1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần kinh doanh và dịch vụ vật tư kỹ thuật số 1_2

64 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, thành phần kinh tế tư nhân đã có những chuyển biến quan trọng, nhiều doanh nghiệp đã đi dần vào thế ổn định, thích nghi với cơ chế thị trư

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, thành phần kinh tế tư nhân đã có những chuyển biến quan trọng, nhiều doanh nghiệp đã đi dần vào thế ổn định, thích nghi với cơ chế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên vẫn còn một số doanh nghiệp gặp khó khăn lớn, làm ăn cầm chừng, thua lỗ Hạn chế của nhiều doanh nghiệp là cơ sở vật chất nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu, vốn ít, thị trường hạn hẹp, tổ chức kinh doanh thiếu kinh nghiệm, trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên chưa theo kịp yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Việc tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực vật tư kỹ thuật như công ty có ý nghĩa quan trọng

Hải Phòng là thành phố đang trên đà phát triển, các khu công nghiệp tập trung phía Tây, phía Bắc, phía Đông và phía Đông Nam thành phố, sự phát triển mạnh của các doanh nghiệp đóng tàu đã tạo nên thị trường lớn cho các doanh nghiệp như công ty cổ phần vật tư kỹ thuật Với tiềm năng sẵn có công ty đang hướng tới việc mở rộng thị trường ra các thị trường mới là những tỉnh lân cận Hải Phòng với mục tiêu tăng trưởng hàng năm khoảng 20-25%

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần vật tư số 1 đang là một vấn đề có ý nghĩa lớn lao đối với công ty cả về lý luận cũng như thực tiễn Xuất phát từ suy nghĩ đó

tôi đã lựa chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công

ty cổ phần kinh doanh và dịch vụ vật tư kỹ thuật số 1”

Trang 2

từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiệu quả sản xuất kinh doanh của công

ty kinh doanh và dịch vụ vật tư kỹ thuật số 1

Phạm vi nghiên cứu:

- Những vấn đề lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu phổ biến như:

- Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

- Kết hợp các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp một cách lô gic

- Kết hợp với việc điều tra khảo sát thực tế với việc thừa kế những kết quả nghiên cứu đã được tổng kết để đề xuất các biện pháp phù hợp

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Chương 2: Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần kinh doanh và dịch vụ vật tư kỹ thuật số 1

Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần kinh doanh và dịch vụ vật tư kỹ thuật số 1

Trang 3

Kinh doanh có những đặc điểm khác biệt sau:

+ Kinh doanh phải do một chủ thể thực hiện gọi là chủ thể kinh doanh

+ Kinh doanh phải gắn với thị trường, thị trường và kinh doanh đi liền với nhau như hình với bóng - không có thị trường không có khái niệm kinh doanh

+ Kinh doanh phải gắn với sự vận động của đồng vốn

+ Mục đích chủ yếu của kinh doanh là sinh lời

1.1.2 Doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một trong những chủ thể kinh doanh chủ yếu của nền kinh

tế, có quy mô và vai trò to lớn so với việc kinh doanh cá nhân Doanh nghiệp là đơn vị được thành lập chủ yếu với mục đích hoạt động kinh doanh Vì vậy có thể coi doanh nghiệp là bộ máy làm ra tiền, nó có nhiệm vụ chế biến đầu vào thành các đầu ra và sự chênh lệch giữa đầu vào với đầu ra sẽ tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

Theo luật doanh nghiệp: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích hoạt động kinh doanh [4, tr.10]

Những nội dung chính của khái niệm doanh nghiệp bao gồm:

Trang 4

- Doanh nghiệp là các tổ chức, các đơn vị được thành lập theo quy định của pháp luật để chủ yếu tiến hành các hoạt động kinh doanh

- Doanh nghiệp là một tổ chức sống, theo nghĩa nó cũng có vòng đời của nó

và các bước thăng trầm, suy giảm, tăng trưởng, phát triển hoặc bị diệt vong

Đặc điểm chung của khái niệm được mô tả qua sơ đồ sau:

Hình 1.1 Đặc điểm của doanh nghiệp

1.1.3 Các loại hình doanh nghiệp

Các loại hình doanh nghiệp được chia thành: doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn

Ở Việt Nam hiện nay, loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm phần lớn ở các thành phần kinh tế Về doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ không có luật doanh nghiệp cho từng loại Chúng được thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước, luật công ty luật doanh nghiệp tư nhân, luật hợp tác xã tuỳ thuộc loại hình sở hữu của doanh nghiệp

1.2 Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Chúng ta có thể khái quát quá trình kinh doanh của một vài doanh nghiệp sau:

1.2.1- Doanh nghiệp sản xuất

Quá trình kinh doanh gồm: nghiên cứu, xác định nhu cầu thị trường về hàng

Sản xuất hàng hoá hay dịch vụ

để bán

Tìm kiếm lợi nhuận

Phân chia lợi nhuận Ngườ

i cung ứng

Ngườ

i lao động

Nhà nướ

c

Ngườ

i cho vay

Ch

sở hữu

Trang 5

Quá trình này gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn phải thực hiện một số công việc cụ thể theo một cộng nghệ hợp lý với một thời gian nhất định, tiêu hao một lượng chi phí nhất định về các nguồn lực đang sử dụng Qua nghiên cứu có những giai đoạn sau:

+ Nghiên cứu nhu cầu thị trường hàng hoá và dịch vụ để quyết định sản xuất cái gì?

+ Chuẩn bị đẩy đủ các yếu tố đầu vào để thực hiện quyết định sản xuất như: lao động, đất đai, thiết bị, vật tư, kỹ thuật, công nghệ

+ Kết hợp chặt chẽ, khéo léo giữa các yếu tố cơ bản của đầu vào để tạo ra hàng hoá và dịch vụ trong đó lao động là yếu tố quyết định

+ Tổ chức tốt quá trình tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, bán hàng hoá, thu tiền

1.2.2 Doanh nghiệp thương mại dịch vụ

Quá trình kinh doanh diễn ra chủ yếu là mua và hàng hoá dịch vụ cho nên quá trình kinh doanh bao gồm các giai đoạn:

1.2.2.1 Nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ

Để lựa chọn và quyết định lượng hàng hoá cần mua để bán cho khách hàng theo nhu cầu của thị trường Người ta quan tâm đến hai loại nhu cầu:

Nhu cầu cho tiêu dùng sản xuất về hàng hoá dịch vụ

Loại nhu cầu này hình thành trực tiếp từ sản xuất và do sản xuất quyết định

cơ cấu nhu cầu Nó là cơ sở để xác định cầu hàng hoá trên thị trường Để xác định được nhu cầu này người ta sử dụng công thức sau: [4, 25]

Trang 6

 Nij : Là nhu cầu về loại hàng hoá i

 Pij : Tổng nguồn về loại hàng hoá i được thỏa Thông qua cân đối ta xác định được nhu cầu đặt hàng (Nđh)

Nđh =  Nij - (Ođk + M + E)

Trong đó:

Ođh: Hàng tồn kho đầu kỳ của doanh nghiệp M: lượng hàng tự sản xuất, tự gia công E: Lượng hàng có thể tiết kiệm trong hoạt động tiêu dùng sản xuất

 N: Tổng nhu cầu về hàng hoá của doanh nghiệp

1.2.2.2.Tổ chức mua sản phẩm theo nhu cầu thị trường

Các doanh nghiệp thương mại có quyết định mua khác với các doanh nghiệp mua sắm tư liệu sản xuất để sản xuất: Họ sẽ quyết định lựa chọn danh mục mặt hàng để kinh doanh đóng vai trò quan trọng nhất Nó xác định chỗ đứng của doanh nghiệp thương mại trên thị trường và các nhà cung ứng cho danh mục hàng hoá của

họ

Doanh nghiệp thương mại có thể chọn 1 trong 4 chiến lược “lựa chọn danh mục mặt hàng kinh doanh” sau:

Trang 7

+ Kinh doanh chủng loại mặt hàng riêng biệt, tức là họ chỉ mua và bán một loại hàng hoá, chỉ có một người sản xuất

+ Kinh doanh theo chiều sâu, kinh doanh nhiều mặt hàng tương tự do nhiều người sản xuất

+ Kinh doanh rộng, tức là kinh doanh một chủng loại có nhiều mặt hàng có liên quan với nhau

+ Kinh doanh hỗn hợp, mặt hàng kinh doanh bao gồm nhiều chủng loại khác nhau

- Các doanh nghiệp tổ chức tạo ra nguồn hàng để đáp ứng thị trường Nguồn hàng là nơi đã và có khả năng cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho thị trường Trong hoạt động kinh doanh, mỗi nguồn hàng có vai trò và đặc điểm riêng của mình Theo phân cấp quản lý có nguồn hàng tập trung (từ cấp trên); nguồn hàng liên doanh liên kết, nguồn làm đại lý, ủy thác, nguồn tự khai thác bằng các biện pháp khác nhau

Theo tính chất của nguồn hàng bao gồm: nguồn trong nước; nguồn hàng nhập khẩu; nguồn tồn kho ứ đọng chậm luân chuyển ở các đơn vị sản xuất lưu thông; nguồn hàng kém phẩm chất phải qua tái chế, phục hồi; nguồn hàng trôi nổi trên thị trường

Mua hàng, tạo nguồn là toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ nhằm tạo ra nguồn hàng bảo đảm cho hoạt động kinh doanh ổn định, liên tục và có hiệu quả Bao gồm:

+ Nghiên cứu nhu cầu cụ thể của khách hàng về khối lượng, cơ cấu mặt hàng, quy cách chủng loại, thời gian, địa điểm và giá cả mà người tiêu dùng yêu cầu

+ Tìm hiểu khả năng sản xuất trong nước và thị trường nước ngoài để xác định khả năng có thể mua được

+ Lựa chọn thị trường, đối tác để lập đơn hàng và ký hợp đồng mua hàng + Tổ chức tiếp nhận, vận chuyển và thanh toán

Trang 8

Hoạt động mua hàng, tạo nguồn là một trong những nghiệp vụ kinh doanh cơ bản Thông qua công tác mua hàng, tạo nguồn mà góp phần tập trung hàng hoá thoả mãn cung cầu trên thị trường; huy động mọi tiềm năng của đất nước, giảm nhập khẩu, góp phần đắc lực vào phân công lao động quốc tế Làm tốt công tác mua hàng, tạo nguồn là đảm bảo cho sản xuất và kinh doanh liên tục, ổn định góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất và sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, góp phần tổ chức sản xuất một cách có quy hoạch theo chiến lược nguồn hàng Trong hoạt động kinh doanh, các hình thức mua hàng và tạo nguồn phản ánh mối quan hệ mua bán và thanh toán giữa doanh nghiệp thương mại với đơn vị bán hàng Các hình thức mua hàng bao gồm: mua bán bình thường; mua theo đơn đặt hàng, hợp đồng; đại lý bán hàng cho người sản xuất hoặc các hãng nước ngoài, nhập khẩu hàng hoá

Các hình thức tạo nguồn gồm: Đem lại nguyên liệu gia công thành phẩm; bán nguyên liệu mua thành phẩm; liên doanh liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm; tự sản xuất chế biến hàng hóa

Một số biện pháp thực hiện mua hàng tạo nguồn:

+ Xây dựng chiến lược nguồn hàng của doanh nghiệp gồm cả sản xuất trong nước, nhập khẩu và tự sản xuất chế biến

+ Tạo nguồn vốn ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá

+ Xây dựng phương án khoán kinh doanh, phương án tạo nguồn làm cơ sở cho thực hiện hoạt động nghiệp vụ

+ Xây dựng mạng lưới mua hàng hợp lý phù hợp với đặc điểm hàng hoá với vốn và cơ sở vật chất, với cạnh tranh của thị trường

+ Thu thập thông tin về nguồn hàng

1.2.2.3- Tổ chức các mối quan hệ giao dịch thương mại

Thực chất đây là hoạt động chắp mối trong kinh doanh nhằm giải quyết 3

Trang 9

+ Vấn đề kinh tế trong quan hệ mua bán, nó liên quan đến việc thoả thuận về

số lượng, chất lượng, chủng loại, giá cả hàng hoá mua bán

+ Vấn đề tổ chức trong quan hệ mua bán như hình thức vận chuyển hàng hoá, phương thức giao nhận hàng hoá và thanh toán

+ Vấn đề luật pháp: Liên quan đến việc ký kết hợp đồng mua bán

1.2.2.4 Tổ chức hợp lý các kênh phân phối hàng hoá

Tổ chức chuyển giao hàng hoá về doanh nghiệp Quá trình này liên quan đến 2 vấn đề lớn cần giải quyết là:

- Lựa chọn kênh phân phối hàng hoá, tức là lựa chọn cách vận động của hàng hoá, dựa vào 4 nhân tố sau: khả năng của doanh nghiệp, thị trường, đặc điểm kỹ thuật, hệ thống phân phối

- Lựa chọn chuyển giao hàng hoá về doanh nghiệp

Hiện nay có 2 phương pháp chủ yếu là chuyển giao tập trung và chuyển giao phi tập trung

Trang 10

+ Thời gian đáp ứng nhanh và giao nhận đầy đủ

+ Khuyến mại

+ Sửa chữa, bảo hành các thiết bị dùng gas

1.3- Các mục tiêu của doanh nghiệp

Tiến hành bất kỳ hoạt động kinh doanh nào đều có nghĩa là tập hợp các phương tiện, con người và đưa họ vào hoạt động để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp Với doanh nghiệp thương mại có 5 mục tiêu cơ bản sau:

1.3.1- Mục tiêu khách hàng

Mọi hoạt động của doanh nghiệp chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu khách hàng, doanh nghiệp càng đáp ứng tốt mọi yêu cầu của khách hàng, thì càng duy trì tốt được quan hệ trao đổi kinh tế đó, doanh nghiệp ngày càng thu hút được nhiều khách hàng thì doanh nghiệp thu được càng nhiều lợi nhuận “Khách hàng là thượng đế”, khách hàng là người mua quyết định thị trường, quyết định người bán,

là người trả lương cho công nhân trong doanh nghiệp, là người đặt ra yêu cầu và tạo ra hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, khách hàng chỉ ưa thích hàng hoá, dịch vụ

có chất lượng cao, giá cả rẻ, phù hợp với khách hàng thì doanh nghiệp càng chiếm lĩnh được thị trường

1.3.2-Mục tiêu chất lượng

Sản phẩm kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp càng có chất lượng cao, giá

cả rẻ phù hợp với khách hàng thì doanh nghiệp càng chiếm lĩnh thị trường

Xét chất lượng sản phẩm không chỉ xét một đặc tính nào đó một cách riêng

lẻ, phải xem xét trong mối quan hệ với các đặc tính khác, trọng một hệ thống các đặc tính nội tại của sản phẩm

1.3.3- Mục tiêu đổi mới

Đổi mới sản phẩm kinh doanh, mặt hàng kinh doanh và chất lượng phục vụ khách hàng Doanh nghiệp thực hiện kỹ thuật marketing tốt có sản phẩm mới hay

Trang 11

dịch vụ mới đưa ra thị trường đầu tiên thì doanh nghiệp có quyền thu được lợi nhuận lớn nhất

1.3.4- Mục tiêu cạnh tranh

Trong cơ chế thị trường, không có thế lực nào áp đặt sự độc quyền kinh doanh cho bất kỳ ai Vì vậy, cạnh tranh là tất yếu: cạnh tranh là quy luật của kinh tế thị trường Cạnh tranh làm giá cả thị trường giảm xuống thông qua cạnh tranh mà buộc các doanh nghiệp phải ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm và giữ chữ tín với khách hàng

1.3.5- Mục tiêu lợi nhuận

Là mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất, là mục tiêu thông suốt chi phối mọi hoạt động của doanh nghiệp Nó là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả mọi hoạt động của doanh nghiệp và cũng là liều thuốc trường sinh cho doanh nghiệp, thiếu liều thuốc tự tạo này, doanh nghiệp không có cánh nào khác chống lại sự đào thải

Như vậy, nói cách khác, kinh doanh là đầu tư công sức, tiền của để tổ chức mọi hoạt động nhằm mục đích thu lợi nhuận Đầu tư lao động, tiền vốn, của cải mà không nhằm mục đích thu lợi nhuận thì không phải là kinh doanh

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đảm bảo đạt 3 mục đích cơ bản:

- Trước hết, phải đạt lợi nhuận tối đa và hợp lý Hợp lý để đảm bảo sự lâu dài

và kéo được khách hàng, giữ vững và phát triển được thị trường Mỗi nhà kinh doanh đều mong muốn đạt được tỷ lệ sinh lời hợp lý trên số vốn mà họ đã đầu tư Câu hỏi đặt ra là “Thế nào là hợp lý?”, mỗi nhà kinh doanh đều có những mong muốn khác nhau về công việc kinh doanh của họ Đồng thời không thể có hai công việc kinh doanh hoàn toàn giống nhau Thông thường, số lợi nhuận mà nhà kinh doanh mong đợi thường lệ thuộc vào rủi ro có liên quan Chẳng hạn, nếu gửi tiền vào một tài khoản tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng, ông ta có thể nhận được 12% tiền lãi/năm Nhưng ông ta lại muốn thu được số lợi nhuận cao hơn trong một cuộc

Trang 12

kinh doanh có rủi ro, mà rủi ro cao thường đi đôi với mức lợi nhuận cao Điều đó

có nghĩa là khi nhà kinh doanh sẵn sàng chấp nhận mọi sự thua lỗ thì ông ta cũng

hy vọng đạt được một tỷ lệ sinh lời cao Chính động cơ lợi nhuận này đã khiến các nhà phê bình chỉ trích các nhà kinh doanh rằng họ chỉ quan tâm đến việc kiếm tiền

mà quên đi những nghĩa vụ của họ đối với xã hội Trong nền kinh tế thị trường, các

áp lực thị trường về cung và cầu được tự do tác động qua lại và có rất nhiều cơ hội làm ra lợi nhuận hợp lý đồng thời cũng có nhiều nhà kinh doanh với sự ham thích lợi nhuận, sẵn lòng đầu tư để cung ứng những hàng hoá và dịch vụ cần thiết cho xã hội

- Thứ hai, phải đảm bảo độ an toàn cao, vì trong cơ chế thị trường, kinh doanh chịu sự tác động của vô vàn nhân tố chủ quan, khách quan có những thuận lợi nhưng cũng đầy những cạm bẫy và rủi ro Do vậy, phải duy trì hoạt động của doanh nghiệp trong hành lang an toàn

- Thứ ba, phải củng cố, nâng cao được vị trí và thế lực của doanh nghiệp, thể hiện bằng doanh số bán và phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm lĩnh được, bằng

uy tín đối với khách hàng, thế lực gián tiếp tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

Cơ sở quyết định các mục đích này là các quy luật giá trị (Hàng hoá - tiền); quan hệ thị trường và các quy luật của kinh tế thị trường (cạnh tranh, phá sản ); quy luật lợi ích trong nền kinh tế thị trường Để có thể thắng lợi mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp thương mại hoạt động trên thương trường phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

+ Tìm kiếm được thị trường đang lên và chiếm lĩnh thị trường nhanh chóng + Phải xác định được nhu cầu của khách hàng, của thị trường và tìm mọi cách đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó

+ Đầu tư vào tài năng và nguồn lực để tạo ra được nhiều giá trị về sản phẩm

và dịch vụ

Trang 13

Muốn đạt được các mục tiêu trên, các doanh nghiệp thương mại phải thực hiện nhiều biện pháp khác nhau như: Xây dựng mục tiêu và chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình thị trường, nghiên cứu thị trường làm cơ sở xây dựng kế hoạch hoạt động kinh doanh Không ngừng hoàn thiện nghiệp vụ kinh doanh, tăng tốc độ lưu chuyển hàng hoá Cải tiến bộ máy kinh doanh, giảm chi phí kinh doanh

và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh giỏi

1.4 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1.4.1 Quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh

Quan niệm thứ nhất: Theo Adam Smith và Ogiephri cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”

Hiệu quả ở đây được đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh Quan điểm này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do tăng chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất Nếu cùng một kết quả có 2 mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng hiệu quả

Quan niệm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của hiệu quả và phần tăng thêm của chi phí”

Quan niệm thứ ba cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”

Hiệu quả kinh tế xã hội, chủ yếu được thẩm định bởi thị trường là tiêu chuẩn

cơ bản để xác định phương hướng hoạt động thương mại: Tuy vậy hiệu quả ấy là gì? Như thế nào là có hiệu quả? Vấn đề này chưa được giải quyết triệt để Thật khó mà đánh giá mức độ đạt được hiệu quả kinh doanh của một hoạt động thương mại hay một doanh nghiệp kinh doanh thương mại khi mà bản thân phạm trù này chưa được định rõ bản chất và biểu hiện của nó

1.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh

Trang 14

Hiệu quả là mối quan tâm hàng đầu của kinh tế học vì các nguồn lực của kinh tế là có hạn Hiệu quả là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá kết qủa hoạt động kinh doanh thương mại

Trong quá trình đánh giá hiệu quả kinh doanh chúng ta cần quán triệt một số quan điểm trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh Bởi vì hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp Nó không những liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, mà còn phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố đó Vì vậy để xem xét hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp cần phải nắm vững tiêu chuẩn hiệu quả và quán triệt các quan điểm sau:

-Đảm bảo tính toàn diện và tính bộ phận trong quá trình nâng cao hiệu quả kinh doanh

-Kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân, tập thể và lợi ích xã hội

-Đảm bảo thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị, xã hội với nhiệm cvụ kinh tế trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh

-Đánh giá hiệu quả kinh doanh phải căn cứ vào mặt hiện vật lẫn mặt giá trị của hàng hoá

1.4.2.1 Chỉ tiêu tổng quát [1, tr38]

Hiệu quả kinh doanh là vấn đề phức tạp có quan hệ toàn bộ với các yếu tố của quá trình kinh doanh Vì vậy doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi

sử dụng có hiệu quả các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh

Để đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách khoa học đòi hỏi phải xác định được hệ thống chỉ tiêu phù hợp

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp

HQ

M

Gv +F

=

Trang 15

HQ: Hiệu quả kinh tế M: Doanh thu

Gv: Trị giá vốn hàng hoá đã tiêu thụ F: Chi phí đã bỏ ra để đạt doanh thu

Chỉ tiêu này phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, có nghĩa là trong thời kỳ nhất định doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng doanh thu bán hàng trên 1 đồng chi phí bỏ ra Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ trình độ sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp càng cao

1.4.2.2 Hệ thống các chỉ tiêu cụ thể [1, tr42]

Nhà quản trị phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh khả sinh lợi hiện tại và dài hạn, sử dụng hiệu quả nguồn vốn, sức lao động và các nguồn lực khác Để đáng giá được hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thông thường các nhà quản trị dựa vào hệ thống các chỉ tiêu sau:

* Tỷ suất lợi nhuận

Trong đó:

LN: tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng doanh thu bán hàng thuần Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả kinh tế càng cao

Ngoài hai chỉ tiêu trên ta có thể sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng chi phí

HQLN (Tỷ suất lợi nhuận)

LN M

Trang 16

Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận doanh nghiệp thu được trên 1 đồng chi phí bỏ

ra

* Hiệu quả sử dụng chi phí

Trong đó: HQ(f) là hiệu quả sử dụng chi phí

Chỉ tiêu này phản ánh mức doanh thu đạt được trên 1 đồng chi phí Đây là chỉ tiêu thuận nghĩa là HQ (f) càng cao thì hiệu quả sử dụng lao động sử dụng lao động càng cao

Hiệu quả sử dụng chi phí có thể đo lường bằng chỉ tiêu tỷ suất chi phí

Ta có :

Chỉ tiêu này phản ánh để có một đồng doanh thu cần bao nhiêu đồng chi phí Dây là chỉ tiêu nghịch đảo, có nghĩa là tỷ suất chi phí càng cao thì hiệu quả sử dụng chi phí càng thấp và ngược lại

=

F’

F M

Hiệu suất sử dụng vốn cố định

Doanh thu thuần Vốn cố định bình quân

=

Tỷ suất lợi nhuận VCĐ

Lợi nhuận thuần Vốn cố định bình quân

=

Trang 17

Chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế

* Hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Sức sinh lợi của vốn lưu động phản ánh một đồng vốn lưu động làm ra mấy đồng lãi ròng trong kỳ Ta có thể so sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc, nếu sức sinh lợi vốn cố định tăng lên thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng chung tăng lên hoặc ngược lại

Phân tích tốc độ luân chuyển của vốn lưu động:

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất (Dự trữ - sản xuất – tiêu thụ) Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu đông quay được mấy vòng trong kỳ Nếu số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại

Chỉ tiêu này còn được chỉ số luân chuyển

Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để vốn lưu động quay được một vòng Thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn

Sức sinh lời của VLĐ

Lợi nhuận thuần Vốn lưu động bình quân

=

Số vòng quay của VLĐ

Doanh thu thuần Vốn lưu động bình quân

Trang 18

Ngoài hai chỉ tiêu trên, khi phân tích còn có thể tính ra chỉ tiêu “ Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động” Hệ số này càng nhỏ thể hiện hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều Qua chỉ tiêu này ta biết được: để có một đồng luân chuyển thì cần bao nhiêu đồng vốn lưu động

1.4.3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Các doanh nghiệp hiện nay đều quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, vì gắn liền với mục tiêu kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận Nó quyết định

sự tồn tại và phát triển của cả một doanh nghiệp Nếu chỉ xác định mục tiêu tồn tại, doanh nghiệp chỉ cần quan tâm đến việc bán hàng đủ để trang trải các khoản chi phí

bỏ ra Còn nếu muốn phát triển thì doanh nghiệp luôn phải tính đến việc thu được kết quả cao hơn nhiều so với chi phí bỏ ra Phần thưởng của doanh nghiệp có thể được tích lũy để tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh hơn nữa Do vậy doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh của mình

Mặc dù vậy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lại chịu sự tác động của các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài Cho nên bài toán đặt ra là doanh nghiệp phải giải quyết được tổng thể các vấn đề ảnh hưởng bằng các biện pháp hữu hiệu Doanh nghiệp phải dựa trên các yếu tố cơ bản trong kinh doanh trước khi xem xét đến việc đưa ra quyết định điều chỉnh lại hoạt động Những vấn đề này có thể là :

+ Nghiên cứu và hiểu nhu cầu thị trường, đánh giá khả năng đáp ứng của doanh nghiệp Từ đó đề xuất chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp

+ Tổng hợp được các yếu tố ảnh hưởng từ đầu vào đến các yếu tố đầu ra Đây là căn cứ quan trọng để nâng cao chất lượng, hạ giá thành, giảm chi phí cho doanh nghiệp

Hệ số đảm nhiệm VLĐ

VLĐ bình quân Doanh thu thuần

=

Trang 19

+ Tổ chức điều hành hoạt động bán sản phẩm nhằm đạt khối lượng lớn nhất, doanh thu cao nhất

Qua những nội dung trên có thể thấy nhiệm vụ mà doanh nghiệp cần thực hiện

để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh gồm:

+ Áp dụng các biện pháp nhằm tăng kết quả sản xuất kinh doanh cả về số lượng

- Giá tăng sản lượng sản phẩm sản xuất, điều này sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí cố định tính trên 1 đơn vị sản phẩm

Về mặt lý thuyết hàm tổng chi phí trong ngắn hạn chính là hàm tuyến tính được tính theo công thức sau

TC = FC + Q AVC Đây là hàm có dạng hypecbol (nghĩa là chi phí sẽ giảm dần theo sản lượng):

Vậy chỉ khi công suất sản xuất của doanh nghiệp đạt mức tối đa thì mức sản lượng mới đạt mức cao nhất Nhưng vấn đề là khi sản xuất ở mức này thì liệu có bán được hết số lượng sản xuất ra hay không vì điều này phụ thuộc vào nhu cầu tiêu thụ trên thị trường Vì vậy việc định ra mức giá hợp lý để thị trường chấp nhận lại là một bài toán khác, hoặc doanh nghiệp lại phải sử dụng đến các công cụ khác của hoạt động Marketing như quảng cáo, khuyến mại…

Như vậy doanh nghiệp có thể áp dụng các cách sau:

+ Sử dụng nhiều loại hình quảng cáo

Trang 20

+ Phát triển mạng lưới đại lý và các cửa hàng giới thiệu sản phẩm

+ Thực hiện kinh doanh tổng hợp

+ Nâng cao về mặt chất lượng của sản phẩm

+ Giảm giá thành từ đó giảm giá bán

+ Nâng cao chất lượng, tạo thêm các dịch vụ cho khâu bán hàng

+ Quan tâm tới các dịch vụ sau bán

Bên cạnh việc gia tăng doanh số bán thì doanh nghiệp cũng cần quan tâm tới việc tiết kiệm chi phí thông qua các biện pháp:

+ Đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất

+ Đưa ra các sáng kiến cải tiến tổ chức sản xuất và tổ chức lao động

+ Áp dụng các mô hình quản lý hiện đại trong doanh nghiệp

Trang 21

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY

CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ DỊCH VỤ VẬT TƯ KỸ THUẬT SỐ 1

2.1 Giới thiệu chung về công ty cổ phần và kinh doanh vật tư kỹ thuật

số 1

2.1.1 Quá trình và phát triển của công ty

Công ty cổ phần kinh doanh và vật tư kỹ thuật số 1 được thành lập vào ngày 1/4/2004 theo giấy phép đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch đầu tư TP Hải Phòng, mã số 0200581513 Đến ngày 17/12/2010 công ty bổ sung lĩnh vực ngành nghề kinh doanh và có tên chính thức là Công ty cổ phần và kinh doanh vật tư kỹ thuật số 1 Tên giao dịch là TECTRAJSCO – N01 Địa điểm kinh doanh tại số 10B Chợ Con, phường Trại Cau, quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng Tổng số vốn ban đầu khi thành lập là 9.890.000.000 đồng Lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty là:

- Kinh doanh dịch vụ hàng kim khí, thư liệu, phế liệu, vật tư máy móc, phương tiện vận tải, hàng dân dụng, vật liệu xây dựng, ô tô, xe máy

- Kinh doanh dịch vụ sản xuất gia công các sản phẩm, bán thành phẩm hàng kim khí, hóa chất, thiết bị, phụ tùng, điện tử, điện lạnh, điện máy;

- Dịch vụ xuất nhập khẩu;

- Dịch vụ giao nhận hàng hóa;

- Xây lắp công trình công nghiệp và dân dụng;

- Vận tải và dịch vụ vận tải hàng hóa thủy bộ

Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc của công ty là ông Lê Đức Hậu, chịu trách nhiệm quản lý và điều hành chung mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Khởi đầu là một doanh nghiệp nhỏ, có số vốn điều lệ niêm yết khoảng gần 10 tỷ đồng, có số lao động là 50 người, đến nay công ty đã từng bước khẳng định mình

Trang 22

trên thị trường Hải Phòng về lĩnh vực kinh doanh vật tư kỹ thuật cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước

Trong giai đoạn đầu khi thành lập, công ty gặp nhiều rất nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh Vì là một doanh nghiệp mới, với số vốn nhỏ, uy tín trên thị trường chưa cao Tuy nhiên, bằng nỗ lực của toàn bộ đội ngũ nhân viên và

sự quản lý của giám đốc Lê Đức Hậu, doanh nghiệp đã dần đi vào ổn định, có

nhiều khách hàng hơn và thị trường ngày càng được mở rộng hơn

Những năm gần đây khi kinh tế đã phục hồi thì hoạt động kinh doanh đã có nhiều biến chuyển Công ty đã từng bước khẳng định về uy tín, thương hiệu, sản phẩm ngày càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Theo như ông Hậu, định hướng của doanh nghiệp là phát triển dựa trên nền tảng “uy tín là vàng”, do đó tạo được sự tin cậy của khách hàng

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của TECTRAJSCO

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức

BAN GIÁM ĐỐC

PHÒNG

KỸ THUẬT

PHÒNG KINH DOANH

PHÂN XƯỞNG

PHÒNG

KẾ TOÁN-TÀI VỤ

Trang 23

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty

2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban

* Phòng kỹ thuật:

Là bộ phận chịu trách nhiệm thiết kế, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, quy trình công nghệ của công ty Dựa vào các hợp đồng kinh tế, các bản vẽ thiết kế điều hành tổ chức thiết kế, lập quy trình sản xuất, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm, phù hợp với trang thiết bị của doanh nghiệp, xây dựng định mức vật tư cho từng loại sản phẩm sản xuất trong kỳ Tham mưu cho lãnh đạo về phương hướng duy trì, đẩy mạnh, phát triển công tác khoa học quản lý công nghệ, phục vụ cho mục tiêu sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng tốt hơn

* Phòng kinh doanh:

Là bộ phận hoạch định các kế hoạch, phương án kinh doanh của công ty, nghiên cứu tham mưu cho ban giám đốc trong việc mở rộng các hoạt động kinh doanh trong công ty một cách hiệu quả đồng thời nghiên cứu tư vấn thị trường, đánh giá các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

* Phòng kế toán tài vụ:

Là bộ phận chịu trách nhiệm trong công tác quản lý tài chính, hạch toán kế toán, quản lý nhân sự, tiền lương, tiền thưởng đồng thời phối hợp với phòng kinh doanh, phòng kỹ thuật và các tổ chức có liên quan trong việc phân tích, tìm ra các biện pháp kịp thời và hợp lý trong việc kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

* Phân xưởng cơ khí:

Trang 24

Chịu trách nhiệm trong việc gia công cắt gọt, chấn, gấp, hàn…kim loại tạo nên các bộ phận của sản phẩm sao cho đúng quy trình công nghệ, thiết kế, hoàn thành đúng tiến độ được giao

* Phân xưởng sơn:

Chịu trách nhiệm sơn tĩnh điện và lắp ráp hoàn thiện các sản phẩm của công

ty và nhận làm hàng sơn thuê từ bên ngoài để tạo thêm doanh thu cho công ty

* Phòng KCS:

Đặt ra các tiêu chuẩn về quy trình sản xuất và theo dõi, kiểm tra chất lượng sản phẩm từ khâu gia công chế tạo đến bao gói sản phẩm để đảm bảo hàng xuất xưởng đạt yêu cầu về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm

* Kho hàng:

Bảo quản và cung ứng nguyên vật liệu, dụng cụ; đáp ứng giao hàng cho các xưởng; xuất nhập hàng hóa ra vào công ty theo đúng quy định của công ty

Nhìn chung, mỗi phòng ban trong công ty đều có những chức năng và nhiệm

vụ cụ thể Mỗi phòng ban đều tập trung thực hiện những nhiệm vụ chính của mình

và kết hợp với các phòng ban chức năng khác thực hiện các kế hoạch chung của toàn công ty

Với cơ cấu tổ chức này, giám đốc điều hành doanh nghiệp được sự trợ giúp của các bộ phận chức năng để chuẩn bị các quyết định, theo dõi kiểm tra việc thực hiện các quyết định, đồng thời có toàn quyền quyết định và chịu trách nhiệm về mọi mặt lãnh đạo các công việc trong Công ty

2.1.3 Tình hình các nguồn lực cơ bản của công ty

Trang 25

Đây được coi là nhân tố quyết định trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hiện tại doanh nghiệp phân loại theo 2 nhóm là:

-Lao động quản lý: bao gồm những người làm công tác quản lý sản xuất kinh doanh Họ là cầu nối để nối liền các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp thành một khối thống nhất

-Lao động trực tiếp sản xuất: Là doanh nghiệp vật tư kỹ thuật nên lao động trực tiếp sản xuất đa số là nam, chỉ có một số ít nữ ở các bộ phận hỗ trợ Công ty có lực lượng công nhân có trình độ tay nghề cao, phần lớn được học qua các trường công nhân kỹ thuật Để tiết kiệm chi phí đối với những công việc đơn giản công ty vẫn sử dụng những lao động chưa qua đào tạo nhưng có sức khoẻ và gắn bó với công ty, phần lớn số này đều học hết phổ thông trung học, trong quá trình làm việc công ty rất chú ý kèm cặp để họ rèn dũa tay nghề, nâng cao trình độ dần trở thành những công nhân thạo việc

Bảng 2.1 Tình hình lao động của công ty từ 2011-2015

Trang 26

Trong những năm gần đây, công ty rất chú trọng tới việc đầu tư cho nhân lực Tỷ lệ giữa công nhân sản xuất trực tiếp và gián tiếp càng hợp lý, hiện tỷ lệ này tại công ty là 20% quản lý và 80% nhân viên Trình độ của người lao động ngày càng được nâng cao, do công ty đã đầu tư đúng mức cho việc phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Trình độ tay nghề của người lao động đáp ứng được các yêu cầu

về chất lượng cũng như kĩ thuật của sản phẩm Công nhân có thể thích nghi được với điều kiện làm việc liên tục, căng thẳng nhằm hoàn thành đúng tiến độ đề ra Với số lượng công nhân có trình độ tay nghề cao chiếm một tỉ lệ khá lớn, công ty

có rất nhiều ưu thế trong việc sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất và hoàn thành kế hoạch định mức nguyên vật liệu cho từng loại sản phẩm

mà phòng kĩ thuật đề ra Không chỉ có vậy, đội ngũ công nhân của công ty còn tuân thủ kỉ luật rất nghiêm ngặt, sử dụng nguyên vật liệu đúng mục đích, luôn phấn đấu giảm mức tiêu dùng nguyên vật liệu, tận dụng cao độ phế liệu và giảm phế phẩm giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao

Do người quản lý cũng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty nên công ty luôn tìm cách tạo điều kiện cho họ nâng cao trình độ năng lực Công ty đã

có chính sách hỗ trợ cho một số vị trí quản lý tham gia các khóa học trung và dài hạn về các nghiệp vụ quản lý

Bảng 2.2 Cơ cấu chất lượng lao động qua từ 2012-2015

Số lượng (người)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (người)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (người)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (người)

Tỷ trọng (%)

Trang 27

5 Lao động phổ thông 12 14,63 14 14,74 22 20,95 22 20,75

Nguồn: Tài liệu nội bộ công ty

Hình 2.2 Biểu đồ cơ cấu lao động công ty

2.1.3.2 Về cơ sở vật chất

Máy móc công nghệ kĩ thuật của công ty còn chưa cao, hơn nữa công ty chưa

có các kế hoạch sản xuất phù hợp để tận dụng hết công suất máy móc thiết bị Điều

đó ảnh hưởng lớn tới việc sản xuất sản phẩm cũng như việc sử dụng nguyên vật liệu có hiệu quả Nhìn chung công ty vẫn còn dùng một số máy móc thiết bị lạc hậu làm cho việc sử dụng nguyên vật liệu vượt quá định mức đặt ra Đó chính là một hạn chế mà công ty cần phải khắc phục Chính vì vậy công ty luôn luôn phải đảm bảo sửa chữa, bảo dưỡng kịp thời tránh tình trạng máy móc thiết bị hỏng quá lâu, không đáp ứng được tiến độ sản xuất Việc làm đó cũng góp phần không nhỏ vào việc sử dụng vật tư sao cho có hiệu quả hơn Cho nên lượng nguyên vật liệu sử dụng tuy có lúc vượt quá định mức do phòng kĩ thuật đặt ra nhưng nhìn chung vẫn đạt được hiệu quả như mong đợi Các dây chuyền sản xuất các loại mặt hàng có thế

Trang 28

mạnh của công ty vẫn hoạt động tốt và luôn tiết kiệm được một lượng nguyên vật liệu đáng kể góp phần làm giảm giá thành sản phẩm, giữ vững vị thế cạnh tranh của mình Tuy nhiên nếu được đầu tư đúng chỗ, năng suất lao động bình quân cũng như việc thực hiện định mức lượng nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất của công ty sẽ đạt kết quả tốt hơn Trong thời gian tới, công ty có kế hoạch đầu tư mua sắm thêm một số loại máy móc, thiết bị mới, hiện đại Điều này sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất của công ty cũng như góp phần rất lớn vào việc tiết kiệm nguyên vật liệu nhờ thực hiện theo đúng định mức và quy trình công nghệ

Do đó ta có thể thấy rằng máy móc thiết bị trong mỗi doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý nguyên vật liệu nên để công tác này đạt hiệu quả mong muốn cần chú ý tới công tác quản lý máy móc công nghệ kỹ thuật

Bảng 2.3 Tình hình máy móc thiết bị của công ty năm 2015

STT Tên máy móc thiết bị

chính

Số lượng ( Chiếc)

Công suất (KW)

Xuất xứ

Năm đưa vào sử dụng

Trang 30

ty vẫn phải huy động thêm vốn từ nhiều nguồn khác nhƣ vay ngân hàng, chiếm dụng vốn của các nhà cung cấp, khách hàng Hàng năm vốn kinh doanh của doanh nghiệp đều đƣợc bổ sung bằng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh Việc sử dụng vốn đƣợc đề ra là phải tiết kiệm, chỉ đầu tƣ vào những loại tài sản cố định nào cần thiết cho sản xuất kinh doanh và phải nhanh chóng mang lại hiệu quả ví dụ nhƣ: dây chuyền sơn tĩnh điện, các máy móc cắt gọt kim loại, các loại máy hàn

Bảng 2.4 Cơ cấu vốn của công ty từ 2012-2014

ĐVT: triệu đồng

Chỉ tiêu 2012 2013 2014 2014 Tổng vốn kinh doanh 20.107 19.081 18.562 19.625

Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty

Hình 2.3 Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn của công ty

2.2 Thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh của TECTRAJSCO

Trang 31

Để đáp ứng nhu cầu sử dụng của xã hội về chủng loại hàng hóa, khối lượng tiêu thụ của từng đối tượng, công ty thực hiện chính sách kinh doanh đa dạng hóa sản phẩm

Hoạt động kinh doanh của công ty gồm:

- Vật tư các loại dùng trong lĩnh vực đóng tàu như: thép tấm, sơn, động cơ, phụ kiện các loại…

- Các hoạt động ủy thác nhập khẩu máy móc thiết bị

- Các nguyên vật liệu phục vụ cho các nhà máy sản xuất

2.2.2 Khách hàng của công ty

Với mạng lưới phân phối rộng khắp và hệ thống kho bãi hoàn chỉnh, TECTRAJSCO có đủ kinh nghiệm và năng lực đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng tại thị trường Hải Phòng Công ty hiện có kho và khu vực sản xuất tại số 364 đường 208 xã An Đồng, huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng TECTRAJSCO

là nhà cung cấp lớn các chủng loại vật tư ngành đóng tàu, các công ty cơ khí chế tạo, các công trình xây dựng công nghiệp cũng như dân dụng

Một số khách hàng chính của công ty như:

- Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng

- Nhà máy đóng tàu Nam Triệu

- Nhà máy đóng tàu Bến Kiền

- Nhà máy đóng tàu Phà Rừng

- Công ty cổ phần Lisemco 2- Lilama

- Các nhà xưởng, công trình xây dựng dân dụng…

Ngoài ra công ty cũng cung cấp cho một số công ty đóng tàu ở các thị trường như Thái Bình, Nam Định… Điều này cho thấy công ty cũng rất chú trọng tới việc phát triển thị trường cho mình

2.2.3 Tình hình cạnh tranh trên thị trường

Trang 32

Thị trường vật tư hiện nay rất đa dạng, thực tế tại Hải Phòng có rất nhiều nhà cung cấp vật tư như của công ty Do đó công ty cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với các đối thủ Hiện có 3 đối thủ cạnh tranh trực tiếp với công ty tại thị trường Hải Phòng gồm:

- Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật Hà Nội

- Công ty cổ phần xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật Hà Nội

- Công ty TNHH Thiết bị – vật tư kỹ thuật Việt Đức Ngoài ra trên các thị trường khác như Thái Bình, Nam Định công ty cũng gặp phải nhiều đối thủ cạnh tranh khác ngay tại những thị trường đó Điều này khiến công ty phải chia sẻ thị phần cho các đối thủ cạnh tranh,

2.2.4 Phân tích kết quả kinh doanh của công ty TECTRAJSCO

Công ty TECTRAJSCO là công ty cổ phần cũng như bao doanh nghiệp khác hoạt động trong cơ chế thị trường cũng coi trọng hoạt động sản xuất kinh doanh là vấn đề sống còn quyết định sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp Doanh thu và lợi nhuận là hai chỉ tiêu động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển và được doanh nghiệp coi trọng trong xây dựng kế hoạch chiến lược Doanh thu chính

là giá trị hay số tiền mà doanh nghiệp có được nhờ thực hiện kinh doanh Lợi nhuận chính là hiệu quả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được Kết quả doanh thu

và lợi nhuận của công ty được thể hiện qua bảng sau:

Qua số liệu ở bảng bên, ta thấy:

Năm 2011 do vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề từ khủng hoảng nền kinh tế thế giới nên hoạt động của công ty TECTRAJSCO vẫn gặp nhiều khó khăn Các khách hàng chính của công ty như các nhà máy đóng tàu, cơ khí, sản xuất chế tạo rơi vào cảnh sản xuất cầm chừng, lượng hàng hóa tồn kho lớn Đây là nguyên nhân chính khiến lượng hàng hóa của công ty tiêu thụ chậm

Năm 2012 hoạt động của công ty tăng trưởng đạt trên 16,2%, tương ứng trên

Ngày đăng: 13/05/2018, 12:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w