Hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn hà nội
Trang 1Trường đại học nông nghiệp I
Trang 2lời cam đoan Tôi xin cam đoan rằng, số liẹu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đ2
đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thuý Vân
Trang 3Lời cám ơn Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đ2 nhận được sự giúp đỡ tận tình của các tập thể và cá nhân Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới Thầy giáo Tiến sỹ Đỗ Văn Viện người đ2 trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thấy, Cô giáo trong Bộ môn Quản trị Kinh doanh - Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông nghiệp I, Khoa Sau Đại học đ2 tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Hà Nội, các huyện Thanh Trì, Sóc Sơn, Đông Anh Hà Nội, các Sở, Ban, ngành Thành phố Hà Nội có liên quan, các cửa hàng, siêu thị kinh doanh rau an toàn trên địa bàn Hà Nội, các hộ nông dân và những người dân Hà Nội
đ2 nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập tài liệu, phỏng vấn điều tra để tôi hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thuý Vân
Trang 4Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t
Trang 5Danh môc b¶ng biÓu
Trang
Trang 6Mục lục
Lời nói đầu i
Lời cám ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng biểu vi
Danh mục các từ viết tắt vii
1 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế
sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trong các hộ nông dân 2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.2 Vai trò và đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất rau an toàn 8
2.1.3 Một số vấn đề về tiêu thụ rau an toàn 10
2.1.4 Mối quan hệ trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 12
2.2 Cơ sở thực tiễn 13
2.2.1 Tình hình và hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới 13
2.2.2 Tình hình và hiệu quả kinh tế sản xuất, tiêu thụ rau của Việt Nam 17
2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 20
3 Đặc điểm địa bàn, phương pháp nghiên cứu 3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xE hội 20
3.1.1 Đặc điểm về tự nhiên 20
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - x2 hội 23
3.2 Phương pháp nghiên cứu 30
3.2.1 Phương pháp chọn điểm và mẫu điều tra 30
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 31
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
3.2.4 Phương pháp thống kê phân tích kinh tế 31
3.2.5 Phương pháp chuyên gia 32
Trang 73.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 32
4 kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1 Phân tích thực trạng sản xuất rau an toàn trên địa bàn Hà Nội 34
4.1.1 Diện tích và chủng loại rau an toàn 34
4.1.2 Năng suất và sản lượng rau an toàn 37
4.2 Thực trạng về tiêu thụ rau an toàn của Hà Nội 39
4.2.1 Về mức tiêu thụ rau an toàn 39
4.2.2 Về giá cả tiêu thụ rau an toàn 43
4.3 Phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ RAT tại các điểm điều tra 44
4.3.1 Thực trạng sản xuất rau an toàn của các hộ nông dân điều tra 44
4.3.2 Hiệu quả kinh tế SX RATnhờ áp dụng các biện pháp kỹ thuật 54
4.3.3 Hiệu quả kinh tế trong tiêu thụ rau an toàn 64
4.3.4 Hiệu quả x2 hội của sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 67
4.3.5 Hiệu quả môi trường của sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 68
4.3.5 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ RAT 68
4.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 75
4.4.1 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất rau an toàn 75
4.4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tiêu thụ rau an toàn 82
4.4.3 Các giải pháp về các chính sách 85
5 kết luận và kiến nghị 5.1 Kết luận 89
5.2 Kiến nghị 91
Tài liệu tham khảo……… ……… 95
Trang 81 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là thức ăn cần thiết không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày,
ăn đủ các loại rau không chỉ làm tăng sự hấp dẫn cho bữa ăn mà còn là nguồn dinh dưỡng cân đối cho cơ thể con người Ngày nay, với sự gia tăng dân số ngày càng cao cùng với sự phát triển ngày càng nhiều những khu công nghiệp, nhà máy của một nền công nghiệp hoá đ2 làm ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, không khí ở một số vùng trồng rau đặc biệt là những vùng trồng rau quanh các thành phố lớn Bên cạnh đó, việc lạm dụng phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật cùng với tập quán canh tác của người sản xuất rau chưa chuyển
đổi kịp đ2 ảnh hưởng phần nào đến chất lượng các loại rau và sức khoẻ của cộng đồng người tiêu dùng rau
Cùng với sự phát triển kinh tế đất nước, thị trường càng phát triển với các nhu cầu nông sản tăng lên về cả chủng loại, số lượng và chất lượng nông sản phẩm đáp ứng cho đời sống người dân ngày một nâng cao Trong tiến trình phát triển này, ngành sản xuất rau an toàn đang từng bước được chú trọng phát triển mạnh mẽ và đang dần khẳng định vị trí quan trọng trong chiến lược xây dựng một nền nông nghiệp phát triển bền vững Từ đây, đặt ra cho ngành hàng rau an toàn một nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi phải được quan tâm giải quyết một cách có thoả đáng trong cả lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ, đặc biệt đối với
địa bàn Hà Nội
Từ khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, ngành hàng rau bị thả nổi
từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ Sản xuất giống gì ? ở đâu ? Sản xuất theo công nghệ nào? Chất lượng ra sao ? Giá bán bao nhiêu ? Các vấn đề này, hầu hết đều do người sản xuất và người tiêu dùng quyết định Do bị thả nổi cho nên sản xuất rau chưa đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng, chưa bảo đảm an toàn trong tiêu dùng cho toàn x2 hội và khan hiếm lúc giáp vụ, hoặc xảy ra hiện
Trang 9tượng thừa ở vùng này nhưng lại thiếu ở vùng khác làm ảnh hưởng đến tâm lý
mở rộng quy mô sản xuất và tiêu thụ của người trồng rau
Đối với một số đô thị lớn như thành phố Hà Nội, nhu cầu tiêu dùng rau luôn ở mức cao nhất so với các vùng khác trong cả nước Năm 2003, thành phố
Hà Nội có 8000ha rau đậu các loại tập trung ở các huyện ngoại thành và vùng ven đô với tổng sản lượng đạt gần 150 nghìn tấn, đáp ứng cho một phần nhu cầu của người dân thành phố khoảng 52 kg rau/người/năm Tuy nhiên, thực tế lượng tiêu thụ rau của người dân thành phố lại cao hơn mức bình quân trên (từ
60 đến 70 kg) rau/người/năm Điều này cho thấy, để đáp ứng mức tiêu dùng hiện tại của người dân thành phố cần có nguồn cung ứng rau từ các huyện ngoại thành và các tỉnh lân cận về thành phố
Hệ thống thị trường rau an toàn (RAT) của Hà Nội còn nhiều vấn đề bất cập như tổ chức mạng lưới tiêu thụ còn nhiều bất hợp lý, cơ sở kỹ thuật phục
vụ bảo quản rau an toàn thiếu, yếu, hoạt động của các tổ chức, các tác nhân trong hệ thống thị trường còn mang tính tự phát Điều này, dẫn đến người nông dân thường phải chịu cả rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Chính những hạn chế này đ2 làm ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và đẩy mạnh tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Hà Nội Xuất phát từ điều đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trong hộ nông dân thời gian qua và tìm ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của hộ nông dân trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới
Góp phần hệ thống hoá các lý luận cơ bản về hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của các hộ nông dân trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua, tìm ra những hạn
Trang 10chế, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của các hộ nông dân trên địa bàn Hà Nội trong những năm vừa qua
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của các hộ nông dân trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của các hộ nông dân tham gia sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Hà Nội
Nội dung: đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ rau
an toàn của các hộ nông dân, các yếu tố ảnh hưởng, các mối quan hệ tác động
đến kết quả và đề xuất giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
Số liệu sử dụng nghiên cứu của luận văn được thu thập từ năm 2002 đến
2004
Trang 112 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh
tế sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trong
các hộ nông dân
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Hiệu quả sản xuất
Là sự phản ánh chung giữa các yếu tố đầu vào, đầu ra mối quan hệ mật thiết giữa chúng Hiệu quả sản xuất là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực có sẵn tại cơ sở trong một điều kiện nhất định để đạt
được hiệu quả cao với chi phí thấp Hiệu quả sản xuất có hai mặt của nó được xác định bằng chi phí sản xuất và kết quả sản xuất thu được trong một lĩnh vực nhất định, hiệu quả sản xuất được xác định bằng nội dung kinh tế x2 hội Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất chính là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
2.1.1.2 Hiệu quả kinh tế và bản chất của nó
Việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả kinh tế nền sản xuất x2 hội phải xuất phát từ những luận điểm của triết học Mác và những luận điểm của thuyết hệ thống
Bản chất của hiệu quả kinh tế nền sản xuất x2 hội là sự thực hiện yêu cầu của qui luật tiết kiệm thời gian biểu hiện trình độ sử dụng các nguồn lực của x2 hội, Mác cho rằng: Qui luật tiết kiệm thời gian là qui luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều phải tuân thủ theo qui luật đó, nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh của x2 hội và nâng cao
đời sống của nhân dân Với mục đích nhất định, con người phải thực hiện trong một thời gian lao động ít nhất hay nói khác đi trong một số lượng thời gian nhất định, kết quả đạt được phải cao nhất Như vậy hiệu quả là một phạm trù phản ánh yêu cầu của qui luật tiết kiệm thời gian [19]
Trang 12Trong lĩnh vực kinh tế hiệu quả là mục tiêu, không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch và quản lý kinh tế nói chung, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu ra
và đầu vào, lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng tỷ lệ so sánh
đầu ra với đầu vào của hệ thống sản xuất x2 hội, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực vào các mục đích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế x2 hội Vậy hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất nó có liên quan trực tiếp với nền sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các qui luật khác
Hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa kết quả x2 hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả x2 hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất
Từ những vấn đề trình bày trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế là việc sản xuất ra một lượng của cải lớn nhất với một số lượng chi phí lao
động x2 hội nhỏ nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của x2 hội
2.1.1.3 Khái niệm và chức năng của thị trường
Khái niệm thị trường?
Thị trường là nơi diễn ra các mối quan hệ kinh tế, là nơi biểu hiện tổng cung, tổng cầu đối với một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó và thông qua hoạt
động mua bán và quan hệ hàng hoá tiền tệ để giải quyết mối quan hệ cung cầu trên thị trường trong một khoảng thời gian nào đó
Theo học thuyết của C.Mác, hàng hoá là sản phẩm được sản xuất ra không phải để cho người sản xuất tiêu dùng mà nó được sản xuất ra để bán ở thị trường [2] Vậy thị trường là gì ? Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thị trường, theo chúng tôi nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất khái niệm về thị trường như sau:
Chức năng của thị trường? Thị trường có 4 chức năng sau?
Trang 13- Chức năng thừa nhận: Mọi hoàng hoá, mọi sản phẩm cung cấp ra thị trường chỉ khi nào được người tiêu dùng mua để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của họ thì quá trình tái sản xuất hàng hoá mới diễn ra Thị trường có chọn lọc, đáng giá hàng hoá, hàng hoá do thị trường quyết định chứ không phải do người sản xuất quyết định
- Chức năng thực hiện: Thông qua hoạt động thị trường để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất hàng hoá diễn ra nhanh hơn Thông qua quá trình trao
đổi hình thành một giá cả hợp lý
- Chức năng kích thích, điều tiết: Qua thị trường hàng hoá thể hiện giá cao hay thấp, qua đó người sản xuất sẽ tiếp tục hay ngừng sản xuất để tối đa hoá lợi nhuận Hàng hoá có giá cao được sản xuất nhiều hơn, hàng hoá có giá thấp sẽ bị hạn chế sản xuất
- Chức năng thông tin: Thông qua thị trường các thông tin về tổng cung, tổng cầu, giá trị, giá cả, điều kiện mua về hàng hoá dịch vụ được người mua, người bán sử dụng để trao đổi hàng hoá của mình
Mỗi hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện 4 chức năng này, mỗi chức năng đều có tầm quan trọng của nó, các chức năng có mối quan
hệ mật thiết với nhau Tuy nhiên, chỉ khi thực hiện được chức năng thừa nhận thì các chức năng khác mới phát hy hết tác dụng [5]
2.1.1.4 Khái niệm và đặc điểm kinh tế kỹ thuật sản xuất và rau an toàn Khái niệm về rau an toàn?
Rau sạch là rau không chứa các độc tố và các tác nhân gây bệnh, an toàn cho người và gia súc Sản phẩm rau xem là sạch khi đáp ứng được các yêu cầu sau: hấp dẫn về hình thức, tươi sạch, không bụi bẩn và lẫn tạp chất, thu đúng
độ chín khi có chất lượng cao nhất, có bao bì hấp dẫn
hoá chất bảo vệ thực vật, các kim loại nặng (Cu, Pb, Cd, As), nitrat cũng như các vi sinh vật có hại đối với sức khoẻ của con người ở dưới mức các tiêu chuẩn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc tiêu chuẩn của FAO, WTO
Trang 14Đây là các chỉ tiêu quan trọng nhất nhằm xác định mức độ an toàn về sinh thực phẩm cho mặt hàng rau quả “sạch”
định về sản xuất rau an toàn như sau:
Những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn thân, lá, củ, hoa
và quả có chất lượng đúng như đặc tính của nó, hàm lượng các hoá chất độc và mức độ ô nhiễm các vi sinh vật gây hại ở mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là rau bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là rau an toàn [14]
Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm của sản phẩm rau đặt ra như sau:
- Về hình thái: sản phẩm thu được thu hoạch đúng thời điểm, đúng yêu cầu của từng loại rau, đúng độ chín kỹ thuật (hay thương phẩm); không dập nát, hư thối, không lẫn tạp, không sâu bệnh và có bao gói thích hợp
- Về nội chất phải bảo đảm quy định mức cho phép:
+ Dư lượng các loại hoá chất bảo vệ thực vật trong sản phẩm rau
+ Hàm lượng tích luỹ của một số kim loại nặng chủ yếu như chì (Pb), thuỷ ngân (Hg), Asen (As), cadimi (Cd), đồng (Cu)
+ Mức độ ô nhiễm các loại vi sinh vật gây bệnh (E.coli, Samollela, trứng giun, sán )
Tóm lại, theo quan điểm của hầu hết nhiều nhà khoa học khác cho rằng:
Rau an toàn là rau không dập nát, úa, hư hỏng, không có đất, bụi bao quanh,
thuốc bảo vệ thực vật cũng như các vi sinh vật gây hại phải được hạn chế theo các tiêu chuẩn an toàn và được trồng trên các vùng đất không bị nhiễm kim loại nặng, canh tác theo những quy trình kỹ thuật được gọi là quy trình tổng hợp, hạn chế
được sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật ở mức tối thiểu cho phép
Trang 152.1.2 Vai trò và đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất rau an toàn 2.1.2.1 Vai trò của sản xuất rau an toàn
- Trong cuộc sống con người, rau là thức ăn không thể thiếu, là nguồn cung cấp vitamin phong phú nên nhiều thực phẩm khác không thể thay thế
được như các loaị vitamin A, B, D, C, E, K, các loại axit hữu cơ và khoáng chất như Ca, P, Fe rất cần cho sự phát triển của cơ thể con người Rau không chỉ cung cấp vitamin và khoáng chất mà còn có tác dụng chữa bệnh Chất xơ trong rau có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim, huyết áp và bệnh đường ruột, vitamin C giúp ngăn ngừa ung thư dạ dày và lợi Vitamin D trong rau giàu caroten có thể hạn chế những biến cố về ung thư phổi [5]
- Việt Nam là một nước nhiệt đới có thể tiến hành trồng rau quanh năm, ngành rau nước ta đ2 phát triển từ khá lâu và đóng góp khoảng 3% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp Phát triển rau có ý nghĩa lớn về kinh tế x2 hội: tạo việc làm, tận dụng lao động, đất và nguồn tài nguyên cho hộ gia đình Rau là cây ngắn ngày,
có những loại rau như cải canh, cải củ từ 30 - 40 ngày đ2 cho thu hoạch, rau cải bắp
75 - 85 ngày, rau gia vị chỉ 15 - 20 ngày một vụ cho nên một năm có thể trồng
được 2 - 3 vụ, thậm chí 4 - 5 vụ [15] Cây rau còn là cây dễ trồng xen, trồng gối vì vậy trồng rau tạo điều kiện tận dụng đất đai, nâng cao hệ số sử dụng đất
- Trồng rau không những tận dụng được đất đai mà còn tận dụng được cả lao động và những tư liệu sản xuất khác Cây rau là cây có giá trị kinh tế cao, 1ha trồng rau mang lại thu nhập gấp 2 - 5 lần so với trồng lúa Vì vậy trồng rau là nguồn tạo ra thu nhập lớn cho hộ [8]
- Rau còn là nguồn xuất khẩu quan trọng và là nguồn nguyên liệu cho chế biến Sản xuất rau có ý nghĩa trong việc mở rộng quan hệ quốc tế, góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân trên con đường CNH - HĐH Sản xuất rau tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao như cải bắp, cà chua, ớt, dưa chuột đóng góp một phần đáng kể vào sản xuất chung của cả nước và mở rộng quan hệ quốc tế
Trang 16Tóm lại, sản xuất rau có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu cho chế biến và sản phẩm cho xuất khẩu, góp phần tăng sản lượng nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho nông dân, giải quyết việc làm cho người lao động, tận dụng đất đai, điều kiện sinh thái
2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất rau an toàn
- Rau là cây ngắn ngày, rất phong phú về chủng loại, yêu cầu việc bố trí mùa vụ, tổ chức các dịch vụ phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật và tổ chức sử dụng lao động trong sản xuất cần được xắp xếp hợp lý khoa học
- Sản xuất rau đòi hỏi phải đầu tư nhiều công lao động
- Rau là ngành sản xuất mang tính hàng hoá cao, sản phẩm RAT có chứa hàm lượng nước cao, khối lượng cồng kềnh, dễ hư hỏng, dập nát, khó vận chuyển và khó bảo quản
- Sản xuất và tiêu thụ rau mang tính thời vụ do đó khả năng cung cấp của chúng có thể dồi dào ở chính vụ nhưng lại khan hiếm ở thời điểm giáp vụ Nhu cầu của người tiêu dùng là bất cứ thời điểm nào trong năm
Đặc điểm riêng cho sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
- Quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt
- Yêu cầu chặt chẽ về điều kiện sản xuất (chọn đất, nước tưới, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tổ chức sử dụg lao động trong sản xuất) và
đặc điểm sản phẩm nên gây ra cho người sản xuất, cung ứng khó chủ động
được hoàn toàn về chất lượng và số lượng rau ra thị trường Điều này dẫn đến
sự dao động lớn về giá cả, số lượng, chất lượng rau trên thị trường
- Tiêu dùng RAT còn phụ thuộc vào yếu tố thu nhập, tâm lý, tập quán, thói quen người tiêu dùng
- Xu hướng phát triển ở nước ta, hiện nay nhu cầu, tiêu dùng đang tăng tiến tạo ra thị trường tiêu thụ RAT phát triển cả về số lượng, chủng loại và chất lượng sản phẩm
Trang 172.1.3 Một số vấn đề về tiêu thụ rau an toàn
2.1.3.1 Tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị sử dụng của hàng hoá Qua tiêu thụ, hàng hoá chuyển từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp được hoàn thành Đây là giai đoạn cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng vai trò quyết định trong sự tồn vong của doanh nghiệp Tiêu thụ sản xuất góp phần làm đẩy nhanh vòng quay của vốn làm cầu nối đưa sản phẩm từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua lưu thông trên thị trường
Tiêu thụ sản phẩm là công việc thường xuyên của mỗi doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình, cho nên đòi hỏi cần có sự quan tâm
đúng mức Chỉ sau khi tiêu thụ hàng hoá các doanh nghiệp mới có thể xác định
được kết quả tài chính của mình Xác định được lượng vốn ứ đọng và lượng vốn lưu thông tương đối kịp thời chính xác, để từ đó điều chỉnh bổ sung vốn bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển ổn định
Hàng hoá nói chung có sự mâu thuẫn của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng lại thống nhất của hai mặt đối lập Đối với người sản xuất hàng hoá họ tạo
ra giá trị sử dụng nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị,
họ quan tâm đến giá trị sử dụng là để đạt được mục đích (là giá trị) mà thôi Ngược lại đối với người mua, cái mà họ quan tâm là cái giá trị sử dụng để thỏa m2n nhu cầu tiêu dùng của mình Muốn có giá trị sử dụng phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Như vậy trước khi thực hiện giá trị sử dụng phải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng
2.1.3.2 Kênh phân phối
Kênh phân phối là một tập hợp gồm nhiều thành phần (có thể là một công
ty, một doanh nghiệp hay cá nhân), tự gánh vác việc giúp đỡ, chuyển giao cho
ai quyền sở hữu đối với một hàng hoá cụ thể hay một dịch vụ nào đó, trên con
đường từ người sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng [4]
Trang 18Xét theo tính chất tiếp xúc của sản phẩm với người tiêu dùng có thể chia kênh phân phối làm hai loại kênh phân phối, xem sơ đồ 2.1:
Kênh phân phối trực tiếp gắn liền giữa người sản xuất và người tiêu dùng, tức là người sản xuất bán thẳng sản phẩm của mình cho người tiêu dùng không qua người trung gian Kênh này thể hiện sự sắp xếp phân phối
đơn giản nhất và ngắn nhất Với phương thức này người sản xuất tiêu thụ sản phẩm nhanh và có lợi nhuận cao, đồng thời chủ động cả về thời gian và khách hàng nên tương đối thuận lợi
Kênh phân phối gián tiếp là kênh mà người sản xuất bán sản phẩm cho người tiêu dùng qua một hoặc một số trung gian như người bán buôn, người bán lẻ hay các đại lý Độ dài và độ phức tạp của kênh tùy thuộc vào số lượng thành phần trung gian tham gia vào kênh [7]
Trong kênh phân phối gián tiếp càng nhiều tầng lớp trung gian càng khiến sản phẩm tới tay người tiêu dùng chậm Tuy vậy, về một phương diện khác của phân phối sản phẩm thì kênh gián tiếp bảo đảm hình thành một mạng lưới phân phối ổn định, tiến bộ, hợp lý Kênh phân phối gián tiếp còn giúp cho
sự ổn định giá cả một cách tương đối bền vững như sự phát triển dịch vụ, nhưng người tiêu dùng thường phải mua sản phẩm với giá cao hơn và sản phẩm
có thể bị giảm cấp khi đến tay người tiêu dùng [7]
Trang 19Hiện nay các kênh phân phối rau an toàn ở Việt Nam [6] qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Kênh phân phối rau an toàn
2.1.4 Mối quan hệ trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
- Người sản xuất: trực tiếp tạo ra sản phẩm, sau thu hoạch có thể bán sản phẩm trực tiếp cho các cửa hàng hoặc bán cho những người thu mua
- Người thu gom: họ thu mua sản phẩm của người sản xuất và giao lại tại các cửa hàng, siêu thị Có thể họ cũng là những người tham gia sản xuất ra các loại sản phẩm này, đồng thời họ tham gia thu mua sản phẩm của người trồng rau và họ giao sản phẩm mua được tại các cửa hàng hoặc siêu thị Do vậy trong trường hợp này họ cũng là những người cung cấp, cũng có thể người sản xuất
Người thu gom môi giới Người Người bán Người bán lẻ
Người thu gom Đại lý Đại lý Người bán Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Trang 20- Người tiêu dùng: là những người có nhu cầu về một sản phẩm nào đó nhưng không có điều kiện sản xuất, họ thường là người mua sản phẩm để tiêu dùng cá nhân và gia đình họ Các tác nhân này thường có mối liên kết hợp tác với nhau trong các kênh phân phối
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình và hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới Hiện nay có 120 chủng loại rau được sản xuất ở khắp các lục địa nhưng chỉ có 12 loại chủ lực được trồng trên 80% diện tích rau toàn thế giới Loại rau
được trồng nhiều nhất là cà chua 3,17 triệu ha, thứ hai là hành 2,29 triệu hectar, thứ ba là cải bắp 2,07 triệu ha (năm 1997) Còn ở châu á, loại rau được trồng nhiều nhất là cà chua, hành, bắp cải, dưa chuột, cà tím; ít nhất là đậu Hà Lan Nhìn chung, các loại rau như cà chua, dưa chuột, hành, cải bắp đều được trồng nhiều ở châu á nói riêng và thế giới [3]
Kinh nghiệm sản xuất rau của Đài Loan cho thấy để bảo đảm sản xuất rau mùa hè, từ năm 1971 phương pháp sản xuất rau trong nhà lưới, nhà vòm đ2
được giới thiệu cho nông dân Từ năm 1973 chính phủ Đài Loan đ2 đưa nội dung khuyến khích nông dân xây dựng các vùng chuyên canh rau vào trong chương trình phát triển nông thôn của mình Hội nông dân có trách nhiệm giúp
đỡ nông dân vùng chuyên canh tổ chức đội sản xuất và hướng dẫn kỹ thuật
Trang 21gieo trồng Để ổn định giá và lưu thông phân phối rau mùa hè, từ năm 1976, chính phủ đ2 áp dụng chính sách giá bảo đảm và tiêu thụ theo hợp đồng Nhìn chung, trong những năm 70, Đài Loan đ2 tập trung nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng biến động giá rau và tăng cường cung cấp rau mùa hè Những năm 1980 Đài Loan chuyển sang nghiên cứu xuất khẩu Những nghiên cứu khía cạnh kinh tế trong giai đoạn này tập trung vào đánh giá hệ thống xuất khẩu nhằm tìm ra biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu Những năm cuối 1980, nghiên cứu kinh tế tập trung vào đánh giá hệ thống sản xuất và marketing rau trong nước Hiện nay nghiên cứu tập trung vào vấn đề ứng dụng tiến bộ của lý thuyết kinh tế và phương pháp kinh tế lượng để phân tích ứng xử của những người tham gia thị trường trong việc hình thành giá trong điều kiện cạnh tranh và ứng dụng lý thuyết kinh tế phúc lợi để phân tích và đánh giá ảnh hưởng của các chính sách phát triển sản xuất rau của chính phủ [23]
Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy chính phủ đ2 áp dụng biện pháp ổn
định giá trực tiếp qua thu mua của chính phủ Hiện nay chính phủ đang trợ cấp cho việc hiện đại hóa trang thiết bị bảo quản chất lượng cao nên đang được mở rộng với tốc độ nhanh Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong phát triển rau là thiếu lao động nông thôn do đó chi phí tiền lương trong tổng chi phí tăng nhanh, biến động giá rau hàng năm vẫn chưa giải quyết được do vậy nghiên cứu rau được tập trung vào các vấn đề tìm cách ổn định giá rau, làm thế nào để nông dân giảm giá thành sản xuất để đứng vững trong cuộc cạnh tranh trên thị trường mở toàn cầu [22]
2.2.1.3 Inđônêxia
Trang 22Tổng diện tích gieo trồng rau năm 1991 là 776,6 nghìn ha với sản lượng
là 4,38 triệu tấn Từ 1982 đến 1991 sản lượng bình quân mỗi năm tăng là 8,2%
và diện tích tăng là 2,4% Tuy nhiên, năng suất vẫn còn thấp Tiêu dùng rau bình quân đầu người từ 14,62 kg/năm năm 1982 lên 25,8kg/năm năm 1991
Phần lớn rau của Inđônêxia được xuất khẩu sang Singapore và Malaysia, năm 1992 giá trị xuất khẩu rau là 32,8 triệu đô la Mỹ, gấp 8 lần năm 1982 Inđônêxia có công nghiệp chế biến phát triển nhanh, tổng công suất và chế biến năm 1987 là 78.000 tấn đến năm 1992 tăng lên 746.000 tấn đấy là một tiềm năng lớn để phát triển rau
Về tiêu thụ, Darmawan cho rằng 99% sản lượng rau là sản phẩm hàng hoá, do đó phải có sự liên kết chặt chẽ với thị trường toàn quốc Để thực hiện ý tưởng này từ năm 1979 Inđônêxia đ2 xây dựng hệ thống dịch vụ thông tin thị trường về rau Thị trường này cung cấp thông tin về giá hàng ngày cho nông dân và thương gia gồm giá vùng sản xuất: đó là giá thu gom và giá từ các trung tâm tiêu dùng; đó là giá bán buôn phân theo chất lượng
Thu gom và vận chuyển rau cung cấp cho các thị trường thành phố hiện nay do lực lượng nhu cầu thu gom ở địa phương đảm nhiệm còn cung cấp cho người tiêu dùng ở thị trấn do lực lượng bán rong đảm nhiệm [21]
Về tiêu thụ, hiện nay có 7 kênh tiêu thụ rau xanh, trong đó kênh tiêu thụ
có sự tham gia của HTX là kênh hiệu quả nhất: người sản xuất - hợp tác x2 -
Trang 23người bán buôn - người bán lẻ - người tiêu dùng Rau được tiêu thụ qua kênh này, ví dụ ở khoai tây chiếm 17 - 70% thị phần
Chính sách sắp tới của ấn Độ là tập trung phát triển giống chống chịu phù hợp với từng vùng, cung cấp giống tốt, xây dựng các cơ sở hạ tầng cần thiết và trang thiết bị chế biến, phát triển công nghệ rau thu hoạch thích hợp để giảm hao hụt tới từng vùng, cung cấp giống tốt, xây dựng các cơ sở hạ tầng cần thiết và trang thiết bị chế biến, phát triển công nghệ rau thu hoạch thích hợp để giảm hao hụt do hư, thối
2.2.1.5 Thái Lan
Thái Lan có tổng diện tích là 51,4 triệu hectar, trong đó diện tích sử dụng vào nông nghiệp là 19,84 triệu hectar Diện tích trồng rau và hoa năm 1992 là 449 nghìn hectar với sản lượng là 4,68 triệu tấn và năng suất bình quân 104,1 tạ/hectar Thái Lan có thể trồng được cả rau nhiệt đới và ôn đới Hiện nay có trên
100 loại rau được trồng ở Thái Lan trong đó có 45 loại được trồng phổ biến
Thái Lan xuất khẩu cả rau an toàn và rau chế biến Năm 1998 xuất khẩu 162.116 tấn, đến năm 1992 tăng lên 238.201 tấn Rau chế biến xuất khẩu chủ yếu là rau đóng hộp Thị trường xuất khẩu rau an toàn chủ yếu của Thái Lan chủ yếu là thị trường châu á Tuy xuất khẩu rau nhưng Thái Lan cũng có nhập khẩu rau, năm 1992 lượng nhập khẩu là 18.233 tấn [21]
2.2.1.6 Một số nước khác
Sri Lanka thì hệ thống marketing rau chủ yếu do tư nhân đảm nhiệm
và chưa làm tốt chức năng của nó Diện tích sản xuất rau phân tán, nông dân không được tổ chức và thiếu hiểu biết về kỹ thuật trồng rau, không có thông tin thị trường, thiếu tín dụng chính thống, bao bì đóng gói thiếu khoa học làm cho một bộ phận lớn rau hư hao qua vận chuyển là những hạn chế lớn
đối với sản xuất rau của Sri Lanka hiện nay [20]
Malaysia sản xuất phân tán, manh múm đ2 gây ra khó khăn cho việc thu gom sản phẩm tiêu thụ, thị trường độc quyền đ2 làm ảnh hưởng đến doanh thu của người sản xuất và người phân phối lưu thông, lạm phát làm cho giá lương thực và
Trang 24thực phẩm tăng hơn mức lạm phát chung Để giảm điều này cần điều chỉnh thị trường bán buôn như tăng cường giao dịch thị trường, tăng khối lượng giao dịch, tăng cung, ổn định cung qua kế hoạch sản xuất và dự trữ, giảm chi phí sản xuất, cải tiến hệ thống thông tin thị trường, khuyến khích phát triển sản xuất rau an toàn
Nhật Bản cho thấy: thị trường tiêu thụ ban đầu được hình một cách tự phát và chịu tác động mạnh mẽ từ bên ngoài Để thị trường phát triển cần thiết phải có luật thị trường của chính phủ và những quy định buộc mọi người khi tham gia thị trường phải tuân theo [6] Hiện nay, các thị trường bán buôn ở Nhật Bản được tổ chức theo "Luật thị trường bán buôn" Theo đó, thị trường bán buôn được chia thành: thị trường bán buôn trung tâm, thị trường bán buôn
địa phương và các thị trường bán buôn nhỏ khác [12]
Đài Loan có xu hướng giảm, năng suất rau nói chung chưa cao, chung quanh 10 tấn/hectar Các kênh marketing rau nhìn chung rất đa dạng, mỗi nước có cách tổ chức tiêu thụ tương đối khác nhau, ở các nước phát triển sản xuất và lưu thông phân phối rau được thực hiện một cách có tổ chức và gắn với thị trường [20]
2.2.2 Tình hình và hiệu quả kinh tế sản xuất, tiêu thụ rau của Việt Nam 2.2.2.1 Tình hình sản xuất rau
Rau là ngành hàng sản xuất đa chủng loại có địa bàn phân bố trên hầu hết khắp l2nh thổ cả nước với đa dạng các giống rau có khả năng thích nghi với điều kiện nóng ẩm mùa hè hoặc lạnh khô mùa đông hoặc những giống rau trái vụ, rau nhập nội có nguồn gốc ôn đới
Nước ta được thiên nhiên ưu đ2i về khí hậu, miền Bắc có 4 mùa rõ rệt, miền Nam có 2 mùa (khô và mưa), chính vì thế Việt Nam có khả năng sản xuất đủ rau cho tiêu dùng và xuất khẩu, giá thành rau tại ruộng rẻ Các vùng trồng rau hàng hoá và rau chuyên canh ở nước ta gồm vùng Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, vùng rau Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận, vùng đồng bằng sông Cửu Long Chủng loại rau hiện đang có tại đồng ruộng và thị trường rau Việt Nam gồm hơn 60 loại, trong đó các giống rau nhập nội và lai tạo có gần 10 loại Rau mùa đông có nhiều chủng loại hơn rau
Trang 25vụ hè và năng suất cao hơn, rau vụ đông là thế mạnh so với các nước trong khu vực Phân nhóm theo cách sử dụng thì loại rau ăn thân và lá chiếm từ 55 - 56%, rau ăn củ quả chiếm 30-35%, rau thơm và rau gia vị chiếm từ 2 - 3% [11]
Sản phẩm chế biến rau quả của nước ta cũng có những loại được bạn hàng thừa nhận về chất lượng nhưng nhìn chung các sản phẩm chế biến có chất lượng kém, mẫu m2 đơn giản, không hấp dẫn, kể cả phục vụ thị trường trong nước cũng như xuất khẩu Với công nghệ lạc hậu, bảo dưỡng yếu, vốn đầu tư thấp, ngành chế biến rau quả của cả nước chưa đủ mạnh để vươn lên [9]
Hiện nay nước ta có 377 nghìn héctar rau, sản lượng 5,6 triệu tấn/năm Diện tích trồng rau chiếm gần 3,9% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm và gần 3% tổng giá trị ngành trồng trọt, điều đó cho thấy hiệu quả kinh tế của ngành rau chưa cao [1]
Tổng sản lượng rau trong 10 năm gần đây (1994 - 2003) bình quân mỗi năm tăng 6,9%/năm, từ 3,2 triệu tấn lên 4,9 triệu tấn Cũng trong cùng thời kỳ, diện tích gieo trồng rau tăng 105.000 ha, với tốc độ tăng 5,5%/năm Sản lượng rau trong giai đoạn này cũng tăng lên chủ yếu do diện tích mở rộng Năng suất rau tăng từ 120 tạ/ha lên gần 130 tạ/ha và tăng 1,3%/năm [10]
Cả nước có hơn 12 triệu hộ gia đình ở nông thôn có diện tích trồng rau
lượng ước tính 40 - 500 nghìn tấn mỗi năm góp phần đưa sản lượng rau cả nước đạt xấp xỉ 5,2 - 5,3 triệu tấn Bình quân lượng rau trên đầu người của nước
ta hiện nay còn thấp, mới chỉ đạt 65,4 kg/người/năm, (gần bằng 78% bình quân của châu á 84/người/năm, bằng 71% bình quân của thế giới và so với nhu cầu dinh dưỡng 90-108 kg/người/năm thì mới chỉ đáp ứng gần 60 - 73% [3]
2.2.2.4 Tình hình tiêu thụ rau ở Việt Nam
Mức tiêu dùng về rau bình quân đầu người hiện nay đạt 52 kg/năm Mức sản xuất tiêu dùng rau của ta hiện nay đạt thấp so với bình quân đầu người của các nước trong khu vực châu á (mức tiêu dùng bình quân đầu người đạt 84 kg/năm) Nếu phấn đấu đạt mức năng lượng 2.300- 2.500 calo/người/ngày, theo tính toán của các chuyên gia về dinh dưỡng yêu cầu về
Trang 26rau phải đạt được 250 - 300 gam (khoảng 90 - 180kg/năm) Như vậy, hiện nay mức tiêu dùng rau ở nước ta mới đạt được khoảng 75% so với nhu cầu dinh dưỡng và chiếm 62% so với bình quân chung các nước châu á [16]
Những năm 80 nước ta đ2 xuất khẩu 32 nghìn tấn/năm mặt hàng rau quả tươi, thị trường xuất khẩu rau quả chủ yếu của nước ta là Đông Âu Năm 1999 xuất khẩu 10 nghìn tấn, năm 2000 trên 16 nghìn tấn quả hộp và quả đông lạnh, nhưng năm 1999 cả nước chỉ xuất khẩu được 16,7 nghìn tấn và năm 2000 mới xuất khẩu 16 nghìn tấn, thị trường xuất khẩu rau quả chủ yếu của nước ta cho các nước Đông Nam á, Nhật Bản, ý chúng ta có tới 40 thị trường có thể xuất khẩu rau quả [17]
Bên cạnh đó những tồn tại về tiêu thụ rau quả còn nhiều vấn đề cần quan tâm, giải quyết như: Rau quả của nước ta tuy đa dạng, phong phú và có diện tích lớn nhưng phát triển chưa theo yêu cầu thị trường, quy trình canh tác lạc hậu và phần lớn giống rau quả chưa được tuyển chọn, một số giống bị thoái hóa dẫn đến chất lượng kém, năng suất thấp, không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu tươi và chế biến công nghiệp [18]
Mặc dù cầu nhiều hơn cung nhưng thực tế đang diễn ra là thị trường rau quả nội địa đang bị các sản phẩm nhập khẩu lấn át và rau quả chế biến không cạnh tranh được trên thị trường nước ngoài
Hiện nay, ở Việt Nam việc sản xuất rau an toàn đang được khuyến cáo nhằm phát triển nhanh và mạnh trong thời gian tới bằng một số mô hình công nghệ khác nhau như thuỷ canh cách ly, nhà lưới cách ly, canh tác hữu cơ Công nghệ nhà kính kết hợp với quy trình canh tác hữu cơ cho phép cách ly một phần với sâu bệnh bên ngoài, giảm bớt một lượng giảm bớt một lượng phân bón và sử dụng các chế phẩm sinh học tạo ra sản phẩm đạt chất lượng tốt Thị trường tiêu thụ nói chung và thị trường rau an toàn nói riêng vẫn tập trung trong những hoạt động kinh tế mạnh ở những thành phố lớn và khu công nghiệp Tiềm năng của thị trường trong nước còn rất lớn nhưng mức tiêu
Trang 27thụ hiện nay vẫn còn hạn chế, khả năng thu mua thấp, việc buôn bán rau an toàn trong cửa hàng và siêu thị phát triển [13]
2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan
Hà Nội đ2 thực hiện nhiều dự án và các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến sản xuất và tiêu thụ rau như:
- Xây dựng điểm trình diễn rau sạch tại Nam Hồng - Đông Anh, năm
- Mở rộng quy mô sản xuất và cung ứng rau sạch tại, Hà Nội, năm
1999 - 2000, Trung tâm Kỹ thuật rau Hà Nội
3 Đặc điểm địa bàn, phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xL hội
số 29/2000/PL - UBTVQH khoá X cũng như Nghị quyết ĐHĐB lần thứ XIII
Trang 28Đảng bộ Thành phố Hà Nội đều xác định: Hà Nội là trái tim của cả nước, đầu n2o chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn Phát triển thủ đô Hà Nội là nhiệm vụ trọng điểm trong chiến lược phát triển chung của cả nước đang trên
đường CNH - HĐH Từ Hà Nội đi các thành phố, thị x2 trong cả nước rất thuận lợi trong hệ thống giao thông phát triển rộng khắp (đường bộ có 5 tuyến, đường sắt có 4 tuyến, có 2 sân bay và hệ thống giao thông đường thuỷ)
Hà Nội hiện có 44 trường ĐH và CĐ, 34 trường THCN, 41 trường dạy nghề, 112 viện nghiên cứu, nên Hà Nội là trung tâm hàng đầu về khoa học - công nghệ của cả nước Đây là lợi thế để Hà Nội phát triển trong mọi phương diện, ngày một vươn xa hơn tiến kịp các đô thị lớn trên thế giới
3.1.1.2 Khí hậu thuỷ văn
Khí hậu Hà Nội mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 2 mùa chủ yếu trong năm là mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 với đặc điểm là nóng ẩm và mưa nhiều, thường có dông b2o Điều kiện này có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất RAT nói riêng Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với khí hậu ít mưa, thời kỳ này rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp đặc biệt là cây vụ đông
Lượng mưa trung bình năm của Hà Nội vào khoảng 1250 - 1870 mm Số ngày mưa trung bình là 140 ngày, phân bố không đều trong năm và hình thành
2 mùa Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 và trong những năm mưa lớn lượng mưa chiếm khoảng 75 - 80% tổng lượng mưa của cả năm Hàng năm Hà Nội chịu ảnh hưởng trực tiếp của khoảng 5 - 7 cơn b2o
Độ ẩm không khí trung bình năm khá cao, có tháng đạt 85% (tháng 3, tháng 4) và 75% vào tháng 11 - 2 năm sau, gây rất nhiều khó khăn trong công tác bảo quản nông sản sau thu hoạch và chế biến
Mạng lưới sông, ngòi trên địa bàn Hà Nội khá dày đặc, khoảng 0,5
thống sông Hồng qua Hà Nội dài khoảng 54 km, lưu lượng dòng sông chảy bình
Trang 29Hà Nội có nhiều hồ, đầm tự nhiên với diện tích khoảng 3600 ha
Hà Nội có mỏ nước ngầm với trữ lượng lớn và nhìn chung nguồn nước này luôn được bổ xung có tầng phủ bảo vệ chống ô nhiễm, song trữ lượng phân bố
lượng nước ngầm nhìn chung trên toàn thành phố hàm lượng sắt và mangan cao không đáp ứng được tiêu chuẩn nước uống và tiêu chuẩn cấp nước Một số nơi có hàm lượng sắt, mangan, amôniac cao, nhưng với công nghệ xử lý nước hiện có chất lượng hoàn toàn bảo đảm cho các nhu cầu sinh hoạt với chi phí hợp lý
3.1.1.3 Địa hình, đất đai, cảnh quan
Hà Nội có diện tích tự nhiên chủ yếu là đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, địa hình bằng phẳng, được bồi tích phù sa, bề dày của phù
xa đệ tứ trung bình là 90 - 120 m
+ Khu vực phía Bắc sông Hồng gồm 3 huyện: Gia Lâm, Đông Anh, Sóc
+ Khu vực phía Nam sông Hồng gồm 9 quận và 2 huyện; có diện tích
Hai khu vực này có đặc trưng tương phản rõ rệt: khu vực phía bắc có diện tích rộng, địa hình và địa chất khá thuận lợi cho xây dựng công nghiệp và đô thị song hiện nay kinh tế chưa phát triển, dân số ít, mật độ dân số thấp, văn hoá x2 hội ở trình độ thấp; khu vực phía Nam sông Hồng có diện tích chỉ bằng 1/2 khu vực phía Bắc, dân số gấp hơn 2 lần, kinh tế khá phát triển, là trung tâm chính trị quốc gia, văn hoá x2 hội cũng như giao dịch quốc tế của cả nước
Hà Nội có quỹ đất phong phú, đa dạng trong tổng diện tích tự nhiên là 91842,2 ha đ2 phân ra 5 nhóm và 19 đơn vị phân loại đất Tính đa dạng và phong phú của tài nguyên đất tạo đà cho sự phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá khá toàn diện và bền vững
Theo thống kê Hà Nội hiện có hàng trăm nghìn cây xanh thuộc 50 loại thực vật bậc cao được trồng trong các công viên, vườn hoa và hè đường cùng
Trang 30với các làng hoa có truyền thống lâu đời như Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân
và các vùng hoa cây cảnh mới như Vĩnh Tuy, Tây Tựu với nhiều giống hoa mới được tạo ra, nhiều loại hoa mới từ Đà Lạt và các tỉnh phía nam mang ra hoặc từ nhiều nước trên thế giới nhập nội về, làm cho tài nguyên sinh vật của
Hà Nội ngày càng phong phú
Tiềm năng văn hoá du lịch của Hà Nội khá phong phú và đặc sắc, ngày càng có sức thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Vì thế Hà Nội đ2 và đang trở thành một thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông sản phục vụ cho du lịch
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất
Trong 3 năm trở lại đây, diện tích đất đai ở Hà Nội ít có sự biến động Với sự đa dạng và phong phú của tài nguyên đất này cho phép Hà Nội có thể phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá toàn diện và bền vững Năm 2002 diện tích đất nông nghiệp của Hà Nội có 42593 ha (chiếm 46,25%) tổng diện tích đất tự nhiên năm 2002 Đến năm 2003, diện tích đất nông nghiệp của Hà Nội là 42127,5 ha (chiếm 45,75%), giảm 465,5 ha và tiếp tục giảm vào năm 2004 (còn 42360 ha chiếm 45,99%) Bình quân 3 năm diện tích đất nông nghiệp của Hà Nội giảm 1,27%
Số liệu biểu 1 ta thấy đất trồng cây hàng năm chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diện tích đất nông nghiệp 89,18% (năm 2002), 89,14% (năm 2003) và 89,16% (năm 2004) bình quân 3 năm giảm 1,55% Tiếp đó là diện tích đất vườn tạp và
đất trồng cây lâu năm - ăn quả tăng lên ở các năm sau, bình quân tăng trong 3 năm 2002 đến năm 2004 tăng 5,84% đối với đất vườn tạp và 1,77% đối với đất trồng cây lâu năm - ăn quả Trong tương lai diện tích đất trồng cây lâu năm -
ăn quả còn tăng nhiều vì thành phố sẽ phát triển mạnh nghề làm vườn theo hướng hàng hoá và mức độ đầu tư của các hộ gia đình cũng tăng lên theo qui mô và chất lượng của nghề này
Trang 32Diện tích đất lâm nghiệp có rừng của Hà Nội năm 2002 có quy mô 6628 ha chiếm 7,20% tổng diện tích đất tự nhiên Diện tích này tăng qua các năm sau, bình quân 3 năm tăng 0,01% Diện tích đất rừng tập trung chủ yếu trên địa bàn huyện Sóc Sơn Nhìn chung, diện tích đất lâm nghiệp đ2 được quy hoạch giữ lại là rừng phòng hộ và rừng cảnh quan môi trường của Hà Nội
Diện tích đất chưa sử dụng, đất khác của Hà Nội năm 2002 còn lại là 9455
ha, chiếm 10,27% tổng diện tích đất tự nhiên Với kế hoạch đầu tư cụ thể, sự chỉ
đạo sát sao thì diện tích đất chưa sử dụng này đ2 được đưa vào sử dụng theo những mục đích cụ thể Chính vì vậy năm 2003 diện tích này giảm còn 9338 ha (10,14% tổng diện tích đất tự nhiên) và năm 2004 là 9221,4 ha (10,01%) Bình quân 3 năm diện tích đất chưa sử dụng được đưa vào sử dụng tăng 1,59%/năm
Tương ứng với sự giảm của diện tích đất chưa sử dụng thì diện tích đất chuyên dùng và diện tích đất ở tăng lên Bình quân 3 năm diện tích đất chuyên dùng tăng lên 0,75%, đối với diện tích đất ở con số này giảm là 1,28%
Có thể nói, cơ cấu đất của Hà Nội trong 3 năm qua luôn có sự biến động cùng với sự phát triển đô thị mạnh mẽ của Khi mà tốc độ phát triển đô thị diễn
ra nhanh thì quy hoạch không gian đô thị của thủ đô sẽ tạo ra những thay đổi lớn trên từng khu vực, từ đây sẽ đặt ra những khó khăn, thách thức mới cho ngành nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất RAT nói riêng
3.1.2.2 Dân số, lao động
Số liệu thống kê năm 2002, dân số thành phố Hà Nội có 2790800 người Con số này tăng lên vào năm 2003 là 2847100 người và năm 2004 là 2903400 người, bình quân 3 năm tăng 1,50%/năm
Qua biểu 2 ta thấy, nếu phân chia dân số Hà Nội theo giới tính thì tỷ lệ nam/nữ xấp xỉ nhau tỷ lệ nàu là 51/49, theo thành thị/nông thôn thì tỷ lệ này là 57/43 Phân chia theo ngành có thể nhận thấy, sự khác biệt của đô thị Hà Nội
đó là dân số phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao hơn dân số sống nông thôn (năm 2002 là 21,77%/75,97%, năm 2004 là 25,05%/74,95 Bình quân 3 năm dân số phi nông nghiệp tăng 2,4%/năm Trong số 1176900 người dân nông thôn thì dân số phân theo ngành làm nông nghiệp là 607500 người chiếm 56,1% Tình hình trên được thể hiện ở biểu 2
Trang 34Số liệu trong biểu cho thấy nguồn lao động trong nông nghiệp có tỷ
lệ khá cao Với lực lượng lao động nông nghiệp dồi dào trên Hà Nội đ2 có
được những thuận lợi đáng kể, tuy nhiên nó cũng có những khó khăn, hạn chế đó là giá trị ngày công lao động nông nghiệp còn ở mức thấp so với các ngành khác Ngoài ra còn có nguồn dân số phi nông nghiệp sống ở nông thôn chiếm tỷ lệ 44,3% cũng là nguồn cung cấp lao động phụ lúc thời
vụ sản xuất nông nghiệp căng thẳng Do vây, có thể đánh giá nguồn lao
động nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội rất dồi dào, đa dạng đáp ứng vượt mức các nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, kể cả một nền sản xuất nông nghiệp với chất lượng cao
Về chất lượng lao động nông nghiệp Hà Nội: đa số lao động ngoại thành Hà Nội hiện nay đều là lực lượng lao động tương đối trẻ, phần lớn họ có trình độ văn hóa từ cấp II trở lên, do vậy trình độ nhận thức tương đối khá và đồng đều Với lực lượng lao động trên Hà Nội đ2 có được những thuận lợi đáng kể, tuy nhiên nó cũng
có những khó khăn, hạn chế đó là giá trị ngày công lao động nông nghiệp còn ở mức thấp so với các ngành khác Do vậy, có thể đánh giá nguồn lao động nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội rất dồi dào, đa dạng đáp ứng vượt mức các nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, kể cả một nền sản xuất nông nghiệp với chất lượng cao
Đây là yếu tố thuận lợi cho nền sản xuất hàng hoá đòi hỏi ngày càng cao về tri thức, về tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới Tuy nhiên cũng còn bộ phận khá lớn lao động nông nghiệp tỏ ra lúng túng và phản ứng chậm trước yêu cầu kinh
tế thị trường Các tiến bộ kỹ thuật mới, tiên tiến còn chưa được phổ cập rộng r2i tới người lao động Đầu tư cho lao động nông nghiệp còn thấp
3.1.2.3 Kết quả sản xuất nông nghiệp của Hà Nội
Giá trị sản xuất nông nghiệp của Hà Nội tính theo giá cố định năm 1994 thì năm 2002 đạt được là 11248568 triệu đồng, năm 2003 tăng lên 1306044 triệu đồng (tăng 4,6% so với năm 2002) Đến năm 2004 con số này là 1363520 triệu đồng (tăng 4,4% so với năm 2003) Bình quân 3 năm tăng tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp Hà Nội là 4,5%/năm
Trang 35GTSX ngành trồng trọt chiếm phần lớn trong cơ cấu GTSX nông nghiệp của Hà Nội (năm 2002 GTSX chiếm 57,81%) Tuy nhiên con số này giảm dần vào các năm 2003 và 2004
Đáng chú ý là GTSX rau các loại trong cơ cấu cây thực phẩm chiếm phần lớn (trên 80% năm 2002) Trong cơ cấu GTSX nông nghiệp của Hà Nội ngành chăn nuôi đạt giá trị đứng thứ 2 GTSX ngành chăn nuôi tăng cả về giá trị và cơ cấu Năm
2002, GTSX ngành chăn nuôi đạt 490602 triệu đồng (chiếm 39,29%) GTSX nông nghiệp; năm 2004 là 539638 triệu đồng (chiếm 39,58%) Tốc độ tăng bình quân của GTSX ngành chăn nuôi đạt được qua các năm là 4,88% Các ngành chăn nuôi: gia súc, gia cầm, cùng các ngành chăn nuôi khác trong chăn nuôi đều tăng tương ứng như ngành chăn nuôi nói chung về GTSX, xem biểu 3
Trang 37Ngành dịch vụ trong nông nghiệp là ngành có đóng góp nhỏ nhất trong cơ cấu GTSX nông nghiệp của Hà Nội Tuy nhiên ngành này trong 3 năm, liên tục tăng cả về giá trị cũng như đóng góp trong cơ cấu GTSX nông nghiệp Bình quân tăng 0,02%/năm trong 3 năm
Tóm lại, qua 3 năm (2002 - 2004) GTSX nông nghiệp của Hà Nội đ2 có
sự biến động giảm, tuy vậy trong cơ cấu của nó đ2 có sự thay đổi theo hướng tích cực đó là giảm tỷ trọng ngành trồng trọt và tăng mạnh cả về giá trị cũng như tỷ trọng của các ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm và mẫu điều tra
Đặc thù sản xuất RAT chủ yếu phụ thuộc vào môi trường nước, đất và khoảng cách đến nơi tiêu thụ Do đó, nghiên cứu về thực trạng sản xuất RAT chúng tôi chọn 3 điểm điều tra, phân tích, với tổng số mẫu điều tra là 90 hộ nông dân: Vân Nội (Đông Anh), Lĩnh Nam (Hoàng Mai), Đông Xuân (Sóc Sơn) Mỗi
điểm điều tra 30 hộ nông dân tham gia sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
+ Vân Nội có tổng diện tích tự nhiên là 670 ha; trong đó diện tích đất canh tác có 317 ha, diện tích chuyên rau an toàn lên tới 90 ha Tổng dân số hơn 9200 người với trên 70% dân số sống nhờ nông nghiệp Cho đến nay, x2 Vân Nội có 6 thôn và một khu phố thì đ2 có 6 HTX dịch vụ nông nghiệp theo thôn và 12 HTX tiêu thụ sản phẩm RAT
+ Lĩnh Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là 557,04 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 220 ha và diện tích sản xuất rau đ2 chiếm 91,41% tổng diện tích đất nông nghiệp (khoảng 201 ha) Với tổng dân số trên 15000 người trong đó khẩu nông nghiệp là 72000 người thì bình quân hàng năm giá trị sản xuất mà x2 đạt được là 16120 triệu đồng, trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp
đạt được 12600 triệu đồng chiếm 78,16% với phần lớn là giá trị do sản xuất rau tạo ra
+ Đông Xuân là một trong những x2 điểm của Sóc Sơn thực hiện vùng quy hoạch sản xuất RAT của huyện Đông Xuân có tổng diện tích đất tự nhiên
Trang 38374 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp trên 215 ha, tổng dân số khoảng
1400 người, trong đó số khẩu nông nghiệp là 7800 người Năm 2003, tổng diện tích đất gieo trồng RAT mà Đông Xuân đạt được với một số cây trồng chủ yếu: cải bắp, su hào, dưa chuột, ớt các loại ở Đông Xuân có một nhà máy chế biến dưa bao tử và ngô bao tử; đây là lợi thế lớn để Đông Xuân có thể phát triển vùng rau nguyên liệu cung cấp cho nhà máy Cho đến nay Đông Xuân có
11 liên nhóm sản xuất RAT trên toàn địa bàn x2, họ đang từng bước liên kết hỗ trợ với nhau để phát triển sản xuất RAT một cách đồng bộ và hiệu quả
Nghiên cứu về tiêu thụ chúng tôi đ2 tiến hành điều tra 10 người thu gom bán buôn, 10 cửa hàng, 5 siêu thị và 30 người tiêu dùng Số lượng mẫu điều tra được phân bổ trên địa bàn chủ yếu là nội thành, ven nội và các chủng loại rau chủ yếu của 2 vụ đông năm 2003 và xuân hè năm 2004
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu
Nội, tài liệu của các Bộ, Sở, các phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Thương mại và các cơ quan thuộc thành phố Hà Nội có liên quan đến m\nội dung nghiên cứu của đề tài Ngoài ra, tài liệu thứ cấp còn được thu thập qua các công trình đ2 công bố trên các tạp chí, tập san, các phương tiện thông tin đại chúng
Tài liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp các hộ nông dân tham gia sản xuất
và tiêu thụ rau an toàn thông qua các phiếu điều tra, ngoài ra tài liệu sơ cấp còn được thu thập qua phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Tài liệu thu thập được xử bằng chương trình excel, thực hiện kiểm tra và
xử lý đầy đủ, chính xác và thống nhất Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu tính toán phù hợp và áp dụng phương pháp tổng hợp, xử lý tài liệu thống nhất
3.2.4 Phương pháp thống kê phân tích kinh tế
Trong quá trình nghiên cứu, tiến hành tổ chức điều tra, xây dựng biểu mẫu, hệ thống chỉ tiêu, hệ thống câu hỏi phỏng vấn Từ kết quả tài liệu thu
Trang 39thập được chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp cụ thể như xác định các chỉ
số, so sánh, đối chiếu và cân đối trong nghiên cứu các chỉ tiêu, nội dung, các kiểu, hiện tượng để làm cơ sở cho phân tích và phát hiện ra xu hướng phát triển của các hiện tượng kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ RAT
3.2.5 Phương pháp chuyên gia
Thực hiện nghiên cứu, tham khảo các ý kiến của các chuyên gia nông nghiệp, cán bộ địa chính của sở, các huyện và các x2 Tiến hành chuyên khảo hẹp về kinh nghiệm của các chủ hộ canh tác giỏi Mặt khác thực hiện tra cứu các công trình nghiên cứu đ2 công bố, từ đó lựa chọn, thừa kế và vận dụng có chọn lọc phù hợp với điều kiện nghiên cứu đề tài
3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
3.2.4.1 Các chỉ tiêu về sản xuất rau an toàn
- Diện tích, năng suất, sản lượng rau an toàn
- Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong một chu kỳ sản xuất nhất định thường là một năm
- Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ các khoản chi phí thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để mua và thuê các yếu tố đầu vào và chi phí dịch
vụ trong thời kỳ sản xuất ra tổng sản phẩm đó
- Giá trị gia tăng (VA): phản ánh kết quả của đầu tư các yếu tố chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm x2 hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất
đó Nó là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian VA = GO - IC
- Chi phí lao động (LC): là giá trị của toàn bộ lao động đ2 sử dụng để sản xuất ra một lượng sản phẩm nhất định LC = L*P
Trong đó: L là số ngày công lao động; P là giá thuê lao động
- Thu nhập hỗn hợp (MI): là một bộ phận quan trọng của giá trị gia tăng, bao gồm cả giá trị công lao động trực tiếp, lao động quản lý của chủ thể và lợi nhuận trong quá trình sản xuất, phản ảnh khả năng bảo đảm cho đời sống và tích luỹ của người sản xuất
Trang 40- So s¸nh hiÖu qu¶ kinh tÕ cña mét sè lo¹i rau an toµn vµ rau th−êng
- HiÖu qu¶ kinh tÕ cña c¸c c«ng thøc lu©n canh, dïng chÕ phÈm ®iÒu hoµ sinh tr−ëng, sö dông thuèc b¶o vÖ thùc vËt trong s¶n xuÊt rau an toµn
3.2.4.2 C¸c chØ tiªu vÒ kÕt qu¶ vµ hiÖu qu¶ tiªu thô
- Khèi l−îng rau b¸n bu«n
- Khèi l−îng rau nhËp b×nh qu©n/ngµy/tuÇn/th¸ng/n¨m
- Khèi l−îng rau b¸n b×nh qu©n/ngµy/tuÇn/th¸ng/n¨m
- Doanh thu, chi phÝ, l2i gép tÝnh cho mét cöa hµng, mét kg s¶n phÈm