng ñược ở những nơi có ñộ dốc thoát nước tốt, nếu trồng sơn ở những nơi trũng thấp ñọng nước làm úa lá, kém nhựa Mưa, nắng thuận hoà sẽ là ñiều kiện tốt nhất ñể sơn phát triển

Ngay từ khi gieo hạt, sơn cần cung cấp lượng nước vừa ñủ ñể dễ nảy mầm, cây con phát triển nhanh, cây sơn mọc nhanh nhất là khi bắt ñầu có mưa xuân, mùa thu có gió heo may, lá cứng, cây phát triển chậm Mùa ñông nhiệt ñộ, ñộ ẩm thấp, cây phát triển chậm hoặc không phát triển

- Mưa cần cho sơn nhưng cũng có hại cho sơn:

Mưa nhiều ñất bị sói mòn, rửa trôi, nương sơn bị tàng kiệt nhanh Khi sơn mới mọc gặp phải những trận mưa rào, hố sơn bị bồi lấp cây con không phát triển ñược, ñất xung quanh gốc sơn bị ñóng váng, lèn chặt, việc trao ñổi không khí, nhiệt ñộ ñất với môi trường gặp nhiều khó khăn, nắng lên nhiệt ñộ tầng ñất mặt tăng cao làm cây sơn còi cọc hoặc bị chết (vì thế nên sơn phải gieo tháng 9 tháng 10 ñể ñỡ tốn công phá váng)

Trang 21

Khi thu hoạch sơn gặp phải mưa thì hỏng cả lượng nhựa của lần thu ñó,

vì nước mưa lẫn với nhựa sơn làm chua nhựa sơn

Tóm lại: lượng mưa có ảnh hưởng ñến cả quá trình sinh trưởng phát triển của cây sơn Khi mới trồng có mưa, ñủ ẩm cây sơn phát triển nhanh Khi thu hoạch có mưa nhiều (nhất là trong tháng 4, 5, 6), năng suất cao, nhưng lại

có ảnh hưởng xấu ñến chất lượng nhựa, mưa nhiều nhựa sơn nhiều nước, ít laccon (nhựa sơn trắng như nước vo gạo và dễ bị chua), thu hoạch nhựa sơn gặp mưa còn làm hại cho lần thu hoạch sau vì sơn không liền ñược vết cắt hay nói cách khác là sơn không “Se mặt” ñược, nhựa chảy dốc cả ngày hại ñến cây sơn

2.1.2.4 Yêu cầu về ñất ñai

- Nông dân vùng sơn ñã có những kinh nghiệm lâu ñời trong việc lựa chọn ñịa hình và ñất trồng sơn như: " Sơn ñất dốc, lốc ñất bằng ", ñộ dốc vừa phải, lai lải dây diều là tốt Về chất ñất thì ñá thối ñang phong hoá, ñất rừng mới khai hoang trồng sơn rất tốt ðất ñã trồng sắn nhiều vụ liên tục khi chuyển sang trồng sơn thì năng suất thấp ðất con kiến, kết cấu rời rạc, trồng sơn chóng tàn, năng suất thấp

- Khi nghiên cứu về ñất trồng sơn Nguyễn Thị Dần (1980) [9] ñã phân tích mẫu ñất trồng sơn cho năng suất nhựa cao, tại phẫu diện PH-1, ñào tại khu Ba Miếng, sườn phía Tây ñồi Cố Duy Phong cho kết quả như sau :

Trang 22

- Theo Nguyễn ðức Ban (1969) [2], sơn ưa ñất chua giàu dinh dưỡng, trên thực tế sản xuất sơn ở ñất rừng mới khai hoang, thời gian thu hoạch dài,

có thể ñược 5 - 6 năm, cây cao 4 - 5 m, sản lượng nhựa cũng thu ñược cao gấp 1,5 lần so với ñất trồng khác, những nơi ñất có mọc nhiều cỏ tranh, cỏ tế, ñất màu ñỏ, xốp, nhiều mùn, ñào sâu xuống 1m chưa bị ñá ong hoá là trồng sơn tốt nhất, nhìn chung những nơi trồng ñược chè ñều trồng ñược sơn

Trang 23

2.1.3 Tình hình sản xuất nhựa sơn trên thế giới và Việt Nam

2.1.3.1 Tình hình sản xuất nhựa sơn trên thế giới

- Theo lời dẫn của ðỗ Ngọc Quỹ (1986) [31], cây sơn phát triển nhiều

ở Mông Cổ, Trung Quốc, Hi-ma-lay-a, Ấn ðộ, Nhật Bản, Gia Va, Inñonexia, Lào, Việt Nam

- Theo nghiên cứu của H.Lecomte và Pierre Domart, cây sơn mọc ở

Phú Thọ có tên khoa học là Rhus succedanea Lin Var Dumoutieri Cây sơn của miền Nam – Việt Nam và Campuchia có tên là Melanorrea Laccifera

Trên thế giới cây sơn dại ñược phát tại Thái Lan, Miến ðiện, Trung Quốc, Ấn

ðộ (NêPan, Catsơmia, Xichkim, Gănñơn) và Nhật Bản Việt Nam và Trung Quốc là hai nước sản xuất nhiều sơn trên thế giới [47], [48]

1.3.2 Tình hình sản xuất nhựa sơn ở Việt Nam

- Cây sơn là một cây công nghiệp lâu năm ñã ñược trồng ở nước ta từ lâu ñời Nhựa sơn có nhiều ñặc tính ñộc ñáo, là một chất kết dính ñặc biệt và

có ñộ bền rất cao nên ñược dùng ñể ghép mộng, hàn gắn gỗ, tre, nứa Do chịu ñược ñộ ẩm cao nên nhựa sơn ñược dùng ñể phủ lên bề mặt của các ñồ nội thất như tủ, giường, bàn, ghế, sập gụ, hòm, vừa bóng ñẹp lại tăng ñộ bền cho vật dụng Do ñặc tính lý hoá mà nhựa sơn chịu ñược với những tác nhân hoá học, không bị huỷ hoại bởi côn trùng, vì có những tính năng, tác dụng quí báu như vậy nên nhựa sơn ñược ứng dụng và gắn bó với ñời sống của nhân dân ta

từ rất sớm

- Carl Von Linnes là người ñầu tiên xác ñịnh tên khoa học cho cây sơn

Phú Thọ là Rhus succedanea Lin, Tiếp theo ñó các nhà thực vật học như H

Lecomte, Cresvost Lemarie, Prerre Domart, Tardieu Blot [46], [47], [48], [49] ñã ñịnh tên và phân loại cây sơn Phú Thọ như sau:

Toxicodendron Succedanea(L) Moldenke = Rhus succedanea (Linne)

Trang 24

- Tuỳ thuộc vào ñặc ñiểm hình thái và chất lượng nhựa người ta chia sơn

theo các loại sau: sơn lá trám (sơn bầu giác) lá giống lá cây trám (canarium), to,

mỏng, xanh nhạt, cây cao, to, mọc khỏe, nhanh, nhiều hoa quả, nhựa nhiều, nhựa màu trắng, chất lượng kém, chiếm trên 70 % quần thể ñiều tra Sơn ñỏ (sơn

giềng -sơn lá si) lá giống lá cây si (Ficus), dày, nhỏ, xanh thẫm, mặt phiến lá

bóng, cây mọc chậm, ít hoa quả, nhựa ít nhưng chất lượng tốt, nhiều mặt dầu (laccon), diện tích gieo trồng chiếm dưới 25 % quần thể, còn lại là sơn ngố, sơn rọm không có hoặc có ít nhựa

- Sơn ñỏ thuộc nhóm cây gỗ nhỏ, cao từ 3- 4m, dạng thân tròn, thẳng, mặt cắt ngang của cây tròn không ñều, dưới gốc to, trên cao nhỏ dần Lá phát triển từ chồi dinh dưỡng, mọc cách nhau theo chỉ số 2/5, thuộc loại lá chét lông chim lẻ,

ít khi chẵn, lá dày, nhỏ, màu xanh thẫm, mặt phiến lá bóng, cây mọc chậm, hoa, quả ít (có cây không quả) năng suất nhựa trung bình, nhưng chất lượng tốt, nhiều mặt dầu (laccon)

- Trước 1945, Việt Nam ñã xuất khẩu sơn sang Nhật Bản Năm 1925, hãng sơn Nhật Bản SAITO- MIZUTA ñã ñặt ñại lý mua sơn tại Hà Nội và Phú Thọ ðến thời kỳ 1939- 1945 sơn ñược phát triển mạnh nhất ở Phú Thọ,

từ 3.124 ha (1939) ñã tăng lên 4.400 ha năm 1943 Khi ñó trồng 1 ha sơn cho thu nhập rất cao: bình quân 1 năm thu hoạch ñược 300 kg nhựa, giá trị tương ñương 6.000 kg gạo, do ñó trong nhân gian ñã có những câu ca dao:

“Một nương sơn tốt như một cót thóc ñóng trong nhà

Trang 25

ñể trồng sắn cung cấp lương thực cho kháng chiến ðến năm 1951, mậu dịch quốc doanh ñã tổ chức ñược việc tiêu thụ nhựa sơn về vùng ñồng bằng và khu

3, khu 4 cũ, cây sơn ñược lại phục hồi ở Phú Thọ, nhưng chỉ bằng 50% diện tích cũ [41] Theo tài liệu của Uỷ ban hành chính tỉnh Phú Thọ thì diện tích trồng sơn, sản lượng nhựa sơn thu mua ñược như sau [38], [42], [43]:

Bảng 2.1 Diện tích trồng sơn và lượng nhựa thu mua ñược (1952- 1959)

+ Thêi kú 1981- 1985

§Ó kh«i phôc nghÒ trång s¬n cæ truyÒn ViÖt Nam, ®ang cã nguy c¬ tµn lôi, c¸c tØnh VÜnh Phó, Hµ Tuyªn, Hoµng Liªn S¬n, Hµ S¬n B×nh (cò) ®V x©y dùng c¸c ch−¬ng tr×nh, dù ¸n më réng diÖn tÝch trång s¬n, g¾n víi viÖc ph¸t triÓn nghÒ tiÓu thñ c«ng s¬n mµi truyÒn thèng

Trang 26

thác 3 thế mạnh của trung du và miền núi là: cây công nghiệp, chăn nuôi và nghề rừng Trồng sơn với mục tiêu để xuất khẩu (dưới dạng nhựa sơn sống, hàng mỹ nghệ thủ công, tranh sơn mài) và tiêu thụ trong nước (dưới dạng sơn quang dầu, sơn gắn, sơn mài dùng trong công nghiệp đồ gỗ, thực phẩm, giao thông vận tải thuỷ và thủ công mỹ nghệ)

Mở rộng diện tích trồng sơn đồng thời với đẩy mạnh phát triển ngành tiểu thủ công mỹ nghệ (đan lát, đồ gỗ ở thành phố, thị xV, thị trấn) đV nâng cao được năng suất lao động, giá trị sản phẩm, cải thiện đời sống nhân dân

Trong thời gian đó, việc quy vùng sơn không chỉ tập trung ở tỉnh Phú Thọ

mà còn mở rộng sang các tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình, phía Nam của tỉnh Yên Bái và ven vùng trung du Bắc bộ, những nơi có khí hậu, đất đai phù hợp và nhiều lao động có kinh nghiệm gieo trồng cây sơn Ngoài ra diện tích sơn còn được mở rộng thêm ở miền Nam (tại các vùng đất đai tương tự và khí hậu thích hợp, như miền Đông Nam Bộ) Kết hợp với phát triển nghề thủ công ở thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương có truyền thống làm hàng sơn mài

2.1.3.3 Tình hình sản xuất nhựa sơn tại tỉnh Phú Thọ và huyện Tam Nông

Trong thời kỳ 1939- 1945 cây sơn được phát triển mạnh nhất là ở Phú Thọ, tập trung ở các huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Ba, Lâm Thao và Phù Ninh Về sản lượng nhựa đạt 1.431 tấn (1934) tăng lên 1.581 tấn (1939)

Thời kỳ 1981- 1985 để khôi phục nghề trồng sơn cổ truyền Việt Nam

đang có nguy cơ xoá bỏ ở Phú Thọ, Ty nông nghiệp Vĩnh Phú khi đó đV dự thảo "Đề án sản xuất sơn" diện tích trồng sơn, nghề tiểu thủ công sơn mài cũng được quan tâm phát triển gắn với sản xuất đồ gỗ, đồ mỹ nghệ xuất khẩu sang các nước Đông Âu Tuy nhiên, diện tích trồng sơn cũng không tăng nhiều, riêng huyện Tam Nông diện tích sơn đạt 900 ha chiếm gần 50 % tổng diện tích sơn của cả tỉnh

Thời kỳ 1989- 1995 các mặt hàng sơn mài, đồ gỗ gia dụng không xuất khẩu được sang thị trường Đông Âu, nhưng nhựa sơn được thu mua xuất khẩu

Trang 27

nhựa sơn sản xuất ra Cùng thời kỳ này khoa học ứng dụng trong nông nghiệp đV

có bước tiến nhảy vọt, các nước phát triển trên thế giới đV thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp, máy móc thay thế con người trong hầu hết công việc nhà nông Cây sơn không thể áp dụng máy móc vào sản xuất nhất là khâu thu hoạch Vì vậy Nhật Bản, Thái Lan diện tích sơn bị thu hẹp dần, trong khi nhu cầu về sơn không những không giảm, mà có xu hướng ngày một tăng, đó là cơ hội phát triển cây sơn cho những nước có nền nông nghiệp truyền thống như Việt Nam Ngày nay, sản phẩm nhựa sơn đang giúp cho con người đạt được mong muốn sống hòa bình với thiên nhiên, được sử dụng đồ gia dụng cổ, bền, đẹp và đặc biệt nhựa sơn không thể thiếu khi phục tráng Đình, Đền, Chùa, Miếu Huyện Tam Nông có đặc trưng của vùng đất trung du, việc phát triển cây sơn đV giúp khai thác được 3 thế mạnh: thứ nhất là đất đai phù hợp với cây sơn, thứ hai là có nhiều lao động lành nghề sơn, thứ 3 gián tiếp thúc đẩy chăn nuôi phát triển

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng sơn ở tỉnh Phú Thọ (1975- 2007)

Diện tớch ( ha) Năm

Trang 28

vì vậy, ngày nay tuy có sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ nói chung và hóa học nói riêng, ựã cho ra ựời nhiều hóa chất có tắnh năng từng mặt giống nhựa sơn nhưng vẫn không thể thay thế ựược nhựa sơn và vì thế nghề trồng sơn tuy có những lúc thăng trầm nhưng không hề mai một

2.2 Những kết quả nghiên cứu cây sơn trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới

- Nghiên cứu về nguồn gốc cây sơn: Ở Trung Quốc, khi khai quật một

số ngôi mộ cổ vào ựời Hán (200 năm trước công nguyên) ựã phát hiện ra những hiện vật ựược phủ sơn như lẵng sách, bát ựĩa Nghề sơn phát triển ở thời Minh (1368- 1644) và thời Càn Long ( 1736- 1796)

Ở Nhật Bản có ý kiến cho rằng nghề sơn ựã có từ 3000 năm trước công nguyên Hiện nay, những hiện vật sơn mài Nhật Bản còn lưu lại trong ựiện Na- ra như: bao kiếm, hộp lộng Từ thời Nhật Hoàng Sho- Mu (724-748) và nhiều sản phẩm từ sơn xem như thịnh hành nhất vào thời Toku- Gama [49]

- Theo lời dẫn của đỗ Ngọc Quỹ- Tô Tử đông [17], cây sơn trồng ở

Trung Quốc là giống Rhus Vernicifera tán to, cây lớn, thời gian khai thác lâu hơn giống Rhus Succedanea của Việt Nam Sơn của Trung Quốc thường ựược

trồng ở ven ựường, khoảng cách giữa 2 cây rất xa nhau, vì không trồng tập

Trang 29

trung nên cũng không có qui ựịnh cụ thể về mật ựộ và khoảng cách

- Nghiên cứu về kỹ thuật khai thác nhựa của cây sơn: ở các nước trồng sơn như Trung Quốc, Ấn độ, Nhật Bản, Campuchia, Nepal do việc tiêu thụ

và sử dụng nhựa sơn còn ắt nên việc nghiên cứu kỹ thuật trồng tỉa nói chung

còn ắt Ở Trung Quốc trên giống sơn Rhus Vernicifera (cây to và khỏe hơn giống Rhus fuccedanea ở Việt Nam), qua ựúc kết kinh nghiệm nhân dân ựã

xác ựịnh lối thu hoạch theo hình mắt trâu là tốt nhất Một vài vùng có thu hoạch theo hình lá liễu, chữ V nhưng không phổ biến Ở Nhật bản trên cùng 1 giống sơn như Trung Quốc nhưng thu hoạch theo hình chữ V [30]

- Khi nghiên cứu về tắnh chất của màng sơn các nhà hoá học: Hirano Bertrand Nhật Bản, Georges Brooks Pháp xác ựịnh:

Màng sơn có tắnh cách ựiện và cách nhiệt rất tốt, chịu ựược nhiệt ựộ

4100C, chống chịu tốt ựối với các loại vi sinh vật, các axắt, nên bảo vệ tốt các vật liệu Màng sơn có ựộ uốn dẻo cao nên rất dai, sơn dây kim khắ bằng nhựa sơn, vặn xoắn sợi dây theo nhiều hướng thì nước sơn vẫn bền, không bị vụn nát, nước biển không phá hoại ựược chất nhựa sơn Năm 1874, chiếc tàu thuỷ Nil bị ựắm ở bờ biển Nhật Bản, có chở những ựồ vật bằng sơn, sau 18 tháng ngâm nước biển dưới ựộ sâu 35 m, khi vớt lên những ựồ vật này vẫn còn ở trạng thái nguyên vẹn

Vào khoảng thế kỷ XVI, các thương gia buôn bán ở vùng Viễn đông ựã sớm phát hiện ra nhiều ựặc tắnh quý báu của nhựa sơn, nên ựã ựem về Châu Âu

sử dụng vào việc gắn ựàn Vĩ Cầm STRADIVARIUS, làm vecni chống gỉ, chống mối mọt Người Pháp khi xâm lược Việt Nam ựã có nhiều ứng dụng thành công với nhựa sơn như: trong công nghiệp hàng không ( kết quả ựược công nhận của phòng thắ nghiệm hàng không Chayrlay Meudon), trong thời chiến tranh nhựa sơn ựược sử dụng ựể sơn chống ẩm cho vỏ ựạn ựại bác [49], [51]

- Nghiên cứu về công dụng của nhựa sơn ở Nhật Bản ựã khẳng ựịnh

Trang 30

nhựa sơn có khả năng chống ẩm, chống nóng và cách ñiện tốt nên ñược dùng vào nghề chài lưới (gắn thuyền) sơn bàn, ghế (quang dầu), tranh mỹ nghệ (tranh sơn mài) Nhật Bản còn sử dụng nhựa sơn trong công nghiệp sản xuất: thuốc nhuộm, bút máy, ống dẫn dầu, thiết bị chống cháy, sơn cách ñiện và kỹ thuật quốc phòng [17]

2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

2.2.2.1 Những kết quả nghiên cứu về giá trị sử dụng của nhựa sơn

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Vĩnh Diệu, Lê Thị Phái (1980) [10]

về công dụng của nhựa sơn cho biết:

- Nhựa sơn ñược dùng dưới 3 dạng

ghế tủ, ñồ thờ cúng và trang trí

+ Sơn gắn: sơn trộn với mùn cưa, ñể gắn ñồ gỗ, mây tre nứa, ñóng giường, tủ, gắn thuyền gỗ, thuyền nan và các ñồ dùng dân dụng khác

khác, màng sơn ñược mài bóng sẽ tạo ra ñược nhiều màu bóng ñẹp

- Nhựa sơn ñược sử dụng trong công nghiệp:

+ Giao thông ñường biển: ñóng thuyền, sơn vỏ tàu biển, thuyền nan, thuyền thúng

+ Công nghiệp ñiện: sơn cách ñiện các sợi dây kim khí

+ Công nghiệp thực phẩm: Làm bao bì vận chuyển thực phẩm lỏng (nước mắm, rượu mùi, nước giải khát) thiết bị chứa ñựng vận chuyển lớn bằng bê tông cốt thép có màng sơn bảo vệ sẽ chống ăn mòn, bảo ñảm vệ sinh thực phẩm Dựa trên công trình nghiên cứu của Trần Vĩnh Diệu, Lê Thị Phái, tổng công ty thực phẩm ñã sơn các xitec lớn (1.000 lít) vận chuyển nước mắm, rất bền, rất tốt [10]

+ Thủ công mỹ nghệ: làm hàng sơn mài (mỹ thuật công nghiệp và nghệ

Trang 31

thuật tạo hình)

Trong năm 1925, tại Trường Mỹ thuật đông Dương, nghệ nhân đinh Văn Thành và hoạ sỹ Trần Văn Cẩn ựã kế thừa kinh nghiệm của ông cha ta ngày trước ựể tiếp tục nghiên cứu và ựã thu ựược một số thành công trong lĩnh vực sơn mài, tạo ra ựược những mẫu sản phẩm rất bóng ựẹp Từ ựó, hàng

mỹ thuật sơn mài ựã ựược phát triển mạnh mẽ, như lọ hoa, khay trà, ựĩa tre, mây nứa, tranh tứ bình, tranh sơn thuỷ, tranh tố nữ

Sau 1930, các hoạ sỹ danh tiếng như: Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn ựã bắt ựầu dùng sơn mài trong nghệ thuật tạo hình có nội dung và tư tưởng phong phú về các ựề tài kháng chiến xây dựng và bảo vệ tổ quốc, về ựất nước, con người Việt Nam Những bức tranh sơn mài này ựã tham gia triển lãm nghệ thuật tạo hình của các nước xã hội chủ nghĩa tại Maxcơva, ựã làm cho công chúng và các tác giả nghệ thuật nước ngoài cảm kắch, khâm phục Có thể nói, ngoài cây ựàn bầu, những bức tranh sơn mài ựã ựóng góp tắnh chất ựộc ựáo vào kho tàng nghệ thuật của thế giới

2.2.2.2 Những kết quả nghiên cứu về hình thái giải phẫu cây sơn

- Thân và cành

Khi nghiên cứu về hình thái cây sơn, đỗ Ngọc Quỹ [31] xác ựịnh cây sơn thuộc nhóm cây gỗ nhỏ, mọc tự nhiên, cao 5- 8m Cây cao 2-3 m bắt ựầu cho thu hoạch nhựa, cây có dạng thân tròn thẳng ựứng, mặt cắt ngang tròn không ựều, dưới gốc to (ựường kắnh 6- 9 cm) chu vi thân chắnh phần gốc 20-

28 cm, lên ngọn nhỏ dần Thân cây phân nhánh liên tục, thành một hệ thống cành và chồi, cơ vòm lá ựều, thưa hình tán cành ngang phân bố không ựều trên thân, có chỗ mọc xắt nhau như cây bàng, theo kiểu phân cành một trụ nhiều tầng Theo kết quả ựiều tra tại ựồi sơn Phú Hộ cho thấy thân cây sơn: có

1 ựến 4 thân chắnh hay còn gọi là 4 ỘChằngỢ, trong ựó: tỷ lệ cây có 1 thân chắnh chiếm 55,7%, 2 thân chắnh chiếm 34,1%, 3 thân chắnh chiếm 6,8%, 4

Trang 32

thân chính chiếm 1,4% tổng số cây ñiều tra Sơn càng nhiều thân chính, thân càng nhỏ, khi thu hoạch tốn nhiều công

Trong sản xuất người nông dân căn cứ vào việc quan sát màu sắc thân cây sơn con, mọc từ hạt mới gieo ñể xác ñịnh giống sơn tốt hay xấu: thân mập lóng ngắn, ngọn màu ñỏ nhạt, phần lớn là sơn tốt Cây ñỏ tía cao, lóng dài phần lớn là sơn xấu, phải nhổ ñi

- Vỏ cây:

+ Vỏ cây sơn chứa ñựng ống tiết nhựa phần gỗ cứng bên trong gọi là xương, ñặc ñiểm của vỏ sơn như sau:

Chiều dày 5- 6 mm, có nơi là 8 mm là sơn tốt

ðộ mềm: Khi thu hoạch, dễ cắt vỏ (ngọt dao) là sơn tốt, vỏ cứng, khó thu hoạch là sơn xấu

Màu sắc: Vỏ màu hồng tốt hơn màu xanh

ðộ nhẵn: Vỏ xù xì tốt hơn vỏ nhẵn

Theo kinh nghiệm người nông dân, cây sơn có tán to cây, dày vỏ, vỏ màu hồng, mềm, xù xì là sơn tốt Tán nhỏ, thân nhỏ, da mỏng vỏ xanh vỏ cứng, vỏ nhăn là sơn xấu

+ Giải phẫu (vỏ và thân)

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bá [1] , khi giải phẫu vỏ của cây sơn trồng tại Phú Hộ ñã xác ñịnh:

Vỏ dưới gốc dày hơn trên ngọn và cành cây

Mặt cắt ngang từ ngoài vào trong có 4 loại mô bì:

chở cho thân Lỗ biểu bì nhiều và to, nhìn mắt rất rõ dài hơn 1 mm

làm cho các bộ phận mầm không bị giập

Trang 33

nhiều lục lạp trong tế bào

ñều, phần lớn tập trung giữa vỏ, kích thước to nhỏ khác nhau

Phân bố mật ñộ ống nhựa của sơn phụ thuộc vào tuổi cây và chiều dày

vỏ Cây ở tuổi 4, chiều dày vỏ 2,5- 2,8 mm, mật ñộ ống nhựa cao nhất 24 ống nhựa/ mm2 Cây ở tuổi 5 và tuổi 8, vỏ cây dày hơn (từ 4,5 - 6 mm) nhưng mật

ñộ ống nhựa lại thấp hơn, trung bình chỉ từ 21- 24 ống nhựa/ mm2

Kết quả giải phẫu ống nhựa cho thấy, các ống nhựa có hình viên trụ, to nhỏ không ñều, ống lớn hình bầu dục thường nằm ngoài, ống nhỏ tiết diện gần tròn nằm trong ðường kính ống nhựa biến ñộng từ 36 µ ñến 280 µ, các ống nhựa dính liền nhau như mạng lưới Bên trong vỏ còn quan sát thấy các mạch dây gọi là “Ploem” ñể dẫn nhựa luyện từ lá xuống, các mô dẫn nhựa nguyên gọi là “Xylem”

- Chồi và lá

+ Chồi ngọn: nằm ở ñỉnh thân, bao gồm các lá non và ñỉnh sinh trưởng, khi chồi ngọn phát triển, lá hình thành, thân cây cao, to dần lên Theo kinh nghiệm nông dân, màu sắc chồi ngọn là tiêu chuẩn ñể phân biệt giống sơn nhiều hay ít nhựa, những cây sơn con mới mọc từ hạt, màu phớt hồng là sơn tốt, những cây con ngọn tía phải nhổ bỏ ñi

+ Chồi nách: phát sinh từ nách lá, bình thường bị chồi ngọn ức chế sinh trưởng kém, khi chồi ngọn bị gãy chồi nách phát triển mạnh hình thành cành bên, thường mọc thành tầng ( tán) như cây bàng

+ Chồi ngủ: bình thường khó nhận biết còn gọi là chồi bất ñịnh, trong trường hợp chồi ngọn bị ngắt hay bị thui thì chồi ngủ phát triển thành chồi thân

+ Lá sơn: thuộc loại lá chét lông chim lẻ, thường có từ 5- 8 ñôi lá chét

Trang 34

mọc ñối nhau, lá có dạng thuôn dài, ñuôi lá nhọn lá sơn có 15- 30 ñôi gân ñối xứng, phiến lá xanh nhạt là sơn lá trám, xanh thẫm là sơn lá si Cây có lá ñỏ thường vỏ mềm, nhựa tốt có nhiều mặt dầu, cây có lá ñỏ tía thường có vỏ cứng, ít nhựa hoặc không có nhựa sơn hay còn gọi là sơn “Rọm”, cây có lá màu xanh thường là sơn trắng “Bầu giác”, nhiều nhựa, ít mặt dầu

- Rễ: thuộc loại rễ chùm, rễ ñan chằng chịt ở lớp ñất mặt, tập trung từ 5- 40 cm Rễ non hay còn gọi là rễ “Thuốc lào” có màu ñỏ, phát triển nông sát mặt ñất, rễ non phát triển mạnh khi ñược cung cấp ñầy ñủ chất dinh dưỡng và

ñộ ẩm ñất cao

- Hoa sơn: thuộc dạng hoa nhỏ, lưỡng tính, cánh hoa xếp vòng mẫu 5

có 5 ñài, 5 tràng, 5 nhị ñực và bộ nhị cái gồm 3 lá noãn hợp Hoa mọc thành chùm kép, có 5 nhánh bên, mỗi nhánh có khoảng 10 chùm Hoa sơn ra rộ vào tháng 3, 4 hàng năm

- Quả sơn: thuộc quả hạch, hạt nhỏ như ñỗ xanh, hạt lớn như ñỗ tương, hình dẹt gần giống quả tim (9 x8 mm) Vỏ quả có 3 lớp: vỏ nhăn bên ngoài,

vỏ xốp ở giữa và vỏ sành rất cứng bên trong

- Cấu tạo quả: trong hạt sơn cũng có ống nhựa (ñốt rất cháy), nên cây phải cung cấp nhiều nhựa ñể tích luỹ trong quả và hạt (cây sơn lá vàng, khô héo) làm giảm sản lượng nhựa sơn khi thu hoạch

2.2.2.3 Những kết quả nghiên cứu về kỹ thuật trồng sơn

Từ xưa tới nay, khi gieo trồng sơn vẫn chưa xác ñịnh rõ ñược kỹ thuật theo qui chuẩn, chưa khẳng ñịnh ñược việc gieo hạt thẳng tại hố hay gieo hạt

ở vườn ươm rồi mới ñem trồng thì tốt hơn Nông dân trồng sơn theo cách thông thường từ trước ñến nay là gieo hạt tại hố, làm như vậy có thể ñỡ ñược công trồng Nhưng gieo ươm cây trong vườn ươm rồi mới ñem trồng thể hiện tính hơn hẳn so với việc gieo trồng tra hạt thẳng vào hố ðiều quan trọng là làm thế nào ñể xác ñịnh tốt phương pháp gieo trồng sơn như thế nào ñể sơn

Trang 35

ñược thu hoạch sớm, thời gian cắt ñược lâu, có phẩm chất tốt năng suất cao [32]

2.2.2.4 Những kết quả nghiên cứu về vai trò của giống sơn ñối với sản xuất

Trong sản xuất sơn, giống giữ vai trò rất quan trọng, là biện pháp hàng ñầu trong hệ thống kỹ thuật thâm canh nâng cao chất lượng và tăng năng suất nhựa Một giống sơn tốt không chỉ cho năng suất nhựa cao, tỷ lệ laccon cao

mà còn phù hợp với yêu cầu của công nghệ chế biến, cũng như khắc phục ñược những ñiều kiện bất thuận của tự nhiên

Theo Nguyễn ðức Ban [2], việc lựa chọn hạt giống sơn là một khâu không thể bỏ qua khi trồng sơn, nó không chỉ ảnh hưởng ñến tỉ lệ nảy mầm, sinh trưởng, phát triển mà còn ảnh hưởng ñến năng suất nhựa của cây sơn Sơn có nhiều giống nhưng thường trồng hai giống có năng suất cao là sơn lá

si và sơn lá trám Cả hai loại giống ñều ñưa vào sản xuất, nhưng khi chọn ñể lấy hạt làm giống phải chọn những cây xanh tốt nhiều cành, nhiều lá, ít sâu bệnh, ít hoa, quả, trong thời gian thu hoạch nhựa chảy ñều, chảy nhiều, tỉ lệ mặt dầu cao, vỏ cây dày 5-6 mm, sần sùi, vỏ có màu hồng Thu hoạch quả vào tháng 9 - 10, chọn những quả to, chắc ñem phơi 2-3 nắng, xát sạch vỏ rồi ñem gieo, trung bình 1 ha cần từ 6 - 7kg hạt giống

chùm sơn mang về rồi lựa chọn hạt tốt ñể làm giống mỗi ha cần 12 ñến 15 kg chùm quả (ñể có 6 – 7 kg hạt giống)

nơi khô ráo Trước khi gieo trồng phải vặt quả sơn khỏi chùm quả, sau ñó xát cho tróc lớp vỏ ngoài và lớp vỏ lụa, sàng, sẩy sạch Cho hạt vào cối giã nhẹ cho mỏng bớt lớp vỏ trong, sau ñó ñem gieo trực tiếp vào hố, hoặc ngâm ủ rồi gieo vào bầu

Một số vùng sơn, có kinh nghiệm khi giã hạt, trộn với dầu sở, dầu

Trang 36

trẩu hoặc dầu dọc, ñể chống mối và kiến, trước khi gieo ngâm nước vo gạo ñể hạt dễ mọc mầm

Theo ðỗ Ngọc Quỹ (1986) [31], giới thiệu những kết quả nghiên cứu ở Phú Hộ năm 1954 thì trước khi gieo hạt sơn, ngâm nước lã 48- 60 giờ, loại bỏ những hạt nổi có chất lượng kém Ngâm nước 50 oC, hạt nảy mầm nhanh hơn so với nước lã 5- 11 ngày, không ñược ngâm trong nước sôi 100 oC

2.2.2.5 Những kết quả nghiên cứu về thời vụ trồng cây sơn

- Theo báo cáo tổng kết kinh nghiệm kỹ thuật trồng sơn của trại thí nghiệm trồng trọt- Phú Hộ [4], tốt nhất là nên chuẩn bị hố vào tháng 8 – 9, sau khi ñã phát nương và cuốc vỡ xong rồi, nếu chậm thì ñể ñến tháng 11-12, không nên ñể ñến tháng 2 - 3 vì lúc ñó nắng nhiều, ñộ ẩm thấp gieo sơn lâu mọc không tốt Nếu có ñiều kiện thì cuốc nương rồi ñánh hố thì tốt hơn, sau này thì xới xáo thêm 2- 3 lần kết hợp vun gốc thì sơn bền và tốt

Theo ðỗ Ngọc Quỹ [30], thời vụ gieo hạt sơn là tháng 9 - 10 và tháng 2 hàng năm Gieo hạt vào tháng 9 thì sơn mọc chậm nhưng hạn chế ñược dế cắn phá cây non vào tháng 4 Sơn gieo tháng 9 thì nên ñánh hố ñể gieo hạt trước rồi cuốc ñất sau, vì nếu cuốc ñất trước thì khi hạt sơn mọc mầm gặp mưa to, ñất xô xuống hố lấp hạt sâu sau ñó ñất bị lèn chặt sơn không mọc ñược Gieo sơn tháng 2 thì sơn mọc nhanh, nhưng ñến tháng 3 khi sơn mới mọc thường bị

dế cắn, nên cần phải chú trọng chăm sóc ngay khi cây sơn còn nhỏ ñể sơn mọc nhanh giảm tỉ lệ sâu bệnh phá hoại

2.2.2.6 Những nghiên cứu về mật ñộ trồng

Khi nghiên cứu về mật ñộ trồng sơn ðỗ Ngọc Quỹ (1986) [31] cho rằng, cây sơn cũng như các loại cây trồng khác, vấn ñề mật ñộ có quan hệ mật thiết với năng suất, chất lượng, và hiệu quả kinh tế Tuỳ từng giống sơn khác nhau, tuỳ ñiều kiện ñất ñai và các ñiều kiện kinh tế khác nhau ñể xác ñịnh mật

ñộ cây trung bình cũng khác nhau

Trang 37

Mật ựộ cây hữu hiệu khi thu hoạch

+ Giống sơn trắng, sơn mỡ gà: 2.000 cây/ ha

+ Giống sơn ựỏ (sơn giềng): 1.900 cây/ ha

- để có mật ựộ thắch hợp, cần quan tâm ựến nhiều yếu tố như: giống, chất lượng cây con, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc Một số yếu tố cũng ảnh hưởng rất lớn ựến mật ựộ là khoảng cách trồng, khoảng cách hàng thay ựổi từ 0,1 ựến 0,2 m, phụ thuộc vào các yếu tố sau:

+ Khoảng cách hàng hẹp áp dụng với nơi có ựất xấu, thời tiết khô hạn, trình ựộ thâm canh thấp, phân bón ắt

+ Khoảng cách hàng rộng, thường áp dụng cho những nơi có ựất tốt, chủ ựộng tưới tiêu, trình ựộ cơ giới cao, phân bón nhiều, người dân có trình

ựộ thâm canh cao

Ngoài ra, ảnh hưởng của mật ựộ trong ựiều kiện phân bón như nhau ựến sản lượng, sâu bệnh hại (nhất là bệnh) và khả năng chống chịu với gió bão là

cơ sở ựể xác ựịnh mật ựộ thắch hợp với các ựiều kiện ựất ựai, phân bón từng vùng Trồng sơn với mật ựộ cao phải kết hợp với bón thêm 2kg phân chuồng/1 gốc/ năm trong thời gian thu hoạch sơn ựể ựạt năng suất cao, như thế không có nghĩa mật ựộ là yếu tố quyết ựịnh trong việc tăng sản lượng Mật

ựộ trồng càng cao cần ựảm bảo ựồng bộ các yếu tố như: độ ẩm, ánh sáng, nhất là ánh sáng [32]

Theo Tô Tử đông [16], trên một ựơn vị diện tắch, mật ựộ cây trồng chiếm một vị trắ khá quan trọng, sản lượng sơn hàng năm phụ thuộc vào số cây hữu hiệu, mật ựộ là yếu tố chi phối nhiều nhất ựến sinh thái cây sơn, ở ựây một vấn ựề cần giải quyết là xác ựịnh mật ựộ thắch hợp nhất trên một diện tắch ựể ựạt năng suất cao

Hiện nay trên các nương sơn ựang trồng với mật ựộ 2000-2500 cây /ha, ựối với một vài vùng ựất tốt, mật ựộ như vậy là vừa, nhưng ựối với những nơi

Trang 38

ựất xấu và trung bình thì mật ựộ trên là chưa phù hợp Thực tế cho thấy mật

ựộ cây trồng càng cao, khoảng cách giữa các cây trồng càng ngắn lại thì vỏ sơn càng mỏng, mật ựộ ống nhựa càng ắt và tiết diện ngang toàn phần của ống càng bé lại nên năng suất thực tế trên một cây ắt hơn so với trồng thưa Nhưng

vì nhiều cây trên một diện tắch nên thể tắch tương ựối của ống nhựa tăng cao hơn ở mật ựộ trồng thưa, do ựó năng suất thực tế cũng tăng theo mật ựộ trồng dày

đặc ựiểm của cây sơn trồng ở nước ta là cây nhỏ, tán lá ắt, ựó chắnh là ựiều kiện thuận tiện cho việc nâng cao mật ựộ Khi nâng cao mật ựộ trên diện tắch, phải ựồng thời với tăng cường chăm sóc thật kỹ, nhất là việc khống chế

sự phát triển chiều cao bằng cách ngắt ngọn nhằm tạo cho sơn có một bộ khung tán tốt có ựộ cao cây vừa phải, tránh cao vóng

Theo đỗ Ngọc Quỹ [30], cây sơn cần phải trồng với khoảng cách vừa phải mới nhiều cành, nhiều lá, cây to, vỏ dầy đất mới khai hoang hay còn gọi

là Ộđất nhựaỢ trồng sơn với khoảng cách cây cách cây từ 2,5 -3 m, ựất ựã trồng sơn nhiều chu kỳ ựược coi là Ộđất cũỢ trồng sơn với khoảng cách cây 2m, những nương sơn trồng với mật ựộ cao, sơn thường bị vóng, mỏng vỏ, ắt nhựa, nhiều cây không có nhựa Ộbị rọmỢ

Kết quả nghiên cứu của Tô Tử đông và đỗ Ngọc Quỹ [17], về mật ựộ trồng sơn cho biết: trồng dày (3333 Ờ 2500 cây/ha) kết hợp với bón phân chuồng (2kg/ gốc) cho thu hoạch với sản lượng cao nhất, mặc dù sản lượng theo ựơn vị cây thấp hơn trồng thưa, vì số cây trồng ựược nhiều hơn, phẩm chất sơn không thay ựổi rõ rệt, cây cao, tán nhỏ, vỏ mỏng ắt cành, nhưng có nhiều cây bị sâu bệnh hại sơn so với trồng thưa, do thiếu ánh sáng, cây cao vóng kéo theo sự mất cân bằng các cơ quan như gốc, rễ, thân cành nên ở những nơi gió mạnh cây dễ bị ựổ gẫy

Theo Tô Tử đông [19], việc nâng cao mật ựộ trồng sơn 1 cách thắch hợp, ựi ựối với việc tăng số lượng phân bón theo mật ựộ trồng phẩm chất

Trang 39

nhựa sơn không hề thay ñổi ñáng kể nhưng làm tăng ñược sản lượng sơn khi thu hoạch

2.2.2.7 Những kết quả nghiên cứu về bón phân

Theo kết quả ñiều tra phục vụ chương trình nghiên cứu sơn của ðỗ Ngọc Dũng [12] cho biết, trong thực tế sản xuất cây sơn chỉ ñược chú trọng chăm sóc khi cây còn nhỏ, từ lúc mới gieo hạt vào hố ñến lúc chuẩn bị cho thu hoạch “ Mở chóc”, nông dân có xới xáo vun xung quanh gốc bón phân cuốc ñảo phân, nhưng từ khi bắt ñầu thu hoạch ñến khi kết thúc thu hoạch thì không bón phân, nên cây sơn thời gian khai thác nhựa ngắn hay nói khác là cây sơn chóng tàn “Kiệt sức” Bón ñược phân, cây sơn mọc xanh tốt, bộ lá xanh thẫm nên cây trẻ lâu, nhiều nhựa kéo dài thời gian khai thác nhựa Bón phân nhựa tốt ra nhiều sơn ñỏ tỷ lệ laccon cao “Mặt dầu”, bón phân ít sơn trắng, bón phân trong vụ rét cây sơn cũng không chết mà còn tốt hơn

Trong báo cáo cải tiến kỹ thuật trồng sơn của trại thí nghiệm trồng trọt Phú Hộ [41] cho rằng, cần ñặc biệt chú ý chăm bón sơn ngay khi mới mọc ñể sơn mọc nhanh, phát triển mạnh, khi mới gieo bón mỗi hố 0,1 kg tương ứng với “Một vốc” tro bếp + nước giải, khi 3-4 lá bón thêm mỗi hố 3kg phân ải

“Tương ñương 1/4 giành”, sơn ñược 1 năm thì xới gốc, tỉa bớt ñể mỗi hố 1 cây, dặm những cây chết, bón nước giải hay phân ải trộn nước vo gạo mỗi hố 2kg, san phẳng ñất lấp hố Không nên bón phân lợn, phân bắc cục vì sơn bị khô vỏ, cứng vỏ hay còn gọi là sơn “Mề gà”, ít nhựa, tốt nhất là sử dụng phân trâu, bò ải ñể bón cho sơn

Theo Nguyễn ðức Ban [2], sơn là một cây công nghiệp lâu năm thu hoạch bằng nhựa, cho nên yêu cầu phân bón cho sơn rất cần thiết, phân càng nhiều, năng suất càng cao Các loại phân bón cho sơn là: phân chuồng, phân xanh, tro bếp, các bùn ao, khô dầu Trước khi trồng mỗi ha chuẩn bị 19 - 27 tấn phân chuồng, 1,2 – 2,5 tấn tro bếp, 0,3 – 0,8kg dầu sở (khô dầu sở, tro bếp

Trang 40

bón ngay lúc gieo) Bón phân cho sơn, phải căn cứ vào ựời sống sinh trưởng của cây trồng, ở từng thời kỳ, cần căn cứ vào ựất ựai thời tiết ựể lựa chọn loại phân bón thắch thắch hợp cho cây sơn phát triển

+ Bón lót nhằm mục ựắch tăng nhiệt ựộ, tăng ựộ ẩm của ựất làm cho hạt chóng nảy mầm Yêu cầu bón lót cho sơn cần bón phân chuồng ải vào hàng hoặc vào hố

+ Bón thúc: Căn cứ vào sự phát triển của sơn mà xác ựịnh thời gian bón cho thắch hợp, bón thúc cho cây sơn khi cây còn non ựến thời kỳ ựầu thu hoạch nhựa (thời kỳ sơn hố, sơn dạ, sơn non và sơn thững) nhằm mục ựắch cho cây phát triển mạnh về chiều ngang và chiều cao ựể nâng cao sản lượng sơn, dựa theo nhu cầu của sơn mà ta ựịnh thời gian bón cho thắch hợp

- Tô Tử đông [16], trong báo cáo tổng kết các Biện pháp làm tăng năng suất sơn cho biết:

+ Bón phân cho sơn mới trồng năm thứ nhất Ộ Sơn hốỢ vào khoảng tháng 2-3, khi tỉa sơn lần thứ nhất nên bón mỗi gốc khoảng 1-1,5 kg phân trâu, bò hoặc phân xanh ựã ựược ủ cho ải trộn với 5-10g ựạm, lần thứ hai nên bón vào tháng 8-10, sau lần tỉa cuối cùng, mỗi hố bón 2-3kg phân chuồng ải kết hợp xới xáo xung quanh gốc ựể trộn ựều phân hoai, nếu có ựiều kiện thì cuốc lật toàn bộ nương sơn sâu khoảng 20-30 cm

+ Bón phân cho sơn năm thứ 2 Ộ Sơn rạỢ: việc bón sơn rạ nên chia làm hai lần như bón sơn hố vào tháng 2- 3 kết hợp với cày hoặc cuốc ựảo, bón mỗi

hỗ khoảng 1 kg phân chuồng, lần thứ hai cũng bón vào tháng 8-9, mỗi hố khoảng 2-3 kg phân chuồng, nếu cày hai lần, thì lần thứ nhất cày ngang, bón phân về phắa trên, lần sau cày dọc bón phân bên cạnh hố Nếu nương quá dốc không cày ựược thì ựào rãnh và bón phân như trên ựể bộ rễ phát triển cân ựối, mỗi lần bón có thể trộn 5-10g ựạm (ựể chuẩn bị cho thu hoạch sơn vào tháng

2 năm sau) ựến tháng 12 bón thêm một lần nữa nhân dân gọi ựó là bón ựón

Ngày đăng: 04/08/2013, 10:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản l−ợng sơn ở tỉnh Phú Thọ (1975- 2007) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản l−ợng sơn ở tỉnh Phú Thọ (1975- 2007) (Trang 27)
Bảng 4.1. Diễn biến một số yếu tố khớ hậu năm 2007 và ủầu năm 2008 - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
Bảng 4.1. Diễn biến một số yếu tố khớ hậu năm 2007 và ủầu năm 2008 (Trang 62)
Hỡnh 4.1. Phẫu diện ủất tại ðồi Ổi Rồng- Dị Nậu - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
nh 4.1. Phẫu diện ủất tại ðồi Ổi Rồng- Dị Nậu (Trang 64)
Bảng 4.4. Kết quả ủiều tra cỏc yếu tố hạn chế sản xuất sơn   huyện Tam Nông - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
Bảng 4.4. Kết quả ủiều tra cỏc yếu tố hạn chế sản xuất sơn huyện Tam Nông (Trang 70)
Hỡnh 4.1. Ảnh hưởng của mật ủộ trồng ủến ủộng thỏi tăng trưởng  chiều cao thân chính - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
nh 4.1. Ảnh hưởng của mật ủộ trồng ủến ủộng thỏi tăng trưởng chiều cao thân chính (Trang 76)
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của mật ủộ trồng ủến tốc ủộ tăng trưởng chiều cao  của thân cây ( cm/ tháng) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của mật ủộ trồng ủến tốc ủộ tăng trưởng chiều cao của thân cây ( cm/ tháng) (Trang 76)
Hỡnh 4.2. Ảnh hưởng của mật ủộ trồng ủến tốc ủộ tăng trưởng   chiều cao thân chính - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
nh 4.2. Ảnh hưởng của mật ủộ trồng ủến tốc ủộ tăng trưởng chiều cao thân chính (Trang 78)
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của mật ủộ trồng ủến ủộng thỏi tăng ủường kớnh  của thân cây ( cm) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của mật ủộ trồng ủến ủộng thỏi tăng ủường kớnh của thân cây ( cm) (Trang 78)
Hỡnh 4.6. Ảnh hưởng của liều lượng phõn bún ủến tốc ủộ tăng trưởng  chiều cao thân chính - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
nh 4.6. Ảnh hưởng của liều lượng phõn bún ủến tốc ủộ tăng trưởng chiều cao thân chính (Trang 91)
Bảng 4.19. Ảnh hưởng của liều lượng phõn bún ủến chiều rộng tỏn cõy (cm) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
Bảng 4.19. Ảnh hưởng của liều lượng phõn bún ủến chiều rộng tỏn cõy (cm) (Trang 96)
Bảng 4.20. Ảnh hưởng của liều lượng phõn bún ủến ra hoa của cõy - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
Bảng 4.20. Ảnh hưởng của liều lượng phõn bún ủến ra hoa của cõy (Trang 97)
Bảng 4.21. Ảnh hưởng của liều lượng phõn bún ủến một số chỉ tiờu   sinh trưởng của cây sơn - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, liều lượng phân bón và biện pháp kỹ thuật tỉa cành đến sinh trưởng,phát triển và năng suất của cây sơn trồng trên vùng đất đồi tam nông, tỉnh phú thọ
Bảng 4.21. Ảnh hưởng của liều lượng phõn bún ủến một số chỉ tiờu sinh trưởng của cây sơn (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w