QHXD Hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi tại các xã nông thôn vùng ĐBSH (Luận văn thạc sĩ)QHXD Hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi tại các xã nông thôn vùng ĐBSH (Luận văn thạc sĩ)QHXD Hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi tại các xã nông thôn vùng ĐBSH (Luận văn thạc sĩ)QHXD Hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi tại các xã nông thôn vùng ĐBSH (Luận văn thạc sĩ)QHXD Hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi tại các xã nông thôn vùng ĐBSH (Luận văn thạc sĩ)QHXD Hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi tại các xã nông thôn vùng ĐBSH (Luận văn thạc sĩ)QHXD Hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi tại các xã nông thôn vùng ĐBSH (Luận văn thạc sĩ)QHXD Hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi tại các xã nông thôn vùng ĐBSH (Luận văn thạc sĩ)QHXD Hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi tại các xã nông thôn vùng ĐBSH (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
NGUYỄN THÙY TRANG
QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHĂM SÓC Y TẾ & ĐỜI SỐNG NGƯỜI CAO TUỔI CÁC XÃ NÔNG THÔN VÙNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
Nguyễn Thùy Trang
QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHĂM SÓC Y TẾ & ĐỜI SỐNG NGƯỜI CAO TUỔI CÁC XÃ NÔNG THÔN VÙNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thùy Trang
Trang 4đỡ của các Thầy cô giáo
Tôi xin chân thành cảm ơn TS KTS Phạm Đình Tuyển, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy cô giáo trong Hội đồng Khoa học đã cho tôi những lời khuyên quý giá, các Thầy cô giáo trong Bộ môn Kiến trúc Công nghiệp Trường Đại học Xây Dựng đã tạo điều kiện tốt cho tôi hoàn thành Luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã động viên và giúp đỡ hết lòng để tôi có thể hoàn thành Khóa học và bảo vệ thành công Luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết chọn đề tài luận văn .1
2 Mục đích của luận văn 2
3 Mục tiêu của luận văn 2
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 2
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
6 Kết quả đạt được 3
7 Cấu trúc của luận văn 4
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHĂM SÓC Y TẾ & ĐỜI SỐNG NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 5
1.1 Tình hình chăm sóc y tế & đời sống người cao tuổi trên thế giới 5
1.1.1.Tình hình chăm sóc y tế & đời sống người cao tuổi ở một số nước trên thế giới……… 5
1.1.1.1 Đức…… 5
1.1.1.2 Australia 8
1.1.1.3 Đan Mạch 9
1.1.2 Một số mô hình chăm sóc y tế & đời sống người cao tuổi trên thế giới…… 12
1.1.2.1 Các loại hình chăm sóc y tế & đời sống người cao tuổi trên thế giới…… 12
1.1.2.2 Một vài ví dụ minh họa về các công trình chăm sóc y tế & đời sống người cao tuổi trên thế giới 13
1.2 Tình hình chăm sóc y tế & đời sống người cao tuổi ở Việt Nam … 17
1.2.1 Tổng quan chung về người cao tuổi ở Việt Nam 17
1.2.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 17
1.2.1.2 Đời sống gia đình, văn hóa và tinh thần của người cao tuổi 19
Trang 61.2.1.3 Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi 19
1.2.1.4 Hoạt động kinh tế, thu nhập và tình trạng nghèo của người cao tuổi…… 21
1.2.2 Kết quả điều tra xã hội học tại một xã điển hình vùng nông thôn Đồng bằng sông Hồng…… 22
1.3 Những vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu .23
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHĂM SÓC Y TẾ & ĐỜI SỐNG NGƯỜI CAO TUỔI CÁC XÃ NÔNG THÔN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 24
2.1 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên vùng Đồng bằng sông Hồng 24
2.1.1 Vị trí địa lý 24
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 25
2.2 Cơ sở dân số NCT các xã nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng 26
2.3 Đặc điểm ngôi nhà truyền thống khu vực nông thôn Đồng bằng sông Hồng 26
2.3.1 Đặc trưng kiến trúc truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng 26
2.3.2 Đặc trưng phong cách kiến trúc nhiệt đới 27
2.4 Đặc điểm tâm sinh lý người cao tuổi .28
2.4.1 Đặc điểm sinh lý 28
2.4.2 Đặc điểm tâm lý 29
2.5 Chủ trương – chính sách Nhà nước trong việc chăm sóc y tế & đời sống người cao tuổi .30
2.5.1 Nhóm chính sách An sinh xã hội 30
2.5.1.1 Đối với Bảo hiểm xã hội 30
2.5.1.2 Đối với Bảo hiểm Y tế 32
2.5.1.3 Đối với Trợ cấp xã hội 33
Trang 72.5.2 Nhóm chính sách về thể chế, tổ chức 34
2.5.3 Kế hoạch hoạt động của Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2016 – 2025……… 34
2.5.4 Một số cơ sở pháp lý liên quan đến người cao tuổi 35
2.6 Cơ sở chức năng của hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi 36
2.6.1 Trạm y tế xã 36
2.6.1.1 Khái niệm, nhiệm vụ, nguồn nhân lực Trạm y tế xã 36
2.6.1.2 Các không gian chức năng chính trong Trạm y tế xã 37
2.6.2 Nhà dưỡng lão 38
2.6.2.1 Khái niệm, nguồn nhân lực Nhà dưỡng lão 38
2.6.2.2 Các không gian chức năng chính trong Nhà dưỡng lão 38
2.6.3 Hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi 40
2.7 Một số kích thước tiêu chuẩn đối với công trình dành cho người khuyết tật .41
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHĂM SÓC Y TẾ & ĐỜI SỐNG NGƯỜI CAO TUỔI CÁC XÃ NÔNG THÔN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 43
3.1 Quan điểm chung về việc quy hoạch xây dựng hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi các xã nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng .43
3.2 Giải pháp về Quy hoạch hệ thống mạng lưới chăm sóc y tế & đời sống NCT……… 43
3.2.1 Phân bố Nhà dưỡng lão theo từng xã/huyện 43
3.2.2 Phân bố Nhà dưỡng lão theo cụm xã 44
3.2.3 Nhà dưỡng lão gắn với Trạm y tế xã/ Bệnh viện Huyện 44
3.2.4 Nhà dưỡng lão tồn tại độc lập 44
Trang 83.2.5 Các mô hình hoạt động của hệ thống 45
3.3 Giải pháp về Quy hoạch xây dựng hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi 45
3.3.1 Lựa chọn địa điểm xây dựng 45
3.3.2 Xác định quy mô tối thiểu Nhà dưỡng lão 45
3.3.3 Quy hoạch tổng mặt bằng Nhà dưỡng lão 46
3.3.3.1 Các dạng bố cục tổng mặt bằng Nhà dưỡng lão 46
3.3.3.2 Thiết kế giao thông trong tổng mặt bằng Nhà dưỡng lão 48
3.3.3.3 Thiết kế cảnh quan trong tổng mặt bằng Nhà dưỡng lão 48
3.4 Giải pháp về công trình kiến trúc .50
3.4.1 Giải pháp tổ hợp không gian 50
3.4.1.1 Giải pháp mặt bằng 51
3.4.1.2 Hình khối công trình 51
3.4.2 Giải pháp về kỹ thuật 52
3.4.3 Giải pháp về không gian, trang thiết bị nội thất cho NCT 52
3.5 Giải pháp về đầu tư xây dựng và quản lý vận hành .55
3.5.1 Giải pháp đầu tư 55
3.5.2 Giải pháp quản lý xây dựng 55
3.5.3 Giải pháp vận hành 56
KẾT LUẬN .58
TÀI LIỆU THAM KHẢO .60
PHỤ LỤC .62
Phụ lục 1 Bảng câu hỏi điều tra đời sống và sức khỏe người cao tuổi xã Thi Sơn – Huyện Kim Bảng – Tỉnh Hà Nam 62
Phụ lục 2 Các sơ đồ tóm tắt luận văn 66
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi Việt Nam .71
Bảng 1.2: Tình trạng sức khỏe của người cao tuổi theo lứa tuổi .72
Bảng 1.3: Tỷ lệ nghèo của người cao tuổi Việt Nam .72
Bảng 2.1: Bảng thống kê dân số các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng năm 2011 74
Bảng 3.1: Chỉ tiêu diện tích tối thiểu các nhóm phòng và khối chức năng cơ bản đề
xuất trong nhà dưỡng lão 81
Bảng 3.2: Kinh phí đầu tư xây dựng dự kiến 85
Bảng 3.3: Kinh phí hoạt động dự kiến 85
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1.1: Khu nhà ở kết hợp nông trại thẳng đứng dành cho người cao tuổi ở Singapore .70
Hình 1.2: Viện dưỡng lão Caritas, Leoben, Austria .70
Hình 1.3: Viện dưỡng lão tại chù Ji Xiang, Fujian, Trung Quốc .70
Hình 1.4: Viện dưỡng lão Pont – sur – Yonne, Pháp 70
Hình 1.5: Khu nhà ở cho người cao tuổi, Alcacerdosal, Bồ Đào Nha 70
Hình 1.6: Tháp dân số Việt Nam qua các giai đoạn 71
Hình 1.7: Phân bố dân số người cao tuổi theo tỉnh 71
Hình 1.8: Cơ cấu thu nhập hộ gia đình người cao tuổi .72
Hình 1.9: Một số kết quả điều tra xã hội học về người cao tuổi tại xã Thi Sơn – tỉnh Hà Nam 73
Hình 2.1: Vị trí địa lý vùng Đồng bằng sông Hồng .74
Hình 2.2: Tháp dân số Việt Nam năm 2011 74
Hình 2.3: Biểu đồ minh họa cơ sở dân số NCT các xã nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng 74
Hình 2.4: Minh họa đặc trưng kiến trúc truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng 75
Hình 2.5: Minh họa nhà ở nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng .75
Trang 10Hình 2.6: Minh họa đặc trưng phong cách kiến trúc nhiệt đới .75
Hình 2.7: Các không gian chức năng chính của Trạm y tế xã .77
Hình 2.8: Minh họa mặt bằng và một số không gian chức năng Trạm y tế xã 77
Hình 2.9: Các không gian chức năng chính của Nhà dưỡng lão 78
Hình 2.10: Minh họa mặt bằng và một số không gian chức năng Nhà dưỡng lão 78
Hình 2.11: Kích thước tiêu chuẩn của xe lăn dành cho người khuyết tật .79
Hình 2.12: Kích thước đường dốc tiêu chuẩn cho người khuyết tật 79
Hình 2.13: Kích thước hành lang tiêu chuẩn cho người khuyết tật 79
Hình 2.14: Kích thước cửa ra vào, cửa sổ tiêu chuẩn cho người khuyết tật .79
Hình 2.15: Kích thước thang bộ - thang máy tiêu chuẩn cho người khuyết tật .79
Hình 2.16: Kích thước nhà vệ sinh tiêu chuẩn cho người khuyết tật .79
Hình 3.1: Minh họa mô hình phân bố nhà dưỡng lão theo từng xã/huyện .80
Hình 3.2: Minh họa mô hình phân bố nhà dưỡng lão theo cụm xã 80
Hình 3.3: Minh họa mô hình nhà dưỡng lão gắn với Trạm y tế xã/ Bệnh viện Huyện .80
Hình 3.4: Minh họa mô hình nhà dưỡng lão tồn tại độc lập .80
Hình 3.5: Minh họa phương án công trình nằm giữa khu đất xây dựng 81
Hình 3.6: Minh họa phương án công trình nằm về một góc khu đất xây dựng .81
Hình 3.7: Minh họa phương án công trình nằm về hai bên khu đất xây dựng 81
Hình 3.8: Minh họa phương án công trình nằm phân tán tự do .81
Hình 3.9: Minh họa yếu tố cây xanh – mặt nước trong thiết kế cảnh quan nhà dưỡng lão .82
Hình 3.10: Minh họa yếu tố không gian mở - kiến trúc nhỏ trong thiết kế cảnh quan nhà dưỡng lão 82
Hình 3.11: Minh họa yếu tố đường dạo trong thiết kế cảnh quan nhà dưỡng lão .82
Hình 3.12: Minh họa yếu tố trang thiết bị - vật liệu trong thiết kế cảnh quan nhà dưỡng lão .82
Hình 3.13: Minh họa loại nhà hành lang bên 83
Hình 3.14: Minh họa loại nhà hành lang giữa 83
Trang 11Hình 3.15: Minh họa loại nhà kết hợp hành lang bên và hành lang giữa 83
Hình 3.16: Minh họa loại nhà có sân trong 83
Hình 3.17: Minh họa loại nhà chia thành từng cụm .83
Hình 3.18: Minh họa về hình khối công trình nhà dưỡng lão 83
Hình 3.19: Minh họa về các giải pháp kỹ thuật trong công trình nhà dưỡng lão 84
Hình 3.20: Minh họa về yếu tố màu sắc trong không gian nội thất dành cho người cao tuổi .84
Hình 3.21: Minh họa về yếu tố vật liệu trong không gian nội thất dành cho người cao tuổi .84
Hình 3.22: Minh họa về thông gió chiếu sáng trong không gian nội thất dành cho người cao tuổi .84
Hình 3.23: Minh họa về trang thiết bị nội thất dành cho người cao tuổi 84
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết chọn đề tài luận văn
Già hóa dân số là vấn đề lớn mà các nước đang phát triển đang phải đối mặt Theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ người cao tuổi so với tổng dân số nước ta đã đạt 10,5% vào năm 2011, tức là cơ cấu dân số chính thức bước vào giai đoạn “ già hóa” Số người cao tuổi (NCT) tăng nhanh đòi hỏi sự chăm sóc về cả thể chất lẫn tinh thần rất lớn Việc chăm sóc và tạo điều kiện sống tốt nhất cho NCT là trách nhiệm của nhà nước, gia đình, cộng đồng, đặc biệt trở nên cần thiết trong một xã hội bước vào thời kỳ dân số già
Ở Việt Nam hiện nay đang xuất hiện một số mô hình chăm sóc người cao tuổi
Mô hình Trung tâm chăm sóc sức khỏe NCT đã xuất hiện tại các thành phố nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc NCT ở các đô thị bởi tại đây, gia đình NCT có nhiều điều kiện về kinh tế và cũng thiếu thời gian để chăm sóc NCT Do đó, họ cần đến một nơi có thể chăm sóc người cao tuổi thay thế các thành viên trong gia đình Đây hoàn toàn là mô hình tư nhân và hình thức tham gia tự nguyện Cá nhân NCT và gia đình phải chi trả toàn bộ chi phí trong quá trình sinh sống tại trung tâm, do đó, rất khó để có thể thu hút nhiều người cao tuổi bởi không phải người cao tuổi nào cũng
có đủ điều kiện kinh tế để chi trả cho các chi phí
Đối với khu vực nông thôn – nơi tập trung đa số NCT ở nước ta, đời sống NCT còn vô cùng khó khăn Thực tế cuộc sống các hộ gia đình thay đổi nhanh chóng từ gia đình nhiều thế hệ sang gia đình “ khuyết thế hệ” Lí do dẫn đến tình trạng trên là việc di cư của một bộ phận lớn người lao động trẻ và trung niên đi xuất khẩu lao động, lên các tỉnh, thành phố để mưu sinh Vì vậy, ngày càng có nhiều người cao tuổi ở nông thôn sống cô đơn, không được chăm sóc đầy đủ về y tế & đời sống Cuộc sống NCT neo đơn, cần hỗ trợ tại nông thôn hiện đang được phó mặc hoàn toàn cho gia đình & xã hội – các tổ chức từ thiện Một số mô hình chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng cũng đang được triển khai ở các khu vực nông thôn, song vẫn còn là những hoạt động nhỏ lẻ, chưa thực sự hiệu quả
Do vậy, đối với những khu vực nông thôn, việc chăm sóc đời sống và sức khỏe NCT luôn là những vấn đề không chỉ ở hiện tại, mà còn là của tương lai khi xu
Trang 13hướng dân số đang già hóa Đó thực sự là vấn đề xã hội của NCT và áp lực rất lớn đối với chính sách An sinh xã hội (ASXH) của Nhà nước.Việc chăm sóc NCT cần
có sự kết hợp giữa Nhà nước – Gia đình – Xã hội, trong đó Nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo
Hơn nữa, hệ thống dữ liệu thông tin người cao tuổi hiện tại, đa phần vẫn dựa trên việc quản lý thủ công hành chính Việc chưa có được một hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất mang tính đại diện quốc gia về NCT đang gây khó khăn không nhỏ cho việc khai thác, nghiên cứu chuyên sâu về NCT, cũng như đưa ra những chính sách can thiệp tốt nhất phục vụ nhu cầu NCT
Vì thế luận văn “Quy hoạch xây dựng hệ thống chăm sóc y tế & đời sống người cao tuổi các xã nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng ” là việc làm cần thiết trong lúc này
2 Mục đích của luận văn:
Nâng cao chất lượng sức khỏe và đời sống người cao tuổi ở các vùng nông thôn
3 Mục tiêu của luận văn:
- Đánh giá thực trạng người cao tuổi ở các xã nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH)
- Xác định cơ sở khoa học cho việc thành lập hệ thống chăm sóc y tế và đời sống (CSYT & ĐS) người cao tuổi khu vực nông thôn Đồng bằng sông Hồng
- Đề xuất các giải pháp then chốt để quy hoạch xây dựng hệ thống chăm sóc y tế
và đời sống người cao tuổi khu vực nông thôn ĐBSH
- Là tài liệu tham khảo về tổ chức, quản lý hệ thống chăm sóc y tế và đời sống người cao tuổi khu vực nông thôn ĐBSH nói riêng và các khu vực nông thôn ở Việt Nam nói chung
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn:
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát điều tra thực trạng đời sống NCT tại một số xã nông thôn ĐBSH : điều kiện nhà ở, tình trạng thu nhập, sức khỏe, sinh hoạt văn hóa, đời sống tâm lý, nguyện vọng…
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá: Tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến đề tài luận văn qua báo đài, internet để từ đó rút ra các đánh giá phục vụ cho
Trang 14hướng nghiên cứu và không để luận văn trùng lặp với các hướng nghiên cứu trước
đã đi
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, trao đổi, xin ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực lão khoa để đưa ra định hướng tốt nhất cho luận văn
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Đối tượng nghiên cứu : hệ thống chăm sóc y tế & đời sống người cao tuổi
Phạm vi nghiên cứu : các xã nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng
Trang 157 Cấu trúc của luận văn:
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHĂM SÓC Y TẾ & ĐỜI SỐNG NGƯỜI CAO
TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
1.1 Tình hình chăm sóc y tế & đời sống người cao tuổi trên thế giới
1.1.1 Tình hình chăm sóc y tế & đời sống NCT ở một số nước trên thế giới 1.1.1.1 Đức
Người cao tuổi tích cực và độc lập
Tại Đức khoảng một phần tư dân số trên 60 tuổi Vì tỷ lệ sinh thấp trong một thời gian dài và đồng thời tuổi thọ trung bình cũng tăng nên Đức là nước có tỷ lệ người cao tuổi đứng thứ ba thế giới sau Nhật Bản và Italia Hình thức sống và phong cách sống của họ cũng đã thay đổi nhiều và đa dạng hơn trong những thập niên qua Đa số NCT ngày nay sống độc lập Họ tích cực tham gia hoạt động xã hội, duy trì quan hệ với con cái và họ hàng và đa số vẫn đủ sức khỏe để tiếp tục một cuộc sống tự chủ và tự kiến tạo thời gian của mình Về tài chính cuộc sống của những người cao tuổi được bảo đảm một cách chu đáo Cuộc cải cách lương hưu năm 1957 đã dần dần tạo điều kiện cho người về hưu được hưởng sự phồn vinh Tuy chưa hoàn toàn loại bỏ được tình trạng nghèo khổ trong những người cao tuổi, nhưng nguy cơ nghèo hóa trong họ thấp hơn so với những người ở độ tuổi khác trong xã hội
Tuy hình thức sống tam đại đồng đường dưới một mái nhà rất hiếm khi xảy ra, nhưng giữa con cái trưởng thành và cha mẹ, giữa ông bà và cháu vẫn thường xuyên
có mối quan hệ tình cảm mạnh mẽ Một dự án mẫu của Chính phủ liên bang muốn tiếp tục tăng cường và củng cố sự gắn kết giữa các thế hệ Theo đó cho đến nay gần như mỗi một huyện và một thị trấn ở Đức đều xây dựng được một ngôi nhà có nhiều thế hệ Trên toàn liên bang có 15.000 người tích cực tham gia hoạt động trong
500 ngôi nhà được tài trợ xây dựng như vậy Những ngôi nhà đó là đầu mối, là mạng lưới và là trung tâm tư vấn các vấn đề gia đình, hỗ trợ sức khỏe, phòng tránh khủng hoảng gia đình và lập kế hoạch trợ giúp
Trên thế giới, Đức thuộc số những nước có hệ thống chăm sóc y tế tốt nhất
Trang 17Một mạng lưới bệnh viện, phòng khám bệnh và cơ sở y tế rộng khắp bảo đảm mọi người đều được chăm sóc y tế Với hơn bốn triệu nhân công, ngành y tế cũng là ngành tạo nhiều việc làm nhất nước Đức 10,4 % GDP được chi cho y tế, nhiều hơn 1,5 % so với mức trung bình của các nước OECD
Mô hình bảo hiểm chăm sóc dài hạn ở Đức
Mô hình bảo hiểm chăm sóc dài hạn ở Cộng hòa liên bang Đức được thành lập
vào năm 1995 và là trụ cột thứ 5 trong hệ thống bảo hiểm xã hội của Đức Đây là chính sách bảo hiểm bắt buộc đối với người lao động và bao trùm lên toàn bộ người dân – những người cần được trợ giúp như người cao tuổi, người khuyết tật
Theo Bộ Y tế liên bang năm 2013, 28,8% số người trong độ tuổi từ 80 cần đến trợ giúp từ loại hình dịch vụ này; 4,2% những người trong độ tuổi từ 60-80 có nguy
cơ cần đến trợ giúp này và con số này ở nhóm người dưới 60 tuổi là thấp nhất với 0,7% Như vậy, nhóm người cần nhận đươc sự trợ giúp này là nhóm người già trong
xã hội Theo số liệu thống kê, tính đến 2013 có hơn 2,55 triệu người ở Đức được bao phủ bởi quỹ bảo hiểm chăm sóc dài hạn Trong đó, khoảng 0,77 triệu trong số này sống tại các bệnh xá, nhà an dưỡng với 12.400 viện dưỡng lão và khoảng 661.000 nhân viên chăm sóc; khoảng 1,77 triệu còn lại được chăm sóc tại nhà bởi người thân, hàng xóm, tình nguyện viên hoặc các nhân viên chăm sóc (trong đó khoảng 576.000 người sử dụng dịch vụ chăm sóc tại nhà với khoảng 12.300 tổ chức dịch vụ chăm sóc tại nhà và 291.000 nhân viên chăm sóc)
Các mức độ chăm sóc:
Mức 0: Nếu người bệnh có chứng mất trí liên quan đến mất khả năng, khuyết tật
và các hoạt động hàng ngày của họ có một vài khó khăn ngay cả khi sự chăm sóc cơ bản và nhu cầu giúp đỡ tại nhà không đủ tiêu chuẩn ở mức I thì họ vẫn có thể nhận được sự chăm sóc
Mức I: Mức độ “cân nhắc” cần được chăm sóc (Considerable need of care):
Việc cân nhắc nhu cầu chăm sóc diễn ra khi người đó cần sự giúp đỡ ít nhất 1 giờ/ ngày với ít nhất 2 hoạt động từ 1 hoặc nhiều loại hoạt động (vệ sinh cá nhân, ăn uống hoặc đi lại) Người đó cũng cần được giúp đỡ trong một vài giờ/ tuần với việc nhà Họ cần trung bình 90 phút giúp đỡ hàng ngày cho hoạt động chăm sóc cơ bản
Trang 18và việc nhà Người chăm sóc của họ phải cần nhiều hơn 45 phút để thực hiện các nhu cầu trên
Mức II: Mức độ cần được chăm sóc (Severe need of care): Mức độ cần được
chăm sóc diễn ra khi người đó cần sự giúp đỡ ít nhất 3 lần/ ngày với những chăm sóc cơ bản (vệ sinh cá nhân, ăn uống và đi lại) Hơn nữa, họ cần một khoảng thời gian giúp đỡ/ tuần với việc nhà Họ cần trung bình ít nhất 3 giờ giúp đỡ hàng ngày của tuần cho chăm sóc cơ bản và việc nhà Người chăm sóc cần ít nhất 2 giờ cho các hoạt động chăm sóc cơ bản này
Mức III: Mức cần được chăm sóc cao nhất (Extreme need of care): Mức này
diễn ra khi người bệnh cần sự giúp đỡ suốt ngày đêm (hàng ngày) Họ cũng cần một vài thời gian giúp đỡ/ tuần cho việc nhà Họ cần trung bình ít nhất 5 giờ giúp đỡ hàng ngày cho các chăm sóc cơ bản (vệ sinh cá nhân, ăn uống và đi lại) và việc nhà Người chăm sóc cần ít nhất 4 giờ cho việc thực hiện các công việc này
Trường hợp đặc biệt (hardship cases): Họ cần ít nhất 6 giờ giúp đỡ hàng ngày,
tối thiểu 3 giờ ban đêm Nếu họ sống trong căn hộ cần chăm sóc toàn thời gian, thời gian để chăm sóc có thể phải phải cân nhắc đến vấn đề tài chính
Các hình thức chăm sóc :
Mô hình chăm sóc tại nhà: Phúc lợi của chăm sóc dài hạn được chấp nhận dựa
trên mức độ cần được chăm sóc của họ và xem xét việc chăm sóc tại nhà hay tại cơ
sở chăm sóc sức khỏe “Người cung cấp” chính của việc chăm sóc dài hạn luôn luôn
là gia đình họ Đây là những điều tốt bởi hầu hết những người cần được chăm sóc dài hạn muốn sống với gia đình họ và họ quen thuộc với những gì xung quanh Do
đó, chăm sóc tại nhà phải được ưu tiên hơn là chăm sóc tại các trung tâm Quy định pháp luật vì thế cũng tập trung vào việc hỗ trợ để cải thiện điều kiện cho việc chăm sóc tại nhà và chia sẻ gánh nặng với những người chăm sóc Lợi ích chăm sóc tại nhà được cân nhắc thông qua mức độ cần được chăm sóc Những người thuộc diện chăm sóc dài hạn có thể lựa chọn giữa việc nhận được gói chăm sóc bằng vật chất
và gói hỗ trợ bằng tiền Trong trường hợp không thể tiến hành chăm sóc tại nhà hoặc nếu cần đến các yếu tố bổ xung cho việc chăm sóc tại nhà, họ có thể nhận được những sự chăm sóc bán thời gian tại cơ sở chăm sóc sức khỏe trong khả năng
Trang 19cung cấp dịch vụ chăm sóc ban ngày và ban đêm Nếu điều đó không đủ để đảm bảo nhu cầu của họ, họ cũng có thể tham gia vào một điều kiện chăm sóc ngắn hạn Trong trường hợp đó, bảo hiểm chăm sóc dài hạn sẽ bảo đảm xác định chi phí của dịch vụ chăm sóc cơ bản, dịch vụ xã hội và trị liệu trong thời gian chăm sóc ban ngày và ban đêm
Chăm sóc tại cơ sở chăm sóc sức khỏe: Nếu người bệnh yêu cầu được chăm
sóc tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe, Bảo hiểm chăm sóc dài hạn sẽ chi trả cho khoản chi phí chăm sóc cơ bản, hỗ trợ xã hội và trị liệu theo như mức mà người bệnh cần được chăm sóc Mức chỉ trả này tăng dần theo cấp độ cần được chăm sóc của người bệnh Mức chi trả bảo hiểm chăm sóc dài hạn không thể vượt quá 75% chi phí phải trả cho các bệnh xá, viện dưỡng lão Ngoài ra, cũng giống như chăm sóc tại nhà, người được chăm sóc có trách nhiệm chi trả cho chi phí ăn ở của họ tại các cơ sở chăm sóc Nếu cá nhân người cao tuổi không thể chi trả các khoản này thì con cái họ được yêu cầu để chi trả Trong trường hợp con cái họ cũng không thể thanh toán khoản chi phí này thì Quỹ an sinh xã hội được yêu cầu chi trả cho các chi phí Mức chi phí mà người bệnh phải trả ít nhất 25% cho các chi phí ở bệnh xá
1.1.1.2 Australia
An sinh xã hội hào phóng
Hiện nay, tuổi thọ trung bình của người dân Australia là 82 tuổi, cao hơn 2 tuổi
so với mức trung bình của các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)
Trong chăm sóc sức khỏe, tất cả mọi người dân Australia đều được cấp một tấm thẻ, gọi là MEDICARE (trợ cấp y tế toàn dân bằng thuế) Thẻ này được cấp cho mỗi gia đình hoặc cho từng cá nhân riêng lẻ Khi bị bệnh chỉ cần đưa thẻ Medicare
là được bác sĩ gia đình khám bệnh miễn phí Những NCT nghỉ hưu hoặc có thu nhập thấp sẽ được cấp một thẻ mua thuốc giảm giá Với những món thuốc được trợ giá, người có thẻ giảm giá chỉ phải trả 5,90 AUD cho mỗi món thuốc, cho dù giá thực của nó có thể lên đến từ vài chục hay vài trăm AUD Số tiền chênh lệch sẽ được Chính phủ bồi hoàn cho tiệm thuốc sau Nếu phải nằm bệnh viện (công lập)
Trang 20thì tất cả mọi chi phí khám bệnh, xét nghiệm, điều trị… đều được miễn cho tất cả mọi người
Những người không kiếm được việc làm hay đang có việc làm mà bị nghỉ việc thì sẽ được lĩnh tiền phụ cấp an sinh (chừng 300 AUD mỗi tuần cho mỗi người lớn cùng gia đình) Tiền phụ cấp này sẽ bị cắt một khi đã tìm được việc làm, tuy nhiên, nếu chưa có việc làm thì vẫn được lĩnh tiếp cho đến tuổi về hưu (sẽ chuyển qua lĩnh tiền hưu, tiền hưu cao hơn tiền thất nghiệp) Những người bị bệnh kinh niên không
có khả năng làm việc hoặc đang đi làm mà bị bệnh phải nghỉ việc thì sẽ được phụ cấp tiền bệnh Tiền phụ cấp này cao hơn tiền thất nghiệp và được lĩnh suốt đời
Hệ thống hưu trí của Australia thuộc vào hạng tốt nhất thế giới Nếu đến tuổi già
mà không có quỹ hưu trí cao theo quy định thì được lĩnh tiền hưu trí của Bộ An sinh
xã hội (khoảng 350 AUD mỗi tuần cho một người) và nhiều khoản phụ cấp về điện, nước, phụ phí di chuyển Ngoài ra, còn có nhiều phụ cấp khác dành cho người khuyết tật, bệnh kinh niên, người già… Phụ cấp để chăm sóc người bệnh, người khuyết tật khá cao
1.1.1.3 Đan Mạch
Việc tổ chức chăm sóc người cao tuổi tại Đan Mạch đã được đơn giản hóa nhằm tránh sự hình thành của nhiều tổ chức cùng hoạt động trong một lĩnh vực và cho
phép gắn kết các hoạt động của các cơ quan có liên quan
Ngay từ năm 1992, các thành phố được chính phủ giao đảm nhận toàn bộ việc tổ chức chăm sóc người cao tuổi Hiện nay, chính phủ còn đang cân nhắc khả năng giao cho các thành phố toàn bộ nguồn tài chính và quyền quản lý hệ thống các cơ sở
y tế
Việc tổ chức như vậy cho phép đơn vị hành chính phi tập trung nhất (cấp thành phố) và gần gũi nhất với người cao tuổi đảm nhận toàn bộ các dịch vụ Người Đan Mạch tin rằng ông thị trưởng và ê-kíp xung quanh là những người biết rõ hơn cấp trên của họ về các vấn đề liên quan đến việc chăm sóc người già
Nguồn tài chính cũng do các thành phố đảm nhận nhờ vào nguồn thuế thu nhập
mà địa phương thu được Ngoài ra, các thành phố cũng nhận được tiền trợ cấp của
Trang 21chính phủ vì chính phủ đặt mục tiêu là xóa bỏ sự bất bình đẳng có thể có do nguồn thu từ thuế là khác nhau ở mỗi địa phương
Chính sách nhà đất hiệu quả
Kể từ năm 1987, Đan Mạch đã chấm dứt việc xây mới nhà dưỡng lão Khả năng tiếp đón của các nhà dưỡng lão thậm chí còn có xu hướng giảm đi Năm 1982, 16% người trên 75 tuổi sống ở các cơ sở chăm sóc, so với mức dưới 6% hiện nay Cùng với đó, chính phủ cho xây dựng những ngôi nhà mới dành riêng cho người cao tuổi
có nhu cầu về nhà ở đặc biệt - tạo điều kiện họ dễ dàng tiếp cận các dịch vụ đặc biệt Những ngôi nhà dạng này thường nằm ở các khu vực mà người ở có thể dễ dàng tiếp cận các dịch vụ tại nhà
Thêm vào đó, tất cả những ngôi nhà xây mới trong những năm gần đây đều phải đáp ứng tiêu chuẩn thuận tiện cho người khuyết tật đi lại - và đương nhiên, cũng sẽ
dễ dàng cho người cao tuổi Ngoài khả năng có thể dễ dàng di chuyển, tất cả các tòa nhà này đều phải có khả năng mở và đóng cửa thông qua hệ thống cảm ứng giống như hệ thống cửa sử dụng tại các điểm thu thuế cầu đường quốc lộ
Khi người cao tuổi gặp khó khăn trong sinh hoạt tại nhà, chính quyền thành phố phải cử người giúp sửa nhà miễn phí; còn trong trường hợp không sửa được theo yêu cầu, chính quyền phải đổi cho người cao tuổi một ngôi nhà phù hợp với diện tích tương ứng
Ngoài ra, còn có hình thức ở theo mô hình “chung sống” (cohousing), theo đó chính phủ cho xây những khu nhà ở mà ở đó, người ở - có thể là người cao tuổi hoặc không - có thể sống thoải mái và ít bị cô lập nhờ khả năng chia sẻ một số công việc, cùng tham gia các hoạt động chung và hưởng các dịch vụ tập thể như phòng giặt hoặc phòng giải trí chung Hiện có vài chục khu nhà theo mô hình này tại Đan Mạch Học tập theo Đan Mạch, hiện nay mô hình này đang được áp dụng tại Canada, Anh và một số nước OECD
Lấy người cao tuổi làm trung tâm
Luật pháp của Đan Mạch quy định các thành phố phải cung cấp dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ việc nhà cho những người cao tuổi có nhu cầu, cũng như hỗ trợ người
Trang 22cao tuổi trong việc giữ gìn sức khỏe thân thể và tinh thần Thể thức hỗ trợ như thế
nào lại do từng thành phố tự xác định
Lợi thế quan trọng của cấp thành phố là khả năng ra quyết định nhanh chóng:
Một nhân viên hỗ trợ người già chuyên nghiệp, sau khi thảo luận với những người liên quan, sẽ tổ chức các dịch vụ và thời gian biểu cho người cao tuổi Các dịch vụ
có thể bao gồm việc mang đồ ăn tới nhà, hỗ trợ tại đầu dây diện thoại, kiểm tra ban
đêm, thăm nơi ở, liệu pháp vận động, cắt tóc, bấm huyệt chân, giúp làm vườn…
Kể từ năm 2003, người cao tuổi có quyền tự do chọn dịch vụ hỗ trợ tại nhà Ngay
từ năm 1999, 13,4 % người già từ 65 - 79 tuổi và 50% người già trên 80 tuổi ở Đan Mạch đã được nhận hỗ trợ tại nhà Tất cả những người trên 75 tuổi, trừ khi họ phản đối, sẽ được một nhân viên tới thăm nhà 2 lần/năm, cho dù người đó còn đang khỏe mạnh Mục đích của việc thăm nom này, theo luật Đan Mạch, là “tạo cảm giác an toàn và thoải mái, cũng như cố vấn cho người cao tuổi về các hoạt động cũng như các dịch vụ tại nhà”
Bộ các vấn đề xã hội của Đan Mạch kết hợp với các cơ quan đại diện của các thành phố phát triển một hệ thống phân tích dịch vụ dành cho người cao tuổi Mục đích là đảm bảo rằng các dịch vụ trên toàn đất nước đều phải hiệu quả Đan Mạch
có riêng một hội đồng người cao tuổi và một cơ quan chuyên đón nhận những lời phàn nàn của người cao tuổi Hội đồng người cao tuổi đảm nhận việc cố vấn cho các thành phố về chính sách đối với người cao tuổi nói chung
Với sự hỗ trợ của nhà nước và chính quyền địa phương, nhiều nhóm nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá về hiệu quả của các hoạt động chăm sóc người cao tuổi Kết quả của các nghiên cứu được đưa ra trao đổi giữa những người có liên quan nhằm rút kinh nghiệm và học hỏi những cách làm hay
Về phần mình, các tổ chức phi chính phủ rất năng động trong việc theo dõi việc thực hiện và phát triển các dịch vụ cho người cao tuổi Rất nhiều người Đan Mạch tham gia các hoạt động này Nhà nước đã phối hợp với các tổ chức phi chính phủ soạn thảo một hiến chương về sự phối hợp giữa những người tình nguyện và chính quyền Chính phủ cũng cung cấp tài chính để đào tạo người tình nguyện hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi
Trang 23Nhiều ý kiến cho rằng, thành công của Đan Mạch trong sự nghiệp chăm sóc người cao tuổi một phần là kết quả của sự phối hợp hoạt động hiệu quả giữa các nhân viên chuyên nghiệp, những người tình nguyện và sự điều phối của chính quyền địa phương
1.1.2 Một số mô hình chăm sóc y tế & đời sống NCT trên thế giới
1.1.2.1 Các loại hình chăm sóc y tế & đời sống NCT trên thế giới
Trung tâm chăm sóc sức khỏe ban ngày cho NCT ( Adult day care )
Trung tâm chăm sóc sức khỏe ban ngày cung cấp dịch vụ cho NCT tạm rời mái
ấm gia đình trong vài giờ mỗi ngày để được chăm sóc, khích lệ về cả hai mặt tinh thần & xã hội, cũng như có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc vui chơi với những NCT khác Các dịch vụ chính bao gồm : theo dõi sức khỏe, cung cấp các bữa ăn, tư vấn dinh dưỡng, giải trí sinh hoạt, tư vấn xã hội, vật lý trị liệu, di chuyển…
Trung tâm cao niên – NCT tự chăm sóc ( Independent Living)
Trung tâm cao niên là cộng đồng sinh sống của NCT NCT sống độc lập trong những căn hộ tiện nghi và được thiết kế đặc biệt cho mình Họ được sống trong môi trường an toàn và có sự theo dõi 24/7, có hệ thống chuông gọi khẩn cấp trong mỗi căn hộ Trung tâm cũng cung cấp các bữa ăn trong ngày, dịch vụ giặt là, di chuyển…
Trung tâm cao niên phù hợp với những NCT còn khỏe mạnh, có thể tự chăm sóc bản thân và không cần đến các dịch vụ chăm sóc về y tế
NCT cần sự hỗ trợ ( Assisted Living)
Cộng đồng NCT cần sự hỗ trợ phục vụ cho NCT có yêu cầu trợ giúp một vài sinh hoạt hằng ngày như tắm giặt, mặc quần áo, dọn dẹp nhà cửa, ăn uống, di chuyển…NCT sống trong cộng đồng được theo dõi và phục vụ bất cứ khi nào cần
sự trợ giúp Cộng đồng không có các dịch vụ về chăm sóc y tế và chỉ liên hệ với dịch vụ y tế bên ngoài khi cần thiết
Viện dưỡng lão ( Nursing Home )
Viện dưỡng lão là nơi được xây dựng nhằm phục vụ cho việc điều dưỡng, khám chữa bệnh hay chăm sóc tập trung cho những người cao tuổi có hoàn cảnh về tuổi
Trang 24tác, sức khỏe, bệnh tật hay đau yếu Viện dưỡng lão chăm sóc đời sống & y tế cho NCT 24/24h
NCT sống trong những phòng riêng biệt hoặc phòng chung với NCT khác, được chăm sóc trong các sinh hoạt, được điều trị và theo dõi sức khỏe hằng ngày
Trung tâm chăm sóc NCT liên hoàn ( Continuing Care )
Trung tâm cung cấp chuỗi các dịch vụ chăm sóc NCT từ các mức độ đơn giản đến phức tạp nhất NCT sống trong trung tâm này, khi có những thay đổi trong yêu cầu về sinh hoạt hằng ngày, hay chăm sóc sức khỏe, có thể di chuyển đến những khu vực khác nhau trong trung tâm
Chăm sóc sức khỏe tại nhà ( Home Care )
Hỗ trợ NCT các sinh hoạt hằng ngày và chăm sóc sức khỏe của họ ngay tại nhà
1.1.2.2 Một vài ví dụ minh họa về các công trình chăm sóc y tế & đời sống NCT trên thế giới
a) Khu nhà ở kết hợp nông trại thẳng đứng dành cho NCT ở Singapore
( Xem hình 1.1 – Trang 70)
KTS thiết kế : Công ty kiến trúc Spark
Địa điểm : Singapore
Năm hoàn thành: dự án
Singapore cũng là một trong những nước đang phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số Năm 1970, chỉ 3,4% dân số có độ tuổi trên 65 Tỉ lệ này tăng lên thành 10% năm 2013 và 11,2% năm 2014 Người già ở Singapore thường sống cùng chồng (vợ) và con cái của họ Tuy nhiên, gần đây, do một số lý do, nhiều NCT ở Singapore phải đối mặt với việc sống một mình
Các khảo sát cho thấy, NCT ở Singapore cần phải tiếp tục kiếm tiền Một số nhận hỗ trợ từ con cái Tuy nhiên nguồn thu nhập của số đông NCT còn khá bấp bênh Ngày càng ít NCT nhận tiền từ con cái của họ, và số NCT tiếp tục làm việc để kiếm thêm thu nhập tăng lên Hơn ¼ số NCT ở Singapore phải không đủ thu nhập
để trang trải cuộc sống Những bệnh kinh niên cũng xuất hiện nhiều hơn ở NCT Trong đó phổ biến nhất ở những NCT trên 55 là huyết áp cao, mỡ máu, đái tháo đường, viêm khớp Đa số đều điều trị ngoại trú
Trang 2590% thực phẩm của Singapore đều được nhập khẩu Nền nông nghiệp nhỏ của Sing chỉ cung cấp trứng, cá, gia cầm, rau củ Singapore phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thực phẩm nhập khẩu
Xuất phát từ những thực trạng trên, ý tưởng về mẫu Nhà – Nông trại (Home – Farm Model) ra đời Mẫu nhà nông trại ứng dụng hệ thống Aquaponic ( kết hợp nuôi trồng thủy sản và thủy canh ) đơn giản, mô hình đã được ứng dụng thành công trước đó ở Singapore
Công việc của NCT ở đây bao gồm : trồng trọt, thu hoạch, đóng gói, bán hàng, vận chuyển, dọn dẹp NCT sẽ được sinh sống trong các căn hộ cùng những NCT khác, được trả lương, thanh toán các hóa đơn, phí chăm sóc sức khỏe, và những sản phẩm rau củ tươi miễn phí
Đây là một mô hình hay, giải quyết gánh nặng về kinh tế đối với NCT Mô hình tạo ra lợi ích về kinh tế, bài toán về lương thực và chất lượng, sức khỏe và đời sống NCT, sự phát triển bền vững
b) Viện dưỡng lão Caritas, Leoben, Austria ( Xem hình 1.2 – Trang 70)
KTS thiết kế : Dietger Wissounig
Địa điểm : Leoben, Austria
Diện tích : 3024 m2
Năm hoàn thành : 2014
Viện dưỡng lão Caritas được xây dựng trên một mảnh đất với cây xanh bao quanh, có sức chứa 49 thành viên, là viện dưỡng lão tư nhân, được làm chủ bởi Dörfler-Perz-Privatstiftung và nằm gần tu viện Goss
Tòa nhà 3 tầng với 1 tầng hầm có cấu trúc bê tông đặc và khung gỗ, phân chia rõ ràng thành các không gian chức năng khác nhau ở mỗi tầng
Tầng trệt gồm các không gian công cộng và bán công cộng : khu vực bếp và phục vụ, khu quản lý, kho, và các phòng, khu giặt là, trị liệu, phòng cầu nguyện, phòng hội chẩn Khu vực phục vụ cafe được bố trí gần với khu vực giếng trời có mái kính Các hệ thống cửa trượt mở rộng cho phép tích hợp các không gian khi có
sự kiện lớn hoặc lễ hội
Trang 26Tầng 1 thiết kế hai khu vực phòng dành cho bệnh nhân có chứng mất trí Mỗi khu vực có 12 giường, không gian ăn và hiên hóng mát liền kề Hiên phía Nam rộng hơn, thiết kế phục vụ cho các hoạt động vui chơi giải trí Những hành lang rộng kết nối các không gian mở là những đường dạo lý tưởng, phục vụ nhu cầu vận động của NCT
Tầng 2 có sức chứa 25 giường, một khu vực lớn rộng gần 150m2 dành cho ăn uống và các hoạt động giải trí, ở phía Nam của tòa nhà
Thiết kế rất được chú trọng về không gian, ánh sáng và các điểm nhìn ra bên ngoài công trình Rất ít không gian phải sử dụng ánh sáng nhân tạo vào ban ngày Mái kính ở khu thông tầng, các dãy hành lang mở mang lại ánh sáng tự nhiên cho công trình Những không gian được phân chia hợp lý Các không gian chức năng quan trọng được ưu tiên về điểm nhìn
Gỗ thông được sử dụng trên mặt đứng và sàn nhà, tạo cảm giác thân thiện và ấm
cúng cho người sử dụng Nội thất sử dụng nhiều vật liệu gỗ và các mảng màu sáng
c) Viện dưỡng lão tại chùa Ji xiang, tỉnh Fujian, Trung Quốc
( Xem hình 1.3 – Trang 70)
Người sáng lập : Ni cô Neng Qing
Địa điểm : Fujian, Trung Quốc
81 tuổi, trụ trì của chùa, đã đi qua nhiều ngôi làng và đưa những người già yếu không có ai chăm sóc về đây giúp đỡ Người già sinh sống ở đây tự chăm sóc và hỗ
Trang 27trợ lẫn nhau Hàng tháng, y tá và tình nguyện viên sẽ có những buổi thăm khám sức khỏe cho người già sống trong chùa
Bắt đầu vào 4 giờ sáng, tất cả thành viên trong chùa sẽ thức dậy để tụng kinh Phật Lễ tụng kinh kéo dài một giờ sau khi bữa ăn sáng được phục vụ Các hoạt động tương tự sẽ tiếp tục diễn ra trong suốt cả ngày: tụng kinh, ăn uống, nghỉ ngơi, cho đến khi tất cả mọi người ngủ ngay sau khi trời tối
Chính quyền địa phương hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất và cung cấp nguồn thuốc men cơ bản cho viện dưỡng lão Những người dân trong làng tự nguyện đóng góp thức ăn để duy trì hoạt động của viện
d) Viện dưỡng lão Pont-sur-Yonne, France
( Xem hình 1.4 – Trang 70)
KTS thiết kế : Dominique Coulon & các cộng sự
Địa điểm : 16 Le Ravillon, 89140 Pont-sur-Yonne, France
Diện tích : 5395 m2
Năm hoàn thành : 2014
Viện dưỡng lão trải dài sườn dốc của Pont sur Yonne, gồm 96 phòng.Các lối vào chính của công trình được bố trí xung quanh một sân trong, tất cả nhìn ra thung lũng Yonne
Các phía của công trình đều thiết kế có view nhìn đẹp Dãy phòng ở hướng ra phía sông Các không gian chính của khu vực sinh hoạt chung được bố trí đón ánh sáng từ phía Nam, với cửa sổ mở rộng nhìn ra sân vườn Hai sân trong mang đến chiều sâu cho khối công trình.Tất cả các đường giao thông đi lại đều đón được ánh sáng tự nhiên Những ghế băng dài được bố trí sinh động, khuyến khích nhu cầu giao tiếp của người cao tuổi Phòng ăn có hàng hiên trung tâm đối diện sảnh, mở ra
hướng Nam
Mỗi phòng ngủ rộng trung bình 20m2, được thiết kế tiện nghi Sự đa dạng của ba loại dãy phòng được xem xét cẩn thận về màu sắc và quỹ đạo mặt trời Thiết kế được nghiên cứu kỹ lưỡng về công năng, sử dụng ánh sáng tự nhiên và vật liệu tốt nhất, nhằm tạo ra không gian sống có lợi nhất cho người cao tuổi
e) Khu nhà ở cho người cao tuổi, Alcacer-do-sal, Bồ Đào Nha
Trang 28( Xem hình 1.5 – Trang 70)
KTS thiết kế : KTS.Aires Mateus và cộng sự
Địa điểm : Alcacer do Sal, Bồ Đào Nha
Diện tích : 1560 m2
Năm hoàn thành : 2010
Tại vùng Alcácer do Sal, Bồ Đào Nha,trong khu vực Alentejo, kiến trúc sư gốc Lisbon Aires Mateus và cộng sự đã tạo ra một tổ hợp những ngôi nhà - nơi cư trú cho các những người già thuộc Trung tâm y tế ở Santa Casa de la Misericordia, Bồ Đào Nha
Công trình có chức năng kết hợp giữa một khách sạn và một bệnh viện, giữa yếu
tố công cộng và tư nhân, giữa cộng đồng xã hội và tính riêng tư cá nhân Công trình trải dài theo sườn đồi, bám sát địa hình, có cấu trúc đan xen giữa một ô xây dựng và một ô để trống , do đó, mỗi phòng có thể mở ra một sân thượng riêng Vì thế, người
ở có thể vừa tiếp cận được với thiên nhiên – ánh sáng mặt trời tại phía Nam, song vẫn đảm bảo được sự riêng biệt
Cấu trúc đặc – rỗng – đặc tạo thành ngôn ngữ rất riêng biệt, ấn tượng và rõ ràng của công trình Công trình cao 3 tầng Tầng một của công trình dành cho việc bố trí các không gian tiếp nhận, phòng xã hội, nhà ăn, giải trí và phòng kỹ thuật như phòng giặt, là quần áo…Các tầng trên bố trí các phòng ngủ đơn hoặc đôi và một số không gian công cộng khác
Công trình được sơn phủ màu trắng, qua đó tạo cảm giác sáng sủa và nổi bật trên nền cảnh quan xung quanh Mái nhà phẳng để bố trí sân vườn Trong nội thất, sắc màu trắng vẫn chiếm vị trí chủ đạo với vật liệu nền và ốp tường bằng đá cẩm thạch trắng tạo cảm giác sạch sẽ như bệnh viện và sang trọng như căn hộ Nhà ở cho người cao tuổi ở Alcacer do Ssal là một trong năm dự án được lọt vào vòng chung kết giải thưởng của Liên minh châu Âu dành cho kiến trúc đương đại, giải thưởng Mies van der Rohe năm 2013
1.2 Tình hình chăm sóc y tế & đời sống NCT ở Việt Nam
1.2.1 Tổng quan chung về NCT ở Việt Nam
1.2.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học
Trang 29 Trong ba thập kỷ qua, dân số Việt Nam đã có những biến động mạnh mẽ về quy
mô và cơ cấu tuổi Tỷ lệ NCT ở Việt Nam tăng lên nhanh chóng Tuổi thọ trung bình của dân số là 72,8 tuổi vào năm 2009, tăng 4,6 tuổi và 8 tuổi so với năm 1999
và 1989 Tỷ lệ trẻ em (0-14 tuổi) ngày càng giảm; tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao
động (15-59) tăng lên; và tỷ lệ người cao tuổi (từ 60 trở lên) cũng tăng nhanh ( Xem hình 1.6 – Trang 71).Như vậy, dân số cao tuổi tăng nhanh nhất so với tất cả các
nhóm dân số khác trong giai đoạn này Đây chính là đặc điểm đầu tiên, nổi bật nhất
của quá trình già hóa dân số ở Việt Nam
Đặc điểm thứ hai của quá trình già hóa dân số ở Việt Nam là sẽ “già ở nhóm già
nhất”, nghĩa là tốc độ tăng và số lượng NCT ở độ tuổi cao nhất (từ 80 tuổi trở lên)
sẽ ngày càng lớn Số liệu từ bốn cuộc Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở giai đoạn 1979-2009 cho thấy tỷ lệ NCT ở nhóm tuổi thấp nhất (từ 60 đến 69) tăng chậm, trong khi tỷ lệ NCT ở nhóm cao tuổi trung bình (70-79) và già nhất (80+) có xu hướng tăng nhanh hơn So với các quốc gia khác trên thế giới, thậm chí với nhiều nước phát triển hoặc có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn, tốc độ già hóa dân số Việt Nam khá cao Cụ thể, số năm để tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên của Việt Nam tăng từ 7% lên 14% tổng dân số (hay thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn‘già hóa’ sang ‘già’) là ngắn hơn nhiều nước: Pháp mất 115 năm; Mỹ mất 69 năm,Nhật Bản và Trung Quốc mất 26 năm, trong khi Việt Nam chỉ mất 20 năm Với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội như hiện nay, đây thực sự là thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với một dân số ‘già hóa’ nhanh
Đặc điểm thứ ba là tỷ số giới tính nghiêng về nữ giới khi độ tuổi ngày càng cao
Do tỷ lệ phụ nữ trong dân số cao tuổi ngày càng tăng (còn gọi là xu hướng “nữ hóa” dân số cao tuổi)
Đặc điểm thứ tư là mức độ già hóa dân số ở các tỉnh và vùng có điều kiện và trình độ phát triển kinh tế, xã hội khác nhau là rất khác nhau ( Xem hình 1.7 – Trang 71).Với những tỉnh có tỷ lệ NCT trên 10% thì một trong những nguyên nhân quan
trọng là do mức di cư lớn của dân số trong độ tuổi lao động Ngược lại, với những tỉnh có tỷ lệ người cao tuổi nhỏ hơn 8% là do tỷ suất sinh còn cao Theo khu vực thành thị - nông thôn, số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình trong thập kỷ qua cho
Trang 30thấy phần lớn người cao tuổi vẫn sống ở nông thôn dù rằng quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng ở Việt Nam Xét theo vùng kinh tế - xã hội, NCT sống
nhiều nhất ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long - những vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu của cả nước
1.2.1.2 Đời sống gia đình, văn hóa và tinh thần của NCT
Phần lớn NCT Việt Nam đang sống với vợ/chồng, tiếp đó là góa vợ hoặc chồng, còn các tình trạng hôn nhân khác (như ly dị, ly thân, không kết hôn) chiếm tỷ lệ rất nhỏ Tuy nhiên, riêng nhóm NCT góa vợ/chồng lại có sự khác biệt lớn khi xét theo giới tính và độ tuổi: tỷ lệ phụ nữ góa chồng cao hơn tỷ lệ nam giới góa vợ và sự khác biệt càng lớn khi tuổi càng cao
Số liệu từ các cuộc điều tra giai đoạn 1993-2008 cũng chỉ ra xu hướng thay đổi,
đó là: tỷ lệ NCT sống với con cái vẫn cao nhưng có xu hướng giảm xuống (từ gần 80% vào năm 1992/93 xuống 62% vào năm 2008); tỷ lệ NCT sống cô đơn và tỷ lệ
hộ gia đình chỉ có hai vợ chồng NCT có tăng lên; tỷ lệ hộ gia đình “khuyết thế hệ”
dù chưa cao nhưng cũng đã tăng hơn hai lần, và đa số gia đình loại này ở nông thôn
( Xem bảng 1.1 – Trang 71).Đây có thể là hệ quả từ quá trình di cư nông thôn -
thành thị của nhóm dân số trong độ tuổi lao động Tỷ lệ NCT sống cô đơn tăng từ 3,47% năm 1992/93 lên 6,14% năm 2008 Phần lớn NCT sống cô đơn là ở nông thôn (khoảng 80%) và là phụ nữ (cũng khoảng 80%) Trong điều kiện ASXH còn yếu và tính dễ tổn thương với các cú sốc kinh tế và xã hội còn cao, tình trạng sắp xếp cuộc sống như vậy sẽ là thách thức lớn trong việc bảo đảm cuộc sống cho người cao tuổi Xét về mặt tinh thần, báo cáo nghiên cứu của Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam cho thấy tỷ lệ tham gia các câu lạc bộ của NCT còn thấp (chỉ khoảng 16%) mà phần lớn là do sức khỏe Tỷ lệ NCT tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng và nhận thức tốt các vấn đề kinh tế-xã hội khá cao (70%), nhưng có sự khác biệt lớn khi phân theo nhóm tuổi (nhóm trẻ tuổi hơn có khả năng tiếp cận và phân tích vấn đề tốt hơn), theo khu vực (nhóm sống ở thành thị thể hiện
sự vượt trội so với nhóm ở nông thôn)
1.2.1.3 Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe ( CSSK ) của NCT
Trang 31 Thứ nhất, phân theo lứa tuổi, đều cho thấy tình trạng sức khỏe của NCT phụ thuộc rất nhiều vào tuổi tác, trong đó tuổi càng tăng thì tỷ lệ người cao tuổi có sức
khỏe yếu càng cao, số bệnh mắc phải càng lớn và thời gian nằm bệnh càng dài ( Xem bảng 1.2 – Trang 72)
Thứ hai, thách thức lớn nhất đối với việc chăm sóc sức khỏe NCT hiện nay là
mô hình và nguyên nhân bệnh tật của người cao tuổi đang thay đổi nhanh chóng khiến cho gánh nặng “bệnh tật kép” ngày càng rõ ràng Một mặt, NCT đang phải chịu nhiều bệnh do lão hóa gây ra; mặt khác, NCT cũng phải chịu các bệnh phát sinh do thay đổi lối sống dưới tác động của biến đổi kinh tế-xã hội trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Do không khám bệnh thường xuyên và nhiều thói quen ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe (đặc biệt với nam giới cao tuổi như hút thuốc, uống rượu…) nên đối với NCT ở Việt Nam thì bệnh không lây nhiễm lại càng trở nên nghiêm trọng và việc điều trị, chữa trị rất tốn kém do bệnh thường chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn
Thứ ba, nguy cơ khuyết tật của NCT ở Việt Nam cũng rất cao, trong đó khuyết tật thường gặp là mất thị lực và thính lực Xét về chi phí khám chữa bệnh,
chi phí trung bình để chăm sóc sức khỏe cho một NCT bằng 7-8 lần chi phí trung bình chăm sóc sức khỏe cho một trẻ em Vì thế, nếu không khống chế và giảm bệnh tật và tàn tật của NCT thì gánh nặng lớn về nguồn lực chăm sóc sức khỏe cho NCT
là điều không tránh khỏi
Thứ tư, mức độ hiểu biết về chăm sóc sức khỏe và tự chăm sóc sức khỏe của NCT còn thấp dù phải đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe Phần lớn NCT không biết các biểu hiện của tăng huyết áp (66,5%), không biết nguy cơ nào gây ra tăng huyết áp (84,1%) hoặc cách phòng chống đau xương khớp (74,6%)
Thứ năm, khả năng và tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm NCT hết sức khác nhau và đây là một nguyên nhân khiến cho một bộ phận không nhỏ NCT không được điều trị, chăm sóc đầy đủ ngay cả khi phát hiện ra bệnh tật Nhóm NCT ở nông thôn,vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo – nhóm chiếm tỷ lệ cao trong dân số cao tuổi - lại rất khó khăn khi tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng nguyên
Trang 32nhân chủ yếu là do hệ thống y tế cơ sở còn yếu và thiếu thuốc men và trang thiết bị chữa bệnh cho NCT; phân bố trạm, trung tâm y tế không phù hợp, đặc biệt ở khu vực nông thôn và miền núi Chi tiêu y tế của hộ gia đình NCT chủ yếu là chi tiêu tiền túi và phần chi tiêu từ bảo hiểm xã hội chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ mức chi tiêu bình quân cho chăm sóc sức khỏe ở mọi nhóm dân số cao tuổi đều tăng mạnh Mặc dù chi tiêu trung bình của khu vực nông thôn thấp hơn nhiều lần chi tiêu trung bình của khu vực thành thị, nhưng tỷ lệ chi tiêu của hộ gia đình NCT ở nông thôn và thành thị lại không chênh lệch đáng kể nên gánh nặng chi tiêu y tế có xu hướng lệch về phía NCT ở nông thôn
Cuối cùng, mặc dù tỷ lệ NCT ngày càng tăng nhưng mạng lưới y tế phục vụ người cao tuổi ở Việt Nam còn rất yếu, trong đó số nhân viên y tế phục vụ tại cộng đồng còn thiếu và nghiệp vụ kỹ năng phát hiện, điều trị và chăm sóc người cao tuổi còn thấp Tốc độ cải thiện và xây dựng mới hệ thống chăm sóc sức khỏe NCT vẫn còn yếu: cả nước mới chỉ có 22 bệnh viện ở Trung ương và tỉnh đã thành lập Khoa Lão khoa với 1.049 cán bộ, y bác sỹ và 2.728 giường bệnh - những con số quá nhỏ
so với hàng triệu người cao tuổi có nhu cầu được chăm sóc
1.2.1.4 Hoạt động kinh tế, thu nhập và tình trạng nghèo của NCT
Theo thời gian, tỷ lệ NCT tham gia lao động nhìn chung có xu hướng giảm Đặc biệt, xét theo độ tuổi, tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của NCT ngày càng giảm khi tuổi tăng lên Phần lớn NCT tham gia sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp (trên 60%), tiếp đó là tự làm việc kinh doanh hoặc dịch vụ cho hộ gia đình Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của NCT ở nông thôn cao hơn nhiều so với NCT ở thành thị
Xét theo cơ cấu thu nhập hộ gia đình NCT, số liệu từ Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2008 cho thấy thu nhập sản xuất nông nghiệp và từ tiền công lao động là
thu nhập chủ yếu của hộ gia đình cao tuổi Tuy nhiên, những khoản thu nhập có tính
đảm bảo cuộc sống khi không còn đủ sức lao động như tiết kiệm, hưu trí và các khoản bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội khác lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu nhập của hộ gia đình cao tuổi Khi tuổi càng tăng lên thì nguồn thu nhập từ sản xuất, kinh doanh của NCT càng giảm do khả năng lao động ngày càng thấp Vì thế,
Trang 33nếu các nguồn thu nhập có tính dự phòng như hưu trí hoặc có tính chống và khắc phục rủi ro như trợ cấp xã hội… quá thấp sẽ khiến cho việc đảm bảo mức sống của
NCT trở nên càng khó khăn hơn ( Xem hình 1.8 – Trang 72)
Dân số Việt Nam đang bước vào ngưỡng dân số già hóa, trong khi thu nhập bình quân đầu người mới chỉ đạt ngưỡng mức trung bình thấp Nếu không có các chính sách khuyến khích NCT tham gia lao động để tạo thu nhập cũng như tạo việc làm
có thu nhập cao cho nhóm dân số trong tuổi lao động nhằm chuẩn bị cho cuộc sống
về già thì gánh nặng chi tiêu của chính phủ sẽ rất lớn khi hàng triệu NCT không có
thu nhập đảm bảo mức sống ( Xem bảng 1.3 – Trang 72)
1.2.2 Kết quả điều tra xã hội học tại một xã điển hình vùng nông thôn Đồng bằng sông Hồng
( Xem mẫu phiếu điều tra phần Phụ lục1 – Trang 62, xem hình 1.9 – Trang 73)
Kết quả điều tra xã hội học về người cao tuổi tại xã Thi Sơn – Hà Nam cho thấy :
- Đa phần người cao tuổi tại xã tham gia sản xuất nông nghiệp (84%), tiếp đó là công nhân (8%), công nhân viên chức (6%)
- Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và tiền công lao động là nguồn thu chủ yếu của
hộ gia đình NCT Mức thu nhập bình quân của NCT vẫn còn ở mức rất thấp :54% NCT có thu nhập từ 500 – 1 triệu VNĐ, 26% có thu nhập từ 1 triệu – 2 triệu VNĐ Một số NCT được hỗ trợ thêm từ con cái (30%)
- Về mặt chăm sóc sức khỏe, hơn 80% NCT đã có thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT), nhưng 100% NCT tại xã vẫn chưa có sổ theo dõi quản lý sức khỏe tại địa phương
- Kiến thức về CSSK và tự CSSK của người dân vẫn còn rất hạn chế Người già rất
ít khi tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại địa phương và thường có thói quen khi phát hiện ra bệnh, bệnh ở tình trạng nặng mới đi khám Đây cũng là lý do 62% NCT chọn đi khám ở bệnh viện tỉnh/huyện khi có bệnh Chỉ 18% NCT đến trạm y
tế xã để thăm khám
- Tỷ lệ NCT ở xã tham gia các Câu lạc bộ là rất thấp (66% NCT không tham gia)
Số còn lại có tham gia nhưng không thường xuyên
Trang 34- Khi khảo sát về nhu cầu được chăm sóc sức khỏe và đời sống, toàn bộ NCT đều mong muốn có một mô hình hữu hiệu tại địa phương, hoạt động hiệu quả trong việc chăm sóc sức khỏe NCT
1.3 Những vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu
Vấn đề già hóa dân số là vấn đề mà nhiều nước đang phải đối mặt, trong đó có Việt Nam.Với điều kiện phát triển Kinh tế - Xã hội như hiện nay, vấn đề già hóa dân số trầm trọng - đang là một thách thức lớn cho Việt Nam
Ở khu vực Đồng bằng sông Hồng, dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa nông thôn, cấu trúc gia đình “ khuyết thế hệ “ gia tăng, đối tượng chịu tác động nhiều nhất chính là NCT
Vùng nông thôn, nơi tập trung đa số NCT, vấn đề người già đang trở nên vô cùng cấp thiết Người già đa phần có thu nhập thấp, bấp bênh, và không có khả năng chi trả cho việc chăm sóc sức khỏe của bản thân Con cái đi làm xa, không có điều kiện chăm sóc bố mẹ, dẫn đến tình trạng nhiều NCT bệnh tật, ốm đau, cô đơn, không có ai chăm sóc
Cơ sở y tế ở nông thôn là trạm y tế xã, năng lực còn khá hạn chế Việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn khó khăn, thiếu cơ sở vật chất trong việc chăm sóc đời sống NCT
Theo kinh nghiệm của một số nước phát triển, nhà nước cần đứng ra nhận trách nhiệm chính trong việc chăm sóc sức khỏe & đời sống NCT, kết hợp với xã hội và gia đình NCT Với một nước còn nghèo và đang trong giai đoạn phát triển, Việt Nam cần phải nghiên cứu các giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế hiện tại
Cần sớm đề xuất quy hoạch xây dựng các công trình phục vụ chăm sóc đời sống NCT ở nông thôn – hình thành hệ thống nhà dưỡng lão ở các xã, nâng cấp và mở rộng hoạt động của trạm y tế xã
Trang 35CHƯƠNG 2
CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHĂM SÓC Y TẾ
& ĐỜI SỐNG NCT CÁC XÃ NÔNG THÔN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
2.1 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên vùng Đồng bằng sông Hồng
( Xem hình 2.1 – Trang 74)
Đồng bằng sông Hồng (hay châu thổ sông Hồng) là một vùng đất rộng lớn nằm
quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 11 tỉnh và thành phố như: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh Gần như đồng nghĩa với đồng bằng sông Hồng là vùng trung châu, khác với vùng chân núi trung
du và núi cao thượng du Không giống như vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng chỉ có 2 tỉnh Thái Bình và Hưng Yên là không có núi, do đó khu vực này thường được gọi là châu thổ sông Hồng Toàn
vùng có diện tích: 23.336 km², chiếm 7,1 % diện tích của cả nước
2.1.1 Vị trí địa lý
Đồng bằng sông Hồng trải rộng từ vĩ độ 21°34´B (huyện Lập Thạch) tới vùng
bãi bồi khoảng 19°5´B (huyện Kim Sơn), từ 105°17´Đ (huyện Ba Vì) đến 107°7´Đ (trên đảo Cát Bà) Phía bắc và đông bắc là Vùng Đông Bắc (Việt Nam), phía tây và tây nam là vùng Tây Bắc, phía đông là vịnh Bắc Bộ và phía nam vùng Bắc Trung
Bộ Đồng bằng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ các thềm phù sa cổ 10 - 15m xuống đến các bãi bồi 2 - 4m ở trung tâm rồi các bãi triều hàng ngày còn ngập
nước triều
Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) nằm ngay cạnh phía Nam của đường bắc
chí tuyến, giữa vĩ độ 22°00' và 21°30' Bắc và kinh độ 105°30' và 107°00' Đông Diện tích tự nhiên là 23.336 km2, dân số năm 2012 là 20,2 triệu người Diện tích của ĐBSH chiếm 7,1% diện tích đất của cả nước và dân số chiếm 22,7% dân số của
cả nước Mật độ dân số trên 1 km2 là 961 người, cao nhất so với các vùng khác trong cả nước và có thể là một trong những vùng nông thôn có mật độ dân số cao nhất thế giới (Mật độ bình quân của cả nước là 268 người/km2) Mật độ dân số của vùng ĐBSH cao gấp 3,58 lần so với cả nước và 1,57 lần so với vùng có mật độ dân
Trang 36số đứng thứ hai là Đông Nam Bộ Trong số 8 tỉnh, thành phố của cả nước có mật độ dân số trên 1.000 người/km2 thì riêng Vùng ĐBSH đã có 7 tỉnh, thành phố
Phía Bắc và Tây Bắc giáp trung du và miền núi, giàu tài nguyên khoáng sản và rừng, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ, có nguồn lợi hải sản phong phú và có khả năng
có dầu khí, phía Nam giáp Bắc Trung Bộ, giàu vật liệu xây dựng và kim loại quý Theo số liệu thống kê đến 2012, Vùng ĐBSH có 2 thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội và Hải Phòng); 09 thành phố trực thuộc tỉnh; 16 quận, 6 thị xã, 96 huyện;
364 phường; 122 thị trấn và 1.965 xã
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Địa hình:
- Địa hình tương đối bằng phẳng với hệ thống sông ngòi dày đặc đã tạo điều kiện
thuận lợi để phát triển hệ thống giao thông thuỷ bộ và cơ sở hạ tầng của vùng
- Hệ thống sông ngòi tương đối phát triển Tuy nhiên về mùa mưa lưu lượng dòng chảy quá lớn có thể gây ra lũ lụt, nhất là ở các vùng cửa sông khi nước lũ và triều lên gặp nhau gây ra hiện tượng dồn ứ nước trên sông Về mùa khô (tháng 10 đến tháng 4 năm sau), dòng nước trên sông chỉ còn 20-30% lượng nước cả năm gây ra hiện tượng thiếu nước Bởi vậy, để ổn định việc phát triển sản xuất, đặc biệt trong nông nghiệp thì phải xây dựng hệ thống thuỷ nông đảm bảo chủ động tưới tiêu và
phải xây dựng hệ thống đê điều chống lũ và ngăn mặn
Khí hậu:
- Khu vực Đồng bằng sông Hồng quanh năm có nhiệt độ tương đối cao và ẩm, nền khí hậu chịu ảnh hưởng từ lục địa Trung Hoa chuyển qua và mang tính chất khí hậu lục địa
- Toàn khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm quanh năm với 2 mùa rõ rệt hè, đông Đồng thời hàng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Nhiệt độ trung bình năm tăng dần từ phía Bắc xuống phía Nam và
có khí hậu giao hoà, là đặc trưng của khu vực đồng bằng sông Hồng Thời tiết mùa
hè từ tháng 4 đến tháng 10 nóng ẩm và mưa cho tới khi gió mùa nổi lên Mùa đông
từ tháng 11 tới tháng 3 trời lạnh, khô, có mưa phùn Nhiệt độ trung bình hàng năm
Trang 37khoảng 25độC, lượng mưa trung bình từ 1,700 đến 2,400mm Vào mùa Đông nhiệt
độ xuống thấp nhất trong các tháng mười hai và tháng giêng
2.2 Cơ sở dân số người cao tuổi khu vực Đồng bằng sông Hồng
- Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2011, tỷ lệ NCT cả nước đạt 10,5% Đối
với vùng Đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ NCT cũng đạt trên 10% ( Xem hình 2.2 – Trang 74)
- Căn cứ từ số liệu dân số các tỉnh Đồng bằng sông Hồng năm 2011 của Tổng cục thống kê, ước tính, dân số trung bình của một xã vùng nông thôn Đồng bằng sông
Hồng vào khoảng 7.100 người ( Xem bảng 2.1 – Trang 74) Như vậy, số người cao
tuổi tại một xã khu vực Đồng bằng sông Hồng sẽ vào khoảng : 7.100 x 10,5% = 745(NCT)
- Theo số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2008 của Tổng cục thống kê, 17% số NCT ở nông thôn rơi vào tình trạng nghèo đói Như vậy, tính trung bình, ít nhất 1 xã sẽ có : 745x17%= 127( NCT thuộc diện nghèo) Số NCT này gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, cũng như khi ốm đau bệnh tật
do không đủ khả năng tài chính để chi trả
- Theo giả định của tác giả, ít nhất 30% trong số NCT thuộc diện nghèo (tương đương khoảng 38 NCT/ xã) phải cần đến sự trợ giúp đặc biệt của Nhà nước trong
việc đảm bảo đời sống hằng ngày cũng như chăm sóc sức khỏe lâu dài ( Xem hình 2.3 – Trang 74)
2.3 Đặc điểm ngôi nhà truyền thống khu vực nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng
2.3.1 Đặc trưng kiến trúc truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng
( Xem hình 2.4, 2.5 – Trang 75)
- Sân trong nhà ở của người vùng đồng bằng : nhà luôn gắn với sân rộng, trước hết
để phơi thóc, ngô, nông sản- kết quả của lao động nông nghiệp, và phơi đồ đạc, quần áo trong khí hậu nóng ẩm, vừa không tốn năng lượng, vừa sạch sẽ vệ sinh Sân cũng là nơi chơi đùa của con trẻ, nơi đón láng giềng, ngồi tán chuyện, hóng mát, uống trà
Trang 38- Hiên rộng liền với sân – ngày nay kiến trúc gọi là không gian nửa kín/nửa hở - để kịp chuyển nhanh ngô thóc khi đột ngột có trận mưa giông nhiệt đới Hiên để treo lồng chim, giò hoa, đặt chậu cảnh, nối với giàn hoa, gắn với thiên nhiên, nên còn là một giải pháp vi khí hậu trong nhà
- Nhà hướng Nam “ trước cau sau chuối” Nhà hướng nam đúng cho cả vùng nhiệt đới, nhưng đúng nhất cho miền Bắc
- Vườn cây, ao cá, non bộ - một cảnh thanh tao trong xóm làng nông thôn.Một lối sống theo “ phương ngang” quen thuộc, nay bị bỏ quên trong lối sống hiện đại theo
“ phương đứng”
- Sân trong, giếng trời – hay gặp trong đình chùa, nhà chính, nhà phụ, nhằm tạo một không gian sáng sủa, có hoa lá, cây xanh trước khi bước vào một không gian mới
- Mái đua rộng, phên/rèm ( nâng hạ được) che bức xạ mặt trời, đỡ nóng, giảm lóa sáng, giảm tạt mưa của vùng nhiệt đới
- Đưa cây xanh ( dàn cây, chậu cây) vào sân, vào hiên, lên mái nhà và vào trong nhà Cây xanh trở thành một thành phần gần gũi, quen thuộc, thanh tao của không gian nội thất
2.3.2 Đặc trưng phong cách kiến trúc nhiệt đới
- Kiến trúc thoáng, nhẹ để đón gió tự nhiên, nhưng lại vững vàng với gió bão Kiến trúc có độ rỗng, có nhiều không gian hở, mở nhiều cửa, thích hợp để đưa thiên nhiên vào nhà
Trang 39- Kiến trúc có che nắng hiệu quả theo vị trí mặt trời Sáng tạo các cấu tạo che nắng bằng các vật liệu khác nhau, màu sắc khác nhau, hình dạng khác nhau nhưng đều cho hiệu quả như nhau
- Công trình kiến trúc không phơi nắng Nhìn vào các mặt chính công trình thấy có sáng, có tối, có màu trắng của vật liệu, có màu xanh của thực vật Đó là kiến trúc nhiệt đới
2.4 Đặc điểm tâm sinh lý người cao tuổi
2.4.1 Đặc điểm sinh lý
Quá trình lão hóa:
Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống Lão hóa có thể đến sớm hay muộn tùy thuộc vào cơ thể từng người Khi tuổi già các đáp ứng kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, tất nhiên sức khỏe về thể chất và tinh thần giảm sút
Về thể xác trong giai đoạn này cơ thể bắt đầu có những thay đổi theo chiều hướng
đi xuống
- Diện mạo thay đổi: Tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn Da trở nên khô và thô hơn Trên cơ thể, đầu và mặt xuất hiện mụn cơm nhiều hơn Ở tuổi già có những nếp nhăn là do lớp mỡ ở dưới lớp da mất đi cũng như do da không còn tính chất đàn hồi Các mạch máu mỏng vỡ ra, tạo thành các chất xanh đen nhỏ dưới da
- Bộ răng yếu làm cho người cao tuổi ngại dùng các thức ăn cứng, khô, dai dù thức
ăn này giàu vitamin, đạm và chất khoáng Người cao tuổi thường chọn các thức ăn mềm
- Các cơ quan cảm giác: Cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác bắt đầu hoạt động kém hiệu quả
- Các cơ quan nội tạng:
+ Tim là một cơ bắp có trình độ chuyên môn hoá cao cùng với tuổi tác cũng phải chịu những vấn đề tương tự như các cơ bắp khác của cơ thể Tim phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của hệ tuần hoàn, mà có thể là nguyên nhân phát sinh nhiều vấn
đề liên quan đến lão hoá
Trang 40+ Phổi của người già thường làm việc ít hiệu quả khi hít vào và lượng ôxy giảm Khả năng dự phòng của tim, phổi và các cơ quan khác cũng giảm sút Người già thích nghi với các điều kiện rét chậm hơn, dễ dàng bị cảm lạnh, nhiệt độ hạ thấp sẽ rủi ro nghiêm trọng cho sức khoẻ của họ Họ cũng phải chịu đựng những khó khăn tương tự trong trường hợp phải tiếp cận với nhiệt độ cao
Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi:
Người cao tuổi thường mắc các bệnh về:
- Các bệnh tim mạch và huyết áp: Cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, suy tim, loạn nhịp tim…
- Các bệnh về xương khớp: Thoái hóa khớp, loãng xương, bệnh gút…
- Các bệnh về hô hấp: Cảm sốt, viêm họng – mũi, cúm, viêm phế quản, viêm phổi, ung thư phổi…
- Các bệnh răng miệng: Khô miệng, sâu răng, bệnh nha chu…
- Các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: Rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng…
- Ngoài ra người cao tuổi còn hay mắc các bệnh về ung bướu, bệnh thần kinh và các bệnh về sức khỏe tâm thần…
2.4.2 Đặc điểm tâm lý
Trạng thái tâm lý và sức khỏe của người cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa - tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là:
Hướng về quá khứ
Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, người cao tuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu chiến binh
Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng
về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…
Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”