Đánh giá hiệu quả và đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại huyện thanh liêm tỉnh hà nam
Trang 1Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TrƯờng đại học nông nghiệp - hà nội
………
NGUYễN DANH NGọC
Đánh giá hiệu quả và đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam
Trang 2Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đ4 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đ4 đ−ợc chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Danh Ngọc
Trang 3Lời cảm ơn Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đ4 nhận
được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo Khoa Sau Đại học, Khoa Tài Nguyên và Môi Trường, trường Đại học Nông nghiệp - Hà Nội Luận văn được hoàn thành ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự
hướng dẫn của thầy giáo PGS TS Nguyễn Hữu Thành là người
hướng dẫn trực tiếp trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Huyện ủy,
Uỷ ban nhân dân ` huyện Thanh Liêm, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường, các Phòng ban và nhân dân các x4 của huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Tác giả luận văn
Nguyễn Danh Ngọc
Trang 4Mục lục
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ và các hình vii
Danh mục các từ viết tắt viii
1 Mở đầu…… 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích nghiên cứu: 2
1.2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 2
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Cở sở khoa học của đánh giá đất 3
2.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 5
2.2.1 Hiệu quả kinh tế 5
2.2.2 Hiệu quả x4 hội 6
2.2.3 Hiệu quả môi trường 7
2.3 Những nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam 7
2.3.1 Trên thế giới 7
2.3.2 ở Việt Nam 12
2.3.3 Những nghiên cứu quản lý sử dụng đất ở tỉnh Hà Nam và huyện Thanh Liêm 15
2.4 Đánh giá đất đai của FAO 16
2.4.1 Những nguyên tắc cơ bản trong đánh giá đất đai của FAO 16
2.4.2 Trình tự cơ bản về đánh giá đất đai 17
Trang 53 nội dung và phương pháp nghiên cứu 18
3.1 Nội dung nghiên cứu 18
3.1.1 Những khái niệm cơ bản dùng trong đánh giá đất đai của FAO 18
3.1.2 Quan điểm sử dụng đất bền vững trên cơ sở đánh giá đất của FAO 19
3.1.3 Điều tra, nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế x4 hội có liên quan đến sử dụng đất của huyện Thanh Liêm 22
3.1.4 Điều tra, nghiên cứu, đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2010 và biến động diện tích đất nông nghiệp của Huyện 23
3.1.5 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Thanh Liêm 23
3.1.6 Lựa chọn và đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có triển vọng cho sự phát triển bền vững ở huyện Thanh Liêm 23
3.2 Phương pháp nghiên cứu 23
3.2.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, tư liệu bản đồ 23
3.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 24
3.3.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất 24
3.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả x4 hội 25
3.3.3 Chỉ tiêu đánh giá tác động môi trường 25
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 26
4.1 Các yếu tố liên quan đến sử dụng đất huyện Thanh Liêm 26
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
4.1.2 Các yếu tố liên quan đến sử dụng đất ở huyện Thanh Liêm 36
4.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2010 và biến động diện tích đất nông nghiệp của huyện 49
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của huyện 49
4.2.2 Biến động diện tích đất nông nghiệp 51
4.3 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Thanh Liêm 54
4.3.1 Xác định các loại hình sử dụng đất chính 54
Trang 64.3.2 Mô tả các loại hình sử dụng đất 54
4.3.3 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất 62
4.3.4 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất 63
4.4 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất 74
4.4.1 Những căn cứ lựa chọn các loại hình sử dụng đất 74
4.4.2 Kết quả lựa chọn các loại hình sử dụng đất 74
4.5 Đề xuất các loại hình sử dụng đất có triển vọng 76
4.5.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất các loại hình sử dụng đất 76
4.5.2 Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất có triển vọng 76
4.6 Một số giải pháp chủ yếu mở rộng diện tích các loại hình sử dụng đất có triển vọng 79
4.6.1 Giải pháp chung 79
4.6.2 Những giải pháp cụ thể 81
5 Kết luận và kiến nghị 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Kiến nghị 83
Trang 7Danh mục bảng
Bảng 1 Tình hình khí hậu của huyện Thanh Liêm 29
Bảng 2 Dân số, lao động huyện Thanh Liêm giai đoạn 2008 – 2010 37
Bảng 3 Tình hình phát triển kinh tế giai đoạn 2008 – 2010 39
Bảng 4 Tình hình sản xuất một số cây trồng chính 3 năm (2008- 2010) 40
Bảng 5 Tình hình phát triển chăn nuôi 3 năm (2008 – 2010) 42
Bảng 6 Tình hình phát triển nuôi trồng thuỷ sản 3 năm (2008 - 2010) 43
Bảng 7 Hiện trạng sử dụng đất huyện Thanh Liêm năm 2010 50
Bảng 8 Tình hình biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2005 – 2010 52
Bảng 9 Hiện trạng các loại hình SD đất NN huyện Thanh Liêm 54
Bảng 10 Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 1 (tính cho 1 ha) 63
Bảng 11 Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 2 (Tính cho 1 ha) 64
Bảng 12 Các chỉ tiêu phân cấp đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất huyện Thanh Liêm 65
Bảng 13 Đánh giá hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 1 66
Bảng 14 Đánh giá hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 2 66
Bảng 15 Hiệu quả x4 hội của các loại hình sử dụng đất huyện Thanh Liêm 69
Hình 11 Sơ đồ đề xuất sử dụng đất huyện Thanh Liêm năm 2015Bảng 16 Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất đến năm 2015 huyện Thanh Liêm 77
Bảng 16 Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất đến năm 2015 huyện Thanh Liêm 78
Trang 8Danh mục các hình
Hình 1 Cơ cấu kinh tế của huyện Thanh Liêm năm 2010 39
Hình 2 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyên Thanh Liêm năm 2010……….55
Hình 3 Cánh đồng lúa vụ xuân trong LUT 2 lúa 56
Hình 4 Cánh đồng dưa chuột trong LUT 2L1M 57
Hình 5 Cánh đồng ngô trong LUT 1L2M 58
Hình 6 Cánh đồng đậu tươngtrong LUT chuyên màu 59
Hình 7 Cây nh4n 1 trong những cây ăn quả chính trong LUT cây ăn quả 60
Hình 8 Cánh đồng lúa trong LUT lúa – cá 61
Hình 9 Hiệu quả kinh tế các LUT - tiểu vùng 1 64
Hình 10 Hiệu quả kinh tế các LUT – tiểu vùng 2 65
Hình 11 Bản đồ đề xuất sử dụng đất huyện Thanh Liêm năm 2015………77
Trang 9Danh mục các chữ viết tắt
TVS Tổng chi phí biến đổi
1L2M 1 vụ lúa – 2 vụ màu
2LM 2 vụ lúa – 1 vụ màu
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Một vài thập kỷ gần đây, do dân số tăng nhanh đ4 thúc đẩy nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng, gây sức ép đối với đất đai đặc biệt là những diện tích đất có khả năng sản xuất nông nghiệp Việc sử dụng đất thiếu hiểu biết của con người, đồng thời với nhịp độ phát triển dân số và đô thị đ4 góp phần quan trọng trong việc làm thay đổi môi trường tự nhiên theo hướng bất lợi
Nhằm ngăn chặn những suy thoái về tài nguyên đất đai đồng thời cung cấp căn cứ khoa học cho việc sử dụng đất, quản lý đất hợp lý, bền vững cần thiết phải có hướng nghiên cứu đánh giá sử dụng đất thích hợp đối với điều kiện tự nhiên đất đai và điều kiện kinh tế - x4 hội của từng khu vực cũng như từng vùng cụ thể
Thanh Liêm là huyện bán sơn địa nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hà Nam
có diện tích tự nhiên 17.831,28 [25] ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 10.734,86 [25] ha, chiếm 60.20% diện tích đất tự nhiên của huyện Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp của Thanh Liêm đ4 có nhiều chuyển biến tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và áp dụng các hệ thống sản xuất rất đa dạng Bên cạnh những thành tựu đó, Thanh Liêm còn bộc lộ một số vấn đề, nhất là hiệu quả sử dụng đất chưa cao
Những kết quả điều tra, nghiên cứu về tài nguyên đất ở huyện Thanh Liêm từ trước đến nay chủ yếu tập trung nghiên cứu tài nguyên đất dưới góc
độ lớp phủ thổ nhưỡng bao gồm tính chất lý, hoá học của đất kết hợp với các yếu tố tự nhiên có liên quan (nước mặt, khí hậu) Những nghiên cứu chi tiết cụ thể, đặc biệt là phân tích, đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất hiện tại
để lựa chọn các loại hình sử dụng đất bền vững phù hợp với điều kiện kinh tế x4 hội của huyện hầu như chưa được đề cập tới
Xuất phát từ cơ sở thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiệu quả và đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”
Trang 111.2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá hiệu quả hiện trạng các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên dịa bàn huyên Thanh Liêm, tinh Hà Nam
- Đề xuất các loại hình sử dụng đất có hiệu quả về kinh tế bền vững môi trường
1.2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng của đề tài là các loại hình sử dụng đất nông nghiệp và các yếu tố kinh tế x4 hội có liên quan, tác động đến sử dụng đất nông nghiệp của huyện Thanh Liêm
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: đất sản xuất nông nghiệp của huyện Thanh Liêm
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần bổ sung phương pháp luận trong đánh giá đất, nghiên cứu sâu về khía cạnh các loại hình sử dụng đất
để từ đó rút ra kết luận khoa học về vấn đề sử dụng đất Giúp cho các cơ quan quản lý đất đai có những quyết định về sử dụng đất và bảo vệ đất đai theo quan điểm sử dụng đất bền vững
Trang 122 Tổng quan tài liệu
2.1 Cở sở khoa học của đánh giá đất
Trong nền kinh tế hiện nay, khi sản xuất nông nghiệp cần phải đáp ứng nhu cầu của thị trường và mục tiêu phát triển của x4 hội, đồng thời phải đảm bảo sự bền vững trong sản xuất và sử dụng tài nguyên tự nhiên;
Việc đánh giá tài nguyên đất đai một cách tổng hợp có tính đến các yếu
tố kinh tế - x4 hội là hết sức cần thiết để định hướng phát triển, là cơ sở chủ yếu cho các phương án quy hoạch và quản lý sử dụng đất đai Trong khuôn khổ của đề tài, phương pháp đánh giá đất theo FAO được vận dụng nhằm nghiên cứu khả năng sử dụng tài nguyên đất ở huyện Thanh Liêm
Một trong trong những nguyên tắc của đánh giá đất đai theo FAO là
đánh giá đất tập trung vào so sánh các loại hình sử dụng đất (LUT) khác nhau trong vùng nghiên cứu
Theo FAO, đánh giá đất là kết quả của việc cân nhắc đánh giá các tiềm năng đất đai cho một hay nhiều loại hình sử dụng đất Mỗi LUT phải được
đánh giá, lựa chọn trong mối quan hệ của 3 điều kiện tự nhiên, kinh tế, x4 hội trên cơ sở thích hợp, hiệu quả và bền vững [17] FAO đ4 chỉ ra rằng, một quốc gia hay một dân tộc sử dụng đất đai của họ như thế nào là tuỳ thuộc vào những nhân tố tổng hợp có quan hệ mật thiết với nhau, bao gồm các đặc tính của đất, các yếu tố tự nhiên, kinh tế, x4 hội, hành chính và những hạn chế về chính trị cũng như các nhu cầu mục tiêu của con người [8]
Theo Luật đất đai năm 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng
thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Luật đất đai 2003 (2003) Sự
phân chia cụ thể này sẽ giúp cho việc khai thác tiềm năng và nâng cao hiệu quả sử dụng của từng loại đất
Cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - x4 hội, công nghệ, khoa học
Trang 13và kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người Nhân loại đ4 có những bước tiến kỳ diệu làm thay
bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đ4 gây ra những hậu quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất… Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tán phá ở Châu Mỹ La Tinh và Châu á Cân bằng sinh thái bị phá vỡ, hàng triệu ha đất đai bị hoang mạc hoá (Trần An Phong và cộng sự (1996) Sự thoái hoá đất đai tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển.Theo kết quả điều tra của Liên Hợp Quốc ( UNDP ) và trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế (ISRIC), thế giới có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì đ4 có khoảng 2
tỷ ha đất bị hoang hoá ở các mức độ khác nhau trong đó Châu á và Châu Phi
là 1,2 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích bị thoái hoá Đỗ Nguyên Hải (1999) Theo Worlk Bank, hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có 6 - 7 triệu
ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất, bị xói mòn Trong 1200 triệu ha đất
bị thoái hoá có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý ( World Bank (1992)
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2008, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.115 nghìn ha, dân số là 86.210,6 nghìn người, mật độ dân
số 260 người/km2 Bình quân diện tích đất tự nhiên là 3.889 m2/người đứng thứ 9 trong khu vực Trong đó đất nông nghiệp chỉ có 24.997,2 nghìn ha, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 2.899,55 m2/người, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 156.681,9 tỷ đồng, trong đó trồng trọt là 122,37 tỷ đồng, chăn nuôi
đạt 30.938,6 tỷ đồng và nuôi trồng thủy sản là 3.367,6 tỷ đồng Trong trồng trọt, cây lương thực đạt giá trị sản xuất là 70.059,8 tỷ đồng; cây rau đậu đạt 10.560,4
tỷ đồng; cây công nghiệp là 31.015,4 tỷ đồng và cây ăn quả đạt 9.083,7 tỷ đồng Trong năm 2008, diện tích cây lương thực có hạt là 8.542 nghìn ha, cây công nghiệp hàng năm là 805,8 nghìn ha, cây công nghiệp lâu năm là 1.886,1 nghìn ha
Trang 14và cây ăn quả là 775,3 nghìn ha (Tổng cục Thống kê (2009)
Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nằm trong hệ thống sử dụng
đất, trước tiên phải dựa trên cơ sở lý thuyết về về đánh giá đất theo quan điểm của FAO và lý thuyết phân tích hệ thống nhằm xác định, lựa chọn các loại hình
sử dụng đất thích hợp với các yếu tố tự nhiên, kinh tế - x4 hội của địa phương
2.2 cơ sở lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ [23], hiệu quả chính là kết quả cũng như yêu cầu của việc làm mang lại
Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá trình sử dụng đất Kết quả ở đây được hiểu là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu
cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá kết quả sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất nông nghiệp Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất là nội dung
đánh giá hiệu quả
Ngày nay nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, tức là phải tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích x4 hội và phải bảo vệ được môi trường Điều đó có nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả x4 hội, hiệu quả môi trường [20]
2.2.1 Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác bản chất của hiệu quả kinh tế là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của x4 hội Trong đó quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, đồng thời nó quyết
Trang 15định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh x4 hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman), hiệu quả kinh tế
là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích
và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời
kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của x4 hội
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Vậy, bản chất của phạm trù kinh tế
sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao
động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của x4 hội Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hoá, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện bằng các hệ thống các chỉ tiêu
2.2.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả x4 hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt x4 hội và tổng chi phí bỏ ra [20] Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [21], hiệu quả
về mặt x4 hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Từ những quan điểm trên cho thấy hiệu quả x4 hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích x4 hội mang lại Việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả x4 hội gặp nhiều khó khăn
và chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm, định canh định cư, lành mạnh x4 hội
Trang 162.2.3 Hiệu quả môi trường
Đây là loại hiệu quả được các nhà môi trường học rất quan tâm trong
điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi các hoạt động của nó không có những ảnh hưởng tác động xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của
hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn
đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến [24] Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài tức là bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả x4 hội của một loại hình sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi trường càng được quan tâm
2.3 những nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Trên thế giới
Từ những thập niên 50 của thế kỷ này, việc đánh giá khả năng dụng đất
được xem như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm
đất Xuất phát từ những nỗ lực riêng lẻ của từng quốc gia, về sau phương pháp
đánh giá đất đai được nhiều nhà khoa học hàng đầu trên thế giới và các tổ chức quốc tế quan tâm, do vậy trở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng và đặc biệt gần gũi với những nhà quy hoạch, người hoạch định chính sách đất đai và người sử dụng
Tuỳ theo mục đích và điều kiện cụ thể, mỗi nước đ4 đề ra nội dung, phương pháp đánh giá đất phù hợp với các loại sử dụng đất của mình Nhưng
dù phương pháp nào thì cũng phải lấy đất đai làm nền và loại sử dụng đất cụ thể để đánh giá phân hạng làm cơ sở cho việc sử dụng đất có hiệu quả lâu dài
Trang 172.3.1.1 Liên Xô (cũ):
Phương pháp đánh giá đất của Liên Xô được thực hiện từ năm 1950 và
sau đó hoàn thiện vào năm 1986 Công tác đánh giá đất đai được tiến hành
trên toàn Liên bang và do Bộ nông nghiệp chủ trì nhằm tạo cơ sở cho việc xác
định hiệu quả kinh tế sử dụng đất đai, đánh giá và so sánh hoạt động kinh doanh của các xí nghiệp, dự kiến số lượng và giá thành sản phẩm và làm cơ sở trong thu mua và giao nộp nông sản phẩm…
Việc đánh giá đất đai được thực hiện theo hai hướng: đánh giá chung và
đánh giá riêng (theo hiệu quả từng loại cây trồng) theo năng suất - giá thành sản phẩm, mức hoàn vốn và địa tô cấp sai (phần l4i thuần tuý)
Cây trồng lấy làm gốc để đánh giá là cây ngũ cốc và cây họ đậu Đơn vị
đánh giá là các chủng đất đối với các loại sử dụng đất có tưới, đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất đồng cỏ cắt và đồng cỏ chăn thả…
Kết quả đánh giá đất của Liên Xô đ4 giúp cho việc thống kê tài nguyên
đất và hoạch định chiến lược sử dụng, quản lý nguồn tài nguyên đất trong phạm vi toàn Liên bang Xô Viết Tuy nhiên, đối với đất nông nghiệp thì phương pháp đánh giá này chưa đi sâu một cách cụ thể vào từng loại sử dụng
đất, mới chỉ tập trung chủ yếu vào đánh giá các yếu tố tự nhiên của đất đai và chưa đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế - x4 hội đến sử dụng đất [16]
2.3.1.2 Hoa Kỳ
Theo Davis K.P (Land use, 1976) [28], dựa trên mục tiêu hoặc tính chất
sử dụng đất được phân thành các nhóm dạng sử dụng Như: nhóm không thể chuyển hoá và nhóm có thể chuyển hoá; nhóm đô thị và nhóm phi đô thị
Đất nông nghiệp và lâm nghiệp thuộc nhóm phi đô thị và cũng thuộc nhóm có thể chuyển hoá Việc phân hạng trong nhóm này sẽ áp dụng một trong ba cách phân hạng:
- Phân hạng chỉ dựa trên các yếu tố tự nhiên của đất (địa chất - đá mẹ, dạng đất - địa mạo, thời tiết - khí hậu và thổ những )
- Phân hạng dựa trên kiểu sinh thái thảm thực vật
Trang 18- Phân hạng theo mục tiêu sử dụng đất (Classification based on land use) gồm đất nông nghiệp, đất xây dựng các công trình (engineering) đất rừng (dựa vào kiểu rừng hoặc năng suất lập địa), đồng cỏ, khu bảo tồn động vật hoang d4, khu giải trí…
Với đất nông nghiệp, phân hạng đất đai được ứng dụng rộng r4i theo hai phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp: Lấy năng xuất cây trồng trong nhiều năm là tiêu chuẩn và chú ý đi vào phân đất đai cho từng cây trồng (chọn cây lúa mì là
đối tượng chính);
- Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh
tế để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 hoặc 100% để làm mốc so sánh với các đất khác
Trên cơ sở đó Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ đ4 phân chia đất đai thành 8 cấp, trong đó 4 cấp đầu thích hợp trồng cây nông nghiệp (từ mức thích hợp cao đến thấp), 2 cấp theo ở mức thích hợp có điều kiện nhưng có thể sử dụng cho lâm nghiệp, 2 cấp còn lại không thích hợp ngay cả đối với lâm nghiệp Trong hệ thống này hiện tượng xói mòn được xét đến trước cả độ phì của đất Trong 4 cấp đầu dựa vào các hạn chế trong sử dụng người ta chia thêm các cấp phụ như bị xói mòn, thừa hoặc thiếu ẩm, bị nhiễm mặn…
Phương pháp đánh giá đất của Hoa Kỳ tuy không đi sâu vào từng loại
sử dụng đất cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế - x4 hội , song rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế bất lợi của đất và việc xác định các biện pháp bảo vệ đất [7]
2.3.1.3 ở Anh
ở Anh có hai phương pháp đánh giá đất:
- Đánh giá đất dựa hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên (độ phì tiềm tàng hay độ phì tự nhiên) Phương pháp này không chú ý đến sự tham gia của con người mà thực chất dựa vào độ phì tự nhiên
Trang 19- Đánh giá đất hoàn toàn dựa vào năng suất thực tế bằng việc thống kê nhiều năm ở trên đất tốt nhất hoặc trung bình so sánh với năng suất trên đất tiêu chuẩn Phương pháp này gặp nhiều khó khăn và không khách quan vì năng suất cây trồng phụ thuộc vào cây trồng được chọn và phụ thuộc vào khả
năng người sử dụng đất [15]
2.3.1.4 ấn Độ và các vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi
Thường áp dụng phương pháp tham biến, biểu thị mối quan hệ của các yếu tố tự nhiên và sức sản xuất dưới dạng phương trình toán học Kết quả phân hạng cũng được thể hiện dưới dạng phần trăm hoặc cho điểm Phương pháp này hoàn toàn không chú ý tác động của yếu tố kinh tế - x4 hội đến sử dụng
đất [15]
2.3.1.5 Bungari
Đánh giá đất ở Bungari do Viện Nông hoá Thổ nhưỡng Bungari chủ trì
Đánh giá đất được tiến hành theo từng loại cây trồng Đối với loại cây trồng, xác định các tính chất tự nhiên của đất, độ phì của đất, ảnh hưởng tới sự phát triển, sinh trưởng của các loại cây nông nghiệp Các loại cây trồng chính đều
được nghiên cứu xây dựng thành các thang điểm về đất như cây lúa mì, khoai tây Mỗi loại đất có một thang điểm riêng cho từng yếu tố có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng [15]
Phương pháp này có hạn chế là không chú ý đến hiệu quả kinh tế, tổng lợi nhuận, các vấn đề x4 hội, môi trường mà chỉ đánh giá hiện tại không đánh giá đất đai trong tương lai Mỗi loại cây trồng có một thang điểm khác nhau nên không thể chuyển đổi việc đánh giá đất giữa các vùng khác nhau
Nhìn chung các hệ thống đánh giá đất nói trên chỉ căn cứ vào yếu tố tự nhiên, chủ yếu là các thuộc tính của đất phù hợp cho việc áp dụng trong vùng nghiên cứu nhỏ Còn các nhân tố kinh tế - x4 hội rất ít hoặc chưa được quan tâm xem xét trong những vùng sản xuất nông nghiệp Điều này có thể đưa đến những sai lệch trong áp dụng các kết quả đánh giá vì chúng không phù hợp với điều kiện kinh tế - x4 hội của vùng nghiên cứu, do vậy mà không có tính thực tiễn cao (FAO, (1989) [34]
Trang 202.3.1.6 Một số nước Châu Âu
Từ những năm 1950, ở nhiều nước Châu Âu đ4 cố gắng phát triển các hệ thống đánh giá của họ, cuối cùng các nhà nghiên cứu thấy rằng cần có một nỗ lực quốc tế để đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hoá việc đánh giá đất đai
Do đó hai Uỷ ban nghiên cứu được thành lập ở Hà Lan và ở FAO (Rome, ý), kết quả là một dự thảo đầu tiên ra đời (FAO, 1952) sau đó được Brinkman và Smyth biên soạn lại và in ấn năm 1953 Năm 1955, tại hội nghị ở Rom, những
ý kiến đóng góp của bản Dự thảo 1953 đ4 được các chuyên gia hàng đầu về
đánh giá đất của FAO (K.J Beek, J.Bennema, P.J Mabiler, G.A Smyth…) biên soạn lại để hình thành nội dung phương pháp đầu tiên của FAO về đánh giá đất đai (A Framework for land Evaluation) công bố năm 1956, sau đó
được chỉnh sửa năm 1983 (theo Dent và Young, 1981) [29]
Bên cạnh những tài liệu tổng quát, một số hướng dẫn cụ thể khác nhau về
đánh giá đất đai cho từng đối tượng chuyên biệt cũng được FAO ấn hành như:
- Đánh giá đất cho nền nông nghiệp nhờ nước trời;
- Đánh giá đất cho nông nghiệp được tưới;
- Đánh giá đất cho đồng cỏ quảng canh;
- Đánh giá đất vì sự nghiệp phát triển;
- Đánh giá đất và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất Trong các tài liệu trên FAO đề xuất một phương pháp nghiên cứu đánh giá đất đai và sử dụng đất trong mối liên quan với môi trường tự nhiên, kinh tế
- x4 hội, có tính đến hiệu quả kinh tế, hiệu quả x4 hội và hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất
Theo FAO, đánh giá đất đai là kết quả của việc cân nhắc đánh giá các tiềm năng đất đai cho một hay nhiều loại hình sử dụng đất Chính vì vậy, đánh giá đất yêu cầu thu thập thông tin từ nhiều phương diện bao gồm thổ nhưỡng,
địa hình, địa mạo, các điều kiện địa chất, khí hậu, thuỷ văn, lớp phủ thực vật
và cả các điều kiện kinh tế x4 hội có liên quan đến sử dụng đất
Trang 212.3.2 ở Việt Nam
Ngay từ xa xưa trong quá trình sử dụng đất vào mục đích sản xuất, người nông dân đ4 biết lựa chọn, phân loại đất và đánh giá đất bằng những kinh nghiệm thực tiễn đơn giản Vào thời kỳ Gia long (1802), nhà Nguyễn đ4 phân chia ruộng đất thành "tứ hạng điền, lục hạng thổ" nhằm phục vụ chính sách quản điền và tô thuế [10] Tuy nhiên, những nghiên cứu một cách tương
đối chỉ mới bắt đầu vào thời kỳ Pháp thuộc để phục vụ công cuộc khai thác tài nguyên tại thuộc địa Trên toàn l4nh thổ Đông Dương, một số nghiên cứu tổng quát về đất đ4 được Viện nghiên cứu Nông - Lâm nghiệp Đông Dương thực hiện nhằm thiết lập các đồn điền trồng cây ngắn ngày và dài ngày Ngoài ra, một số cơ quan khác của Pháp như Nha Canh Nông và Thương mại Đông Dương (1898), phòng Phân tích hoá học nông nghiệp và kỹ nghệ Sài Gòn,… cũng tiến hành các cuộc điều tra và khảo sát về đất trên l4nh thổ của Việt Nam Năm 1890, nhóm khảo sát Pavie đ4 công bố tài liệu đầu tiên về đất của Việt Nam và Đông Dương dựa vào kết quả cuộc khảo sát quy mô ở các khu vực Trung Lào - Trung Bộ và Đông Nam Bộ của Việt Nam Sau đó, hàng loạt các công trình khác được công bố của J.Lan, F.R.Roule, R.Dumont, P.Gourou, Y.Henry,… đ4 đóng góp nền tảng đầu tiên về nghiên cứu đất ở Việt Nam (dẫn theo Nguyễn Văn Nhân [11])
Công tác đánh giá đất ở Việt Nam thực sự được bắt đầu ở những năm
đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX, một số công trình sau đây đ4 đặt nền tảng cho cho việc nghiên cứu về đánh giá đất đai ở Việt Nam:
- Đánh giá phân hạng toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và các cộng sự, 1986) [5], thực hiện năm 1984 ở tỷ lệ bản đồ 1/500.000, chủ yếu dựa vào nguyên tắc phân loại khả năng đất đai (Land cappability classification) của Bộ Nông nghiệp hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng là là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình, được phân cấp nhằm mục đích sử dụng đất đai tổng hợp, bao gồm 5 nhóm đất đai được phân lập, trong đó: 4 nhóm đầu cho sản xuất nông nghiệp, 2 nhóm kế tiếp có có khả năng lâm nghiệp và 3 nhóm cuối cùng có thể sử dụng cho mục đích khác
Trang 22- Trong nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất khai hoang ở Việt Nam (Bùi Quang Toản và nhóm nghiên cứu , 1985) [18], phân loại khả năng đất đai của FAO được áp dụng, tuy nhiên chỉ đánh giá các điều kiện tự nhiên (đặc điểm thổ nhưỡng, điều kiện thuỷ văn và tưới tiêu, khí hậu nông nghiệp) Trong nghiên cứu này, hệ thống phân vị chỉ dừng lại ở mức phân lớp (class) thích nghi cho từng loại hình sử dụng đất
- ở Đồng bằng sông Cửu Long, một nghiên cứu nhằm đánh giá tổng quát khả năng sử dụng đất của vùng này được thực hiện trong khuôn khổ dự
án quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Văn Nhân và n.n.k, 1993), tuy nhiên chỉ đánh giá các điều kiện tự nhiên liên quan đến các mục tiêu sử dụng đất Bên cạnh đó, một nghiên cứu về chuyên đề về sử dụng
đất phèn và mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long trong khuôn khổ dự án nói trên (VIE 85/031) đ4 ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượng của FAO (1983), nhằm chỉ ra các khả năng thích nghi về sử dụng đất của các loại đất có vấn đề ở Đồng bằng sông Cửu Long Đây là những thử nghiệm đầu tiên ở Việt Nam, bước đầu ứng dụng các phương pháp đánh giá đất đai định lượng gắn với yếu tố kinh tế sử dụng đất, qua đó đánh giá khả năng đất đai không những
ở phạm trù tự nhiên mà còn xem xét đất đai ở khía cạnh kinh tế - x4 hội
Từ năm 1992, đánh giá đất đai theo phương pháp của FAO đ4 được nhiều cơ quan đề xuất như: Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, Tổng cục Quản lý ruộng đất, các Trường Đại học, các cơ quan quản lý đất đai và nông lâm nghiệp địa phương…
Năm 1993, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đ4 vận dụng phương pháp của FAO nghiên cứu các hệ thống sử dụng đất của 9 vùng sinh thái nông nghiệp trên bản đồ tỷ lệ từ 1/250.000 đến 1/50.000 Trên bản đồ
đánh giá đất toàn quốc đ4 xác định được 90 loại hình sử dụng đất chính, trong
đó có 28 loại hình sử dụng đất được lựa chọn [12]
Vùng đồi núi Tây Bắc và trung du phía Bắc có các công trình của Lê Duy Thước (1992) Lê Văn Khoa (1993), Lê Thái Bạt (1995) [1]
Trang 23Vùng đồng bằng sông Hồng có những công trình nghiên cứu ứng dụng
đánh giá đất của FAO, của các tác giả: Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (2005) Cao Liêm Vũ Thị Bình, Quyền Đình Hà (1992,1993), Phạm Văn Lăng (1992) Vùng Tây Nguyên có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyên (1995) [8] Vùng Duyên Hải Nam Trung bộ có công trình nghiên cứu của Lê Quang Chút, Nguyễn Đỉnh, Nguyễn Tuấn Anh với dự án "Đánh giá hiện trạng
sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vừng vùng Duyên Hải Trung bộ" Trong hai năm 1993 - 1994 Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình cùng các cộng sự [16] vận dụng Phương pháp đánh giá đất của FAO, từ năm 1992 -
1995 thực hiện đề tài cấp Nhà nước KN 03 - 01" Đánh giá tiềm năng sản xuất
đất lâm nghiệp" trong chương trình cấp Nhà nước KB - 0 "Khôi phục rừng và phát triển lâm nghiệp" Kết quả xác định đất vùng Duyên Hải Nam Trung bộ
có 181 đơn vị đất đai Các tác giả cũng khẳng định đất vùng Duyên Hải Nam trung bộ đa dạng, có độ phì không cao, tầng đất mỏng chiếm diện tích lớn, độ dốc trung bình có thể kinh doanh lâm nghiệp phù hợp
Trong 3 năm (1992 - 1994) thực hiện Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KT 02 “Bảo vệ môi trường”, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp [14] đ4 tiến hành đánh giá hiện trạng sử dụng đất ở nước ta theo quan
điểm sinh thái và phát triển lâu bền Kết quả đ4 xác định được 4 loại hình sử dụng đất bền vững về kinh tế - x4 hội và môi trường (loại sử dụng đất trồng lúa 2-3 vụ, lúa - màu, đất trồng cây lâu năm và đất rừng), 1 loại sử dụng đất không bền vững về kinh tế (trồng lúa một vụ: lúa chiêm hoặc lúa mùa), loại cây trồng cạn ngắn ngày không bền vững về môi trường và loại hình sử dụng
đất trống đồi núi trọc không bền vững về kinh tế và môi trường
Từ những năm 1996 đến nay, nhiều chương trình đánh giá đất cho những vùng sinh thái khác nhau, từ tỉnh đến các huyện trọng điểm đ4 được thực hiện Đó là công trình do Vũ Cao Thái, Phạm Quang Khánh, Nguyễn Văn Khiêm chủ trì đ4 xác định toàn tỉnh Đồng Nai có 15 đơn vị đất đai trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000 với 92 hệ thống đất chính là 165 hệ thống sử dụng đất
Trang 24chi tiết [9] Công trình "Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất chính ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng” do Lê Thái Bạt, Nguyễn Thị Dần, Luyện Hữu Cử, Phan Quốc Hưng [2] thực hiện năm 2003 Kết quả đ4 xác định được huyện Trùng Khánh có 5 loại hình sử dụng đất chính, trong đó loại hình cây lâu năm cho hiệu quả kinh tế cao nhất (thu nhập thuần đạt trên 10 triệu đồng/ha/năm), loại hình lúa - màu có hiệu quả kinh tế thấp nhất (chỉ đạt 3,23 triệu đồng/năm/ha) Ngoài ra còn nhiều công trình
đánh giá đất theo phương pháp phân hạng thích hợp cho các dự án trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả … ở nhiều địa phương khác như của Đỗ Nguyên Hải, Đoàn Công Quỳ (2000), Thái Phiên (2003)
2.3.3 Những nghiên cứu quản lý sử dụng đất ở tỉnh Hà Nam và huyện Thanh Liêm
Năm 1960, Vụ Quản lý ruộng đất đ4 điều tra khảo sát đất đai lập bản đồ
đất huyện Thanh Liêm tỷ lệ 1/25.000 và tổng hợp lên bản đồ đất tỉnh Hà Nam
tỷ lệ 1/50.000 Đây là tài liệu điều tra cơ bản rất quan trọng phục vụ cho nhiều ngành và nhiều đối tượng: quy hoạch, phân hạng, nông nghiệp, lâm nghiệp… Năm 2010, trong khuôn khổ của đề tài “Điều tra, đánh giá quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Hà Nam đến năm 2015”, ngoài xây dựng bản đồ
đất cho các huyện, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa cũng đ4 tiến hành đánh giá đất
đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2015 Trên cơ sở
đánh giá đất đai đ4 chọn lựa được 36 kiểu thích nghi đất đai cho 7 loại hình sử dụng đất, phù hợp với thực tiễn sản xuất của địa phương
Năm 2000 - 2010, chương trình "Điều tra đánh giá thích nghi đất lúa
phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng Đồng bằng sông Hồng" đ4 chọn Hà
Nam là một trong 3 tỉnh điểm để nghiên cứu Kết quả đánh giá thích nghi đất lúa ở Hà Nam trong năm 2010 cũng đ4 đề xuất được diện tích đất lúa ổn định
và diện tích đất lúa cần nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng đến cấp huyện Trong tổng số 7635.88 ha đất canh tác lúa thì diện tích lúa canh tác ổn
định của Thanh Liêm là 6920.17 ha và diện tích đất lúa cần chuyển đổi cơ cấu
cây trồng là 751.51 ha [25]
Trang 25- Năm 2010, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đ4 tiến hành “Điều tra bổ sung xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 huyện Thanh Liêm” Trong đó đ4 xác định được huyện Thanh Liêm có 7 nhóm đất và 11 loại đất chính
2.4 đánh giá đất đai của FAO
2.4.1 Những nguyên tắc cơ bản trong đánh giá đất đai của FAO
Phương pháp đánh giá đất của FAO đề ra 6 nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá đất đai là:
- Các loại hình sử dụng đất được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát triển của vùng hay của quốc gia, cũng như phải phù hợp với bối cảnh và
đặc điểm về tự nhiên/ kinh tế - x4 hội của khu vực nghiên cứu
- Các loại sử dụng đất cần được mô tả và định rõ các thuộc tính về kỹ thuật và kinh tế - x4 hội
- Việc đánh giá đất đai bao gồm sự so sánh của hai hay nhiều loại hình
sử dụng đất
- Khả năng thích nghi đất đai cần đặt trên cơ sở sử dụng đất bền vững
- Đánh giá khả năng thích nghi đất đai bao gồm cả sự so sánh về năng suất (lợi ích) thu được và đầu tư (chi phi) cần thiết của loại sử dụng đất
- Đánh giá đất đai đòi hỏi một phương pháp tổng hợp đa ngành
Với 6 nguyên tắc cơ bản nêu trên, đánh giá đất đai sẽ cung cấp cho việc quy hoạch sử dụng đất những phương án về sử dụng tài nguyên đất đai,
và trong mỗi phương án là những thông tin về năng suất - mức đầu tư (chi phí, lợi nhuận)- cách quản trị đất đai - nhu cầu về cải thiện cơ sở hạ tầng - và ảnh hưởng của sử dụng đất đối với môi trường (trong và ngoài nơi nghiên cứu) Nguyên tắc đánh giá đất theo FAO là đánh giá đất phải gắn với loại sử dụng
đất xác định, có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết Đánh giá đất liên quan chặt chẽ với các yếu tố môi trường tự nhiên của đất với các
điều kiện kinh tế - x4 hội [17]
Trang 262.4.2 Trình tự cơ bản về đánh giá đất đai
Các bước thực hiện của đánh giá đất đai tuỳ thuộc vào mục tiêu và mức độ chi tiết của Dự án nghiên cứu Tuy nhiên, theo tài liệu “Đánh giá đất vì sự phát triển”, FAO đ4 đề ra các bước chính trong đánh giá đất như sơ đồ sau [17]:
Sơ đồ 1 Các bước chính trong đánh giá đất
(Theo tài liệu Đánh giá đất vì sự nghiệp phát triển của FAO)
Phương pháp đánh giá đất của FAO chính là đánh giá độ thích hợp đất
đai Thực chất của phương pháp là dựa trên sự so sánh, đối chiếu mức độ thích hợp giữa yêu cầu của một loại hình sử dụng đất nào đó hay một cây trồng nhất
định với đặc tính vốn có của đơn vị bản đồ đất đai, gắn với việc phân tích các khía cạnh kinh tế, x4 hội và môi trường có liên quan đến hiệu quả sử dụng đất
để lựa chọn phương án sử dụng đất tốt nhất Vì vậy, đánh giá hiện trạng kinh tế
- x4 hội và môi trường là một trong các bước chính của đánh giá đất theo FAO Như vậy, phương pháp đánh giá đất thích hợp của FAO đ4 đề cập đến các chỉ tiêu các chỉ tiêu kinh tế, x4 hội và môi trường có liên quan đến khả năng sử dụng đất và khả năng sinh lợi nhuận của chúng Đây là những thông tin rất có ý nghĩa đối với việc xác định và lập kế hoạch sử dụng đất
khả
năng thích hợp
6 Xác
định hiện trạng kinh tế
- x4 hội và môi trường
7 Xác
định loại hình
SD đất thích hợp nhất
8 Quy hoạch
sử dụng
đất
9
áp dụng của việc
đánh giá
Trang 273 nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Những khái niệm cơ bản dùng trong đánh giá đất đai của FAO
Trong những nghiên cứu và hướng dẫn của FAO về đánh giá đất đai, một số khái niệm cơ bản sau đây được sử dụng:
Đất đai (Land): Đất đai được xem xét bao gồm nhiều yếu tố của môi trường tự nhiên ở một khu vực địa lý có ảnh hưởng đến việc sử dụng đất (như lớp phủ thổ nhưỡng, địa mạo, thuỷ văn nước mặt, khí hậu, ) Đất đai được mô tả theo chất lượng hiện tại của nó, bao gồm những tính chất có thể quan sát hay đo lường được Đất đai thường được mô tả dưới khái niệm “Đơn vị bản đồ
đất đai” (Land Mapping Unit- LMU), đây là một vùng đất đai với các tính chất riêng được khoanh định trên bản đồ
- Đánh giá đất đai: Theo FAO “Đánh giá đất đai là quá trình so sánh,
đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất cần đánh giá với những tính chất
đất đai mà loại sử dụng đất yêu cầu phải có” [32] Như vậy, đánh giá đất đai (Land Evaluation - LE) là quá trình thu thập thông tin, xem xét toàn diện trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, điều kiện tự nhiên, kinh
tế, x4 hội và môi trường
- Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT): LUT là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế - x4 hội và kỹ thuật được xác định Những loại hình của sử dụng đất này có thể hiểu nghĩa rộng là các loại sử dụng đất chính, hoặc có thể được mô tả chi tiết hơn với khái niệm là các loại hình sử dụng đất [17]
Đề cương đánh giá đất của FAO năm 1956, đ4 giới thiệu:
Loại hình sử dụng đất chính (Major type of land use) là sự phân nhỏ của sử dụng đất trong khu vực hoặc trong vùng nông lâm nghiệp, chủ yếu dựa
Trang 28trên cơ sở của sản xuất các cây trồng hàng năm, lâu năm, lúa, đồng cỏ, rừng, khu giải trí nghỉ ngơi, động vật hoang d4 và của công nghệ được dùng đến như tưới nước, cải thiện đồng cỏ
Tuy nhiên, trong đánh giá đất, nếu chỉ xem xét việc sử dụng đất qua các loại hình sử dụng đất chính thì chưa đủ, cần phải có những mô tả chi tiết hơn trong việc sử dụng đất, vì vậy một khái niệm loại hình sử dụng đất được đề cập tới trong đánh giá đất
Loại hình sử dụng đất là sự phân chia chi tiết của loại hình sử dụng đất chính và được mô tả theo các thuộc tính nhất định Các thuộc tính đó bao gồm: quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như sức kéo trong làm
đất, đầu tư vật tư kỹ thuật… và các đặc tính về kinh tế kỹ thuật như định hướng thị trường, vốn thâm canh, lao động, vấn đề sở hữu đất đai [32]
Loại hình sử dụng đất đai là đơn vị xếp dưới hệ thống canh tác, liên quan chặt chẽ với đơn vị đất đai Mức độ chi tiết của loại hình sử dụng đất đai phụ thuộc vào mục tiêu, quy mô và tỷ lệ bản đồ sử dụng trong đánh giá đất
- Yêu cầu sử dụng đất (Land Use Requirement) là những điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến năng suất và sự ổn định của loại hình sử dụng đất, hay đến tình trạng quản lý và thực hiện loại hình sử dụng đất đó Những yêu cầu sử dụng đất thường được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu Yêu cầu sử dụng đất được coi như là những điều kiện tự nhiên cần thiết
để thực hiện thành công và bền vững một loại hình sử dụng đất
3.1.2 Q uan điểm sử dụng đất bền vững trên cơ sở đánh giá đất của FAO
Thế giới ngày nay đang đứng trước nguy cơ to lớn về sự xuống cấp và hủy hoại môi trường sinh thái Cùng với sự gia tăng dân số, phát triển công nghiệp, các hoạt động kinh tế ngày càng tác động mạnh mẽ tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường tự nhiên Phát triển kinh tế thường đạt được với cái giá đắt là các nguồn tài nguyên không tái tạo gần như cạn kiệt, trong khi các tài nguyên tái tạo bị khai thác quá khả năng tự hồi phục, môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng Để sử dụng một cách có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên,
Trang 29đạt được một mức độ tăng trưởng hợp lý đồng thời bảo vệ môi trường sống và khả năng tái tạo của các nguồn tài nguyên phải có một cách tiếp cận mới nhằm kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa lợi ích về kinh tế - x4 hội với bền vững của môi trường sinh thái
Theo định nghĩa của FAO, nông nghiệp bền vững bao gồm “việc sử dụng, quản lý có hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời gìn giữ, cải thiện tài nguyên thiên nhiên môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên”
Năm 1991 tại Nairobi, FAO đ4 tổ chức hội thảo về quản lý sử dụng đất bền vững đ4 nêu ra 5 nguyên tắc cơ bản trong sử dụng đất bền vững đó là:
- Duy trì và nâng cao sản xuất và các dịch vụ
- Giảm thiểu rủi ro cho sản xuất
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn lợi tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hoá chất lượng đất/ nước
- Có khả năng thực thi được về mặt kinh tế
- Có thể chấp nhận được về mặt x4 hội
Với các nguyên tắc này, người sử dụng đất, các nhà lập kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất phải đạt được sản lượng hoặc l4i suất tối đa, giảm thiểu đầu tư và sức lao động ngoài ra phải bảo vệ môi trường và tài nguyên cho sản xuất lâu dài và cho các thế hệ mai sau
Cùng với các nguyên tắc sử dụng đất bền vững, Dumanski (1993) cũng
đ4 đề xuất các chỉ tiêu chung để đánh giá và giám sát việc sử dụng đất bền vững Các chỉ tiêu này bao gồm:
Trang 30- Sự áp dụng các biện pháp bảo vệ đất
Các chỉ tiêu này là cơ sở quan trọng để phân tích đánh giá hệ thống sử dụng đất về tính bền vững và thiết lập nền móng cho các chiến lược sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên đất
Ngoài ra còn một số định nghĩa về quan điểm sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp như sau:
Theo Baier (1990): Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống sản xuất
có hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu x4 hội về an ninh lương thực đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường cho đời sau
Theo Mollison B (1994) nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế
để cho môi trường bền vững cho con người liên quan tới cây trồng, vật nuôi, cơ sở hạ tầng và các công trình xây dựng do con người tạo ra
Trong tất cả các định nghĩa, điều quan trọng nhất là biết sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống, bình đẳng giữa các thế hệ và hạn chế rủi ro
Từ những nguyên tắc đánh giá sử dụng đất bền vững của FAO, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất được xem là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận
- Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất
- Bền vững về mặt x4 hội: thu hút được lao động, đảm bảo được đời sống x4 hội
Quan điểm mang tính chất tập trung và chỉ đạo trong chiến lược sử dụng đất ở nước ta là quan điểm đầu tư theo chiều sâu Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong quá trình sản xuất nông nghiệp Đầu tư theo chiều sâu thực
sự là mũi nhọn trong việc đầu tư vào nông nghiệp
Phát triển lâu bền đòi hỏi các nguồn tài nguyên phải được phát triển và
Trang 31sử dụng một cách tổng hợp Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền [13] đ4 khuyến khích về sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp
- Khuyến khích tăng năng suất nông nghiệp thông qua việc thực hiện
đúng đắn cơ chế thị trường và các cải cách khác như làm tăng tối đa lợi ích đa
vụ, khuyến khích nông dân và giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch
- Phát triển và đẩy mạnh các hệ thống canh tác lâu bền ở các vùng sườn đồi, các hoạt động nhằm vào vấn đề nông - lâm kết hợp, trồng theo vành đai, trồng cây
và làm ruộng bậc thang và phải thích ứng với các điều kiện thực tế cụ thể với tập quán của người dân về mùa vụ, với các kỹ thuật khả thi về bảo vệ đất và nước
- Canh tác nông nghiệp phải nhằm vào thâm canh tăng năng suất, quay vòng mùa vụ, kiểm soát hoá chất nông nghiệp, phổ biến rộng r4i canh tác hữu cơ và các phương pháp thủy lợi nhằm tránh gây ngập úng và nhiễm mặn đất
- Ưu tiên cho các công trình nghiên cứu và triển khai liên quan đến các
hệ thống nông - lâm kết hợp, có tính đến việc bố trí định cư những người du canh ở vùng núi cao
- Cần có chương trình mạnh mẽ về trồng cây rừng, bao gồm cả việc hình thành các khu rừng trồng nhằm mục đích lấy gỗ và củi đốt Những nỗ lực trồng rừng phải nhằm vào mục đích phát triển khu rừng hỗn giao, các loài cây bản xứ hơn là các khu rừng thuần chủng và các loại cây ngoại nhập
Như vậy, đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải
đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không
ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và các sinh vật
3.1.3 Điều tra, nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất của huyện Thanh Liêm
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thuỷ văn, cảnh quan
- Thực trạng phát triển kinh tế - x4 hội có liên quan đến sử dụng đất của huyện
Trang 323.1.4 Điều tra, nghiên cứu, đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2010 và biến động diện tích đất nông nghiệp của Huyện
- Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của huyện
- Tình hình biến động đất nông nghiệp của huyện từ năm 2005 đến
2010 (diện tích biến động, nguyên nhân gây biến động)
3.1.5 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Thanh Liêm
- Xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Mô tả và đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất theo FAO
3.1.6 Lựa chọn và đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có triển vọng cho sự phát triển bền vững ở huyện Thanh Liêm
- Lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng huyện Thanh Liêm
- Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có triển vọng cho sự phát triển bền vững ở huyện Thanh Liêm
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, tư liệu bản đồ
3.2.1.1 Phương pháp thu thập các số liệu thứ cấp:
- Thu thập và xử lý các nguồn số liệu và tài liệu có sẵn tại địa phương, gồm:
- Số liệu về khí tượng, thuỷ văn: nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi, chế độ gió, b4o…tại Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Hà Nam
- Các nguồn số liệu có liên quan đến tài nguyên nước, khả năng tưới tiêu… thu thập tại Phòng Nông nghiệp huyện
- Các số liệu liên quan đến đất đai như: hiện trạng đất đai và biến động diện tích đất nông nghiệp thu thập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê huyện Thanh Liêm
3.2.1.2 Phương pháp thu thập các số liệu sơ cấp:
Điều tra xác định các loại hình sử dụng đất hiện tại, đánh giá hiện trạng sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất theo phương pháp điều tra nông thôn nhanh
Trang 33(RRA) thông qua phiếu điều tra nông hộ Điều tra phỏng vấn 120 nông hộ ( 20 x4 ) trên toàn địa bàn huyện đại hiện cho 2 tiểu vùng sinh thái với các loại hình
sử dụng đất khác nhau của huyện Hộ nông dân được chọn điều tra theo phương pháp chọn mẫu điển hình Bộ câu hỏi được soạn thảo trên cơ sở mẫu phiếu điều tra đánh giá đất của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (mẫu phiếu được thể hiện ở phụ lục 1)
3.2.1.3 Phương pháp chuyên gia:
Phỏng vấn cán bộ huyện, x4 và thôn để nắm được tình hình sử dụng đất
và các tập quán sử dụng đất của địa phương
3.2.1.4 Phương pháp xây dựng bản đồ:
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất theo các LUT và bản đồ đề xuất được xây dựng trên nền bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện tỷ lệ 1/25.000;
ứng dụng phần mềm MicroStationSE trong số hóa và biên tập bản đồ
3.3 các chỉ tiêu nghiên cứu
3.3.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất
Hiệu quả kinh tế sử dụng đất được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
- Tổng chi phí biến đổi (TVS): Tính bằng tổng giá trị (đồng) chi phí (bao gồm toàn bộ chi phí vật chất trực tiếp cho sản xuất + tiền lao động thuê ngoài) cho LUT/ha/năm (không tính lao động gia đình)
- Tổng giá trị sản xuất (GR): Tính bằng tổng giá trị (đồng) của sản phẩm
mà LUT thu được/ha/năm GR = Năng suất x giá bán sản phẩm
- Thu nhập hỗn hợp (NVA): Thu nhập hỗn hợp của LUT được tính theo
hiệu số giữa tổng giá trị sản xuất và tổng chi phí biến đổi (đồng/ha/năm) của
Trang 343.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, do thời gian có hạn, trong
đánh giá hiệu quả x4 hội chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau:
- Khả năng thu hút lao động giải quyết việc làm cho nông dân của các loại hình sử dụng đất;
- Mức độ chấp nhận của người dân: thể hiện ở mức độ đầu tư, ý định chuyển đổi cây trồng của hộ;
- Khả năng tiêu thụ sản phẩm của các loại hình sử dụng đất
3.3.3 Chỉ tiêu đánh giá tác động môi trường
Việc đánh giá tác động môi trường của các LUT trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong một thời gian dài Vì vậy, do giới hạn về thời gian nghiên cứu nên chúng tôi chỉ tập trung đánh giá tác động môi trường của các LUT thông qua các chỉ tiêu sau:
- Khả năng che phủ đất
- Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật
Trang 354 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 các yếu tố liên quan đến sử dụng đất huyện Thanh Liêm
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Thanh Liêm là một trong 6 huyện, thị của tỉnh Hà Nam nằm ở phía Tây Nam của tỉnh có toạ độ địa lý từ 20 0 20’ đến 20 0 31’ vĩ độ Bắc và từ 105 0
47’ đến 106 0 56’ kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp huyện Kim Bảng, huyện Duy Tiên và thị x4 Phủ Lý
- Phía Nam giáp huyện ý Yên và huyện Gia Viễn - tỉnh Ninh Bình
- Phía Đông giáp huyện Bình Lục
- Phía Tây giáp huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình
Toàn huyện có 20 đơn vị hành chính cấp x4 với tổng diện tích tự nhiên 17.831,28 [25] ha chiếm 20,60 % tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Hà Nam Thị trấn Kiện Khê là một vùng công nghiệp vật liệu xây dựng, cách trung tâm tỉnh – thị x4 Phủ Lý 5km Thanh Liêm hiện nay chưa có thị trấn huyện
lỵ Trong tương lai gần, thị trấn huyện lỵ sẽ thành lập, dự kiến trên đất hai x4 Thanh Hà và Thanh Tuyền Hướng thị trấn trên dọc hai bên Quốc lộ 1, đây
sẽ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện
Thanh Liêm có đường quốc lộ 1, quốc lộ 21A, tỉnh lộ 9714, 9712,9713…[25] hệ thống đê và sông Đáy, sông Châu Giang là những tuyến giao thông đường bộ, đường thủy quan trọng của huyện rất thuận tiện cho việc tiếp cận với vùng kinh tế trọng điểm của các tỉnh phía Bắc Trên địa bàn huyện
có những dải đá vôi trữ lượng lớn, chất lượng cao là tiềm năng, thế mạnh của Thanh Liêm trong phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Vị trí cuả Thanh Liêm cùng với đường bộ, đường sông thuận lợi, gần các trung tâm đô thị lớn đ4 hội tụ nhiều điều kiện và cơ hội để giao lưu hoà
Trang 36nhập, tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật, thu hút vốn đầu tư cho phát triển các ngành kinh tế - x4 hội
Mặt hạn chế cơ bản của huyện Thanh Liêm hiện nay là trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp vẫn là chủ yếu, trong đó cây lúa chiếm vị trí chủ đạo Ngành chăn nuôi mấy năm gần đây có phát triển hơn nhưng chưa mạnh Các ngành nghề phi nông nghiệp có phát triển nhưng do thị trường tiêu thụ không
ổn định nên chỉ ở mức cầm chừng Đầu tư trong nước và nước ngoài vào huyện không đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế còn ở mức hạn chế [25]
* Vùng Tây sông Đáy: Tiểu vùng này gồm các d4y núi đá vôi, xen kẽ là các đồi sa thạch, phiến thạch và các thung lũng hẹp Diện tích vùng này khoảng 6.000 ha bao gồm phần đất các x4 Thanh Hải, Thanh Nghị, Thanh Tân, Thanh Thủy và thị trấn Kiện Khê Đặc điểm nổi bật của vùng này là núi
đá vôi chiếm diện tích lớn, hơn 50% diện tích của vùng, tiếp đến là đất nông nghiệp khoảng 25% diện tích của vùng Vùng này tập trung các cơ sở khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng như nhà máy xi măng Kiện Khê, Việt Trung, nhà máy bột nhẹ…Tiểu vùng đồng bằng Tây sông Đáy có độ cao trung bình
từ 1,3 - 1,8m nơi cao là 5,3 - 5,8m Vùng này chịu ảnh hưởng của việc phân
lũ sông Hồng, mức độ ngập phụ thuộc vào mức độ phân lũ
Do đặc điểm riêng, dải đồi núi kéo dài suốt phía Tây của huyện có địa hình Caxtơ nên đ4 tạo ra nhiều hang động, hồ đầm độc đáo có giá trị để phát triển du lịch
Trang 37* Tiểu vùng trũng đồng bằng: diện tích khoảng 9.000 ha, trong đó khoảng 7.000 ha là đất canh tác; gồm đất đai của các x4 phía Đông huyện
Đây là tiểu vùng trũng điển hình của vùng đồng bằng Bắc bộ, trước đây chỉ cấy được một vụ lúa chiêm, nay nhờ các công trình thủy nông tiêu úng nên đ4 gieo trồng được 2 vụ lúa/năm
Với địa hình như trên, Thanh Liêm có điều kiện phát triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa đa dạng, kết hợp với kinh tế đồi rừng và phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm Cần có các phương án quy hoạch sử dung đất thích hợp để phát huy những lợi thế và khắc phục những hạn chế của nó
Thanh Liêm nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nhưng lại tiếp giáp với dải núi đá trầm tích ở phía Tây nên địa hình Thanh Liêm rất đa dạng, vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng thấp trũng Sông Đáy chảy qua huyện theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam chia huyện thành 2 tiểu vùng sinh thái khác nhau [25]
4.1.1.3 Khí hậu
Thanh Liêm Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, huyện chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông với những đặc điểm thời tiết khí hậu khác nhau Song do huyện có nhiều đồi núi nên mùa hè từ tháng 6 đến tháng 9 trời nắng,
độ ẩm cao, mưa nhiều, mùa đông lạnh khô hanh thường bắt đầu vào tháng 11
và kết thúc sớm hơn các vùng khác (tháng 3); hai mùa chuyển tiếp là mùa
xuân và mùa thu đặc điểm khí hậu ôn hòa, ấm ấp về mùa xuân, mát mẻ về mùa thu được thể hiện ở bảng sau
Trang 38Bảng 1 Tình hình khí hậu của huyện Thanh Liêm
Số liệu T.bình 10 năm (2000 – 2010) đo tại trạm Hà Nam
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí t−ợng thuỷ văn Hà Nam).
Từ số liệu ở bảng trên, chúng tôi tóm l−ợc nh− sau:
* Nhiệt độ
- Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,50C
- Nhiệt độ trung bình cao nhất 27,30C
- Nhiệt độ không khí trung bình thấp nhất 210C
- Nhiệt độ cao tuyệt đối 390C
- Nhiệt độ thấp tuyệt đối 90C
* Nắng
Tổng số giờ nắng trung bình năm 1685 giờ Trong đó mùa hè số giờ nắng trung bình 6 - 7giờ/ngày Số ngày nắng trung bình trong một tháng là 20 ngày
Trang 39* Mưa
Huyện có lượng mưa tương đối lớn nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm; mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 (chiếm 83% lượng mưa cả năm) nhưng tập trung nhất là vào thời gian từ tháng 7 đến tháng 9; mùa khô tháng 11 đến tháng 4 năm sau: lượng mưa ít, có tháng hầu như không mưa
- Lượng mưa trung bình năm 1825,5 mm
- Lượng mưa năm cao nhất 2697 mm
- Lượng mưa năm thấp nhất 954 mm
* Gió b4o
Địa bàn huyện chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính: gió Đông Bắc thổi vào mùa lạnh, gió Đông Nam thổi vào mùa nóng, các tháng 7,8,9 thường xuất hiện vài đợt gió khô nóng; mùa Đông từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau có những đợt gió mùa, gây rét đậm kéo dài
Ngoài ra huyện chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của 5 đến 7 cơn b4o trong một năm với sức gió mạnh và lượng mưa lớn, thường xuất hiện vào các tháng 8, 9, 10 gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống của nhân dân
Trang 40Như vậy, Thanh Liêm chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp với cơ cấu cây trồng đa dạng, phong phú Tuy nhiên, do thời tiết khí hậu nóng ẩm mưa nhiều vào mùa hạ; hanh khô kéo dài vào mùa đông nên thường xảy ra hạn hán, lũ lụt cục bộ, gây tác hại đến sản xuất nông - lâm nghiệp của huyện Đặc biệt trong mùa mưa thường xuất hiện những cơn b4o và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng lớn
đến đời sống của nhân dân trong huyện
4.1.1.4 Thuỷ văn
Trên địa bàn huyện có hai con sông chính chảy qua: sông Đáy và sông Châu Giang Ngoài ra Thanh Liêm cón có mạng lưới sông ngòi phân bố thích hợp, có ý nghĩa trong việc cung cấp nước, tiêu nước phòng tránh lũ lụt
* Sông Đáy
Là một phân dòng tự nhiên của sông Hồng, sông Đáy chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Đoạn sông chảy qua huyện có chiều dài 19km, chiều rộng trung bình 120m và sâu 2,5m Sông Đáy vừa đảm bảo cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong vùng, vừa là tuyến giao thông thủy nối liền các danh lam thắng cảnh trong và ngoài huyện Mặt khác theo chủ trương của Nhà nước khi lũ sông Hồng dâng cao vượt mức báo động cho phép 13,6m
(tương đương với sông Đáy là mức 4,68m), thì sông Đáy sẽ là tuyến phân lũ
chính của sông Hồng, nhằm đảm bảo an toàn thủ đô Hà Nội và vùng kinh tế rộng lớn Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình Vùng phân lũ có diện tích tự nhiên xấp
xỉ 7.000 ha, lấy đê Tả đáy làm đường biên thì 6 x4 có một phần nằm trong
vùng phân lũ (nếu lấy quốc lộ 1A làm đường biên thì 5 xR nằm gọn trong vùng
phân lũ và 3 xR có một phần nằm trong vùng phân lũ) Hàng năm vào các tháng
7, 8, 9 nước sông Hồng dâng cao kết hợp mưa lớn kéo dài trên diện rộng làm cho mực nước lũ tại sông Đáy dâng cao Đặc biệt khi sông Đáy đang ở mức nước cường, kèm theo mưa to dẫn đến nước trong đồng dâng lên mà không tiêu
ra sông được, khiến cho một phần diện tích đất canh tác bị úng ngập cục bộ kéo dài, ảnh hưởng lớn đến sản xuất của nhân dân trong vùng ngập lụt