Khảo sát một số dòng, giống lạc trong điều kiện vụ xuân và bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa một số chỉ tiêu nông học với năng suất quả
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học nông nghiệp I
-
Bùi xuân sửu
khảo sát một số dòng, giống lạc trong điều kiện vụ xuân
và bƯớc đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa một số chỉ tiêu
nông học với năng suất quả
Luận Văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: Trồng trọt Mã số : 60.62.01
Hà Nội - 2007
Trang 2Lời cam đoan Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong bản luận văn
là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đ3 đ−ợc cám ơn và tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ3 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Bùi Xuân Sửu
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy T.S Nguyễn Thế Côn, đ3 hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện
đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Sau đại học, Khoa Nông học, Bộ môn Cây công nghiệp Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình, đ3 động viên
và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Bùi Xuân Sửu
Trang 4Môc lôc
2 Tæng quan t×nh h×nh nghiªn cøu, s¶n xuÊt trªn thÕ giíi vµ
3.4 Mèi quan hÖ gi÷a mét sè chØ tiªu n«ng häc víi n¨ng suÊt qu¶ 63
4.2 Thêi gian sinh tr−ëng vµ ph¸t triÓn cña c¸c dßng, gièng 83
Trang 54.3 §Æc ®iÓm sinh tr−ëng vµ ph¸t triÓn cña c¸c dßng, gièng 86
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
Từ viết tắt Viết đầy đủ
ICRISAT (International Crops Reseash Institute for the
VKHKTNNVN Viện Khoa học kĩ thuật Nong nghiệp Việt Nam
Trang 7Danh môc b¶ng
2.2 Sè l−îng gen bæ sung cña l¹c trång trät vµ c¸c loµi l¹c d¹i t¹i
2.5 T×nh h×nh s¶n xuÊt l¹c cña thÕ giíi trong nh÷ng n¨m gÇn ®©y 25
4.7 §éng th¸i t¨ng tr−ëng chiÒu cao c©y cña c¸c dßng, gièng 87
Trang 84.9 §Æc ®iÓm ph¸t triÓn cµnh cña c¸c dßng, gièng 87
4.16 DiÔn biÔn sè hoa, sè tia, sè qu¶ theo thêi gian sinh tr−ëng 111 4.17 Ph©n bè tia theo c¸c tÇng trªn c©y cña c¸c dßng, gièng 116
4.23 C¸c yÕu tè cÊu thµnh n¨ng suÊt vµ n¨ng suÊt cña c¸c dßng gièng 137
Trang 9Danh môc h×nh
4.2 §éng th¸i t¨ng tr−ëng chiÒu cao cña mét sè dßng, gièng 88
4.6 DiÔn biÕn cña sè hoa, sè tia, sè qu¶ theo thêi gian sinh tr−ëng 113
Trang 101 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Cây lạc, tên khoa học Arachis hypogaea L Theo tài liệu của Nguyễn Hữu Quán(1961)[27]: “Lạc” hay “Đỗ Lạc” là tên gọi cây lạc ở miền Bắc Việt Nam Còn ở miền Nam Việt Nam gọi là “Đậu phụng” hay “Đậu phộng” Còn
ở Trung Quốc gọi lạc là “Hoa Sinh” hay “Lạc Hoa Sinh” ở các nước Âu Mỹ, phần lớn gọi là: “Arachit” Tiếng anh còn được gọi là “đậu đất” (groundnut nut, groundnut pea”
Cây lạc- tiếng Anh cũng được gọi là peanut, tiếng Tây Ban Nha – mani, tiếng Bồ Đào Nha – amondoim, tiếng Pháp - pistache, tiếng Hindi – mungphala, tiếng Trung Quốc –Ying zui dou [58]
Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày Từ xưa đến nay, cây lạc đóng vai trò quan trọng trong đời sống và kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới Cây lạc cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp ép dầu Ngoài ra cây lạc còn có tác dụng cải tạo
đất, nhờ lượng chất xanh lớn nếu dùng làm phân bón, bộ rễ có vi khuẩn cộng sinh cố định đạm, tạo ra lượng đạm sinh học cung cấp cho cây và làm tăng độ phì đất Cây lạc là cây trồng ngắn ngày, do vậy dễ dàng tham gia vào các công thức luân canh như trồng xen, trồng gối, luân canh
Từ thủa lạc là cây trồng của các bộ tộc Nam Mĩ, cho đến nay lạc được trồng khắp thế giới, hạt lạc vẫn còn là thức bổ dưỡng của con người Lạc luộc, lạc rang, lạc nấu canh, muối lạc là nguồn cung cấp dầu, protein từ cổ xưa của nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt các nước kinh tế chậm phát triển của châu
á, châu Phi
Sản phẩm từ hạt lạc và cây hạt có dầu đóng góp phần đáng kể vào cung
Trang 11cấp năng lượng cho bữa ăn của con người Các nước thuộc vùng châu á Thái Bình Dương như: Indonesia, Srilanca, Tây Samoa, Fiji lạc và hạt chứa dầu chiếm từ 9,8% đến 18,8 % nguồn calo bữa ăn của người dân ở đây[68] Hạt lạc và sản phẩm chế biến từ hạt lạc m3i vẫn là thức ăn có giá trị cao
về dinh dưỡng, khoáng chất và vitamin Theo tài liệu nghiên cứu của Mỹ[71], hạt lạc chứa từ 40-50 % lipit, 20-30% protein, 10-20% hydratcabon
Nguyễn Thế Côn (1996) [7] cho biết: hai globulin là Arachin và conarachin chiếm 90-95 % protein của hạt lạc Arachin chiếm 2/3 còn conarachin chiếm1/2; conarachin có giá trị dinh dưỡng cao hơn, vì có hàm lượng axit amin Methion cao hơn arachin Protein trong hạt lạc có giá trị dimh dưỡng tốt Protein của hạt lạc chứa đầy đủ 8 axit amin không thay thế
Một tài liệu của Mỹ, khi phân tích giá trị dinh dưỡng của hạt lạc, cho thấy kết quả ở bảng 1.1
Hạt lạc cung cấp nguồn năng lượng lớn, cung cấp lượng protein đáng
kể, vì vậy hạt lạc và sản phẩm của nó từ xưa trở thành thực phẩm cứu cánh cho các vùng kinh tề còn kém phát triển, bữa ăn còn thiếu protein động vật của nhiều quốc gia
Hạt lạc là một trong những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng nhất của thế giới Theo tài liệu của US Departmen Agriculture[70], hạt lạc chứa cực đại 5 dinh dưỡng quan trọng: Năng lượng, Protein, Phot pho, Vitamin nhóm B, niacin (Vitamin B3)
Trang 12Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của hạt lạc (Phân tích trên 100 gam hạt lạc thuộc dạng Valencia) [69]
- Axit béo chưa no đơn
- Axit béo chưa no đa
Protein
570kcal (2390kj)
21 g 0,0 g
0,6 mg 0,3 12,9 1,8 0,3
Ngoài ra hạt lạc còn chứa nhiều khoáng chất Ca, Fe, Mg, P, K, Zn Hạt lạc còn chứa lượng vitamin lớn, đặc biệt là vitamin B Vì vậy hạt lạc và sản phẩm chế biến từ hạt là nguồn cung cấp khoáng chất, vitamin đáng kể cho con người Dầu của hạt lạc chủ yếu chứa axit béo chưa no, cơ thể con người dễ hấp thụ, hạn chế lượng colestoron trong máu, giúp hạn chế một số bệnh Vì thế, ngoài là thức ăn giầu năng lượng, đủ protein, người ta còn quan tâm đến khả năng chữa bệnh của hạt lạc và sản phẩm chế biến từ hạt lạc
Trang 13Tại Việt Nam đ3 có những tài liệu đông y nói về công dụng của hạt lạc Sách của lương y Lê Trần Đức (1997)[15]: lạc có vị ngọt, bùi, béo; bổ Tỳ, dưỡng Khí, nhuận Phế, lợi Tràng Lạc có thể bình sức cho phụ nữ ốm lâu ngày khi sức khoẻ bị suy kiệt Lạc có thể chữa ho lâu ngày, chữa đại tiện tái kết Trong hạt lạc có chất cầm máu, có tác dụng tốt đối với người có bệnh ỉa chảy máu, chất này tan trong nước, khi ăn lạc có tác dụng lên trương lực, làm
co thắt động mạch nên ngăn cản được sự chảy máu [21]
Hiện nay, bằng những nghiên cứu sâu, y học hiện đại đ3 cho thấy hạt lạc
có tác dụng hạn chế được nhiều loại bệnh[70] Khi ăn lạc, có lợi trong bệnh béo phì Lạc có giá trị trong chữa bệnh tiểu đường, ăn lạc hàng ngày không chỉ ngăn cản dinh dưỡng gây tăng nhanh nồng độ đường trong máu, mà còn
bổ sung thiếu hụt niacin Trong bệnh tiêu chảy ăn lạc sẽ có lợi, đặc biệt là tiêu chảy m3n tính Vì bệnh tiêu chảy thường thiếu hụt niacin, lạc có đủ số lượng niacin Nhai lạc với muối thành dạng keo, có thể diệt vi khuẩn gây hại răng miệng
Nhiều kết quả nghiên cứu[72] cho thấy: thức ăn từ lạc có thể chống lại những nhiễm khuẩn, những khối u trên mô cơ thể do phóng xạ, đặc biệt là u phổi và các bệnh xâm nhập vào gan Ăn lạc và sản phẩm lạc, giầu xơ, giầu phyto hoá học, chất chống ôxi hoá có lợi cho sức khoẻ Nghiên cứu sức khoẻ cộng đồng tại trường đại học y khoa Harvard của Mỹ [74] cho thấy: lạc, bơ lạc, giầu axit béo chưa no đơn, có tác dụng giảm cholesterol trong máu (giảm11-14%) Người ăn lạc và sản phẩm từ lạc có thể ngăn chặn được bệnh
động mạch vành của tim do kiểm soát tốt cholesterol và giảm được chất Trigyceride trong máu Tạp chí của Mỹ[73] về thực phẩm chữa bệnh đ3 cho thấy ăn lạc và bơ lạc có hàm lượng Axit béo chưa no đơn, đ3 làm giảm các bệnh về tim mạch 21% so với những người không ăn lạc
Penny Kric và Etherton của trường Đại học bang Penn [70], đ3 chỉ ra
Trang 14rằng: con người sử dụng lạc giúp ngăn chặn bệnh động mạch vành của tim Hạt lạc chứa giá trị dinh dưỡng cao, do vậy không chỉ là thức ăn trực tiếp của con người từ xưa, mà hiện nay lạc được chế biến thành rất nhiều sản phẩm như: Bơ lạc, lạc chao dầu, bột lạc, pho mát lạc, sữa lạc, protein lạc, lạc rút dầu rang, lạc luộc ủ men, dầu lạc…
Dầu lạc là một loại dầu thực vật tốt đối với cơ thể con người Dầu lạc
đang được thay thế dần mỡ động vật không chỉ ở các nước phát triển và ngay cả các nước đang phát triển Vì vậy trong tương lai, lạc và sản phẩm chế biến
từ hạt lạc, m3i vẫn là thực phẩm có giá trị và hấp dẫn đối với loài người trên toàn thế giới
Ngoài phục vụ thức ăn cho con người, cây lạc còn là nguồn thức ăn cho chăn nuôi, phong phú về chủng loại, dồi dào về số lượng, và chất lượng cao Khô dầu lạc dùng cho chăn nuôi đứng thứ 3 trên thế giới (sau khô dầu đậu tương và khô dầu bông) Trong khẩu phần thức ăn của gia súc, khô dầu lạc có thể chiếm tới 25-30% [6] Như vậy ngành chăn nuôi công nghiệp không thế thiếu mặt của khô dầu lạc Đó chính là nguồn dinh dưỡng gián tiếp tạo ra thịt, trứng, sữa cho con người
Tất cả các sản phẩm phụ như vỏ quả, quả và hạt lép loại ra khi con người sử dụng, cám lạc đều là thức ăn tốt cho gia súc [6] Thêm vào đó, sau khi thu hoạch quả, cây lạc tạo ra từ 5 đến 15 tấn thân lá/ha, là nguồn thức ăn xanh rất tốt cho đại gia súc Như vậy đối với gia súc các sản phẩm từ cây lạc
là nguồn thức ăn quan trọng [14]
Cây lạc là một trong những loại cây có khả năng chịu hạn Do vậy lạc
có thể sinh trưởng, phát triển, cho giá trị kinh tế ở các vùng bán khô hạn, canh tác dựa vào tự nhiên Đó chính là vùng bán khô hạn rộng lớn của châu á, châu Phi, nơi sinh sống của hàng trăm triệu con người cây lạc xứng đáng là cây trồng quí mà thiên nhiên ban phát cho các vùng đất nghèo của thế giới
Trang 15Cây lạc cũng như các cây họ đậu khác, được coi là những cây xứ mệnh của cải tạo đất Rễ cây lạc có vi khuẩn nốt sần cố định đạm Rhizobium vigna Vì vậy khi trồng lạc, rễ cây lạc và vi khuẩn có thể tổng hợp đạm tự do của khí trời thành đạm sinh học phục vụ cho cây Theo các tài liệu, lượng N được tổng hợp khi trồng lạc đạt từ 70 đến 110 Kg N/vụ/ha [6] Như vậy trồng lạc đ3 làm tăng độ phì của đất, tăng năng suất rõ rệt cây trồng sau Mặt khác, sau khi thu hoạch quả, lượng thân lá lạc lớn, lá lạc có hàm lượng đạm cao (từ 0,31 đến 0,33%) có thể là nguồn phân hữu cơ tốt bón cho đất, tăng lượng đạm vào đất, cải tạo lý tính đất rất tốt [14]
Cây lạc là cây trồng ngắn ngày, là cây trồng lý tưởng trong hệ thống luân canh của nhiều nước trên thế giới ở Việt Nam, cây lạc tham gia vào hệ thống luân canh như vùng cấy lúa: lạc- lúa; lạc- lúa- cây vụ đông Còn vùng không cấy được lúa, lạc tham gia công thức luân canh: lạc- ngô, lạc- mía, lạc-bông [6]
Vì thời gian sinh trưởng ngắn, lạc còn tham gia vào công thức trồng xen, vừa cải tạo đất, tăng thu nhập khi cây trồng chính chưa giao tán Lạc tham gia công thức trồng xen như: lạc xen với ngô, lạc xen với mía, lạc xen với khoai lang, xen với sắn Đối với các cây lâu năm, thời kì cây con, hoặc lúc
đốn có thể trồng xen lạc, tăng thu nhập; cây lạc có vai trò phủ đất giữ ẩm, chống xói mòn, chống cỏ dại, cải tạo đất [6]
Từ khi vào Việt Nam, cây lạc nhanh chóng phát huy giá trị về mọi mặt của nó Là cây trồng cho thu nhập, cải tạo đất, gắn bó với con người trên khắp
đất nước Việt Nam Hiện nay cây lạc vẫn là cây đóng góp quan trọng trong thu nhập của người dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, mặt hàng xuất khẩu có giá trị đối với quốc gia Dù sao cây lạc, sản xuất lạc vẫn không thể thiếu được trong tương lai sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
Việc tăng năng suất lạc là hướng tất yếu để tạo ra sản lượng cao của
Trang 16ngành trồng lạc ở thế giới và Việt Nam Muốn tăng năng suất lạc, phải dựa trê cơ sở sinh học: hình thái, sinh tưởng phát triển, di truyền…Từ cơ sở đó giúp cho công việc cải tiến giống, áp dụng kĩ thuật canh tác nhằm tăng năng suất lạc Để góp phần hiểu rõ hơn về đặc điểm cây lạc ở Việt Nam chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát một số dòng, giống lạc trong điều kiện vụ xuân và bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa một số chỉ tiêu nông học với năng suất qủa”
1.2 Mục đích yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Xác định đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của các dòng giống, làm tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, vật liệu khởi đầu cho công tác chọn giống, chọn ra dòng có triển vọng để đưa ra sản xuất đại trà
1.2.2 Yêu cầu
- Xác định được đặc điểm hình thái của các dòng, giống
- Xác định được đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của các dòng, giống
- Xác định được khả năng phát sinh một số sâu bệnh hại chính của các dòng, giống trong thời gian thí nghiệm
- Bước đầu xác định mối quan hệ giữa một số chỉ tiêu nông học với năng suất quả
1.3 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Cơ sở khoa học
Cây lạc là cây quan trọng của con người Việc tăng sản lượng là điều phải thực hiện của mỗi quốc gia và toàn thế giới Việc tăng sản lượng bằng mở rộng diện tích là điều khó khăn, vì diện tích đất là có hạn Vì thế việc tăng
Trang 17sản lượng lạc tất yếu phải tăng năng suất Muốn tăng năng suất phải hiểu rất
rõ về đặc điểm sinh học của cây lạc: như thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh, đặc điểm hoạt động sinh lí của cây Từ đó là cơ sở để chọn tạo giống cũng như xây dựng các biện pháp kĩ thuật canh tác nhằm tăng năng suất
1.3.2 Cơ sở thực tiễn
Tại Việt Nam năng suất lạc những năm vừa qua có tăng, song năng suất còn thấp hơn nhiều nước trên thế giới Mặt khác chúng ta chưa khai thác hết tiềm năng tài nguyên sinh thái của mỗi vùng Bộ giống lạc của Việt Nam còn chưa phong phú, chưa có nhiều giống năng suất cao thích hợp cho mỗi thời vụ, cho từng vùng sinh thái khác nhau Do vậy đó cũng là nguyên nhân hạn chế năng suất lạc của Việt Nam Muốn đạt năng suất lạc cao, phải hiểu rõ về đặc
điểm sinh học, đặc điểm sinh trưởng phát triển, thời gian sinh trưởng, đặc
điểm chống chịu, mối tương quan giữa chúng với năng suất quả… của các dòng giống, từ đó là cơ sở để chọn, tạo ra giống tốt
Mặt khác muốn phát huy hết tiềm năng sinh trưởng và năng suất của giống phải có đầy đủ kiến thức về: thế cây, sự biến động số hoa, số tia, số quả trên cây Những hiểu biết về hoạt động sinh trưởng, sinh lí của cây lạc như: bề mặt lá xanh khi thu hoạch, tiềm năng quang hợp, hấp thu dinh dưỡng qua lá, sử dụng chất kích thích sinh trưởng… để tăng năng suất của cây Đặc biệt là các giống năng suất cao, ngắn ngày Đó là những cơ sở để xây dựng qui trình kĩ thuật canh tác tăng năng suất cây lạc
Những hiểu biết đó chỉ có thể thu được khi nghiên cứu ở các dòng, giống
cụ thể, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam
Trang 18
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu, sản xuất
trên thế giới và trong nước
2.1 Nguồn gốc, phân loại
2.1.1 Nguồn gốc
Những người Inca đ3 gieo trồng lạc như một cây trồng, với tên gọi
“ynchis” ở vùng bờ biển của Peru trước cả khi người Tâybannha đến đây Thế nhưng những ghi chép đầu tiên về cây lạc là do thuyền trưởng Gonzalo Fernandez de Oviedo y Valdes (người đ3 đến Santo Domingo năm 1513) Ông lần đầu tiên công bố tên Mỹ-Inđiêng phổ thông ‘mani’ cho cây lạc Tên
“mani’ vẫn còn được sử dụng đến ngày nay ở Cuba và khu vực nam Mỹ thuộc vùng thuộc địa của Tây ban nha Theo Garcilaso de la Vega (1609), người Tâybanha đ3 giới thiệu tên gọi “mani” cho cây lạc được trồng ở Peru [55] Bartolone Las Casas, một nhà truyền giáo châu Âu năm 1502 đ3 đến Hispaniola (Nay thuộc nước cộng hoà Haiti) là người đầu tiên gọi tên cho cây lạc là “mani”( Las Casas, 1909) Jean de Lery (1578) đ3 thấy cây lạc ở đảo ở vịnh Rio de Janeiro với tên gọi ‘manobi’ [55] Những tài liệu sớm nhất này đ3 coi nam Mỹ như là nơi quê hương của cây lạc và cây lạc được phân bố rộng r3i trong tất các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới trước và trong thời gian phát hiện ra châu Mĩ
Mặt khác, cây lạc đ3 được các nhà khoa học châu Âu quan tâm đến từ thế
kỉ 17 Chính các nhà khoa học châu Âu là những người đầu tiên mô tả, in ấn tài liệu về cây lạc Monarder (1574), nhà vật lí, lần đầu tiên mô tả quả lạc, thế nhưng ông đ3 quên không gắn nó với cây (mô tả riêng quả) Nhà tự nhiên học
Bồ đào nha- Gabrriel Soares de Souza, đầu tiên đ3 mô tả chi tiết về cây lạc, sự trồng trọt và sấy khô lạc (Soares,1587) Cuối cùng, Jean de Lery (1578) mô tả
Trang 19quả lạc một cách chính xác Clusius (1605) lần đầu tiên vẽ và xuất bản hình vẽ của hạt lạc, và lần đầu tiên quả (pod) lạc trồng- Brazil với những ngăn quả có 2 hoặc 3 hạt được nhà tự nhiên Jan de Laet (1625) người Hà Lan xuất bản [55] Father Bernabe Cobo (1653) người biên soạn lịch sử Inca (1612-1653),
đ3 mô tả cây lạc ‘mani’ một cách chi tiết Nhà tự nhiên học người Pháp Charles Plumier (1693) đ3 được công nhận (Andrre,1932) là người đặt cái tên Pháp ‘Arachide’ cho tên ‘manobi’ ở phần của Nam Mĩ và Vùng Antilles thuộc Pháp Cuối cùng Jean Baptiste Labat (1742), người đ3 sống ở Antilles thuộc Pháp từ 1693 đến 1705, đ3 mô tả một cách rõ rệt cây lạc cũng như những sử dụng làm thức ăn của cây lạc Tất cả các tài liệu về cây lạc của các nhà tự nhiên học châu Âu, một lần nữa lại khẳng định: chính Nam Mỹ là quê hương của cây lạc Và chính từ Nam Mỹ cây lạc được đưa đến các vườn thực vật của châu Âu [55]
Thêm vào đó, những bằng chứng về khảo cổ, lần nữa lại khẳng định quê hương của cây lạc chính là Nam Mỹ E.G.Squier (1977) khi khai quật các ngôi
mộ cổ gần Lima, thủ đô của Peru, đ3 tìm thấy những quả lạc chôn trong cùng ngôi mộ Ngôi mộ cổ này có niên đại từ 1500 đến 1200 trước công nguyên [55] Trong mộ cổ, lạc được chôn cùng với một số thực phẩm khác trong các vại Rõ ràng, bằng chứng về cây lạc xuất hiện ở Nam Mỹ rất sớm, không nơi nào khác trên thế giới có được Điều đó càng chứng minh chính Vùng đất nam
Mỹ là nơi phát sinh ra cây lạc
Trang 20thấy ở Nam Mỹ, và các loài lạc dại được phân bố từ Đông bắc của Brazil đến tây bắc của Arhentina, và từ bờ nam của Uruguay đến tây bắc Mato Grosso (Vùng đất nằm giữa 00 - 350 Nam và từ 350 - 660 kinh tuyến Tây), thuộc Nam sông Amazon, và từ đông của d3y Andes đến biển Atlantic
Vùng Bolivian là trung tâm quê hương của lạc trồng trọt Krapovikacs (1968)[55] đ3 xác nhận vùng Bolivian (Nam Bolivia – bắc – đông Arhentina) như là trung tâm khởi nguyên của cây lạc trồng trọt Ông cũng lại khẳng định rằng: vùng được coi là nguyên sản của cây lạc chính là vùng ngôn ngữ Arawak chiếm ưu thế Sự phong phú về sử dụng sản phẩm của lạc và những hiện vật khảo cổ tìm thấy ở vùng tây- bắc Arhentina đ3 cho bằng chứng về tính cổ xưa của lạc trồng trọt
Cardenas (1969) [55] cũng đ3 xác định Bolivian là vùng nguyên sản dựa trên sự đa dạng về hình thái quả và hạt Bằng đầy đủ dẫn chứng về ngôn ngữ bản địa, về phân bố địa lí, lich sử rồng trọt và sử dụng, tài liệu khảo cổ, những tài liệu nghiên cứu về cây lạc, hiện nay đ3 xác định Nam Mỹ là trung tâm gen của cây lạc
Các nhà khoa học đ3 khẳng định có sự biến động trong loài lạc trồng trọt Krapovikacs (1968, 1973) [55] đ3 tìm ra mối quan hệ giữa 5 vùng địa lí của Nam Mỹ, nơi được coi là vùng nguyên sản cây lạc Vùng nguyên sản chia thành 5 trung tâm như sau :
1 Vùng Guarani
2 Goias và Minas Gerais
3 Rodonia và đông-bắc Mato Gsso
4 Phía đông d3y Andes thuộc Bolivia
5 Peru
Trang 21Sau đó Gregory(1976) [6] bổ sung thêm vùng vùng thứ 6
6 Vùng Đông bắc Brazil
Còn theo Weisss(2000)[71], quê hương của cây lạc ở nam Mỹ, phân bố
từ 00 vĩ độ Nam đến 350 Nam Tác giả chia thành 6 vùng thứ phát như sau:
Từ Nam Mỹ cây lạc đ3 được phát triển ra khắp thế giới Con đường phát triển có thể tóm tắt như sau[9]
Thế kỉ 16 cây lạc được đưa đến châu Âu Đầu thế kỉ 16 người nha đ3 đưa lạc vào phía Tây của Châu Phi trên các thuyền buôn bán nô lệ Người Tây-ban-nha đưa lạc đến Philipin, từ đây lạc vào Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ, Đông Nam á và bờ biển Đông úc Từ Đông Nam á lạc được
Bồ-đào-đưa vào miền Đông Châu Phi và Mandagaxca Châu Phi là nơi gặp gỡ của 2
Trang 22con đường lan truyền khác nhau Hoa Kì được các đoàn buôn nô lệ đưa lạc
đến từ Tây Châu Phi Sự phát triển của cây lạc cho thấy trên thế giới có 2 trung tâm phân hoá bậc 2 Trung tâm thứ nhất: vùng Philipin, Malyasia, Indonesia có nhiều dạng khác nhau, chủ yếu thuộc loại hình thực vật Valencia
và Spanish Trung tâm thứ 2 là vùng Tây Châu Phi, quanh 100 Nam, có nhiều dạng chủ yếu thuộc loại hình thực vật Virginia
2.1.3 Phân loại
Cây lạc thuộc: Giới - Plante; Ngành -Magnoliophyta; Magnoliopsida; Bộ- Fabales; Họ- Fabaceae; Phân họ–Faboideae; Tông - Aeschynomeneae; Chi: - Arachis; Loài - Arachis hypogaea
Lớp-Cây lạc được các nhà khoa học quan tâm sớm Sự phân loại cây lạc cũng rất phong phú và phức tạp Trải qua hàng trăm năm, có nhiều tài liệu, nhiều tác giả đưa ra những nguyên tắc phân loại khác nhau Các tác giả dựa trên đặc
điếm hình thái, đặc điểm thực vật, tập tính sinh trưởng, tập tính ra hoa, rồi đến cả số lượng nhiễm sắc thể…để phân loại đối với cây lạc Lịch sử phân loại đối với cây lạc kéo dài, phong phú, hấp dẫn và nhiều khó khăn để sớm đạt được sự thống nhất Và cuối cùng cũng đi đến sự thống, xác định được hệ thống phân loại phổ biến nhất
Nguyên tắc phân loại của Hoenhne (1940) và Hermann (1954)[55] chỉ quan tâm đến phần trên mặt đất của cây lạc Từ khi Gregory cùng cộng sự (1973) và Krapovikas (1973)[55] đ3 thừa nhận điều quan trọng cho phân loại cây lạc là phần dưới mặt đất của cây như: thân, rễ và cấu trúc sinh sản Hiện nay trong chi Archis đ3 phân ra 22 loài Các loài của cây lạc được trình bày tại bảng 2.1
Trang 23
B¶ng 2.1 C¸c loµi cña chi Arachis [55]
A paraguariensis Chod vµ Hassl
Hoenhne.1919 Krapovikacs vµ Rigoni 1957 Linnaeus 1753
Hoenhne 1922 Krapovikacs vµ Rigoni 1957 Bentham 1841
Chodat vµ Hassler 1904
Chodat vµ Hassler 1904
Handro 1958 Handro 1958 Krapovikacs vµ Gregory 1960 Handro 1958
Bentham 1841 Gardner 1842
Hoenhne 1944
Krapovikacs vµ Rigoni 1957 Handro 1958
Bentham 1841 Bentham 1841 Kuntze.1898
Chi Arachis lµ mét chi lín, bao gåm nhiÒu loµi, chóng t«i kh«ng cã ®iÒu kiÖn tr×nh bµy ph©n lo¹i trong chi Chóng t«i chØ tr×nh bµy ph©n lo¹i trong loµi l¹c trång trät Arachis hypogaea
Ph©n lo¹i trong loµi
Còng nh− nguyªn t¾c ph©n lo¹i gi÷a c¸c loµi trong chi Arachis, trong
Trang 24loài A hypogaea, cũng đ3 có nhiều quan điểm khác nhau, thể hiện qua các công trình như Dubard (1906), Van de Stok (1910), Waldron (1919), Bois (1927), Chevalier (1929, 1933), Hayes (1933), Badami (1935), John và Seshadri (1936), Clos (1939), Barkart (1939), Hoênh (1940), Bouffil (1947), Bigi (1950), Gregory và cộng sự (1951), Kumazawa và Nishimura (1952), John và cộng sự (1954), Bunting (1955), Seshadri và Srinivasalu (1958), Têtnyi (1960), Meikle (1960) và Seshadri (1960) Đa số các tác giả phân loại
đ3 dựa trên tập tính sinh trưởng, cũng dựa trên cả đặc tính ngủ nghỉ của hạt và
đăc điểm chín của hạt (Bounffil-1947) [55]
Thế nhưng những công trình sau này phân loại đ3 dựa trên tập tính phân cành và vị trí của cành mang quả Bunting (1955-1958), Mazani và Cabo (1957), Krapovickas và Rigoni (1960), và cả Smartt đ3 phát triển hệ thống phân loại giống như hệ thống phân loại của Gregory và cộng sự (1951)[55] Trong công trình này, điều hoàn thiện ở chỗ: lạc trồng trọt- Arachis hypogaea
được chia thành hai nhóm thực vật lớn: Virginia và Spanish-Valencia Đặc
điểm có hoặc không có mầm sinh thực trên thân chính Sự sắp xếp mầm sinh thực và mầm sinh dưỡng trên cành bên là tiêu chuẩn quan trọng nhất Theo các tác giả trên thì thân chính được kí hiệu là n, còn cành cấp 1, cấp 2, cấp 3
Trang 25tục” Những cành sinh thực cũng được hình thành trực tiếp trên thân chính ở tại những nốt cao hơn Đa số những cành n+2, n+3 là mầm sinh thực Loại Spanish trồng trọt mà tạo ra n+2 là cành sinh dưỡng là hiếm Trong khi đó dạng Valencia trồng trọt, tạo ra n+2 là cành sinh dưỡng thường xuyên không
có Nếu bất kì n+2 nào được tìm thấy ở dạng Valencia trồng trọt, nó sẽ ra hoa liên tục đến tận ngoài cùng từ đốt thứ 5 đến đốt thứ 8 của cành n+1 [55] Các tác giả Hazz (1885), Kohler 1898), Dubar (1906), Waldron (1919), Krapovickas, Rigoni (1960), Krapovickas (1968,1973)[55] khi nghiên cứu số lượng mẫu tập đoàn lớn và đ3 đưa ra hệ thống danh pháp phân loài của A hypogae Các tác giả đ3 gắn liền 5 phân loài với 5 vùng địa lí: Vùng Guaranian, Bolivian, Peruvian Amazonian (Rondonia và tây bắc Mato Grosso), vùng Goias và Minas Gerais Các phân loài và nhóm vùng địa lí cũng
đ3 được gắn với nền văn minh tiền Columbia và ngôn ngữ của các vùng Gregory đ3 mở rộng thêm vùng thứ 6, vùng này là đông bắc Brazil
Phân loại trong phân loài [2] (loài phụ) có thể được khái quát như sau: Arachis hypogaea Linn.(1753), là loài lạc trồng trọt được phân thành 2 phân loài [55]
1- Phân loài hypogaea
subsp hypogaea (Krapovikacs & Rigoni, 1960) Tập tính sinh trưởng của phân loài hypogaea là cây dạng bò, dạng trung gian hoặc dạng đứng Phân cành theo kiểu xen kẽ Trên nách lá hoa mọc đơn, thân chính không bao giờ có hoa Cành bên thứ nhất xuất hiện từ nách lá mầm thường xuyên là cành sinh dưỡng Quả có 2 hạt hoặc 2 đến 4 hạt Mỏ quả mức rõ, trung bình, hoặc không có Eo quả cũng có ở 3 mức: rõ, trung bình hoặc không có Kích thước quả rất lớn (>20 mm) hoặc nhỏ (<10 mm) Vỏ lụa có màu nâu đến đỏ, trắng, tím, và hạt có các vết đốm rõ Hạt thường xuyên có tính ngủ nghỉ Lá có màu xanh tối Phân loài: hypogaea gồm 2 thứ:
Trang 261.a var hypogaea (Đồng nghĩa với A africana Lour; dạng “Braziliano” Dubar.1906; Dạng ‘Virginia’- Gregory và cộng sự 1951), Bolivian và Amazonia Dạng cây của var hypogaea là dạng bò, trung gian hoặc dạng đứng Thân chính của dạng bò ngắn (không vượt quá 40-50 cm) Lông trên thân không rõ ràng Quả thường xuyên có 2 hạt Thời gian chín từ trung bình đến muộn
1.b var hirsuta Kohler(1898) (đồng nghĩa với A asiatica Lour; dạng
‘Peruano’ Dubard 1906), Peruvian Dạng cây bò, thân chính có thể dài trên 1 m Lông trên thân ở mức khá Mỏ quả rất rõ Quả có từ 2 đến 4 hạt Chín rất muộn
2 Phân loài fastigiata
subsp fastigiata Waldron(1919)
Tập tính sinh trưởng có dạng thân đứng, dạng bò Phân cành kiểu liên tiếp Trên nách lá hình thành hoa đơn hoặc nhiều hoa Thân chính thường xuyên có hoa Cành bên thứ nhất xuất phát từ nách lá mầm là cành sinh thực Hạt thường không có tính ngủ nghỉ Lá màu xanh nhạt hơn phân loài hypogaea Phân loài fastigiata gồm 2 thứ:
2.a var fastigiata (Đồng nghĩa với dạng ‘Peruano”Dubard, 1906 trong một phần; dạng ‘Valencia’ Gregory và cộng sự, 1951) Thứ này có những đặc
điểm: cành sinh dưỡng ở trục chính không có hoặc mọc đều ở những nốt ngoại biên (ngoài cùng) Trên nách lá thường xuyên hình thành hoa đơn Quả có 2 hoặc 2- 4 hạt (rất hiếm 5 hạt) Mỏ quả không có, hoặc rõ Quả có kích thước từ trung bình đến nhỏ Vỏ lụa có mầu nâu nhạt, đỏ, trắng, vàng, tím hoặc lốm đốm
2.b var vulgaris Harz(1885) (Đồng nghĩa với dạng ‘Spanish’ Gregory
và cộng sự 1951, Guarania Goias và Minas Gerais, và đông - bắc Brazil Cành sinh dưỡng ít và không đều, hoa thường hình thành kép, quả thường xuyên 2 hạt Quả có mỏ hoặc không, kích thước từ trung bình đến nhỏ, vỏ lụa hạt mầu nâu, đỏ, trắng, tím [55]
Trang 272.1.4 Nguồn gen cây lạc
Cây lạc là cây quan trọng đối với đời sống của nhiều vùng trên thế giới, trong đó có vùng nhiệt đới bán khô hạn Do vậy các nhà khoa học trên thế giới
đ3 thường xuyên quan tâm đến nguồn gen của cây lạc, giúp cho bảo tồn nguồn gen, lai tạo để cải thiện giống, tạo ra các giống có đặc điểm thích hợp cho từng vùng Nguồn gen của cây lạc không ngừng được sưu tập và bổ sung, ngày càng phong phú hơn
Theo V.R Rao[54], tại ICRISAT, nguồn gen của cây lạc càng ngày càng được bổ sung phong phú hơn Tại ICRISAT đến tháng 8 năm 1980 nguồn gen chính thức của cây lạc đ3 có 8498 gen Ngoài tập đoàn gen chính thức, cũng tại ICRISAT còn có 1536 mẫu giống đang trong thời kì cách ly, theo dõi, chưa nhập chính thức vào nguồn gen
Ngoài quan tâm lưu giữ, bảo tồn các dạng trồng trọt, việc tập hợp, lưu giữ các dạng hoang dại cũng được chú ý hết sức Tại ICRISAT cũng tập hợp
được nhiều loài hoang dại của Arachis để phục vụ cho việc nghiên cứu và lai giống Đến 1980 đ3 thu thập được 24 loài lạc dại [54] Đây là nguồn gen vô cùng quí giá phục vụ công tác tạo giống của thế giới
Trồng trọt và sử dụng lạc trên thế giới ngày càng được mở rộng Do vậy việc tập hợp, bổ sung các gen được thực hiện thường xuyên Theo A.K Singh
và cộng sự, nguồn gen cây lạc không ngừng được tăng lên Các tác giả cho biết các dạng lạc trồng trọt và loài lạc dại từ các trung tâm khác nhau được tập hợp tại ICRISAT có đến hàng chục nghìn mẫu Số liệu về các mẫu lạc trồng trọt và các loài lạc dại được trình bày tại bảng 2.2
Từ số liệu bảng 2.2 đ3 cho thấy các mẫu giống lạc trồng trọt không ngừng tăng lên, các loài hoang dại không ngừng được phát hiện thêm và lưu giữ Điều đó càng ngày càng làm giầu cho nguồn gen cây lạc, là cơ sở để
Trang 28nghiên cứu, phát triển loại cây trồng quí này Các mẫu giống bản địa có 5146, các dòng lai có 4526 mẫu, và mẫu giống bổ sung có 4808 Ngoài ra có hàng trăm giống được hình thành trong quá trình trồng trọt và phát sinh trong tự nhiên Và điều đáng quan tâm là có trên 300 loài lạc dại được lưu giữ, các loài dại đang bị biến mất một cách nhanh chóng do sự phát triển kinh tế của con người Đó cũng là nguồn gen vô cùng quí giá của cây lạc mà loài người cần gìn giữ và bảo vệ chúng
Bảng 2.2 Số lượng gen bổ sung của lạc trồng trọt và các loài lạc dại tại
ICRISAT(Tháng 11 năm 1994) [58]
Trung tâm nguồn gen Tập đoàn mẫu giống
Nguyên sinh
A.K Singh và S.N Nigam[58] đ3 tổng kết nguồn gen theo các dạng thực vật của cây lạc, theo các nguồn khác nhau Bảng 2.3 đề cập đến vấn đề này
Trang 29Bảng 2.3 Hiện trạng quĩ gen của cây lạc theo loại hình thực vật
(ICRISAT tháng11-1994) [58]
Số lượng bổ sung Nhóm thực vật
2212 mẫu bản địa Dạng vulgaris có số lượng mẫu giống xếp thứ 2 trong tập
đoàn, gồm 4774 mẫu, với 1738 mẫu giống bản địa Ngoài ra các loại hình thực vật fastigiata, peruviana cũng có tới hàng trăm mẫu giống Đối với cây lạc,
đó cũng là nguồn tài nguyên vô giá mà con người lưu giữ được
2.2 Sản xuất lạc của thế giới và Việt Nam
2.2.1 Sản xuất lạc cuả thế giới
Cây lạc đứng hàng thứ 13 trong các cây thực phẩm của thế giới Cây lạc
là cây hàng năm cho dầu ở hạt Lạc là một trong những cây hạt cho dầu quan
Trang 30trọng của thế giới Vào giữa những năm 1980, cây lạc đứng thứ 3 về cây lấy dầu từ hạt sau đậu tương và cây bông
Lạc hàng hoá được sản xuất từ 1876 Trên thế giới, sản xuất lạc tăng nhanh đặc biệt sau những năm 1900, khi cây bông bị mọt phá hại rất nặng [49] Sản xuất lạc của thế giới trong hơn 30 năm qua có có thể khái quát như sau
Về diện tích, đến năm 2001, toàn thế giới đạt 24 triệu ha (năm 1961 có
16 triệu ha), như vậy diện tích tăng 1,8 lần Điều đáng nói hơn cả là năng suất lạc của thế giới tăng mạnh Năm 2001 năng suất lạc bình quân của thế giới đạt
15 tạ/ha, vào năm 1971 năng suất chỉ đạt 8,4 tạ/ha Như vậy năng suất lạc tăng gần 2 lần từ 1971 đến 2001
Về sản lương, năm 1971 toàn thế giới thu hoạch 14 triệu tấn lạc quả khô, đến năm 2001 đ3 đạt 36 triệu tấn Như vậy từ 1971 đến 2001 sản lượng lạc của thế giới tăng 2,5 lần [FAO] Đạt được tăng nhanh về sản lượng, đó chính là nhờ sự đóng góp nỗ lực, liên tục của nhiều lĩnh vực: chọn tạo giống,
kĩ thuật thâm canh, bảo vệ thực vật… của toàn thế giới Điều này được thể hiện trong nhiều chương trình nghiên cứu, thử nghiệm của thế giới về cây lạc tại các châu lục
Về mặt địa lí, sản xuất lạc của thế giới có thể được chia ra thành 6 vùng lớn[43]: vùng Châu Mỹ, châu Phi, châu á, cận Đông á, châu Âu và Thái bình dương Các vùng lớn được phân thành vùng nhỏ
Châu Mỹ phân ra 2 tiểu vùng: tiểu vùng Nam Mỹ, gồm các nước: Argentina, Bolivia, Brazil, Colombia, Dominica, Ecuador, Paraguay, Uruguay, Venezuela, Tobago và Trinidad Tiểu vùng Bắc Mỹ gồm các nước: Canada, Mexico, liên bang Hoa Kì
Trang 31Châu Phi phân ra 2 tiểu vùng: tiểu vùng Nam Phi, gồm các nước: Madagascar, Malawi, Mozambique, Nam Phi, Zambia, Zimbabwe Tiểu vùng Tây Phi gồm các nước: Benin, Burkina Faso, Cộng hoà trung Phi, Cameroon, Chad, Cote-divoire, Gambia, Ghana, Guinea, Mali, Niger, Nigeria, Guinea-Bissau, Senegal, Togo, Zaire
Châu á phân ra 3 tiểu vùng: tiểu vùng Đông á, gồm các nước: Trung quốc, Nhật Bản, Đài Loan Tiểu vùng Đông nam á, gồm các nước: Bangladesh, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philipine, Singapore, Thai Lan, Việt Nam Tiểu vùng Tây nam á, gồm các nước: India, Pakistan
Vùng cận đông á và vùng Trung Đông, gồm các nước: Ai Cập, Israel, Jordan, Morocco, Syria, Thổ Nhĩ Kì
Châu Âu, phân thành 3 tiểu vùng: Tiểu vùng Đông Âu, gồm các nước: Czechoslovaki, Hungari, các quốc gia thuộc Liên Xô cũ, Yugoslavia Tiểu vùng thuộc Liên minh châu Âu, gồm các nước: Đan Mạch, Pháp, Đức, Luxemboug, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan Tiểu vùng Tây Âu gồm các nước: áo, Nauy, Thụy Sỹ, Thụy Điển
Vùng Thái Bình Dương, gồm các nước: úc, Niw Zealand [43]
Sản xuất lạc ở mỗi châu lục, mỗi quốc gia, mỗi vùng đều thay đổi theo thời gian Diện tích, năng suất sản lượng cũng rất khác nhau Để thấy rõ toàn cảnh sản xuất lạc của các châu lục, số liệu trong bảng sau có thể đáp ứng được
điều này Bảng 2.4 Sản xuất lạc của các châu từ 1970 đến 2000 [42]
Trang 32B¶ng 2.4 S¶n xuÊt l¹c ë c¸c ch©u lôc cña thÕ giíi
Trang 33tăng mạnh Nhữn năm 1970 sản lượng 9,4 triệu tấn, đến những năm 1990
đ3 đạt đến 23,1 triệu tấn Như vậy sản lượng tăng 2,4 lần Sản lượng lạc châu chiếm từ 60-70% lượng lạc của thế giới Năng suất tăng, sản lượng tănh nhanh, đó là thành công rất lớn đối với sản xuất lạc ở châu này Vì lạc
được trồng chủ yếu ở các vùng canh tác dựa vào nước trời, điều kiện kinh tế khó khăn, đời sống dân còn nghèo Nhưng cụ thể năng suất ở mỗi vùng của châu á không đều nhau Có vùng năng suất cao, nhưng có vùng năng suất rất thấp
Diện tích lạc của châu Phi trong 30 năm (1970-2000) như không tăng, bình quân từ 5,4 đến 6,4 triệu ha, chiếm 25 đến 35% diện tích của thế giới Năng suất lạc của châu Phi rất thấp, năng suất bình quân chỉ đạt
7 đến 8,5 tạ/ha Năng suất tăng chậm, những năm 1970, 1980 năng suất chỉ đạt trên 7 tạ/ha Sang thập kỉ 1990, năng suất có tăng nhưng rất chậm
đạt 8,5 tạ/ha , năng suất còn thấp hơn nhiều so với năng suất bình quân của thế giới Sản lượng lạc của châu Phi trong 30 năm biến động từ 3,7
đến 5,9 triệu tấn Tại châu Phi, vùng tây Phi là vùng sản xuất lạc lớn nhất của châu Phi
Châu Mĩ, chỉ chiếm 4-5% diện tích của thế giới, chiếm 8 đến 12 % sản lượng lạc của thế giới Trong 30 năm, sản xuất lạc của châu Mỹ ổ định về diện tích (trên 1 triệu ha), thế nhưng năng suất tăng nhanh (tăng 1,5 lần), vì vậy sản lượng tăng mạnh (1,9 lần), đạt 2,6 triệu tấn
Để thấy được tình hình sản xuất lạc của thế giới trong những năm gần
đây, về diện tích trồng, năng suất, sản lượng chúng tôi tham khảo số liệu của FAO, số liệu được thể hiện tại bảng 2.5
Trang 34Bảng 2.5 Tình hình sản xuất lạc của thế giới
trong những năm gần đây [FAO]
15,3 13,8 13,5 13,6 14,5
33,4 33,0 35,6 36,0 36,5
Tình hình sản xuất lạc của thế giới những năm qua hầu như ổn định Diện tích trồng lạc của thế giới biến động ít, từ 24 dến 26 triệu ha, năm 2003
đến 2004 diện tích không thay đổi Năm 2005 diện tích trồng lạc của thế giới giảm 1 triệu ha Năng suất hầu như ổn định, năm 2001 năng suất đạt 15 tạ/ha, các năm sau giảm xuống còn trên 13 tạ/ha Đến năm 2005 năng suất tăng lên 14,5 tạ/ha Có thể nói năng suất lạc trung bình của thế giới những năm qua hầu như không tăng Do diện tich ổ định, năng suất không tăng, do vậy sản lượng lạc của thế giới trong những năm qua không có biến động lớn, từ 33 đến
36 triệu tấn Năm 2004, 2005 sản lượng tăng lên 36 triệu tấn Những nước sản xuất lạc nhiều trên thế giới phải kể đến: Trung Quốc, ấn Độ, Nigeria, Mỹ, Indonesia, Myanma, Sênegal và Sudan
Từ năm 2003 đến 2005, Trung quốc là nước đứng đầu thế giới về sản lượng, với 13 đến 14 triệu tấn, đứng thứ 2 về diện tích trồng, từ 4 đến 5 triệu
ha Năng suất lạc Trung Quốc thời gian gần đây tăng mạnh, là một trong những nước năng suất đạt cao nhất thề giới, đạt 30 tạ/ha
Trang 35B¶ng 2.6 S¶n xuÊt l¹c cña mét sè n−íc nh÷ng n¨m gÇn ®©y [FAO]
Trang 36Indonesia Myanma Senegal Các nước khác
Indonesia Myanma Senegal Các nước khác
Hình 2.1 Diện tích trồng lạc của
một số nước năm 2005(%)
Hình 2.2 Sản lượng lạc của một
số nước năm 2005(%) Myanmam, Senegal sản lượng đạt 0,7 triệu tấn, nhưng năng suất còn thấp, chỉ đạt từ 8 đến 10 tạ/ha Sudan là nước có diện tích trồng lớn, gần 1 triệu ha, nhưng sản lượng thấp, trên nửa triệu tấn, năng suất của nước này rất thấp, chỉ đạt 5 đến 7 ta/ha
Cây lạc là cây trồng quan trọng của thế giới, ngoài việc tăng trưởng diện tích, năng suất, việc buôn bán lạc trên thế giới cũng tăng về số lượng Xuất khẩu lạc của thế giới không ngừng tăng lên[55] Năm 2000 thế giới xuất khẩu 4,77 triệu tấn, năm 2001- 4,9 triệu, năm 2002 - 5,2 triệu, năm 2003, 2004 xuất 5,0 triệu tấn, và năm 2005 xuất khẩu 5,5 triệu tấn Như vậy một khối lượng lạc lớn đ3 được lưu thông, trao đổi trên thị trường thế giới
Tiệu thụ lạc ở mỗi nước, mỗi khu vực đều khác nhau, có nước sử dụng chế biến thực phẩm nhiều, có nước dùng để ép dầu Có 7 nước lượng tiêu thụ lạc hàng năm nhiều là: Trung Quốc, ấn Độ, Nigeria, Hoa Kì, Indonesi, Myanma, Sudan Sau đây là số liệu tiêu thụ lạc của một số nước trên thế giới
Trang 37Bảng 2.7 Tiêu thụ lạc của một số nước (triệu tấn lạc quả) [FAO]
Số liệu trong bảng cho thấy các nước tiêu thụ nhiều lạc là trung quốc,
từ 8 đến 11 triệu tấn lạc quả ấn Độ là nước thứ 2, hàng năm tiêu thụ trên 5 triệu tấn Nigeria hàng năm tiêu thụ từ 2 đến 2,5 triệu tấn, đứng thứ 3 trên thế giới Còn Hoa kì và Indionesia hàng năm tiêu thụ trên 1 triệu tấn lạc quả Myanma, Sudan mỗi nước hàng năm tiêu thụ khoảng nửa triệu tấn
Lạc được sử dụng ở mỗi vùng đếu khác nhau, vùng dùng làm thực phẩm nhiều, vùng ép dầu nhiều, hay dùng vào mục đích khác Từ số liệu bảng cho thấy: Hạt lạc trên thế giới chủ yếu tiêu thụ qua con đường làm thực phẩm
và ép dầu Còn hạt lạc dùng vào mục đích khác số lượng không đáng kể Châu Mỹ, Châu Phi, Đông nam á, đông á, tây âu lạc dùng làm thực phẩm nhiều Châu Mỹ lạc dùng làm thực phẩm từ 35 đến 56%, châu Phi từ 48- 55%
Đông á và đông nam á tỷ lệ lạc làm thực phẩm 49-54% Còn tây Âu tỷ lệ dùng làm thực phẩm cao, từ 53 đến 95 % Vùng tây nam á tỷ lệ lạc làm thực phẩm rất thấp, chỉ 7- 8%, vùng này lạc dùng ép dầu với tỷ lệ cao 79 - 80% Lạc dùng vào mục đích khác rất thấp, tỷ lệ này trên thế giới thấp, chỉ từ 8 đến
10 % Có một điều là tất cảc các vùng trên thế giới lạc dùng làm thực phẩm
Trang 38tăng dần từ năm 1970 đến năm 2000, chỉ riêng vùng tây nam á tỷ lệ này không tăng Điều này một lần nữa khẳng định giá trị thực phẩm của lạc đối với đời sống con người [42]
Tố chức FAO cũng đ3 tính lượng tiêu thụ lạc/đầu người/trên ngày của các nước, để biết mức sử dụng lạc trực tiếp làm thực phẩm cho con người Số liệu cho thấy: Từ 2001 đến 2005, các nước châu Phi có lượng lạc tiêu thụ trên
đầu người lớn hơn các khu vực khác Các nước dùng nhiều Chad, cộng hoà trung Phi, Nigeria dùng từ 50-100g/người/ngày Trung Quốc, ấn Độ dùng ở mức thấp hơn, chỉ từ 15 đến 20 g/người/ngày Hoa Kì sử dụng chỉ trên 10 g/người/ngày Thế nhưng sử dụng lạc của Hoa Kì có xu thế tăng, năm 2001 là 10g/người/ngày, đến năm 2005 tăng đến 17g/người/ngày [FAO]
2.2.2 Sản xuất ở Việt Nam
Cây lạc là cây công nghiệp quí và quan trọng của Việt Nam Lạc được trồng rộng khắp từ Bắc vào Nam, với tên gọi khác nhau như: lạc, đỗ lạc, đậu phộng, đậu phụng…Cây lạc vào Việt Nam cụ thể thời gian nào, từ đâu đến, đó
là vấn đề chưa được làm sáng tỏ Theo tài liệu của Đặng Trần Phú (1977)[26],
đến thế kỉ XIX không có tài liệu nào của Việt Nam nói về cây lạc Ngay cả trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ” của Lê Quí Đôn (1726-1783), cũng không
đề cập đến cây lạc, mặc dù sách đ3 nói đến gần 100 loài cây trồng, cây hoang dại, cây lâm nghiệp Một điều nữa là, không có một người châu Âu nào đến Việt Nam thế kỉ XIX, nhắc đến cây lạc trong những tài liệu của họ Về ngôn ngữ, người Trung quốc gọi lạc là “Lạc hoa sinh” Rất có thể tên gọi lạc của Việt Nam là một cách gọi tắt rút gọn từ cách gọi trên trong tiếng Trung Quốc Vì vậy cây lạc vào Việt Nam theo con đường từ Trung Quốc hoặc do người Trung Quốc đưa từ nước ngoài vào còn là vấn đề chưa được sáng tỏ
Theo tài liệu của Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn (1979)[9], lịch sử cây lạc vào Việt Nam chưa được xác định rõ ràng Tên gọi “Lạc” ở Việt Nam có thể do từ Hán “Lạc hoa sinh” do người Trung Quốc gọi cây lạc Có thể cây lạc
Trang 39nhập vào nước ta từ Trung Quốc ở thế kỉ XVII – XVIII
Nguyễn Danh Đông (1984)[13], cho rằng: Việt Nam có giao lưu kinh tế, văn hoá với Trung Quốc từ lâu đời Việt Nam cũng giao lưu với Philipin, Malaisia, Indonesia, Việt Nam ở gần một trung tâm phân hoá cấp 2 của cây lạc, (trung tâm Philipin, Malaisia, Indonesia, các giống của Việt Nam chủ yếu thuộc nhóm Valencia và Spanish Từ thế kỉ XVI trở đi, nhiều nhà truyền giáo
và nhà buôn Tây ban nha, Bồ đào nha, Hà lan đ3 đến Việt Nam, nhất là đàng trong(từ Quảng Trị trở vào) Cho nên cây lạc nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc, hay từ phía Indonesia, Malaisia, Philipin, chúng ta còn chưa có đầy đủ chứng cứ lịch sử, ngôn ngữ, thư tịch để trả lời đầy đủ hơn câu hỏi trên Chúng
ta chỉ biết rằng lạc trở thành thực phẩm thông dụng lâu đời ở nhiều vùng Dầu lạc đ3 được các nhà sư và nhân dân dùng “ăn chay” thay mỡ lợn từ lâu rồi Cây lạc được trồng khắp nơi ở Việt Nam từ đồng bằng đến trung du, miền núi Ngay cả vùng khô hạn, vẫn có thể trồng lạc và cho thu hoạch, vùng này nếu đối với cây trồng khác đất phải bỏ hoá vì thiếu nước Trồng lạc hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn trồng lúa Ngoài thu nhập quả, lạc còn để lại cho đất nốt sần chứa đạm, lượng 10-14 tấn thân lá làm phân bón [36]
Nguyễn Hữu Quán[27], cho biết năm 1932 diện tích lạc của Việt Nam chỉ đạt 3800 ha Sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc chính phủ quan tâm tạo
điều kiện cho cây lạc phát triển Vì vậy năm 1961 diện tích trồng lạc của miền Bắc đạt khoảng 30 000ha với sản lượng xấp xỉ 30 000 tấn lạc quả Một số tỉnh miền Bắc có diện tích trồng lạc lớn lúc đó là Nghệ An (5500 ha), Thanh Hoá(3300 ha) Các tỉnh tỉnh Nam Định, Hưng Yên, có diện tích từ 1500 đến 1700ha Còn tại miền Nam, lạc trồng nhiều nhất là các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ng3i, Bình Địmh
Sản xuất lạc ở miền Bắc năm 1939 với 4 600 ha và 3400 tấn Đến năm
1955 diện tích lạc đ3 đạt 16 000 ha Năm 1965, tuy Miền bắc bị Mĩ đánh phá bằng không quân nhưng diện tích lạc đ3 đạt tới 51 982 ha, với sản lượng 46
Trang 40939 tấn Những năm 1970 ở miền Bắc lạc tập trung nhiều nhất ở vùng Thanh hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh Ngoài ra còn vùng lạc đồng bằng, trung du gồm chủ yếu Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định Nhìn chung thời kì này năng suất còn thấp, chỉ đạt trên dưới 10 tạ/ha [14] Có thể thấy rõ nét cơ bản quá trình phát triển của cây lạc ở Việt Nam từ năm 1961 đế 2001 Về diện tích năm 1961 có
59 600 ha, năm 2001 đạt 244 000ha, tăng 4 lần Như vậy diện tích trồng lạc của nước ta tăng 4 lần Điều đó càng minh chứng cho vai trò quan trọng của cây lạc đối với đời sống và kinh tế ở Việt nam Năng suất lạc của Việt nam năm 1961 chỉ đạt 979 kg quả khô/ha, mức rất thấp, đến 2001 đ3 đạt 1484 kg Năng suất tăng 1,5 lần [FAO] Điều đó chứng tỏ Việt Nam đ3 đẩy mạnh sản xuất lạc, đ3 dùng các giống năng suất cao, áp dụng các biện pháp kĩ thuật, bón phân, mật độ trồng, che tủ ninol, phòng trừ sâu bệnh tốt Đó là thành công
đáng ghi nhận của ngành trồng lạc ở Việt Nam Còn về sản lượng, Việt Nam
đ3 có bước nhảy rõ rệt Năm 1961 nước ta chỉ có 58 400 tấn, đến 2001 d3 đạt
363 000 tấn; tăng 6,2 lần Điều này đ3 đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu lạc nhiều nhất thế giới (nhiều năm đứng vị trí thứ 5 [42]
Những năm gần đây, có những thay đổi theo hướng mới Diện tích lạc của Việt Nam có tăng, nhưng tăng không nhiều, từ năm 2000 đến 2003 diện tích hầu như không tăng, đạt 244 nghìn ha, năm 2004- 2005 diện tích tăng chậm, đạt 260 nghìn ha Số liệu tại bảng 2.8 đ3 chỉ ra điều này
Tuy diện tích tăng chậm nhưng sản lượng đ3 tăng đáng kể, từ 360 nghìn tấn (2001) đến 489 nghìn tấn (năm 2005) Điều đó chứng tỏ năng suất lạc đ3 tăng đáng kể, từ 14 tạ/ha đến 18 tạ/ ha Như vậy, sản xuất lạc của nước
ta đ3 đi theo hướng thâm canh tăng năng suất, hướng đi tất yếu mà quốc gia nào cũng cần phải vươn tới để tạo ra sản lượng cao, trong khi việc mở rộng diện tích là có hạn