Khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và vỗ béo bò brahman nuôi tại tuyên quang
Trang 1-
nguyÔN thµNH nam
“Kh¶o s¸t mét sè chØ tiªu sinh s¶n vµ vç bÐo bß
Brahman nu«i t¹i Tuyªn Quang”
luËn v¨n th¹c sÜ n«ng nghiÖp
Chuyªn ngµnh : ch¨n nu«i M· sè : 60.62.40
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: ts bïI quang tuÊN
Hµ Néi - 2007
Trang 2
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đ/ đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn đ/ đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trang 3Lời cảm ơn
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc nhất tới TS Bùi Quang Tuấn, người hướng dẫn khoa học về sự giúp đỡ nhiệt tình và có trách nhiệm đối với tôi trong quá trình thực hiện
đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu nhà Trường
Đại học nông nghiệp I, khoa Sau đại học, khoa Chăn nuôi - Thuỷ sản và các Thầy Cô giáo trong Bộ môn Thức ăn - Vi sinh - Đồng cỏ đ/ giúp đỡ,
đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu và thực hiện
đề tài
Tôi xin cảm ơn Viện Chăn nuôi Quốc gia, TS Đinh Văn Tuyền và các anh chị đồng nghiệp bộ môn Nghiên cứu bò đ/ giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn Sở Nông ngiệp và PTNT tỉnh Tuyên Quang, Cục Thống kê tỉnh, Công ty Giống Vật tư Nông-Lâm nghiệp Tuyên Quang
và trại Giống gia súc Nông Tiến-x/ Nônng Tiến-thị x/ Tuyên tỉnh Tuyên Quang
Quang-Cuối cùng tôi muốn dành lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè và người thân đ/ động viên tạo điều kiện thuận lợiđẻ tôi thực hiện luận văn này
Trang 4môc lôc
Trang 54.2.1 Tình hình phát triển chung 47
4.3.2 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của đàn bê Brahman đỏ sinh ra
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
LMLM Lë måm long mãng
Trang 7Danh môc b¶ng
Trang 81 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi bò sữa, bò thịt ở nước ta đ/ trải qua hơn 50 năm Cho
đến nay đây là một ngành rất quan trọng trong phát triển kinh tế, x/ hội ở Việt Nam Xuất phát từ yêu cầu tiêu thụ thịt bò, để từng bước cải tạo cho đàn bò thịt Việt Nam, từ những năm 1970 các giống bò Droughtmaster, Brahman, Zebu,… đ/ được nhập để phục vụ chương trình lai tạo
Trong thời gian gần đây do nhu cầu tiêu thụ thịt bò chất lượng cao trong nước tăng lên, nhiều địa phương đ/ nhập một lượng khá lớn bò thịt Từ khi có quyết định ngày 26/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp khuyến khích phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt thì ngành kinh tế này có bước phát triển vượt bậc cả về tổng đàn, năng suất và chất lượng thịt, sữa Cho
đến nay cả nước có 6,5 triệu con bò, trong đó bò địa phương chiếm 74% và bò Laisind khoảng 26% (Cục Chăn nuôi, 2006)[5]
Đàn bò địa phương của chung ta chủ yếu là bò Vàng, chúng có tính thích nghi tốt với điều kiện khí hậu Việt Nam, chịu được điều kiện kham khổ Tuy vậy chúng lại có nhược điểm là tầm vóc nhỏ, năng suất thấp Do đó việc lai tạo để cải tạo tầm vóc cho đàn bò địa phương là rất cần thiết và quá trình này vẫn đang diễn ra liên tục trong những năm qua
Bò Laisind có tầm vóc to hơn bò Vàng Việt Nam nhưng nhìn chung tỷ
lệ thịt vẫn thấp hơn so với các bò chuyên thịt trên thế giới Chính vì vậy mà những năm gần đây, khi kinh tế Việt Nam có những bước tiến đáng kể do đó nhu cầu về thịt bò chất lượng cao ngày càng tăng thì một số địa phương đ/ bắt
đầu nhập đàn bò thịt về nuôi thử nghiệm
Trong tổng số bò thịt thuần đ/ được nhập về nuôi tại Việt Nam ước tính
Trang 9khoảng 5000 con thì Tuyên Quang cũng đ/ nhập về nuôi tại tỉnh là 863 bò cái Brahman: trong đó có 105 bò cái Brahman trắng và 758 bò cái Brahman đỏ Tuyên Quang là một tỉnh chưa có những kinh nghiệm và hiểu biết về chăn nuôi bò sữa cung như bò thịt Do đó cho đến nay chương trình bò sữa và bò thịt của tỉnh đ/ gặp rất nhiều khó khăn
Để đánh giá khả năng thích nghi, phát triển của đàn bò Brahman nhập nội tại Tuyên Quang chúng tôi tiến hành đề tài:
“Khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và vỗ béo bò Brahman nuôi tại Tuyên Quang”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
Mục đích của đề tài là nhằm đánh giá khả năng sinh sản và vỗ béo bò Brahman nuôi tại tỉnh Tuyên Quang
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
Các số liệu thu được phải khách quan và có ý nghĩa thực tiễn Chúng có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu khoa học và sản xuất thực tiễn
Trang 102 Tổng quan tài liệu
2.1 Tình hình chăn nuôi bò thịt ở việt Nam
2.1.1 Tăng trưởng đầu con
Dân số Việt Nam trên 80 triệu người, đời sống của nông dân ở các vùng nông thôn hầu hết dựa vào lao động sản xuất các sản phẩm từ nông nghiệp Chăn nuôi trâu bò gắn liền với nghề trồng lúa nước và có vai trò quan trọng
đối với nền sản xuất nông nghiệp Khoảng 30% thu nhập của người nông dân
là từ chăn nuôi Chăn nuôi bò không những cung cấp phân bón, sức kéo mà nó còn là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng và nguồn đạm cho x/ hội
Tổng đàn bò của Việt Nam hiện nay khoảng 6,5 triệu con, trong đó bò Laisind chỉ chiếm khoảng 26% còn lại là bò vàng địa phương Trong cơ cấu của đàn bò vàng địa phương thì khoảng 45% là sử dụng cày kéo Ngày nay cơ khí nhỏ trong nông thôn đang dần thay thế cho sức kéo của trâu bò, vì vậy số lượng, cơ cấu và mục đích sử dụng của đàn bò cũng sẽ thay đổi theo việc cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp Trong những năm qua do nhu cầu ngày càng cao của x/ hội về thịt, trứng, sữa nên chăn nuôi bò cũng có nhiều cơ hội tốt để phát triển và tăng trưởng về số lượng đàn bò về chất lượng giống Năm
2000 tổng đàn bò của cả nước là 4,13 triệu con, đến năm 2001 tổng số bò đạt 3,89 triệu con giảm 0,24 triệu con so với năm 2000, như vậy tốc độ tăng trưởng là -5,74% Đến năm 2005 số lượng đàn bò của cả nước đạt 5,54 triệu con, tăng 12,83% so với năm 2004 (4,91 triệu con) Trung bình tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001-2005 đạt 6,29% Sự tăng trưởng mạnh về số lượng và chất lượng đàn bò này có lẽ cũng xuất phát từ quyết định ngày 26/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt Ngoài ra Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp phát triển, nguồn phụ
Trang 11phẩm phong phú và đa dạng Do đó nó là một nguồn lớn thức ăn cho chăn nuôi gia súc
2.1.2 Số lượng và tốc độ tăng đàn
Hiện nay đ/ có tới 15 tỉnh tham gia dự án phát triển giống bò thịt chất lượng cao Hàng nghìn bò thịt giống cao sản đ/ được nhập về nước trong nhưng năm vừa qua nhằm đáp ứng nhu cầu giống phát triển chăn nuôi bò của nhân dân Sự tăng trưởng của đàn bò tương đối tốt chỉ có vùng đông bắc là dưới 1% Vùng đồng bằng sông Hồng và đồng băng sông Cửu Long có tốc độ tăng trưởng bò nhanh nhất với tỷ lệ tương ứng là 19,22% và 25,05% năm Qua
đó ta thấy được sự thích nghi về các điều kiện tự nhiên cũng như sự hiểu biết
về khoa học kỹ thuật và lĩnh vực chăn nuôi của vùng này (Cục Chăn nuôi)[5]
ở khu vực miền Bắc năm 2001 tổng đàn bò thịt là 2029909 con, chiếm 51,82% tổng đàn bò cả nước ở khu vực miền Nam tổng đàn bò thịt là
1869774 con, chiếm 48,18% đàn bò cả nước Đến năm 2005, tổng đàn bò miền Bắc 2696412 con, chiếm 48,67% và khu vực miền Nam đạt 2844288 con, chiếm 51,33% Trong cả giai đoạn 2001-2005 thì tốc độ tăng đàn của miền Bắc chỉ đạt 7,36% còn khu vực miền Nam đạt tốc độ cao hơn 11,06%
Trong những năm qua ở khu vực miền Bắc chỉ có vùng Đồng bằng sông Hồng có tốc độ tăng đàn mạnh nhất đạt 19,22% Vùng có tốc độ tăng đàn thấp nhất đó là vùng đông Bắc Còn lại các vùng khác có tốc độ tăng đàn tương đối bằng nhau ở khu vực miền Nam có tốc độ tăng đàn cao hơn (trung bình 11,06%) Vùng có tốc độ tăng đàn cao nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long (25,05%) và vùng có tốc độ tăng đàn thấp nhất là vùng Duyên hải miền Trung (6,86%) (Cục Chăn nuôi, 2005)[5]
Qua đó ta thấy được sự tăng đàn mạnh chủ yếu ở những vùng có nguồn thức ăn dồi dào
Trang 122.1.3 Phân bố đàn bò theo vùng
Sự phân bố của đàn bò trong cả nước cũng có phần tương đương nhau: miền Bắc trên 48% và miền Nam chiếm trên 51% tổng đàn Bò là loài gia súc nhai lại dễ thích nghi với các vùng sinh thái khác nhau, khả năng lợi dụng thức ăn xanh tốt Phụ phẩm của nông nghiệp có thể làm nguồn dự trữ thức ăn rất tốt cho chúng, nó có thể đóng vai trò quyết định đến hiệu quả chăn nuôi ở vùng núi phía Bắc, nơi đây có các điều kiện về tự nhiên thuận lợi cho việc chăn nuôi trâu hơn là bò Do vậy tổng đàn ở vùng tây bắc chỉ chiếm 4% tổng đàn trong cả nước ở Vùng Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ
có các điều kiện tự nhiên phù hợp hơn với chăn nuôi bò thịt do đó nó chiếm một lượng khá lớn đàn bò cả nước (38%)
Tại miền Bắc sự phân bố đàn bò thịt ở các vùng không đồng đều nhau Năm 2005, vùng Đồng bằng sông Hồng có tốc độ tăng đàn mạnh (19,22%) nhưng sự phân bố đàn bò không cao chỉ chiếm 12,38% so với tổng số bò bò của cả nước Tại vùng Đông Bắc, tốc độ tăng đàn thấp nhất cả nước (0,3%/năm) nhưng sự phân bố của đàn bò đạt ngang bằng với vùng Đồng băng sông Hồng (12,19%/năm) Vùng có sự phân bố đàn bò thấp nhất là vùng Tây Bắc (4,05%)
ở miền Nam, tuy vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tốc độ tăng đàn cao (25,05%/năm) nhưng sự phân bố của đàn bò là thấp nhất (9,71%) Nơi có
sự phân bố đàn bò thịt nhiều nhất là vùng Duyên hải miền Trung (18,18%),
đứng thứ hai cả nước sau vùng Bắc trung bộ (20,05%) Tuy vậy sự phân bố
nuôi, 2005)[5]
2.1.4 Cơ cấu các giống bò và một số chỉ tiêu sản xuất
Trang 13khối lượng trưởng thành nhỏ, sinh trưởng chậm., khối lượng trung bình con đực là 180-200kg và con cái từ 150-160kg Bò vàng có tỷ lệ thịt xẻ thấp khoảng 43-44% so với trọng lượng sống
Sahiwal và Brahman, chúng được tạo ra bằng sử dụng tinh bò đực Zêbu cho lai với bò cái địa phương Bò lai hướng thịt có tốc độ tăng trọng và sinh trưởng nhanh, có trọng lượng trưởng thành từ 250-290kg và tỷ lệ thịt
xẻ cao dao động từ 49-50%
với giống bò Vàng (cao hơn từ 70-110 kg) Khối lượng bê sơ sinh của bò Vàng chỉ đạt 14 kg/con, khối lượng bê sơ sinh của các giống lai cao hơn rất nhiều: bê lai Redsindhi 20,1 kg/con; bê lai Brahman 23 kg/con; bê lai Sahiwal là 22 kg/con Trong khi đó giống thuần Zebu có khối lượng bê sơ sinh là 27 kg/con ở 12 tháng tuổi bò Vàng đạt khối lượng 85kg/con, trong khi đó các giống lai Redsindhi; lai Sahiwal; lai Brahman có khối lượng tương ứng là 120kg/con, 160 kg/con và 165 kg/con Bò Zebu thuần
ở cùng độ tuổi đạt 210 kg/con Sản lượng sữa của các giống bò lai đều cao hơn so với bò Vàng (400 kg/con/chu kỳ) Bò lai Redsindhi có sản lượng sữa đạt 1000kg/con/chu kỳ ngang bằng với bò Zebu thuần (1000kg/con/chu kỳ) Trong các giống này có bò lai Sahiwal cho sản lượng sữa cao nhất: 4000 kg/con/chu kỳ
Tỷ lệ thịt xẻ của bò Vàng đạt 44,2%, bò lai Redsindhi, lai Sahiwal và lai Brahman có tỷ lệ thị xẻ xấp xỉ bằng nhau tương ứng là 49,6%,49,5% và
Chăn nuôi, 2005)[5]
Trang 14Ninh Bình, Thanh Hoá, Bình Định, Khánh Hoà, Lâm Đồng và Tp Hồ Chí Minh Bò Zêbu thuần dễ thích nghi với điều kiện khí hậu của nước ta, bò có khối lượng trưởng thành 400-450kg, tỷ lệ thịt xẻ 49-50% Bò Zêbu thích hợp với hình thức bán chăn thả và tỷ lệ thụ thai bằng thụ tinh nhân tạo thấp thường dẫn đến kết quả là khoảng cách giữa hai lứa đẻ dài
Australia nhập vào nước ta khoảng 3000 con, đang được nuôi tại Tuyên Quang, công ty bò sữa Tp Hồ Chí Minh, một số địa phương khác như Bà Rịa-Vũng Tàu, Thừa Thiên Huế, Bình Dương và Cần Thơ, Lâm Đồng,… Kết quả bước đầu cho thấy giống bò thịt cao sản này có khả năng thích nghi với điều kiện thời tiết và khí hậu của nước ta Tuy nhiên vấn đề phối giống bằng thụ tinh nhân tạo và chăn nuôi tập chung trong điều kiện thiếu b/i chăn thả đ/ dẫn
tỷ lệ thụ thai thấp, tuổi đẻ lứa đầu cao
Trang 15Tổng sản lượng thịt hơi của nước ta trong những năm qua tăng lên rõ rệt nên sản lượng thịt hơi bình quân/người/năm tăng từ 25,3kg năm 2001 lên 34,29kg và năm 2005, trong đó tỷ lệ thịt bò chiếm tỷ lệ rất thấp tương ứng là 5,03% và 5,05% cho các năm 2001 và 2005
Sản phẩm chăn nuôi bình quân đầu người của nước ta có tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 8,8% Tuy nhiên bình quân mức tiêu thụ thịt của Việt Nam hiện nay 2005 vẫn ở mức thấp so với một số nước trong khu vực và một
số nước châu á Trung Quốc bình quân mức tiêu thụ thịt, trứng, sữa tương ứng
là 63,8kg thịt/người, 300 quả trứng và 10,5 lít sữa; chỉ tiêu này của Thái Lan
là 43kg thịt, 140 quả trứng và 25 lít sữa (12kg sản xuất trong nước); còn Malaysia bình quân 49,7kg thịt/ người/năm
2.2 Sinh sản của bò và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản
2.2.1 Một số chỉ tiêu năng suất sinh sản
Sinh sản là hiện tượng đầu tiên của sự sống, quá trình sinh sản là một hiện tượng tự nhiên, nhưng cũng là quá trình sinh học hết sức phức tạp và chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Sinh vật muốn duy trì, ổn định và phát triển nòi giống cần quá trình sinh sản
Trong chăn nuôi, sinh sản không những để duy trì nòi giống, mà còn để tạo ra sản phẩm Con người đ/ lợi dụng quá trình sinh sản của vật nuôi để khai thác các sản phẩm (sữa, trứng, con giống, …) phục vụ nhu cầu cuộc sống Vì vậy, sinh sản là một trong những tình trạng được chú ý cải tạo, nó
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Một số chỉ tiêu chính đánh giá khả năng sinh sản của bò:
2.2.1.1 Tuổi phối giống lần đầu
Thành thục về tính thường đến sớm hơn về thể vóc, bò có thể thành thục
Trang 16giống lần đầu quá sớm sẽ ảnh hưởng đến khối lượng bê sinh ra, kìm h/m sự phát triển về thể vóc nói chung và tuyến vú nói riêng, vì vậy ảnh hưởng tới khả năng sản xuất sữa và sản lượng sữa của cả đời bò, thậm chí ảnh hưởng tới cả tuổi sử dụng của bò cái Chỉ phối giống cho bò hậu bị khi chúng đạt 65-70% khối lượng cơ thể lúc trưởng thành, chỉ tiêu này do người chăn nuôi quyết
định
Theo Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm (2004)[37] tuổi phối giống lần đầu của bò Vàng Việt Nam vào khoảng 20-24 tháng Nghiên cứu của Tăng Xuân Lưu (1999)[15] trên đàn bò lai hướng sữa ở Ba Vì, thì tuổi phối giống lần đầu khá cao của F1 là 26,4 tháng, F2 là 27,4 tháng Nghiên cứu của Vũ Văn Nội và cộng sự (2001) trên đàn bê lai hướng sữa F2, F3 nuôi trong hộ gia
đình có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khá ở Thành Phố Hồ Chí Minh và Ba Vì cho kết quả: ở Ba vì tuổi phối giống lần đầu từ 16,6 đến 18,6 tháng, ở Thành Phố Hồ Chí Minh từ 14,8 đến 15,8 tháng tuổi (dẫn theo [24]) Theo
Đinh Văn Cải (2005)[3] bò cái Droughtmaster thuần nuôi tại Bến Cát thì tuổi phối giống lần đầu dao động từ 16,7 đến 27,67 tháng Bò Brahman trắng thế
hệ II sinh ra và nuôi tại Bình Định có tuổi phối giống lần đầu là 25,17 tháng Như vậy điều kiện môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng có ảnh hưởng đến tuổi phối giống lần đầu
2.2.1.2 Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi đẻ lứa đầu là một chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật quan trọng, phản ánh thời gian đưa con vật vào khai thác sớm hay muộn Thông thường, tuổi đẻ lứa
đầu của bò lai hướng sữa Hà-ấn F1, F2, F3 vào khoảng 27-28 tháng tuổi Tuổi
đẻ lứa đầu chủ yếu phụ thuộc vào tuổi thành thục (cả về tính và về thể vóc),
đồng thời vào việc phát hiện động dục và kỹ thuật phối giống (Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, Lê Văn Ban, 2004)[38]
Tuổi đẻ lứa đầu là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản
Trang 17của gia súc cái, là thước đo sức tái sản xuất của từng cá thể Tuổi đẻ lứa đầu càng ngắn thì vật nuôi càng sớm tạo ra sản phẩm cho x/ hội, tuổi đẻ lứa đầu quá muộn sẽ có nhiều trường hợp đẻ khó gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào yếu tố di truyền, ngoại cảnh: chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng bê, khí hậu và khả năng sinh trưởng và phát dục của giống,… Vì vậy nó là tính trạng phản ánh đặc điểm sinh lý sinh sản của từng giống, cũng như đặc điểm của môi trường sống và quá trình chọn lọc Vì thời gian mang thai của bò ít biến đổi nên tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi phối giống lần đầu có chửa Tuổi đẻ lứa đầu của giống bò lai có khuynh hướng tăng dần theo sự gia tăng tỷ lệ máu bò ôn đới Các tác giả như Trần Do/n Hối, Nguyễn Văn Thiện (1979)[15], Trần Trọng Thêm (1986)[39] cho rằng tuổi lứa đầu của các thế hệ bò lai giữa HF với bò Laisind ở Việt Nam từ 32,7-45,8 tháng Tăng Xuân Lưu (1999)[16] nghiên cứu trên đàn bò lai hướng sữa ở Ba Vì thông báo tuổi đẻ lứa đầu của bò F1 là 38,47, F2 là 38,87 tháng Theo Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm (2004)[37] thì tuổi đẻ lứa đầu của bò lai F1, F2, F3 Hà -
ấn vào khoảng 27 – 28 tháng Trong khi đó Nguyễn Quốc Đạt (1998) [12] nghiên cứu trên đàn bò sữa lai (HF X Laisind) nuôi ở Thành phố Hồ Chí Minh cho biết tuổi đẻ lần đầu của F1 là 26,8 tháng, F2 là 27,17 tháng và F3 là 26,88 tháng Mai Thị Thơm (2004)[27] nghiên cứu trên đàn bò lai (Laisind x HF) ở x/ Vĩnh Thịnh huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc cho kết quả tuổi đẻ lứa đầu của F1 là 31,60 tháng và F2 là 30,30 tháng Như vậy tỷ lệ máu HF trong con lai không ảnh hưởng đến tuổi đẻ lứa đầu, kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy: tuổi đẻ lứa đầu của con lai (HF x Laisind) muộn hơn so với bố, mẹ chúng và có khoảng biến thiên khá rộng
Đinh Văn Cải (2005)[3] cho biết tuổi đẻ lứa đầu của bò cái tơ Brahman trắng gốc Cuba thế hệ II nuôi tại Bình Định là 36,29 tháng với tuổi động dục lần đầu là 24,3 tháng tuổi Còn đối với bò cái sinh sản Droughtmaster thuần
Trang 182.2.1.3 Khoảng cách lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ là một trong những chỉ tiêu chính đánh giá khả năng sinh sản Độ dài thời gian mang thai là một hằng số sinh lý và không thể rút ngắn được Cho nên khoảng cách lứa đẻ chủ yếu do thời gian có chửa lại sau khi đẻ quyết định
Bò thời gian mang thai thường ổn định trong khoảng 270-285 ngày, thông thường chu kỳ khai thác sữa là 10 tháng, thời gian cạn sữa là 2 tháng, do vậy khoảng cách lứa đẻ lý tưởng là 12 tháng Tuy nhiên trong thực tế do nhiều nguyên nhân như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, đặc điểm phẩm giống, thời gian động dục trở lại sau khi đẻ, kỹ thuật phối giống, vắt sữa, cạn sữa… làm cho khoảng cách lứa đẻ thường kéo dài 390 – 420 ngày hoặc hơn (Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, 2004)[37] Khoảng cách lứa đẻ kéo dài ảnh hưởng đến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, tới tổng sản lượng sữa và số bê con sinh ra trong một đời gia súc
Sadar và cộng tác viên (CTV)(1967) (dẫn theo [39]) đưa ra chỉ tiêu đánh giá năng suất bò cái bằng khoảng cách giữa hai lứa đẻ: bò có khoảng cách giữa hai lứa đẻ K < 410 ngày là rất tốt, K = 410 – 460 ngày là tốt, K > 461 là không tốt
Trần Trọng Thêm (1986)[39] nghiên cứu trên đàn bò sữa lai Hà - ấn ở nông trường Phù Đổng từ 1978-1986, cho biết khoảng cách giữa hai lứa đẻ của bò F1 (1/2HF) là 503 ± 33,77 ngày, bò F2 (3/4HF)là 539 ± 41,14 ngày và
bò 11/16HF là 539 ± 37,14 ngày Trong khi đó, cùng đàn bò này (bò Hà - ấn ở Nông trường Phù Đổng) vào những năm 1974-1978 do điều kiện thức ăn tốt hơn, khoảng cách lứa đẻ của chúng là 411-475 ngày Nguyễn Xuân Trạch (2003)[21] cho biết khoảng chác giữa hai lứa đẻ của đàn bò sữa lai HF nuôi tại Phù Đổng ngắn nhất ở bò F1 là 475,6 ngày, sau đến bò F2 là 480,3 ngày và dài nhất ở bò F3 là 497,8 ngày Mai Thị Thơm (2004)[26] nghiên cứu trên đàn
Trang 19bò lai (HF x Laisind) ở Vĩnh Thịnh cho biết khoảng cách giữa hai lứa đẻ ở bò F1 là 466,27 ngày, ở bò F2 là 492,23 ngày; khoảng cách lứa đẻ ở bò F1 ngắn hơn ở bò F2 và sự khác nhau giữa chúng có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) Như vậy khi lai cấp tiến giữa bò sữa ôn đới với bò nhiệt đới thì khoảng cách lứa đẻ gia tăng theo tỷ lệ máu bò ôn đới trong con lai Cùng một phẩm giống lai, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng kém làm kéo dài khoảng cách lứa đẻ
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quốc Đạt (1998)[12] trên đàn bò lai (HF x Laisind) ở Thành phố Hồ Chí Minh cho biết hệ số phối giống của con lai có khuynh hướng tăng dần theo tỷ lệ gia tăng máu bò ôn đới Hệ số phối giống thấp nhất ở bò F1 (1/2HF) là 1,68; sau đó đến bò F2(3/4HF) là 1,94 và cao nhất ở F3(7/8HF) là 2,07, sự khác biệt giữa các phẩm giống là rõ rệt Hệ
số phối giống trung bình của các phẩm giống là 1,81 Mai Thị Thơm
Trang 20phù hợp với khuynh hướng trên nhưng cao hơn, hệ số phối giống của F1 là 2,13 và F2 là 2,37; giữa chúng có sự sai khác (P < 0,05)
Balain và Raheja (1990)[43] nghiên cứu trên bò sữa lai giữa bò ôn đới với bò Zebu ở ấn Độ nhận thấy hệ số phối giống tăng dần theo sản lượng sữa chu kỳ (từ 2,32 ± 0,14 đến 2,63 ± 0,19), giảm dần theo lứa sữa (từ 2,74± 0,11
ở lứa 1 xuống 2,27 ± 0,13 ở lứa 5) Hệ số phối giống ở con lai ba giống (2,04
± 1,19 – 2,39 ± 0,18) cao hơn con lai hai giống (2,11 ± 0,14 – 2,19 ± 0,13), ở
bê tơ (1,4 ± 0,16 – 1,57 ± 0,13) thấp hơn ở bò sữa (2,11±0,14 – 2,4 ± 0,12) Theo Đinh Văn Cải (2005)[3] thì bò cái Droughtmaster thuần tại Bến Cát
có hệ số phối đậu là 2,62, bò cái sinh sản Brahman trắng nguồn gốc Cu Ba có khối lượng trung bình 422kg Tỷ lệ đẻ bình quân năm 58,54% với hệ số phối đậu
là 1,84 Cũng theo Đinh Văn Cải (2005)[3] thì hệ số phối đậu của bò cái sinh sản Brahman trắng Cuba nuôi tại trại An Phú Củ Tri là 1,4 Bò bahman trắng thế hệ 1 nuôi tai Bình Định có hệ số phối đậu cũng đạt là 1,74
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sức sinh sản của trâu bò cái
2.2.2.1 Đặc điểm bẩm sinh
Các giống khác nhau và ngay cả các cá thể thuộc cùng một giống cũng
có khả năng sinh sản khác nhau Tuy nhiên hệ số di truyền về khả năng sinh sản rất thấp, nên sự khác nhau về sinh sản chủ yếu là do ngoại cảnh chi phối thông qua tương tác với cơ sở di truyền của từng giống và cá thể Những giống hay cá thể có khả năng thích nghi cao với khí hậu, chống đỡ bệnh tật tốt trong một môi trường cụ thể sẽ cho khả năng sinh sản cao hơn Các cố tật bẩm sinh, nhất là cố tật về đường sinh dục, sẽ hạn chế hay làm mất khả năng sinh sản 2.2.2.2 Nuôi dưỡng
Nuôi dưỡng ảnh hưởng đến sinh sản của bò trên những khía cạnh sau:
- Mức dinh dưỡng: Cung cấp nhiều hay ít quá các chất dinh dưỡng đều
Trang 21ảnh hưởng không tốt đến khả năng sinh sản của bò cái Nuôi dưỡng thấp với
bò cái tơ sẽ kìm h/m sinh trưởng nên chậm đưa vào sử dụng và giảm khả năng sinh sản về sau Thiếu dinh dưỡng đối với bò trưởng thành sẽ kéo dài thời gian hồi phục sau khi đẻ Hơn nữa dinh dưỡng thiếu gia súc sẽ gầy yếu,
dễ bị mắc bệnh tật nên sẽ giảm khả năng sinh sản Ngược lại, nếu dinh dưỡng cao quá, nhất là quá nhiều gluxit sẽ làm cho con vật quá béo, buồng trứng tích mỡ nên giảm hoạt động chức năng
Loại hình thức ăn: Thức ăn kiềm tính thích hợp cho sự phát triển của hợp
tử và bào thai Thức ăn toan tính làm giảm tỉ lệ thụ thai do các yếu tố tao a-xit cao nên gây ra sự nghèo kiềm một mặt do sự mất cân đối trong bản thân thức
ăn, mặt khác kiềm bị cơ thể thải ra ngoài cùng với các yếu tố tạo axít thừa dưới dạng muối, gây toan huyết, không thích hợp cho sự hình thành hợp tử
khẩu phần có ảnh hưởng sâu sắc và nhiều mặt tới hoạt động sinh sản của con cái Ví dụ, thừa P sẽ tạo photphat Ca, Na, K thải ra ngoài dẫn tới mất kiềm, toan huyết Ngược lại nếu thiếu P sẽ ảnh hưởng xấu đến cơ năng buồng trứng: buồng trứng nhỏ lại, no/n bao ít, sau khi đẻ thường chỉ động dục lại 1-2 lần, nếu không phối kịp thời thì phải đến sau khi cạn sữa mới
động dục lại Bò sữa cao sản dễ bị thiếu P
2.2.2.3 Chăm sóc quản lý
Nếu chăm sóc quản lý không tốt để gia súc gầy yếu, sẩy thai, mắc các bệnh, đặc biệt là các bệnh sản khoa sẽ làm giảm khả năng sinh sản Bỏ qua các chu kỳ động dục không phát hiện được, phối giống không đúng kỹ thuật, không có sổ sách theo dõi, cho phối giống đồng huyết v.v là những nhân tố
ảnh hưởng trực tiếp đến sinh sản của bò
Trang 222.2.2.4 Bệnh tật
Các bệnh đường sinh dục, sẩy thai truyền nhiễm, kí sinh trùng đường sinh dục, bệnh buồng trứng, tử cung v.v đều là những bệnh nguy hiểm ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản
2.2.2.5 Phẩm chất tinh dịch và kỹ thuật dẫn tinh
Tinh dịch quá lo/ng hay phẩm chất kém sẽ làm giảm khả năng thụ thai Trình độ phối giống của dẫn tinh viên, phương pháp phối giống đều có ảnh hưởng trực tiếp tỉ lệ thụ thai và sinh sản nói chung
2.2.2.6 Các nguyên nhân kinh tế-xO hội
Giá cả bê giống, chế độ cho người làm công tác dẫn tinh, chính sách khuyến khích của Nhà nước đều có ảnh hưởng tới tỉ lệ sinh sản của trâu bò Ngoài ra một số yếu tố khác như phương pháp chọn phối, tuối gia súc, thời tiết-khí hậu, mức độ làm việc (đối với bò lao tác), tinh thần trách nhiệm của người chăn nuôi đều có ảnh hưởng đến sinh sản của đàn gia súc
2.3 Quy luật phát triển không đồng đều ở bê nghé
2.3.1 Sự phát triển của cơ quan tiêu hoá
Lúc sơ sinh các dạ trước rất nhỏ, chứng tỏ sự phát triển chậm của chúng trong giai đoạn tử cung Trái lại, dạ múi khế có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cũng như tương đối đều cao trong giai đoạn tử cung Sau khi sinh sự phát triển ngược lại hẳn; dạ trước tăng khoảng 100-120 lần, trong khi đó dạ khế chỉ tăng 4-8 lần
Trong 1-2 tháng tuổi đầu dạ khế tăng trưởng rất nhanh và tuỳ thuộc vào lượng sữa nhiều hay ít Lượng sữa càng nhiều thì dạ khế phát triển càng nhanh Tháng thứ 3-4 dạ dày trước phát triển mạnh và cũng tuỳ thuộc vào loại thức ăn Tập ăn thức ăn thô sớm và nhiều thì dạ cỏ phát triển càng nhanh Sự
Trang 23thay đổi tương đối giữa dạ cỏ và dạ khế qua các tuần tuổi của bê như sau:
đến 18 tháng tuổi thể trọng bê tăng 16 lần, khối lượng xương tăng 8,7 lần, còn cơ tăng 18,6 lần Các phần khác nhau của mô xương cũng có đặc điểm phát triển riêng Trước khi sinh xương ngoại vi phát triển mạnh hơn xương trục làm cho bê phát triển chiều cao và chiều rộng, nhưng chiều dài chưa phát triển Ngược lại sau khi sinh hệ xương trục phát triển mạnh làm cho cơ thể dài ra Mô cơ phát triển mạnh ở 12-14 tháng tuổi đầu Sau đó cường độ sinh trưởng và tăng trọng tuyệt đối của mô cơ giảm Mô mỡ được tích luỹ trong cơ thể ở độ tuổi muộn hơn
2.3.3 Trao đổi chất
Cơ thể non có cường độ tổng hợp protein mạnh Tuổi càng tăng thì khả năng này giảm xuống cùng với sự thay đổi cơ cấu của các loại protein: ở con vật non nucleoproteit chiếm tỷ trọng lớn, khi tuổi tăng lên cơ thể tích luỹ nhiều các proteit có chức năng đặc hiệu với khả năng tự đổi mơí thấp Độ tuổi càng cao mỡ chiếm chủ yếu trong thành phần tăng trọng Các giống sớm thành thục mỡ sớm tích luỹ hơn
Trang 24Theo tuổi thì khối lượng tuyệt đối của bộ xương tăng lên nhưng tốc độ phát triển tương đối thì giảm xuống, và tỷ trọng của bộ xương trong thân thịt giảm Trong thời kỳ phát triển thì cường độ phát triển của xương trục mạnh hơn xương ngoại vi làm cho cơ thể phát triển theo chiều dài nhanh hơn chiều rộng, chiều cao
Nếu tính theo khối lượng cơ thể thì khi sơ sinh bộ xương chiếm 22,73%, 18 tháng là 11,7% và 5 năm là 9,9% Như vậy trong giai đoạn từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi, đặc biệt là trước 14 tháng tuổi thì xương sinh trưởng nhanh
2.4.1.2 Mô cơ
Giá trị của thân thịt tăng lên khi tỷ lệ cơ trong đó tăng Trong cơ thể trâu bò sự phát triển của hệ cơ có liên quan đến sự phát triển của hệ xương Trong thời kỳ thai hệ cơ tứ chi phát triển mạnh, còn cơ xương trục phát triển chậm, còn thời kỳ ngoài thai thì ngược lại Nhìn chung hệ cơ phát triển nhất trong 6 tháng đầu, sau đó giảm dần và đặc biệt là sau 18 tháng thì tốc độ phát triển của cơ rất chậm
Thành phần tổ chức học và hoá học của cơ cũng thay đổi trong quá trình phát triển Chiều dài và đường kính sợi cơ tăng lên, nước trong cơ giảm làm thịt giảm độ mềm và mịn
Trang 25đặc biệt là khi vỗ béo
Tuỳ theo mức độ phát triển mà thứ tự tích luỹ mỡ cũng có thứ tự rõ ràng Lúc đầu mỡ tích luỹ ở nội tạng và giữa các lớp cơ, sau đó ở dưới da và đến cuối kỳ vỗ béo và ở gia súc già mỡ tích luỹ ở trong cơ
Khi dinh dưỡng thiếu mỡ được huy động trước tiên ở dưới da và nội tạng Trong các loại mỡ trên thì mỡ nội tạng ít có giá trị thực phẩm
Thành phần hoá học của mỡ thay đổi: nước giảm dần và mỡ thuần tăng lên, màu mỡ chuyển từ trắng sang vàng (do tăng dự trữ caroten)
2.4.1.4 Mô liên kết
Thành phần cơ bản của các mô liên kết là các protein có giá trị dinh dưỡng thấp và làm cho thịt cứng Nếu mô liên kết quá ít thì làm cho thịt nh/o, nhưng nếu quá nhiều sẽ làm giảm giá trị dinh dưỡng của thịt
So với các mô khác thì mô liên kết phát triển trong thời gian kéo dài nhất Thịt trâu bò cái giống sớm thành thục và con lai của chúng chưa ít mô liên kết hơn những con cùng tuổi của các giống khác Gia súc già không được vỗ béo thoả đáng và gia súc nuôi dưỡng kém có tỷ lệ mô liên kết cao làm giảm giá trị thực phẩm của thịt
Trang 262.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng suất thịt
2.4.2.1 Khối lượng bò
Bò thịt trước khi giết mổ phải để nhịn đói 12-24 giờ Cân khối lượng bò trước khi giết mổ bằng các loại cân thích hợp Trong trường hợp không có cân (hoặc khó cân) có thể xác định khối lượng hơi của bò thông qua đo đạc một
số chiều đo (vòng ngực, dài thân chéo) rồi tính toán theo một số công thức nhất định tuỳ theo giống và thể trạng của bò Tuy nhiên, việc xác định khối lượng bằng cách đo thường kèm theo sai số khá lớn
2.4.2.2 Khối lượng và tỷ lệ thịt xẻ
Khối lượng thịt xẻ là khối lượng cơ thể bò sau khi đ/ lọc da, bỏ đầu (tại xương át lát), phủ tạng (cơ quan tiêu hoá hô hấp, sinh dục vầ tiết niệu, tim) và bốn vó chân (từ gối trở xuống)
Những thành phần chính của thịt xẻ là xương, thịt và mỡ Những nhân tố
ảnh hưởng đến thành phần của thịt xẻ là tính biệt, giống và nuôi dưỡng
Tỷ lệ thịt xẻ rất quan trọng đối với sản xuất khi bán gia súc sống vì người mua cần biết để ước tính khối lượng thịt xẻ từ khối lượng sống của cơ thể vật nuôi
Việt Nam thường chia thịt tinh ra làm ba loại:
Loại 1: Bao gồm khối lượng thịt của hai đùi sau, thăn lưng và thăn chuột Loại 2: Bao gồm khối lượng thịt của đùi trước, thịt cổ vầ phần thịt đậy
Trang 27lên lồng ngực
Loại 3: bao gồm khối lượng thịt của phần bụng, thịt kẽ sườn và các thịt
được lọc ra của loại 1 và loại 2 (phần tề)
2.4.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất thịt
2.4.3.1 Tuổi giết thịt
Trong quá trình phát triển của cơ thể khối lượng, thành phần hình thái học của cơ thể thay đổi theo tuổi Dưới 1 năm tuổi sự lớn lên của cơ thể chủ yếu là kết quả của sự tích luỹ các mô cơ và xương Đến 1,5 tuổi sự tích luỹ protein, tức là sự phát triển của tế bào cơ vẫn nhanh, còn tỷ lệ tương đối của mô xương có xu hướng giảm thấp Sau 18 tháng tuổi tốc độ tăng trưởng của tế bào cơ giảm, hàm lượng nước giảm, sự tích luỹ mỡ tăng lên (giá trị năng lượng tăng), còn mô liên kết giảm
Thành phần hoá học của thịt cũng thay đổi theo tuổi Sau 18 tháng tuổi,
do sự thay đổi trao đổi chất, khả năng tích luỹ nitơ giảm, còn tích luỹ mơ tăng:
2.4.3.2 Giống
Giống có ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất thịt Dựa vào phẩm chất và sức sản xuất thịt nguời ta chia ra các nhóm bò như sau:
Trang 28- Bò thịt: có các giống nổi tiếng như Hereford, Santa gertrudis, Shorhorn v.v Tốc độ sinh trưởng của những bò này nhanh (1-1,5 kg/ngày đêm), tỷ lệ thịt xẻ 65-70%, mỡ tích luỹ trong cơ thể sớm
Bò kiêm dụng sữa thịt: như bò Red Sindhi, Brown Swiss v.v Những bò này cũng có khả năng tăng trọng khá cao (0,6-0,8 kg/ngày đêm), phẩm chất thịt ngon, tỷ lệ thịt xẻ đạt 59-60%
Bò sữa: như bò Holstein Friesian Những bò này có sự phát triển cơ bắp kém, tỷ lệ thịt xẻ thấp Các giống bò sữa và kiêm dụng thường thích luỹ ít mỡ trong thân thịt mà mỡ chủ yếu tích luỹ trong khoang bụng Cơ bắp của nhưng gia súc này phát triển kém, tỷ lệ thịt xẻ thấp
Trâu bò cày kéo: cơ bắp phát triển tốt, nhưng mỡ tích luỹ trong cơ thấp, thịt cứng và thô
Tuy giống ít ảnh hưởng trực tiếp tới tính ngon miệng của thịt nhưng ảnh hưởng này lại có ý nghĩa yếu tố giống chỉ gây được 5% mức biến động của
độ mềm thịt bò, phần lớn mức biến động là do các yếu tố khác Độ mềm của thịt có khả năng di truyền đối với bò nhiệt đới, nghĩa là có thể chọn lọc để cải tiến độ mềm của thịt bò nhiệt đới, nhưng điều này không thực hiện được đối với bò ôn đới Lai giống cũng đ/ được chấp nhận để tăng tốc độ sinh trưởng và chất lượng thịt
Ngoài ra còn có các yếu tố như tính biệt và thiến, nuôi dưỡng và Stress môi trường Chúng có ảnh hưởng đến sức sản suất thịt của bê
2.4.4 Các kiểu vỗ béo và các hình thức vỗ béo
Vỗ béo là nuôi dưỡng đặc biệt với mức ăn dồi dào, khẩu phần có giá trị hoàn thiện nhằm mục đích thu được ở con vật một lượng thịt tối đa với chất lượng thoả đáng Có rất nhiều phương pháp vỗ béo khác nhau và phương pháp quản lý bò vỗ béo cũng khác nhau tuỳ theo phương pháp vỗ béo Phương pháp
Trang 29quản lý thường không cố định vì nó phải thay đổi tuỳ theo các yếu tố như đặc
điểm của giống bò, điều kiện nuôi dưỡng và tiêu chuẩn thịt bò mà thị trường yêu cầu Thời gian vỗ béo tuỳ thuộc vào tuổi, độ béo của bò trước khi vỗ béo
và yêu cầu của thị trường về khối lượng bò, chất lượng thịt v.v Thông thường thời gian vỗ béo là 60-90 ngày
Căn cứ vào đối tượng đưa vào vỗ béo mà người ta chia các kiểu vỗ béo khác nhau
2.4.4.1 Các kiểu vỗ béo
Vỗ béo bê lấy thịt trắng
Đây là kiểu vỗ béo bê sữa trước 3-4 tháng tuổi Thông thường chỉ dùng
bê đực, đặc biệt là bê đực hướng sữa Nuôi bê chủ yếu bằng sữa nguyên và sữa thay thế Mức sữa cung cấp khoảng 12-16lít/ngày nếu yêu cầu tăng trọng không dưới 1000 g/ngày Nếu yêu cầu tăng trọng thấp hơn một ít (không dưới 900g/ngày) thì bên cạnh sữa có thể cho ăn thêm cỏ khô, thức ăn tinh và củ quả
Vỗ béo sau cai sữa
Bê được đưa vào vỗ béo ngay sau khi cai sữa hay sau một thời gian huấn luyện 30-45 ngày Hình thức này phù hợp cho những cơ sở vỗ béo thương phẩm hơn là các trang trại chăn nuôi hỗn hợp Bê thuộc các giống có tầm vóc lớn thích hợp với kiểu vỗ béo này (không cần thời kỳ nuôi bê sinh trưởng)
Vỗ béo bò non
Tiến hành vỗ béo cảc bê đực và bê cái từ 1-1,5 tuổi Thức ăn tinh không dưới 30% giá trị năng lượng của khẩu phần và có thể tăng lên ở giai đoạn cuối Trước khi đưa vào vỗ béo đàn bê đ/ trải qua một thời kỳ nuôi sinh trưởng khá dài Đây là kiểu vỗ béo phổ biến nhất hiện nay trên thế giới
Trang 30Bò sữa, bò sinh sản, các loại bò khác trước khi đào thải được qua một giai
đoạn nuôi vỗ béo để tận thu lấy thịt Thời gian nuôi béo thông thường là 2-3 tháng phụ thuộc vào độ béo ban đầu và nguồn thức ăn Trần Quang Hạnh (2003)[13] vỗ béo bò tơ và bò già Laisind ở cùng khẩu phần thấy sự tăng trọng của bò tơ 680g/con/ngày cao hơn so với tăng trọng của bò già Laisin là
- Vỗ béo trên đồng cỏ: Trên cơ sở điều khiển sinh sản sẽ có được những
đàn bê đồng đều và đến giai đoạn đưa vào vỗ béo thì năng suất đồng cỏ cao Lúc đó đàn bê dược chăn thả luân phiên trên đồng cỏ với thời gian từ 12-24 giờ/ngày Trong thời gian chăn thả bê sử dụng được một lượng lớn thức ăn trên đồng cỏ Tuy vậy, cũng cần cung cấp cho chúng một lượng thức ăn tinh nhất định: giai đoạn đầu vỗ béo 20-25% và cuối giai đoạn vỗ béo 30-35% giá trị năng lượng của khẩu phần
- Vỗ béo tại chuồng: áp dụng đối với những nơi không có đồng cỏ chăn thả nhưng lại có điều kiện để thâm canh đồng cỏ thu cắt với năng suất cao Cỏ
được thu cắt và cho ăn tại chuồng kết hợp cùng với thức ăn tinh
Vỗ béo bằng thức ăn ủ xanh
Thức ăn ủ xanh không cân bằng dinh dưỡng nên khi nuôi bò cần bổ sung thêm các chất dinh dưỡng cần thiết Là thức ăn thô có năng lượng tiêu hoá thấp nên nếu chỉ cho ăn thức ăn ủ xanh sẽ không đảm bảo được tốc độ
Trang 31sinh trưởng tối ưu cho bò thịt Do vậy, một lượng thức ăn tinh nhất định 30% hoặc cao hơn) phải cho ăn cùng để cung cấp đủ năng lượng cho nhu cầu sản xuất của bò Khối lượng thức ăn ủ xanh trong khẩu phần phụ thuộc chất lượng và hàm lượng axit hữu cơ trong đó Khẩu phần thích hợp chứa 50-65% thức ăn ủ xanh Nếu thức ăn ủ xanh chứa nhiều axit thì phải trung hoà bớt bằng dung dịch nước vôi 1,5-2%, hay dùng dung dịch ammoniac 25% với 12-
(25-14 lít/tấn Ngoài ra, trong khẩu phần nên có một lượng cỏ khô khoảng 5-15% (0,8-1kg/100kg P)
Khi vỗ béo bò bằng thức ăn ủ xanh cần bổ sung thêm vitamin A vì mặc
dù trong thức ăn ủ xanh có khá nhiều caroten nhưng khả năng chuyển hoá caroten thành vitamin A của bò thịt không được tốt Ngoài vitamin A không cần bổ sung thêm các loại vitamin khác nếu như bò được chiếu sáng đầy đủ (Vitamin D được hình thành dưới da)
Khi vỗ béo bằng thức ăn xanh cũng cần phải bổ sung các loại khoáng như canxi, phốtpho, muối, coban, sắt… Khoáng có thể bổ sung theo một tỷ lệ nhất
định trong khẩu phần hoặc cung cấp dưới dạng bò có thể ăn tuỳ thích Một hỗn hợp khoáng tốt để bổ sung cho ngô ủ xanh chứa 2 phần là dicanxiphốtphát và 1 phần là hỗn hợp các loại khoáng vi lượng
Vỗ béo bằng phụ phẩm
Nước ta 70% dân số sống bằng nghề nông nghiệp do đó nguồn phụ phẩm của nông nghiệp là rất lớn Đây là nguồn thức ăn dồi dào cho gia súc nhai lại Nhằm tận dụng nguồn thức ăn có sẵn ở địa phương cho chăn nuôi gia súc mà
đ/ có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đ/ cho các kết quả rất khả quan Nghiên cứu của Lại Thị Nhài (2005)[21] sử dụng lõi ngô nghiền trong khẩu phần vỗ béo bò thịt
Hình thức vỗ béo này có thể áp dụng ở những nơi có công nghiệp chế
Trang 32- Chế biến tinh bột: b/ bia, b/ rượu
- Chế biến thực phẩm: rỉ mật, b/ đậu phụ, bột xương, khô dầu các loại, v.v
- Chế biến rau quả: các loại b/ dứa, vỏ hoa quả
Với các thức ăn trên có thể phối hợp với các phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, cỏ khô để nuôi vỗ bò thịt Khi dùng các phụ phẩm phải được bảo quản tốt vì đây đều là những loại thức ăn có tỷ lệ nước cao, hàm lượng dinh dưỡng cao nên rất dễ lên men chua và thối
Thường dùng các loại phụ phẩm vỗ béo bê với thể trong ban đầu không dưới 250-270 kg và qua 3 tháng vỗ béo đạt đến 340-360 kg Vỗ béo bằng phụ phẩm mà khối lượng ban đầu thấp sẽ không có hiệu quả bởi vì sẽ không cho phép nâng thể trọng của bò đến mức mong muốn, không cho độ béo cao
và chất lượng thịt tốt
Vỗ béo bằng thức ăn tinh
Hiện nay ở một số nơi trên thế giới người ta tiến hành vỗ béo bò bằng khẩu phần dựa trên thức ăn tinh là chủ yếu Thức ăn tinh dùng để vỗ béo dựa trên các loại hạt ngũ cốc và họ đậu, các hỗn hợp thức ăn có thành phần đặc biệt, đồng thời đảm bảo một lượng xơ thích hợp cần cho hoạt động tiêu hoá
được bình thường Tỷ lệ thức ăn tinh so với thức ăn thô trong khẩu phần có thể là 4:1 Khi vỗ béo bằng thức ăn tinh cần phải cung cấp thức ăn thô với độ cắt băm nhất định, cân bằng tốt về các chất khoáng và các hoạt chất sinh học trong khẩu phần (Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, Lê Văn Ban, 2006)[38]
Khó khăn nhất của hình thức vỗ béo này là khống chế không để bò bị mắc bệnh axit dạ cỏ Do vậy, người ta thường cho các chất đệm (ví dụ bicáccbônat) trộn với thức ăn tinh và cho ăn rải đều để ổn định pH của dạ cỏ Mặt khác, kháng sinh cũng thường không thể thiếu trong khẩu phân dạng
Trang 33này để chống các vi khuẩn gây bệnh (như E coli) phát triển trong điều kiện
pH dạ cỏ thấp
Theo Victor J Clarke, Lê Bá Lịch và Đỗ Kim Tuyên (1997)[34] đ/ nghiên cứu vỗ béo bò bằng khẩu phần thức ăn tinh giầu năng lượng cho hiệu quả vỗ béo đạt khá cao Khẩu phần được phối hợp trên nền bột sắn với 70% chất khô trong khẩu phần và 10% bột ngô Năng lượng trao đổi đạt 2899 kcal/1kg chất khô Với khẩu phần này khi vỗ béo bò Laisind tăng trọng trung bình đạt được từ 895,5 gam/con/ngày đến 925 gam/con/ngày
2.5 Một số nghiên cứu vỗ béo bò
Xuất phát từ định hướng phát triển ngành chăn nuôi bò, từ giữa thập
kỷ 70 đến nay, Việt Nam đ/ triển khai nhiều chương trình quốc gia cải tạo
đàn bò địa phương, chọn lọc và xây dựng đàn bò lai hướng thịt chất lượng
mà giống bò Laisind là một thành công
Các chỉ tiêu sinh trưởng cũng như phát triển của các nhóm bò lai đạt
được, ở các vùng sinh thái và khí hậu khác nhau rất khả quan So với bò vàng Việt Nam, khối lượng bò Laisind tăng 30 – 35%, khả năng cho thịt tăng 5 – 8% với tỷ lệ thịt xẻ 48 – 49% Lấy bò cái Laisind làm nền và lấy số liệu cặp lai đực Red sindhi x cái Laisind ( F1 Red sindhi) là 100% thì các cặp lai đực Charolais x Cái Laisind (F1 Charolais) đạt 126,4%, Đực Limousine x Cái Laisind (F1 Limousine) là 122,79%, Đực Hereford x Cái Laisin ( F1 Hereford) đạt 120,50% Trong điều kiện có bổ sung thức ăn thì các cặp lai lần lượt là 139,67%; 120,64%; 116,63%, cao hơn lai trở lại với giống Red sindhi
từ 16,63 – 39,67% ( Lê Viết Ly và cs, 1995)[17]
Mục tiêu chiến lược tiếp theo đối với ngành chăn nuôi bò Việt Nam là:
- Cải tạo đàn bò vàng Việt Nam bằng các giống bò u nhiệt đới (Red Sindhi, Sahiwal, Brahman,…) để nâng cao tầm vóc, sức sản xuất và khả năng
Trang 35- Trên cơ sở đàn bò đ/ được cải tiến sẽ tiếp tục lai tạo với giống bò sữa (Holstein Friesian, Jersey,…) và các giống bò thịt (Hereford, Limousine, Santa Gertrudis, Charolais,…) để tạo ra các giống bò sữa và thịt kiêm dụng, thích ứng và thích nghi với điều kiện môi trường nước ta (Nguyễn Trọng Tiến
và Mai Thị Thơm, 1996)[32]
Nhằm nâng cao sức sản xuất thịt, song song với việc cải tạo giống thì việc nghiên cứu các phương pháp chế biến thức ăn, xây dựng và phối hợp khẩu phần cũng được triển khai mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới kể cả Việt Nam Nghiên cứu tập chung vào:
- Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật bảo quản và dự trữ các phụ phẩm nông nghiệp, các kỹ thuật chế biến phụ phẩm như rơm, lá mía, thân cây lạc, thân cây ngô sau thu hoạch,…để làm tăng giá trị thức ăn
Lê Xuân Cương (1994)[6] nghiên cứu xử lý rơm làm tăng giá trị thức ăn nuôi bò, xác định thành phần hoá học của rơm sau khi ủ với urê từ 2-4% Nguyễn Viết Hải và cs (1994)[14] nghiên cứu xử lý rơm bằng urê và NaOH Nguyễn Thị Tịnh và Lê Minh Lịnh (2001)[30] thử nghiệm nhiều mức bổ sung Urê khác nhau và nhận xét urê ủ 4% cho hiệu quả tốt hơn Lê Viết Ly và cs (1991), (trích từ Lê Xuân Cương, 1994)[6], nghiên cứu rơm ủ theo tỷ lệ: 2% urê +5% vôi + 0,5% muối, lượng tiêu thụ rơm ủ urê của bò tăng 42,9%, mức tăng trọng tăng 31%
- Nghiên cứu sử dụng các phụ phẩm khác như bột các, khô dầu lạc khô dầu hạt bông, khô dầu đậu tương,… nhằm nâng cao giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần nuôi bò
Lê Xuân Cương (1994)[6], nghiên cứu sử dụng các phụ phẩm khác như
rỉ mật, cám gạo, khô dầu lạc,… chế biến tảng liếm nuôi bò, hay chế biến b/ hạt điều, nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý bằng folmandehyt đến protein của
Trang 36- Nghiên cứu về sinh trưởng của bò lai hướng thịt ở các vùng sinh thái khác nhau, trong điều kiện chăn thả có hoặc không có bổ sung thức ăn, đ/ kết luận rằng: nuôi bò chăn thả cần phải bổ sung thức ăn ngoài chăn thả
Tại Dục Mỹ, thức ăn bổ sung là rơm ủ urê 4% cùng với thức ăn phụ phẩm nông nghiệp có hàm lượng protein cao, rỉ mật đường: F1 Charolais lúc
24 tháng tuổi tăng trọng trên 600g/con/ngày và khối lượng đạt 375kg (Lê Viết
Ly và Vũ Văn Nội, 1995)[19] Hoặc nuôi chăn thả trong điều kiện dinh dưỡng
được cải thiện với mức bổ sung ổn định (không cần thức ăn tinh), bê F1 hướng thịt tăng trọng khá tốt đặc biệt là công thức lai F1 Charolais 556g/con/ngày ở giai đoạn 12-15 tháng tuổi Bê lai F1 khi chăn thả quảng canh chỉ đạt mức độ tăng trọng 210-240 g/con/ngày, nhưng nếu bổ sung rơm ủ urê và tảng đá liếm thì cải thiện mức độ tăng trọng lên 386 - 429 g/con/ngày tăng lên 60% (Lê Viết Ly và cộng sự, 1994)[18]
- Nghiên cứu các phương pháp vỗ béo bò thịt khác nhau: vỗ béo lấy thịt trắng, vỗ béo bằng thức ăn xanh, thức ăn ủ xanh, thức ăn tinh…
Nuôi bê lai hướng thịt, ngoài thức ăn bổ sung thêm 10kg cỏ cắt và 0,07kg MUB, tăng trọng đạt 520 – 556g/con/ngày Và khi bổ sung rơm ủ urê 4% và MUB nuôi trong mùa khô, bê lai nuôi tại Hà Tam (Gia Lai) tăng trọng
đạt 386-429g/con/ngày còn bê lai nuôi tai An Nhơn đạt thấp hơn là 402g/con/ngày nhưng vẫn cao hơn lô đại trà là 60% Vào mùa khô thức ăn bổ sung có hàm lượng protein và năng lượng cao thì mcứ tăng trọng đạt 568/g/con/ngày, giá trị thức thu cao hơn đại trà là 4-15,6%, (Vũ Văn Nội và cộng sự, 1995)[23]
342-Theo Phạm Kim Cương, Vũ Chí Cương, Phạm Hùng Cường (2004)[7]
vỗ béo bò Laisind bằng khẩu phần lá dâu tằm thay thế cho hạt bông với bốn mức lá dâu tằm khác nhau: khẩu phần 1 là bột sắn, rỉ mật, hật bông, đậu tương, rơm khô, urê và khoáng; ở khẩu phần 2,3,4 tương ứng bổ sung lá dâu
Trang 37tằm là 5, 10 và 15kg Các kết quả tăng trọng đạt được trên đàn bò Laisind là rất tốt: ở khẩu phần 1 tăng trọng đạt được bình quân cả kỳ vỗ béo là 554 g/con/ngày, các lô 2, lô 3 và lô 4 đạt kết quả tương ứng là 583 gam/con/ngày,
565 gam/con/ngày và 568 gam/con/ngày Như vậy tiêu tốn thức ăn (kg chất khô/kg tăng trọng) của các lô tương ứng là 7,15 ; 6,44; 6,88 và 6,45 kg chất khô/kg tăng trọng
Chăn nuôi bền vững phải đạt được năng suất và hiệu quả sử dụng đi đôi với bảo vệ môi trường, phải tính đến các nguồn lợi tự nhiên cũng như môi trường kinh tế, xây dựng các chiến lược cho sản xuất một cách bền vững mà vẫn đạt được các lợi ích về kinh tế, sinh thái và x/ hội (Đặng Vũ Bình và Nguyễn Xuân Trạch, 2002)[1]
Trong chăn nuôi bò thịt thì vỗ béo là một khâu thuật quan trọng nhằm
để một mục đích cuối cùng là tăng năng suất và chất lượng thịt Do đó việc nghiên cứu lai tạo các giống bò và các khẩu phần vỗ béo bò thịt là rất cần thiết.Xuất phát từ những yêu cầu đó mà trong những năm qua đ/ có nhiều nhà nghiên cứu khoa học đ/ lai tạo và có những phương pháp vỗ béo bò thịt khác nhau
Vỗ béo bò bằng khẩu phần cao năng lượng dựa trên nền bột sắn với 3% urê (Victor J Clarke, Lê Bá Lịch và Đỗ Kim Tuyên, 1997)[34] đ/ đem lại những kết quả tốt Thí nghiệm được thực hiện trên bò vàng và bò Laisind tại hai tỉnh với mức năng lượng trao đổi ME=2899 Kcal/1kgCK tương
đương với 12,130 MJ/1kgCK đ/ cho tăng trọng bình quân của bò vàng cao nhất là 1016 g/con/ngày và thấp nhất là 683,3g/con/ngay Với bò Laisind
1000 g/con/ngày và thấp nhất là 850 g/con/ngày Với khẩu phần vỗ béo này
nó có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tế, thời gian vỗ béo là 30- 40 ngày Hiện nay do nước ta là một nước với khoảng 70% dân số làm nông nghiệp nên nước ta có một nguồn phụ phẩm nông nghiệp khá lớn như: thân
Trang 38cây ngô, lõi ngô, rỉ mật, lá sắn, Do đó đ/ có nhiều những nghiên cứu nhằm tận dụng nguồn thức ăn có sẵn ở địa phương để làm thức ăn cho chăn nuôi
vỗ béo bò thịt Các nghiên cứu của Lại Thị Nhài (2005)[21] sử dụng lõi ngô nghiền trong khẩu phần vỗ béo bò thịt đạt hiệu quả tăng trọng trên bò Laisind sau 84 ngày vỗ béo đạt 0,53 kg/con/ngày đến 0,60 kg/con/ngày Nguyễn Xuân Trạch, Bùi Quang Tuấn (2006)[36] sử dụng khẩu phần rơm tươi ủ với urê để vỗ béo bê Laisind, kết quả tăng trọng bình quân 357,3gam/con/ngày, Các nghiên cứu đều cho thấy việc tận dụng các phụ phẩm cho chăn nuôi bò sữa cũng như bò thịt đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
2.6 Đặc điểm của bò Brahman và khả năng phát triển của bò Brahman ở một số tỉnh
2.6.1 Đặc điểm của bò Brahman
Bò Brahman đỏ được tạo ra tai Mỹ vào khoảng đầu thế kỷ 20 từ các giống bò Guzerat, Nerole, Gyr và Krishna Velley của ấn Độ có pha với máu
bò thịt của Anh Bò Brahman có màu đổ sáng đến xám đen Chúng có đặc
điểm cỏ truyền của bò nhiệt đới là có u cao , yếm thõng , rốn dài, da mềm, thịt săn, tai to cụp xuống Chúng có khối lượng nặng hơn nhiều so với bò vàng của Việt Nam Bò thích nghi tốt với điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, ngoài ra chúng còn có khả năng sử dụng thức ăn rất tốt và chịu khó gặm cỏ Chúng chống chịu rất tốt với ve, mòng, muỗi và các bệnh về ký sinh trùng
đường máu Bò cái có khả năng sinh sản tốt, dễ đẻ, ham con và có tuổi thọ kéo dài Hiệp hội các nhà sản xuất giống bò Brahman Mỹ (ABBA) được thành lập năm 1924, cho đến nay đ/ xuất khẩu trên 40000 bò brahman đến
63 nước trên thế giới
Bò Brahman trắng được nước ta nhập về với hai giống là bò Brahman trắng nhập từ Cu Ba đang nuôi ở Bình Định, ở Thành phố Hồ Chí Minh và
Trang 39bò Brahman trắng nhập từ Australia Hai giống này đều có khối lượng to hơn đối với bò Brahman đỏ
2.6.2 Khả năng phát triển của bò Brahman ở khu vực Miền Nam
- Tại Bình Định và Tp Hồ Chí Minh từ khi nhập bò về cho năm 2005
đàn bò vẫn phát triển và sinh sản tốt Từ năm 2001 bò cái được theo dõi sinh sản thông qua sổ cá thể Bò mẹ được gieo tinh Brahman trắng để tạo giống thuần Bê con theo mẹ bú mẹ trực tiếp đến 6 – 7 tháng tuổi, sau đó nuôi theo phương thức truyền thống như bò địa phương Theo Đinh Văn Cải (2050)[3] thì bò cái sinh sản brahman trắng nguồn gốc Cu Ba nuôi tại Bình Định có khối lượng trung bình là 422 kg Tỷ lệ đẻ bình quân năm là 58,54%, hệ số phối đậu 1,84, tỷ lệ đậu thai lần phối đầu 45,45% và khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 20,5 tháng/lứa Khối lượng bê sơ sinh đạt 23,6kg, 6 tháng tuổi đạt
137 kg, tăng trọng bê con trong giai đoạn bú sữa đạt trên 620 gam/con/ngày Trong điều kiện chăn nuôi nông hộ thiêu thức ăn, 18 tháng tuổi bê cái đạt khối lượng bình quân 228 kg Động dục lần đầu lúc 24,3 tháng tuổi với khối lượng là 271,7 kg và tuổi đẻ lứa đầu là 36,2 tháng Trong điều kiện nuôi nhốt
đủ dinh dưỡng bò cài hậu bị 18 tháng tuổi đạt khối lượng 286kg, tăng trọng bình quân đạt trên 400 gam/con/ngày Bê đực vỗ béo có thể đạt tăng trọng trên 1000gam/con/ngày trong 3 tháng đầu vỗ béo
Trang 403 Đối tượng, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đàn bò Brahman được nuôi tại các hộ nông dân ở tỉnh Tuyên Quang và trại bò An Khang x/ An Khang, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu tại tỉnh Tuyên Quang
- Thí nghiệm vỗ béo được tiến hành tại trại giống Nông Tiến- Công ty giống Vật tư Nông nghiệp Tuyên Quang trong thời gian từ tháng 12 năm 2006
đến tháng 3 năm 2007
3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Khảo sát về tình hình phát triển chung của đàn bò tại tỉnh Tuyên Quang
3.3.1.1 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Khảo sát về tình hình kinh tế, x/ hội của tỉnh Tuyên Quang
- Khảo sát về số lượng đàn bò Vàng, bò Brahman nhập nội
- Theo dõi điều tra tình hình dịch bệnh, tình hình tiêm phòng và những bệnh thường gặp ở đàn bò Brahman nhập nội