1. Trang chủ
  2. » Mầm non - Tiểu học

SKKN Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cường Tiếng việt trẻ dân tộc thiểu số 56 tuổi tại lớp lá 1 trường MN Cư Pang

55 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cường Tiếng việt trẻ dân tộc thiểu số 56 tuổi tại lớp lá 1 trường MN Cư PangSKKN Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cường Tiếng việt trẻ dân tộc thiểu số 56 tuổi tại lớp lá 1 trường MN Cư PangSKKN Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cường Tiếng việt trẻ dân tộc thiểu số 56 tuổi tại lớp lá 1 trường MN Cư PangSKKN Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cường Tiếng việt trẻ dân tộc thiểu số 56 tuổi tại lớp lá 1 trường MN Cư PangSKKN Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cường Tiếng việt trẻ dân tộc thiểu số 56 tuổi tại lớp lá 1 trường MN Cư PangSKKN Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cường Tiếng việt trẻ dân tộc thiểu số 56 tuổi tại lớp lá 1 trường MN Cư PangSKKN Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cường Tiếng việt trẻ dân tộc thiểu số 56 tuổi tại lớp lá 1 trường MN Cư PangSKKN Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cường Tiếng việt trẻ dân tộc thiểu số 56 tuổi tại lớp lá 1 trường MN Cư Pang

Trang 1

I Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

Ngôn ngữ là phuơng tiện giao tiếp, là hiện thực trực tiếp của tư duy Sử dụng ngôn ngữ tốt không thể không tính đến yếu tố mạch lạc Ngôn ngữ mạch lạc là ngôn ngữ có nội dung rõ ràng, cụ thể, có trình tự, logic, có thể được sử dụng hỗ trợ bằng các quan hệ từ, câu chuyển ý được người nghe lĩnh hội và hiểu đung Ngôn ngữ mạch lạc cũng thể hiện năng lực tư duy và

hiểu vấn đề của trẻ ( Trích Môđun 3 BDTX)

Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ biến của người Việt Nam, là phương tiện quantrọng nhất để lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xungquanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học, để bồi dưỡng tâm hồn Hoàn thành xongchương trình mẫu giáo trẻ 5-6 tuổi, trẻ đứng trước một nền văn hóa đồ sộ của dântộc và nhân loại mà nó có nhiệm vụ phải lĩnh hội những kinh nghiệm của cha ông

để lại, đồng thời có sứ mạng xây dựng nền văn hóa đó trong tương lai Cho nênviệc phát triển tiếng Việt cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo là một nhiệm vụ cực kìquan trọng, mà ở tuổi mẫu giáo lớn nhiệm vụ đó phải được hoàn thành Đặc biệtđối với trẻ là con em đồng bào dân tộc thiểu số thì nhiệm vụ này là hết sức cầnthiết Bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ của trẻ, nênkhó khăn trong việc tiếp nhận tiếng Việt, dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng củacô

Vì vậy việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cầnđược quan tâm, nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng cần thiết cho việchọc tiếng Việt ở các bậc học cao hơn là cơ hội để sớm hình thành ở trẻ nhữngnăng lực hoạt động ngôn ngữ thái độ, phát triển trí tuệ và kĩ năng làm quen vớicác môn học khác Qua đó giáo dục tình cảm và phát triển tư duy mở rộng vốnhiểu biết của trẻ góp phần vào việc phát triển nhân cách toàn diện, chuẩn bị chotrẻ một hành trang “tiếng Việt” vững chắc để trẻ bước vào lớp 1

Bản thân là một giáo viên, thường xuyên được phân công chủ nhiệm lớp Látrên địa bàn buôn knul Buôn có số trẻ dân tộc thiểu số chiếm 100% Hầu hết trẻdân tộc Ê đê đến trường đều nói bằng tiếng mẹ đẻ, không nghe hiểu được tiếngViệt, bản thân là một giáo viên phụ trách lớp lá tôi luôn trăn trở, suy nghĩ làmsao, làm như thế nào, bằng phương pháp gì? để giúp trẻ hiểu và nói được tiếng

Trang 2

Việt chính xác và thành thạo, chính vì điều băn khoăn trăn trở ấy tôi đã lựa chọn

đề tài “Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cường Tiếng việt trẻ dân tộc thiểu số 5-6 tuổi tại lớp lá 1 trường MN Cư Pang”.

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

Mục tiêu:

Giúp trẻ hiểu biết về tầm quan trọng của việc nghe và hiểu được lời hướngdẫn các hoạt động của giáo viên, thông qua việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻdân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện cho trẻ mầm non

Nhiệm vụ:

Thông qua lồng ghép tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số,trẻ nhận ra được cái đẹp, phẩm chất cao quý của con người, đặc biệt là tình yêuđối với ngôn ngữ nghệ thuật

Lồng ghép tăng cường tiếng Việt còn giúp trẻ mở rộng nhận thức, pháttriển trí tuệ, giáo dục đạo đức, thẩm mĩ, phát triển ngôn ngữ, tạo hứng thú đọcsách, kỹ năng nghe hiểu cho trẻ

3 Đối tượng nghiên cứu:

Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cường Tiếng Việt trẻ dân tộc thiểu

số

4 Giới hạn của đề tài:

Khuôn khổ nghiên cứu: Một số biện pháp giáo dục lồng ghép, tăng cườngtiếng Việt trẻ dân tộc thiểu số 5-6 tuổi tại lớp lá 1

Đối tượng khảo sát: Trẻ lớp lá 1 ở trường Mầm Non Cư Pang huyện KrôngAna – Đắk Lắk

Thời gian nghiên cứu: Tháng 8 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu:

a Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

Phương pháp thu thập những thông tin qua các tư liệu trên Internet, nhữngvấn đề thực tiễn liên quan đến công tác lồng ghép, tăng cường tiếng Việt

b Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động tăng cường tiếng Việt của trẻ ởlớp

Phương pháp điều tra: Trò chuyện, trao đổi với các giáo viên, và cha mẹ trẻ

Trang 3

Tham khảo những kinh nghiệm của các giáo viên, đồng nghiệp.

Phương pháp thử nghiệm: Thử áp dụng các giải pháp vào công tác giáo dụclồng ghép tăng cường tiếng Việt trẻ năm học 2017- 2018 tại lớp lá 1 trường MN

Cư Pang

c Phương pháp thống kê toán học:

Ngay từ đầu năm học học bản thân tôi đã thu thập các số liệu, thông tin vềhoạt động tiếng Việt của trẻ lập bảng thống kê xem tiến trình của trẻ phát triểnnhư thế nào trong năm học 2017-2018

II Phần nội dung

1 Cơ sở lý luận:

Thực hiện Nghị quyết số 1008/QĐ- TTG về việc phê duyệt đề án lồng ghéptăng cường tiếng Việt cho trẻ Mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc tiểu số giaiđoạn 2016- 2020, định hướng 2025 với mục tiêu tập trung tăng cường tiếng Việt chotrẻ Mầm non, học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số, bảo đảm các em có kỹ năng

cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục Mầm non,tạo điều kiện để học tập lĩnh hội tri thức các cấp học tiếp theo góp phần nâng caochất lượng cuộc sống và phát triển bền vững các dân tộc thiểu số góp phần vào sựtiến bộ, phát triển đất nước

Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải liên quan mật thiết với việc phát triểncủa bán cầu đại não và hệ thần kinh nói chung, bộ máy phát âm nói riêng Vì thế

cần phải phát triển ngôn ngữ đúng lúc mới đạt kết quả tốt (Trích phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em nhà xuất bản Đai học Huế)

Trẻ càng lớn thì vốn từ càng tăng nhanh, theo các nghiên cứu thì năm lên 4tuổi vốn từ của trẻ là 1200 từ, 5 tuổi là 2000 từ và khi được 6 tuổi vốn từ của trẻlên đến 3000 từ Sự linh hoạt và phong phú trong ngôn ngữ của trẻ không chỉ phụthuộc vào tuổi, mà nó phụ thuộc rất lớn vào môi trường ngôn ngữ xung quanh trẻ,

nó bao gồm cả môi trường lớp học, môi trường gia đình và môi trường văn hóa

xã hội ở địa phương nơi mà trẻ sinh sống (Trích môđun 3 tài liệu bồi dưỡng thường xuyên)

Độ tuổi lớp lá là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm non” tức làlứa tuổi trước khi đến trường phổ thông Ở giai đoạn này cần tạo tâm lý đặc trưngcủa con người đã được hình thành, đặc biệt là trong độ tuổi lớp lá vẫn tiếp tục

Trang 4

phát triển mạnh Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽđược hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lý: nhận thức, tình cảm

và ý chí… để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách conngười

Vì vậy, là một giáo viên mầm non chúng tôi phải làm sao cho trẻ sử dụngđược thành thạo tiếng Việt trong đời sống hằng ngày Tiếng Việt là phương tiệnquan trọng nhất để trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân tộc để giao lưu với những ngườixung quanh, để tư duy, để tiếp thu tri thức khoa học, kinh nghiệm để làm phongphú tâm hồn trẻ Cho nên việc phát triển tiếng Việt cho trẻ em ở lứa tuổi mầmnon một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, mà ở độ tuổi mẫu giáo lớn nhiệm vụ đóphải được hoàn thành

Đất nước Việt Nam ta có rất nhiều dân tộc anh em nhưng tiếng Việt là ngônngữ chính để giao tiếp trao đổi với nhau thuận lợi hơn Tuy nhiên trong thực tếhiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trước khi đến trườngtrẻ chỉ sống trong gia đình, ở các thôn bản nhỏ, trong môi trường tiếng mẹ đẻ dovậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ Trẻ biết rất ít hoặc thậm chíkhông biết tiếng Việt Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ được dùng chính thứctrong trường học và các cơ sở giáo dục khác Trên thực tế tiếng nói các dân tộcthiểu số, hầu như chưa có vai trò rõ rệt trong việc hỗ trợ tiếng Việt trong giáo dục

vì vậy, cho đến nay việc dạy và học tiếng Việt ở các vùng dân tộc thiểu số chỉ đạtkết quả thấp Đặc biệt ở lớp chúng tôi đa số các cháu là người dân tộc Êđê việcnghe và nói tiếng Việt rất kém, mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình thì trẻ vẫnnói bằng hai thứ tiếng mà chủ yếu là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học

Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng dễ dàngđối với học sinh dân tộc thiểu số Ở lớp trẻ mới dùng tiếng Việt nói với giáo viênkhi cần thiết còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dântộc mình, dẫn đến tình trạng cô và trò không hiểu nhau dẫn đến chất lượng chămsóc giáo dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong muốn Vì vậy việc cungcấp tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là hoạt động cần thiết nhằm giúp học sinhchưa biết hoặc biết ít tiếng Việt có thể học tập và sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữchính thức một cách đơn giản hơn

Trang 5

2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu:

Việc cho trẻ làm quen tiếng Việt hiện nay chưa mang lại kết quả như mongmuốn, những biện pháp đã sử dụng trước đây như tạo môi trường, tích hợp lồngghép, thông qua hoạt động vui chơi chưa đạt hiệu quả cao cụ thể như: vào đầunăm học, tôi đã chủ động kiểm tra, khảo sát trẻ 26 trẻ lớp lá 1 trường MN CưPang đạt kết quả như sau:

TỔNG SỐ TRẺ

ĐƯỢC KHẢO SÁT

Trẻ phát âm chuẩn tiếng Việt

Trẻ phát âm chưa chuẩn

tiếng Việt

Nguyên nhân khách quan:

Ưu điểm: Được sự quan tâm sâu sắc của các cấp ủy Đảng, chính quyền địaphương, hội cha mẹ học sinh và đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo của bộ phậnchuyên môn Phòng giáo dục và đào tạo cũng như: Lãnh đạo nhà trường đầu tư về

cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, các chị em bạn bè đồng nghiệp luôn sẵn sàng hỗtrợ giúp đỡ tôi hoàn thành tốt công tác

Được sự đầu tư của công ty DakMan trường có cơ sở vật chất đầy đủ Cóphòng học rộng rãi thoáng mát, trang thiết bị đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trẻđầy đủ

Hạn chế: Trường Mầm non Cư Pang là một trường quốc lập mới đượcthành lập từ tháng 6/2014, đóng tại địa bàn buôn Knul Xã Eabông thuộc vùngđặc biệt khó khăn của huyện Krông Ana Buôn Knul với 99% là dân tộc Êđêtrình độ dân trí thấp, chưa đảm bảo được mức sống cho người dân Đa số ngườidân chưa có nhận thức đúng mức về việc cho trẻ đến trường và tầm quan trọngcủa việc cung cấp vốn tiếng Việt Do đó chưa có sự quan tâm đến con em mình,

sự phối hợp với nhà trường còn hạn chế Hầu hết các cháu chưa đến trường, cáccháu còn rất bỡ ngỡ với tất cả các hoạt động, đặt biệt là tiếng Việt

Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số trước khi tới trường đều sống hoàn toàn trongmôi trường tiếng mẹ đẻ, không có vốn tiếng Việt ban đầu nên việc giáo dục lồngghép tăng cường tiếng Việt còn khó khăn

Trang 6

Nguyên nhân chủ quan:

Ưu điểm: Là một giáo viên trẻ đầy nhiệt huyết thường xuyên học hỏi, thamgia các lớp bồi dưỡng chuyên môn và các đợt sinh hoạt chuyên đề, hội thi đồdùng, đồ chơi để học tập và rút kinh nghiệm

Một số cha mẹ trẻ nhiệt tình, luôn sẵng lòng giúp đỡ phối hợp với giáo viênchủ nhiệm trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ

Hạn chế:

Là một giáo viên người kinh đã tham gia học tiếng Ê đê nhưng nhiều lúccũng không nghe hiểu trẻ nói gì, nên việc giao tiếp với trẻ cũng gặp khó khăn.Các bậc cha mẹ học sinh chưa xác định được tầm quan trọng của việc chocon em đến trường Mầm non theo đúng độ tuổi, chưa nhận thức được tầm quantrọng của việc cho trẻ đến lớp Kiến thức về chăm sóc cũng như kỹ năng nuôi dạycon của phụ huynh còn hạn chế

Cha mẹ trẻ thường cho trẻ lên rẫy cùng, không cho trẻ đến lớp theo đúng độtuổi, Các hộ gia đình cách xa nhau làm hạn chế quá trình giao tiếp của trẻ vớimọi người xung quanh, bên cạnh đó trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn, chưa tựtin vào bản thân

3 Nội dung và hình thức của giải pháp:

a Mục tiêu của giải pháp

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận cho thấy có mối quan hệ giữa các yếu tố kiếnthức, thái độ và thực hành để hình thành hành vi, và thói quen Mỗi giải phápđưa ra nhằm tác động vào từng yếu tố theo hướng tích cực như: Nâng cao sựhiểu biết, nhận thức của trẻ về thái độ, làm cho trẻ yêu thích, hứng thú với việclàm quen tiếng Việt từ đó trẻ tích cực hình thành thói quen làm quen tiếng Việtthường xuyên và đúng cách

Trước tình hình thực tế ở lớp tôi, tôi nghĩ việc cung cấp tiếng Việt cho trẻdân tộc thiểu số là một việc hết sức quan trọng cần thiết và cấp bách

Hình thành ở trẻ các kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt rõ ràng,mạch lạc

Hình thành cho trẻ kĩ năng tự nhận thức về bản thân, kĩ năng biết hợp tácphối hợp với bạn, kĩ năng thực hiện theo chỉ dẫn, yêu cầu của người lớn, kĩ năng

tự bảo vệ bản thân và mọi người xung quanh

Trang 7

Phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trẻ mạnh dạn, tự tin vào bản thân và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp:

Để góp phần đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ mầm non Tôi đãtuyên truyền phụ huynh tích cực hợp tác với giáo viên, cùng thống nhất cách dạytiếng Việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi, gần gũi trò chuyện với trẻ kết hợp với cử chỉ,hành động để trẻ dần được làm quen với tiếng Việt một cách tự nhiên không gò

bó Khi dạy trẻ, giáo viên cần xác định trước những loại từ, câu nào sẽ sử dụngkhi hướng dẫn trẻ

Biện pháp 1: Nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, tìm hiểu nghiên cứu các phương pháp dạy lấy trẻ làm trung tâm

Bản thân là tổ trưởng tổ khối lá được tham các chuyên đề tăng cường tiếngViệt, Xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm, phát triển bộ chuẩn trẻ 5 tuổi

do phòng giáo dục, cụm chuyên môn tổ chức, trực tiếp tham gia giảng dạy cácchuyên đề lồng ghép tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số, được trựctiếp các cụm trưởng, giáo viên các trường góp ý xây dựng thêm các biện pháplồng ghép tăng cường tiếng Việt nên bản thân có một số kinh nghệm sau:

Hệ thống câu hỏi giúp trẻ phát huy được tính tích cực sáng tạo, giúp trẻnắm được các từ tiếng Việt đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

Hệ thống câu hỏi bài tập cô đặt ra câu hỏi dựa trên tri giác và trí nhớ tái tạocủa trẻ nhằm ghi nhận những kiến thức của đối tượng yêu cầu trẻ miêu tả nhữngkiến thức mà trẻ vừa quan sát hay nhắc lại nhiệm vụ của cô giáo

Câu hỏi sáng tạo có nhận thức nhằm giúp trẻ sử dụng những kiến thức đãnắm

Khi sử dụng câu hỏi giáo viên cần chú ý đặt câu hỏi phải ngắn gọn cụ thể đủ

ý, nội dung câu hỏi phải vừa sức trẻ, các khái niệm trong câu hỏi phải quen thuộcvới trẻ nên đặt nhiều dạng câu hỏi cho một vấn đề các câu hỏi phải có hệ thống,phải kích thích sự suy nghĩ của giáo viên, phải đặt câu hỏi mang tính đa dạng để

mở rộng vốn từ cho trẻ, tập cho trẻ hiểu và sử dụng nhiều cách đặt câu hỏi để chotrẻ ứng dụng vào các tìn huống khác nhau của cuộc sống

Biện pháp 2: Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý và ngôn ngữ của trẻ, Lập kế hoạch cho hoạt động lồng ghép

Trang 8

Ngay từ đầu năm được phân công đứng lớp lá 1 tôi đã bắt đầu nghiên cứuđặc điểm tâm sinh lí cũng như ngôn ngữ của tất cả trẻ trong lớp

Trẻ nói được nhờ nghe người lớn nói và bắt chước Phát triển vốn từ cho trẻ

là việc tổ chức có kế hoạch, có khoa học nhằm cung cấp, làm giàu vốn từ, nângcao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hoá vốn từ cho trẻ, giúp trẻbiết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động giao tiếp thì trước tiên ngườigiáo viên phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lý trẻ từ đó lâp kế hoạch giáo dục đặcbiệt là tiếng Việt, chính vậy ngay từ đầu năm học nhận sự phân công ở lớp lá 1,đầu tiên tôi tìm hiểu về đặc điểm cử từng trẻ qua khảo sát, qua trò chuyện với trẻ,đến với cha mẹ trẻ tìm hiểu nơi trẻ sống chú ý đến những trẻ nối ngọng, phát âmchưa chuẩn

Ví dụ: Một số trẻ nhút nhát nhận biết tiếng việt chậm, lười đi học, từ đó bắttay vào việc lên kế hoạch năm, chủ đề, tuần và lựa chọn các nội dung luyện tậpcho trẻ tăng cường tiếng Việt vào các hoạt động trong một ngày

Lập kế họach 35 tuần chú trọng phát triển ngôn ngữ soáy sâu lồng ghép

tăng cường tiếng Việt, theo chương trình khung, bộ chuẩn, các tiêu chí xây dựnglấy trẻ làm trung tâm, Bdtx môdun 3

Ví dụ: Tháng 9: Với chủ đề trường Mầm non tuần Ngày hội bé đến trườngtôi lên kế hoạch tăng cường tiếng Việt cho trẻ từ “ Chào cô’” vào các ngày thứ hai,thứ ba, thứ tư và ôn lại các ngày sau

Biện pháp 3: Xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm, trang trí lớp học lôi cuốn hấp dẫn trẻ.

Đây là nguyên tắc dạy học quan trọng để hình thành biểu, hình ảnh ban đầucho trẻ mầm non Học bằng chơi chơi mà học, tăng cường tiếng Việt không chỉdừng lại ở hoạt động cho trẻ làm quen với các hoạt động mà còn được tắm trongmôi trường tiếng Việt, cho trẻ vận dụng những kiến thức kĩ năng đã có giúp trẻnhớ lâu hơn về các hình ảnh, với tiêu chí mỗi ngày trẻ đến trường là một ngày vuichúng tôi đã tham mưa, vận động phụ huynh tạo môi trường cho trẻ từ ngoài vào,bắt đầu đến trường đã thấy vui và hứng thú bằng các hình ảnh có tiếng Việt ngay

từ cổng trường

Trang 9

Hình ảnh trẻ được vui chơi ngoài làm quen tiếng Việt qua từ trong tranh

Với trẻ 5-6 tuổi cần phải tăng cường tổ chức loại tiết học này ở ngoài trời.Ngoài ra có thể phối hợp tổ chức tiết học vừa ở trong phòng học vừa ở ngoài trời

ở những nơi thoáng mát và thuận lợi cho việc tổ chức cho trẻ hoạt động với đốitượng và đàm thoại vì vậy xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động lồng ghép tăngcường tiếng Việt ở ngoài trời với Tiêu chí 4 ( Xây dựng môi trường lấy trẻ làm

Trang 10

trung tâm) Có các góc chơi phù hợp, chỉ số 8: phù hợp, an toàn, thân thiện vớitrẻ, chỉ số 9: Đa dạng đồ dùng phù hợp với trẻ

Ví dụ: Làm các gian hàng từ tre, nứa, bẹ dừa để trẻ bán hàng ngoài trờiđồng thời lồng ghép môi trường tiếng Việt như từ “ Gian hàng” “rau củ quả”Trong giang hàn nước giải khát tăng cường từ: “Cửa hàng tạp hóa” “ sữa tươi” với nhiều đồ dùng đồ chơi đa dạng trong giang hàng

Hình ảnh trẻ được vui chơi ngoài sân và làm quen tiếng Việt

Trang 11

Hình ảnh Trẻ chơi với nước, cát, chăm sóc cây có tiếng Việt

Để phát âm tốt tiếng Việt trước tiên tôi cho trẻ phát âm đúng các chữ cáithường xuyên qua các góc học tập, ở những góc chơi được trang trí hấp dẫn nhưGóc ong tìm chữ và ghép từ tiếng Việt để phát âm tốt và nhớ lâu hơn

Hình ảnh các góc chơi được trang trí đề trẻ phát triển tiếng Việt

Trang 12

Tạo môi trường lấy trẻ làm trung tâm rèn cho trẻ kỹ năng ghép hình, lắpráp, tô màu, vẽ dán, sắp xếp theo quy tắc, nhận biết số lượng, biểu tượng, hìnhảnh phù hợp với chủ đề tạo môi trường phù hợp sử dụng những sản phẩm của trẻ

để tạo cho trẻ tự trang trí

Ví dụ: ở chủ đề hiện tượng thiên nhiên, trang trí góc chủ đề có đám mây,cầu vòng trong môi trường tiếng Việt vừa có hình ảnh vừa có từ tiếng Việt “Đámmây” “Cầu vòng” để trẻ thường xuyên có cơ hội phát âm tiếng Việt

Hình ảnh Môi trường tiếng Việt trong lớp học

Trang 13

Ở chủ đề quê hương đất nước với bảng đồ nước Việt Nam tôi cho trẻ làmquen từ “bản đồ” trẻ được lắp ghép các vùng miền lại với nhau trên các vùngmiền đó có các từ chỉ địa danh trẻ có thể làm quen như từ: “Hà nội” “Thừa thiênHuế” “Hồ Chí Minh” “Cà Mau”… và khắc sâu hơn

Hình ảnh: Bản đồ mãng rời để lắp ghép có tiếng Việt

Biện pháp 4: Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ thông qua các hoạt động

Trong tất cả các giờ học tôi đều có hình ảnh đập vào mắt trẻ trò chuyện vàđặt câu hỏi tôi luôn khuyến khích trẻ nói và trả lời cô bằng tiếng Việt

Tổ chức các hoạt động cho trẻ bằng phương pháp lấy trẻ làm trung tâm, gợi

mở, khơi gợi để trẻ tự suy nghỉ và trẻ lời

Hoạt động làm quen với toán:

Chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1, kiến thức sơ đẳng nhất là trẻ phải biếtđếm, thêm bớt, chia nhóm, tạo nhóm trong phạm vi 10, trẻ nhận biết các hình,các khối, biết thực hiện các thao tác đo Để trẻ làm được điều đó trước hết người

Trang 14

giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học phù hợp với chủ đề với đề tàiđiều này rất cần thiết vì nó tạo cho trẻ sự hứng thú, lôi cuốn hơn khi được nhìnngắm những đồ dùng đẹp, mới lạ và đặc biệt là được hoạt động với những đồdùng đó.

Ví dụ: Ở chủ đề phương tiện giao thông, làm quen chữ số 10, tôi cho hìnhảnh 10 chiếc thuyền, Cho trẻ đọc chuẩn nhất trả lời và phát âm trước và các bạndân tộc thiểu sốphát âm chưa chuẩn phát âm lại số 10

Hoạt động làm quen văn học:

Ở trẻ mầm non sự tập trung chú ý của trẻ chưa cao, chưa có ý thức tronghoạt động học tập bên cạnh đó vốn tiếng Việt của trẻ còn hạn chế nên làm quanvăn học cho trẻ dân tộc thiểu số là một khó khăn không nhỏ Bản thân luôn họchỏi tập luyện lời nói, câu văn trước khi lên lớp

Đối với hoạt động dạy thơ cô luôn tạo cho trẻ sự chú ý tập trung bằng giọngđọc thơ diễn cảm, cử chỉ điệu bộ, tiến hành cho trẻ đọc thơ bằng nhiều hình thức(cả lớp đọc, thi tài giữa các tổ, các nhóm, các nhân, đọc nối đuôi…) cô chú ý sữasai cho trẻ và đồng thời khuyến khích, tuyên dương khi trẻ đọc đúng

Ví dụ: Bài thơ có tên là gì? Cả lớp phát âm, tổ, cá nhân nhắc lại từ

Với hoạt động làm quen văn học môn kể chuyện cô giảng nội dung câuchuyện ngắn gọn dể hiểu nhằm giúp trẻ nắm được nội dung câu chuyện Để cháunhớ và hiểu câu chuyện sâu hơn, cô có thể kể nhiều lần bằng nhiều hình thức nhưqua tranh minh họa, mô hình hoặc rối… khi kể cô thể hiện cử chỉ, điệu bộ, giọngnói, hành động của từng nhân vật một cách rõ ràng, phù hợp với tính cách củatừng nhân vật để trẻ có thể hiểu và cảm nhận được đâu là nhân vật hiền lành, đâu

là nhân vật hung dữ, cho trẻ hóa thân thành các nhân vật qua trò chơi đóng kịch

Ví dụ: Trẻ nhập vai các con vật trong câu chuyện chú Dê Đen đóng kịch rèncách phát âm tiếng Việt với các từ: “ dê kia mày đi đâu”, “tôi đi tìm lá non đểăn”

Với những hình thức như trên vốn từ tiếng Việt của trẻ đã tăng lên một cách

rõ rệt và đó cũng là một động lực to lớn thúc đẩy cô giáo tiếp tục tìm tòi các biện

Trang 15

pháp khác để áp dụng vào dạy trẻ nhằm giúp trẻ tiếp thu và tăng vốn từ tiếngViệt.

Hoạt động khám phá khoa học

Đây là một môn học mà đòi hỏi người giáo viên phải tìm ra những nghệthuật để lên lớp, sử dụng các phương pháp quan sát và đàm thoại qua các hìnhảnh, mô hình mới lạ hấp dẫn khắt sâu hơn hình ảnh và ngôn ngữ cho trẻ giúp trẻphát triển nhận thức và ngôn ngữ tích cực nhất, vì vậy chúng ta cần phát huy hếttác dụng của môn học này để dạy trẻ Có thể biến tiết học thành một cuộc thi tài,một chuyến tham quan hay một cuộc dạo chơi thú vị

Môn khám phá khoa học giúp trẻ phát triển nhận thức và ngôn ngữ tích cựcnhất, vì vậy tôi nghĩ cần phát huy hết tác dụng của môn học này để dạy trẻ

Ví dụ: Chủ đề Thế giới động vật:

Khi cho trẻ quan sát tranh con chó và tôi đố cả lớp đây là con gì? Thì trẻ trảlời “Asâo” (tiếng Việt có nghĩa là con chó) Trước tình huống đó tôi nói với cáccháu: “cô và các con cùng thi xem ai nói giỏi nhé cô sẽ nói tiếng của các con vàcác con nói tiếng tiếng Việt các con có đồng ý không?” và tiết học của chúng tôi

đã trở thành một “cuộc thi tài” trẻ nào cũng muốn mình là người chiến thắng, vàtình huống trên đã được thay đổi các cháu đã cố gắng nói bằng tiếng Việt mỗi khi

cô đưa tranh ra

Tôi hướng dẫn các cháu cách phát âm đồng thời sửa sai kịp thời cho cáccháu, khuyến khích, tuyên dương những trẻ phát âm đúng, sửa sai và hướng dẫncho các cháu phát âm chưa đúng, giúp các cháu khắc phục cũng như hạn chếđược lỗi mất dấu khi phát âm

- Với hình thức “Thi tài” hay “Đố vui có thưởng”… giữa cô và trẻ thì trẻ đã

có thể nghe và hiểu được câu hỏi của cô

Ví dụ: Chương trình “Đố vui có thưởng” cô bốc thăm và đọc câu hỏi: Conchó là động vật sống ở đâu? Trẻ nào biết thì lắc xắc xô và được quyền trả lời:Thưa cô con chó là động vật sống trong nhà…Trẻ trẻ lời Con chó, chọn tranh vàcác trẻ ở dưới nhắc lại kiểm tra xem bạn phát âm đúng chưa

Trang 16

Trong chủ đề: Thực vật, Đề tài: Trò chuyện về một số loại quả Cô cho trẻ

tham quan khu vườn trái cây, lồng ghép, tăng cường bằng các câu hỏi “ đây làcây gì? Trẻ trả lời và cô khắt sâu bằng các tình hống như chưa nghe để trẻ nói lạinhiều lần cô khen trẻ tặng quà cho trẻ, trẻ chưa trả lời được thì mời bạn khác trảlời giúp, và cho trẻ nhắc lại, nếu trẻ vẫn không trả lời được thì cô có thể gợi ý vàcho trẻ nhắc lại từ cần tăng cường như : Quả đu đủ, quả mậm

động lễ hội sôi nỗi hấp dẫn như: Lễ hội đêm trăng rằm, Mừng ngày nhà giáo Việt Nam, Ngày của mẹ, Tài năng nhí tập cho các cháu đóng vai làm ca sĩ lên giới

thiệu về bản thân, sở thích… và biểu diễn cho các bạn xem, cứ lần lượt như vậy

và tất cả các cháu đều được tham gia Bước đầu các cháu chỉ thuộc lời của bài hát

và tiếp đến các cháu đã dần cảm nhận được giai điệu của bài hát và hiểu được nộidung của bài hát, hỏi trẻ về tên bài hát, nội dung bài hát điều này giúp các cháu

có khả năng nghe và hiểu tiếng Việt tốt

Trang 17

Hoạt động làm quen chữ cái:

Nội dung của hoạt động này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữcái, bên cạnh đó còn giúp trẻ đọc đúng các từ, hiểu được nội dung các từ, từ đógiúp trẻ sử dụng từ đã biết để diễn đạt ý mình muốn nói

Cô giáo tạo tình huống nhằm lôi cuốn trẻ hứng thú hơn vào hoạt động Côgiới thiệu chữ cái, phân tích cấu tạo của chữ và cho trẻ phát âm chữ cái đó Côcho trẻ quan sát và nắm được đặc điểm của chữ cái và để khắc sâu hơn về đặcđiểm, cấu tạo và nhận biết chính xác các chữ cái, cô giáo thiết kế các trò chơi phùhợp với nội dung để tổ chức cho trẻ nhằm giúp trẻ nắm được các chữ cái, khôngnhững vậy mà còn giúp cho trẻ phát âm các chữ cái một cách chính xác hơn

Ví dụ: Trò chơi : Ô cửa bí mật, ghép các nét thành con đường có chữ cái theo yêu cầu, Chiếc nón kỳ diệu, gạch chân chữ cái theo yêu cầu, bánh xe chữ cái… cho trẻ phát âm chữ cái đó nếu trẻ phát âm chính xác cô tuyên dương và

cho cả lớp cùng phát âm theo, nếu trẻ phát âm chưa chính xác cô có thể giúp trẻbằng cách cô phát âm và cho trẻ phát âm lại

Hình ảnh trò chơi ghép các nét thành con đường và phát âm

Trang 18

Trẻ dân tộc thiểu số vốn từ tiếng Việt còn hạn chế Khả năng nhận thức vàtiếp thu chậm, vì vậy trong quá trình chuẩn bị ngôn ngữ tiếng Việt, kiến thức, kĩnăng trẻ giáo viên cần phải có sự kiên nhẫn, nhẹ nhàng, tạo cho trẻ tâm thế thoảimái trong mọi hoạt động, không áp đặt trẻ, cho trẻ được tự do thảo luận hay nóinhững suy nghĩ của trẻ.

Biên pháp 5: Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi

Để làm tăng hiệu quả trong việc cung cấp vốn từ tiếng Việt cho trẻ thì việccung cấp vốn từ cho trẻ mọi lúc, mọi nơi là điều hết sức cần thiết

Giờ đón, trả trẻ cô luôn vui vẻ, tạo sự gần gũi, yêu thương trẻ, nhắc nhở trẻlồng ghép tiếng Việt “Chào mẹ”, “Chào cô” cất đồ dùng đúng nơi qui định, chảitóc, lau mặt, sửa sang quần áo cho trẻ, trò chuyện thân mật, tạo sự gần gũi giữa

cô và trẻ bằng một số câu giờ chơi tự do tôi tạo mọi tình huống cho trẻ tiếp xúcvới tiếng Việt, như tổ chức một số trò chơi và cô cùng tham gia với trẻ Cho trẻhát hoặc đọc các bài thơ có trong chương trình…không những vậy tôi luôn tìmmọi cách để thay đổi hình thức giúp trẻ không thấy nhàm chán khi tham gia cáchoạt động Ví dụ: Chủ đề bản thân lên kế hoạch dạy tăng cường tiếng Việt từ “ăncơm” “Canh cải” “ thịt xào”….ở giờ ăn trưa: tạo tình huống hỏi trẻ con đang ăn

gì trẻ trả lời “ăn cơm” “Canh cải” “ thịt xào”

Ở lớplá 1 với số lượng trẻ dân tộc thiểu số chiếm 12/26 tỉ lệ 46% nên Tôităng cường tiếng Việt cho trẻ vào buổi chiều 15 phút với hình thức học bằng

chơi chơi mà học qua các trò chơi như: Ô cửa bí mật, chiếc túi kỳ lại, chiếc nón

kỳ diệu Giờ hoạt động chiều tôi chuẩn bị sẵn các đồ dùng đồ chơi tự tạo, Các

trò chơi hấp dẫn cho trẻ, nhằm lôi cuốn trẻ vào hoạt động “Tăng cường tiếngViệt” hứng thú hơn, trẻ tham gia chơi một cách tự nhiên và sáng tạo, các cháuchơi với nhau để phát âm chuẩn tiếng Việt

Ví dụ: Hai đội thi ghép các chữ cái thành từ tiếng Việt theo yêu cầu

Trang 19

Hình ảnh trò chơi tăng cường tiếng Việt vào buổi chiều

Giờ ra chơi, dạo chơi cũng tạo tình huống cho trẻ phát âm chuẩn tiếng Việt

Trang 20

Lồng ghép vào các lễ hội :

VD: Lễ tri ân ngày nhà giáo Việt nam Làm thiệp tặng cô tăng cường tạo từ

“Thiệp chúc mừng” “Ơn thầy” “Tri ân”

Hình ảnh là thiệp các ngày lễ có tiếng Việt

Lễ hội tết nguyên đán: chúc mừng năm mới làm thiệp mừng xuân tăngcường tạo từ tạo tình huống để trẻ trả lời phát âm từ “ Chúc mừng năm mới”

Biện pháp 5 Phối hợp với cộng đồng và cha mẹ của trẻ

Lập kế hoạch tuyên truyền, phối hợp với cộng đồng và cha mẹ trẻ trongcông tác giáo dục trẻ cách chăm sóc, giáo dục trẻ đến với cha mẹ trẻ từ đó giúpgiáo viên có định hướng rõ ràng trong việc nuôi dạy trẻ hàng ngày, tạo được mốiliên hệ phối hợp giữa giáo viên và cộng đồng từ đó việc chăm sóc giáo dục trẻ vàcông tác duy trì sỹ số được diễn ra thuận lợi hơn

Có thể nói thời gian của trẻ ở trường với cô giáo không nhiều, nhưng nếuchúng ta biết phối hợp với gia đình của các cháu trong việc cung cấp vốn tiếngViệt cho trẻ thì tôi nghĩ chắc chắn sẽ đạt kết quả tốt hơn Chúng ta có thể gặp phụhuynh, trao đổi và phân tích cho phụ huynh của các cháu hiểu được những thuậnlợi khi con của họ học nói, nghe và hiểu được tiếng Việt, phối hợp với phụ huynhcùng làm đồ dùng tự để tăng cường tiếng Việt

Trang 21

Hình ảnh phối hợp với phụ huynh làm đồ dùng tự tạo cho trẻ có tiếng Việt

Để thực hiện cũng như giải quyết vấn đề trên, trước hết chúng ta cần phảilàm tốt công tác tuyên truyền và huy động trẻ đến trường

Tuyên truyền với các bậc phụ huynh về tầm quan trọng của việc cho cáccháu đến lớp mầm non đúng độ tuổi

Là một giáo viên đứng lớp cô giáo cần tạo sự gần gũi với trẻ, tìm hiểu về

hoàn cảnh gia đình của từng trẻ, thường xuyên gặp nói chuyện và trao đổi vớiphụ huynh của trẻ, tuyên truyền đến cha mẹ trẻ tầm quan trọng của việc cho trẻđến trường đúng độ tuổi Trẻ đến trường sẽ được tham gia vào các hoạt động củachương trình giáo dục mầm non như: múa, hát, làm quen với các bài thơ, các chữ

số, chữ cái, được nghe kể chuyện, tập vẽ, tập tô và nhiều hoạt động khác…quacác hoạt động đó sẽ giúp hình thành ở các cháu các kĩ năng cần thiết, đồng thờiqua đó giúp hình thành nhân cách của các cháu một cách tốt nhất, và nhờ đó cũnggiúp cho các cháu mạnh dạn hơn, tự tin hơn, giao tiếp tốt hơn, các cháu khôngcòn bỡ ngỡ khi bước vào lớp 1

c Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:

Trang 22

Ở lứa tuổi mẫu giáo trẻ “Học bằng chơi, chơi mà học” ghi nhớ của trẻkhông có chủ định chóng quên do đó việc cung cấp tiếng Việt không dừng lạitrên tiết học mà phải thường xuyên mọi lúc mọi nơi, mọi hoạt động trong cuộcsống hằng ngày để củng cố thêm kiến thức kĩ năng đã học

Các biện pháp được đề cập trong đề tài này có mối quan hệ chặt chẽ và có

sự hỗ trợ lẫn nhau Các biện pháp được sắp xếp theo thứ tự, thực hiện tốt biệnpháp này sẽ tạo cơ sở, thuận lợi, và mang lại hiệu quả cho biện pháp kế tiếp Giúptrẻ phát triển mọi mặt chuẩn bị tâm thế cho trẻ trước khi vào lớp1

d Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu phạm vi vàhiệu quả ứng dụng:

Như đã trình bày ở mặt hạn chế, do giới hạn của phạm vi nghiên cứu,những giải pháp đề tài mới chỉ được áp dụng tại lớp Lá 1 trường mầm non CưPang, chưa có điều kiện khảo nghiệm, áp dụng rộng rãi ở nhiều đối tượng Chính

vì vậy để mang lại hiệu quả cao nhất trong việc giúp trẻ 5 tuổi thực hiện tốt việcgiáo dục lồng ghép tăng cường tiếng Việt cho trẻ, góp phần nâng cao chất lượng,

hiệu quả công tác chăm sóc giáo dục cho trẻ mầm non Cần phải triển khai đồng

bộ, thường xuyên tất cả các giải pháp nêu trên

Qua một thời gian tôi sử dụng các biện pháp trên áp dụng cho các cháu ở lớp

lá 1, tôi thấy có sự chuyển biến một cách rõ rệt và kết quả có sự chênh lệch giữa tỉ lệtrước khi thực hiện đề tài và sau khi thực hiện đề tài như sau:

Kết quả thu được sau khi khảo nghiệm 26 trẻ như sau:

Trang 23

III Phần kết luận, kiến nghị:

1 Kết luận:

Qua việc triển khai thực hiện đề tài, đã tạo chuyển biến cơ bản về chấtlượng chăm sóc, giáo dục trẻ phát triển hài hòa về thể chất, tình cảm, trí tuệ, hìnhthành những yếu tố đầu tiên của nhân cách Qua đó góp phần vào sự đổi mớiphương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và thực hiện có hiệu quảphương pháp giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”

Việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số đã góp phần làm cho

chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ có những chuyển biến tích cực Trẻ thích đi

học hơn và hứng thú hơn trong các hoạt động ở trường

Bản thân đã áp dụng thành công trong quá trình giảng dạy đối với trẻ 5 tuổilớp Lá 1 Đề tài nghiên cứu của bản thân được xây dựng theo hướng mở và cókhả năng phát triển qua việc mở rộng phạm vi, đối tượng, thời gian nghiên cứu.Những nhóm giải pháp đưa ra có tính chất tổng quan, nên có thể làm cơ sở, tiền

đề để tạo dựng nền tảng cho những đề tài nghiên cứu khác trên cùng lĩnh vựcnhưng với mức độ sâu rộng hơn

Vốn từ của trẻ ngày càng được mở rộng và phong phú, trẻ đã biết đặt câuhỏi theo nội dung mà trẻ muốn hỏi bằng tiếng Việt

Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp với cô và các bạn, sử dụng ngôn ngữtiếng Việt mạch lạc hơn Sự giao tiếp của cô và trẻ ngày càng thân thiện hơn, quátrình truyền thụ kiến thức của cô đến trẻ nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn

Phụ huynh dần nhận thức được việc giao tiếp bằng tiếng Việt khi ở nhà sẽgiúp cho trẻ dễ dàng trong việc tiếp nhận kiến thức của giáo viên Phụ huynhthích thú khi thấy con mình giao tiếp với cô, bạn bè và bố mẹ bằng tiếng Việt

2 Kiến nghị

Đối với nhà trường:

Triển khai thực hiện chương trình, môi trường “ Lấy trẻ làm trung tâm”,cần chú trọng đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng,

Trang 24

đồ chơi đáp ứng yêu cầu phát triển quy mô, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáodục trẻ, Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, có chính sách hỗ trợ chế độ cho giáoviên và học sinh, tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ được tăng cường tiếng Việt, hìnhthành nề nếp, thói quen tốt trong học tập, sinh hoạt, giao tiếp.

Trên đây là một vài kinh nghiệm áp dụng trong lớp tôi là dân tộc thiểu sốđược thực hiện và đạt hiệu quả cao, những biện pháp trên tuy không có gì mới lạđối với các bạn nhưng đối với trẻ dân tộc thiểu số thì vô cùng mới mẽ và có tácdụng Tuy nhiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong được sự đónggóp ý kiến của đồng nghiệp, các cấp Lãnh đạo để tôi hoàn thành tốt hơn nhữngsáng kiến sau

Tôi xin chân thành cảm ơn!

EaBông, ngày 16 tháng 03 năm 2018

Người viết

Hoàng Thị Thu Thúy

Trang 25

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

Trang 26

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Xây dựng môi trường lấy trẻ làm trungtâm

2 Tài liệu bồi dưỡng thường xuyênmoodul 3 đặc điểm phát triển ngôn ngữcho trẻ MN

40 mô đun BDTX

3 Giáo trình phát triển ngôn ngữ tuổi mầm

4 Hướng dẫn thực hiện chương trình giáodục mầm non trong lớp mẫu giáo Chương trình khung

5 Hướng dẫn chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻmẫu giáo vùng dân tộc thiểu số

Chương trình giáo dục mầm non

6 Tâm lí học trẻ em lứa tuổi Mầm non Nguyễn Thị Ánh Tuyết

Trang 27

MỤC LỤC

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp 7

d Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 22

Ngày đăng: 12/05/2018, 19:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w