Sinh hoạt kinh tế Tộc người Chứt vốn là một cư dân nông nghiệp, nhưng do bị phân tánthành những nhóm nhỏ, sống trong điều kiện địa lý gần như tách biệt nhau,nên sinh hoạt kinh tế của các
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 VĂN HÓA CÁC TỘC NGƯỜI THUỘC NHÓM NGÔN NGỮ VIỆT-MƯỜNG 1
I Nguồn gốc lịch sử và địa bàn cư trú 1
1 Nguồn gốc lịch sử 1
2 Địa bàn cư trú 1
II Sinh hoạt kinh tế 1
1 Người Chứt ở các thung lũng 1
2 Người Chứt ở các vùng cao 1
III Văn hóa vật chất 2
1 Trạng thái cư trú 2
2 Y phục và trang sức 3
3 Các hình thức ăn, uống, hút 4
4 Các công cụ sinh hoạt gia đình 4
IV Văn hóa tinh thần 5
1.Tôn giáo tín ngưỡng 5
1.1 Cõi sống và cõi chết trong quan niệm cổ truyền của người Chứt 5
1.2 Các nghi thức thờ cúng 6
1.3 Các nghi lễ, tín ngưỡng liên quan đến chu kỳ một đời người 6
1.4 Các hình thức ma thuật 7
CHƯƠNG 2 VĂN HÓA CÁC TỘC NGƯỜI THUỘC NHÓM NGÔN NGỮ MÔN-KHMER 10
1 Sinh hoạt kinh tế 10
2 Sinh hoạt văn hoá 10
2.1 Trang phục truyền thống 10
2.2 Tập tục 12
2.2.1 Tập tục đi tu để thành người 12
2.2.3 Tập tục cưới hỏi 13
2.2.4 Tín ngưỡng 15
2.2.5 Lễ hội 16
Trang 2CHƯƠNG 3 VĂN HÓA CẤC TỘC NGƯỜI THUỘC NHÓM NGÔN NGỮ
H’MÔNG-DAO 19
I Sinh hoạt kinh tế 19
1 Nông nghiệp 19
2 Chăn Nuôi 19
3 Hái lượm, săn bắn 19
4 Các nghề thủ công 20
II Văn hóa vật chất 20
1 Làng bản 20
2 Nhà cửa 21
3 Y phục trang sức 21
4 Ăn, uống, hút 22
III NẾP SỐNG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI 23
1 Tổ chức làng bản 23
2 Dòng họ, gia đình và hôn nhân 24
3 Sinh đẻ 26
4 Tang ma 27
IV VĂN HOÁ TINH THẦN 27
1 Tôn giáo, tín ngưỡng 27
2 Văn học nghệ thuật dân gian 28
CHƯƠNG 4 VĂN HÓA CÁC TỘC NGƯỜI THUỘC NHÓM HỖN HỢP 30
TỘC NGƯỜI PU PÉO 30
I SINH HOẠT KINH TẾ 30
1 Địa bàn cư trú 30
2 Đặc điểm kinh tế 30
II VĂN HÓA VẬT CHẤT 31
1 Phong tục tập quán 31
2 Trang phục 31
2.1 Trang phục nam 31
2.2 Trang phục nữ 31
III NẾP SỐNG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI 32
1 Nhà cửa 32
Trang 32 Hôn nhân gia đình 32
3 Tục lệ ma chay 33
4 Tục lệ ma chay 33
IV VĂN HÓA TINH THẦN 33
KẾT LUẬN 34
Trang 4MỞ ĐẦU
Các tộc người thiểu số cư trú ở Việt Nam dù cư trú hàng ngàn năm haymới vài ba trăm năm, dù đông hay ít người mỗi tộc người đều gắn bó số phậnmình với lịch sử dân tộc trong nước Các tộc người đều cùng nhau tham gia vàbảo vệ Tổ quốc chung Đặc biệt những thử cách sống còn của giặt ngoại xâm,thiên tai khắc nghiệt liên tiếp xảy ra làm cho các tộc người xích lại gần nhauhơn Họ đã phải dựa vào nhau để chống chọi, để tồn tại và phát triển Trải quaquá trình đó, các tộc người đã chung đúc nên truyền thống đoàn kết bền vững,hình thành nên một đại gia đình Việt Nam của các tộc người anh em Trongbức tranh đa dạng và phong phú ấy, văn hoá các tộc người Việt Nam là nhữngmảng màu đặc sắc và quý hiếm
Góp phần vào kho tàng văn hoá phong phú và đa dạng của văn hoá ViệtNam phải kể đến nhóm các tộc người thuộc Ngữ hệ Nam Á
Ngữ hệ Nam Á ở Việt Nam gồm 32 tộc người và cũng là 32 ngôn ngữkhác nhau Chính vì như vậy nên về sinh hoạt kinh tế và văn hoá của các tộcngười cũng rất khác nhau và mang tính đa dạng phong phú
Dải đất hình chữ S còn vô vàn những điều thú vị cần khám phá và tìmhiểu Các tộc người thiểu số phân bố từ Bắc chí Nam, mỗi tộc người có nétsinh hoạt kinh tế cực kì khác biệt, họ sống bên cạnh hay xen kẽ với những tộcngười chủ thể; mặc dù vậy họ vẫn giữ được nét riêng của tộc người họ
Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về cách ăn, mặc, ở…hay nói tóm gọn là
là tất cả những gì thuộc về thường ngày của họ và văn hoá của họ, chắc chắn
sẽ có nhiều thứ mình chưa biết và rất thú vị
Trang 5CHƯƠNG 1 VĂN HÓA CÁC TỘC NGƯỜI THUỘC NHÓM NGÔN NGỮ
II Sinh hoạt kinh tế
Tộc người Chứt vốn là một cư dân nông nghiệp, nhưng do bị phân tánthành những nhóm nhỏ, sống trong điều kiện địa lý gần như tách biệt nhau,nên sinh hoạt kinh tế của các nhóm người Chứt có khác nhau
2 Người Chứt ở các vùng cao
Bộ phận người Chứt ở Hóa Sơn, Thượng Hóa, Dân Hóa gần sát biên giớiViệt-Lào làm rẫy, làm ruộng vãi , săn bắn, đánh cá, hái lượm, chăn nuôi
Trang 6Người Chứt thường phát triển kinh tế nương rẫy, kết hợp với kinh tế
ruộng vãi, chăn nuôi, nên đời sống của họ tương đối ổn định Những năm khí
hậu thuận hòa nguồn sản xuất lương thực lúa, ngô của họ đảm bảo 8 đến 9tháng, những năm khí hậu khắc nghiệt, thì nguồn lương thực chỉ đủ ăn 6 đến 9tháng Thời gian còn lại đồng bào thường ăn sắn, khoai và các loại sản vậtkhác của kinh tế tước đoạt trong những khu rừng nhiệt đới
Người Chứt ở vùng cao nhưng họ thường định cư ở nhưng nơi thunglũng hẹp, đất tương đối bằng phẳng để làm ruộng khô, chăn nuôi và nươngrẫy còn nhóm Mày, Arem, Rục, Mã Liềng sống ở vùng cao, trên các sườn dốckhông có điều kiện làm ruộng khô, nên thường du canh, du cư với nền kinh tếnương rẫy quá lạc hậu, chăn nuôi cũng không phát triển, và vì thế đời sốngcủa họ cho đến nay còn rất đói nghèo, lạc hậu
Như vậy , cơ cấu kinh tế của các nhóm người Chứt bao gồm những hìnhthái ruộng nước, nương rẫy, chăn nuôi và các nghề phụ gia đình, kinh tế khaithác ( săn bắn, đánh cá, hái lượm)
III Văn hóa vật chất
Làng bản: sống du canh du cư trong rừng núi Họ phải đương đầu với
mãnh thú để giành giật từng hang động rèm đá Nhưng do đặc điểm kinh tế ducanh, du cư, hang động không đảm bảo cho sự di chuyển thường xuyên của
họ, nên những túp lều tạm bợ, lợp bằng lá cây rừng lại mọc lên phổ biến Vềsau do sự phát triển của sức sản xuất, họ có thể định canh, định cư trong mộtthời gian nhất định, nên mái nhà tương đối bền vững được mọc bên nhữngtriền núi cao, đầu nguồn nước
Còn bản người Chứt thường ở những vùng thung lũng thấp, tương đốibằng phẳng, nơi có điều kiện phát triển ruộng nước, ruộng vãi và nương rẫy
Trang 7Thường khi vùng đất xung quanh bản, nguồn lợi của tự nhiên cạn kiệt,như cây nhúc, cây nghèn đã hết, thú vật, chim muông nghèo nàn, đất đai khôcằn… hoặc trong bản có người chết bất đắc kỳ tử, có dịch bệnh triền miên…
là đồng bào lại dời bản đi nơi khác
Nhà cửa: Nhà cửa của người Chứt mang dáng dấp của một tộc người sinh
sống trong hoàn cảnh địa lý quá khắc nghiệt các bước tiến hành làm nhà của
họ rất đơn giản Lúc đầu gia đình tự chuẩn bị và tập trung những nguyên vậtliệu như gỗ tre, nứa, tranh, mây, dây buộc… đem đến mảnh đất đã chọn Sau
đó chủ nhà chọn ngày tốt để tiến hành làm nhà Những ngày tốt là những ngàychẵn trong tháng Riêng tháng bảy là người Chứt không làm nhà, vì cho thángbảy là tháng xấu Sau khi định ngày chủ nhà báo cho dân bản biết để mọingười cùng tham gia
Ở người Chứt có hai loại nhà: nhà sàn và nhà đất Mỗi loại nhà gắn liềnvới từng nhóm người nhất định:
Trang phục của người Chứt còn rất thô sơ Trước đây , trong hoàn cảnh
sống quá khắc nghiệt, đa số các nhóm người Chứt đều để tóc dài, búi tóc saugáy Ở họ trang sức hầu như không có, còn trang phục hết sức nghèo nàn, đơngiản Đàn ông, đàn bà đều lấy vỏ cây làm áo khố Cây thường chọn để lấy vỏlàm áo, váy là những sui, rang, si, dò…
Trong thời gian gần đây, với sự vận động định canh định cư, người Chứtchịu sự tác động mạnh mẽ về y phục của người Nguồn và y phục của nhómKhùa thuộc tộc người Vân Kiều
Nhóm người Sách chịu ảnh hưởng y phục của người Việt Phụ nữ mangloại váy kín màu đen không có hoa văn, có dây rút ở đầu váy, giống như váycủa người Việt
Trang 8Về trang sức, ở nhóm người Sách người phụ nữ thường đeo loại hoa taibằng bạc hay đồng và chuỗi hạt cườm mua được ở người Việt hay người Lào,
ít thấy trường hợp phụ nữ đeo vòng
Người đàn bà Rục, Arem, Mã Liềng trước đây thường đeo những vòng
vỏ ốc núi ở cổ như chuỗi hạt cườm của người Việt Đồng bào quan niệmngười phụ nữ đeo vòng ốc vào sẽ gặp may mắn trong công việc hái lượm Vàđàn ông thường đeo những vuốt hổ, răng nanh lợn rừng Đồng bào quan niệmnhững vật đó là “ bùa hộ mệnh”, giúp cho họ tránh được thú dữ, gặp may mắntrong săn bắn
3 Các hình thức ăn, uống, hút
Người Chứt nấu cơm, ngô, sắn bằng phương pháp “ làm pồi” Cho hạt
ngô vào nước ngâm 3-4 tiếng, sau đó vớt hạt ngô ra khỏi nước, để ráo cho vàonồi giã thành bột Sắn tươi gọt vỏ, rửa sạch, chặt thành nhiều miếng nhỏ, chovào cối giã nhỏ Lúa cho vào cối giã nhỏ cả gạo và vỏ trấu bên ngoài Sau khi
đã đâm nhỏ lúa, ngô, sắn, đồng bào bắt đầu nấu pồi
Người Chứt thường uống nước chè xanh ( pha thêm ít muối ), nước lã,hoặc nước lá ngái, lá cây rừng và uống rượu
Người Chứt rất thích hút thuốc và nghiện thuốc Người Chứt tự trồng lấycây thuốc ở trong các nương rẫy Thuốc được quấn theo kiểu loa kèn, một đầu
to, một đầu nhỏ Thường trẻ em từ 6 đến 7 tuổi đã bắt đầu hút và hút hầu nhưliên tục cả ngày
4 Các công cụ sinh hoạt gia đình
Những công cụ dùng trong săn bắn và hái lượm như nỏ, giáo, gùi nhỏ,giỏ…
Những công cụ liên quan đến kinh tế sản xuất:
Tiếp nhận các dụng cụ sản xuất do Nhà nước cung cấp và trao đổi vớingười Nguồn Đó là những chiếc rìu, rựa, liềm, cuốc, lưỡi cày… phục vụ chosản xuất nương rẫy và ruộng nước Chỉ có chiếc gậy chọc lỗ là dụng cụ duynhất liên quan đến kinh tế sản xuất do đồng bào tự làm lấy
Trang 9Những dụng cụ sinh hoạt hằng ngày trong gia đình như cối, chày, ốngnấu pồi, thúng, mủng, mẹt.
Những giá trị văn hóa vật chất của người Chứt hết sức nghèo nàn
về chủng loại và ắt ỏi về số lượng Nó đang bị mai một dần cùng thời gian.Điều đó phản ánh một đời sống vật chất hết sức thấp kém của tộc người này
IV Văn hóa tinh thần
1.Tôn giáo tắn ngưỡng
1.1 Cõi sống và cõi chết trong quan niệm cổ truyền của người Chứt
Hầu như xung quanh họ, từ núi rừng,, sông suối, trời đất đến nhà cửaẦđâu đâu cũng có những lực lượng Ộcu muýchỢ ( thần ma) trú ngụ: các loại Ộthần maỢ cai quản núi rừng, đất đai mà con ngýời đang ở Những Ộ thần maỢthýờng Ộ đòi ănỢ, nên làm bất cứ việc gì, đồng bào cũng cúng bái, dâng lễ vật Trong các loại ma, ma trời , ma nhà, ma rú, ma suối thì ma trời được coi
là quan trọng nhất, cai quản toàn bộ các loại ma khác Nhưng thực tế ma ảnhhưởng đến đồng bào nhất là ma nhà
-Chắnh những lực lượng siêu nhiên đó là nguyên nhân của mọi may mắn,thành đạt trong lao động sản xuất, trong cuộc sống hằng ngày, và cũng lànguyên nhân của mọi rủi ro, tai họa như mất mùa, đói kém, ốm đau,ẦMuốntăng thêm may mắn, hạn chế rủi ro, theo đồng bào không có cách nào khác làphải cũng tế thường xuyên
Như vậy, thế giới quan của người Chứt bắt nguồn từ quan niệm vạn vậthữu linh
Theo đồng bào không gian vũ trụ chia làm ba phần
+ Tầng trên ỘPlờiỢ là thế giới cao xa của vũ trụ
+ Tầng giữa là thế giới mặt đất, nơi con người và vạn vật sinh sống.+ Tầng dưới là thế giới dành riêng cho những người xấu
Cõi sống và cõi chết theo quan niệm cổ truyền của người Chứtbiểu hiện một sự nhận thức sai lệch thế giới tự nhiên và con người Coi mọivật đều có linh hồn Từ nhận thức sai lệch đó dẫn đến những hoạt động tôngiáo tắn ngưỡng như cũng tế, dâng lễ vật, ma thuậtẦ rất phức tạp Điều đó,
Trang 10gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến công việc xây dựng xã hội mới ở ngườiChứt.
1.2 Các nghi thức thờ cúng
Những hình thức thờ cúng có liên quan đến nghề săn bắn, đến chu kỳ laođộng nương rẫy và trồng lúa nước như sau:
+ Những hình thức thờ cúng liên quan đến nghề săn bắn
Hàng năm cứ đến tháng 9 Pự Cavel chọn ngày tốt rồi cử những người tàigiỏi đi săn thú rừng Thú rừng săn được người ta vứt bỏ phần ruột, còn đểnguyên cả con quay chín trên bép lửa Mọi thành viên trong cavel cùng mangtheo lễ vật như bột nhúng, củ mài, củ sắn, gạo nếp, rượu… đến một địa điểm
đã định sẵn, trên mỗi bãi đất bằng gần cavel Lễ cúng thường tổ chức vào buổisáng khi Chôblú và Pự Cavel cúng xong, người ta cắt đầu, tai, đuôi, bốn chânđưa vào rừng, chỗ những người đàn ông đã bắt được thú để cúng thần săn,mong thần phù hộ cho công việc được may mắn
+ Những nghi thức liên quan đến chu kỳ lao động nương rẫy
Lễ Kloống: là lễ tìm đất để làm nương rẫy
Lễ lấp lỗ: là lễ cúng được tiến hành sau công việc chọc lỗ tra hạt đã hoàntất
Lễ cơm mới: là lễ cầu xin thần lúa và các vị thần linh khác cho phép thuhoạch mùa màng
1.3 Các nghi lễ, tín ngưỡng liên quan đến chu kỳ một đời người
Sinh đẻ: Người đàn bà sau khi sinh xong có thể tự mình chăm nom lấyđứa trẻ và tự chuẩn bị những đồ ăn, thức uống Người Chứt quan niệm rằng,nếu người đàn bà sinh đẻ tại nhà hay làng bản , thì sẽ gây nhiều tai họa chonhững người thân và dân làng Vì người đàn bà khi sinh mang nhiều vía xấu,khi đứa trẻ mới ra đời, nó được tắm rửa sạch sẽ để làm sạch vía, đuổi vía xấu
ra khỏi thân thể của nó Sau 30 ngày hai vợ chồng nấu nước lá thơm đổ lênhòn đá xông rồi mới được về nhà Khi về đến nhà người chồng chuẩn bịnhững lễ vật như rượu, thịt, cơm để cúng báo cho ông bà, tổ tiên, thần linh biết
về đứa trẻ, một thành viên mới trong nhà của mình
Trang 11Cưới hỏi: Trai gái được tư do tìm hiểu yêu đương Khi đôi trai gái đã tìmhiểu nhau đến độ chín muồi thì báo với gia đình để chuẩn bị làm lễ cưới Côngviệc đầu tiên là chọn ngày tốt Nhà trai mang sang nhà gái những lễ vật nhưnồi, rìu, rựa, gạo và đặc biệt có một con lợn để cúng mời thần linh về chứngkiến tình yêu của họ.
Làm nhà: Chủ nhà chọn ngày lành tháng tốt rồi tự mình dựng cột cái lên
trước, sau đó mới nhờ bà con giúp đỡ và chỉ có chủ nhà mới được phép ngồiphía trên cột coloốc để lợp, khi nhà đã hoàn tất, chủ nhà tự tay nhen lên mộtbếp lửa, bếp lửa đó phải được cháy liên tục ba ngày ba đêm Sau đó chủ nhà tựmình hoặc mời thầy rang, thầy xây ( thầy cúng ) tổ chức lễ cúng để xin phépông, bà thần linh phù hộ cho gia đình được may mắn trong cuộc sống
Tang ma: Ở đa số nhóm người Chứt, khi ba mẹ, ông bà chết, con cháu
báo cho bà con dân bản biết Người chết được bó chiếu để dọc giữa nhà trướccửa buồng chủ, đầu quay về hướng cuối nhà Người chết được để ở nhà bangày Trong thời gian đó con cháu làm lợn, gà cúng mời người đã chết và cácthần linh, tổ tiên về dự lễ
1.4 Các hình thức ma thuật
Ma thuật chữa bệnh: Khi đau ốm họ mời thầy cũng đến bói tìm nguyên
nhân gây bệnh và sau đó tiến hành lễ dắc si Thầy cúng đầu đội vòng hoarừng, tay cầm hai ống nước kéo đi kéo lại và đọc rầm rầm lời cúng gọi các ma
về nhận lễ lễ vật gồm 7 cái bánh, một con gà, một đĩa trầu cau Sau khi cúngxong thầy cúng buộc dây chỉ vào tay người ốm để giữ vái lại Đối với trẻ em,người ta vắt một nắm cơm nhỏ và buộc chỉ ( khi qua núi khe, mà sau đó bịđau, thì phải mang lễ vật đến nơi núi khe đó để gọi vái về )
Sau khi cúng gọi vái về, chủ nhà phải làm cơm, canh, rượu cúng nhờ ma
nhà phù hộ cho người đau Việc cúng vái không quá cầu kỳ, nếu nhà nghèoquá thì chỉ đốt trầm hương với nước suối là đủ Ông thầy cúng cũng không đòihỏi lễ vật gì, chủ nhà có cái gì biếu cái đó
Trang 12Ma thuật làm hại: Từ chỗ sợ hãi ma thuật làm hại, người Chứt tin rằng có
ma người sống ( Cha nanh hay cha vạ) Đó là việc đồng bào gán cho một sốngười hoặc một số gia đình nào đó có ma đáng sợ nói trên Người bị gán là
“cha nanh”, “cha vạ” là người “xấu mồm, xấu miệng”, hay quở mắng nói năngngười khác, mà ngẫu nhiên sau đó người bị quở mắng đau ốm, hoặc chiêm baothấy một người nào đó đến làm hại mình Đặc biệt người Chứt có quan niệm
kẻ lười nhác là “Cha nanh” Đồng bào cho rằng, người “ Cha nanh” có mộtthời kì đi học phù phép, phù chú và có thuốc độc Họ chính là kẻ gây tai họacho dân làng là nguồn gốc đau ốm, bệnh tật, mất mùa… nên bị mọi người cămghét xa lánh Đồng bào cho rằng “ cha nanh” trông thấy người ốm sẽ làm chongười ốm nặng thêm, thấy quả đang chín sẽ làm cho nó thối, thấy trẻ em sẽlàm cho nó đau…Bản thân những người xấu số mang tiếng có ma đó rất khổtâm Họ bị coi là người rất nguy hiểm “ không trong sạch” con cái của họ khólấy vợ, lấy chồng ( vì con ma đó sẽ theo sang gia đình khác )
Lợi dụng lòng tin đó, một số kẻ xấu tự gán cho thành viên nào đó tronglàng ( thường là những ngừoi quá nghèo đói hoặc là người có biệt tài nhất định) là “cha nanh, cha vạ” chuyện có ma đi gây hại người khác Đồng bào quanniệm rằng, sỡ dĩ có ma người sống, là vì những gia đình có người chết dokhông lo việc ma chay chu đáo nên hồn vía người chết không có nơi ăn , chốn
ở, sống bơ vơ trên trần gian, lâu ngày thành “cha nanh, cha vạ” nhập vào concháu
* Văn nghệ dân gian
- Truyện cổ là một lọai hình chiếm ưu thế trong kho tàng văn học dân
gian của người Chứt Nó thể hiện quan niệm con người về vũ trụ Về cuộcđấu tranh chống chọi với thiên nhiên, về khát vọng của con người vươn đếncuộc sống ấm no, hạnh phúc
- Trong kho tàng văn hóa dân gian của người Chứt, những làn điệu dân
ca nổi lên như một loại hình đặc sắc đượm tính chất trữ tình Với nội dung
Trang 13phong phú dân ca được sử dụng trong nhiều khung cảnh Bằng lời ca dịu ngọt,mang giai điệu trầm lắng, đi vào tâm thức của con người, phản ánh tình yêulao động, yêu tự do và tình yêu lứa đôi, tha thiết Dân ca người Chứt gắn bómột cách tự nhiên với sinh hoạt hàng ngày của đồng bào.
- Nhạc cụ dân gian: Nhạc cụ có trong sinh hoạt tinh thần của người Chứtcũng khá phong phú Tuy nhiên hiện nay, những loại hình nhạc cụ ở đồng bào
bị mai một, rơi rụng dần, chúng ta chỉ còn thấy được bóng dáng một nhạc cụnhư: đàn ống, sáo, tù, chiêng,…
CHƯƠNG 2 VĂN HÓA CÁC TỘC NGƯỜI THUỘC NHÓM NGÔN NGỮ
MÔN-KHMER
Người Khmer phần lớn sống tập trung ở Campuchia Còn ở Việt Nam thìngười Khmer sống chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam thuộc
Trang 14các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, HậuGiang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre vàđược gọi là Khmer Crộm (theo phiên âm tiếng Việt của tiếng Khmer có nghĩa
là dưới)
1 Sinh hoạt kinh tế
Người Khmer đã biết thâm canh lúa nước từ lâu đời Đồng bào biết chọngiống lúa, biết làm thủy lợi và lợi dụng thủy triều để thau chua, xổ phèn cảitạo đất, có địa phương trồng nhiều dưa hấu Đồng bào cũng phát triển kinh tếtoàn diện như chăn nuôi trâu bò để cày kéo, nuôi lợn, gà, vịt đàn, thả cá vàphát triển các nghề thủ công như dệt, gốm, làm đường từ cây thốt nốt
Đặc điểm kinh tế: Nông nghiệp dùng cày và thâm canh lúa nước Bộ nông
cụ khá hoàn thiện và hiệu quả, thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ,đặc biệt nhất là việc cày bằng hai trâu Đồng bào thành thạo nghề đánh cá, dệt,chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm Chăn nuôi nuôi trâu
Trang 15Cách đây ba, bốn mươi năm phụ nữ Khmer Nam Bộ thường mặc váy(xăm pốt) là một loại váy bằng tơ tằm, hình ống và thường kín Chiếc váy điểnhình là loại xăm pốt chân khen, một loại váy hở, quấn quanh thân nhưng khácnhiều tộc người khác cũng có loại váy này với cách mang váy vào thân Ngườiphụ nữ Khmer mang luồn giữa hai chân từ sau ra trước, rồi kéo lên dắt cạnhhông tạo thành như chiếc quần ngắn và rộng Ngày thường người phụ nữKhmer thường mặc trang phục bằng tơ lụa, màu sắc khá rực rỡ, bao gồm mặcváy, áo dệt bằng tơ tằm, hay chỉ kim tuyến thêu hoa văn khác nhau Trong đó
áo tầm vông (còn gọi là áo cổ vòng) thường được dệt bằng tơ tằm hay chỉ kimtuyến với nhiều họa tiết hoa văn khác nhau sẽ được kết hợp hài hòa với xàrông là một mảnh thổ cẩm rộng khoảng 1m, dài 3,5m khi mặc thì cuốn lại chenửa người phía dưới và để tôn thêm nét dịu dàng uyển chuyển đầy nữ tính, đặcbiệt dù mặc trang phục nào đi nữa thì cũng không thể thiếu “Sbay” là một loạikhăn lụa mềm mại được cuốn chéo từ vai trái xuống bên sườn phải Bên cạnh
đó, trên các loại trang phục người phụ nữ Khmer còn đính thêm hạt cườm,kim sa và các loại hoa văn khác để cho màu sắc thêm rực rỡ Trong lễ cưới, côdâu mặc áo dài màu vàng thêu kim tuyến và đính hạt cườm ở phía trước vớicác đồ trang sức chủ yếu làm bằng hạt cườm, đồng và thêm vào một số trangsức quí hiếm khác như hoa tai làm bằng đồng, vàng, bạc và các loại hoa tươi
để tôn vinh vẻ đẹp trong ngày vui nhất đời của người phụ nữ Khmer Vậy nênkhi mặc bộ trang phục truyền thống Khmer, người phụ nữ sẽ cảm thấy thânhình trở nên dịu dàng, uyển chuyển, thùy mị hơn
2.2 Tập tục
2.2.1 Tập tục đi tu để thành người
Người Khmer mang tín ngưỡng Phật giáo nên có nhiều lễ hội và đờisống sinh hoạt cộng đồng gắn với tôn giáo này, theo đó ngôi chùa của ngườiKhmer là một giá trị văn hóa vật thể đặc biệt Đó là nơi tập hợp cư dân trongvùng, là nơi diển ra hầu hết các lễ hội cộng đồng Các lễ hội tôn giáo này vẩncòn được đồng bào Khmer gìn giữ và thực hành như lễ ban hành giáo lý, lễ
Trang 16Phật đản, lễ dân áo cà sa, lễ an vị tượng Phật, lễ kết giới,… Tất cả những lễhội đó tuy rằng chỉ là lễ hội của tôn giáo nhưng vào những ngày này hầu hếtnhững bà con người Khmer điều tham gia như thực hiện trách nhiệm của mìnhvới cộng đồng.
Giá trị văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng của dân tộc Khmer còn biểu hiện
rõ ở vị trí nhà Sư Đối với người Khmer, Sư cả của một ngôi chùa là trung tâmđoàn kết của cả phum, sóc Trước kia, khi hệ thống pháp luật vẫn còn hạn chếthì Sư cả có vị trí như một “quan tòa” nên ngôi chùa và nhà Sư của ngườiKhmer chính là người nắm giữ và lưu giữ hầu hết những giá trị văn hóa.Ngoài ra những lễ hội lớn của cộng đồng người Khmer tuy rằng sẽ không phải
là các lễ hội tôn giáo nhưng nhà Sư vẫn có một vị trí nhất định bởi trong mộtcuộc lễ hội nào đó như lễ hội đua ghe ngo thì nhà Sư là người quyết định mọiviệc, từ việc tuyển chọn, phân công người tham gia lễ hội, đến việc hạ thủyghe ngo, ngày giờ tập luyện…
Vị trí của nhà Sư luôn ở vị trí trang trọng nhất trong các lễ hội nêncon trai trong các gia đình Khmer đến 12 tuổi thường được đưa vào chùa đi tu.Nhưng việc đi tu ở đây không phải là nhu cầu, mục đích cá nhân mà là một tậptục, một sắc thái của người dân Khmer Việc đi tu này là hoàn toàn tự nguyện,
có người tu 3 ngày, có người tu 3 năm hay lâu hơn, người Khmer coi việc đi tu
là để thành người, là để được xã hội nhìn nhận như một người có đầy đủ tưcách về đạo đức và văn hóa như việc trả ơn cha mẹ, học tập văn chương, ngônngữ, phong tục,… Ngày xưa, trong quan niệm của người Khmer nếu ngườicon trai nào không qua giai đoạn tu trong chùa thì bị xã hội và gia đình cho làbất hiếu và lớn lên rất khó lấy vợ, bởi vì người con gái Khmer đến tuổi lấychồng, họ thường chọn những chàng trai đã qua tu luyện trong chùa, đã hoàntục Theo họ, đó là người đã hoàn thành nghĩa vụ và học được cách làm người,nhất là biết chữ nghĩa, được mọi người trọng vọng
Trang 17Lễ đi tu của người Khmer thường được tổ chức vào ngày đầu Lễ ChôlChnam Thmây Vào ngày này, gia đình nào muốn đưa con vào chùa tu, bắtbuộc vài tháng trước đó, người con trai này phải vào chùa học thuộc vài bàikinh cơ bản, họ sẽ tổ chức một lễ gọi là Bank-Bom-Buôn để người đi tu từ giã
họ hàng, bạn bè và được mọi người cầu chúc sức khoẻ Trước khi vào lễ, anh
ta cạo đầu, thay quần bằng chiếc xà rông, thay áo bằng một khăn vải trắng đắplên vai từ trái sang phải để chứng tỏ rằng anh ta đã từ bỏ thế tục Lúc đó người
ta gọi anh là Nec (rồng) Để vào lễ, buổi tối họ mời sư sãi đến tụng kinh, cúngTam bảo và thọ giới theo Phật Vào sáng hôm sau, khi cơm nước xong xuôi,
họ đưa con trai lên chùa, có bạn bè thân quyến mang lễ vật cùng đi theo Đếnchùa, họ đi vòng quanh chánh điện ba vòng rồi mới vào trong làm lễ Ở đây cómột nhà sư ngồi gọi là Uppachhe giảng dạy, hỏi và đọc các điều của luật tuhành cho các nec nghe để sau đó nec mới cầm áo cà sa đi vào hàng giữa sư sãi
và đọc lời xin tu Khi vị thượng toạ chấp thuận thì nec mới đi thay xà rông vàkhăn trắng bằng áo cà sa, tiếp theo là lễ thọ giới 10 điều của Phật giáo gồmkhông sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uốngrượu, không ăn ngoài bữa, không xem múa hát, không dùng đồ trang sức,không chiếm ghế cao và giường êm, không đụng đến vàng bạc Cuối cùng, cácnhà sư cùng Phật tử tụng kinh cầu phước cho người mới tu hành và chúng sinh
để chấm dứt buổi lễ
2.2.3 Tập tục cưới hỏi
Trong phong tục hôn nhân, mùa cưới của người Khmer Nam bộ bắtđầu từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch, vào khoảng thời gian thời tiết khô ráo vàmùa màng đã thu hoạch xong Với đồng bào Khmer Nam Bộ, nam nữ đến tuổitrưởng thành thì được tự do tìm hiểu nhau để tiến đến hôn nhân Nhìn chung,phong tục hôn nhân cổ truyền được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước lễnói, lễ nói, lễ hỏi và lễ cưới Trong đó, lễ cưới là quan trọng nhất
- Giai đoạn trước lễ nói: Hai họ xem ngày tháng năm sinh của chú
rể và cô dâu có hợp tuổi hay không, nếu hợp thì lúc bấy giờ sẽ tiến hành các
Trang 18bước tiếp theo Như vậy, trên thực tế việc cưới hỏi bắt đầu từ đám nói đến hỏi
và cưới
- Giai đoạn lễ nói: Bao giờ nhà trai cũng mời người mai mối đạidiện thưa chuyện với nhà gái Trước nay người làm mối đại diện phía nhà trai
là một người phụ nữ đã có gia đình, đức hạnh, có cuộc sống hạnh phúc
- Giai đoạn lễ hỏi: diễn ra sau khi nhà trai đã chọn được ngày lànhtháng tốt dự định cho hôn lễ
- Giai đoạn lễ cưới: Gia đình và bà con thường tổ chức ba ngày bênnhà gái
Theo đó, ngày đầu tiên gọi là ngày nhập gia, bên nhà trai làm lễ đưachú rể sang nhà gái, đoàn đi mang theo lễ vật gồm trầu cau, rượu, thịt, và mộtmâm buồng bông cau Nhiều đám cưới còn mời thêm dàn nhạc cổ truyền dântộc đi kèm Ngày thứ hai cử hành lễ cưới phải chọn giờ tốt, trước tiên việcquan trọng là cúng ông bà, tổ tiên và ăn trầu đính ước, buổi chiều sẽ làm lễ cắttóc cho cô dâu, chú rể rồi đưa họ đến miếu để cúng, xin thần công nhận cho họ
là thành viên mới của phum, sóc Đến buổi tối gia đình mời sư sãi, dâng cơmcho sư cúng, tụng kinh chúc phúc, dâng bánh trái cho cha mẹ cô dâu để nhớcông ơn dưỡng dục vợ và mở tiệc đãi khách hai họ Ngày thứ ba, thực hiệnphong tục lạy ông bà, họ hàng Đến giờ tốt cô dâu và chú rể thắp đèn làm lễ.Lúc này thầy cúng và ông mai làm lễ cắt hoa cau lên đôi trẻ tức là gia đình haibên dẫn dắt cô dâu và chú rể ngồi làm lễ sánh duyên cho đôi vợ chồng mớicưới, dưới sự chủ trì của ông Maha Trước khi cắt buồng hoa cau non đang ốp
bẹ, ông Maha múa điệu “Rom-bơk-bai-srây” có ý nghĩa là họ hàng đôi bên đãchính thức cho phép hai người kết duyên thành vợ thành chồng Ông Maha cắtlấy hoa cau trắng rắc lên tân lang, tân nương và rắc từ chỗ ngồi cho đến đường
đi vào buồng tân hôn để chúc phúc đôi uyên ương Sau đó là múa mở nắpmâm trầu và làm lễ buộc chỉ cổ tay cho cô dâu, chú rể có kèm theo tặng phẩmtiền hoặc vàng cùng lời chúc mừng lứa đôi hạnh phúc Ở lễ buộc chỉ cổ tay, họhàng hai bên chúc phúc cho đôi vợ chồng trẻ sống trăm năm bằng cách lấy sợi
Trang 19chỉ hồng cột tay chú rể trước rồi đến cô dâu Họ đàng trai cột tay phải cô dâu
và chú rể, họ đàng gái cột tay trái chú rể và cô dâu, dưới sự chủ trì của ôngMaha Cuối cùng khi làm lễ xong đôi vợ chồng dắt nhau vào buồng tân hôn,người chồng nắm vạt áo “Sbai” của người vợ theo sau
Vào đám cưới, người Khmer Nam Bộ có một nghi thức rất đặc biệt làviệc “cắt bông cau” Tức cha mẹ chú rể nhờ hai người thanh niên chưa vợ đicắt bông cau (theo quan niệm của bà con là bông vàng, bông bạc) mang về để
ở một nơi cùng chiếc đèn dầu nhỏ thắp nhang khẩn cầu cho đôi vợ chồng trămnăm được hạnh phúc Bông cau ở đây gồm 3 bó: bó thứ nhất là để tạ ơn cha(21 sợi cau được buộc bằng chỉ trắng với 21 miếng cau và trầu), bó thứ hai là
để tạ ơn mẹ (12 sợi cau được buộc bằng chỉ trắng với 12 miếng cau và trầu),
bó thứ ba là để tạ ơn anh chị (6 sợi cau được buộc bằng chỉ trắng với 6 miếngcau và trầu) Ngoài ra còn một đặc sắc nữa của hôn lễ đồng bào Khmer Nam
Bộ là tục “quét chiếu” Cụ thể là khi cô dâu và chú rể vào phòng thì sẽ có mộtngười cao tuổi theo sau, đó là người khỏe mạnh, đông con, nhiều cháu Ngườinày đem chiếc chiếu ra và hỏi: “Có ai chuộc chiếu không?”, lúc đó chú rểbước ra nhận chiếu trải ra và mời cô dâu cùng vị chủ lễ ngồi, rồi để lên chiếumột vật có giá trị để tặng những người đã giúp đỡ trong việc tổ chức hôn nhân
2.2.4 Tín ngưỡng
Bên cạnh tín ngưỡng Phật giáo sinh ra nhiều lễ hội mang nét đặctrưng và gắn với tôn giáo này Đạo Phật Tiểu thừa là tôn giáo chính của ngườiKhơme Nam Bộ đã thâm nhập khá lâu vào trong sinh hoạt đời sống của quầnchúng nên những lễ hội của họ dù bắt nguồn từ đâu vẫn mang màu sắc tôngiáo và không thoát khỏi cổng chùa Trong quá trình phát triển lịch sử, các lễhội còn chịu sự pha tạp của những yếu tố tôn giáo khác như đạo Bà La môn,song ở đây cũng tồn tại khá rõ nguồn gốc lễ nghi nông nghiệp của cư dântrồng lúa nước Điều đó cũng dễ nhận biết qua các lễ hội tiêu biểu như lễĐônta (lễ cúng ông bà tổ tiên), hay lễ Ok Om Bok (lễ cúng trăng) lại diễn ravào thời điểm giữa mùa mưa và mùa nắng, lễ Chôl Chnam Thmây (tết năm