Thông qua việc tổng hợp các lý thuyết nền tảng, các nghiên cứu có liên quan, phát triển giả thuyết và kiểm định thực nghiệm mô hình nghiên cứu, tác giả mong muốn hiểu được bản chất, động
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
………
HUỲNH THỊ THANH TRÚC
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CÔNG TY KIỂM TOÁN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
………
HUỲNH THỊ THANH TRÚC
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CÔNG TY KIỂM TOÁN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ
Trang 3Kính thưa quý thầy cô, tôi tên là Huỳnh Thị Thanh Trúc, học viên cao học khóa
23- Chuyên ngành Kế toán- Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Tôi xin cam
đoan luận văn thạc sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi công ty kiểm
toán: Bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” là kết quả nghiên cứu khoa học độc lập
của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Trần Văn Thảo Các số liệu trong luận văn là
do tác giả trực tiếp thu thập, thống kê và xử lý một cách trung thực, được trích dẫn nguồn rõ ràng Kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan trên
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017 Học viên
Huỳnh Thị Thanh Trúc
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC HÌNH TRONG LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3.Câu hỏi nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu 5
6 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài 6
7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CÔNG TY KIỂM TOÁN 8
1.1 Các nghiên cứu có liên quan công bố ở nước ngoài 8
1.2 Các nghiên cứu có liên quan công bố trong nước 18
1.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu trước, xác định khe hổng nghiên cứu và xác định hướng nghiên cứu 21
1.3.1 Nhận xét về các nghiên cứu trước 21
1.3.1.1 Về các nghiên cứu ngước ngoài 21
1.3.1.2 Về các nghiên cứu trong nước 22
1.3.2 Khe hổng nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài 22
Kết luận chương 1……… …24
CHƯƠNG 2.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CÔNG TY KIỂM TOÁN 25
Trang 52.2 Báo cáo tài chính 27
2.2.1 Khái niệm về Báo cáo tài chính 27
2.2.2 Mục đích của Báo cáo tài chính 29
2.2.3 Vai trò của Báo cáo tài chính 30
2.3 Kiểm toán báo cáo tài chính 31
2.3.1 Khái niệm về Kiểm toán Báo cáo tài chính 31
2.3.2 Mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính 31
2.3.3 Chất lượng kiểm toán và các quy định về sự luân chuyển kiểm toán viên 32
2.4 Sự thay đổi công ty kiểm toán 37
2.4.1 Khái niệm 37
2.4.2 Các chi phí phát sinh khi quyết định thay đổi công ty kiểm toán 38
2.4.2.1 Chi phí liên quan đến lợi ích kinh tế của nhà quản trị 38
2.4.2.2 Chi phí giao dịch của việc thay đổi công ty kiểm toán 39
2.4.2.3 Chi phí liên quan đến việc công bố thông tin thay đổi công ty kiểm toán 39 2.4.3 Sơ lược các mô hình nghiên cứu tác động của các nhân tố đến sự thay đổi công ty kiểm toán 39
2.4.3.1 Mô hình nghiên cứu của Chow & Rice (1982) 40
2.4.3.2 Mô hình nghiên cứu của Williams (1988) 41
2.4.3.3 Mô hình nghiên cứu của Woo & Koh (2001) 42
2.4.3.4 Mô hình nghiên cứu của Lin & Liu (2009) 43
2.4.4 Động cơ thay đổi công ty kiểm toán của nhà quản trị 45
2.4.4.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Angency Theory) 45
2.4.4.2 Vận dụng lý thuyết ủy nhiệm vào việc giải thích quyết định lựa chọn và thay đổi công ty kiểm toán của các công ty niêm yết 46
2.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi công ty kiểm toán 49 2.4.5.1 Nhóm các nhân tố liên quan đến sự thay đổi trong các mối quan hệ hợp đồng 50
Trang 6toán viên 54
2.4.5.3 Nhóm các nhân tố liên quan đến danh tiếng của công ty được kiểm toán 56 Kết luận chương 2……… 61
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 62
3.1 Quy trình nghiên cứu của đề tài: 62
3.2 Phát triển mô hình nghiên cứu 63
3.2.1 Giả thuyết nghiên cứu 63
3.2.2 Mô hình nghiên cứu và đo lường các biến 63
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 67
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 69
3.4.1 Phương pháp thống kê mô tả 69
3.4.2 Phương pháp phân tích hồi quy logistics 70
3.4.2.1 Tổng quát về mô hình hồi quy Logit 70
3.4.2.2 Các bước phân tích hồi quy logistic 71
Kết luận chương 3……… 74
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 75
4.1 Thống kê mô tả 75
4.1.1 Mô tả về đặc trưng của mẫu 75
4.1.2 So sánh sự khác biệt về các nhân tố giữa nhóm quan sát có thay đổi công ty kiểm toán và nhóm quan sát không có thay đổi công ty kiểm toán 81
4.2 Mô hình hồi quy logistic các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra hành vi thay đổi công ty kiểm toán: 84
4.2.1 Ma trận tương quan giữa các biến 84
4.2.2 Phân tích mô hình hồi quy logistics các nhân tố có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra sự thay đổi công ty kiểm toán 85
4.2.2.1 Ước lượng các tham số của mô hình hồi quy và kiểm định ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy 85
Trang 74.2.2.3 Kiểm định mức độ giải thích của mô hình 88
4.2.2.4 Kiểm định mức độ dự báo chính xác của mô hình 89
4.3 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 89
4.3.1 Sự thay đổi trong quản lý cấp cao (MC) 90
4.3.2 Tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROWTH) 91
4.3.3 Mức độ phức tạp trong hoạt động kinh doanh (CPLX) 92
4.3.4 Sự kiêm nhiệm trong quản lý (DUAL) 92
4.3.5 Danh tiếng công ty được kiểm toán (BIG4) 93
4.3.6 Quy mô công ty được kiểm toán (SIZE) 93
4.3.7 Ý kiến kiểm toán viên (AO) 94
4.3.8 Khả năng sinh lời (ROA) 94
4.3.9 Nguy cơ phá sản (ZSCORE) 95
4.3.10.Tỷ lệ đòn cân nợ (LEV) 96
Kết luận chương 4……… 97
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP 98
5.1 Kết luận chung 98
5.2 Giải pháp: 100
5.2.1 Đối với các công ty niêm yết 100
5.2.2 Đối với các công ty kiểm toán: 102
5.2.3 Đối với cơ quan quản lý, tổ chức nghề nghiệp (VACPA): 103
5.2.4 Đối với nhà đầu tư: 105
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo: 105
5.3.1 Hạn chế của đề tài: 105
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo: 106
Kết luận chương 5……….108
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8BCTC Báo cáo tài chính
Big4 4 công ty kiểm toán tại Việt Nam: KPMG, Deloitte, PwC, EY BTC Bộ Tài Chính
KTV Kiểm toán viên
ROA Khả năng sinh lời của công ty
IASB Hội đồng chuẩn mực Kế toán quốc tế
Trang 9Bảng 2.1: Quy định về luân chuyển công ty kiểm toán và kiểm toán viên bắt buộc
tại các quốc gia……… ……… 36
Bảng 3.1: Ký hiệu, định nghĩa biến và phương pháp tính……….… 65
Bảng 3.2 Phương pháp tính chỉ số Z-SCORE (Altman & cộng sự, 1968)……….66
Bảng 3.3 Cơ cấu ngành của các công ty trong mẫu nghiên cứu ………69
Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến Sự thay đổi công ty kiểm toán……… …75
Bảng 4.2: Thống kê mô tả biến Sự thay đổi quản lý cấp cao……… …75
Bảng 4.3: Thống kê mô tả biến Mức độ phức tạp của công ty……… ….76
Bảng 4.4: Thống kê mô tả biến Sự kiêm nhiệm trong quản lý……… 76
Bảng 4.5: Thống kê mô tả biến Danh tiếng công ty kiểm toán….……… ….77
Bảng 4.6: Thống kê mô tả biến Ý kiến kiểm toán viên………77
Bảng 4.7: Thống kê mô tả biến Nguy cơ phá sản……… 78
Bảng 4.8 Thống kê mô tả các biến định lượng trong mô hình……… 79
Bảng 4.9 Bảng so sánh sự khác biệt về giá trị trung bình các nhân tố giữa hai nhóm quan sát……… 81
Bảng 4.10 Ma trận tương quan Pearson……….….84
Bảng 4.11 Mô hình hồi quy logit……… 85
Bảng 4.12 Phân loại dự báo……… 89
Bảng 4.13 Bảng so sánh kết quả hồi quy và kỳ vọng dấu……….90
Trang 10Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu của đề tài………62 Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất……… ………65
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với vai trò là kênh huy động, tập trung và phân phối vốn linh hoạt trong nền kinh tế thị trường, thị trường chứng khoán ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của thị trường chứng khoán là việc công khai và minh bạch mọi thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của các tổ chức phát hành chứng khoán,… Do đó, mức độ tin cậy, kịp thời của BCTC được kiểm toán luôn là vấn đề cốt yếu đối với phản ứng của thị trường
do mức độ lan toả của thông tin, ảnh hưởng tới nhiều đối tượng và cộng đồng nhà đầu
tư Chính vì thế, vai trò của kiểm toán đối với BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán ngày càng được khẳng định Tuy nhiên trong khoảng thời gian hơn một thập kỷ qua, các nhà đầu tư, cổ đông, nhà lập pháp và giới học thuật đã chứng kiến hàng loạt các vụ bê bối gian lận kế toán xảy ra liên quan đến các Tập đoàn lớn trên thế giới như Enron, WorldCom, Parmalat, Xerox,… đã làm rung chuyển và gây tổn thất nghiêm trọng đến các thành phần tham gia thị trường chứng khoán toàn cầu Thậm chí đe dọa đến sự tồn tại và danh tiếng của các công ty kiểm toán có liên quan, cụ thể là sự sụp đổ của một trong những hãng kiểm toán lớn (Big5)-Arthur Andersen vào năm 2002 sau vụ gian lận kế toán xảy ra tại Tập đoàn Năng lượng lớn của Mỹ-Enron Những sự kiện này làm giảm sút lòng tin của công chúng đối với nghề nghiệp kiểm toán, báo cáo kiểm toán về tính trung thực, hợp lý của các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết
Các nhà phê bình cho rằng, sự đổ vỡ bất ngờ của các “ông trùm” này xuất phát từ việc các kiểm toán viên đã không duy trì được tính độc lập, thái độ hoài nghi nghề nghiệp
và khả năng xét đoán của mình trong quá trình kiểm toán cho khách hàng lâu năm, dẫn đến việc không phát hiện được các gian lận và sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính và báo cáo kịp thời các hành vi này đến các bên có liên quan Quy định về bắt buộc luân chuyển kiểm toán viên định kỳ được ban hành và áp dụng tại Hoa Kỳ (AICPA, 1978a, b) và một số quốc gia, trong đó có Việt Nam nhằm tăng cường tính
Trang 12độc lập, khách quan trong dịch vụ kiểm toán độc lập, ngăn ngừa mối quan hệ thân thiết giữa kiểm toán viên và khách hàng, qua đó nâng cao chất lượng kiểm toán và niềm tin công chúng vào nghề nghiệp kiểm toán (Mautz, 1974; Winters, 1976; Hoyle, 1978; Brody & Moscove, 1998) Xung quanh vấn đề này đã có rất nhiều cuộc tranh luận trái chiều đã diễn ra giữa các nhà lập pháp, các học giả nghiên cứu, nhà quản lý cũng như các kiểm toán viên đang trực tiếp hành nghề
Các nhà lập pháp thì cho rằng quy định này sẽ đảm bảo sự độc lập của kiểm toán viên
và mục tiêu kiểm toán Dù rằng việc thay đổi công ty kiểm toán sẽ làm tăng cường tính độc lập của kiểm toán viên và sự tin cậy của công chúng đối với báo cáo tài chính được kiểm toán (Woo & Koh, 2001) Tuy nhiên, bằng các nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm cho thấy chi phí phát sinh khi áp dụng quy định luân chuyển kiểm toán viên trong thực tế đã vượt quá những lợi ích mà quy định này mang lại (Cameran, Merlotti & Di Vincenzo, 2005) Việc luân chuyển kiểm toán cả ở cấp độ công ty và cấp độ kiểm toán viên sẽ chỉ gây ra sự tốn kém không cần thiết về mặt tài chính và thời gian của nhà quản lý trong việc thực hiện các thủ tục lựa chọn công ty kiểm toán mới và hỗ trợ các kiểm toán viên hiểu rõ lại từ đầu về đặc điểm hoạt động của họ trong cuộc kiểm toán năm đầu tiên cho khách hàng (Hennes, Leone & Miller, 2010) Mặt khác, sự phụ thuộc quá nhiều của kiểm toán viên vào báo cáo kỳ trước cũng như những ước tính chủ quan của ban giám đốc trong những năm đầu sẽ làm gia tăng rủi ro kiểm toán chứ không làm tăng chất lượng kiểm toán như mong đợi Bên cạnh đó, việc thiếu kiến thức chuyên biệt về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh cũng như tình hình hoạt động của khách hàng trong năm đầu kiểm toán sẽ gây ra không ít khó khăn cho kiểm toán viên trong việc nắm bắt rõ tất cả các rủi ro kinh doanh của khách hàng, vì điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro của toàn cuộc kiểm toán Vấn đề phát sinh khi các Công ty niêm yết quyết định thay đổi công ty kiểm toán, có thể gây ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán, khi công ty kiểm toán chấp nhận khách hàng và thực hiện cuộc kiểm toán năm đầu tiên, đặc biệt là khả năng gặp phải các rủi ro pháp lý
Trang 13Các chi phí trực tiếp và gián tiếp có thể phát sinh và công ty khách hàng phải gánh chịu khi họ quyết định thay đổi công ty kiểm toán Ví dụ, chi phí trực tiếp phát sinh khi khách hàng cần phải dành nhiều thời gian hỗ trợ kiểm toán viên mới thấu hiểu các thông tin ban đầu có liên quan đến tình hình hoạt động, đặc điểm ngành nghề và môi trường kinh doanh của họ trong suốt khoảng thời gian ban đầu sau khi hợp đồng kiểm toán được ký kết (Berlin & Walsh, 1972) Fried và Schiff (1981) cho rằng một khoản phí gián tiếp sẽ phát sinh từ quyết định thay đổi công ty kiểm toán do mức độ rủi ro của thông tin gia tăng Điều này xảy ra khi người sử dụng báo cáo tài chính cho rằng thông tin công bố trên báo cáo tài chính được kiểm toán không đáng tin cậy vì nghi ngờ công ty khách hàng có hành vi “mua ý kiến kiểm toán” (Opinion Shopping) khi quyết định chọn lựa một công ty kiểm toán khác với mong muốn nhận được ý kiến kiểm toán có lợi (ý kiến chấp nhận toàn phần) trên báo cáo kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của việc lập và trình bày báo cáo tài chính Nếu như chính công ty khách hàng là người phải gánh chịu các khoản chi phí này, vậy vì sao họ vẫn quyết định thay đổi công ty kiểm toán? Liệu rằng sự thay đổi công ty kiểm toán bị chi phối bởi các hành vi cơ hội của nhà quản trị, khi các nhà quản trị cho rằng chi phí thay đổi kiểm toán thấp hơn so với lợi ích mà họ nhận được Trên thực tế, các công ty luôn nỗ lực che giấu các nguyên nhân đằng sau quá trình thay đổi và lựa chọn công ty kiểm toán của họ Vì sợ rằng việc công bố công khai thông tin về việc công ty quyết định thay đổi công ty kiểm toán đến công chúng sẽ gây ra cái nhìn tiêu cực của các bên liên quan về việc tồn tại những vấn đề bất ổn về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của công ty
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm giúp đưa ra câu trả lời đâu là động cơ dẫn đến
sự thay đổi công ty kiểm toán Thông qua việc tổng hợp các lý thuyết nền tảng, các nghiên cứu có liên quan, phát triển giả thuyết và kiểm định thực nghiệm mô hình nghiên cứu, tác giả mong muốn hiểu được bản chất, động cơ dẫn đến sự thay đổi công
ty kiểm toán và nhận diện các nhân tố có thể dẫn đến quyết định thay đổi công ty kiểm toán của các Công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh Do đó tác giả mạnh dạn thực hiện đề tài nghiên cứu: “CÁC NHÂN TỐ
Trang 14ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CÔNG TY KIỂM TOÁN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” để làm luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chung: nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự thay đổi
công ty kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Để đạt được Mục tiêu nghiên cứu chung, đề tài sẽ hướng đến các Mục tiêu cụ thể
như sau:
- Khám phá và tập hợp các nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến sự thay đổi công ty kiểm toán tại các Công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Thành phồ Hồ Chí Minh
- Xác định mức độ tác động của từng nhân tố đối với sự thay đổi công ty kiểm toán;
- Kết quả nghiên cứu giúp kiểm toán viên hành nghề và các bên có liên quan hiểu được mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan đến khách hàng, công ty được kiểm toán
và sự thay đổi công ty kiểm toán Từ đó đề xuất các giải pháp cần được thực hiện để đạt được tính hiệu quả của cuộc kiểm toán, tính độc lập của Kiểm toán viên và giảm thiểu rủi ro nghề nghiệp
3.Câu hỏi nghiên cứu
Nhằm đạt được Mục tiêu nghiên cứu đã xác định, đề tài hướng đến việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi nghiên cứu số 1: Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến sự thay đổi công ty kiểm toán tại các Công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh?
Câu hỏi nghiên cứu số 2: Mức độ tác động của từng nhân tố đối với sự thay đổi công
ty kiểm toán như thế nào?
Trang 15Câu hỏi nghiên cứu số 3: Dựa vào kết quả nghiên cứu tìm được thì đâu là giải pháp cần được thực hiện nhằm mục đích đạt được tính hiệu quả của cuộc kiểm toán, tính độc lập của kiểm toán viên và giảm thiểu rủi ro nghề nghiệp kiểm toán?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sự thay đổi công ty kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng
đến sự thay đổi công ty kiểm toán
5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm xác định, xây dựng và kiểm định lý thuyết khoa học về mối quan hệ giữa các nhân tố có ảnh hưởng đến quyết định thay đổi công ty kiểm toán của các công ty niêm yết
Dựa vào việc lược khảo các lý thuyết và nghiên cứu trước đây, tác giả tổng hợp các nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến sự thay đổi công ty kiểm toán Hình thành các giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu Và để kiểm định giả thuyết đã đưa ra, tác giả sử dụng mô hình hồi quy logit để phản ánh xác suất thay đổi công ty kiểm toán của doanh nghiệp và chiều tác động của các nhân tố đến khả năng thay đổ công ty kiểm toán
Vì lý do hạn chế về mặt thời gian và kinh phí, nên tác giả không chọn phương pháp thu thập dữ liệu bằng Bảng câu hỏi khảo sát ý kiến của nhà quản lý các công ty Niêm yết, về các yếu tố tác động đến sự thay đổi công ty kiểm toán và mức độ tác động đến khả năng công ty niêm yết quyết định thay đổi công ty kiểm toán Do đó, tác giả sử dụng thông tin và dữ liệu thứ cấp thu thập trên báo cáo kiểm toán, báo cáo tài chính
đã qua kiểm toán và báo cáo thường niên của 111 công ty niêm yết trên Sàn giao dịch
Trang 16chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn từ 2014-2016 để đo lường các biến trong mô hình
Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được mã hóa, làm sạch và xử lý bằng phần mềm Eview 7.0
6 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: Từ việc nhận định vấn đề đang gây bàn cãi trong nghề nghiệp
kiểm toán hiện nay, bài nghiên cứu đã thực hiện hệ thống hóa các khái niệm, vấn đề liên quan đến sự thay đổi công ty kiểm toán Bên cạnh đó, tác giả đã tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi công ty kiểm toán và thang đo lường cho các nhân
tố này Với rất ít các nghiên cứu hướng đến việc khám phá và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố đến sự thay đổi công ty kiểm toán tại Việt Nam, bài nghiên cứu
đã mạnh dạn thực hiện kiểm định và tìm ra mối quan hệ giữa các nhân tố và sự thay đổi công ty kiểm toán
- Về mặt thực tiễn: Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu sẽ giúp các bên có liên
quan (nhà làm luật, kiểm toán viên, công ty kiểm toán, nhà đầu tư, ) hiểu được về chiều hướng, mức độ tác động cũng như bản chất của mối quan hệ giữa các nhân tố đối với sự thay đổi công ty kiểm toán Từ đó giúp các kiểm toán viên, công ty kiểm toán có thêm thông tin hỗ trợ cho quá trình ra quyết định trong quá trình hành nghề giúp họ tránh được các nguy cơ pháp lý cũng như giảm thiểu các rủi ro ảnh hưởng đến nghề nghiệp, cũng như đạt được tính hiệu quả trong mỗi cuộc kiểm toán nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường kiểm toán Cũng như các nhà làm luật hoạch định chính sách nhằm kiểm soát các nhân tố cơ hội có ảnh hưởng đến sự thay đổi kiểm toán viên
và gián tiếp đe dọa đến tính độc lập và uy tín của kiểm toán viên
7 Kết cấu của luận văn
Bài nghiên cứu của tác giả gồm có 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi công ty kiểm toán
Trang 17Chương 2: Cơ sở lý thuyết về sự tác động của các nhân tố đến sự thay đổi công ty kiểm toán
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và Giải pháp
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CÔNG TY KIỂM TOÁN
1.1 Các nghiên cứu có liên quan công bố ở nước ngoài
Nghiên cứu của Chow & Rice (1982), “Qualified Audit Opinions & Auditor Switching”, chỉ tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa Ý kiến kiểm toán không phải
là chấp nhận toàn phần và khả năng thay đổi công ty kiểm toán Mục đích của nghiên cứu là xác định mức độ mà các nhà quản lý lợi dụng quyền quyền quyết định bãi nhiệm kiểm toán viên gây áp lực cho các kiểm toán viên buộc họ phải đưa ra ý kiến kiểm toán có lợi đối với BCTC (“clean opinion”) Mẫu quan sát gồm các công ty trong năm 1973 nhận được ý kiến kiểm toán không phải là chấp nhận toàn phần và các công ty có thực hiện chuyển đổi công ty kiểm toán tại thời điểm kết thúc năm tài chính 1973 và 1974, nguồn dữ liệu được tổng hợp từ Tạp chí Leasco Disclosure Journal năm 1973-1974 Kiểm định Chi-bình phương cho mẫu độc lập được thực hiện
để kiểm chứng mối quan hệ giữa Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần và sự thay đổi công ty kiểm toán Kết quả kiểm định cho thấy việc nhận được “Ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần” có khả năng dẫn đến hành
vi thay đổi công ty kiểm toán Bên cạnh yếu tố “Ý kiến kiểm toán”, kế thừa các nghiên cứu trước (Burton & Roberts (1967) và Carpenter & Strawser (1971)) Chow & Rice còn thu thập thêm các dữ liệu về các biến khác trên mẫu nhỏ hơn so với mẫu ban đầu để xem xét sự ảnh hưởng của các biến này đến sự thay đổi công ty kiểm toán, các biến bao gồm:
- Sự thay đổi quản lý;
- Trong năm có hoạt động mua bán, sát nhập;
- Nhận được nguồn tài trợ mới;
- Bất đồng quan điểm trong việc lựa chọn chính sách kế toán;
Vì biến phụ thuộc- Sự thay đổi công ty kiểm toán là biến nhị phân, chỉ nhận hai giá trị
0 và 1 Hai tác giả nhận thấy sự không phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính (OLS) nên mô hình hồi quy logit được tác giả sử dụng Kết quả nghiên cứu của Chow & Rice cho thấy, chỉ duy có biến “Ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần” có
Trang 19ý nghĩa thống kê với hành vi thay đổi công ty kiểm toán Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho thấy các công ty nhận được ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần trong năm trước, có thay đổi công ty kiểm toán không có khả năng nhận được ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần trong năm tiếp theo Các yếu tố còn lại không có tương quan có nghĩa với sự thay đổi công ty kiểm toán
Bên cạnh đó, các nhà học thuật còn nghiên cứu mối quan hệ giữa sự thay đổi công ty kiểm toán với những phản ứng diễn biến trên thị trường chứng khoán
Tiêu biểu cho dòng nghiên cứu này chính là nghiên cứu của Nichols & Smith (1983),
“Auditor Credibility and Auditor Changes” Nghiên cứu được thực hiện nhằm chứng minh về sự tồn tại và mức độ phản ứng của các thành phần trên thị trường trước thông tin thay đổi công ty kiểm toán Với mẫu nghiên cứu gồm các công ty niêm yết trên hai sàn NYSE và AMEX có thực hiện thay đổi công ty kiểm toán trong khoảng thời gian
6 năm từ năm 1973 đến năm 1979 Trong đó, có 22 trường hợp chuyển đổi từ công ty kiểm toán Big 8 sang công ty kiểm toán không thuộc nhóm Big 8(B-N) và 29 trường hợp chuyển đổi từ công ty kiểm toán không thuộc nhóm Big 8 sang Công ty kiểm toán Big 8 (N-B) Vận dụng khung lý thuyết do Dopuch và Simunic công bố vào năm
1982, cho rằng có sự khác biệt về khả năng cung cấp dịch vụ kiểm toán giữa hai nhóm công ty kiểm toán, cho nên các công ty kiểm toán lớn được các nhà đầu tư đánh giá sẽ mang lại các cuộc kiểm toán có chất lượng cao hơn các công ty kiểm toán nhỏ Do đó, nhóm tác giả giả thuyết rằng thông tin thay đổi công ty kiểm toán từ nhóm không thuộc Big 8 sang nhóm kiểm toán Big 8 là thông tin có lợi, sẽ tạo nên hiệu ứng tích cực đến giá chứng khoán Và ngược lại, từ nhóm Big 8 sang nhóm không thuộc Big 8
là thông tin bất lợi sẽ gây ra hiệu ứng tiêu cực đến thị trường chứng khoán Biến động bất thường của tỷ suất sinh lời chứng khoán i trong thời kỳ t (µi,t), được nhóm tác giả
sử dụng để khảo sát ảnh hưởng của thông tin “thay đổi kiểm toán viên” đến giá chứng khoán Chỉ số này được đo lường bằng sự khác biệt giữa tỷ suất sinh lời thực tế và tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán i trong thời kỳ t Phương pháp tỷ suất sinh lời điều chỉnh theo thị trường và rủi ro của Mandelker (1974), Patell (1976), Brown và Warner (1980) được vận dụng để xác định tỷ suất sinh lời kỳ vọng bằng phương pháp
Trang 20hồi quy OLS trong khung thời gian ước tính 60 tuần từ tuần -57 đến tuần -4 trước thời điểm thông tin thay đổi công ty kiểm toán được công bố Để kiểm định giả thuyết đặt
ra, nghiên cứu được thực hiện qua ba bước Bước 1, nhóm tác giả thực hiện kiểm định T-test về sự khác biệt về bình quân tỷ suất sinh lợi bất thường đã được chuẩn hóa giữa hai nhóm công ty N-B và B-N nhằm xác định liệu rằng có sự khác biệt đáng kể về mức độ phản ứng của thị trường trước hai hướng thay đổi kiểm toán viên N-B và B-N Bước 2, dữ liệu biến động bất thường tỷ suất sinh lợi bình quân trong thời kỳ t (ARt) của từng nhóm N-B và B-N được thu thập với khung thời gian quan sát từ tuần -4 đến tuần 3, trước và sau khi thông tin thay đổi kiểm toán viên được công bố, nhằm mục đích xác định xem liệu thị trường có sự phản ứng đáng kể trước thông tin được công
bố (ARt khác 0) Bước 3, dựa vào chỉ số Biến động bất thường bình quân tích lũy của
tỷ suất sinh lời (CAR) tính từ thời điểm tuần -4 trước khi thông tin thay đổi kiểm toán viên được công bố Nhóm tác giả mong muốn xác định liệu chiều hướng và độ lớn của CAR của từng nhóm biến động giống như giả thuyết đã đặt ra, CAR tăng dần qua thời gian trước thông tin doanh nghiệp quyết định thay đổi công ty kiểm toán từ nhóm không thuộc Big8 sang nhóm Big8 và ngược lại kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều hướng biến động của AR và CAR phù hợp với giả thuyết đã đặt ra Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê sự khác biệt về mức độ phản ứng bình quân của thị trường trước hai hướng thông tin thay đổi công ty kiểm toán (N-B
và B-N) như kết quả nghiên cứu lý thuyết của Dopuch và Simunic
Nghiên cứu của Schwartz & Menon (1985), “Auditor Switches by failing firms”
được thực hiện nhằm khám phá xem động cơ nào dẫn đến việc các công ty có tình hình tài chính khánh kiệt chuyển đổi công ty kiểm toán Họ giả thuyết rằng “tình hình tài chính kiệt quệ” có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi công ty kiểm toán, bởi vì, tình hình tài chính bất ổn có mối tương quan với các yếu tố khác như ý kiến kiểm toán bất lợi, bất đồng về việc lựa chọn chính sách kế toán, sự thay đổi các nhà quản lý cấp cao, phí kiểm toán và yêu cầu về sự bảo đảm cao hơn Dữ liệu được thu thập dựa vào Báo cáo tài chính hằng năm của các công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán NYSE và AMSE từ năm 1974-1982, mẫu cuối cùng gồm 2 nhóm: mẫu 132 công ty phá sản và
Trang 21mẫu đối ứng gồm 132 công ty không phá sản được sử dụng để đo lường khả năng các công ty thay đổi công ty kiểm toán giữa các công ty có tình hình tài chính lành mạnh
và các công ty có tình hình tài chính bất ổn
Bài nghiên cứu gồm hai phần Phần đầu, tác giả kiểm tra sự khác biệt về động cơ thay đổi công ty kiểm toán giữa hai nhóm công ty bằng cách sử dụng Kiểm định Chi-bình phương đối với mẫu độc lập Kết quả chứng minh rằng các công ty đang trong tình trạng bất ổn tài chính có động cơ thay đổi công ty kiểm toán cao hơn Phần hai, từ mẫu 132 công ty phá sản tác giả chọn ra 128 công ty (4 công ty bị loại vì không đủ dữ liệu) để tiến hành thu thập dữ liệu để kiểm tra mối quan hệ giữa sự thay đổi công ty kiểm toán và các biến khác như: Ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần,
sự thay đổi quản lý cấp cao và phí kiểm toán Kết quả kiểm định Chi-bình phương cho từng cặp biến nhân tố và sự thay đổi cho thấy, ý kiến kiểm toán, sự thay đổi trong quản lý và phí kiểm toán không có tương quan có ý nghĩa thống kê với sự thay đổi công ty kiểm toán Do đó, Schwartz & Menon (1985) kết luận rằng “Tình hình tài chính bất ổn” là một trong những yếu tố mang tính quyết định dẫn đến sự thay đổi công ty kiểm toán
Nghiên cứu của Williams (1988), “The potential Determinants of Auditor changes”, được xem là một trong những nghiên cứu tiên phong, đặt nền tảng cho
dòng nghiên cứu tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi thay đổi công ty kiểm toán So với các công trình nghiên cứu trước, dựa vào Lý thuyết ủy nhiệm (Jensen & Meckling, 1976), Williams phát triển một mô hình lý thuyết gồm ba khái niệm được dùng để lý giải các động cơ dẫn đến hành vi thay đổi kiểm toán viên Mục đích của nghiên cứu nhằm kiểm chứng xem các động cơ dẫn đến hành vi thay đổi công ty kiểm toán là để tìm kiếm dịch vụ kiểm toán chất lượng cao hơn hay sự thay đổi này chỉ nhắm đến các kiểm toán viên luôn sẵn lòng đưa ra ý kiến kiểm toán có lợi về BCTC làm lệch lạc đi tình hình thực tế tại đơn vị được kiểm toán Tác giả đưa ra ba nhóm các nhân tố gồm mười biến thành phần để giải thích lý do dẫn đến hành vi thay đổi công ty kiểm toán:
Trang 22Nhóm 1: Các nhân tố liên quan đến sự thay đổi trong các mối quan hệ hợp đồng và môi trường kinh doanh, gồm có ba yếu tố:
- Sự thay đổi nhà quản lý;
- Tỷ lệ phần trăm sự thay đổi khối lượng của cổ phiếu phổ thông;
- Tỷ lệ phần trăm thay đổi trong doanh thu
Nhóm 2: Các nhân tố liên quan đến tính hiệu quả của kiểm toán viên, bao gồm hai yếu tố:
- Thị phần của công ty kiểm toán trong thị trường dịch vụ kiểm toán;
- Số năm thực hiện kiểm toán cho cùng một khách hàng
Nhóm 3: Các nhân tố có ảnh hưởng đến hình ảnh, danh tiếng của công ty được kiểm toán, thể hiện qua năm nhân tố sau:
- Công ty được kiểm toán đang vướng vào các vụ bê bối, gian lận, vi phạm pháp luật,
…
- Công ty được kiểm toán nhận được ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần trong năm đầu tiên
- Công ty được kiểm toán có sự thay đổi các chính sách kế toán
- Tỷ lệ phần trăm sự thay đổi lợi nhuận trên tổng tài sản
- Tỷ lệ phần trăm sự thay đổi Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu
Mẫu nghiên cứu gồm hai nhóm: 186 công ty có thay đổi công ty kiểm toán và 186 công ty không thay đổi công ty kiểm toán trên Sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ (AMEX) và New York (NYSE) Hai nhóm này phải đảm bảo sự tương đồng với nhau
Mô hình hồi quy logistic được áp dụng để kiểm tra mối quan hệ tương quan giữa sự thay đổi công ty kiểm toán và các biến độc lập được mô tả ở trên Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba nhân tố có ảnh hưởng đáng kể đến sự thay đổi công ty kiểm toán:
- Thị phần của công ty kiểm toán trong thị trường dịch vụ kiểm toán;
- Số năm thực hiện kiểm toán cho cùng một khách hàng;
- Công ty được kiểm toán đang vướng vào các vụ bê bối, gian lận, vi phạm pháp luật,
…
Trang 23Mô hình được đánh giá là có khả năng dự báo đến 66,1% Trong khi đó, các biến còn lại: sự thay đổi trong quản lý, Phần trăm thay đổi khối lượng cổ phiếu phổ thông, doanh thu, ý kiến kiểm toán, bất đồng về việc áp dụng chính sách kế toán, phần trăm thay đổi lợi nhuận trên tổng tài sản và thu nhập trên mỗi cổ phiếu tác giả không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa với biến sự thay đổi kiểm toán viên Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra kết luận rằng: các công ty thực hiện thay đổi công ty kiểm toán không vì mục đích “mua bán ý kiến kiểm toán” (“shopping around”) Họ thay đổi kiểm toán vì không hài lòng với chất lượng dịch vụ kiểm toán của kiểm toán viên tiền nhiệm và nhận thấy kiểm toán viên kế nhiệm có khả năng cung cấp dịch vụ kiểm toán
có chất lượng cao hơn Kết quả nghiên cứu của Williams (1988) về biến Sự thay đổi trong quản lý , Ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần và Bất đồng trong việc lựa chọn chính sách kế toán tương đồng với nghiên cứu của Schwartz & Menon (1985) Tuy nhiên không tương đồng với nghiên cứu của Chow & Rice (1982) ở biến
Ý kiến kiểm toán
Nghiên cứu của Beattie & Fearnley (1995), “The importance of audit firm characteristics and the drivers of auditor change in UK listed companies”, được
thực hiện nhằm mục đích khám phá tầm quan trọng của các đặc điểm của công ty kiểm toán đến quyết định chọn lựa công ty kiểm toán và các yếu tố dẫn đến việc thay đổi công ty kiểm toán của các công ty niêm yết Từ danh sách theo thứ tự các công ty niêm yết tại Anh và Ireland (bao gồm tên công ty, giám đốc, địa chỉ, số điện thoại) được cung cấp từ Công ty tài chính Extel, các tác giả chọn ra được 300 công ty Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là phương pháp khảo sát, với công cụ khảo sát
là Bảng câu hỏi dạng đóng, gồm hai phần chính Trong đó, phần đầu của bảng câu hỏi bao gồm 29 mục câu hỏi có liên quan đến các đặc điểm của công ty được kiểm toán, thang đo được sử dụng là thang đo Likert 5 mức độ Phần sau, gồm 26 mục câu hỏi liệt kê các tình huống có thể dẫn đến quyết định thay đổi công ty kiểm toán, được sử dụng để nhận diện đâu là nhân tố có khả năng dẫn đến sự thay đổi công ty kiểm toán cao nhất Số lượng bảng câu hỏi thu về là 210 (Tỷ lệ phản hồi 70%) Kết quả khảo sát
Trang 24cho thấy, có ba đặc điểm được xem là quan trọng nhất khi quyết định chọn một công
ty kiểm toán, đó là:
- Danh tiếng của công ty kiểm toán;
- Năng lực về kỹ thuật, công nghệ;
- Mối quan hệ trong công việc giữa công ty được kiểm toán và trưởng nhóm kiểm toán
Nghiên cứu còn chỉ ra được các nguyên nhân hàng đầu có thể dẫn đến quyết định thay đổi công ty kiểm toán đó là:
- Mức phí kiểm toán (66%);
- Sự không hài lòng về chất lượng kiểm toán (33%);
- Sự thay đổi các nhà quản lý cấp cao (25%)
Nghiên cứu của Defond, M và K.R Subramanyam, “Auditor Changes and Discretionary Accruals” công bố vào năm 1998 Nhóm tác giả tập trung phân tích
những thay đổi của biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh trước và sau thời điểm xảy
ra sự thay đổi công ty kiểm toán Với mẫu gồm 503 công ty có thực hiện thay đổi công ty kiểm toán trong khoảng thời gian bốn năm từ năm 1990 đến năm 1993 Mô hình của Jones (1991) được các tác giả sử dụng để đo lường Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh Qua phân tích sơ bộ, nhóm tác giả tìm ra rằng các khoản dồn tích có thể điều chỉnh trong 2 năm trước thời điểm thay đổi công ty kiểm toán có giá trị gần bằng không, nghĩa là công ty không có dấu hiệu của hành vi điều chỉnh lợi nhuận Tuy nhiên, giá trị này giảm đáng kể vào năm cuối cùng của kiểm toán viên tiền nhiệm Và vẫn duy trì ở giá trị âm trong năm tiếp theo, cũng là năm cung cấp dịch vụ kiểm toán đầu tiên của công ty kiểm toán kế nhiệm, tuy nhiên độ lớn của khoản dồn tích nhỏ hơn đáng kể so với thời điểm năm trước đó Để hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, nhóm tác giả tiến hàng phân tích sâu hơn về các phương pháp, chính sách kế toán được công ty lựa chọn trong năm trước và sau thời điểm thay đổi công ty kiểm toán Các tác giả khám phá ra rằng, bắt nguồn từ các rủi ro về mặt pháp lý, các kiểm toán viên thường có xu hướng thuyết phục các nhà quản trị nên chọn các phương pháp, chính sách kế toán theo nguyên tắc thận trọng, điều này làm cho biến kế
Trang 25toán dồn tích có thể điều chỉnh có giá trị âm làm cho số liệu lợi nhuận trên báo cáo tài chính bị giảm đi Đây là điều mà không nhà quản trị công ty nào mong muốn xảy ra
do ảnh hưởng đến danh tiếng và hình ảnh của họ Sự bất đồng quan điểm trong việc lựa chọn chính sách và phương pháp kế toán giữa hai bên, khiến cho các nhà quản trị quyết định kết thúc hợp đồng với công ty kiểm toán cũ và tìm kiếm một công ty kiểm toán mới, có cùng quan điểm với họ trong việc chọn lựa và áp dụng chính sách, phương pháp kế toán Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, trong năm đầu tiên của kiểm toán viên kế nhiệm, các nhà quản trị vẫn duy trì một số chính sách và phương pháp kế toán thận trọng, do đó biến kế toán dồn tích sau điều chỉnh vẫn có giá trị âm, nhưng nhỏ hơn so với thời điểm năm cuối cùng của kiểm toán viên tiền nhiệm
Nghiên cứu của Woo & Koh (2001), “Factors associated with audior changes: a Singapore study”, mục đích của nghiên cứu là tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố
liên quan đến công ty kiểm toán và công ty được kiểm toán đến sự thay đổi công ty kiểm toán Qua việc tổng hợp các công trình nghiên cứu trước, tác giả đã nhận diện 11 nhân tố có ảnh hưởng đến sự thay đổi công ty kiểm toán Nhóm nhân tố liên quan đến công ty kiểm toán: Phí kiểm toán, Ý kiến kiểm toán, Chất lượng kiểm toán Nhóm nhân tố thuộc về công ty được kiểm toán: Sự thay đổi quản lý cấp cao, Hành vi điều chỉnh lợi nhuận (DeFond, 1992), Đòn cân nợ, Quy mô công ty, Mức độ phức tạp, Tình hình tài chính, Tốc độ tăng trưởng và các hoạt động tài trợ Tương tự như nghiên cứu của Schwartz & Menon (1985), Williams (1988) và DeFond (1992), mẫu nghiên cứu của Woo & Koh gồm hai nhóm: nhóm có thay đổi công ty kiểm toán và nhóm kiểm soát (nhóm không thay đổi công ty kiểm toán) Sau khi chọn ra 54 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán Singapore (SES) có thực hiện chuyển đổi công ty kiểm toán trong khoảng thời gian quan sát từ năm 1986-1995, các tác giả chọn ra mẫu đối ứng gồm 54 công ty không có thay công ty kiểm toán Số lượng công ty niêm yết có thay đổi công ty kiểm toán từ năm 1986-1995 trong nghiên cứu của Woo & Koh là 54 công ty Thấp hơn so với các nghiên cứu được thực hiện ở Anh và Mỹ, với 341 công
ty trong tổng 2,079 công ty niêm yết ở Anh giai đoạn 1987- 1991 (Beattie & Fearnley, 1994) và 1,861 công ty niêm yết ở Mỹ giai đoạn 1979 – 1983 (DeFond, 1992) có
Trang 26chuyển đổi công ty kiểm toán Phương pháp thống kê mô tả và hồi quy logit được nhóm tác giả sử dụng để phân tích dữ liệu, mối quan hệ giữa biến phụ thuộc (Sự thay đổi kiểm toán) và 16 biến độc lập Kết quả nghiên cứu cho thấy Ý kiến kiểm toán, Chất lượng kiểm toán, Sự thay đổi quản lý, Hành vi điều chỉnh lợi nhuận, Đòn cân nợ, Mức độ phức tạp và Tốc độ tăng trưởng là các nhân tố có ảnh hưởng đến sự thay đổi công ty kiểm toán Nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa các yếu tố còn lại: Phí kiểm toán, Ý kiến kiểm toán, … với sự thay đổi công ty kiểm toán
Nghiên cứu của Hudaib & Cooke (2005), “The impact of managing director changes and financial distress on audit qualification and auditor switching” được
thực hiện nhằm kiểm định mối quan hệ tác động qua lại giữa hai biến độc lập: sự thay đổi quản lý cấp cao và sự bất ổn tài chính với biến phụ thuộc: Ý kiến kiểm toán, trong
đó có năm biến kiểm soát (Loại công ty kiểm toán, Phí kiểm toán, quy mô công ty kiểm toán,…) Sau đó, hai tác giả tiếp tục nghiên cứu tác động của các biến nêu trên bao gồm cả biến Ý kiến kiểm toán đến biến Sự thay đổi công ty kiểm toán Nghiên cứu được thực hiện với mẫu gồm 297 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán London thuộc năm nhóm ngành khác nhau, không bao gồm ngành tài chính trong giai đoạn từ năm 1987 – 2001 Dữ liệu được sử dụng để đo lường các biến được thu thập từ BCTC hàng năm qua 15 năm Hơn thế nữa, nghiên cứu còn đưa ra bằng chứng rằng các kiểm toán viên có thể gặp phải nguy cơ quen thuộc và nguy cơ đe dọa khi đưa ra ý kiến kiểm toán bất lợi từ đó dẫn đến nguy cơ bị bãi nhiệm Phương pháp phân tích hồi quy
đa biến được tác giả áp dụng để phân tích 3 mô hình nghiên cứu của mình là hồi quy logistic, bởi biến phụ thuộc là biến giả nhị phân Trong mô hình 1, biến phụ thuộc là biến Ý kiến kiểm toán (Ot), có hai giá trị: Ý kiến chấp nhận toàn phần và Ý kiến không phải chấp nhận toàn phần Trong mô hình 2 và 3, biến phụ thuộc là Sự thay đổi
ý kiến kiểm toán (St), nhận hai giá trị: có thay đổi và không thay đổi Kết quả nghiên cứu cho thấy, các công ty có các đặc điểm như: đang trong giai đoạn khó khăn về tài chính, có thay đổi nhân sự cấp cao có khả năng nhận được Ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần và ngược lại Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho thấy các công ty đang lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính, nhưng không có sự thay đổi
Trang 27quản lý cấp cao thì khả năng nhận được Ý kiến chấp nhận toàn phần cao tương đồng với nghiên cứu của Schwarts & Menon (1985), điều này chứng tỏ sự tồn tại nguy cơ quen thuộc giữa kiểm toán viên và công ty được kiểm toán vi phạm tính độc lập của kiểm toán viên Công ty được kiểm toán sẽ gặp nguy cơ đe dọa bị bãi nhiệm sau khi đưa ra Ý kiến kiểm toán bất lợi- Ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần, tương đồng với nghiên cứu của Chow & Rice (1982), Crasswell (1988)
Nghiên cứu của Z Jun Lin &Ming Liu (2009), “The Determinants of Auditor Switching from the Perspective of Corporate Governance in China” Mục đích
của nghiên cứu nhằm khám phá mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan đến cơ chế quản trị công ty và hai hướng thay đổi công ty kiểm toán (chọn một công ty kiểm toán lớn hơn hoặc chuyển đổi sang một công ty kiểm toán nhỏ) trong bối cảnh thị trường Trung Quốc Ba biến thuộc về quản trị công ty được nhóm tác giả chọn lựa xây dựng
mô hình nghiên cứu là: Mức độ tập trung quyền sở hữu (tương ứng với phần trăm tỷ
lệ sở hữu của các cổ đông có quyền kiểm soát), tính hữu hiệu về mặt kiểm soát của bộ máy quản lý, kiểm soát (tương ứng với số lượng thành viên trong Hội đồng quản trị)
và sự kiêm nhiệm trong hệ thống quản lý (khi Chủ tịch hội đồng quản trị cũng là người nắm giữ vị trí Tổng giám đốc của công ty) Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra, nhóm tác giả đã chia 233 trường hợp thay đổi công ty kiểm toán xảy ra từ năm
2001 đến năm 2004 thành hai nhóm: một là khuynh hướng chuyển đổi sang công ty kiểm toán lớn hơn và hai là chuyển đổi sang công ty kiểm toán nhỏ Nghiên cứu thực nghiệm bằng mô hình hồi quy logistic giữa các biến độc lập thuộc về yếu tố quản trị công ty và hai nhóm biến phụ thuộc liên quan đến quyết định thay đổi kiểm toán viên, nhóm tác giả đưa ra kết luận rằng: các công ty có tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của các cổ đông chủ chốt càng cao và có sự kiểm nhiệm trong bộ máy quản lý sẽ có xu hướng quyết định thay đổi và chọn công ty kiểm toán nhỏ hơn Tuy nhiên, nhóm tác giả không thể đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa Kích thước của Hội đồng quản trị và quyết định lựa chọn công ty kiểm toán nhỏ hơn Do đó, nhóm tác giả cho rằng các công ty với cơ chế quản trị công ty yếu kém thường có hành vi thay đổi sang các công
ty kiểm toán nhỏ hơn nhằm tìm kiếm ý kiến kiểm toán có lợi về tình hình tài chính và
Trang 28hoạt động kinh doanh của công ty, phần nào che đậy đi những rủi ro tiềm ẩn ngày càng gia tăng trong hiện tại và tương lai của công ty do hệ thống quản lý, giám sát không hữu hiệu
1.2 Các nghiên cứu có liên quan công bố trong nước
Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu trực tiếp nào về sự thay đổi công ty kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi công ty kiểm toán Đa phần các nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu nhiệm kỳ của kiểm toán viên, sự luân chuyển công ty kiểm toán và ảnh hưởng của chúng đến chất lượng kiểm toán
Trần Khánh Lâm, 2011 Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán tại Việt Nam Luận án Tiến sĩ Kinh tế Trường ĐH Kinh tế TP.HCM
Luận án tập trung nghiên cứu các quan điểm cơ bản về Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán, cơ chế kiểm soát chất lượng Dữ liệu tác giả sử dụng cho phân tích định lượng, thống kê mô tả là
từ các báo cáo hoạt động thường niên của hơn 100 công ty kiểm toán qua các năm
2007, 2008 và 2009 và các dữ liệu từ báo cáo thường niên của Vụ chế độ Kế toán- Kiểm toán (Bộ tài chính) và Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) Bên cạnh đó tác giả còn tiến hành khảo sát 35 công ty kiểm toán được kiểm tra chất lượng trong năm 2009, dữ liệu khảo sát từ 69 công ty kiểm toán độc lập có quy mô và hình thức sở hữu khác nhau của năm 2008 và năm 2009, để đánh giá mức độ xây dựng và tuân thủ các quy định kiểm soát chất lượng của các công ty kiểm toán độc lập, cũng như mức độ thực hiện kiểm tra chất lượng của cơ quan Nhà nước (Vụ Chế độ Kế toán – Kiểm toán, Ủy Ban chứng khoán) và VACPA
Kết quả, tác giả nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán như: Quy mô công ty kiểm toán, Nhiệm kỳ của kiểm toán viên, Phạm vi của dịch vụ phi kiểm toán cung cấp, Giá phí kiểm toán, Mức độ chuyên sâu từng lĩnh vực, phương pháp luận kiểm toán và tính cách của kiểm toán viên, và kiểm soát chất lượng dịch vụ Như vậy nghiên cứu của tác giả cho thấy Nhiệm kỳ kiểm toán viên là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng kiểm toán
Trang 29Nghiên cứu của Lâm Huỳnh Phương, 2013 Ảnh hưởng của việc luân chuyển kiểm toán viên đến chất lượng hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam Luận văn thạc sĩ Trường ĐH Kinh tế TP HCM, được thực hiện nhằm mục
đích tìm hiểu về mối quan hệ giữa nhiệm kỳ kiểm toán viên và chất lượng kiểm toán BCTC Dữ liệu thu thập cho bài nghiên cứu là các số liệu kế toán trên BCTC đã kiểm toán và thông tin về kiểm toán viên phụ trách kiểm toán trên báo cáo kiểm toán đính kèm của 39 công ty niêm yết (không bao gồm các tổ chức tài chính) trên Sàn chứng khoán TP.HCM (HSX) và Sàn chứng khoán Hà Nội (HNX) từ năm 2000 đến năm
2012 Mô hình nghiên cứu gồm biến phụ thuộc: biến chất lượng kiểm toán, biến độc lập: nhiệm kỳ kiểm toán và các biến kiểm soát: Loại công ty kiểm toán (Big4 hay không phải Big4), Tỷ số nợ trên tổng tài sản, Tốc độ tăng trưởng về quy mô, Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh Trong đó, chất lượng kiểm toán được đo lường bằng Biến dồn tích bất thường (DA) theo mô hình Jones hiệu chỉnh (1995), nhiệm kỳ kiểm toán được đo lường bằng số năm liên tiếp một kiểm toán viên thực hiện kiểm toán cho một công ty Phương pháp hồi quy tuyến tính OLS được áp dụng để phân tích mối quan hệ giữa hai biến này Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiệm kỳ kiểm toán viên không có mối liên hệ tuyến tính rõ ràng với chất lượng kiểm toán viên, do đó không thể kết luận, nhiệm kỳ kiểm toán viên càng dài sẽ làm giảm chất lượng kiểm toán
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng, Hà Hoàng Nhân, 2015 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên- Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 215 Mục tiêu chung của nghiên cứu là
đánh giá quan điểm và ý kiến của các đối tượng có liên quan về các nhân tố ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên và so sánh quan điểm của các nhóm đối tượng này với nhau Đối tượng khảo sát gồm ba nhóm: Kiểm toán viên, kế toán viên
và người sử dụng BCTC (nhân viên ngân hàng, nhà đầu tư) đến từ nhiều địa phương khác nhau trong đó bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh Công cụ được sử dụng để thu thập dữ liệu là Bảng câu hỏi gồm hai phần: các câu hỏi về nhân khẩu học và 23 câu hỏi khảo sát mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính độc lập của Kiểm toán viên,
Trang 30được phát triển dựa trên các nghiên cứu đã được công bố: Beattie & cộng sự (1999); Alleyne & cộng sự (2006); Al-Ajmi & Saudagaram (2011) có điều chỉnh cho phù hợp với nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 23 nhân tố được đưa ra có 14 nhân
tố được đe dọa tính độc lập và 9 nhân tố làm tăng tính độc lập Trong đó, có ba nhân
tố đe dọa lớn nhất đến tính độc lập là: phí dịch vụ phi kiểm toán lớn hơn 100% phí kiểm toán; áp lực về cạnh tranh phí kiểm toán và áp lực về ngân sách mà các công ty kiểm toán áp đặt lên kiểm toán viên Và bốn nhân tố ít đe dọa nhất đến tính độc lập là: phí dịch vụ phi kiểm toán bằng từ 50% đến dưới 100% phí kiểm toán, công ty kiểm toán là công ty trong nước- quy mô nhỏ, phí dịch vụ phi kiểm toán bằng từ 25% đến dưới 50% phí kiểm toán và công ty kiểm toán thực hiện kiểm toán cho một khách hàng trong thời gian kéo dài hơn 5 năm Theo tác giả, sự kéo dài thời gian kiểm toán của một công ty đối với một khách hàng cũng đe dọa đến tính độc lập, phù hợp với nghiên cứu của Beattie & cộng sự (1999), và khác với kết quả nghiên cứu của Dart (2011) tại Anh
Nghiên cứu của Lưu Thị Thảo Nguyên, 2016 Ảnh hưởng của nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng kiểm toán – Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Luận văn thạc sĩ Trường ĐH Kinh
tế TP HCM Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích đánh giá sự ảnh hưởng của
nhân tố Nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng kiểm toán từ đó đánh giá tính hiệu quả của quy định luân chuyển kiểm toán bắt buộc trong việc nâng cao chất lượng kiểm toán tại Việt Nam Dựa trên các công trình nghiên cứu trước đây của Johnson & cộng
sự (2002), Myers & cộng sự (2003) và Chi & Huang (2005), tác giả đo lường chất lượng kiểm toán theo hai phương pháp: Khoản dồn tích bất thường theo mô hình Jones hiệu chỉnh (1995) và Khoản dồn tích vốn lưu động bất thường theo DeFond & Park (2001) Sau đó, tác giả tiến hành chạy mô hình hồi quy tuyến tính để kiểm định mối quan hệ giữa nhiệm kỳ kiểm toán và chất lượng kiểm toán Căn cứ vào số năm luân chuyển kiểm toán viên bắt buộc là ba năm theo Nghị định 105/2004/NĐ-CP, tác giả chọn ra mẫu cuối cùng bao gồm 133 công ty niêm yết trên hai Sàn chứng khoán TP.HCM và Hà Nội, trong đó có: 109 công ty buộc phải luân chuyển KTV trong năm
Trang 312015 và 24 công ty không phải luân chuyển KTV trong năm 2015 Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiệm kỳ kiểm toán không có mối tương quan có ý nghĩa thống kê đối với chất lượng kiểm toán, điều này cho thấy rằng, không thể kết luận quy định luân chuyển kiểm toán viên bắt buộc trong vòng 3 năm sẽ làm tăng chất lượng kiểm toán
1.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu trước, xác định khe hổng nghiên cứu
và xác định hướng nghiên cứu
1.3.1 Nhận xét về các nghiên cứu trước
1.3.1.1 Về các nghiên cứu ngước ngoài
Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây theo thời gian, tác giả nhận thấy sự thay đổi công ty kiểm toán là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu học thuật quan tâm Có nhiều dòng nghiên cứu được thực hiện nhằm khám phá mối quan hệ giữa sự thay đổi công ty kiểm toán với các yếu tố khác: như các yếu tố liên quan đến phản ứng của thị trường chứng khoán trước và sau thời điểm thay đổi công ty kiểm toán (Nichols & Smith, 1983), sự thay đổi số liệu chính sách kế toán trước và sau thời điểm thay đổi công ty kiểm toán (DeFond & Subramanyan, 1998), các yếu tố liên quan đến công ty được kiểm toán và công ty kiểm toán (Chow & Rice, 1982; Williams, 1988; Huson & cộng sự 2000; Hudaib & Cooke, 2005; Hudaib, 2006; Ismail, 2008; Ismail 2012…) Nhìn chung các nghiên cứu được thực hiện trên thế giới
có những đặc điểm nổi bật sau đây:
- Về khung lý thuyết: các nghiên cứu đều vận dụng được các Lý thuyết nền vào việc giải thích các động cơ dẫn đến hành vi thay đổi công ty kiểm toán, trong đó chủ yếu là
Lý thuyết ủy nhiệm của Jensen & Meckling công bố năm 1976 Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đưa ra được khung lý thuyết toàn diện có hệ thống lý giải sự thay đổi công
ty kiểm toán
- Từ những nghiên cứu ban đầu chỉ bao gồm một số nhân tố riêng lẻ tác động đến sự thay đổi công ty kiểm toán, càng về sau có nhiều nhân tố liên quan được nhận diện và phân loại
Trang 32- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu định lượng Mẫu nghiên cứu đa dạng về đặc điểm và cỡ mẫu, vì các nghiên cứu được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới: Anh, Mỹ, Trung Quốc, Singapore, Malyasia,… Dữ liệu thu thập bao gồm cả dữ liệu sơ cấp (khảo sát bằng bảng câu hỏi) và thứ cấp (số liệu trên BCTC của các công ty niêm yết)
- Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây, các nghiên cứu càng về sau có cấu trúc
lý thuyết nội dung rõ ràng hơn, các nhân tố trong mô hình được phân nhóm khoa học hơn Kết quả nghiên cứu có nhiều phát hiện mới với độ tin cậy cao và mang tính thuyết phục hơn, giải quyết được các vấn đề còn bị giới hạn từ các nghiên cứu trước đây Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chưa thống nhất, nguyên nhân có thể là do sự khác biệt về đặc điểm mẫu nghiên cứu (các quốc gia khác nhau có sự khác biệt đáng
kể về mô trường kinh doanh, pháp lý, văn hóa, trình độ phát triển), sự khác biệt về thời gian nghiên cứu, sự khác biệt về phương pháp, công cụ thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu,…
1.3.1.2 Về các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào hai khái niệm nhiệm kỳ kiểm toán viên và sự luân chuyển công ty kiểm toán, mối quan hệ tương quan của chúng đến chất lượng kiểm toán Theo tìm hiểu của tác giả, chưa có nghiên cứu thực nghiệm chính thức nào được thực hiện để tìm hiểu bản chất của sự thay đổi công ty kiểm toán, các động cơ dẫn đến sự thay đổi công ty kiểm toán và đánh giá tác động của các nhân
tố đến khả năng một công ty niêm yết quyết định thay đổi công ty kiểm toán
1.3.2 Khe hổng nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài
Qua việc lược khảo các công trình nghiên cứu trên thế giới và đánh giá tình hình nghiên cứu thực tế tại Việt Nam, tác giả nhận thấy còn những khe hổng mà căn cứ vào đó tác giả phát triển đề tài dự định thực hiện như sau:
- Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy có nhiều nhân tố tác động đến sự thay đổi công ty kiểm toán, tuy nhiên kết quả nghiên cứu có sự khác biệt, chưa kết luận được mối quan hệ có ý nghĩa giữa sự thay đổi công ty kiểm toán và một số nhân tố Phần
Trang 33lớn các nghiên cứu được thực hiện ở các quốc gia phát triển, và rất ít các nghiên cứu được thực hiện ở các quốc gia đang phát triển
- Tại Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả chưa có nghiên cứu chính thức về mối quan
hệ giữa sự thay đổi công ty kiểm toán và các nhân tố tác động
Do đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ
THAY ĐỔI CÔNG TY KIỂM TOÁN” với mục tiêu xác định các nhân tố tác động
đến sự thay đổi công ty kiểm toán và mức độ tác động của từng nhân tố này đến sự thay đổi công ty kiểm toán Để đạt được mục tiêu đề ra, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết có liên quan đến sự thay đổi công ty kiểm toán và nhận diện các nhân tố
có liên quan Dựa vào các nghiên cứu trước đây, tác giả xác định mối quan hệ kỳ vọng giữa các nhân tố với sự thay đổi công ty kiểm toán, diễn đạt mối quan hệ này thông qua các giả thuyết Để lượng hóa mối quan hệ giữa các nhân tố và sự thay đổi công ty kiểm toán, tác giả đề xuất mô hình định lượng hồi quy logit cho bài nghiên cứu của mình Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các kiến nghị phù hợp đến các bên có liên quan: cơ quan quản lý, nhà đầu tư, công ty kiểm toán và công ty được kiểm toán
Trang 34Kết luận chương 1
Trong chương này, luận văn đã trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu trước
có liên quan đến Sự thay đổi công ty kiểm toán và các nhân tố tác động đến sự thay đổi công ty kiểm toán Đồng thời, luận văn đã khái quát hóa mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu và kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới và Việt Nam
Luận văn cũng đã phân tích và tổng kết các ưu điểm và mặt hạn chế của các kết quả nghiên cứu trước về sự thay đổi công ty kiểm toán và các nhân tố tác động Từ đó, luận văn đã kế thừa cơ sở lý thuyết, phương pháp và kết quả nghiên cứu trước, bước đầu xem xét chọn lọc những nội dung và phương hướng cần thực hiện trong các bước nghiên cứu tiếp theo Các nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau do
đó kết quả nghiên cứu của các tác giả có thể có sự khác biệt do ảnh hưởng của các yếu
tố môi trường kinh doanh, văn hóa, thời gian nghiên cứu,… Do đó, trong quá trình nghiên cứu, tác giả cần cân nhắc vận dụng vào điều kiện của một nước đang phát triển như Việt Nam để xác định phương pháp nghiên cứu cho phù hợp
Trang 35CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC
NHÂN TỐ ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CÔNG TY KIỂM TOÁN
2.1 Công ty niêm yết
Theo Điều 25, Luật chứng khoán số 70/2006/QH ngày 29/06/2006 quy định như sau: Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau:
- Công ty đã thực hiện chào bán giá cổ phiếu ra công chúng;
- Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán;
- Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu
tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên
Do đó, một công ty niêm yết được xem là thỏa mãn đủ ba điều kiện trên
Bên cạnh đó tại Điều 53 của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 quy định các điều kiện niêm yết cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM như sau:
- Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 120
tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán Như vậy, để trở thành công ty niêm yết thì công ty đó trước hết phải là công ty cổ phần, tức là vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Có ít nhất 02 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần tính đến thời điểm đăng ký niêm yết (ngoại trừ doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa gắn với niêm yết); tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm gần nhất tối thiểu
là 5% và hoạt động kinh doanh của hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải
có lãi; không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 01 năm; không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký niêm yết; tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính;
- Công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc),
Kế toán trưởng, cổ đông lớn và những người có liên quan;
Trang 36- Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất ba trăm (300) cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ, trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;
- Cổ đông là cá nhân, tổ chức có đại diện sở hữu là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và
Kế toán trưởng của công ty; cổ đông lớn là người có liên quan với thành viên Hội và
Kế toán trưởng của công ty; cổ đông lớn là người có liên quan với thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu domình sở hữu trong thời gian 06 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 06 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại điện nắm giữ;
- Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định
Đáng chú ý, tại Điều 3 Thông tư 202/2015/TT-BTC ngày 18/12/2015 bổ sung thêm một số quy định được cho là khắc khe hơn có liên quan đến hồ sơ đăng ký niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán như sau:
“Các thông tin, số liệu trong hồ sơ, bản cáo bạch phải căn cứ vào báo cáo tài chính được kiểm toán, cụ thể như sau:
a) Báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán đối với khoản mục vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ đã góp của tổ chức đăng ký niêm yết (thay đổi đăng ký niêm yết) phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận Đối với các tổ chức liên quan khác tham gia hợp nhất, sáp nhập, hoán đổi, báo cáo tài chính phải được kiểm toán theo quy định pháp luật về kiểm toán độc lập;
b) Ý kiến kiểm toán đối với khoản mục vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ đã góp phải là “Ý kiến chấp nhận toàn phần” Trường hợp ý kiến kiểm toán đối với báo cáo tài chính là chấp nhận có ngoại trừ, thì yếu tố ngoại trừ không phải là khoản mục vốn chủ sở hữu và khoản mục trọng yếu khác như: tiền mặt, hàng tồn kho, tài sản cố định, các khoản phải thu, nợ phải trả;
Trang 37c) Tùy thuộc vào thời điểm nộp hồ sơ niêm yết, thay đổi niêm yết, công ty hợp nhất, công ty nhận sáp nhập sau quá trình sáp nhập hoặc công ty niêm yết sau hoán đổi được lựa chọn báo cáo tài chính được lập và đã được kiểm toán tại thời điểm gần nhất, nhưng không quá sáu (06) tháng tính đến thời điểm nộp
hồ sơ, bao gồm báo cáo tài chính lập ngay sau thời điểm hợp nhất, sáp nhập, hoán đổi; hoặc báo cáo tài chính quý, hoặc báo cáo tài chính bán niên, hoặc báo cáo tài chính năm lập sau thời điểm hợp nhất, sáp nhập, hoán đổi.”
Như vậy, để trở thành công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán TP.HCM, các công ty phải thỏa mãn các tiêu chuẩn liên quan đến tất cả các điều kiện bên trong lẫn bên ngoài của công ty Các yếu tố bên trong như: quản trị công ty, tình hình hoạt động kinh doanh của công ty thể hiện qua các số liệu công bố trên Báo cáo tài chính hằng năm, mức độ công bố thông tin của công ty Và các điều kiện bên ngoài, đó chính là ý kiếm kiểm toán đối với các thông tin và số liệu công bố trên Báo cáo tài chính của công ty Từ đó cho thấy rằng, thông tin công bố trên báo cáo tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong thị trường chứng khoán hiện nay và vai trò của kiểm toán độc lập trong việc tăng cường niềm tin của công chúng vào tính minh bạch và độ tin cậy của các thông tin này là không thể phủ nhận
2.2 Báo cáo tài chính
2.2.1 Khái niệm về Báo cáo tài chính
Để hiểu rõ tầm quan trọng của các thông tin trên Báo cáo tài chính đối với các bên liên quan trong nền kinh tế thị trường Đầu tiên, tác giả trình bày sơ lược các khái niệm liên quan đến Báo cáo tài chính, Mục đích và Vai trò của Báo cáo tài chính Dưới góc độ thông tin kế toán, Báo cáo tài chính được xem là kết quả đầu ra của một quá trình thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích các thông tin kinh tế, tài chính phát sinh trong kỳ hoạt động của một đơn vị Là nguồn dữ liệu quan trọng cho người có nhu cầu
sử dụng thông tin để đưa ra các quyết định thích hợp
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 năm 2002 (VAS01)- Chuẩn mực chung,
“Báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng
Trang 38hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu, Thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh.”
Theo Luật kế toán số 88/2015/QH13 ban hành ngày 20/11/2015, định nghĩa “Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán dùng để tổng hợp và thuyết minh về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị kế toán, bao gồm các loại báo cáo sau: Báo cáo tình hình tài chính, Báo cáo kết quả hoạt động, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính
và các Báo cáo khác theo quy định của pháp luật.”
Từ đây cho thấy, khái niệm về Báo cáo tài chính theo Luật kế toán (2015) của đơn vị
kế toán được mở rộng ra so với chỉ bao gồm các thông tin trên: Bảng cân đối kế toán
và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh như VAS01 trình bày
Khái niệm về Báo cáo tài chính cũng được làm rõ trong các quy định liên quan đến ngành kiểm toán Cụ thể, tại Đoạn 13, Chuẩn mực kiểm toán số 200 (VSA200)- Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán
theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, thì “Báo cáo tài chính được định nghĩa là sự
trình bày một cách có hệ thống về các thông tin tài chính quá khứ, bao gồm các thuyết minh có liên quan, với mục đích công bố thông tin về tình hình tài chính và các nghĩa
vụ của đơn vị tại một thời điểm hoặc những thay đổi trong một thời kỳ, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính Các thuyết minh liên quan thông thường là phần tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng và các thông tin diễn giải khác Thuật ngữ “Báo cáo tài chính” thường có nghĩa là một bộ báo cáo tài chính (đầy đủ) theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng Thuật ngữ “báo cáo tài chính riêng lẻ” được sử dụng để chỉ một báo cáo trong bộ báo cáo tài chính (đầy đủ).”
Trang 39Từ việc tìm hiểu khái niệm về Báo cáo tài chính trong các quy định, chuẩn mực có liên quan, giúp tác giả nắm rõ phạm vi thông tin về báo cáo tài chính mà kiểm toán viên cần xác định và trách nhiệm của kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính cho một công ty
2.2.2 Mục đích của Báo cáo tài chính
Theo quan điểm của IASB, tại Chuẩn mực chung IFRS(2010)- Khuôn mẫu lý thuyết
về báo cáo tài chính, cho rằng mục đích của việc lập và trình bày báo cáo tài chính nhằm chung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng báo cáo tài chính: họ có thể là những nhà đầu tư, chủ nợ, tổ chức cho vay hiện tại hay tiềm năng, người sử dụng những thông tin này để ra các quyết định kinh tế như mua, bán hay nắm giữ các công
cụ vốn, nợ; đồng thời đưa ra các quyết định tài trợ hay cho vay các đơn vị khác dưới hình thức tín dụng Bên cạnh đó, báo cáo tài chính không chỉ giúp người sử dụng đánh giá triển vọng luồng tiền thu được của một đơn vị trong tương lai mà còn là công cụ giúp người sử dụng đánh giá tính hữu hiệu và hiệu quả các hoạt động của nhà quản lý, những người thay mặt cho chủ sở hữu của công ty thực hiện trách nhiệm của mình đối với các hoạt động hằng ngày trong công ty,…
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 năm 2003 (VAS21)- Trình bày báo cáo tài chính, thì “Mục đích của Báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế
Để đạt được mục đích này, BCTC phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:
Trang 40Các thông tin này cùng với các thông tin trình bày trong Bản thuyết minh BCTC giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền Như vậy, mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin kế toán Thông tin
kế toán là những thông tin có được do hệ thống kế toán xử lý và cung cấp Thông tin
kế toán có những tính chất sau: là thông tin hiện thực, đã xảy ra; là thông tin có độ tin cậy vì mọi số liệu kế toán đều phải có chứng từ hợp lý, hợp lệ; là thông tin có giá trị pháp lý Để thông tin kế toán hữu ích với nhà đầu tư trong quá trình ra các quyết định kinh tế, đòi hỏi các nhà đầu tư phải có kiến thức và am hiểu về ý nghĩa của các số liệu
2.2.3 Vai trò của Báo cáo tài chính
BCTC luôn hướng đến việc cung cấp thông tin hữu ích cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau tùy thuộc vào đặc trưng nhu cầu thông tin của các nhóm đối tượng trong nền kinh tế:
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, BCTC là một phương tiện trợ giúp và cũng là một công cụ pháp lý uan trọng để đảm bảo các lợi ích trực tiếp và gián tiếp của Nhà nước qua việc cung cấp những thông tin đáng tin cậy, thống nhất về hoạt động kinh
tế, tài chính của mọi doanh nghiệp để từ đó các cơ quan nhà nước có thể thực hiện được các chức năng hoạch định, điều hàng, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định Đối với các nhà đầu tư vốn, lợi ích của việc sử dụng thông tin trên BCTC mang lại cho nhà đầu tư khá đa dạng, có thể biểu hiện qua hai khía cạnh cơ bản của thông tin lả giá trị dự báo và giá trị so sánh của thông tin, cho phép nhà đầu tư có nhiều sự lựa