1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng_2

95 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yêu cầu về vốn lưu động trong doanh nghiệp Nguồn VLĐ trong doanh nghiệp phải đủ đểđảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, ổn định, theo kế hoạch

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải có một lượng vốn lưu động nhất định như là tiền đề bắt buộc Vốn lưu động có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động trong điều kiện nền kinh tế mở với xu thế quốc tế hóa ngày càng cao và cạnh tranh trên thị trường ngày càng mạnh mẽ

Do vậy, nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh, nhất là nhu cầu vốn dài hạn của các doanh nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn Trong khi nhu cầu sử dụng về vốn là lớn mà khả năng tạo lập và huy động vốn của doanh nghiệp lại bị hạn chế Vì thế, nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng vốn lưu động sao cho nó có hiệu quả nhất, trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành pháp luật

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản trị tài chính doanh nghiệp Nên việc sử dụng và quản

lý vốn lưu động hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm bớt được một lượng vốn tồn đọng trong quá trình sản xuất, góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông vốn của doanh nghiệp diễn ra nhanh hơn Từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh cũng như tăng lợi nhuận doanh nghiệp Như vậy công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định thành bại của doanh nghiệp

Nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng và quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp và qua thời gian nghiên cứu thực tế tại Công ty Cổ phần xây

dựng tổng hợp Tiên Lãng, tác giả chọn vấn đề: “Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng” làm đề

tài luận văn thạc sỹ

Trang 3

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Mục đích: Tìm ra nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả sử dụng vốn lưu động

để từ đó đưa ra các giải pháp tài chính để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng

+ Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về công tác sử dụng vốn lưu động

để đưa ra một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung phân tích một số vấn đề cơ bản liên quan đến cơ cấu vốn lưu động, tình hình sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng Từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn lưu động tại Công ty

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thu thập và phân tích dữ liệu nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên Luận văn sử dụng phương pháp: duy vật biện chứng, hệ thống các phương pháp thống kê, phân tích kinh tế, mô tả - giải thích, so sánh - đối chiếu, phân tích - tổng hợp và kế thừa một số nghiên cứu đã có…

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa lý luận về vốn lưu động, các chỉ tiêu đánh

giá và phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trang 4

- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở đánh giá thực trạng sử dụng và quản lý vốn

lưu động tại Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng Từ đó đưa ra các giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty trong thời gian tới

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:

- Chương 1:Cơ sở lý luận vềnâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động và các

nhân tốảnh hưởngđến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

- Chương 2:Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần

xây dựng tổng hợp Tiên Lãng

- Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại

Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng

Trang 5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAOHIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG

VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SƯ DỤNG VỐN LƯU

ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của vốn lưu động

1.1.1.1.Khái niệm của vốn lưu động

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài tài sản cố định doanh nghiệp cần phải có các tài sản lưu động Tài sản lưu động của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: Tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông

- Tài sản lưu động sản xuất: gồm một bộ phận là những vật tư dự trữ để đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu và một bộ phận là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất như sản phẩm dở dang, bán thành phẩm

- Tài sản lưu động lưu thông: là những tài sản nằm trong quá trình lưu thông của doanh nghiệp như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán

Trong quá trình sản xuất – kinh doanh, tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn thay thế chỗ cho nhau, vận động không ngừng, nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành thường xuyên và liên tục

Để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành thường xuyên, liên tục, các doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định Để hình thành nên các tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhằm đầu tư vào các tài sản đó Số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp

Vốn lưu động của doanh nghiệp thường xuyên vận động, chuyển hóa lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau Đối với doanh nghiệp sản xuất vốn lưu động từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở

Trang 6

dang, thành phẩm hàng hóa Khi kết thúc quá trình tiêu thụ lại trở về hình thái ban đầu là tiền Đối với doanh nghiệp thương mại, sự vận động của vốn lưu động nhanh hơn từ hình thái vốn bằng tiền chuyển hóa sang hình thái hàng hóa và cuối cùng chuyển về hình thái tiền

Từ những phân tích trên có thể hiểu: “Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một là và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành

một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh”

1.1.1.2.Đặc điểm vốn lưu động trong doanh nghiệp

Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởi các đặc điểm của tài sản lưu động, nên vốn lưu động của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:

- Đặc điểm thứ nhất: VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình

thái biểu hiện VLĐ của doanh nghiệp thường xuyên chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau tạo thành sự tuần hoàn của VLĐ

Trong doanh nghiệp sản xuất, VLĐ được vận động và chuyển hóa qua ba giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Giai đoạn dự trữ vật tư, vốn bằng tiền được chuyển hóa thành

vốn dự trữ

+ Giai đoạn 2: Giai đoạn sản xuất, VLĐ được chuyển hóa từ vốn dự trữ

thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và kết quả của quá trình sản xuất chuyển thành thành phẩm

+ Giai đoạn 3: Giai đoạn lưu thông, VLĐ từ hình thái thành phẩm hàng hóa

chuyển lại thành tiền như hình thái ban đầu của nó và kết thúc kỳ chu chuyển

Nói chung sự vận động của VLĐ trong doanh nghiệp sản xuất được mô tả như sau:

T – H SX H’ – T’

Trang 7

Trong doanh nghiệp thương mại, VLĐ được chỉ vận động qua hai giai đoạn

+ Giai đoạn 1: Giai đoạn mua hàng, VLĐ được chuyển hóa từ vốn bằng tiền

thành hàng hóa dự trữ

+ Giai đoạn 2: Giai đoạn bán, VLĐ chuyển từ hàng hóa dự trữ trở về vốn

bằng tiền như ban đầu và kết thúc kỳ chu chuyển

Tóm lại, sự vận động của VLĐ trong doanh nghiệp thương mại được khái quát như sau:

T – H – T’

- Đặc điểm thứ 2: VLĐchu chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và

được hoàn lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh VLĐ chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất giá trị của nó được dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ sau khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, cung ứng dịch

vụ và thu được tiền bán hàng về Như vậy VLĐ hoàn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

- Đặc điểm thứ 3: VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ

kinh doanh Quá trình SXKD của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên, liên tục Các giai đoạn vận động của VLĐ đan xen nhau nên cùng một thời điểm VLĐ thường tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau trong khâu sản xuất và lưu thông

Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được cho quá trình tái sản xuất.Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ tiền vốn đầu tư vào các hình thái khác nhau của VLĐ, khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau Như vậy sẽ tạo điều kiện cho chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi, góp phần tăng tốc độ luân chuyển VLĐ, tăng hiệu quả sử dụng VLĐ và ngược lại

1.1.1.3.Vai trò của vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh

- Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập toàn cầu hóa, vốn lưu động là điều

Trang 8

kiện tiên quyết tới các bước tiếp theo của quá trình SXKD Vốn lưu động phải có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất, được sử dụng vào mục đích kinh doanh và sau một chu kỳ hoạt động nó phải được thu về đầy đủ giá trị để tiếp tục cho chu kỳ hoạt động tiếp theo VLĐ của doanh nghiệp cần được bảo toàn, vì mất vốn đồng nghĩa với nguy cơ phá sản

- Vốn lưu động là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của các tài sản lưu động Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn phản ánh sự vận động của tài sản lưu động Số vốn lưu động nhiều hay ít là phản ánh số vật tư, hàng hóa

dự trữ sử dụng ở các khâu nhiều hay ít Vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không Thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông có hợp lý hay không Từ đó thông qua tình hình luân chuyển vốn lưu động có thể kiểm tra, đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt mua sắm,

dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp

Từ đó ta thấy VLĐ có tầm quan trọng to lớn đối với doanh nghiệp Do đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đảm bảo nhu cầu tối đa về vốn cho việc phát triển SXKD trên cơ sở nguồn vốn có hạn thì đây là một mục tiêu khó đối với người quản

1.1.1.4 Yêu cầu về vốn lưu động trong doanh nghiệp

Nguồn VLĐ trong doanh nghiệp phải đủ đểđảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, ổn định, theo kế hoạch và tận dụng được tối đa từ lượng vốn sẵn có cho mục đích lợi nhuận của doanh nghiệp Hay nói cách khác, nhà quản lý cần chỉ ra lượng vốn lưu động cần thiết đủ để doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận trong khả năng sản xuất kinh doanh hiện có.Như vậy, có thể nói, yêu cầu về quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp là phải vừa không thừa và vừa không thiếu Nếu có tính trạng thừa hay thiếu vốn lưu động đều làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh và tác động tiêu cực tới doanh nghiệp

Trang 9

Nếu tình trạng doanh nghiệp để thừa vốn lưu động đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không khai thác hết được những khả năng tiềm tàng hay bị hạn chế biện pháp để cải tiến hoạt động SXKD của mình để nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ, gây ứ đọng vật tư, hàng hóa dự trữ cho sản xuất, vốn chậm luân chuyển và phát sinh những khoản chi phí không cần thiết làm tăng giá thành sản phẩm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, lợi nhuận thu được không tối ưu với chi phí bỏ ra Ngược lại, doanh nghiệp nếu rơi vào tình trạng thiếu vốn, thiếu vật

tư, hàng hóa tham gia sản xuất dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không liên tục, bị gián đoạn, không có khả năng thanh toán các khoản mua hàng hóa, vật tư, thực hiện các hợp đồng đã ký với nhà cung cấp làm kết quả sản xuất kinh doanh sụt giảm và ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được của doanh nghiệp

1.1.2.Phân loại vốn lưu động trong doanh nghiệp

Để có thể quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả mỗi doanh nghiệp cần phải tiến hành phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức khác nhau Việc phân loại này sẽ giúp các nhà quản lý doanh nghiệp biết được những ưu, nhược điểm của cách phân bổ VLĐ cho từng loại mà từ đó đưa ra cách khắc phục phù hợp.VLĐ của doanh nghiệp được phân loại như sau:

1.1.2.1.Phân loại theo hình thức biểu hiện

Căn cứ vào hình thức biểu hiện, VLĐ được chia làm 2 loại, bao gồm: vốn bằng tiền và vốn về hàng tồn kho

- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:

+ Vốn bằng tiền gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển.Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc để trả nợ Do đó trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền nhất định

+ Các khoản phải thu: chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng thể hiện

số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trả góp Ngoài ra với một số trường hợp mua sắm

Trang 10

vật tư khan hiếm, doanh nghiệp còn có thể ứng trước tiền mua hàng cho nhà cung ứng

- Vốn về hàng tồn kho:

Trong doanh nghiệp sản xuất vốn vật tư, hàng hóa gồm: vốn về vật tư dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm Các loại này được gọi chung là vốn về hàng tồn kho Xét chi tiết hơn vốn về hàng tồn kho của doanh nghiệp gồm:

Vốn nguyên vật liệu chính: là giá trị của các loại nguyên vật liệu chính dự trữ

cho khâu sản xuất, khi tham gia vào sản xuất, chúng hợp thành thực thể của sản phẩm

Vốn vật liệu phụ: là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất, giúp cho

việc hình thành sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể chính của sản phẩm

Vốn nhiên liệu: là giá trị của các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động

sản xuất kinh doanh

Vốn phụ tùng thay thế: là giá trị của các loại vật tư dùng để thay thế, sửa

chữa tài sản cố định

Vốn vật tư đóng gói: là giá trị của các loại vật liệu bao bì dùng để đóng gói

sản phẩm trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Vốn công cụ - dụng cụ: là giá trị của các loại công cụ - dụng cụ không đủ

tiêu chuẩn là tài sản cố định dùng cho hoạt động kinh doanh

Vốn sản phẩm dở dang: là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh

doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (tạo ra giá thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm)

Vốn về chi phí trả trước: là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có

tác dụng cho nhiều chu kỳ SXKD nên chưa thể tính hết vào giá thành sản phẩm trong kỳ, mà tính dần vào giá thành sản xuất qua các kỳ tiếp theo Như chi phí cải tiến kỹ thuật, chi phí nghiên cứu thí nghiệm

Trang 11

Vốn thành phẩm: là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong đạt tiêu

chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho chờ xuất bán Trong doanh nghiệp thương mại, vốn về hàng tồn kho chủ yếu là giá trị các loại hàng hóa dự trữ

Việc phân loại VLĐtheo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét, đánh giá kết cấu VLĐ và sự biến động của từng loại vốn ở các thời điểm khác nhau Từ đó, có thể tìm các biện pháp phát huy chức năng các thành phẩn vốn và định hướng điều chỉnh cơ cấu VLĐ hợp lý có hiệu quả

1.1.2.2.Phân loại theo vai trò trong quá trình sản xuất kinh doanh

Theo vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh, VLĐ có thể được chia thành ba loại như sau:

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: là số vốn cần thiết bao gồm giá

trị các loại vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói và công cụ dụng cụ

- Vốn trong khâu sản xuất: là số vốn cần thiết để từ khi đưa vật tư dự trữ

vào sản xuất cho đến khi tạo ra sản phẩm bao gồm: vốn sản phẩm dở dang, vốn bán thành phẩm, và vốn chi phí trả trước

- Vốn trong khâu lưu thông: là số vốn cần thiết kể từ khi thành phẩm nhập

kho cho đến khi tiêu thụ hết sản phẩm thu được tiền bán hàng bao gồm: vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, vốn trong khâu thanh toán và vốn về các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản thế chấp, ký cược ký quỹ ngắn hạn

Việc phân loại vốn lưu động theo cách này giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ vốn lưu động trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn đối với quá trình kinh doanh Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tổ chức quản lý thích hợp nhằm tạo ra kết cấu vốn lưu động hợp lý hay làm tăng được tốc độ luân chuyển vốn lưu động

1.1.2.3.Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn

Theo cách phân loại này vốn lưu động được chia thành:

Trang 12

- Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, chủ

doanh nghiệp có quyền sở hữu, sử dụng và chi phối bao gồm: vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và các quỹ của doanh nghiệp, vốn do nhà nước tài trợ

Vốn chủ sở hữu được xác định là phần vốn còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi nợ phải trả

- Các khoản nợ: là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay các

ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính khác thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán, doanh nghiệp có quyền sử dụng chi phối trong thời gian nhất định

Việc phân loại này giúp doanh nghiệp có biện pháp quản lý vốn lưu động một cách chặt chẽ.Từ đó xác định được đâu là nguồn VLĐ phải trả lãi để đề ra kế hoạch sử dụng vốn lưu động một cách hợp lý có hiệu quả

1.1.2.4 Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn

Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp được chia thành hai loại như sau:

- Nguồn vốn lưu động thường xuyên: là nguồn mang tính ổn định và lâu dài

bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu VLĐ thường xuyên và cần thiết của doanh nghiệp như là: các khoản dự tữ về nguồn vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm Nguồn vật liệu thường xuyên càng lớn thì doanh nghiệp càng chủ động trong tổ chức đảm bảo vốn cho doanh nghiệp Nguồn vốn này cho phép doanh nghiệp luôn chủ động được vốn lưu động, cung cấp kịp thời, đầy đủ nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Nguồn vốn lưu động tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, chủ

yếu đáp ứng nhu cầu tạm thời về vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn này bao gồm: các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả cho người khác, các khoản phải trả

Trang 13

phải nộp ngân sách nhà nước Trong quá trình sản xuất kinh doanh nhu cầu sử dụng vốn lưu động của mỗi thời kỳ, mỗi chu kỳ có thể lớn hơn khả năng cung ứng của nguồn vốn lưu động thường xuyên Do đó doanh nghiệp cần phải huy động và

sử dụng nguồn vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động phát sinh có tính chất bất thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Việc phân loại này giúp cho doanh nghiệp quản lý xem xét hoạt động của các nguồn vốn lưu động một cách phù hợp về thời gian để nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng vốn lưu động, giúp cho nhà quản lý lập kế hoạch tài chính trong tương lai.Trên cơ sở đó xác định quy mô số lượng vốn lưu động cần thiết để lựa chọn nguồn vốn lưu động nào có hiệu quả cao nhất

Tuy nhiên mỗi cách phân loại đều có ưu và nhược điểm vì thế người quản lý phải lựa chọn hình thức huy động sao cho chi phí huy động là thấp nhất, rủi ro là ít nhất để đem lại hiệu quả kinh tế lớn nhất

1.1.3 Kết cấu vốn lưu động và các nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp

* Kết cấu vốn lưu động

Kết cấu vốn lưu động phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần cấu thành VLĐ trong tổng số VLĐ của doanh nghiệp.VLĐ là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, việc tổ chức quản lý, sử dụng VLĐ có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp

Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động.Có nhiều cách phân loại vốn, mỗi cách phân loại có tác dụng riêng phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý.Thông qua các phương pháp phân loại giúp cho nhà quản trị tài chính doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn của những kỳ trước, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý kỳ này để ngày càng sử dụng hiệu quả hơn vốn lưu động Cũng như từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết cấu vốn lưu động của mình theo những tiêu thức khác nhau

Trang 14

Các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không giống nhau Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng Từđó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp

* Nguồn hình thành vốn lưu động

Trong quá trình sản xuất kinh doanh VLĐ có vai trò hết sức quan trọng, doanh nghiệp luôn phải duy trì một lượng vốn nhất định để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên và liên tục Mỗi doanh nghiệp cần phải chọn cho mình cơ cấu nguồn vốn tối ưu để giảm thiểu chi phí sử dụng vốn, lại vừa đảm bảo sự an toàn cho doanh nghiệp Để tổ chức quản lý tốt nguồn VLĐ thì doanh nghiệp phải tìm kiếm được nguồn hình thành VLĐ để xây dựng những phương án

sử dụng vốn tối ưu nhất

Vốn lưu động được hình thành chủ yếu từ nợ ngắn hạn và vốn chủ sở hữu:

- Nợ ngắn hạn trong doanh nghiệp là các khoản VLĐ được hình thành từ nhiều nhân yếu tố như: vay ngắn hạn và các khoản chiếm dụng vốn tạm thời của người khác Những khoản chiếm dụng vốn tạm thời của doanh nghiệp như nợ lương công nhân viên trong doanh nghiệp, nợ tiền nhà cung cấp hay nhận tiền ứng trước của khách hàng và thuế, các khoản phải nộp ngân sách nhà nước

- Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp có quyền sở hữu, sử dụng và chi phối Vốn chủ sở hữu bao gồm nguồn vốn chính do chủ doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp liên doanh liên kết, vốn được đầu tư thêm từ lợi nhuận để lại hay vốn từ việc phát hành cổ phiếu

Trang 15

1.1.4 Nhu cầu vốn lưu động, cách xác định vốn lưu động trong doanh nghiệp

1.1.4.1.Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục bắt đầu từ mua sắm, dự trữ vật tư cần thiết đến sản xuất tạo ra sản phẩm, bán sản phẩm đến cung ứng dịch vụ và thu được tiền từ bán hàng

Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục tạo thành chu kỳ kinh doanh Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là khoảng thời gian trung bình cần thiết để thực hiện việc mua sắm, dự trữ vật liệu, sản xuất ra sản phẩm và bán được sản phẩm, thu được tiền từ bán hàng Thông thường một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành ba giai đoạn: Giai đoạn mua sắm và

dự trữ vật tư, giai đoạn sản xuất và giai đoạn bán sản phẩm và thu tiền bán hàng

Nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp là số tiền cần thiết doanh nghiệp trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho và khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng của nhà cung cấp và các khoản nợ phải trả khác

có tính chất chu kỳ (tiền lương phải trả công nhân viên, tiền thuế phải nộp vào NSNN, nợ tiền nhà cung cấp và nhận ứng trước của nhà cung cấp )

Công thức xác định nhu cầu vốn lưu động:

Nhu cầu VLĐ

= Mức dự trữ hàng tồn kho +

Khoản phải thu từ khách hàng

-

Khoản phải trả nhà cung cấp và các khoản có tính chất chu kỳ

Số VLĐ trong doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra tùy thuộc vào nhu cầu VLĐ lớn hay nhỏ theo từng chu kỳ kinh doanh Trong công tác quản lý VLĐ, vấn

đề quan trọng là phải xác định được nhu cầu VLĐ cần thiết tương ứng với quy mô

và điều kiện kinh doanh nhất định

Trang 16

Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết tối thiểu là số vốn tính ra phải đủ để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hàng một cách thường xuyên và liên tục Đồng thời phải xây dưng phương án tiết kiệm một cách hợp lý

Trong điều kiện kinh tế hiện nay, nhu cầu VLĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều phải tự tài trợ Do đó việc xác định đúng đắn và hợp lý nhu cầu VLĐ càng có ý nghĩa quan trọng vì:

- Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết được xác định đúng đắn và hợp lý

là cơ sở để tổ chức tốt các nguồn tài trợ

- Đáp ứng kịp thời đầy đủ VLĐ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành bình thường và liên tục

- Nếu nhu cầu VLĐ xác định quá thấp sẽ gây khó khăn cho công tác tổ chức đảm bảo vốn, làm gián đoạn quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Từ đó gây những thiệt hại do ngừng sản xuất như mất khả năng thanh toán, trả nợ cho người lao động và nhà cung cung khi đến hạn, làm giảm và mất uy tín với bán hàng

- Ngược lại nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu VLĐ quá cao sẽ dẫn đến tình trạng thừa vốn gây ứ đọng vật tư, hàng hóa, sử dụng vốn lãng phí, vốn chậm luân chuyển và phát sinh nhiều chi phí không hợp lý làm giá thành sản phẩm tăng dẫn đến giảm lợi nhuận của doanh nghiệp

1.1.4.2.Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Tùy vào điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp khác nhau có thế áp dụng các phương pháp khách nhau để xác định nhu cầu VLĐ Sau đây là hai phương pháp chủ yếu thường được áp dụng:

Một là,Phương pháp trực tiếp: phương pháp này căn cứ vào các yếu tố ảnh

hưởng trực tiếp đến lượng VLĐ của doanh nghiệp ứng ra để xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên

- Trình tự xác định nhu cầu VLĐ:

+ Xác định nhu cầu VLĐ để dự trữ hàng tồn kho cần thiết

Trang 17

+ Xác định chính sách tiêu thụ sản phẩm và khoản tín dụng cung cấp cho khách hàng

+ Xác định các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp

+ Tổng hợp xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp

- Xác định nhu cầu VLĐ dự trữ HTK cần thiết so với tổng mức luân chuyển vốn của loại vật tư đó ở năm báo cáo (hay kỳ gốc)

Nhu cầu dự trữ

Nhu cầu dự trữ NVL, HH +

Nhu cầu vốn SPDD +

Nhu cầu vốn TP

- Dự kiến khoản phải thu: Npt = Kpt x Dn

Trong đó:

Npt: Nợ phải thu dự kiến kỳ kế hoạch Kpt: Thời gian trung bình cho khách hàng nợ Dn: Doanh thu bán hàng bình quân 1 ngày trong kỳ kế hoạch

- Dự kiến khoản phải trả:

Nợ phải trả nhà CC =

Kỳ trả tiền trung bình X

Giá trị NVL, HH mua vào bình quân 1 ngày trong năm kế hoạch(loại mua

chịu)

- Xác định nhu cầu VLĐ của DN:

Nhu cầu VLĐ =

Mực dự trữ

Khoản phải thu từ khách hàng

- Khoản phải trả

nhà CC Sau khi xác định được nhu cầu VLĐ (Vnc) có thể xác định tỷ lệ nhu cầu VLĐ trên doanh thu thuần (DTT) theo công thức sau:

Tỷ lệ nhu cầu VLĐ so với DTT = Vnc

DTT Nhu cầu VLĐ được xác định theo phương pháp trực tiếp tương đối sát và phù hợp với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay Tuy nhiên hạn chế của

Trang 18

phương pháp này là tính toán tương đối phức tạp, khối lượng tính toán lớn và mất nhiều thời gian

Hai là,Phương pháp gián tiếp: phương pháp này dựa vào thống kê kinh

nghiệm để xác định nhu cầu vốn huy động và được chia làm 2 trường hợp:

- Trường hợp 1: Dựa vào kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp cùng

loại trong ngành để xác định nhu cầu vốn cho doanh nghiệp mình

Việc xác định nhu cầu vốn theo cách này là căn cứ vào hệ số VLĐ tính theo doanh thu của các doanh nghiệp cùng loại trong ngành Trên cơ sở đó, xem xét quy

mô kinh doanh dự kiến theo doanh thu của doanh nghiệp mình để tính ra nhu cầu VLĐ cần thiết

Phương pháp này đơn giản nhưng mưc độ chính xác bị hạn chế Nó thích hợp với việc xác định nhu cầu VLĐ đối với doanh nghiệp mới thành lập có quy mô hoạt động SXKD nhỏ

- Trường hợp 2: Dựa vào tình hình thực tế sử dụng VLĐ ở kỳ vừa qua để

xác định nhu cầu chuẩn về VLĐ cho kỳ tiếp theo

Việc xác định vốn theo cách này là dựa vào mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành nhu cầu VLĐ như: HTK, nợ phải thutừ khách hàng, nợ phải trả nhà cung cấp với DTT của kỳ vừa qua Để xác định tỷ lệ chuẩn cho nhu cầu VLĐ tính theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ đó để xác định nhu cầu VLĐ cho các kỳ tiếp theo

+ Xác định nhu cầu VLĐ cho kỳ kế hoạch

Như vậy, tỷ lệ nhu cầu VLĐ so với doanh thu thuần sau khi được xác định

có thể sử dụng như một tỷ lệ chuẩn để xác định nhu cầu VLĐ cho các năm sau

Trang 19

Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài nhu cầu VLĐ thường xuyên còn có nhiều nguyên nhân khác nhau giữa các thời kỳ khác nhau trong chu kỳ doanh nghiệp dẫn đến việc hình thành một bộ phận các tài sản lưu động tạm thời cần phải có VLĐ tạm thời để trang trải

Ngoài tài sản lưu động hình thành không có tính chất thường xuyên được gọi

là tài sản lưu động tạm thời và biểu hiện bằng tiền của chúng là VLĐ tạm thời

1.2.HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.2.1.Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Hiệu quả sử dụng VLĐ là chỉ tiêu chất lượng phản ánh tổng hợp những biện pháp quản lý hợp lý về kỹ thuật, tổ chức sản xuất, quản lý toàn bộ các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả SXKD, thúc đẩy doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển

Hiệu quả sử dụng VLĐ là mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá trình

khai thác sử dụng VLĐ với lượng VLĐ mà doanh nghiệp bỏ ra.Có thể hiểu là:

“Hiệu quả sử dụng VLĐ là phạm trù kinh tế đánh giá trình độ khai thác, sử dụng các tài sản lưu động, nguồn VLĐ của doanh nghiệp để làm cho đồng vốn đó sinh lời tối đa trong quá trình tham gia SXKD nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh

nghiệp là tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu với tổng chi phí sử dụng vốn thấp nhất”

Tính hiệu quả sử dụng VLĐ có thểđược hiểu theo 2 khía cạnh sau:

- Một là: Với số vốn hiện có, doanh nghiệp có thế cung cấp thêm một lượng sản phẩm với chất lượng tốt, chi phí thấp nhằm tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp

- Hai là: Doanh nghiệp đầu tư thêm vốn một cách hợp lýđể mở rộng quy

mô sản xuất kinh doanh nhằm tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tộc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của vốn

Hai khía cạnh trên cũng là mục tiêu cần đạt tới trong công tác quản lý và sử dụng vốn SXKD nói chung và VLĐ nói riêng của doanh nghiệp

Như vậy tính hiệu quả sử dụng vốn lưu động phải đảm bảo yêu cầu sau:

- Khai thác tối ưu nguồn vốn của doanh nghiệp

Trang 20

- Sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm mỗi nguồn vốn của doanh nghiệp

- Sử dụng vốn đúng mục đích và mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp

1.2.2 Sự cần thiết và nội dung của việc nâng cao hiệu quảsử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

Vốn lưu động đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Một doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh không thể thiếu VLĐ.Chính vì vậy việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐlà việc cần đối với doanh nghiệp, đó là nguyên nhân chủ quan từ phía doanh nghiệp cần phải tiến hành quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ Bên cạnh đó yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ còn xuất phát từ những yếu tố khác như:

Thứ nhất, Xuất phát từ vai trò của VLĐ đối với hoạt động SXKD: Trong nền

kinh tế thị trường để tồn tại, phát triển và đạt được lợi nhuận tối đa, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý các hoạt động kinh doanh của minh Một trong những vấn đề cần quan tâm là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ nói riêng

- VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu của quá trình tái sản xuất Nó đảm bảo cho quá trình trái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên liên tục từ khâu nghiên cứu thị trường, mua sẵm vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phâm Do vậy, nếu thiếu VLĐ thì quá trình tái sản xuất sẽ gặp khó khăn, có thể bị gián đoạn, gây ảnh hưởng đến hiệu quá kinh doanh

- VLĐ còn là căn cứ phản ánh, đánh giá quá trình vận động của vật tư, hàng hóa trong doanh nghiệp VLĐ nhiều hay ít phản ánh số lượng vật tư, hàng hóa

ở các khâu sản xuất nhiều hay ít Tốc độ luân chuyển VLĐ phản ánh số lượng vật

tư sử dụng tiết kiệm hay lãng phí Thông qua tình hình luân chuyển VLĐ có thể kiểm tra, đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Vì vậy việc quản lý, bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ luôn được xem là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các doanh nghiệp

Trang 21

Thứ hai, Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quá sử dụng VLĐ:

Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, quản lý và sử dụng VLĐ có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên, liên tục, VLĐ được phân bổ trên khắp các giai đoạn của quá trình tái sản xuất, luân chuyển và biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau Doanh nghiệp phải có đủ VLĐ đầu tư vào các hình thái đó, khiến cho chúng có được mức tồn tài hợp lý, tối ưu, đồng bộ với nhau Từ đó, việc chuyển hóa hình thái vốn trong quá trình luận chuyển diễn ra thuận lợi, làm tăng tốc độ luân chuyển VLĐ, góp phần giảm chi phí SXKD, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận và nâng cao hiệu quả cạnh tranh trên thị trường

- Tiết kiệm VLĐ khi sử dụng: việc tăng tốc độ luân chuyển VLĐ cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn, khi đó vốn được thu hồi nhanh hơn có thể giảm bớt VLĐ cần thiết mà vẫn hoàn thành khối lượng sản phẩm hàng hóa bằng hoặc lớn hơn trước

Thứ ba, Xuất phát từ mục đích kinh doanh và thực tế sử dụng VLĐ trong các doanh nghiệp hiện nay: Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hoạt động vì

mục tiêu tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp Tuy nhiên,tình trạng phổ biến ở các doanh nghiệp hiện nay là lượng vật tư bị ứ đọng, hàng hóa kém hoặc mất phẩm chất, chậm luân chuyển, tồn kho cao, công nợ khó đòi tăng, tài sản bị tổn thất, mất mát cao Vì vậy số VLĐ thực tế tham gia vào quá trình sản xuất chiếm tỷ trọng không cao Do đó tình trạng thiếu VLĐ thường xuyên xảy ra và hiệu quả sử dụng

vốn thấp

Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là đảm bảo với số vốn hiện có, bằng các biện pháp quản lý nhằm khai thác triệt để khả năng vốn có để mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp Cụ thể hơn là việc nhà quản lý thực hiện đánh giá các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và trên cơ sở xem xét các yếu tố cả chủ quan và khách quan tác động đến những chỉ tiêu này, sử dụng các biện pháp quản lý để tác động làm thay đổi được các chỉ tiêu này theo hướng tích

Trang 22

cực, phát huy tối đa nguồn lực sẵn có trong doanh nghiệp để tối ưu hóa lợi nhuận

và giá trị doanh nghiệp

1.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

Trong quá trình SXKD, hiệu quả sử dụng vốn được hiểu như là một chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận thu được với chi phí bỏ ra Một doanh nghiệp được coi là hoạt động có hiệu quả nếu doanh nghiệp hoạt động lấy thu bù chi có lãi

- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: Việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm VLĐ

được biểu hiện trước hết ở tốc độ luân chuyển VLĐ của doanh nghiệp VLĐ luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng VLĐ của DN càng cao và ngược lại

Tốc độ luân chuyển VLĐ được thể hiện dưới hai chỉ tiêu chính là: số lần luân chuyển (số vòng quay vốn lưu động) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của một vòng quay vốn)

- Số lần luân chuyển VLĐ: Chỉ tiêu này cho biết trong một thời kỳ nhất

định VLĐ quay được bao nhiêu vòng

Trang 23

M: Tổng mức luân chuyển VLĐ trong năm

VLĐ: Vốn lưu động bình quân trong kỳ được xác định bằng bình quân

số học

Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển VLĐ hay số vòng quay của VLĐ thực hiện được trong một thời kỳ nhất định thường là một năm tài chính

- Kỳ luân chuyển VLĐ: Chỉ tiêu này phản ánh thời gian cần thiết của một

vòng quay VLĐ hay độ dài thời gian một vòng quay của VLĐ trong kỳ

K = N Hay K = VLĐ x N

Trong đó:

K: Kỳ luân chuyển VLĐ N: Số ngày trong kỳ được tính chẵn 1 năm là 360 ngày, hay một quý là

- Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển: chỉ tiêu này bổ sung cho

việc đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ Nó phản ánh số VLĐ có thể tiết kiệm được

do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ ở kỳ này so với kỳ gốc Nghĩa là DN có thể tăng thêm quy mô KD đạt được doanh thu cao hơn nhưng không cần tăng thêm vốn hay phải tăng thêm VLĐ nhưng tốc độ tăng vốn chậm hơn tốc độ tăng quy mô

Công thức:

Trang 24

M1: Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ thực hiện

L0, L1: Số lần luân chuyển VLĐ kỳ gốc, kỳ thực hiện

K0, K1: Kỳ luân chuyển VLĐ kỳ gốc, kỳ thực hiện

- Hàm lượng VLĐ:Chỉ tiêu này xác định doanh thu thuần về bán hàng đạt

được một đồng thì cần số VLĐ là bao nhiêu

VLĐ: VLĐ bình quân

Sn: Doanh thu thuần bán hàng trong kỳ

- Tỷ suất lợi nhuận trên VLĐ: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ bình

quân sử dụng trong kỳ sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận

- Chỉ tiêu hiệu quả quản trị hàng tồn kho:

+ Vòng quay hàng tồn kho: chỉ tiêu này phản ánh khả năng quản trị hàng tồn

kho Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng tồn kho bình quân chuyển trong

Trang 25

kỳ.Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho

Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì cho thấy DN bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều.Điều đó có nghĩa là DN sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm

Tuy nhiên hệ số này quá cao sẽ không tốt vì như vậy có nghĩa là lượng hàng

dự trữ trong đó không nhiều nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng DN bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Và dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngừng trệ.Vì thế hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng

+ Kỳ luân chuyển hàng tồn kho: chỉ tiêu này phản ánh thời gian cần thiết của

một vòng quay hàng tồn kho hay độ dài thời gian một vòng quay hàng tồn kho trong kỳ

Công thức xác định:

Ktk = N

Ltk

Trang 26

Trong đó:

Ktk: Kỳ luân chuyển hàng tồn kho

N: Số ngày trong kỳ được tính chẵn là 360 ngày, một quý là 90 ngày, một tháng là 30 ngày

Ltk: Số vòng quay hàng tồn kho trong năm

- Vòng quay các khoán phải thu: vòng quay các khoản phải thu phản ánh

tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của DN, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ

Công thức xác định:

LPTh = Sn

𝑃𝑇ℎ

Trong đó:

LPTh: Vòng quay các khoản phải thu trong năm

Sn: Doanh thu thuần bán hàng trong năm

PTh: Bình quân các khoản phải thu trong năm

Hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của

DN càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho DN nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn VLĐ trong sản xuất Ngược lại, nếu hệ số ngày thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của DN trong việc tài trợ nguồn VLĐ trong sản xuất và có thể

DN sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn VLĐ này

- Kỳ thu tiền bình quân: Phản ánh thời gian của một vòng luân chuyển các

khoản phải thu Nghĩa là để thu được tiền từ các khoản phải thu thì cần một khoản thời gian là bao nhiêu ngày

Trang 27

Công thức xác định:

Kpt = N

LPTh Trong đó:

Kpt: Kỳ thu tiền bình quân

N: Số ngày trong kỳ được tính chẵn một năm là 360 ngày, một quý là

90 ngày và một tháng là 30 ngày

LPTh: Số vòng quay của các khoản phải thu Chỉ tiêu này càng nhỏ thì thể hiện tốc độ hoán chuyển giữa các khoản phải thu thành tiền càng nhanh Điều này cho thấy việc thu hồi công nợ của DN là tốt

DN ít bị khách hàng chiếm dụng vốn.Tạo điều kiện cho DN chủ động được nguồn vốn, đảm bảo quá trình sản xuất KD thuận lợi và ngược lại

- Một số chỉ tiêu khác:

+ Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Phản ánh khả năng thanh toán một

cách tổng quát các khoản nợ của doanh nghiệp

Công thức xác định:

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =

Tổng giá trị tài sản Tổng nợ phải thanh toán

+ Hệ số khả năng thanh toán hiện hành: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng

thanh toán tạm thời nợ ngắn hạn (những khoản nợ có thời hạn dưới 1 năm) bằng các tài sản có thể chuyển đổi trong thời hạn ngắn (thường dưới 1 năm)

Công thức xác đinh:

Hệ số khả năng thanh toán hiện hành =

Tài sản ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn

+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Phản ánh khả năng thanh toán các

khoản nợ ngắn hạn bằng số tiền hiện có và tài sản có thể chuyên đổi nhanh thành tiền trong doanh nghiệp

Trang 28

1.3.1.1.Công ty cổ phẩn kỹ thuật công trình Việt Nam

Công ty cổ phẩn kỹ thuật công trình Việt Nam là công ty chuyên tư vấn, chế tạo, cung cấp và lắp đặt các hạng mục như hệ thống xử lý nước sinh hoạt, công nghiệp và hệ thống xử lý nước thải cho khu công nghiệp các nhà máy chế biến, nhà máy hóa chất, bệnh viện Vì thế khâu quản lý hàng tồn kho rất quan trọng và rất cần có những phương án tốt trong việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả Nhận thức được tầm quan trọng đó doanh nghiệp đã xây dựng tỷ trọng lớn hàng tồn kho trong tổng tài sản của doanh nghiệp Việc duy trì một lượng vốn về hàng tồn kho thích hợp đã mang lại cho doanh nghiệp sự thuận lợi trong hoạt động kinh doanh, tránh được việc phải trả giá cao hơn cho việc đặt hàng nhiều lần với số lượng nhỏ

và những rủi ro trong việc chậm trễ hoặc ngừng trệ sản xuất do thiếu nguyên liệu hay những thiệt hại do không đáp ứng được các đơn đặt hàng của khách hàng Ngoài ra việc tính toán, đầu tư vốn vào lượng hàng tồn kho hợp lý để vẫn có thể cung ứng ra thị trường tốt đủ, mà lượng tồn kho lại ít,để tránh được tình trạng ứ đọng vốn, giảm thiểu được chi phí quản lý, trông coi, chi phí kho bãi của công ty, hạn chế rủi ro mất cắp, cháy nổ Từ đó góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động, số vòng quay hàng tồn kho nhanh va kỳ luân chuyển hàng tồn kho giảm Đã giúp cho doanh nghiệp thực hiện tốt nguyên tắc tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả vốn lưu động

Trang 29

1.3.1.2.Tổng công ty cổ phần xây lắp Dầu khí Việt Nam

Tổng công ty cổ phần xây lắp Dầu khí Việt Nam là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp nên tài sản lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của tổng công ty Tỷ trọng tài sản lưu động trong cơ cấu tài sản của tổng công ty qua các năm từ 2008 đến 2011 lần lượt là 69.13%; 63,56%; 55,64%; 59,00% Có

sự chênh lệch về cơ cấu tài sản lớn như vậy là do ngành nghề kinh doanh đặc thù của tổng công ty Các sản phẩm của tổng công ty là các công trình xây dựng có thời gian thi công dài, lượng giá trị chủ yếu cấu thành nên giá trị sản phẩm là giá trị nguyên vật liệu, nên vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản Nhận thức

rõ về cơ cấu tài sản vốn lưu động, Tổng công ty đã xem xét, đánh giá và lên kế hoạch thi công những dự án ngắn hạn Và công ty cũng chú trọng đẩy mạnh công tác đầu tư nâng cao năng lực thiết bị thi công nhằm, tập trung đầu tư mua sắm các trang thiết bị mới, hiện đại nhằm nâng cao chất lượng thi công của công ty Điều

đó làm cho vòng quay vốn lưu động tăng chủ yếu là do vòng quay các khoản phải thu tăng 1,53 lần (từ 5,08 vòng/năm của năm 2008 lên mức 7,8 vòng/năm của năm 2011), thể hiện chính sách quản lý công nợ của tổng công ty đã phát huy hiệu quả tốt Kết hợp với doanh thu tăng liên tục cho thấy việc siết chặt công nợ đã làm tăng tốc độ luân chuyển vốn và vòng quay vốn lưu động tăng lên đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động Thêm vào đó là khả năng thanh toán ngày càng được cải thiện giúp công ty đạt được độ an toàn trong tài chính Điều này có ý nghĩa giúp công ty tạo uy tín với các ngân hàng và nhận được nhiều các ưu đãi về lãi suất, về hạn mực tín dụng, về thời gian vay vốn với các khoản vay ngắn hạn hay trung và dài hạn làm giảm chi phí lãi vay

Tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động của tổng công ty tăng dần qua từng năm chứng tỏ các chính sách sử dụng vốn lưu động của công ty đang phát huy hiệu quả

Trang 30

1.3.1.3.Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng

Hiệu quả sử dụng VLĐ thể hiện chất lượng công tác quản lý và sử dụng VLĐ trong SXKD của công ty.Muốn có cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ trước hết cần xem xét kết cấu VLĐ có phù hợp với hoạt động SXKD của công ty không Trong kết cấu VLĐ của công ty thì khoản mục hàng tồn kho luôn chiếm tỷ trọng cao nhất tiếp đến là các khoản phải thu, tài sản ngắn hạn khác còn lại là vốn bằng tiền Kết cấu này tương đối hợp lý vì đặc thù SXKD của công ty là xây dựng, chu kỳ kinh doanh dài chí phí dở dang là rất lớn

1.3.2 Bài học kinh nghiệm thực tiễn có thể áp dụng với Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng

Qua kinh nghiệm của một số công ty đã sử dụng vốn lưu động có hiệu quả trong quá trình SXKD.Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng rút ra được một số bài học sau:

- Bài học thứ nhất:Do đặc thù là công ty xây lắp nên tỷ trọng hàng tôn kho chiếm tỷ trọng cao trong vốn lưu động Trong hàng tôn kho thì lượng nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn nên công ty nên quan tâm chú trọng đến việc duy trì lượng vốn về hàng tồn kho thích hợp, điều đó sẽ mang lại cho doanh nghiệp sự thuận lợi trong quá trình SXKD, tránh được việc phải trả giá cao hơn cho việc đặt hàng nhiều lần với số lượng nhỏ và tránh những rủi ro trong việc chậm trễ hoặc ngừng trệ sản xuất do thiếu nguyên liệu hay những thiệt hại do không đáp ứng được các đơn đặt hàng của khách hàng

- Bài học thứ hai, cơ cấu tài sản của công ty xây lắp luôn có sự chênh lệch

lớn (vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản) Việc sử dụng vốn lưu động hợp lý tiết kiệm tránh ứ đọng vốn

- Bài học thứ ba, Công ty nên quan tâm đến khâu dự báo nhu cầu sử dụng

VLĐ sao cho sử dụng có hiệu quả

- Bài học thứ tư,Công ty cần phải chú trọng tới nguyên tắc cân bằng tài

chính Tài sản thương xuyên phải được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn, còn TSLĐ

Trang 31

tạm thời phải được đáp ứng bởi nguồn vốn tạm thời Làm được điều đó thì công ty luôn giữ được độ an toàn về mặt tài chính

1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

1.4.1.Những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ

- Nhân tố lạm phát: Trong nền kinh tế có lạm phát cao thì sức mua của

đồng tiền giảm dẫn đến sự gia tăng của vật tư hàng hóa thì VLĐ sẽ giảm dần theo tốc độ trượt giá của đồng tiền Ngược lại trong điều kiện giảm phát của nền kinh tế thì nhu cầu về hàng hóa giảm, sản phẩm của công ty sản xuất ra không bán được cùng nghĩa với thời gian hàng hóa không giữ được nguyên giá trị, dẫn đến doanh nghiệp sẽ phải chịu bán lỗ để thu hồi vốn và không đạt được hiệu quả sử dụng VLĐ

- Nhân tố chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Hệ thống chính sách

pháp luật của nhà nước có tác động đến toàn bộ nền kinh tế như chính sách về thuế, chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách cho vay sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động SXKD cũng như hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp Nó còn ảnh hưởng và tác động đến kế hoạch chiến lược lâu dài của doanh nghiệp như mua sắm, dự trữ vật tư hay nhập khẩu, hình thức vay vốn và thanh toán…

- Nhân tố tiến bộ khoa học kỹ thuật: Khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng rất

lớn đến khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế Trong quá trình sản xuất khi có sự tham gia của khoa học kỹ thuật thì sẽ tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa với cùng một đơn vị thời gian và làm giảm được nhiều chi phí sản xuất dẫn đến hạ giá thành sản phẩm đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp lên mức tối đa Chính vì thế mà doanh nghiệp cần phải áp dụng triệt để tiến

bộ khoa học kỹ thuật vào tham gia sản xuất để làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường về giá cả, chất lượng và chủng loại Ngược lại doanh nghiệp mà không biết

Trang 32

tận dụng đưa tiền bộ khoa học kỹ thuật vào áp dụng thì cũng đồng nghĩa với việc tự làm mất tính cạnh tranh và tự đào thải mình ra khỏi nền kinh tế

- Nhân tố khác: Ngoài những nhân tố trên hiệu quả hoạt động của doanh

nghiệp hay cụ thể là hiệu quả sử dụng vốn VLĐ của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như: tác động của tỷ giá, lãi suất, thuế, sự ổn định của nền kinh tế, những biến động của yếu tố đầu vào như: số lượng, giá cả máy móc thiết bị, của nguyên vật liệu những biến động của yếu tố đầu ra như: khủng hoảng thừa, sự mất uy tín của sản phẩm cùng loại

1.4.2 Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ

Trong quá trình SXKD, doanh nghiệp phải chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố làm tăng hoặc làm giảm hiệu quả sử dụng VLĐ Nhằm phát huy được nhân

tố tích cực và hạn chế nhân tố tiệu cực thì doanh nghiệp phải nắm rõ những nhân tố làm ảnh hướng tới hiệu quả sử dụng VLĐ như sau:

- Xác định nhu cầu VLĐ: Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu VLĐ không

chính xác sẽ dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu VLĐ trong quá trình SXKD Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu VLĐ quá cao sẽ không khuyến khích doanh nghiệp khai thác những khả năng tiềm tàng, hạn chế tìm kiếm biện pháp để cải tiến hoạt động SXKD để nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ, gây ứ đọng vật tư dự trữ, vốn chậm luân chuyển và phát sinh những khoản chi phí không cần thiết làm tăng giá thành sản phẩm Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu VLĐ thấp sẽ làm cho doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốn, thiếu vật tư tham gia sản xuất dẫn đến sản xuất không liên tục gây thiệt hại cho ngành sản xuất, không có khả năng thanh toán và thực hiện các hợp đồng đã ký với nhà cung cấp

- Việc lựa chọn phương án đầu tư: Là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất

lớn đến hiệu quả sử dụng VLĐ Nếu doanh nghiệp lựa chọn phương án khả thi, sản phẩm sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường, giá cả hợp lý, chất lượng tốt thì sản phẩm sẽ được tiêu thụ nhiều và nhanh, làm tăng vòng quay của vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn Còn nếu doanh nghiệp lựa chọn phương án đầu tư không hợp lý

Trang 33

thì sản phẩm làm ra không tiêu thụ được dẫn đến VLĐ sẽ bị ứ đọng dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp

- Do trình độ quản lý: Trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém sẽ

dẫn đến thất thoát vật tư hàng hóa trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm sẽ gây ra tình trang sử dụng lãng phí VLĐ Trình độ quản lý được đánh giá qua hai mặt là năng lực quản lý sản xuất và năng lực quản lý tài chính

Năng lực quản lý sản xuất: Trong quá trình SXKD, nếu nhà quản lý sản xuất không bố trí hợp lý giữa các khâu, giữa các giai đoạn trong quá trình sx thì sẽ gây trạng lãng phí về nguồn nhân lực, về vốn, về nguyên vật liệu điều đó ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả sản xuất nó chung và hiệu quả sử dụng VLĐ nói riêng

Năng lực quản lý tài chính: Trong quản lý tài chính, nhà quản trị cần phải xác định được nhu cầu VLĐ vừa và đủ để sử dụng đạt được tối đa hiệu quả mà nó mang lại, bố trí cơ cấu vốn hợp lý để vốn không bị ứ đọng, dư thừa nhưng cần phải đảm bảo huy động đủ vốn cho sản xuất

- Thương hiệu của doanh nghiệp: Đây là kết quả của cả một quá trình

doanh nghiệp phân đấu để có được tên tuổi, uy tin trên thị trường Thương hiệu mạnh có giá trị lớn trong việc duy trì và mở rộng quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp và bên thứ ba là điều kiện thuận lợi nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ

- Khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất: Là lực lượng sản xuất

trực tiếp và là điều kiện để doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, tạo ra da dạng sản phảm chủng loại phong phú, tăng vòng quay vốn nhanh Nên doanh nghiệp áp dụng tốt khoa học kỹ thuật vào quá trình tham gia SXKD sẽ khẳng định và duy trì sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường

Một số nhân tố chủ yếu ở trên có tác động đến công tác tổ chức SXKD và sử dụng VLĐ của doanh nghiệp Nên doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, xem xét một cách kỹ lưỡng, thận trọng để phát huy những lợi thế và điều kiện thuận lợi cũng

Trang 34

như hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả xấu có thể xảy ra,để đảm bảo việc

tổ chức huy động vốn kịp thời trong quá trình SXKD

Trang 35

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG TỔNG HỢP TIÊN LÃNG (GIAI ĐOẠN 2011-2015)

2.1.TỔNG QUAN VỀ CÔNG TYCỔ PHẦN XÂY DỰNG TỔNG HỢP TIÊN LÃNG

2.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Công ty CP xây dựng tổng hợp Tiên Lãng

2.1.1.1.Giới thiệu chung về Công tyCP xây dựng tổng hợp Tiên Lãng

+ Quyết định thành lập công ty:Quyết định số 1362/QĐ-UB ngày 11/5/2004 của UBND Thành phố Hải Phòng

+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0203000843 do Sở Kế hoạch Đầu tư Thành phố Hải phòng cấp ngày 25/5/2004 (sửa đổi bổ sung ngày 20/3/2007)

+ Tên tiếng việt: Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng + Vốn điều lệ: 20.000.000.000 VNĐ

(Bằng chữ:Hai mươitỷ đồng /.)

+Mã số thuế: 0200587593 + Địa chỉ: Khu 6 Thị trấn Tiên Lãng - Huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng

+ Điện thoại: 0313.883395 Fax: 0313.883395

2.1.1.2.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty xây dựng tổng hợp Tiên Lãng

Công ty Cổ phần Xây dựng tổng hợp Tiên Lãng là doanh nghiệp được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước (Công ty Xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng Tiên Lãng ) thành Công ty Cổ phần theo Quyết định số 1362/QĐ-UB ngày 11/5/2004 của UBND Thành phố Hải Phòng Tiền thân là Công ty Xây dựng huyện Tiên Lãng (thành lập năm 1984 sau đóđổi tên thành Công ty Xây dựng và sản xuất

Trang 36

vật liệu xây dựng Tiên Lãng năm 1994) Công ty Cổ phần Xây dựng tổng hợp Tiên Lãng có bề dày hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, xây dựng cơ sở hạ tầng trên 37 năm

Công ty được Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng cấp giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh số 0203000843 ngày 25/5/2004 (sửa đổi bổ sung ngày 20/3/2007)

Các cột mốc phát triển:

- Năm 1984: Công ty Xây dựng huyện Tiên Lãng được thành lập

- Năm 1994: Đổi tên thành Công ty Xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng Tiên Lãng

- Tháng 11/2004: Cổ phần hóa và đổi tên thành Công ty Cổ phần Xây dựng tổng hợp Tiên Lãng

Ngay từ khi thành lập, phương châm của Công ty là kinh doanh đa ngành, nhưng chủ yếu tập trung vào kinh doanh xây lắp Đã và đang là một trong những Công ty mạnh trong lĩnh vực xây lắp trên địa bàn huyện và Thành phố Hải phòng,

từ khi được thành lập tới nay, thương hiệu công ty đã được khẳng định qua các dự

án công ty trong lĩnh vực xây lắp và bất đọng sản mà Công ty đã thực hiện Ngoài

ra Công ty cũng tham gia sản xuất cung cấp nước sạch, kinh doanh lĩnh vực vật liệu xây dựng

Trong quá trình kinh doanh Công ty đã tận dụng mọi thế mạnh vốn có để vươn lên là một trong những Công ty mạnh trong lĩnh vực xây lắp với mức tăng trưởng ổn định qua các năm Thời gian qua, mức tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu khác,đặc biệt đời sống cán bộ công nhân

viên tăng lên và ổn định

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty

Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng có mô hình hoạt động và sản xuất kinh doanh bao gồm:

Trang 37

+ Phòng Tổ chức hành chính và lao động tiền lương

- Các đội thi công các công trình dân dụng và công nghiệp, các công trình

đường giao thông, cầu cống v.v (gồm 5 đội)

- Đội khai thác và kinh doanh vật liệu xây dựng

- Nhà máy nước sạch Tiên Lãng, chuyên cung cấp nước sạch cho các cơ

quan, trường học, xưởng sản xuất kinh doanh, khu công nghiệp, toàn bộ nhân dân Thị trấn và mở rộng ra các vùng lân cận thuộc huyện Tiên Lãng (gồm 4 tổ )

Công ty có đội ngũ Cán bộ quản lý, Kỹ sư, Cán bộ kỹ thuật vàđội ngũ công nhân lâu năm lành nghề giàu kinh nghiệm, có khả năng tổ chức và thực hiện tốt việc thi công xây dựng các công trình trên mọi địa bàn

* Tổ chức bộ máy và điều hành hoạt động

Tổ chức bộ máy điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng bao gồm: Hội đồng quản trị, Giám đốc và các Phó Giám đốc, các phòng chức năng Công ty, các đội thi công xây lắp, kinh doanh khai thác và nhà máy cung cấp nước sạch

Trang 38

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng

Hội đồng quản trị của Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng và Ban giám đốc sắp xếp bộ máy, các đơn vị bộ phận hoạt động sao cho có hiệu quả và hoạt động phù hợp với Luật doanh nghiệp

Đứng đầu hội đồng quản trị là Chủ tịch hội đồng quản trị (kiêm Giám đốc công ty) thực hiện chức năng và quyền hạn do Đại hội đồng cổ đông giao phó, chịu

Đại hội đồng cổ đông

Hội đồng quản trị

Ban kiểm soát

Giám đốc

Phó GĐ Phụ trách kỹ thuật thi

công

Phó GĐ Phụ trách kinh tế kế hoạch

Phó GĐ Phụ trách dự án, kinh

doanh

Phòng Tổ chức Hành chính

Phòng Tài

vụ -

Kế toán

Phòng Kế hoạch- Kỹ thuật

Phòng Kinh doanh

Đội khai thác kinh doanh vật liệu xây dựng

Các đội thi công xây lắp Nhà máy nước

sạch Tiên Lãng

Trang 39

trách nhiệm về sự phát triển của Công ty Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát do đại hội đồng cổ đông bầu ra Ban kiểm soát kiểm tra giám sát các hoạt động của Công ty

Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty Là người điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty Chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị, pháp luật về quyền và nghĩa vụ được giao Giúp việc cho Giám đốc là các Phó Tổng giám đốc, các phòng ban chức năng

Phương pháp điều hành trong Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tiên Lãng chủ yếu bằng các mệnh lệnh hành chính từ văn phòng Công ty xuống các phòng ban chức năng, các đơn vị bộ phận

2.1.3.Một số đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

2.1.3.1.Ngành nghề lĩnh vực kinh doanh chính

Có thể chia hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty thành hai nhóm lĩnh vực chính bao gồm:

Thứ nhất, hoạt động thi công, xây lắp, tư vấn, giám sát: Xây dựng các loại

nhà dân dụng và công nghiệp; Xây dựng công trình đường bộ, thuỷ lợi, đêđiều, cầu cống, xây dựng các công trình kỹ thuật dân dựng khác; Xây dựng lắp đặt hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước và lắp đặt xây dựng khác; Hoàn thiện công trình xây dựng; Phá dỡ, san lấp và chuẩn bị mặt bằng;

Thứ hai, hoạt động sản xuất kinh doanh khác: Kinh doanh khai thác đá, cát,

sỏi, đất sét; Sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét; Kinh doanh vật liệu và các thiết

bị lắp đặt trong xây dựng; Kinh doanh bất động sản; Vận tải hàng hoá bằng đường

bộ, đường thuỷ nội địa; Sản xuất khai thác, xử lý cung cấp nước sạch cho dân cư, công sở nhà máy; thoát nước và xử lý nước thải

2.1.3.2.Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh

Một là, Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp sản xuất ngay ở nơi tiêu thụ nên

địa bàn hoạt động của đơn vị là rất rộng, có thể rất xa trụ sở chính của đơn vị Vì

vậy mà đơn vị phải tìm cách tổ chức sản xuất hợp lý có hiệu quả

Trang 40

Hai là, Do tình hình và điều kiện sản xuất trong xây lắp thiếu tính ổn định,

luôn luôn biến đổi theo địa điểm xây lắp và giai đoạn xây lắp Cụ thể là trong xây lắp con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này đến công trình khác, còn sản phẩm xây lắp (công trình xây lắp) thì hình thành và đứng yên tại chỗ, đó là một đặc điểm ít thấy ở các ngành sản xuất vật chất khác Các phương

án xây lắp về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất của Công ty luôn phải thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây lắp

Ba là, Chu kỳ sản xuất (thời gian xây lắp công trình) thường dài, đặc điểm

này làm cho vốn đầu tư công trình và vốn sản xuất của Công ty thường bị ứ đọng lâu tại các công trình đang xây lắp Yếu tố bất lợi này đòi hỏi Công ty phải chọn lựa phương án có thời gian xây lắp hợp lý, kiểm tra chất lượng chặt chẽ, phải có chế độ thanh toán giữa kỳ và dự trữ vốn hợp lý

Bốn là, Sản phẩm xây lắp phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trường

hợp cụ thể Thông qua hình thức ký hợp đồng sau khi thắng thầu, vì sản phẩm xây lắp rất đa dạng và có tính cá biệt cao, có chi phí lớn Ở một số ngành sản xuất khác, người ta có thể sản xuất hàng loạt sản phẩm để bán, nhưng với các công trình xây lắp thì không thể làm được như thế Đặc điểm này dẫn đến yêu cầu là phải định giá của sản phẩm xây lắp trước khi sản phẩm được làm ra Vì thế hình thức giao nhận thầu hoặc đấu thầu trong xây lắp cho từng công trình cụ thể đã trở nên phổ biến trong sản phẩm xây lắp

Năm là, Quá trình sản xuất xây lắp rất phức tạp, có nhiều đơn vị cùng tiến

hành trên công trình xây lắp theo trình tự nhất định về thời gian và không gian Đặc điểm này đòi hỏi Công ty phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất, coi trọng công tác chuẩn bị và thiết kế tổ chức thi công, phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức xây lắp nhận thầu chính và tổng thầu với các tổ chức nhận thầu phụ

Sáu là,Sản xuất xây lắp chủ yếu phải tiến hành ngoài trời, do đó khí hậu

cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn đến công trình Công việc sản xuất, thi công công trình thường bị gián đoạn do những thay đổi bất thường của thời tiết, điều kiện lao

Ngày đăng: 13/05/2018, 12:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w