Tính cấp thiết của đề tài Hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với bất kỳ doanh nghiệp nào trong đó nhu cầu về vốn là nhu cầu tiên quyết để duy trì và phát triể
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế với đề tài “Biện pháp nâng
cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Chi nhánh Đông Hải phòng” tác giả viết dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS
Mai Khắc Thành - Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam Luận văn này được viết trên cơ sở vận dụng lý luận chung về huy động vốn trong các ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng phát triển hoạt động huy động vốn tại BIDV Đông Hải phòng để từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Hải phòng
Khi viết bản luận văn này, tác giả có tham khảo và kế thừa một số lý luận chung về huy động vốn và sử dụng những thông tin, số liệu từ các sách, tạp chí, giáo trình, các báo cáo của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Hải phòng … theo danh mục tham khảo
Tác giả cam đoan không có sự sao chép nguyên văn từ bất kỳ luận văn nào hay nhờ người khác viết Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về cam đoan của mình và chấp nhận mọi hình thức kỷ luật theo quy định của Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn: “Biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Hải phòng”, được hoàn
thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của quý Thầy Cô Viện đào tạo sau Đại học trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, thầy giáo hướng dẫn TS Mai Khắc Thành, Ban Giám đốc, các bạn đồng nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Hải phòng
Xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS.Mai Khắc Thành, người đã dành nhiều thời gian, công sức và lòng nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô Viện đào tạo sau Đại học, trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, đã hỗ trợ, gợi ý cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các bạn đồng nghiệp tại BIDV Đông Hải phòng đã giúp tôi thu thập số liệu, tài liệu, góp ý cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè những người đã động viên, tận tâm chia sẻ những khó khăn trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Một lần nữa tác giả xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô và toàn thể quý vị!
TP Hải phòng, ngày tháng năm 2016
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại 3
1.1.2 Hoạt động cơ bản của NHTM 4
1.1.3 Vai trò của các NHTM trong nền kinh tế 8
1.2 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9
1.2.1 Khái niệm vốn của NHTM 9
1.2.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động của NHTM 9
1.2.3 Nguồn vốn của NHTM 11
1.2.4 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn 19
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 21
1.3.1 Nhân tố khách quan 22
1.3.2 Nhân tố chủ quan 24
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI BIDV ĐÔNG HẢI PHÒNG 27
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 27
2.1.1 Sự hình thành của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 27
2.1.2 Quá trình phát triển của BIDV Đông Hải Phòng 29
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của BIDV Đông Hải Phòng 30
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV Đông Hải Phòng 32
2.2.1 Huy động vốn 32
2.2.2 Hoạt động cho vay 34
2.2.3.Hoạt động dịch vụ 35
2.2.4 Kết quả kinh doanh 37
2.3 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI BIDV ĐÔNG HẢI PHÒNG 38
2.3.1 Tăng trưởng nguồn vốn huy động 38
Trang 42.3.3 Đổi mới trong hoạt động huy động vốn 56
2.4 ĐÁNH GIÁ VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA BIDV ĐÔNG HẢI PHÒNG 61
2.4.1 Những kết quả đạt được 61
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 63
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI BIDV ĐÔNG HẢI PHÒNG 66
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA BIDV ĐÔNG HẢI PHÒNG 66
3.1.1 Định hướng hoạt động của BIDV Việt Nam giai đoạn 2016-2020 66
3.1.2 Định hướng hoạt động huy động vốn 68
3.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI BIDV ĐÔNG HẢI PHÒNG 70
3.2.1 Tăng cường công tác phân tích quy mô và cấu trúc nguồn vốn 70
3.2.2 Nâng cao uy tín Ngân hàng 71
3.2.3 Vận dụng chế độ lãi suất linh hoạt 72
3.2.4 Hoàn thiện tiện ích phục vụ người gửi tiền 73
3.2.5 Tổ chức thông tin tiếp thị tốt hơn 75
3.2.6 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn 76
3.2.7 Gắn chặt hơn nữa việc huy động vốn và sử dụng vốn, quản lý nguồn vốn theo đúng phương pháp và mục tiêu 79
3.2.8 Nâng cao trình độ và đổi mới công tác quản lý 80
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 80
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 80
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 82
3.3.3 Đối với BIDV Việt Nam 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
2.8 Huy động vốn và sử dụng vốn cho vay theo kỳ hạn tại
2.9 Huy động vốn và sử dụng vốn cho vay theo loại tiền tệ
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với bất kỳ doanh nghiệp nào trong đó nhu cầu về vốn là nhu cầu tiên quyết để duy trì và phát triển sản xuất, nó phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi các doanh nghiệp đều mong muốn đầu
tư mở rộng sản xuất, đa dạng hóa dịch vụ nhằm tăng khả năng cạnh tranh
Là 1 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, thì nhu cầu về vốn đối với Ngân hàng thương mại lại càng quan trọng bởi không có vốn, ngân hàng sẽ không thể tồn tại Trong nền kinh tế, ngành Ngân hàng được coi là huyết mạch, là kênh huy động vốn có tầm quan trọng đặc biệt, hoạt động tín dụng ngân hàng đã góp phần không nhỏ trong việc cung ứng vốn cho các doanh nghiệp hoạt động Để đáp ứng đủ nhu cầu vốn của thị trường, Ngân hàng thương mại phải huy động vốn từ bên ngoài, nói cách khác Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì việc huy động vốn đóng một vai trò then chốt
Không nằm ngoài quy luật chung đó, đối với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nói chung và Chi Nhánh BIDV Đông Hải Phòng nói riêng vấn đề Vốn luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu BIDV Đông Hải Phòng đã không ngừng hoàn thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng với tiêu chí
“Nhanh chóng, chính xác, thuận tiện” cùng với việc mở rộng mạng lưới giao dịch, trên cơ sở đó mở đường và tạo mặt bằng vốn tăng trưởng vững chắc Tuy nhiên, vốn vẫn là vấn đề “nóng” đối với chi nhánh Với mức lãi suất có thể gọi là thấp như hiện nay, Chi nhánh khó có thể thu hút nguồn tiền gửi từ dân cư cũng như các doanh nghiệp dẫn đến khó có thể đảm bảo khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, đề tài “Biện pháp
nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt nam – Chi nhánh Đông Hải Phòng” được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu của
luận văn
Trang 82 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến hiệu quả huy động vốn của NHTM
Phân tích và đánh giá hiệu quả huy động vốn tại BIDV Đông Hải Phòng để thấy được những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của nó
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại BIDV Đông Hải Phòng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả huy động vốn tại BIDV Đông Hải Phòng giai
đoạn 2012-2015, trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp để nâng cao hiệu quả huy động vốn
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, các phương pháp nghiên cứu sau đây được sử dụng:
Phương pháp thu thập thông tin số liệu
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích tổng hợp theo thời gian; Phân tích tổng hợp theo nhóm vấn đề, nhóm đối tượng
Phương pháp so sánh
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa đòi hỏi phải có một tổ chức kinh doanh đặc biệt – chuyên kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ trong quan hệ vay mượn – đó là NHTM, một trung gian tài chính được hình thành lâu đời nhất Có thể hiểu NHTM là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với các nội dung chính là: Nhận tiền gửi và chi trả hộ cho khách hàng
Sử dụng số tiền của khách hàng gửi để cho vay
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngân hàng đã thực hiện thêm những dịch vụ như: chiết khấu thương phiếu; tài trợ các hoạt động của Chính phủ; cung cấp các dịch vụ tài khoản tiền gửi; cung cấp các dịch vụ khác như: thanh toán quốc tế, dịch vụ thuê thiết bị; môi giới đầu tư; dịch vụ ngân hàng điện tử; dịch vụ ngân hàng tự động…
Như vậy, NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và cùng với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế hoạt động của NHTM ngày càng đa dạng hơn Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế, các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Tuy nhiên, các yếu tố trên đang không ngừng thay đổi cùng với đời sống kinh tế, chính trị xã hội Chính vì vậy cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện các
dịch vụ mà chúng cung cấp như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” Sự đa dạng trong các dịch
vụ của ngân hàng được thể hiện ở chức năng của nó:
Trang 10Hình 1.1: Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay
1.1.2 Hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.2.1 Nhận tiền gửi
NHTM nhận tiền gửi xuất phát từ:
Yêu cầu khách quan:
Khi các chủ sở hữu có một lượng tiền tiết kiệm được sau khi đã chi tiêu cho các nhu cầu cần thiết hoặc tạm thời nhàn rỗi họ sẽ nghĩ đến việc bảo quản nó như thế nào cho an toàn khi đó giải pháp gửi tiền vào ngân hàng sẽ được chọn vì mục đích cất trữ
Tùy theo lượng tiền nhàn rỗi, tùy kế hoạch sử dụng mà họ sẽ tính toán xem gửi kỳ hạn nào với số tiền bao nhiêu thì sẽ hiệu quả nhất cho mình Từ những năm cuối thập kỷ 60, hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển khi đó người ta nghĩ đến việc sử dụng các dịch vụ của ngân hàng ví dụ thay vì hàng tháng họ phải mang tiền mặt đến bưu điện trả phí điện thoại hoặc đi trả tiền điện, tiền thuê nhà, tiền thuê xe,… họ sẽ thông qua các dịch vụ thanh toán của ngân hàng trên cơ sở số tiền
họ có trong tài khoản tại các ngân hàng, như vậy sẽ tiết kiệm thời gian và thuận tiện hơn rất nhiều Các doanh nghiệp, tổ chức trong quá trình hoạt động của mình
Ngân hàng hiện đại
Chức năng bảo hiểm
Chức năng môi giới
Chức năng ngân
hàng đầu tư và bảo lãnh
Chức năng ủy thác
Chức năng tín dụng
Chức năng lập kế hoạch đầu tư
Chức năng thanh toán
Chức năng tiết kiệm Chức năng quản lý tiền mặt
Trang 11toán tiền mua vật tư,… họ sẽ giữ lượng tiền đó trong tài khoản tại ngân hàng hoặc chuyển sang gửi tiết kiệm với kỳ hạn phù hợp
Khả năng và nhu cầu của ngân hàng:
Về khả năng, NHTM có kho tàng chắc chắn, an toàn, hệ thống bảo vệ khá nghiêm ngặt, các điều kiện về bảo mật rất tốt, điều kiện về môi trường luôn luôn đảm bảo Mặt khác thông qua tác nghiệp của nhân viên ngân hàng, các quy định, quy trình gửi rút tiền, các ngân hàng luôn sẵn sàng đáp ứng kịp thời các yêu cầu chi trả cũng như đảm bảo các khoản tiền gửi của người gửi tiền
Về nhu cầu, bản thân ngân hàng là những trung gian tài chính, kiếm lời từ những khoản tiền “tạm thời nhàn rỗi” của người này đem tài trợ cho nhu cầu của người kia với mức lãi suất cao hơn, hoặc đầu tư vào những dự án đem lại mức lợi nhuận cao hơn Chính vì vậy ngân hàng phải huy động vốn hay nhận tiền gửi từ khách hàng
Nhận tiền gửi là hoạt động tạo điều kiện cho những hoạt động khác của ngân hàng và theo suốt quá trình tồn tại và phát triển của mỗi NHTM Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu gửi tiền sẽ càng gia tăng, thông qua hoạt động nhận tiền gửi ngân hàng tập hợp được một số tiền tạm thời chưa sử dụng của các chủ sở hữu để rồi
sử dụng lượng tiền đó đem tài trợ lại cho nền kinh tế
1.1.2.2 Tài trợ
Là các hoạt động mà ngân hàng sử dụng nguồn vốn đã huy động được để cung cấp cho các đối tượng có nhu cầu với những điều kiện do hai bên thỏa thuận Hoạt động này bao gồm:
Cho vay (Tín dụng):
Tín dụng ngân hàng là một quan hệ giao dịch giữa ngân hàng chuyển giao tiền cho các chủ thể khác được sử dụng trong một thời gian nhất định và bên nhận tiền phải cam kết hoàn trả theo thời hạn thỏa thuận
Đây là hoạt động giữ vị trí đặc biệt quan trọng, có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng vì hoạt động này tạo ra cho NHTM khoản thu nhập chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của NHTM
Trang 12Dựa vào các tiêu thức khác nhau người ta có thể chia thành các loại cho vay khác nhau:
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: cho vay bất động sản, cho vay công nghiệp, cho vay cá nhân, cho vay xây dựng,…
Căn cứ vào thời hạn: cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả: cho vay trả góp, cho vay hoàn trả theo yêu cầu,…
Căn cứ vào thành phần kinh tế: cho vay quốc doanh và ngoài quốc doanh Thông qua hoạt động tín dụng các NHTM đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, góp phần làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó đời sống dân chúng được cải thiện
Đầu tư:
NHTM có thể sử dụng nguồn vốn để đầu tư như đầu tư vốn trực tiếp vào các doanh nghiệp dưới dạng góp vốn, thành lập công ty, hùn vốn dưới hình thức liên doanh, liên kết Đây cũng là hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận ngân hàng Trong hoạt động kinh doanh của mình cũng giống như các doanh nghiệp, tổ chức trong nền kinh tế ngân hàng có những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, ngân hàng có thể gửi khoản tiền đó vào các tổ chức tín dụng khác hay đầu tư trái phiếu Chính phủ để tăng thêm lợi nhuận
Cho thuê tài chính:
Là hoạt động tín dụng trung gian, dài hạn trên cơ sở các hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là NHTM với khách hàng Khi kết thúc hợp đồng khách hàng có thể mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê Trong thời gian thuê các bên không được đơn phương chấm dứt hợp đồng
Trang 13Ngày nay, khi nền kinh tế càng phát triển thì hoạt động thương mại càng trở nên đa dạng nhu cầu thanh toán qua ngân hàng không dùng tiền mặt ngày càng chiếm vị trí chủ đạo trong các hoạt động kinh tế Hàng loạt các phương thức thanh toán được các ngân hàng thực hiện như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thanh toán séc, thanh toán bù trừ, thực hiện chuyển tiền nhanh qua mạng, thanh toán qua thẻ tín dụng,…Đồng thời, các ngân hàng cũng chú trọng đầu tư các trang thiết bị, cơ
sở vật chất áp dụng công nghệ tiên tiến vào hoạt động ngân hàng để đảm bảo thời gian thanh toán nhanh nhất chính xác và an toàn
Thực hiện tốt các dịch vụ thanh toán góp phần tăng thu nhập ổn định cho ngân hàng Hiện nay xu hướng nguồn thu về dịch vụ thanh toán ngày càng tăng và chiếm một tỷ lệ lớn về tổng thu trong kinh doanh của ngân hàng Đồng thời góp phần làm tăng tốc độ chu chuyển nguồn vốn, tiết kiệm thời gian, làm giảm khối lượng tiền tệ lưu thông, tiết kiệm chi phí in ấn, kiểm đếm tiền,… Ngân hàng thực hiện tốt công tác thanh toán sẽ thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến giao dịch từ đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác huy động vốn và cho vay của ngân hàng
Dịch vụ bảo lãnh:
Bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết của ngân hàng với bên có quyền về việc thực hiện nghiệp vụ tài chính thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh Thông thường các NHTM áp dụng các hình thức bảo lãnh như: bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng,…
Bảo quản vật có giá:
Đây là một trong những dịch vụ lâu đời nhất được các NHTM thực hiện Gồm có: bảo quản vật có giá là két sắt bảo quản ký thác và bảo quản an toàn vật có giá Két sắt bảo quản ký thác được lập ra để cho khách hàng thuê, khách hàng có quyền kiểm tra tài sản có giá của họ bất kỳ thời điểm nào Ngân hàng chỉ cung cấp kho bảo quản, két sắt và điều kiện an toàn
Bảo quản an toàn vật có giá là nhiệm vụ trông nom, quản lý giấy tờ có giá
Trang 14như là một đại lý đối với khách hàng
1.1.3 Vai trò của các NHTM trong nền kinh tế
Ngân hàng được định nghĩa là một loại hình tổ chức tài chính trung gian có vai trò quan trọng trong nền kinh tế chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế Trên thực tế một ngân hàng hiện đại phải thực hiện rất nhiều vai trò mới có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của xã hội:
Vai trò trung gian: trung gian giữa người có tiền tiết kiệm như người dân, các
tổ chức để cho những cá nhân tổ chức khác vay vốn đầu tư vào kinh doanh, tiêu dùng
Vai trò thanh toán: Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua
hàng hóa và dịch vụ (như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền đúc, tiền giấy)
Vai trò người bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất
khả năng thanh toán
Vai trò đại lý: đại diện những người cho vay để quản lý và bảo vệ tài sản,
phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán
Vai trò thực hiện chính sách: Thực hiện các chính sách kinh tế của Chính
phủ góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội
Trang 151.2 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.2.1 Khái niệm vốn của NHTM [3]
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập thông qua việc huy động, đi vay để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác Thực chất vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh doanh, phân phối, tiêu dùng, mà người chủ sở hữu gửi vào ngân hàng với các mục đích khác nhau, họ chỉ có quyền sở hữu còn quyền sử dụng vốn tiền tệ họ chuyển nhượng cho ngân hàng, để rồi ngân hàng phải trả cho họ một khoản thu nhập Như vậy ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục
vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển Đồng thời, chính các hoạt động
đó lại quyết định đến việc tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của NHTM
1.2.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động của NHTM
Nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng có vai trò hết sức quan trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh của mỗi ngân hàng Vốn là yếu tố quyết định đến khả năng sinh lời, khả năng cạnh tranh cũng như khả năng phòng chống rủi ro của ngân hàng
Vốn là cơ sở để ngân hàng thương mại tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Đối với bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì đều phải có vốn, muốn mở rộng sản xuất cũng cần phải có vốn vì thế tăng vốn luôn là mục tiêu của các doanh nghiệp vì quy mô vốn thể hiện năng lực của doanh nghiệp Riêng với hoạt động của các ngân hàng thương mại với đặc thù kinh doanh tiền tệ thì vốn là cơ sở để ngân hàng tiến hành tất cả các nghiệp vụ kinh doanh của mình bởi đối với ngân hàng vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu Ngân hàng muốn mở rộng kinh doanh, thu được lợi nhuận, tăng uy tín thì ngoài vốn ban đầu cần phải thường xuyên quan tâm tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng
Vốn của ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín
Trang 16dụng Thông thường so với những ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có các khoản mục đầu tư kém đa dạng, khối lượng và phạm vi tín dụng nhỏ hơn Trong khi các ngân hàng lớn có nhiều vốn đầu tư cho vay cả thị trường trong nước và quốc tế, thì ngân hàng nhỏ thiếu vốn sẽ bị giới hạn cho vay trong phạm vi hẹp Thêm vào đó khả năng vốn hạn hẹp nên ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy với những biến động về lãi suất, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn từ các thành phần kinh tế và dân cư Ngân hàng có vốn ít sẽ hiếm khi có điều kiện mở rộng đầu
tư vào cơ sở hạ tầng, công nghệ Mặt khác ngân hàng cũng sẽ bỏ lỡ cơ hội tham gia vào các danh mục đầu tư dài hạn như mua trái phiếu Nhà nước, trái phiếu công trình,… thu lợi nhuận cao Với xu thế ngân hàng đa năng như hiện nay việc tham gia của ngân hàng vào thị trường chứng khoán là quan trọng, quy mô về vốn của ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn thậm chí giữ vai trò quyết định tới sự thâm nhập của Ngân hàng thương mại vào thị trường này
Vốn quyết định năng lực thanh toán của ngân hàng, đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường từ đó quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó.Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường các ngân hàng phải giữ được chữ tín, mà uy tín của ngân hàng thể hiện bằng khả năng chi trả của ngân hàng khi đáo hạn Vốn khả dụng càng cao thì khả năng thanh toán càng cao vì khả năng thanh toán tỷ lệ thuận với nguồn vốn của ngân hàng nói chung và vốn khả dụng nói riêng, nguồn vốn lớn sẽ giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao uy tín và vị thế trên thị trường Tiềm năng vốn lớn là điều kiện đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng đối với các thành phần kinh tế, xét cả về quy mô khối lượng tín dụng cũng như chủ động về khối lượng tiền, thời hạn cho vay, lãi suất có thể thấp hơn các ngân hàng khác, từ đó ngân hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng, doanh số kinh doanh tăng, đây là điều kiện làm tăng lợi nhuận của ngân hàng, dẫn đến làm tăng vốn tự có, tăng quy mô hoạt động vật chất
kỹ thuật của ngân hàng
Vốn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng có đủ khả năng tài chính vươn tới kinh doanh đa năng Với xu hướng ngân hàng đa năng như hiện nay, hoạt động ngân
Trang 17hàng không chỉ đơn giản như hoạt động của ngân hàng truyền thống, mà còn vươn tới nhiều lĩnh vực khác như mở rộng các hình thức liên doanh liên kết, hoạt động thuê mua, bảo lãnh, mua bán nợ, kinh doanh trên thị trường chứng khoán,… Hình thức kinh doanh đa năng giúp ngân hàng phân tán được rủi ro, tạo thêm vốn, cơ hội thuận lợi cho ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
Tóm lại, vốn đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng ngân hàng thương mại nói riêng chính vì vậy huy động vốn luôn là hoạt động được ưu tiên hàng đầu Nguồn vốn không chỉ giúp ngân hàng thương mại tồn tại, hoạt động được mà nó còn cho phép NHTM mở rộng quy mô hoạt động, vươn tới nhiều lĩnh vực mới giúp ngân hàng có đủ uy tín và sức mạnh để tồn tại và phát triển trên thương trường
1.2.3 Nguồn vốn của NHTM
Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại có thể phân chia theo nhiều cách khác nhau: theo thời gian (ngắn hạn, dài hạn), theo loại tiền tệ (nội tệ, ngoại tệ), theo đặc điểm của nguồn (nợ, tiền vay) Tiếp cận theo cách phân chia trên bảng tổng kết tài sản nguồn vốn của ngân hàng thương mại được chia thành:
1.2.3.1 Vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng [3]
Về khía cạnh kinh tế, vốn chủ sở hữu là vốn riêng có của NHTM do các chủ
sở hữu đóng góp và các quỹ của ngân hàng được hình thành trong quá trình kinh doanh thể hiện dưới dạng lợi nhuận để lại Nguồn vốn này có tính ổn định cao, NHTM không phải hoàn lại, nó có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các hoạt động mở rộng quy mô của mình như liên doanh, liên kết, mở rộng mạng lưới,… Vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau:
Vốn tự có ban đầu:
Vốn này được hình thành từ ban đầu khi mới thành lập ngân hàng Tùy theo từng loại hình ngân hàng (quốc doanh hay cổ phần) mà vốn này có thể do ngân sách Nhà nước cấp hay do các cổ đông góp vốn Vốn này là một trong những điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập ngân hàng
Trang 18Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động:
Trong quá trình hoạt động ngân hàng có thể gia tăng vốn của chủ sở hữu theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc từng điều kiện cụ thể
Trong điều kiện thu nhập ròng của ngân hàng lớn các ngân hàng có xu hướng chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu còn được bổ sung từ việc phát hành thêm cổ phần, góp thêm nếu là ngân hàng cổ phần hoặc được cấp thêm từ NSNN nếu là ngân hàng quốc doanh để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, công nghệ hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn chủ sở hữu do Nhà nước quy định
Đây không phải là nguồn thường xuyên song nó giúp ngân hàng có được lượng vốn chủ sở hữu khi cần thiết
Các quỹ của ngân hàng:
Quỹ dự phòng rủi ro: được trích lập hàng năm và được tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra
Quỹ bảo toàn vốn: Nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác động của lạm phát
Ngoài ra còn có các quỹ khác như: quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi,… nguồn hình thành các quỹ này là thu nhập sau thuế của ngân hàng Tuy nhiên khả năng sử dụng các quỹ này vào hoạt động kinh doanh tùy thuộc vào mục đích sử dụng của các quỹ
1.2.3.2 Nguồn tiền gửi
Tiền gửi thanh toán: Hay còn gọi là tiền gửi có thể phát hành séc (tiền gửi giao
dịch, tiền gửi theo yêu cầu) Mục đích gửi khoản tiền vào ngân hàng không phải để hưởng lãi mà là nhằm sử dụng các tiện ích do ngân hàng cung cấp như thanh toán
hộ, chi trả hộ, thu hộ Thời kỳ đầu ngân hàng còn thu phí trên số dư tiền gửi này nhưng về sau để khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng không thu phí, hiện nay để cạnh tranh với nhau các ngân hàng còn trả tiền lãi cho các số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng, tuy vậy mức lãi suất này là rất thấp nên ưu điểm của nguồn vốn này là chi phí huy động thấp Tuy nhiên, tính ổn định của nguồn vốn này là thấp nhất vì mục đích của món tiền gửi này là dùng để
Trang 19thanh toán nên khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào mà ngân hàng không được phép từ chối Biến động của tiền gửi thanh toán phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời vụ, hoặc địa bàn hoạt động của ngân hàng Để đo độ biến động phức tạp của nguồn vốn này, ta có thể đo tần suất biến động hoặc số vòng quay, hoặc dựa vào các con số thống kê trong lịch sử mà ngân hàng đưa ra kết luận Khi sử dụng nguồn vốn tiền gửi thanh toán ngân hàng phải thận trọng nếu không rủi ro chi trả sẽ xảy ra, điều này có thể làm giảm uy tín của ngân hàng, hoặc phải tốn chi phí để đi vay
Ở Mỹ tiền gửi giao dịch không hưởng lãi chiếm khoảng 30% tiền gửi ngân hàng mặc dù theo một đạo luật Liên bang Mỹ từ năm 1933 ngân hàng không được thanh toán lãi suất trên tiền gửi giao dịch nhưng nhiều ngân hàng chấp nhận trả chi phí giao dịch qua bưu điện hay cung cấp các dịch vụ miễn phí khác do đó vẫn thu hút được một lượng lớn tiền gửi thanh toán
Để huy động được nguồn tiền gửi thanh toán ngân hàng cần phải khuyến khích các cá nhân và tổ chức kinh tế mở tài khoản thanh toán đồng thời cũng cần phải nâng cấp các tiện ích và dịch vụ do ngân hàng cung cấp kèm theo như: dịch
vụ thẻ, dịch vụ thanh toán,…
Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách
hàng về thời hạn gửi tiền trong khoảng thời gian này ngân hàng có quyền chủ động
sử dụng số tiền đó, khi khách hàng muốn rút tiền trước thời hạn cần phải báo trước
và phải được sự chấp thuận của ngân hàng Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh do các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội tạo ra từ các quỹ như quỹ khấu hao, quỹ đầu tư, từ các nguồn thu nhập của doanh nghiệp,… khi họ biết trước được thời điểm sử dụng tiền, họ gửi những khoản tiền này vào ngân hàng nhằm mục đích thu lợi và an toàn Ngân hàng thường phải trả lãi cao cho số dư tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, nên chi phí huy động thường cao nhưng bù lại nguồn vốn này lại có tính ổn định, Ngân hàng có thể yên tâm sử dụng mà không sợ bị rủi ro về khả năng chi trả
Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền do dân cư gửi vào ngân hàng với mục đích
an toàn và sinh lợi đây thường là khoản tiền gửi có tỷ trọng cao nhất trong tổng số
Trang 20tiền gửi của ngân hàng và có tính ổn định cao nhất Mục đích của người gửi tiền là nhằm hưởng lãi suất vì vậy lãi suất là yếu tố được người gửi quan tâm nhất, lãi suất huy động tỷ lệ thuận với thời gian gửi tiền sẽ khuyến khích khách hàng gửi tiền với thời hạn gửi dài hơn
Lãi suất chi trả cho người gửi tiết kiệm bao giờ cũng là cao nhất chính vì vậy chi phí huy động nguồn vốn này là lớn nhất Để huy động được nguồn vốn này, ngân hàng cần chú ý tới nhu cầu tiết kiệm từ dân cư, lượng tiền gửi phụ thuộc vào thu nhập của dân cư, vào xu hướng tiết kiệm, các đặc tính về dân số - xã hội, tình hình kinh tế xã hội Muốn huy động nguồn tiền gửi tiết kiệm ngân hàng cần phải chú ý đến các yếu tố thuộc về khách hàng này và điều chỉnh lãi suất huy động cho phù hợp
Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải được thanh toán khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn, sự thay đổi đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn làm thay đổi cầu thanh khoản của ngân hàng Qui mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác, thông thường chiếm trên 50% tổng nguồn vốn
và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng
Tiền gửi là đối tượng phải dự dữ bắt buộc do vậy chi phí tiền gửi thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi Tiền gửi đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn thường nhạy cảm với các biến động về lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu và nhiều nhân tố khác Lãi suất cao là một nhân tố kích thích các doanh nghiệp, dân cư gửi và cho vay Trong điều kiện có lạm phát, người có tiền tiết kiệm thường quan tâm tới lãi suất thực, điều đó có nghĩa là lãi suất thực dương mới thực sự hấp dẫn các nguồn tiền tiết kiệm Các yếu tố khác như địa điểm ngân hàng, mạng lưới chi nhánh và quầy tiết kiệm, các loại hình huy động đa dạng, các dịch vụ đa dạng,…đều ảnh hưởng tới quy mô và cấu trúc của nguồn tiền Thời vụ chi tiêu ảnh hưởng đến quy mô và tính ổn định của nguồn tiền Vào dịp tết, nguồn tiết kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp có xu hướng giảm sút đặc biệt là trong điều kiện tình trạng thanh toán bằng tiền mặt vẫn là hình thức phổ biến nhất trong các giao dịch kinh tế ở nước ta hiện nay Tại những thành phố lớn, nơi tập trung các tầng lớp dân cư có
Trang 21thu nhập cao, hình thành người gửi tiền lớn, thu nhập gia tăng là điều kiện để các gia đình tăng quy mô và kỳ hạn của các khoản tiền gửi Như vậy, ngân hàng cần phải nghiên cứu đặc điểm thị trường nguồn tiền để có biện pháp quản lý và sử dụng thích ứng tuy nhiên ngân hàng thường rất khó dự tính được chính xác việc thay đổi quy mô và kết cấu của tiền gửi
Phát hành giấy tờ có giá: Các NHTM có thể phát hành kỳ phiếu, trái phiếu và
chứng chỉ tiền gửi với đặc điểm có kỳ hạn và khoản lãi được hưởng thường là hấp dẫn Hình thức huy động này được thực hiện với mục đích sử dụng vốn cụ thể với
số lượng và thời gian phát hành nhất định khi cần thiết Đặc điểm của khoản nợ này có tính ổn định cao, quyền đòi tiền xếp sau các loại tiền gửi khác Hiện nay, ở Việt Nam có một số giấy tờ có giá có thể được mua bán trên thị trường, trong khi
đó ở các nước có thị trường tài chính phát triển thì việc mua bán các công cụ nợ diễn ra khá phổ biến và sôi động Hiện nay, nhu cầu vốn trung và dài hạn còn rất lớn chính vì vậy việc phát hành giấy tờ có giá kỳ hạn dài đóng vai trò quan trọng trong việc tạo và gia tăng nguồn vốn trung và dài hạn cho ngân hàng Huy động vốn bằng việc phát hành giấy tờ có giá thường có lãi suất hấp dẫn hơn các loại tiền gửi có cùng kỳ hạn nên chi phí huy động nguồn vốn này cao tuy nhiên nó lại có tính ổn định và tính “lỏng” vì có thể đưa ra mua bán trên thị trường vốn
Theo kinh nghiệm cho thấy việc huy động vốn từ trái phiếu khá phổ biến ở các nước Ở Nhật Bản, vốn huy động từ phát hành trái phiếu có kỳ hạn 1 năm, 2 năm và 5 năm là rất phổ biến trong đó trái phiếu kỳ hạn 5 năm chiếm quá nửa trong tổng số trái phiếu phát hành và chúng được nắm giữ bởi các Công ty bảo hiểm, các Hợp tác xã nông nghiệp và rất nhiều tổ chức đầu tư khác Loại kỳ phiếu
có kỳ hạn 1 năm cũng có sức hấp dẫn đặc biệt đối với các cá nhân và chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng lượng trái phiếu phát hành Ở Mỹ, các NHTM có khoản mục tiền gửi có kỳ hạn chiếm gần 50% và chủ yếu thể hiện dưới dạng chứng chỉ tiền gửi, với các chứng chỉ tiền gửi thường có kèm theo quy định về kỳ hạn cố định với một mức lãi suất được xác định trước hoặc theo thỏa thuận và không có giới hạn về số tiền gửi tối thiểu Khoản mục này bao gồm các chứng chỉ tiền gửi có thể
Trang 22chuyển nhượng giá trị lớn khoảng 100.000USD hoặc hơn – những chứng chỉ tiền gửi hưởng lãi mà ngân hàng sử dụng để huy động vốn từ các khách hàng quen thuộc Để hạn chế việc rút trước hạn đối với tiền gửi có kỳ hạn, thì các ngân hàng
Mỹ có một quy định hết sức chặt chẽ là việc rút trước hạn đó sẽ bị xử phạt và mức phạt có thể vượt cả mức tiền lãi được hưởng tính đến ngày rút tiền
1.2.3.3 Nguồn tiền vay
Tiền gửi là nguồn tiền do khách hàng chủ động mang đến cho ngân hàng, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để kinh doanh Tuy nhiên không phải lúc nào nguồn tiền gửi cũng đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh của ngân hàng, chính vì vậy khi nhu cầu cho vay vượt quá khả năng hiện có của ngân hàng, ngân hàng có thể đi vay để đáp ứng
Ngân hàng thương mại có thể đi vay từ nhiều nguồn khác nhau:
Vay từ ngân hàng trung ương:
Ngân hàng thương mại có thể vay từ ngân hàng trung ương qua các hình thức như chiết khấu, tái chiết khấu, hình thức vay này thông qua thị trường mở Ngân hàng thương mại thường nắm giữ một lượng giấy tờ có giá, khi cần tiền mặt, ngân hàng thương mại đưa lượng giấy tờ này cầm cố tại ngân hàng trung ương, thông qua lãi suất chiết khấu mà ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh được cung tiền
tệ cũng như cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại còn có thể vay từ các nguồn ngắn hạn như vay để bù đắp dự trữ thiếu hụt, nâng cao khả năng thanh toán, nâng cao khả năng thanh khoản Các khoản vay này thường là trong thời gian rất ngắn Trong những trường hợp đặc biệt NHTM vẫn có thể vay NHNN để cho vay lại nền kinh tế theo kế hoạch của Nhà nước với một mức lãi suất ưu đãi nhưng khoản vay này thường bị hạn chế về số lượng, đặc biệt là khi chính sách tiền tệ quốc gia đang thắt chặt Vay ngân hàng trung ương để cho vay các dự án mà Chính phủ chỉ định
Lãi suất vay từ ngân hàng trung ương thường là ưu đãi nhưng để vay được nguồn vốn này lại phụ thuộc vào chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ
Vay từ các tổ chức tín dụng khác:
Trang 23Khi thị trường tiền tệ liên ngân hàng phát triển, ngân hàng thương mại có thể vay từ các tổ chức tín dụng khác Nghiệp vụ này sẽ tạo ra thị trường liên ngân hàng trong nước và quốc tế Lãi suất đi vay thường cao hơn vay từ ngân hàng trung ương, quy mô món vay phụ thuộc vào thị trường, về kỳ hạn có thể co giãn, hoặc là rất ngắn hoặc có thể tới 3-5 năm
Nguồn tiền đi vay không phải dự trữ bắt buộc, không cần bảo hiểm tiền gửi đồng thời ngân hàng cũng chủ động được thời gian hoàn lại nhưng lãi suất lại cao Ngân hàng có thể đi vay bằng cách phát hành các giấy tờ có giá như phát hành các trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, hiện nay hình thức vay
từ việc phát hành các giấy tờ có giá chiếm tỷ trọng ngày càng cao so với tổng lượng tiền đi vay của các ngân hàng Bởi hình thức phát hành giấy tờ có giá là một phần của chiến lược huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng, lãi suất của các giấy tờ
có giá do Ngân hàng phát hành ra sẽ thấp hơn lãi suất đi vay, tuy nhiên Ngân hàng phải mất thêm chi phí in ấn, phát hành và quảng cáo cho các giấy tờ có giá này
Vay từ nước ngoài:
Theo Nghị định 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005 của Chính phủ về quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài thì các Ngân hàng thương mại có thể vay vốn trung và dài hạn ở Ngân hàng nước ngoài để cho vay lại trong nước, các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay có quan hệ đại lý và quan hệ thanh toán rộng rãi với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới nên nghiệp vụ này tiến hành cũng khá thuận lợi Lãi suất vay được áp dụng theo lãi suất trên thị trường tiền tệ thế giới Tuy nhiên, khi vay thì các NHTM Việt Nam phải chấp hành một hạn mức tín dụng do nước ngoài quy định, hạn mức này phải do Chính phủ hoặc NHNN Việt Nam bảo lãnh, theo Nghị định 134/CP thì mức bảo lãnh vay vốn nước ngoài cho một tổ chức tín dụng không quá 6 lần vốn tự có của tổ chức đó, nhưng hạn mức trên phải trừ đi số nợ trước chưa trả đến thời điểm vay mới Như vậy, muốn tận dụng được hạn mức tín dụng nước ngoài các Ngân hàng thương mại Việt Nam phải thực hiện tốt khâu hoàn trả Các khoản vay nước ngoài của các Ngân hàng thương mại Việt Nam đều do Ngân hàng Nhà nước trực tiếp kiểm soát và quản lý
Trang 24Vì vậy, các hồ sơ vay vốn đều phải qua Ngân hàng Nhà nước xét duyệt, các Ngân hàng thương mại có quyền chủ động tìm kiếm các nguồn vay từ nước ngoài, qua
đó góp phần quan trọng trong việc tài trợ các hoạt động kinh doanh ngân hàng
Tỷ trọng của nguồn tiền vay trong tổng nguồn vốn thường thấp hơn nguồn tiền gửi, đồng thời các khoản đi vay thường là có thời hạn và quy mô xác định trước nên tạo thành nguồn ổn định cho ngân hàng Khác với nhận tiền gửi, ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thường xuyên: ngân hàng chỉ vay lúc cần thiết; ngân hàng hoàn toàn chủ động quyết định khối lượng vay phù hợp với nhu cầu sử dụng, nguồn vay có thể không phải chịu dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi Tuy nhiên do rủi ro lớn hơn nên lãi suất trả cho tiền vay thường lớn hơn lãi suất trả cho tiền gửi với cùng kì hạn Các khoản vay Ngân hàng Nhà nước và vay ngân hàng khác tuy lãi suất thấp song thường có thời hạn ngắn, chỉ nhằm đảm bảo thanh toán tức thời khi nhu cầu thanh toán của khách hàng tăng cao Vay Ngân hàng Nhà nước phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Việc vay mượn các ngân hàng khác trên cùng địa bàn cũng gặp khó khăn khi nhiều ngân hàng đang thiếu phương tiện thanh toán Muốn mở rộng quy mô vay mượn trên thị trường liên ngân hàng, một ngân hàng cần vươn tới thị trường liên ngân hàng quốc
tế với khả năng phân tích rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái
Vay thông qua phát hành các giấy nợ trung và dài hạn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo và gia tăng các nguồn trung và dài hạn ổn định cao cho ngân hàng Ngân hàng có thể sử dụng nguồn này để cho vay các dự án, tài trợ cho trang thiết
bị và bất động sản của doanh nghiệp và người tiêu dùng Các nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất là thu nhập của dân cư và ổn định vĩ mô, sau đến là các kỹ thuật nghiệp vụ của ngân hàng nhằm tạo tính thanh khoản của các giấy nợ và thuận tiện đối với người cho vay Mặc dù lãi suất thường cao hơn các nguồn khác, song ngân hàng vẫn phải sử dụng phát hành giấy nợ trung và dài hạn khi tiền gửi không đáp ứng được yêu cầu như ổn định, quy mô đủ lớn trong khoảng thời gian xác định
Trang 251.2.3.4 Nguồn khác
NHTM còn có thể tạo lập vốn kinh doanh cho mình thông qua việc thực hiện một số nghiệp vụ như: làm trung gian thanh toán, làm nghiệp vụ đại lý, … Qua đó NHTM có thể sử dụng một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi đáng kể trong quá trình thu hộ hoặc chi hộ khách hàng Các khoản vay này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm
bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung, dài hạn;
là giải pháp tình thế trong hoàn cảnh khó khăn cho NHTM
Các nguồn khác này thường không lớn, việc gia tăng các nguồn này nằm trong chính sách tăng nguồn thu cho ngân hàng và bị ảnh hưởng rất lớn bởi khả năng thực hiện và mở rộng các loại hình dịch vụ khác
1.2.4 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn
1.2.4.1 Chỉ tiêu định lượng đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng
a Nguồn vốn tăng trưởng ổn định
Vốn huy động của NHTM phải đủ lớn và có sự tăng trưởng ổn định về số lượng để thỏa mãn nhu cầu tín dụng, thanh toán cũng như các hoạt động kinh doanh ngày càng tăng của Ngân hàng Tuy nhiên, vốn huy động được phải luôn ổn định về mặt thời gian Nếu ngân hàng huy động được một lượng vốn lớn nhưng lại không ổn định, thường xuyên có những dòng tiền lớn bị rút ra thì lượng vốn dành cho đầu tư, cho vay không lớn, hiệu quả huy động vốn không cao, thường xuyên phải đối đầu với vấn đề thanh khoản Kết quả, trong nhiều trường hợp ngân hàng sẽ phải gặp rủi
ro lớn là mất khách hàng Ngược lại, nếu nguồn vốn huy động được ổn định, dù nhỏ thì cũng có thể yên tâm sử dụng số tiền đó vào các hoạt động chắc chắn, lâu dài và thu được lợi nhuận cao
VHĐ năm nay – VHĐ năm trước
Tốc độ tăng trưởng = 100% x (1.1) Vốn huy động Vốn huy động năm trước
Chỉ tiêu này được đánh giá qua mức độ tăng giảm nguồn vốn huy động và số lượng vốn huy động có kỳ hạn Nguồn vốn tăng đều qua các năm, có độ gia tăng đều đặn, đạt mục tiêu nguồn vốn đặt ra là nguồn vốn tăng trưởng ổn định
Trang 26b Cơ cấu nguồn vốn
Vốn huy động loại i
Tỷ lệ loại vốn huy động i = x 100% (1.2) Tổng nguồn vốn huy động
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh từng loại vốn huy động so với tổng vốn huy động Qua đó, đánh giá tính ổn định của từng loại nguồn vốn huy động cũng như khả năng tạo được nền vốn lâu dài và ổn định
Tỷ trọng nguồn vốn huy động có thể phân chia theo một số tiêu thức sau:
Theo kỳ hạn huy động: ngắn hạn, dài hạn
Theo loại tiền tệ: nội tệ, ngoại tệ
Theo nguồn hình thành: huy động dân cư, tiền gửi TCKT, tiền gửi tổ chức tài chính
c Cơ cấu nguồn vốn huy động phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn
Cơ cấu hợp lý là cơ cấu mà ở đó không có tình trạng bất hợp lý giữa nguồn vốn huy động với nhu cầu sử dụng vốn và có thể đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng vốn
Tổng nguồn vốn huy động/ tổng dư nợ cho vay và đầu tư: Chỉ tiêu này đánh giá khả năng huy động vốn của chi nhánh để phục vụ cho vay, chỉ tiêu này còn
đánh giá ngân hàng có sử dụng hiệu quả vốn huy động để cho vay hay không
Chỉ tiêu phản ánh tương quan giữa huy động vốn và sử dụng vốn, là một thước đo thường được các ngân hàng chú trọng nhiều nhất Chỉ tiêu nên được duy trì ở mức hợp lý tùy thuộc vào tiềm lực của ngân hàng Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này tăng mạnh cho thấy ngân hàng có lượng vốn dự phòng ít hơn để tài trợ cho sự tăng trưởng của ngân hàng và để bảo vệ nó trước sự biến động của nguồn vốn huy động, đặc biệt đối với một ngân hàng chủ yếu dựa vào nguồn tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho tăng trưởng tín dụng
Để đạt mục tiêu này, NHTM phải có cơ cấu hợp lý giữa huy động ngắn hạn với cho vay ngắn hạn, giữa huy động trung và dài hạn với cho vay trung và dài
Trang 27hạn Tránh tình trạng rủi ro mất khả năng thanh toán do dùng nguồn vốn ngắn hạn
để cho vay trung dài hạn, dẫn đến mất uy tín của Ngân hàng đối với khách hàng
1.2.4.2 Các chỉ tiêu định tính đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng
Hiệu quả của công tác huy động vốn trong ngân hàng phải được đánh giá qua các khía cạnh sau đây:
Vốn huy động phải đáp ứng hợp lý nhu cầu kinh doanh của Ngân hàng Vốn huy động của ngân hàng phải có sự tăng trưởng, ổn định về số lượng để có thể thoả mãn các nhu cầu cho vay, thanh toán cũng như hoạt động kinh doanh khác ngày càng tăng của ngân hàng Tuy nhiên vốn huy động phải được ổn định về mặt thời gian
Mức độ thuận tiện cho khách hàng: tiêu chí này dựa vào việc khách hàng thực hiện các thủ tục gửi tiền, rút tiền
Mức độ đa dạng các hình thức huy động: Được thể hiện bằng số lượng sản phẩm dịch vụ huy động của ngân hàng tại một thời điểm nhất định Các sản phẩm huy động nguồn vốn đó là kết quả của việc cung cấp nhiều loại kỳ hạn, đa dạng hình thức gửi và rút, lãi suất linh hoạt… để khách hàng có thể lựa chọn khi đến với ngân hàng
Đảm bảo an toàn huy động vốn: Ngày nay, các NHTM luôn cố gắng mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh thông qua việc mở chi nhánh, văn phòng đại diện trong và ngoài nước mà không còn chịu hoạt động bó hẹp trong phạm vi một vùng nào đó
Nói tóm lại, huy động vốn có hiệu quả là huy động vốn vừa ổn định, vừa đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh của ngân hàng
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển các ngân hàng thương mại cần phải nỗ lực hết mình, không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường Trong đó, huy động vốn có tầm quan trọng hàng đầu đặc biệt là tạo lập nền vốn vững chắc thông qua nghiệp vụ huy động vốn, tuy nhiên đó
Trang 28không phải là một bài toán dễ đòi hỏi ngân hàng phải có những nghiệp vụ linh hoạt, hấp dẫn và thiết thực phù hợp từng giai đoạn hoạt động của ngân hàng cũng như tình hình kinh tế chính trị- xã hội, chính sách của Đảng và Nhà nước Muốn vậy ngân hàng cần phải có sự đi sâu phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn:
1.3.1 Nhân tố khách quan
Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế:
Quyết định của khách hàng luôn gắn liền với từng động thái của nền kinh tế Trong điều kiện nền kinh tế bất ổn, giá cả và sức mua của đồng tiền biến động mạnh thì người dân có xu hướng tích trữ vàng, USD hoặc các dạng tài sản khác thay vì đem số tiền đó đi gửi tại các ngân hàng Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định với tỷ lệ lạm phát hợp lý thì người dân sẽ có cái nhìn khả quan hơn
và xu hướng gửi tiền ở các NHTM tăng lên là một điều tất yếu
Nền kinh tế phát triển cũng kéo theo sự phát triển của thị trường tài chính một mặt sẽ tạo thêm một kênh huy động mới cho ngân hàng thông qua việc phát hành các loại giấy tờ có giá tuy nhiên cũng tạo thêm cho ngân hàng một đối thủ cạnh tranh mới đó là việc các doanh nghiệp cũng có thể thông qua đó huy động vốn nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh Mặt khác, không chỉ phải đối mặt với cuộc cạnh tranh quyết liệt trong nội bộ ngành ngân hàng để giành thị phần khi thị trường tài chính phát triển mà ngày càng xuất hiện nhiều định chế tài chính phi ngân hàng như công ty tài chính, công ty chứng khoán… cạnh tranh với ngân hàng trong lĩnh vực huy động vốn
Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu vốn cho nền kinh tế ngày càng nhiều song tự bản thân nó không thể đáp ứng sự tăng lên đó vì vậy các NHTM đóng vai trò cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn, là nơi tập trung tất cả các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, tổ chức kinh tế- xã hội để cung cấp một nguồn vốn lớn cho nền kinh tế góp phần đảm bảo hiệu quả kinh doanh ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế- xã hội và thực hiện Chính sách tiền tệ quốc gia Hiện nay
ở nước ta cũng có những kênh huy động vốn khác bắt đầu hoạt động như công ty
Trang 29chứng khoán, công ty tài chính,… tuy nhiên kênh huy động vốn thông qua hệ thống các NHTM vẫn được coi là kênh chủ yếu và hiệu quả nhất
Nhân tố tiết kiệm trong nền kinh tế:
Năng lực tài chính của người dân cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động huy động vốn của các ngân hàng Khi người dân có thu nhập càng cao thì lượng tiền dành cho tiết kiệm có thể càng tăng, đặc biệt khi thu nhập bình quân đầu người
đã đạt đến một mức độ nhất định thì tỷ lệ tiết kiệm không phải tăng lên theo tương quan tỷ lệ với sự gia tăng của thu nhập mà tăng với một tỷ lệ lớn hơn so với thu nhập do những nhu cầu thiết yếu lúc này đã được thỏa mãn hoàn toàn và lượng tiền
dư ra sẽ tăng nhanh
Bên cạnh đó, nguồn tiết kiệm của các tổ chức kinh tế - xã hội cũng rất quan trọng NHTM có thể huy động được nguồn vốn này thông qua nghiệp vụ phát hành trái phiếu Như vậy tiết kiệm được coi là quốc sách hàng đầu không chỉ với từng cá nhân hộ gia đình mà tất cả các tổ chức kinh tế-xã hội
Chính sách của Nhà nước:
Đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của các NHTM bởi là một chủ thể kinh tế trong nền kinh tế, các ngân hàng phải hoạt động theo pháp luật và tuân thủ các chính sách của Nhà nước Do hoạt động ngân hàng chịu nhiều rủi ro có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động chung của cả nền kinh tế nên ngành ngân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng trung ương, Chính phủ Khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng
sẽ mang lại thuận lợi cho ngân hàng trong việc huy động vốn vay từ Ngân hàng Nhà nước đồng thời nó còn có tác động làm giảm lãi suất trên thị trường tiền tệ, ngược lại khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ khó khăn cho Ngân hàng trong công tác huy động vốn vay từ Ngân hàng Nhà nước Một mặt, ngân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước, Bộ tài chính thông qua một hệ thống các văn bản, quy định về vốn, dự trữ, cách thức hoạt động kinh doanh,…Mặt khác, vì hoạt động của ngân hàng có quan hệ với hầu hết các chủ thể khác trong nền kinh tế nên chịu sự tác động gián tiếp của các văn
Trang 30bản pháp luật quy định cho lĩnh vực kinh doanh nói chung và các ngành nghề kinh doanh khác nói riêng như luật đất đai, luật thuế, luật doanh nghiệp,… Hiện nay, nhận thấy được sự cần thiết phải tập trung vốn cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn chính vì thế Nhà nước đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm khuyến khích các Ngân hàng thương mại ngày càng mở rộng huy động vốn đáp ứng cho nhu cầu về vốn của nền kinh tế
1.3.2 Nhân tố chủ quan
Uy tín của ngân hàng:
Gửi tiền vào Ngân hàng mục đích của khách hàng bên cạnh việc sinh lời còn nhằm mục đích an toàn chính vì vậy họ thường phải có sự cân nhắc trước khi lựa chọn một ngân hàng nào đó đem lại cho họ sự tin tưởng khi đem tài sản của mình gửi vào Thông thường người gửi tiền đánh giá uy tín của ngân hàng thông qua các tiêu thức cơ bản như: hoạt động lâu năm, quy mô, trình độ quản lý, công nghệ, cơ
sở vật chất,…Như vậy, bản thân ngân hàng cần phải ý thức được tầm quan trọng của việc nâng cao uy tín của mình sẽ tạo được “niềm tin” nơi công chúng khi họ giao dịch với ngân hàng, từ đó mới có thể tăng cường công tác huy động vốn
Chính sách lãi suất:
Bao gồm cả lãi suất huy động và cho vay Đây là một chính sách quan trọng của các ngân hàng thương mại đòi hỏi phải có sự linh hoạt vừa hấp dẫn được người gửi vừa phải đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng Thông thường khi lãi suất tăng thì quy mô vốn huy động tăng tuy nhiên có những giai đoạn khi lãi suất giảm nhưng người gửi vẫn thu được một khoản chênh lệch sau khi đã trừ tỷ lệ trượt giá thì vốn huy động vẫn có thể tăng lên Vì người dân thường quan tâm đến lãi suất tiết kiệm để so sánh nó với tỷ lệ lạm phát sự mất giá của đồng tiền và khả năng sinh lời của các hình thức đầu tư khác như cổ phiếu, trái phiếu,… từ đó họ sẽ đưa ra quyết định có nên gửi tiền vào ngân hàng hay không, gửi bao nhiêu với thời gian bao lâu, dưới hình thức nào,…
Đối với các tổ chức kinh tế ít nhạy cảm hơn với lãi suất nhưng họ quan tâm nhiều tới công nghệ ngân hàng, thái độ phục vụ cũng như tính thanh khoản của
Trang 31món tiền gửi vào
Chính sách sản phẩm:
NHTM đã cho ra đời nhiều sản phẩm vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính hiện đại như: tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu,…với sự phong phú về kỳ hạn, mệnh giá và chủng loại Qua đó từng bước đã thu hút được nhiều khách hàng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, với những nhu cầu, mục đích khác nhau Bên cạnh đó việc cân đối vốn cũng là một vấn đề cần quan tâm, thông qua đó ngân hàng sẽ biết được thực trạng và có những dự đoán nhu cầu biến động vốn trong tương lai từ đó có thể đưa ra chính sách huy động vốn thích hợp về số lượng cũng như là loại tiền và kỳ hạn huy động Qua đó sẽ nâng cao tính chủ động của ngân hàng thương mại trong công tác huy động vốn
Chính sách quảng cáo, khuyến mại, mở rộng mạng lưới:
Ngày nay, bất kỳ một doanh nghiệp nào có hoạt động liên quan đến thị trường đều phải chú trọng đến chính sách quảng cáo để tạo được một hình ảnh đẹp, đáng tin cậy trong con mắt của khách hàng Để có được kết quả đó ngân hàng không chỉ cần quảng cáo trên tạp chí, pano, áp phích, inernet,… mà còn cần phải kết hợp với các chính sách khách hàng, sản phẩm, nghiệp vụ tư vấn, tuyên truyền… một cách đồng bộ Với phương châm: “Sự thành công của khách hàng chính là sự thành công của chúng tôi”, ngân hàng phải làm sao cho người dân biết đến hoạt động của mình, thấy được lợi ích khi giao dịch với ngân hàng
Đi liền với hoạt động quảng cáo là những hoạt động khuyến mại, giúp đẩy mạnh hơn hoạt động quảng cáo thu hút vốn vào ngân hàng Các hình thức khuyến mại đa dạng sẽ tạo được tâm lý thoải mái cho khách hàng, nghệ thuật tặng quà nhiều khi không thể hiện ở giá trị món quà mà là ý nghĩa của món quà đối với người được tặng vừa thể hiện được hình ảnh của ngân hàng mà còn thực hiện những dụng ý và mục đích của ngân hàng Nếu ngân hàng có một sự ưu đãi cho những khách hàng gửi tiền món lớn, thường xuyên cũng làm cho khách hàng cảm thấy hài lòng, bên cạnh đó ngân hàng cũng cần chú trọng đến những sản phẩm dịch
vụ và phục vụ sau giao dịch để khách hàng luôn cảm thấy họ được quan tâm chăm
Trang 32sóc chu đáo
Việc mở rộng mạng lưới chi nhánh, địa điểm của ngân hàng cũng ảnh hưởng rất nhiều tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng Một ngân hàng có mạng lưới chi nhánh rộng khắp, địa điểm thuận lợi nơi dân cư có thu nhập cao thường có nhiều cơ hội thu hút được nhiều nguồn vốn hơn so với những ngân hàng có mạng lưới nhỏ hẹp, địa điểm không thuận lợi
Trình độ của đội ngũ nhân viên, trình độ công nghệ:
Đội ngũ nhân viên đặc biệt là những nhân viên giao dịch là những người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng vì vậy nếu trình độ của nhân viên cao, thái độ niềm
nở, ân cần sẽ gây được thiện cảm của khách hàng về “ văn hóa giao dịch” từ
đó tăng lượng khách hàng đến với ngân hàng
Sự phát triển về công nghệ của ngân hàng cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng Trình độ công nghệ cao sẽ làm cho nghiệp vụ được thực hiện một cách tốt hơn, nhanh hơn, chính xác hơn thuận tiện hơn cho khách hàng
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
BIDV ĐÔNG HẢI PHÒNG
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1.1 Sự hình thành của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
Ngày 26/04/1957 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 177/TTg thành lập Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (gọi tắt là BIDV)
Trải qua nhiều thời kỳ với những tên gọi khác nhau, BIDV đã luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam từ ngày 26/04/1957 với quy mô ban đầu gồm 11 chi nhánh, 200 nhân viên với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam từ ngày 24/6/1981 với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc kế hoạch nhà nước tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ ngày 14/11/1990 với nhiệm vụ được thay đổi về cơ bản: Ngoài việc tiếp tục nhận vốn Ngân sách để cho vay các
dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước thì BIDV đã thực hiện huy động các nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay đầu tư phát triển; kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển
Ngày 21/9/1996 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký quyết định số QĐ/NH5 thành lập BIDV theo mô hình Tổng công ty Nhà nước nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hóa và hợp tác kinh doanh, nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và toàn hệ thống BIDV; đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Đây là thời kỳ BIDV đã khẳng định được vị trí, vai trò
286-là ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với danh hiệu Đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới
Trang 34Từ ngày 01/05/2013, được cổ phần hóa với tên gọi Ngân hàng TMCP Đầu tư
và phát triển Việt Nam
Cơ cấu tổ chức của BIDV bao gồm:
Khối ngân hàng: Gồm 118 chi nhánh cấp 1 trực thuộc với 473 Phòng giao dịch và Quỹ tiết kiệm
Khối liên doanh: gồm 6 liên doanh:
Ngân hàng liên doanh VID – PUBLIC (VID – PUBLIC BANK)
Ngân hàng liên doanh Lào – Việt (LAO – VIET BANK)
Ngân hàng liên doanh Việt - Nga (VRB)
Công ty liên doanh quản lý đầu tư BIDV – VP (BVIM)
Công ty liên doanh tháp BIDV
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Campuchia (BIDC)
Khối sự nghiệp gồm: Trung tâm Công nghệ thông tin, Trung tâm Đào tạo và Văn Phòng
Khối công ty (BIDV nắm giữ 100% vốn sở hữu)
Công ty cho thuê tài chính
Công ty bảo hiểm BIDV (BIC)
Công ty chứng khoán đầu tư (BSC)
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (BAMC)
Tháng 5/2013, BIDV đã tiến hành cổ phần hóa với mục tiêu hướng tới trở thành một tập đoàn tài chính ngân hàng đa sở hữu, đa lĩnh vực, hoạt động và quản trị điều hành theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế, nâng cao hiệu quả hoạt động; tiến tới trở thành là một trong những nhà cung ứng hàng đầu sản phẩm dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư và chứng khoán với chất lượng cao, là nhà đầu tư có tính chuyên nghiệp trong thị trường tài chính Việt Nam và thế giới
Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành, BIDV đã không ngừng phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, từng bước vươn lên thành một trong những ngân hàng thương mại lớn, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
Trang 352.1.2 Quá trình phát triển của BIDV Đông Hải Phòng
Năm 2012 là năm đầu tiên BIDV Đông Hải Phòng đi vào hoạt động trong bối cảnh đặc biệt khó khăn của nền kinh tế, 02 năm tiếp theo kinh tế thế giới và trong nước biến động phức tạp, tiềm ẩn rủi ro Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngừng trệ, sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho lớn Số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể và phá sản tăng cao, thị trường bất động sản đóng băng, thị trường vàng và ngoại tệ biến động…tác động không nhỏ đến hoạt động ngân hàng
Ngoài những khó khăn chung của nền kinh tế, của địa phương, của ngành ngân hàng và của hệ thống BIDV, BIDV Đông Hải Phòng còn gặp phải những khó khăn đặc thù của một Chi nhánh mới thành lập, cụ thể như sau:
Xuất phát điểm BIDV Đông Hải Phòng đã nhận bàn giao từ Chi nhánh gốc với số lượng cán bộ nhân viên 64 người, 02 PGD và 02QTK, số dư huy động vốn
là 482 tỷ đồng, dư nợ tín dụng 401 tỷ đồng (nguồn nhân lực được phân giao từ Chi nhánh gốc chiếm tới 30% tổng số CBNV nhưng tổng tài sản sinh lời chỉ có 8% của chi nhánh gốc (883/10.275))
Về tín dụng có 22 khách hàng được bàn giao, phần lớn là khách hàng hoạt động trong lĩnh vực xây lắp chiếm tới trên 75% tổng dư nợ và 01 khách hàng doanh nghiệp nhóm 2, dư nợ tín dụng chiếm 40% Dư nợ chủ yếu tập trung trong 2 khách hàng lớn
Toàn bộ tài sản là trụ sở Chi nhánh và các Phòng giao dịch, QTK phải thuê ngoài, TSCĐ và công cụ lao động phải thuê hoặc mua mới làm tăng chi phí hoạt động
So với ngày đầu mới thành lập thì đến 30/11/2015, Chi nhánh đã phát triển lên thành 10 phòng nghiệp vụ, 05 phòng giao dịch với tổng số cán bộ là 90 người
Là một đơn vị trong hệ thống BIDV Việt Nam, BIDV Đông Hải phòng vì thế cũng thực hiện tất cả các dịch vụ ngân hàng bao gồm các hoạt động huy động vốn,
sử dụng vốn, cung ứng dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
Huy động vốn:
Khai thác và huy động vốn của các tổ chức tài chính, tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước
Trang 36Huy động vốn thông qua việc bán trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi theo quy định của Tổng Giám đốc
Tiếp nhận nghiệp vụ tài trợ, ủy thác và các nguồn vốn khác của các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư cho các chương trình phát triển nhà ở, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng tại Hải phòng và các khu vực lân cận
Sử dụng vốn:
Thực hiện cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng VND và ngoại tệ không phân biệt thành phần kinh tế trên tất cả các lĩnh vực: sản xuất, kinh doanh, thương mại, dịch vụ, tiêu dùng, xây dựng, xuất nhập khẩu,…
Cho vay dự án, thực hiện cấp tín dụng theo chương trình góp vốn, đồng tài trợ Thực hiện việc cho vay theo chỉ định của nhà nước và theo sự ủy thác của các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước
Thực hiện chiết khấu các loại chứng từ có giá, các nghiệp vụ bảo lãnh dự thầu,…
Cung ứng dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
Thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ chuyển tiền, thanh toán quốc tế, chuyển tiền qua mạng SWIFT
Chuyển tiền nhanh bằng hình thức chuyển tiền điện tử
Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, chi trả tiền kiều hồi, chuyển tiền nhanh qua WESTERN UNION
Phát hành thẻ, trả lương qua tài khoản
Dịch vụ ngân hàng điện tử (Internet Banking, Mobile Banking, BIDV Online, tin nhắn BSMS, HomeBanking,…)
Dịch vụ kinh doanh chứng khoán như: đại lý nhận lệnh, môi giới và lưu ký chứng khoán,…
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của BIDV Đông Hải Phòng
BIDV Đông Hải Phòng được tổ chức theo mô hình quản lý trực tiếp, hiện có
10 phòng nghiệp vụ, 05 phòng giao dịch:
Trang 37
Hình 2 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của BIDV Đông Hải Phòng
Khối quan hệ khách hàng: là khối trực tiếp quan hệ với khách hàng, chịu trách nhiệm duy trì và phát triển hoạt động tín dụng và các hoạt động dịch vụ khác của Ngân hàng Chức năng chính của khối trong hoạt động tín dụng là tiếp thị khách hàng và đề xuất các phương án cho vay, thu nợ, xử lý nợ, …
Khối quản lý rủi ro: chịu trách nhiệm rà soát, đánh giá một cách độc lập các
đề xuất tín dụng của khối quan hệ khách hàng và quản lý rủi ro tín dụng Đồng thời thực hiện các công tác về quản lý rủi ro tác nghiệp, phòng chống rửa tiền, quản lý
hệ thống chất lượng ISO và kiểm tra nội bộ
Khối tác nghiệp: là nơi hoàn tất các giao dịch được thực hiện ở các phòng giao dịch, kinh doanh, có các chức năng chính bao gồm: (i) chịu trách nhiệm tác nghiệp cho các nghiệp vụ của ngân hàng như thanh toán, cho vay, thu nợ, kinh doanh tiền tệ, tài trợ thương mại; (ii) Thực hiện chi, trả, nhận tiền và hạch toán vào
hệ thống tài khoản kế toán; (iii) chịu trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ, xử lý giao dịch
KHỐI QUẢN
LÝ NỘI BỘ
KHỐI TRỰC THUỘC
PHÒNG QUẢN TRỊ TÍN DỤNG
PHÒNG GIAO DỊCH KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN
PHÒNG GIAO DỊCH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
PHÒNG QUẢN LÝ
VÀ DỊCH VỤ KHO QUỸ
PHÒNG TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH
5 PHÒNG GIAO DỊCH
PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
PHÒNG KẾ HOẠCH TỔNG HỢP
Trang 38và lưu trữ chứng từ giao dịch của nghiệp vụ thanh toán, cho vay, ; (iiii) chịu trách nhiệm kiểm tra tính xác thực của các giao dịch và tính pháp lý của hồ sơ giao dịch Khối quản lý nội bộ: (i) chịu trách nhiệm về mọi thông tin kế toán và tài chính của ngân hàng; (ii) quản lý, phát triển hệ thống thông tin quản lý phục vụ công tác quản trị điều hành; (iii) quản lý cơ chế điều hành vốn nội bộ và kinh doanh ngoại tệ; (iiii) chịu trách nhiệm về các kế hoạch nhân sự, pháp chế, tổ chức hành chính Khối trực thuộc: bao gồm các phòng giao dịch trên địa bàn Hải Phòng, trực tiếp giao dịch với khách hàng và thực hiện các nghiệp vụ được phép trong thẩm quyền được giao
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV Đông Hải Phòng
2.2.1 Huy động vốn
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, để đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có vốn, vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh Riêng với ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình Với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM Có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của Ngân hàng Tuy nhiên vốn tự có của Ngân hàng thương mại là rất ít do đó các NHTM phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng nguồn vốn huy động trong suốt quá trình hoạt động của mình
Từ khi được thành lập tới nay, trải qua 04 năm chính thức hoạt động, BIDV Đông Hải Phòng đã không ngừng nỗ lực phấn đấu phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu với kết quả đạt được ngày càng lớn, trong đó có công tác huy động vốn Kết quả
huy động vốn của Ngân hàng được thể hiện qua bảng sau:
Trang 40giao lên 2.438 tỷ đồng năm 2014, trong khi đó mức tăng trưởng đối với huy động vốn dân cư cũng có bước phát triển nhanh từ 434 tỷ đồng tại thời điểm bàn giao lên 1.589 tỷ đồng cuối năm 2014
Huy động vốn cuối kỳ 2015 tuy có sự sụt giảm so với cuối kỳ 2014, nhưng huy động vốn bình quân năm 2015 đạt 3.640tỷ đồng so với huy động vốn bình quân năm 2014 đạt 3.190tỷ đồng, đã tăng 450tỷ đồng
2.2.2 Hoạt động cho vay
Hiện nay, nguồn thu chủ yếu của Chi nhánh từ hoạt động tín dụng Vì vậy, tín dụng trong những năm tiếp theo vẫn được đặt ra là nhiệm vụ trọng tâm, là hoạt động chủ yếu, khẳng định tầm vóc và vị thế của ngân hàng trong nền kinh tế Xuất phát từ lý do này mà cần phải tập trung sức để phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động tín dụng
Đơn vị: tỷ đồng
Hình 2 4 Dư nợ tín dụng cuối kỳ
Tổng dư nợ trong hoạt động cho vay tại BIDV Đông Hải Phòng qua các năm
có sự tăng trưởng ổn định Dư nợ tín dụng năm 2011 tại thời điểm bàn giao từ chi nhánh Hải Phòng 401 tỷ đồng tăng lên 2446 tỷ đồng năm 2015, tăng gấp 6.1 lần Điều này cho thấy BIDV Đông Hải Phòng đã dần tạo được một nền tảng khách hàng uy tín và quan hệ tín dụng tốt mang tính ổn định cao, mức dư nợ tín dụng luôn luôn có sự tăng trưởng và ổn định