1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của khối Ngân hàng Thƣơng mại Nhà nƣớc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế_2

80 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH KHỐI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ...58 3.1.. Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của khối các Ngân hà

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ bài luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Tất cả các trích dẫn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, Ngày tháng năm 2015

Học viên

Nguyễn Lê Hằng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và làm bài luận văn này em đã nhận được sự giúp

đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tổ chức, em xin chân thành cảm ơn những cá nhân,

tổ chức đó đã tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này

Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thanh Thuỷ, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học cùng các thầy cô giáo khoa Sau đại học đã tạo điều kiện giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

EM XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 4

1.1 Tổng quan hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 4

1.2 Khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 6

1.3 Khái niệm về hội nhập kinh tế Quốc tế 7

1.4 Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh NHTM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 9

1.5 Kinh nghiệm tại một số nước về nâng cao năng lực canh tranh khối ngân hàng thương mại nhà nước 19

CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH KINH TẾ VÀ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA KHỐI NHTM NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY 25

2.1 Bối cảnh chung 25

2.2 Vài nét về tình hình hoạt động của các NHTM nói chung và NHTM Nhà nước nói riêng trong thời gian qua 34

2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 38

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH KHỐI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 58 3.1 Định hướng tổng thể về vấn đề cạnh tranh ngân hàng trong tiến trình hội nhập58

Trang 4

3.2 Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của khối các Ngân hàng thương mại

Nhà nước trong điều kiện hội nhập 60

3.3 Một số kiến nghị 67

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

NHTMQD Ngân hàng Thương mại quốc doanh

NHTMCP Ngân hàng Thương mại cổ phần

ROA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

NHTMVN Ngân hàng Thương mại Việt Nam

BIDV Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam VIETCOMBANK Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

VIETINBANK Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

MHB Ngân hàng TMCP phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu

Long ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

Trang 6

2.10 Tỉ lệ thu dịch vụ ngân hàng của một số NHTM Việt Nam năm 2014 56

2.11 Tỉ lệ thu dịch vụ ngân hàng của một số ngân hàng trên

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Ngày nay, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế phổ biến trên thế giới, nó đã và đang cuốn hút tất cả các nước kể cả các nước kém phát triển vào vòng xoáy của mình như một tất yếu lịch sử Đối với Việt Nam, việc tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một hướng đi đúng đắn và quan trọng làm tiền đề cho việc tạo dựng vị thế trên trường quốc tế, đồng thời mang lại nhiều

cơ hội để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế đất nước

Ngành ngân hàng Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung của đất nước và thế giới Tiến trình hội nhập tài chính - tiền tệ khu vực và thế giới đang đặt ngành ngân hàng, đặc biệt là các NHTM trước những cơ hội và thách thức to lớn Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống các NHTM nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động và đã có những kết quả đáng ghi nhận: số lượng các NHTM tăng nhanh chóng, quy mô ngày càng lớn, địa bàn hoạt động kinh doanh được mở rộng với mạng lưới các chi nhánh từ cấp 1 đến cấp 4 Các NHTM ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động và điều chuyển các nguồn vốn phục vụ cho sự nghiệp Công nghiêp hoá - Hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, các NHTM nước ta còn không ít những hạn chế Những hạn chế này đã và đang làm giảm năng lực cạnh tranh của các ngân hàng, ảnh hưởng xấu đến uy tín và khả năng của ngân hàng Đặc biệt khi những cam kết hội nhập được thực hiện, chúng ta sẽ phải chạy đua quyết liệt với các định chế tài chính nước ngoài vốn có tiềm lực mạnh hơn chúng ta rất nhiều Cuộc chiến

sẽ rất gay gắt và nếu hệ thống các NHTM nước ta không có những biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh, chúng ta sẽ thua ngay trên sân nhà Chính vì thế, nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập

là một yêu cầu tất yếu

Xuất phát từ đòi hỏi cấp thiết trên, đồng thời để khẳng định tinh thần nỗ lực vươn lên trong kinh doanh của người Việt Nam nói chung, của các cán bộ ngành

Trang 9

ngân hàng nói riêng, tôi đã lựa chọn đề tài: "Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của khối Ngân hàng Thương mại Nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm đối tượng cho luận văn của mình

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích chính của việc nghiên cứu đề tài là hướng vào một số vấn đề cơ bản sau:

- Hiểu rõ thế nào là cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM nói chung của NHTM Nhà nước nói riêng

- Trên cơ sở tình hình hoạt động của các NHTM nhà nước, tiến hành phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên các tiêu chí đánh giá đã xây dựng

- Đề xuất một số biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh của các NHTM trong điều kiện hội nhập Đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM nhà nước với nguồn báo cáo tình hình hoạt động của các NHTM nhà nước Đề xuất một số biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Nhà nước

trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế

4 Phương pháp nghiên cứu

Nội dung của luận văn được nghiên cứu theo phương pháp: thu thập số liệu thống kê, tổng hợp, phân tích và so sánh biến động của các ngân hàng thương mại Nhà nước với một số ngân hàng thương mại khác

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Xác định vị thế cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế, khắc phục những tồn tại, yếu kém trong thời gian hoạt động vừa qua, nghiên cứu vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể trong tình hình mới, từ đó đưa ra những biện pháp xây dựng chiến lược nâng cao cạnh tranh

của các ngân hàng thương mại nhà nước trong thời gian tới

Trang 10

6 Kết cấu bài viết

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của bài viết bao gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực

ngân hàng

Chương 2: Bối cảnh kinh tế và thực trang năng lực cạnh tranh khối NHTM

Nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Chương 3: Biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh khối Ngân hàng thương

mại Nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế

Trang 11

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP

QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 1.1 Tổng quan hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại

Theo Luật tổ chức tín dụng của Việt Nam có quy định là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan

vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM)

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) thể hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Ngân hàng là loại định chế tài chính trung gian mà quá đó các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội được tập trung lại và các nguồn vốn này sẽ được sử dụng nhằm hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế trong xã hội với mức lãi suất cao hơn Ngoài ra thông qua hoạt động của mình, các ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ, sản phẩm ngân hàng đa dạng phù hợp với nhu cầu của từng thành phần kinh tế trong xã hội, từ đó tạo lợi nhuận cho ngân hàng

Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt vì Hàng hóa quan trọng của Ngân hàng là tiền tệ do Nhà nước sử dụng để quản lý nền kinh tế Vốn tự có của Ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn, chịu sự chi phối của chính sách của Nhà nước; Ngân hàng thương mại là một trung gian tín dụng

Ngân hàng thương mại Nhà nước là ngân hàng thương mại trong đó Nhà nước

sở hữu trên 50% vốn điều lệ Ngân hàng thương mại Nhà nước bao gồm ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ

1.1.2 Một số hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng thương mại

- Hoạt động huy động vốn

Ngân hàng với vai trò là người đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn của toàn xã hội sau đó sử dụng để cung cấp tín dụng cho các đối tượng khách hàng

Trang 12

có nhu cầu để sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, đầu tư dự án, Đây là hoạt động rất quan trọng của ngân hàng thương mại vì hoạt động huy động vốn sẽ tập trung hàng hóa kinh doanh cho ngân hàng, đối với xã hội thì hoạt động này sẽ giúp tập trung các nguồn lực phân tán trong xã hội thành các nguồn lực lớn phục vụ nhu cầu phát triển của xã hội

- Hoạt động cho vay

Cho vay là hoạt động chủ yếu tạo ra lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Khả năng cho vay đối với khách hàng chính là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển Huy động được vốn rồi, ngân hàng phải có kế hoạch sử dụng nguồn vốn

đó sao cho hợp lý và có hiệu quả nhất Chỉ có lãi thu được từ hoạt động tín dụng mới bù đắp được chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh, chi phí quản

lý Khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng vốn tăng lên, các doanh nghiệp tìm đến với ngân hàng như một chỗ dựa

- Hoạt động trung gian

Các nghiệp vụ trung gian bao gồm: thanh toán hộ, chuyển tiền, thu hộ, bảo lãnh, mở L/C, cung cấp thông tin về kinh doanh, đầu tư và quản trị doanh nghiệp, quản lý hộ tài sản, kinh doanh ngoại tệ, sản phẩm thẻ ATM…, các nghiệp vụ này được thực hiện theo sự uỷ nhiệm của khách hàng trên cơ sở khách hàng có tài khoản thanh toán tại ngân hàng Những nghiệp vụ này cũng mang lại cho ngân hàng một khoản thu nhập dưới dạng phí dịch vụ Điều đó có ý nghĩa lớn trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng và nhu cầu phát triển cũng như cạnh tranh của ngân hàng

Nhận xét: Hiện nay hoạt động của các ngân hàng thương mại rất đa dạng, đáp ứng

được gần hết các nhu cầu của khách hàng liên quan đến lĩnh vực tài chính Các ngân hàng thương mại không ngừng phát triển, nghiên cứu và cải tiến các sản phẩm dịch vụ của mình cũng như có những phương pháp quản lý hiệu quả các sản phẩm của mình nhằm đạt lợi nhuận cao nhất cùng với mức rủi ro thấp nhất

Trang 13

1.2 Khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh

Cạnh tranh là đặc trưng cơ bản và là quy luật tất yếu của Kinh tế thị trường

Do quan điểm và cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều khái niệm về cạnh tranh:

- Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua và đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch

- Cạnh tranh là sự đấu tranh gay gắt và ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệp nhằm giành giật những điều thuận lợi trong sản xuất kinh doanh để đạt được mục tiêu đề ra

- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là quá trình giành giật khách hàng, mở rộng thị trường, thị phần của doang nghiệp để có doanh thu tối đa và lợi nhuận tối

đa

- Theo quan điểm của Marketing thì cạnh tranh là qúa trình giành giật những lợi thế từ phía đối thủ về phía doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả tối ưu

Các khái niệm trên mặc dù có sự khác nhau nhưng đều tương đối thống nhất

về bản chất của cạnh tranh doanh nghiệp, đều cho rằng cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhằm giành lấy những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận cao nhất

Cạnh tranh là cuộc chạy đua đường trường về Kinh tế không có đích cuối cùng nào dừng lại giữa chừng sẽ bị tụt hậu và thất bại Chính vì vậy, cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường, là động lực phát triển kinh tế của xã hội

1.2.2 Năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được hiểu là khả năng tạo

ra và sử dụng có hiệu quả các điều kiện sản xuất vượt trội so với các doanh nghiệp đối thủ để giành ưu thế và thắng lợi trên một số phương diện nào đó trong quá trình cạnh tranh Các điều kiện sản xuất kinh doanh vượt trội đó có thể là lợi thế

Trang 14

về chi phí sản xuất thấp, giá thấp, lợi thế về đa dạng hoá và khác biệt hoá sản phẩm, lợi thế về chất lượng hàng hoá cao…

Với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đặc biệt, Ngân hàng thương mại (NHTM) có những điểm đặc thù riêng so với các doanh nghiệp khác

- Do hoạt động Ngân hàng mang tính hệ thống rất cao, nếu năng lực cạnh tranh của một ngân hàng yếu dẫn đến khó khăn sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiền

số lợi nhuận nhất định và chống lại một cách thành công sức ép từ phía các đối thủ cạnh tranh nhưng vẫn phải tuân thủ đúng các quy định của Ngân hàng Nhà nước

1.3 Khái niệm về hội nhập kinh tế Quốc tế

1.3.1 Khái niệm về hội nhập kinh tế Quốc tế

Tại Việt Nam, Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hoá và

mở cửa duới các hình thức khác nhau, từ đơn phương đến đa phương, từ khu vực/ vùng đến khu vực, đến liên khu vực và cuối cùng là toàn cầu

Hội nhập kinh tế thông thường có sáu cấp độ :

- Thoả thuận thương mại ưu đãi;

- Hiệp định thương mại tự do;

Trang 15

- Liên minh thuế quan;

- Thị trường chung;

- Liên minh kinh tế, tiền tệ;

- Hội nhập toàn diện

Tuy nhiên, trong thực tế, các cấp độ hội nhập có thể nhiều hơn và đa dạng hơn, tuỳ thuộc vào vị thế và hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia

1.3.2 Nội dung hội nhập kinh tế Quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là mở cửa thị trường cho nhau, thực hiện thuận lợi hàng hoá, tự do thương mại và đầu tư:

- Về tự do thương mại hàng hoá: các nước sẽ cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan như QUOTA, giấy phép nhập khẩu, , biểu thuế nhập khẩu được giữ hiện hành và giảm dần theo lịch trình thoả thuận,

- Về thương mại dịch vụ: các nước mở cửa thị trường cho nhau với các cách thức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, thông quan liên doanh

- Về thị trường đầu tư: Không áp dụng đối đầu với đầu tư nước ngoài yêu cầu bảo vệ tỷ lệ nội địa hoá, cân bằng xuất nhập khẩu và hạn chế tiếp cận nguồn ngoại

tệ và khuyến khích tự do hoá đầu tư

1.3.3 Hội nhập kinh tế Quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại ngày nay

Hội nhập kinh tế Quốc tế là một quá trình tất yếu do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người

Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình thành các thị trường khu vực và quốc tế thống nhất Đây chính là động lực chủ yếu để thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng

và hội nhập quốc tế nói chung

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt sau khi chấm dứt chiến tranh lạnh, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất thế giới nhờ những tiến bộ khoa học, công nghệ vượt bậc, xu thế hoà bình hợp tác, nỗ lực tự do hoá

mở cửa của các nước đã thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực,

Trang 16

đặc biệt trong kinh tế, phát triển rất nhanh và trở thành xu thế lớn của thời đại Quá trình này diễn ra trên nhiều cấp độ: đa phương, song phương, khu vực, toàn cầu, Mức độ hội nhập cũng ngày càng sâu sắc hơn, bao quát toàn diện hơn Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã và đang tham gia tích cực vào quán trình này

1.3.4 Lợi ích của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Thực tế cho thấy hệ thống tài chính – ngân hàng cạnh tranh là một trong những hệ thống hỗ trợ hiệu quả cho phát triển và tăng trưởng kinh tế Cạnh tranh

sẽ làm cho hệ thống ngân hàng vững mạnh, lành mạnh và hiệu quả hơn Do đó, các nước phát triển đều mong muốn hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển và cải cách hệ thống ngân hàng nhằm nâng cao khả năng thu hút và phân bổ nguồn lực, tạo thuận lợi cho các tổ chức kinh tế có thể tiếp cận các dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao nhưng chi phí thấp

Về mặt chính sách, nhằm khuyến khích hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ các quốc gia đã thực hiện mở cửa tiếp cận thị trường, đối xử quốc gia, xây dựng môi trường chính sách trong nước hỗ trợ cho cạnh tranh, từng bước cho các ngân hàng nước ngoài xâm nhập và cạnh tranh lành mạnh và cũng tạo điều kiện cho các ngân hàng trong nước mở rộng và xâm nhập thị trường thế giới Chính phủ các nước cũng áp dụng các tiêu chuẩn, thông lệ tốt nhất của quốc tế liên quan đến hoạt động ngân hàng làm cho quá trình luân chuyển vốn quốc tế được tự do

1.4 Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh NHTM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.4.1 Nội dung cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

 Mức độ chuyên môn hoá và đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng

Trong bất cứ nền kinh tế theo cơ chế nào, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đều có mối quan hệ mật thiết với hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM Để có thể đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của các doanh nghiệp cũng như của các thành phần khác trong nền kinh tế, các NHTM ngoài việc phát

Trang 17

triển nghiệp vụ huy động và cho vay, đầu tư tín dụng và các nghiệp vụ đầu tư khác cũng cần phải nghiên cứu, tạo lập và mở rộng các loại hình dịch vụ ngân hàng một cách đa dạng

Dịch vụ ngân hàng có thể được hiểu là loại hình kinh doanh không dùng đến nguồn vốn từ tài sản nợ mà chỉ dựa trên khả năng, trình độ chuyên môn, công nghệ

và các phương tiện kỹ thuật của ngân hàng

Trong nền kinh tế hội nhập, dịch vụ ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong giao thương nội địa và quốc tế, giúp gắn kết các đối tác với nhau một cách nhanh nhất và bảo đảm an toàn Đặc biệt, thông qua dịch vụ ngân hàng, vòng quay tiền tệ càng nhanh sẽ kéo theo hệ số sinh lời càng lớn Do vậy, có thể khẳng định nếu không có dịch vụ ngân hàng thì nền kinh tế không thể vận hành thuận lợi và dịch vụ ngân hàng chậm phát triển sẽ gây ách tắc lớn cho nền kinh tế

Từ việc làm rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của dịch vụ ngân hàng có thể thấy dịch vụ ngân hàng là một yếu tố cạnh tranh mạnh mẽ giữa các NHTM Đây là

“ưu thế và lợi thế tự nhiên” mà các ngân hàng cần quan tâm khai thác Chuyên môn hoá và đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng sẽ làm thoả mãn tối ưu nhu cầu của khách hàng, từ đó nâng cao sức cạnh tranh giữa các NHTM

Theo tiêu chí của ngân hàng thế giới (World Bank) thì các NHTM sẽ không được đánh giá cao khi sản phẩm của họ chủ yếu là tín dụng tức là ngân hàng hoạt động chủ yếu là đi vay để cho vay Một NHTM được coi là tiên tiến khi thu nhập

từ các hoạt động dịch vụ ngân hàng chiếm hơn 30% tổng lợi nhuận của ngân hàng

đó

 Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng

Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng bao gồm các kỹ năng, cách thức của toàn bộ các quá trình cung ứng dịch vụ trong ngân hàng Các nhân tố cấu thành công nghệ cung ứng dịch vụ gồm: con người, máy móc thiết bị, cấu trúc tổ chức, quy trình nghiệp vụ…

Như đã đề cập ở phần trên, dịch vụ ngân hàng là một trong những yếu tố cạnh tranh của các NHTM Tuy nhiên dịch vụ ngân hàng thuộc phạm trù kinh tế - khoa

Trang 18

học - công nghệ - kỹ thuật có hàm lượng chất xám cao, gắn kết con người với phương tiện máy móc hiện đại Có thể nói dịch vụ ngân hàng là các phương tiện, công cụ vô hình dùng để chuyển tải các loại hình hoạt động kinh doanh ngân hàng bằng các phương tiện công cụ hữu hình là máy móc thiết bị và công nghệ Dịch vụ ngân hàng càng phong phú, đa dạng về hình thức, đa phương đa chiều về không gian giao dịch và đối tác giao dịch thì yêu cầu về tính tiên tiến, hiện đại của máy móc thiết bị, công nghệ càng cao Những phương tiện, công cụ hữu hình này là nền tảng, là cơ sở hạ tầng, là cơ sở hạ tầng cho việc phát triển và mở rộng các loại dịch

vụ ngân hàng

Như vậy, muốn phát triển dịch vụ ngân hàng phải dựa trên hiện đại hoá công nghệ ngân hàng Một ngân hàng có khả năng đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng, nhưng không có khả năng hện đại hoá công nghệ cung ứng các dịch vụ này thì sẽ không thể thành công Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, công nghệ ngân hàng sẽ là một vũ khí sắc bén tạo nên lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng

 Hoạt động Marketing ngân hàng

Các NHTM đều hiểu rằng, để có thể đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường cũng như trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng mình Có nhiều phương cách khác nhau để thực hiện điều đó, tuy nhiên phát triển hoạt động markeing ngân hàng là một trong những công cụ hữu hiệu nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Marketing ngân hàng là công cụ hữu hiệu thu hút khách hàng Khách hàng là lực lượng “nuôi sống” toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng, vì vậy việc duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng là công việc quan trọng, quyết định sự thành bại trong kinh doanh của ngân hàng Hoạt động này nghiên cứu nhu cầu và thái độ của khách hàng, tìm cách đưa đến cho họ những dịch vụ phù hợp nhất một cách nhanh nhất với giá cả hợp lý nhất Marketing ngân hàng còn tạo nên

Trang 19

sự thoải mái và thuận tiện trong quá trình giao dịch thông qua việc chỉ dẫn cặn kẽ cho khách hàng tiện ích của những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp…

Marketing là công cụ kết nối hoạt động của ngân hàng với thị trường Mỗi NHTM đều có những hoạt động gắn kết với thị trường như: Nghiên cứu thị trường

để phát hiện những cơ hội và thách thức trong kinh doanh, hoạt động nghiên cứu nội lực để nhận thức điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp, hoạt động điều chỉnh thiết kế dịch vụ phù hợp nhu cầu của thị trường, hoạt động quảng cáo giới thiệu sản phẩm dịch vụ ngân hàng trên thị trường…

Hoạt động marketing ngân hàng là công việc rất cần thiết trong hoạt động của ngân hàng, là yếu tố nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Chính vì vậy, các ngân hàng cần chú ý phát triển công tác marketing ngân hàng để đứng vững và

đi lên trong cơ chế thị trường và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

 Lãi suất và phí dịch vụ

Đối với mỗi doanh nghiệp tham gia kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, giá của sản phẩm và dịch vụ cung ứng là một trong những công cụ cạnh tranh chủ yếu Khi sản phẩm của doanh nghiệp có ưu thế về giá so với đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong việc thu hút khách hàng, từ đó chiếm được thị phần lớn hơn

Ngân hàng là loại hình dịch vụ đặc biệt tham gia kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ Sản phẩm chủ yếu của ngân hàng là dịch vụ huy động và cho vay vốn, trong đó lãi suất được hiểu là “giá” của các sản phẩm này Để thu hút khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, các ngân hàng cố gắng đưa ra mức lãi suất hấp dẫn hơn các đối thủ cạnh tranh Ngược lại để khuyến khích khách hàng vay vốn, ngân hàng sẽ tìm cách hạ thấp lãi suất cho vay Tuy nhiên khi quyết định mức lãi suất huy động

và lãi suất cho vay đều gặp phải những khó khăn cố hữu trong kinh doanh ngân hàng Một mặt ngân hàng muốn đưa mức lãi suất huy động vốn đủ cao và lãi suất cho vay đủ thấp để thu hút khách hàng mới cũng như duy trì quan hệ với các khách hàng truyền thống; mặt khác ngân hàng phải giới hạn mức lãi suất để đảm bảo cho ngân hàng có khả năng bù đắp chi phí và có được lợi nhuận

Trang 20

Hơn nữa, trong kinh doanh ngân hàng hiện đại, các ngân hàng không thể độc quyền kiểm soát và định giá trong dài hạn, bởi vậy mức lãi suất mà ngân hàng đưa

ra phải trên cơ sở mức lãi suất thị trường và quy định của ngân hàng Nhà nước (NHNN) Tóm lại, việc sử dụng lãi suất như một yếu tố cạnh tranh đòi hỏi ngân hàng phải tính toán mức lãi suất cho phù hợp, tuỳ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn, sử dụng vốn cũng như mức lợi nhuận, tốc độ phát triển mong đợi của bản thân ngân hàng và những quy định pháp lý của Nhà nước

Từ những phân tích ở trên ta có thể thấy việc cạnh tranh bằng giá của sản phẩm ngân hàng - tức bằng lãi suất là khó thực hiện Do vậy hiện nay các ngân hàng thường có xu hướng chuyển sang cạnh tranh bằng một công cụ gián tiếp hơn,

Cạnh tranh phí dịch vụ tức là đưa ra mức biểu phí hấp dẫn để thu hút khách hàng và loại bỏ đối thủ cạnh tranh, giành thị phần trên thị trường Thông thường, NHNN đưa ra quy định mức phí chung về một số dịch vụ chủ yếu như thanh toán thẻ tín dụng, chuyển tiền…còn phần lớn các dịch vụ khác, các NHTM được chủ động đưa ra mức phí của mình Như vậy, không giống với lãi suất, các NHTM hầu như không bị ràng buộc bởi các quy định của NHNN trong việc đưa ra phí dịch vụ

Trang 21

của mình, và phí dịch vụ được đưa ra chủ yếu dựa trên mức độ chuyên môn hoá và

đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng của từng ngân hàng Khi một ngân hàng có mức độ chuyên môn hoá cao đối một hoặc một số loại dịch vụ, ngân hàng sẽ có khả năng giảm chi phí dịch vụ này, từ đó có thể đưa ra biểu phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận cao Khi ngân hàng đa dạng hoá dịch vụ, cung cấp nhiều loại dịch vụ thoả mãn nhu cầu của khách hàng, chắc chắn sức thu hút của ngân hàng về biểu phí, về tiện ích dịch vụ sẽ cao hơn Khả năng đa dạng hoá dịch vụ cũng giúp ngân hàng có thể định mức phí thấp cho các dịch vụ mới nhằm mục đích giới thiệu, thu hút khách hàng đến với ngân hàng mà không phải lo lắng về chi phí đã bỏ ra và lợi nhuận thu được, phí thu được từ các dịch vụ truyền thống của ngân hàng sẽ trang trải chi phí này Xét trên phương diện tổng thể trong dài hạn, cả lợi nhuận hữu hình và lợi nhuận vô hình (thị phần, mức độ hài lòng của khách hàng, uy tín của ngân hàng…) của ngân hàng đều sẽ tăng Hiện nay, để thích ứng với thị trường và thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp Ngân hàng ngày càng mở thêm nhiều hình thức dịch vụ mới Do đó, phí dịch vụ sẽ trở thành một công cụ sắc bén của các Ngân hàng

Trên đây chỉ là bốn trong rất nhiều yếu tố cạnh tranh của các NHTM Với xu hướng cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc sử dụng các yếu tố này vào quá trình cạnh tranh sẽ rất phổ biến cả về bề rộng lẫn chiều sâu Các ngân hàng ngoài việc phát triển toàn diện cả bốn yếu tố trên cũng nên tùy thuộc vào tiềm lực, khả năng của ngân hàng mình mà chú trọng phát triển những yếu tố đem lại hiệu quả cạnh tranh cao nhất

1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Năng lực cạnh tranh có thể xem là tài sản riêng của mỗi NHTM, do đó các yếu tố tạo ra nên năng lực cạnh tranh phải là các yếu tố thuộc môi trường bên trong, là các nguồn lực khác nhau mà bản thân mỗi ngân hàng đang sở hữu Để nâng cao sức mạnh cạnh tranh, các NHTM cần phải tìm hiểu và phát huy các yếu

tố cấu thành nên nó Có nhiều cách phân loại các yếu tố nguồn lực trong 1 doanh

Trang 22

nghiệp nói chung cũng như các NHTM nói riêng, song nhìn chung có thể có hai loại nguồn lực: nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình

- Nguồn lực hữu hình được hiểu là các nguồn lực có thể nhìn thấy và lượng hoá được như các tài sản về đất đai, vốn, trang thiết bị…

- Nguồn lực vô hình được hiểu là những nguồn lực không nhìn thấy trực tiếp, việc đánh giá chủ yếu bằng các phương pháp định tính, khó định lượng chính xác như các ưu thế về sự khác biệt của sản phẩm dịch vụ, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, uy tín, thương hiệu, năng lực quản trị điều hành của Ban lãnh đạo và đội ngũ cán bộ chủ chốt Năng lực cạnh tranh của NHTM có thể được

đánh giá thông qua một số yếu tố quan trọng sau:

1.4.2.1 Năng lực tài chính

Năng lực tài chính của NHTM được thể hiện qua các yếu tố sau:

Vốn tự có: Vốn điều lệ và vốn tự có đang đóng vai trò rất quan trọng trong

hoạt động ngân hàng Vốn điều lệ cao sẽ giúp ngân hàng tạo được uy tín trên thị trường và tạo lòng tin nơi công chúng Vốn tự có thấp đồng nghĩa với sức mạnh tài chính yếu và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng yếu Theo qui định của

Ủy ban Bassel, vốn tự có của NHTM phải đạt tối thiểu 8% trên tổng tài sản có rủi

ro chuyển đổi của ngân hàng đó Đó là điều kiện đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Qui mô và khả năng huy động vốn: Khả năng huy động vốn là một trong

những tiêu chí đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Khả năng huy động vốn còn thể hiện tính hiệu qủa, năng lực và uy tín của ngân hàng

đó trên thị trường Khả năng huy động vốn tốt cũng có nghĩa là ngân hàng đó sử dụng các sản phẩm dịch vụ, hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút được khách hàng

Khả năng sinh lời: Khả năng sinh lời là thước đo đánh giá tình hình kinh

doanh của NHTM Mức sinh lời được phân tích qua các thông số sau:

Trang 23

- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE (return on common equity ) = (tỷ

lệ thu nhập/ vốn tự có) Chỉ tiêu ROE: thể hiện tỷ lệ thu nhập của một đồng vốn chủ sở hữu

- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA (return on total assets) = (tỷ lệ thu nhập/ tổng tài sản) Tổng tài sản ROA thể hiện khả năng sinh lời trên tổng tài sản- đánh giá công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng

Mức độ rủi ro: Mức độ rủi ro của ngân hàng thường đựơc đo lường bằng 2

chỉ tiêu cơ bản sau: Hệ số an toàn vốn (CAR: capital adequacy ratio); Chất lượng tín dụng (tỷ lệ nợ quá hạn)

- Hệ số CAR chính là tỷ lệ giữa “vốn tự có/ tổng tài sản có rủi ro” (theo Ủy

ban giám sát tín dụng Basel) Theo thông tư 13/2010/TT-NHNN của NHNN quy định tổ chức tín dụng (trừ các chi nhánh ngân hàng nước ngoài), hệ số CAR phải được duy trì 9% Tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân hàng càng mạnh, càng tạo đựơc uy tín, sự tin cậy của khách hàng với ngân hàng càng lớn

- Chất lựơng tín dụng thể hiện chủ yếu thông qua “tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng nợ”

Nếu tỷ lệ này thấp cho thấy chất lượng tín dụng của NHTM đó tốt, tình hình tài chính của ngân hàng đó lành mạnh và ngược lại thì tình hình tài chính của NHTM

đó cần được quan tâm

1.4.2.2 Tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ

Với đặc tính riêng của ngành ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ hầu như không có sự khác biệt thì các NHTM phát huy khả năng cạnh tranh của mình không chỉ bằng những sản phẩm cơ bản mà còn thể hiện ở tính độc đáo, sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ của mình Một ngân hàng mà có thể tạo ra sự khác biệt riêng cho từng loại sản phẩm của mình trên cơ sở những sản phẩm truyền thống sẽ làm cho danh mục sản phẩm của mình trở nên đa dạng hơn, điều này sẽ đáp ứng được hầu hết các nhu cầu cầu khác nhau của khách hàng khác nhau, từ đó dễ dàng chiếm lĩnh thị phần và làm tăng sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng Ngòai ra, các

Trang 24

NHTM còn sử dụng các sản phẩm dịch vụ bổ trợ khác để thu hút khách hàng, tạo thu nhập cho ngân hàng như cung cấp sao kê định kỳ, tư vấn tài chính…

1.4.2.3 Nguồn nhân lực

Trong một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như NHTM thì yếu tố con người

có vai trò quan trọng trong việc thể hiện chất lượng của dịch vụ Đội ngũ nhân viên của ngân hàng chính là người trực tiếp đem lại cho khách hàng những cảm nhận về ngân hàng và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đồng thời tạo niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng Đó chính là những đòi hỏi quan trọng đối với đội ngũ nhân viên ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng chiếm giữ thị phần cũng như tăng hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực của các NHTM phải được xem xét trên cả hai khía cạnh số lượng

và chất lượng lao động

Về số lượng lao động: Để có thể mở rộng mạng lưới nhằm tăng thị phần và phục vụ tốt khách hàng, các NHTM nhất định phải có lực lượng lao động đủ về số lượng Tuy nhiên cũng cần so sánh chỉ tiêu này trong mối tương quan với hệ thống mạng lưới và hiệu quả kinh doanh để nhìn nhận năng suất lao động của người lao động trong ngân hàng

Về chất lượng lao động: Chất lượng nguồn nhân lực trong ngân hàng thể hiện qua các tiêu chí:

- Trình độ văn hóa của đội ngũ lao động bao gồm trình độ học vấn và các kỹ năng hỗ trợ như ngoại ngữ, tin học, khả năng giao tiếp, thuyết trình, ra quyết định, giải quyết vấn đề, Tiêu chí này khá quan trọng vì nó là nền tảng thể hiện khả năng của người lao động trong ngân hàng có thể học hỏi, nắm bắt công việc để thực hiện tốt kỹ năng nghiệp vụ

- Kỹ năng quản trị đối với nhà điều hành, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và

kỹ năng thực hiện nghiệp vụ đối với nhân viên: đây là tiêu chí quan trọng quyết định đến chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng NHTM cần một đội ngũ những nhà điều hành giỏi để giúp bộ máy vận hành hiệu quả và một đội ngũ nhân viên với kỹ năng nghiệp vụ cao, có khả năng tư vấn cho khách hàng

Trang 25

để tạo được lòng tin với khách hàng và ấn tượng tốt về ngân hàng Đây là những yếu tố then chốt giúp ngân hàng cạnh tranh giành khách hàng Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết định đối với năng lực cạnh tranh của một NHTM Chất lượng nguồn nhân lực là kết quả của sự cạnh tranh trong quá khứ đồng thời lại chính là năng năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong tương lai

Có một đội ngũ cán bộ thừa hành và nhân viên giỏi, có khả năng sáng tạo và thực thi chiến lược sẽ giúp ngân hàng hoạt động ổn định và bền vững Có thể khẳng định nguồn nhân lực đủ về số lượng và đầy về chất lượng là một biểu hiện năng

lực cạnh tranh cao của NHTM

1.4.2.4 Năng lực công nghệ

Trong lĩnh vực ngân hàng thì việc áp dụng công nghệ là một trong những yếu

tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh của các NHTM Để năng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng thì nhu cầu công nghệ là vô cùng quan trọng Công nghệ sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến mang tính độc đáo và tiện ích hơn, nó giúp các NHTM Ngày nay, các NHTM đang triển khai phát triển những sản phẩm ứng dụng công nghệ cao, và sử dụng các sản phẩm dịch mang tính chất công nghệ làm thước đo cho sự cạnh tranh, đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán và các sản phẩm dịch vụ điện tử khác Trong diễn đàn quốc tế

“banking vietnam” khẳng định việc sử dụng công nghệ thông tin là công cụ chính

để khẳng định năng lực cạnh tranh của các NHTM, sự phát triển các sản phẩm dịch

vụ E-banking là xu hướng thời thượng, công nghệ là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các NHTM trong kinh doanh

1.4.2.5 Năng lực quản trị điều hành ngân hàng

Một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào là vai trò của những người lãnh đạo doanh nghiệp, những quyết định của họ có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh đạo trong ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong hoạt động ngân hàng Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố then chốt để ngân hàng

Trang 26

có một chiến lược kinh doanh đúng đắn trong dài hạn Thông thường đánh giá năng lực quản trị, kiểm soát, điều hành của một ngân hàng người ta xem xét đánh giá các chuẩn mực và các chiến lược mà ngân hàng xây dựng cho hoạt động của mình Hiệu quả hoạt động cao, có sự tăng trưởng theo thời gian và khả năng vượt qua những bất trắc là bằng chứng cho năng lực quản trị cao của ngân hàng Một số tiêu chí thể hiện năng lực quản trị của ngân hàng là:

- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: bao gồm chiến lược marketing (xây dựng uy tín, thương hiệu), phân khúc thị trường, phát triển sản phẩm dịch vụ,

- Cơ cấu tổ chức và khả năng áp dụng phương thức quản trị ngân hàng hiệu quả;

- Sự tăng trưởng trong kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

1.4.2.6 Thị phần, danh tiếng và uy tín

Hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng luôn gắn liền với yếu tố uy tín của NHTM đó, tâm lý của người tiêu dùng luôn là yếu tố quyết định đến sự sống còn đến hoạt động của NHTM với hiệu ứng dây chuyền do tâm lý của người tiêu dùng mang lại Vì thế, danh tiếng và uy tín của NHTM là yếu tố nội lực vô cùng to lớn,

nó quyết định sự thành công hay thất bại cho ngân hàng đó trên thương trường Việc gia tăng thị phần, mở rộng mạng lưới hoạt động, tăng thu nhập phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của NHTM Tuy nhiên, uy tín của NHTM chỉ được tạo lập sau một khoảng thời gian khá dài thông qua hình thức sở hữu, đội ngũ nhân viên, việc ứng dụng các sản phẩm mang tính công nghệ cao, việc đáp ứng đầy đủ và thỏa

đáng các nhu cầu của người tiêu dùng

1.5 Kinh nghiệm tại một số nước về nâng cao năng lực canh tranh khối ngân hàng thương mại nhà nước

1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO

1.5.1.1 Chiến lược phát triển hệ thống NHTM của Chính phủ Trung Quốc

Để tăng khả năng cạnh tranh của các NHTM sau khi gia nhập WTO, chiến lược trung hạn của Trung Quốc là phát triển các thể chế tài chính lành mạnh

Trang 27

không bị tổn thương bởi làn sóng cạnh tranh nước ngoài và phát triển thị trường liên ngân hàng tạo điều kiện cho tự do hoá lãi suất và quản lý rủi ro

- Năm 1998, Bộ Tài chính Trung Quốc đã phát hành 270 tỷ nhân dân tệ trái phiếu đặc biệt để tăng cường vốn cho những ngân hàng lớn, nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trung bình của các ngân hàng này từ 4,4% lên 8% đúng theo Luật Ngân hàng Thương mại Trung Quốc

- Thành lập các Công ty quản lý tài sản (AMCs) để xử lý nợ xấu của 4 NHTM lớn Các công ty này xử lý nợ xấu bằng nhiều cách như bán tài sản và chuyển nợ thành cổ phần Khi mà thị trường vốn ở Trung Quốc vẫn còn sơ khai và

xu hướng cải cách sở hữu ở bốn NHTM lớn vẫn chưa rõ ràng, tỷ lệ thu hồi nợ xấu rất thấp và việc bán nợ gặp nhiều khó khăn thì tháng 5 năm 2000 Chính phủ Trung Quốc đã có quyết định cho phép các AMCs này bán các tài sản không sinh lời và

cổ phần đã được hoán đổi từ các khoản nợ của công ty cho các công ty nước ngoài Mặc dù đây là một sự thay đổi lớn về mặt chính sách nhưng các giao dịch lớn vẫn chưa xảy ra đến thời điểm đó

- Cổ phần hóa 4 NHTM lớn của Trung Quốc và khuyến khích các ngân hàng này bán cổ phiếu trên thị trường trong và ngoài nước, coi đây như một cách để tăng vốn và nâng cao năng lực quản lý

- Sự giám sát tài chính các ngân hàng cũng đã được củng cố Cuối năm 1998, Trung Quốc đã đưa ra các tiêu chuẩn kế toán quốc tế cho các ngân hàng, mặc dù

hệ thống này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi

- Một phần trong chương trình cải cách hệ thống ngân hàng là cải cách lãi suất nhằm đưa các mức lãi suất về sát với cung cầu thị trường để tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao chất lượng tài sản của các ngân hàng Bước đầu, Ngân hàng trung ương Trung Quốc (PBOC) đã tự do hoá lãi suất thị trường liên ngân hàng Tháng 9/2000, PBOC lên kế hoạch ba năm để tự do hoá lãi suất Các hạn chế đối với việc cho vay bằng ngoại tệ đã được loại bỏ ngay lập tức và tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ đã tăng lên Theo kế hoạch, bước tiếp theo là tự do hoá lãi suất cho

Trang 28

vay bằng bản tệ Sự nới lỏng các hạn chế về lãi suất tiền gửi bằng bản tệ là bước cuối cùng Và một số kết quả đạt được của những cải cách này:

- Tháng 6/2004, 2 ngân hàng China Construction Bank (CCB) và Bank of China (BOC) đã xử lý 300 tỷ nhân dân tệ (tương đương khoảng 36,2 tỷ USD) nợ khó đòi, giảm tỷ lệ nợ xấu từ 5,16% xuống còn 3,74 % và chuẩn bị cho lần đầu tiên phát hành cổ phiếu ra công chúng

- Tháng 5/2006, International Comercial Bank of China (ICBC) cũng bán cổ phiếu ra công chúng và trở thành ngân hàng Trung Quốc có tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài cao nhất, chiếm khoảng 8,89% vốn điều lệ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ICBC được tăng lên tới 10,26% và tỷ lệ nợ xấu giảm xuống còn 4,43%, gần tới mức 1- 2% của các NHNNg Mở cửa thị trường tài chính và sự tham gia của các NHNNg đã trở thành động lực cho khu vực tài chính của Trung Quốc trong việc cải cách thể chế cơ cấu mà không đem lại những cuộc khủng hoảng trầm trọng

1.5.1.2 Chiến lược “xi măng và con chuột” của các NHTM Trung Quốc

Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, nhiều chuyên gia tài chính ngân hàng tại Trung Quốc cho rằng e-banking sẽ là đầu cầu để các NHNNg tấn công vào thị trường tài chính ngân hàng trong nước Để có thể cạnh tranh với các NHNNg ngay trong dịch vụ này, các NHTM Trung Quốc đã áp dụng chiến lược “xi măng và con chuột” cho dịch vụ e-banking với đặc tính nhanh chóng, linh hoạt như “con chuột”

và khả năng bảo mật an toàn cao, vững chắc như “xi măng” Nội dung của chiến lược này như sau: Để dịch vụ e-banking có được sự thông minh, lanh lợi như “con chuột”, các NHTM lớn tại Trung Quốc đã liên tục nâng cấp hệ thống ngân hàng trực tuyến và thực hiện nhiều chiến dịch quảng cáo lớn về sự tiện dụng của dịch vụ e-banking này Ngoài ra, các NHTM Trung Quốc còn tuyển dụng những nhân viên giỏi nhất, thành thạo nghiệp vụ nhất vào làm việc tại bộ phận e-banking Đây phải

là những nhân viên không chỉ có kiến thức về ngân hàng mà còn phải tinh thông kỹ thuật nghiệp vụ, am hiểu rộng về tình hình tài chính, có các quan hệ kinh doanh, nhạy bén với sự biến đổi của tình hình, năng nổ, tháo vát, dám nghĩ dám làm nhưng thận trọng và quyết đoán để gánh vác nghiệp vụ này Và để vững chắc

Trang 29

như “xi măng”, các NHTM Trung Quốc phải áp dụng nhiều biện pháp để tăng tính

an toàn và bảo mật cho dịch vụ này như: xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu hoàn toàn tự động để lưu giữ hồ sơ và phân tích các giao dịch của khách hàng; áp dụng biện pháp “lưu dấu vết” đối với các giao dịch e-banking để tăng cường việc kiểm tra nội bộ trong ngân hàng và đặc biệt chú trọng việc bảo mật thông tin e- banking

để giữ cho các thông tin thiết yếu không bị rò rỉ và không bị truy cập trái phép, nhất là khi các giao dịch này hoàn toàn được thực hiện qua Internet và được lưu trong cơ sở dữ liệu Với mục đích an toàn thông tin, tất cả dữ liệu ngân hàng và các bản ghi đều được bảo mật, chỉ có những cá nhân, tổ chức hoặc hệ thống được cấp quyền sử dụng mới có thể truy cập Mọi dữ liệu mật của Ngân hàng phải được bảo đảm bởi hệ thống an ninh mạng để tránh bị truy cập hay thay đổi trái phép trong suốt thời gian truyền trên mạng Ngân hàng cũng kiểm soát việc sử dụng và bảo vệ

dữ liệu trong suốt quá trình bên thứ ba truy cập dữ liệu ngân hàng thông qua các quan hệ ngoài luồng Mọi sự truy cập dữ liệu có kiểm soát của Ngân hàng phải được cài đặt và sử dụng mật khẩu để tránh bị truy cập trái phép Có thể dẫn chứng

sự thành công của chiến lược này của các NHTM Trung Quốc qua kết quả đạt được tại Ngân hàng ICBC ICBC đã nâng cấp hệ thống ngân hàng trực tuyến của mình lên gấp 2 lần trong 2 năm đầu thực hiện chiến lược và đã thu được giá trị giao dịch lên đến 4 tỷ nhân dân tệ (482 triệu USD) mỗi ngày kể từ tháng 12/2003 ICBC cũng dẫn đầu trong việc cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến cước điện thoại cố định và di động tại thị trường nội địa Hầu hết các công ty bảo hiểm, phần lớn trong số 10 tập đoàn môi giới bảo hiểm lớn nhất cả nước và một số các tổ chức tài chính đa quốc gia, trong đó phải kể đến Citibank, hiện là khách hàng trong tổng số 5.600 khách hàng của hệ thống ngân hàng trực tuyến ICBC Thế mạnh của các NHTM Trung Quốc so với các NHTM nước ngoài là họ dễ chiếm lĩnh lòng tin của khách hàng nội địa hơn Do vậy họ đã biết tận dụng lợi thế này để phát triển một dịch vụ mới và hiện đại (là điểm mạnh của Ngân hàng nước ngoài), nhưng dịch vụ này cũng cần có sự tin tưởng của khách hàng, vì vậy họ đi trước và họ đã thành công Xã hội và văn hoá truyền thống Trung Quốc đã trở thành một rào cản

Trang 30

vô hình ngăn chặn sự tấn công mạnh mẽ của các đối thủ cạnh tranh đến từ bên ngoài biên giới

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về tăng cường năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại trong bối cảnh hội nhập quốc tế

1.5.2.1 Về phía Chính Phủ

- Tạo một môi trường kinh doanh tiền tệ công bằng, mang tính thị trường để tăng cường năng lực cạnh tranh bình đẳng cho các NHTM trong quá trình tự do hóa theo một lộ trình có kiểm soát, bao gồm cải cách lãi suất nhằm đưa các mức lãi suất về sát với cung cầu thị trường; tự do hoá lãi suất thị trường liên ngân hàng; dỡ

bỏ các hạn chế đối với việc cho vay bằng ngoại tệ; tiến tới tự do hoá lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi Tiến trình này sẽ từng bước giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của NHTM, giúp các NHTM trong nước tăng cường tính chủ động trong kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh

- Ngoài ra, Chính phủ cũng cần có những biện pháp để hỗ trợ tăng cường năng lực tài chính của các NHTM như tăng vốn cho các NHTM để đảm bảo tỷ lệ

an toàn vốn theo thông lệ quốc tế; xử lý nợ xấu của các NHTM NN; khuyến khích các NHTM bán một phần cổ phiếu cho nhà đầu tư nước ngoài như một biện pháp tăng vốn, tăng cường năng lực quản lý, tiếp thu công nghệ mới; và nâng cao công tác kiểm tra, giám sát năng lực quản trị, năng lực tài chính của các NHTM theo thông lệ quốc tế

1.5.2.2 Về phía các Ngân hàng thương mại

Tăng cường năng lực cạnh tranh thông qua phát triển sản phẩm dịch vụ để chiếm lĩnh thị phần, tăng lợi nhuận Các sản phẩm dịch vụ này phải được thực hiện thành một chiến lược kiên quyết, triệt để, trên cơ sở xem xét các thế mạnh cũng như điểm yếu của các NHTM trong nước trong tương quan so sánh với NHTM nước ngoài Bên cạnh đó, tạo được sự tin tưởng và lòng trung thành của khách hàng đối với ngân hàng là hết sức quan trọng để làm cơ sở cho ngân hàng đưa ra những sản phẩm mới đến với khách hàng, từ đó mở rộng thị phần Việc phát triển

Trang 31

các sản phẩm mới không loại trừ sản phẩm dịch vụ là thế mạnh của NHTM nước ngoài tại nước sở tại nhưng NHTM trong nước có thể tận dụng lợi thế đi trước và

sự am hiểu truyền thống, tập quán văn hóa xã hội của quốc gia để phát triển các dịch vụ này như một thế mạnh cạnh tranh

Kết luận chương 1

Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng khách quan, mang lại những cơ hội

và nhiều thách thức đối với tất cả các quốc gia, các nền kinh tế Đặc biệt là các nước có xuất phát điểm thấp như Việt Nam khi tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh

tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng

Nâng cao năng lực cạnh tranh là một yếu tố tất yếu với các NHTM Việt Nam trong xu thế hội nhập và mở cửa hiện nay nhằm đứng vững và chiến thắng trong cạnh tranh Các tác động tích cực của hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng dẫn đến sự phát triển chung của nền sản xuất xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Chương I của Đề tài luận văn đã đề cập về những vấn đề chung trong cạnh tranh của NHTM, các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của một NHTM nhà nước, hội nhập kinh tế quốc tế cũng như lợi ích của các NHTM nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế Quốc tế Từ đó làm tiền đề để sang Chương II đi vào xem xét và đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM nhà nước trong tiến trình hội nhập

Trang 32

CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH KINH TẾ VÀ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA KHỐI NHTM NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY 2.1 Bối cảnh chung

2.1.1 Bối cảnh thế giới

Trong các xu hướng mang tính toàn cầu nổi lên trong mấy chục năm gần đây,

xu hướng thường được đề cập đến là toàn cầu hóa, tự do hoá Tự do hoá thương mại thế giới là xu hướng được khởi xướng từ các nước phát triển, nhưng đến nay

nó đã và vẫn đang cuốn hút tất cả các nước, kể cả những nước kém phát triển vào vòng xoáy của mình như một tất yếu lịch sử Nó đang thiết lập những nguyên tắc mới cho “cuộc chơi’’ chung cho các nước, không phân biệt đó là nước lớn hay nước bé, không xem xét đến trình độ phát triển của các nước

Tự do hoá thương mại đã hình thành và ngày càng trở thành một xu thế phổ biến trong hơn 30 năm qua Từ năm 1950-1997, trong khi GDP toàn thế giới chỉ tăng 6 lần thì khối lượng thương mại quốc tế tăng 16 lần Sản lượng công nghiệp tăng 9 lần trong khi khối lượng trao đổi các sản phẩm công nghiệp tăng 31 lần Tỉ

lệ xuất khẩu so với GDP của thế giới trong thập kỉ 90 cao hơn 60% so với tỉ lệ ở năm 1913 Năm 1997, xuất khẩu hàng hoá và dịch vu thương mại quốc tế đạt 65.000 tỉ USD - 1/5 sản lượng toàn cầu Các số liệu trên đã chứng tỏ rằng quan hệ thương mại giữa các nước đã trở nên thông thoáng, tự do hơn

Từ việc phân tích vai trò, ý nghĩa của tự do hoá thương mại, có thể thấy rằng đây là một xu thế tất yếu, xu thế thời đại Nhận thức rõ vấn đề này, Việt Nam đang từng bước tiến hành tự do hoá thương mại

Để động viên mọi nguồn lực cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, Đảng và nhân dân ta đã có chủ trương: “… đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới …” Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải quá trình 60 năm xây dựng và trưởng thành, ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với công việc CNH - HĐH đất nước Chính vì vậy, trong khi nền kinh tế đang trong tiến trình hội nhập Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đứng trước yêu cầu hội nhập vào cộng đồng tài chính

Trang 33

khu vực và quốc tế Điều này đặt ngành ngân hàng nước ta trước những cơ hội và thách thức to lớn

* Cơ hội:

- Hội nhập mở ra cơ hội trao đổi hợp tác quốc tế về các vấn đề tài chính - tiền

tệ, các diễn biến kinh tế, các chiến lược vĩ mô và qua đó nâng cao được uy tín và vị thế của hệ thống ngân hàng Việt Nam trên trường quốc tế

- Thông qua hội nhập quốc tế, Việt Nam có cơ hội tăng cường, phát triển ngành ngân hàng bằng cách chuyên môn hoá sâu hơn các nghiệp vụ ngân hàng tăng cường hiệu quả sử dụng các nguồn vốn, tiếp cận được các dịch vụ ngân hàng tiến tiến

- Tạo động lực thúc đẩy công việc đổi mới và cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu của quá trình hội nhập và thực hiện các cam kết với các định chế tài chính, các tổ chức thương mại khu vực và toàn cầu, các tổ chức quốc tế Các cam kết này ngày càng phức tạp và chặt chẽ hơn theo xu hướng nới lỏng các hạn chế hiện tại tiến tới mở cửa và tự do hoá toàn diện

- Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có thêm điều kiện đào tạo đội ngũ cán bộ ngân hàng có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới

Bên cạnh những cơ hội kể trên, hội nhập cũng đặt ra cho hệ thống ngân hàng Việt Nam những thách thức:

* Thách thức:

- Xuất phát điểm và trình độ phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng còn thấp, công nghệ, cơ cấu tổ chức và trình độ quản lý còn non yếu so với những nước trong khu vực và trên thế giới Trong khi đó mở cửa đồng nghĩa với việc chúng ta phải chấp nhận một luật chơi chung, bình đẳng áp dụng cho tất cả các nước, do đó thách thức này là rất lớn và khó khăn, đòi hỏi ngành ngân hàng phải nỗ lực vươn lên và đẩy mạnh cải cách để phát triển

Trang 34

- Quá trình hội nhập có thể sẽ diễn ra theo một chiều do các ngân hàng Việt Nam khó có thể mở rộng hoạt động của mình ra thị trường quốc tế và nếu có thì hoạt động cũng ít hiệu quả

- Hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ bị cạnh tranh gay gắt bởi các chi nhánh ngân hàng nước ngoài do họ có trình độ quản lý và công nghệ cao hơn, mặt khác quy mô vốn cũng lớn hơn Ngoài ra trong thời gian đầu, để làm quen với thị trường, thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị phần, các ngân hàng nước ngoài có thể chấp nhận thua lỗ trong ngắn hạn Vì thế các ngân hàng Việt Nam sẽ ở vào tình thế rất khó khăn để cạnh tranh

- Việc mở cửa, tiến tới tự do hoá trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam cùng với sự phát triển hoạt động của các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam đặt ra những thách thức mới vế mặt quản lý, điều hành, giám sát của ngân hàng nhà nước

Tóm lại, hệ thống ngân hàng Việt Nam phải chịu những tác động cả tích cực

và tiêu cực của xu thế toàn cầu hóa, tự do thương mại quốc tế Những tác động này

sẽ phát huy ngày càng mạnh mẽ hơn khi chúng ta ngày càng mở rộng các mối quan

hệ đối ngoại và hội nhập sâu hơn vào thị trường tài chính toàn cầu Tuy nhiên, những tác động này là tất yếu và cần thiết, nếu chúng ta có những chính sách tốt, làm chủ được tình thế sẽ có thể tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro

2.1.2 Bối cảnh trong nước

Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (6-1986), Việt Nam đã bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển thừ một nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN Trên cơ sở đó hoạt động kinh tế đối ngoại được mở rộng

và không ngừng phát triển với phương châm đa dạng hoá, hợp tác bình đẳng cùng

có lợi… chúng ta đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN AFTA, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương APEC và đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO Ngoài ra chúng ta cũng ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và đa

Trang 35

phương với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó đáng chú ý là Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ký ngày 13-7-2000 (được thượng viên Hoa Kỳ thông qua ngày 3-10-2001, chính thức có hiệu lực từ ngày 10-12-2001) Tất cả những diều này đều chứng minh cho việc Việt Nam đang thực sự mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

Ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài xu thế chung của nền kinh tế Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập này, hệ thống ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức trước tiên có thể thấy điều này thông qua những lộ trình sau:

Thứ nhất, Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ trong lĩnh vực ngân hàng - tài

chính:

1 - Đối với việc nhận tiền gửi và các khoản tiền từ công chúng

Từ tháng 10-12-2001 (ngày hiệp định phát sinh hiệu lực): các nhà cung cấp dịch vụ tài chính của Hoa Kỳ dược phép cung cấp dịch vụ tại Việt Nam thông qua các hình thức: chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ, ngân hàng liên doanh Việt Nam-Hoa

Kỳ, công ty thuê mua Tài chính Việt Nam-Hoa Kỳ

2- Cho vay các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, thế chấp, bao tiêu và các dịch vụ thương mại khác

Từ 10-12-2001 đến 10-12-2004: các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính Hoa

Kỳ (trừ ngân hàng và các công ty cho thuê tài chính) chỉ được phép thành lập liên doanh với các đối tác Việt Nam để cung cấp dịch vụ tài chính tại Việt Nam Hạn chế này sẽ được bãi bỏ sau thời hạn trên

3 - Thuê mua tài chính

Từ 10 - 12 - 2010, các ngân hàng được phép thành lập các ngân hàng con 100% vốn Hoa Kỳ hoạt động tại Việt Nam Trong thời gian 9 năm từ 10 - 12 -

2001 đến 10 - 12 - 2010, các ngân hàng Hoa Kỳ có thể thành lập ngân hàng liên doanh với Việt Nam trong phần vốn góp từ các ngân hàng Hoa Kỳ trên 30% nhưng không quá 49% vốn pháp định của liên doanh

Trang 36

4 - Các giao dịch thanh toán và chuyển tiền bao gồm các thẻ tín dụng ghi nợ, báo nợ, Séc du lịch và hối phiếu ngân hàng

Từ 10 - 12 - 2004: Các ngân hàng 100% vốn Hoa Kỳ được quyền một tài sản thế chấp bằng quyền sử dụng đất của các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và được quyền sử dụng đất đã được thế chấp trong trường hợp mất khả năng thanh toán khoản vay, phá sản hay giải thể xí nghiệp vay đó

5 - Bảo lãnh và cam kết

Từ 10 - 12 - 2007: Bãi bỏ hạn chế về quyền của một chi nhánh ngân hàng Hoa

Kỳ nhận tiền gửi bằng VNĐ từ các pháp nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng

Từ 10 - 12 - 2007: Bãi bỏ hạn chế về quyền của một chi nhánh Hoa Kỳ nhận tiền gửi bằng VNĐ từ các thế nhân Việt Nam mà Hoa Kỳ không có quan hệ tín dụng

6- Môi giới tiền tệ

Từ 10 - 12 - 2004 Việt Nam dành đối xử quốc gia đầy đủ đối với quyền tiếp cận ngân hàng NN Việt Nam trong các hoạt động chứng khoán, SWAP, FORWARD, tái cấp vốn, tái chiết khấu

Thứ hai, Hiệp định thương mại tự do các nước ASEAN (AFTA)

Hiệp định thương mại tự do các nước ASEAN yêu cầu Việt Nam cam kết vào một lộ trình cắt giảm thuế quan đến năm 2006 Việc cắt giảm thuế sẽ tăng cường các hoạt động thương mại quốc tế, các dòng đầu tư nước ngoài bên trong khu vực, các dịch vụ hỗ trợ tài chính như trao đổi ngoại hối và thanh toán quốc tế

Trong khi tác động tới Ngân hàng của AFTA là gián tiếp, các quốc gia ASEAN đã thông qua một hiệp định khung và thương mại (AFAS) vào tháng 12 năm 1995 AFAS đưa ra cho các quốc gia thành viên ASEAN nhằm cải thiện liên tục tiếp cận thị trường và đảm bảo chế độ đối xử quốc gia công bằng đối với các nhà cung cấp dịch vụ Trên thực tế, việc tự do hóa thương mại dịch vụ trong khuôn khổ AFAS là trực tiếp hướng tới những cam kết cao hơn cả cam kết các hành viên

đã cam kết theo GATS, hay còn được biết đến nguyên tắc GATS + Theo hiệp định

Trang 37

này, các nước ASEAN sẽ thương lượng về tự do hóa dịch vụ liên vùng trong một

số ngành bao gồm viễn thông, du lịch, dịch vụ tài chính, xây dựng và vận tải biển thêm vào đó tất cả các nước thống nhất về:

- Xóa bỏ đáng kể các biện pháp phân biệt đối xử hiện tại và các hạn chế về gia nhập thị trường trong số các nước thành viên; và

- Cấm ban hành thêm và ban hành mới các biện pháp phân biệt đối xử và các hạn chế về gia nhập thị trường trong một khung thời gian hợp lý

Thứ ba, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) và tổ chức Thương

mại thế giới (WTO)

Quyết định vào WTO đồng nghĩa chúng ta cam kết thực hiện các nguyên tắc

tự do hóa mậu dịch cơ bản của WTO, của hệ thống thương mại đa phương - một bộ phận then chốt của luật thương mại quốc tế nói chung

Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực tài chính Ngân hàng bao gồm các hạn chế về tiếp cận thị trường và các hạn chế về đối xử quốc gia Các nội dung cam kết và được xoay quanh yêu cầu chủ yếu sau:

a) Trong cam kết mở cửa thị trường dịch vụ Ngân hàng, trừ khi có quy định

cụ thể trong danh mục cam kết, các thành viên sẽ không ban hành thêm hay áp dụng những biện pháp được nêu dưới đây, dù ở quy mô vùng hay trên toàn lãnh thổ:

- Hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ Ngân hàng

- Hạn chế về tổng giá trị các giao dịch về dịch vụ Ngân hàng và tài sản

- Hạn chế về tổng số các hoạt động tác nghiệp hay tổng số lượng dịch vụ Ngân hàng

- Hạn chế tổng số người được tuyển dụng trong lĩnh vực cụ thể hay một nhà cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng

- Các biện pháp hạn chế hay yêu cầu phải mang một hình thức pháp nhân cụ thể hay liên doanh

- Hạn chế việc tham gia góp vốn của bên nước ngoài

Trang 38

b) Mỗi thành viên sẽ dành cho dịch vụ đãi ngộ hay nhà cung cấp dịch vụ Ngân hàng của bất kỳ một thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn

c) Trừ khi gặp tình huống phải bảo vệ cán cân thanh toán, một nước thành viên sẽ không áp dụng hạn chế về thanh toán và chuyển tiền quốc tế

d) Mỗi nước thành viên cho phép người cung cấp dịch vụ Ngân hàng của các nước thành viên khác được đưa ra các dịch vụ Ngân hàng mới trên lãnh thổ nước

đó

e) Mỗi thành viên cho phép người cung cấp dịch vụ Ngân hàng tiếp cận hệ thống thanh toán bù trừ và tiếp cận các thể thức cấp vốn và tái cấp vốn

f) Mỗi nước thành viên dành cho người cung cấp dịch vụ Ngân hàng của bất

kỳ nước thành viên nào quyền được thành lập và mở rộng hoạt động trong lãnh thổ nước mình

g) Các nước thành viên cam kết, trong trường hợp nhất định, trợ cấp có thể gây biến dạng dịch vụ thương mại

h) Mỗi thành viên trả lời không chậm trễ khi có yêu cầu bất kỳ của thành viên nào khác về những thông tin cụ thể

Kể từ ngày 1/4/2012 các tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ được phép thành lập các Ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Một trong các điều kiện then chốt để mở một chi nhánh của một Ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam là Ngân hàng mẹ phải có tổng tài sản có trên 20 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn xin mở chi nhánh, điều kiện then chốt để thành lập một Ngân hàng liên doanh hoặc một Ngân hàng 100% vốn nước ngoài là Ngân hàng

mẹ phải có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn xin mở Ngân hàng Điều kiện then chốt để thành lập một công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, một công ty tài chính liên doanh, một công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài hoặc một công ty cho thuê tài chính liên doanh là tổ chức tín dụng nước ngoài phải có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm

Trang 39

trước thời điểm nộp đơn Có thể nói, Ngân hàng trong nước đã bắt đầu có sự cạnh tranh với các Ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2013 trở đi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã được ký kết, cam kết khác của Việt Nam như với WTO về việc xoá bỏ các rào cản thương mại quốc tế, cam kết dành cho phía đối tác ưu đãi tối huệ quốc, ưu đãi đối xử quốc gia sẽ tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh ngân hàng dễ dàng xâm nhập vào Việt Nam Việc loại bỏ dần các hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài có nghĩa là các ngân hàng nước ngoài sẽ từng bước tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động ngân hàng Việt Nam Quy

mô vốn lớn, công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến của các ngân hàng nước ngoài sẽ là những ưu thế cơ bản tạo ra sức ép cạnh tranh trong ngành ngân hàng Do khả năng tài chính, trình độ quản lý và trình độ công nghệ của các ngân hàng Việt Nam còn thấp, các dịch vụ ngân hàng chưa phong phú, tiện lợi hấp dẫn… nên trong giai đoạn đầu của việc gia nhập WTO, thách thức đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam là đáng kể, đặc biệt là đối với các ngân hàng có phạm vi hoạt động kinh doanh trùng với lĩnh vực hoạt động có ưu thế của các ngân hàng nước ngoài như: thanh toán quốc tế, đầu tư dự án… Bên cạnh đó, do một số loại hình nghiệp vụ ngân hàng mới chưa xuất hiện hoặc chưa phát triển ở Việt Nam nhưng có quy định trong các Hiệp định cho phép ngân hàng nước ngoài thực hiện

sẽ giúp cho các ngân hàng nước ngoài dành lợi thế của những người “mở đường”, chiếm lĩnh thị phần và đẩy các ngân hàng thương mại Việt Nam hoạt động trong một “ không gian hẹp” Do không thể cạnh tranh, các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ rút về kinh doanh trong lĩnh các vực truyền thống với lợi nhuận ít nhưng rủi ro lớn

Trên đây là một số thách thức mà các ngân hàng thương mại Việt Nam phải đối mặt ngay tại thị trường trong nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Để có thể đứng vững và giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống ngân hàng có uy tín, có năng lực cạnh tranh, hoạt động hiệu quả an toàn, có khả năng huy động tốt hơn các nguồn vốn trong xã hội

Trang 40

và mở rộng đầu tư để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước

2.1.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM là đòi hỏi tất yếu

Thông qua việc phân tích bối cảnh thế giới và bối cảnh trong nước, chúng ta

có thể khẳng định rằng, việc hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu, xu hướng của thời đại Đối với quốc gia việc hội nhập quốc tế sẽ tạo thế và lực cho Việt Nam trên thị trường quốc tế, mở ra nhiều cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu thu hút đầu tư nước ngoài, tạo công ăn việc làm cho người lao động Thông qua hội nhập, chúng ta có điều kiện để tiếp thu khoa học - công nghệ, kỹ năng quản lý của các nước tiên tiến, đội ngũ cán bộ qua làm việc tiếp xúc với các chuyên gia nước ngoài sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm, tăng độ nhanh nhạy và sự năng động sáng tạo

Riêng đối với ngành ngân hàng, hội nhập tài chính khu vực và quốc tế cũng đem lại cơ hội cho các nhà ngân hàng nâng cao trình độ và khả năng tiếp cận và thâm nhập thị trường; khơi thông, thu hút nguồn vốn; mở rộng quy mô hoạt động bên ngoài biên giới quốc gia Các ngân hàng có thêm điều kiên để tiếp thu công nghệ ngân hàng hiện đại để cải tiến hệ thống công nghệ hiện có, đa dạng các dịch

vụ ngân hàng để thoả mãn nhu cầu của khách hàng…

Bên cạnh những cơ hội, không thể không nhắc đến những thách thức đặt ra Đối với ngành ngân hàng, những thách thức này càng trở nên to lớn và khó giải quyết bởi hệ thống ngân hàng Việt Nam còn rất non trẻ và yếu kém về nhiều mặt

so với các ngân hàng thương mại trên thế giới: thực lực tài chính quá mỏng, công nghệ lạc hậu, năng lực điều hành, trình độ quản lý hạn chế…Do đó việc tìm ra biện pháp tháo gỡ khó khăn cho ngành ngân hàng là rất cần thiết Một trong những biện pháp quan trọng giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam có thể đứng vững và phát triển trước sức ép mạnh mẽ từ các ngân hàng nước ngoài là phải nâng cao được năng lực cạnh tranh của ngân hàng Có nâng cao được năng lực cạnh tranh, các ngân hàng mới có đủ thế và lực một cách toàn diện trên tất cả các mặt, mới đủ sức để đương đầu với sự cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng nước ngoài Nâng

Ngày đăng: 13/05/2018, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngân hàng nhà nước Việt Nam, (2003) “Quyết định của Thống đốc ngân hàng Nhà Nước về kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế ngành Ngân hàng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyết định của Thống đốc ngân hàng Nhà Nước về kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế ngành Ngân hàng
2. Ngân hàng nhà nước Việt Nam, (2012) “Những thách thức của ngân hàng thương mại Việt nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức của ngân hàng thương mại Việt nam
4. Tạp chí ngân hàng, tháng 4/2014 , bài “ kinh tế Việt Nam đã qua giai đoạn khủng hoảng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh tế Việt Nam đã qua giai đoạn khủng hoảng
5. Tạp chí thị trường tiền tệ, số 8, tháng 4/2014, bài “ phát triển dịch vụ ngân hàng – thực trạng và biện pháp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ phát triển dịch vụ ngân hàng – thực trạng và biện pháp
6. Tạp chí ngân hàng, tháng 2/2014, bài “Hệ thống ngân hàng Việt Nam 2014 và bài toán đặt ra năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống ngân hàng Việt Nam 2014 và bài toán đặt ra năm 2015
8. Juan Cardenas, Juan Pablo Graf, Pascual O’ dogherty: “Foreign banks entry in emerging market economics: a host country perspective” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Foreign banks entry in emerging market economics: a host country perspective
9. “Regular repost of the World Bank post – 2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Regular repost of the World Bank post – 2013
10. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010-2014), báo cáo thường niên 11. Các website báo điện tử của Việt Namhttp://cafe.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo thường niên
3. Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ Khác
7. Hiệp hội thẻ Việt Nam (2013-2014), báo cáo thường niên Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm