Chính vì những tư tưởng triết học Phật giáo phù hợp với tư tưởng, quan điểm, lối sống của người Việt Nam nên Phật giáo đã sớm được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ thứ II SCN và đã có
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM 4
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam 4
1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng triết học phật giáo Việt Nam 4
1.3 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học phật giáo Việt Nam 5
Chương 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM 7
2.1 Bản thể luận của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam 7
2.1.1 Thuyết vô thường 7
2.1.2 Thuyết vô ngã 9
2.1.3 Thuyết lý nhân sinh duyên 10
2.1.4 Thuyết nhân quả 11
2.2 Nhận thức luận của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam 12
2.2.1 Bản chất, đối tượng của nhận thức luận 12
2.2.2 Quy trình, con đường và phương pháp nhận thức 13
2.3 Nhân bản luận của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam 14
2.3.1 Tứ diệu đế 14
2.3.2 Những quan điểm về nhân sinh quan Phật giáo 18
Chương 3 NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM 21
3.1 Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam 21
3.1.1 Giá trị 21
3.1.2 Hạn chế 24
Trang 23.2 Định hướng tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới 26
3.2.1 Đối với kinh tế 26
3.2.2 Thực trạng xã hội 26
3.2.3 Giải quyết các vấn đề khó khăn xã hội ngày nay 27
3.3 Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam đến đời sống văn hoá tinh thần của người Việt Nam 27
3.2.1 Ảnh hưởng về tư tưởng đạo lý 27
3.3.2 Ảnh hưởng đến đời sống văn hoá của người Việt Nam 29
KẾT LUẬN CHUNG 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 34
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo là một trường phái triết học – tôn giáo điển hình của nền tư tưởng Ấn
Độ cổ đại có ảnh hưởng rộng rãi, lâu dài trên phạm vi toàn thế giới Phật giáo lấy từ
bi, tri giác soi sáng tâm hồn nhân loại mọi thời đại, mọi không gian để cải tạo con người và xã hội cho công bằng, con người sống hoà bình với nhau trong tinh thần lợi tha vô ngã Chính vì những tư tưởng triết học Phật giáo phù hợp với tư tưởng, quan điểm, lối sống của người Việt Nam nên Phật giáo đã sớm được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ thứ II (SCN) và đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam cho đến ngày nay Hiện nay, trong bối cảnh nước ta đang trong giai đoạn quá độ lên Chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa Mác – Lênin là tư tưởng chủ đạo, vũ khí lí luận của chúng ta; nhưng bên cạnh đó thì bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó, giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng tình cảm của một bộ phận lớn người dân Việt Nam Phật giáo mang một giá trị nhân bản với nhiều tư tưởng đạo đức cao đẹp nhưng cũng không tránh khỏi một số những sai lầm và quan điểm phiến diện cần phải khắc phục Do đó, chúng ta cần vận dụng một cách hợp lý những tư tưởng triết học Phật giáo vào lý luận
và thực tiễn để góp phần đạt được mục đích của thời kỳ quá độ cũng như sau này Nghiên cứu những tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam và tác động của những tư tưởng này đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người giữ một vị trí và vai trò rất quan trọng Bên cạnh đó, việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam giúp định hướng đúng đắn cho sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt Nam trong xã hội hiện đại ngày nay và trong tương lai Nhận thức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của tư
tưởng triết học Phật giáo Việt Nam, tôi quyết định chọn đề tài “Tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam và ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam nằm trong hệ thống tư tưởng triết học Việt Nam đã thu hút và nhận được sự quan tâm, nghiên cứu rất nhiều từ các nhà
Trang 4nghiên cứu trong những năm gần đây Trong công trình [2], các tác giả đã nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của các tư tưởng triết học Việt Nam trong đó có tư tưởng triết học Phật giáo qua các thời kỳ Trong [4], tác giả Phan Thị Thu Hiền đã nghiên cứu triết lý nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần người Việt Nam Hay trong công trình [3], tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng đã có những nghiên cứu về các đặc trưng của nhân sinh quan Phật giáo Việt Nam
Trong đề tài tiểu luận này, tôi tập trung nghiên cứu những tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam, đánh giá những mặt tiến bộ và hạn chế của tư tưởng Phật giáo Việt Nam và những tác động của tư tưởng này đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích: Làm sáng tỏ, hệ thống hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam và những ảnh hưởng của tư tưởng này đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam
- Nhiệm vụ:
Xác định những vấn đề chung của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam
Phân tích và đánh giá nội dung của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam
Chứng minh tác động của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng: Những tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam và ảnh hưởng của tư tưởng này đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam
- Phạm vi:
Những tư tưởng triết học phật giáo Việt Nam
Giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam
Những ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
- Cơ sở: Thế giới quan, phương pháp luận và các nguyên tắc của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam
- Phương pháp:
Trang 5- Phần nội dung gồm 3 chương, 9 mục, 15 tiểu mục
Chương 1 Những cơ sở, tiền đề và quá trình hình thành phát triển của tư
tưởng triết học Phật giáo Việt Nam: Nội dung chính của chương này trình bày cơ sở hình thành, tiền đề lý luận, quá trình hình thành và phát triển của
tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam
Chương 2 Tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam: Nội dung chính của
chương này trình bày bản thể luận, nhận thức luận và nhân bản luận của tư tưởng triết học phật giáo Việt Nam
Chương 3 Những giá trị, hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam
và ảnh hưởng của tư tưởng này đến đời sống văn hóa và tinh thần của người Việt Nam: Nội dung chính của chương này trình bày những giá trị, hạn chế của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam và ảnh hưởng của tư tưởng này đến đời sống văn hóa và tinh thần của người Việt Nam, định hướng sự phát triển của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới
- Phần kết luận
- Phần tài liệu tham khảo
- Phần chú thích
Trang 6Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam
Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, là cái gạch nối địa lý giữa hai nước lớn, hai nền văn minh cổ xưa nhất của Châu Á vá có thể là của cả loài người là Ấn
Độ và Trung Quốc Với một địa thế nằm kẹp giữa hai nước lớn là Trung Quốc và Ấn
Độ thì Việt Nam tất nhiên chịu ảnh hưởng từ cả 2 phía
Từ Phương Bắc, Trung Quốc đã tràn xuống chiếm cứ đất đai với âm mưu đồng hóa dân Việt, biến Việt Nam thành một phần lãnh thổ của họ Do đó, dân Việt chiến đấu không ngừng để sống còn và giữ gìn sự độc lập của mình, thế nhưng không tránh khỏi sự ảnh hưởng qua lại về ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo Từ phía Tây, Ấn Độ trong cao trào bành trướng văn minh văn hóa, tôn giáo của họ ra các nước chung quanh có tính cách ôn hòa, hòa bình, lúc đầu chỉ là mục đích giao thương qua lại, sau
đó nhờ giáo lý cao sâu, bất bạo động của Phật giáo đã đi sâu vào lòng người một cách
tự nhiên, dễ dung hợp với các nền văn hóa địa phương trong đó có Việt Nam Chính
vì thế mà Phật giáo được truyền bá rất sớm vào Việt Nam (từ thế kỷ thứ II sau công nguyên) qua hai con đường Hồ Tiêu và Đồng Cỏ Phật giáo Việt Nam là Phật giáo được bản địa hóa khi du nhập từ Ấn Độ và Trung Quốc vào Việt Nam nên Phật giáo Việt Nam mang những đặc điểm khác biệt so với Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo của các nơi khác trên thế giới Phật giáo là tôn giáo có những ảnh hưởng sâu rộng nhất ở Việt Nam
1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng triết học phật giáo Việt Nam
Phật giáo lần đầu tiên du nhập từ Ấn Độ vào Việt Nam tại thành cổ Luy Lâu (quận Giao Chỉ) Người Ấn Độ truyền bá những sinh hoạt và giáo lý Phật giáo vào Việt Nam qua các đoàn thuyền buôn Khi Phật giáo bắt đầu du nhập vào Việt Nam thì trên đất Giao Chỉ vốn đã hình thành một nền tín ngưỡng bản địa Đối với người dân nơi này, Ông Trời là một đấng ở trên cao, thấu hiểu mọi việc, biết rõ người tốt kẻ xấu, từ đó mà phù giúp người hiền, trừng phạt kẻ ác Quan niệm này khiến cư dân Giao Chỉ dễ tiếp nhận thuyết nhân quả, nghiệp báo của nhà Phật Ngoài ông Trời, họ cũng quan niệm có những vị thần thánh khác như Thần Sấm, Thần Mưa,… như là
Trang 7những thủ hạ của ông Trời, họ cũng coi linh hồn người chết còn tồn tại quanh quẩn trong nhà để phù trợ cho gia đình là Ma Xó Điều này làm cho họ cảm thấy dễ gần gũi khi thuyết luân hồi tiếp xúc với họ Ngoài ra, người Giao Chỉ cũng tin vào nguồn gốc con rồng cháu tiên của mình Thêm vào đó, trong thời đại lịch sử này, người Giao Chỉ không hề là những tín đồ trung kiên của Khổng, Lão giáo nên sự thâm nhập của Phật giáo vào Việt Nam không gặp phải sự cản trở có ý thức
1.3 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học phật giáo Việt Nam
Phật giáo vào Việt Nam từ Ấn Độ theo 2 con đường chính: hướng Tây Bắc và hướng Nam từ thế kỷ thứ II sau công nguyên Quá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam được chia thành hai giai đoạn: từ thế kỷ II đến thế kỷ VI là sự truyền bá giáo tông, tức Phật giáo nguyên thủy; từ thế kỷ VI trở đi là sự truyền bá của các dòng Thiền từ Trung Quốc, còn gọi là Tâm Tông
Từ TK VI, lần lượt xuất hiện các dòng Thiền như: Tì Ni Đa Lưu Chi (năm 580),
Vô Ngôn Thông (820), Thảo Đường vào đời vua Lý Thánh Tông Nội dung cơ bản của các dòng Thiền là quan niệm Phật tại tâm, Phật tức tâm và tâm tức Phật Trong thời Bắc thuộc, Phật giáo ảnh hưởng trực tiếp đến các địa bàn cư dân làng xã Với tư tưởng từ bi hỉ xả, cứu độ chúng sinh, giải thoát khỏi khổ đau do nghiệp,… Phật giáo
dễ hòa nhập với tư tưởng bản địa của người Việt và nhờ đó, tồn tại và phát triền mạnh
ở Việt Nam Sau khi đất nước được giải phóng khỏi đô hộ phương Bắc, các triều đại phong kiến Việt Nam ở TK X đã chú trọng nhiều đến Phật giáo Các triều đại phong kiến đã dành cho Phật giáo sự ưu tiên về cả mặt vật chất lẫn tinh thần, nhờ đó chùa chiền được xây dựng khắp nơi, số lượng các nhà tu hành có khi chiếm đến một nửa lực lượng lao động Đặc biệt, thời Tiền Lê, nhiều nhà sư tham gia chính trị và góp phần không nhỏ vào chủ trương trị nước của các triều đại Dưới thời Lý Trần, Phật giáo được coi là quốc giáo và đây là thời kỳ phát triển thịnh vượng nhất của Phật giáo
ở Việt Nam Vào cuối TK VIII đầu TK XIV, trên cơ sở truyền thừa của các dòng thiền ở Việt Nam đã xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, mang đậm sắc thái của Thiền Việt Nam Từ TK XV, nho giáo được đưa lên địa vị độc tôn trên lĩnh vực chính trị nên Phật giáo suy giảm ảnh hưởng về mặt chính trị so với trước, từ đó chủ yếu hoạt động ở địa bàn làng xã Đến đầu TKXX, ở Việt Nam xuất hiện phong trào chấn
Trang 8hưng Phật giáo, song vị trí và vai trò của Phật giáo cũng không thể sánh được với thời
Lý Trần
Kết luận chương 1: Như vậy, với đặc điểm địa lý vốn có nằm giữa Trung Quốc
và Ấn Độ cộng với tư tưởng của người Việt Nam là tiền đề tất yếu cho sự du nhập của những tư tưởng triết học Phật giáo vào Việt Nam Chính vì sự phù hợp của tư tưởng Phật giáo với tinh thần, lối sống của người Việt Nam, nên Phật giáo từ lâu đã
có những ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử cho đến ngày nay
Trang 9Chương 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
2.1 Bản thể luận của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam
Phật giáo có nhiều yếu tố duy vật biện chứng tuy nhiên triết học Phật giáo vẫn mang tính duy tâm chủ quan Bản thể luận của Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng chịu ảnh hưởng của hai luận điểm, thể hiện qua bốn luận thuyết cơ bản: thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả và thuyết lý nhân sinh duyên Tính biện chứng sâu sắc của triết học Phật giáo đặc biệt thể hiện rõ qua việc luận chứng về tính chất vô thường và vô ngã của vạn vật
2.1.1 Thuyết vô thường
Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi Sự vật luôn thay đổi, chuyển biến không ngừng, không có gì là thường trụ, bất biến Sự chuyển biến ấy diễn ra dưới hai hình thức:
- Một là Sátna (Kshana) vô thường: là sự chuyển biến rất nhanh, trong một thời gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một sự chuyển biến vừa khởi lên đã chấm dứt
- Hai là Nhất kỳ vô thường: là sự chuyển biến trong từng giai đoạn, là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ, chuyển sang một trạng thái mới Luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo luật: Thành – Trụ - Hoại – Không Vạn vật được cấu thành, trụ một thời gian, sau đó chuyển đến diệt, thành, hoại, không Một hành tinh, một ngôi sao có thời
kỳ vũ trụ kéo dài đến hàng triệu năm, một cây có thể trụ hàng ngàn năm, một sinh vật
có thể trụ được hàng trăm năm, bông hoa phù dung chỉ trụ được trong một ngày – sớm nở, chiều tàn Ngày nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển và luôn thay đổi không ngừng từng phút từng giây để đáp ứng được nhu cầu của con người trong cuộc sống cũng là một ví dụ của vô thường Ngày xưa, điện thoại bàn được xem như
là một trong những công cụ giúp con người có thể liên lạc với nhau, sau đó, điện thoại bàn có thêm tính năng nhắn tin, rồi điện thoại di động ra đời, sau đó đến điện thoại thông minh có các tính năng hấp dẫn như chụp hình, quay phim, lên mạng,… và cứ thế các dòng điện thoại mới ra đời khắc phục những hạn chế của dòng điện thoại cũ
Trang 10và phát huy những tính năng mới đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Từ những ví
dụ trên, ta thấy được xung quanh ta sự vật chuyển biến không ngừng
Không những thân ta chuyển biến không ngừng mà tâm ta cũng không ngừng chuyển biến Thiện ác cách nhau chỉ một ý niệm, trong tâm ta có thiện niệm nhưng
có thể 1 giây sau thôi đã có thể khơi lên một ý niệm ác Sở dĩ tâm ta luôn luôn chuyển biến là do cái tâm biết cái này, nghĩ cái khác, cái tâm vọng động do duyên với tiền trần mà có, theo cách trần mà luôn luôn thay đổi, chuyển biến không giây nào ngừng Một ví dụ điển hình là ở sinh viên từ những miền quê khác nhau lên thành phố học đại học, mười hai năm đèn sách được thầy cô, cha mẹ dạy dỗ những điều hay lẽ phải nhưng chỉ vì một phút nông nỗi, tham cái lợi trước mắt mà không ít sinh viên đã vướn vào vòng lao lý Ở học sinh cũng vậy, lúc nhỏ rất ngoan và nghe lời cha mẹ, thầy cô nhưng khi đến lứa tuổi mới lớn, vì muốn khẳng định bản thân mình với bạn bè và mọi người xung quanh mà nhiều bạn đã không nghe theo lời khuyên của cha mẹ, thầy cô, tham gia ăn chơi, đua đòi theo những thói hư tật xấu, những sở thích thời thượng mà
bỏ bê học hành, tương lai
Không những thân, tâm ta chuyển biến mà các hình thái xã hội theo thời gian cũng chuyển biến: Xã hội công xã nguyên thủy Xã hội chiếm hữu nô lệ Xã hội phong kiến Xã hội xã hội chủ nghĩa Đó là quy luật xã hội và cũng phù hợp với thuyết vô thường của đạo Phật
Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là cơ sở của lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những con người tu dưỡng theo giáo lý Phật Hiểu và vận dụng thuyết vô thường một cách đúng đắn giúp chúng
ta nhìn nhận cuộc sống một cách đúng đắn hơn Chẳng hạn như hiểu được khoa học
kỹ thuật ngày càng phát triển và luôn thay đổi theo từng ngày mà con người ta luôn
cố gắng trau dồi, nghiên cứu, học tập suốt đời; hay những người ở trong hoàn cảnh khó khăn, họ không bi quan tuyệt vọng vì hoàn cảnh mà luôn cố gắng phấn đấu vươn lên để có được một tương lai tươi sáng Hiểu sai và không đúng bản chất của thuyết
vô thường làm cho con người ta có những nhận thức sai lầm về sự vật khi hiểu sự vật
là thường còn, là không thay đổi, không chuyển biến Một số người sinh ra trong gia đình giàu sang, có điều kiện thì tự cao, tự đắc nghĩ rằng có tiền là có tất cả rồi, tương lai họ chắc chắn sẽ tốt nên chỉ biết hưởng thụ mà không cố gắng phấn đấu học tập có
Trang 11nghề nghiệp ổn định đặng nuôi sống bản thân, gia đình sau này Đến khi bị luật vô thường tác động, mọi của cải vật chất không còn như trước thì mới kịp nhận ra thì đã quá muộn màng, dẫn đến sinh phiền não đau khổ Ngược lại, nếu hiểu thuyết vô thường một cách nông cạn, cho rằng chết là hết, đời người ngắn ngủi, phải tận hưởng những thú vui vật chất, phải sống gấp, sống vội Cuộc sống như thế là sống trụy lạc,
sa đọa trong vũng bùn của ngũ dục, sống phiền não đau khổ trước sự chuyển biến của
sự vật, trước sự sinh – trụ, dị diệt, trước sự thành, trụ hoại không nó diễn ra hằng ngày Đúng như vậy, ngày nay không ít người có suy nghĩ nông cạn, khi gặp phải những vấn đề khó khăn trong cuộc sống thì họ không biết tìm cách khắc phục khó khăn mà dễ dàng tìm đến cái chết vì cho rằng chết là hết khổ Hướng suy nghĩ như vậy hoàn toàn không đúng, bởi vì thuyết vô thường cho rằng vạn vật luôn thay đổi, con người chúng ta cũng phải trải qua sinh – lão – bệnh – tử trong cuộc đời mỗi người, tuy nhiên chết không phải là hết mà theo luật vô thường vạn vật sống để mà chết, chết
để mà sống, sống chết tiếp diễn nhau bất tận như một vòng tròn
2.1.2 Thuyết vô ngã
Từ thuyết vô thường, Phật nói sang vô ngã Vô ngã là không có cái ta Tuy nhiên, làm gì cũng có cái ta trường tồn, vĩnh cữu vì cái ta biến đổi không ngừng, biến chuyển từng phút, từng giờ, từng giây Cái ta gồm có 2 phần là cái ta sinh lý (cái thân)
và cái ta tâm lý (cái tâm)
Cái ta sinh lý là sự kết hợp của 4 yếu tố : địa, thủy, hỏa, phong Những thứ đó không phải là ta, ta không phải là những thứ đó, những thứ đó không thuộc về ta Cái ta tâm lý gồm: thụ, tưởng, hành, thức Bốn ấm này cùng với sắc ấm che lấp trí tuệ làm cho ta không nhận thấy được cái ta chân thực, cái ta Phật tính, cái chân ngã của chúng ta Cái chân lý gồm những nhận thức, cảm giác, suy tưởng, là sự kết hợp của thất tỉnh: hỷ, nộ, ai, lạc, ái, nỗ, dục
Cũng giống như thuyết vô thường thì thuyết vô ngã cũng có những tác động đối với con người Trước đây, con người ta thường hay tin vào sự tồn tại của linh hồn, các linh hồn tồn tại vĩnh cửu từ kiếp này sang kiếp khác, đời này sang đời khác Từ quan niệm này dẫn đến những hủ tục mê tín dị đoan trong dân gian như ma chay linh đình, cúng tế linh hồn Chính thuyết vô ngã của Phật đã làm cho con người ta thức
Trang 12tỉnh và không còn tin vào sự tồn tại của linh hồn vĩnh cửu nữa Tuy nhiên, đối với những người gặp khó khăn, bị hà hiếp, bóc lột thì họ vẫn tin vào việc có cái ta vĩnh cữu dẫn đến nảy sinh những tư tưởng tiêu cực, chán đời, phó mặc cho số mệnh hay tìm đến cái chết để giải thoát khỏi kiếp này với hy vọng làm lại cuộc đời ở kiếp sau Ngoài ra, quan niệm sai lầm là có một linh hồn vĩnh cửu làm cho con người ta nảy sinh những tình cảm, tư tưởng ích kỷ, những tham dục vô bờ của những kẻ dựa vào sức mạnh phi nghĩa để làm lợi cho mình
Hai thuyết vô thường, vô ngã là hai thuyết cơ bản trong giáo lý Phật giáo Cái
ta thường còn là nguồn gốc của vô minh mà vô minh là đầu mối của luân hồi sinh tử sinh ra đau khổ cho con người Như vậy, dựa vào thuyết vô thường và vô ngã, Phật giáo đã xây dựng nên một phương thức sống, một triết lý sống mà ở đó lấy vị tha làm
lý tưởng cao cả cho cuộc sống của mình, hay nói một cách khác một cuộc sống mà ở
đó một người vì mọi người, mọi người vì một người
2.1.3 Thuyết lý nhân sinh duyên
Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hóa vô thường của vạn vật, đã xây dựng nên thuyết lý nhân sinh duyên Đây là một luận thuyết tương đối hợp lý về sự sinh thành, diễn biến và về bộ mặt vốn có của thế giới; là thế giới quan độc đáo của Phật giáo và là đặc trưng cơ bản để phân biệt Phật giáo với các tôn giáo khác
Theo thuyết lý nhân sinh duyên, vạn vật phát triển trên thế giới đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sự vật, vạn pháp sẽ kiến diệt khi nhân duyên tan rã Nhân là năng lực phát sinh ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó và duyên là điều kiện, mối liên hệ hỗ trợ giúp nhân phát sinh duyên Chẳng hạn như với cây đậu thì hạt đậu
là nhân, các điều kiện hỗ trợ cho hạt đậu nảy mầm và phát triển thành cây đậu như đất, nước, ánh sáng, chăm bón,… là duyên Như vậy, trong trường hợp này chính nhân duyên hội họp đã sinh ra cây đậu
Phật giáo dùng thuyết nhân duyên để giải thích nguồn gốc của tất cả các sự vật, hiện tượng Thế giới vũ trụ, vạn vật đều cấu thành bởi hệ thống nhân duyên trùng trùng điệp điệp Như vậy, mối quan hệ nhân duyên bao trùm toàn bộ thế giới, thế giới
đa dạng, phong phú, nhiều hình vẽ cũng chỉ là một dòng biến hóa hư ảo vô cùng không có gì là thường định, là thực và không thực Tất cả đều nằm trong vòng sinh,
Trang 13diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết với nhau Ở quan điểm này cho thấy một hạn chế của Phật giáo là chỉ thấy sự vận động, tuyệt đối hóa sự vận động mà không nhìn thấy được sự đứng yên tương đối
Thuyết lý nhân sinh duyên cho chúng ta thấy sự vật hình thành là do nhân duyên hòa hợp, sự vật là hư giả, là giả hợp không có tính tồn tại Như vậy con người làm chủ đời mình, làm chủ vận mệnh của mình Thuyết lý nhân sinh duyên đã chỉ ra cho con người thấy được vận mệnh của người là do người quyết định chứ không phải do
số phận, định mệnh hay một đấng tối cao nào quyết định, từ đó, giúp con người sống thực tế hơn, có lòng tin vào bản thân và khả năng cải tạo hoàn cảnh của bản thân hơn Ngoài ra, thuyết lý nhân sinh duyên còn chỉ ra rằng cuộc sống của con người có tươi đẹp hạnh phúc hay phiền não đau khổ là đều do nhân duyên mà con người tạo ra Theo tôi thì điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm tâm lý học và thực tế cuộc sống bởi vì theo tâm lý học thì những người có cùng tính cách, quan điểm,… thường
có xu hướng dễ thiết lập mối quan hệ hơn Chính từ những nhận định đó mà con người thấy trân trọng hơn những mối quan hệ trong cuộc sống, họ biết tự sửa đổi bản thân nhằm sống tốt đẹp hơn để có được nhân duyên tốt Với những nhận thức như vậy, con người tìm được một phương thức sống, một cách sống cho ra sống, sống vì hạnh phúc của mọi người, an lạc, tự tại
2.1.4 Thuyết nhân quả
Thuyết nhân quả là một trong những thuyết cơ bản của giáo lý Phật Sự vật sinh
ra là có nhân, khi có đủ duyên thì nhân mới tạo ra quả Nhưng quả có thể khác nhân sinh ra nó, quả có thể hơn nhân nếu gặp đủ duyên tốt, trái lại có thể kém nhân nếu gặp duyên xấu Nhân gặp đủ duyên thì biến thành quả, quả sinh ra nếu hội đủ duyên lại biến thành nhân rồi sinh ra quả khác Sự vật là một chuỗi nhân quả nối tiếp nhau
và ảnh hưởng lẫn nhau không bao giờ đứt quãng, không bao giờ ngừng
Theo giáo lý Phật, mỗi ý nghĩ của tâm ta, mỗi hành động của thân ta đều là những hạt nhân mà ta gieo hằng ngày, những hạt nhân khi gặp đủ duyên sẽ nảy nở thành quả Những hạt nhân này gọi là nghiệp, gieo nhân tức là gây nghiệp, quả của nhân gọi là nghiệp báo Người nào gieo nhân nào thì gặp quả nấy, không hành động nào có thể thoát khỏi cán cân nhân quả
Trang 14Với những luận thuyết cơ bản như trên đã hình thành nên thế giới quan Phật giáo Phật quan niệm các hiện tượng trong vũ trụ luôn biến đổi không ngừng theo quy luật nhân duyên Một hiện tượng phát sinh không phải là do một nhân mà do nhiều nhân và duyên, nhân không phải tự nhiên mà có mà là do nhiều nhân duyên đã có từ trước Nhờ vào thuyết nhân quả mà con người biết tu dưỡng và sửa đổi bản thân cho tốt hơn
Tóm lại, triết học Phật giáo bát bỏ quan niệm duy tâm khi cho rằng thần thánh sáng tạo con người và vũ trụ Phật giáo thừa nhận con người và sự vật được cấu thành
từ các yếu tố vật chất và tinh thần, các sự vật của thế giới trong sự biến đổi không ngừng Đó là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới, mặc dù còn chất phác, mộc mạc nhưng rất đáng trân trọng
2.2 Nhận thức luận của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam
2.2.1 Bản chất, đối tượng của nhận thức luận
Bản chất của nhận thức luận Phật giáo là quá trình khai sáng trí tuệ, còn đối tượng của nhận thức luận là vạn vật, là mọi hiện tượng, là cả vũ trụ Vạn vật là vô thuỷ vô chung, không có sự vật đầu tiên và không có sự vật cuối cùng, mọi vật đều liên quan mật thiết đến nhau Như vậy, đạo Phật không phân biệt vật chất và tinh thần
vì đó chỉ là hai trạng thái của tâm, của năng lượng khi ở thể tiềm tàng
Quan điểm của Phật giáo về sự vật là như thế vậy thì quan niệm về chữ tâm trong đạo Phật như thế nào? Tâm ở đây không phải là tâm trong duy tâm mà triết học phương Tây hay đề cập đến, mà chữ Tâm trong đạo Phật có nghĩa là năng lượng làm bản thể cho tất cả mọi hiện tượng tâm lý, cho mọi hiện hành Bản thể là cái chất, là cội gốc của vạn vật Khi ta phân tích, chia sẻ một vật đến một phần tử nhỏ nhiệm nhất, đến phần cuối cùng thì phần tử ấy là bản thể mà ở đây cũng có vật có chất nên đâu đâu cũng thấy có bản thể, vì vậy tâm cũng lại là to lớn vô biên
Những tình cảm, ý thức phát sinh phải nương vào hiện tượng sinh lý, vật lý, nó nương nhau để phát sinh chứ không phải các hiện tượng sinh lý, vật lý sinh ra các hiện tượng tâm lý Như vậy, không phải tâm sinh vật, vật sinh tâm mà những hiện tượng sinh lý, vật lý và tâm lý ấy chỉ tương sinh tương thành mà thôi
Trang 152.2.2 Quy trình, con đường và phương pháp nhận thức
Sự nhận thức phát triển theo hai con đường: hướng nội và hướng ngoại Phật giáo thường quan tâm đến tư trào hướng nội, tức là mỗi người tự chiêm nghiệm suy nghĩ của bản thân Về phương pháp nhận thức thì có 2 phương pháp là:
- Tiệm ngộ: sự giác ngộ, nhận thức một cách dần dần, có tính chất “trí hữu sư”
- Đốn ngộ: là sự giác ngộ bột phát, bùng nổ có tính chất “trí vô sư”
Với phương pháp nhận thức ấy, Phật giáo được chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 là từ tuỳ giác đến thể nhập: Nhận thức bắt đầu từ cảm giác và phụ thuộc vào cảm giác đưa lại, kết quả là con người biết được cái tiếp xúc giữa thế giới khách quan và giác quan của con người và từ sự tiếp xúc này tạo nên yếu tố
“thọ” trong ngũ uẩn Yếu tố “thọ” là sự tiếp xúc giữa sáu căn với sáu trần tạo thành Căn ở đây là căn cứ, là khả năng nhận thức của các giác quan Sáu căn là: nhăn, nhỉ, tù, thiệt, thân, ý Trần là loại kích thích từ thế giới bên ngoài, nếu kích thích tương ứng với căn thì con người có cảm giác Sáu trần ở đây gồm: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp Yếu tố “thọ” giúp cho chúng ta nhận biết được những hiện tượng riêng lẻ, những cái bề ngoài, ngẫu nhiên Rồi từ những tri thức cảm tính kinh nghiệm nêu trên, con người sẽ đi sâu để nhập vào bản thể của sự vật để biết được cái bên trong, bản chất là tri thức định lý
- Giai đoạn 2: sự nhận thức đi từ cái tâm tại đến tâm siêu thể Từ kết quả của giai đoạn trước, con người bắt được cái tâm tính của những sự vật hữu hình tái thế và đặc biệt là cái tâm ở trong mỗi con người và nâng lên để nắm được cái tâm siêu thoát, cái tâm trung
Để đạt được sự nhận thức đó thì có nhiều phương pháp để nhận thức, song có 2 phương pháp chủ yếu sau: Tam học và Tam huệ
- Tam học là giới, định, tuệ:
Giới: gồm có những phương tiện để thay đổi lối suy nghĩ, lối sinh hoạt hàng ngày của con người sống theo đạo, thích hợp với đạo là luôn hướng về thiện
Định: là đình chỉ mọi tư tưởng xấu, ý nghĩ xấu và còn tập trung tư tưởng suy nghĩ để làm mọi việc yên lành
Trang 16 Tuệ: là trí tuệ sáng suốt, đã thấu được lý vô thường, vô ngã, do đó chỉ nghĩ đến làm việc thiện, mưu lợi cho chúng sinh
- Tam huệ: là văn, tu, tư
Văn: là nghe pháp Phật, hiểu rõ ý nghĩa, quan niệm được bàn tính thanh tịnh, sáng suốt của mình, do đó mà có một lòng tin vững chắc nơi Phật pháp
Tư: là suy nghĩ về các pháp Phật đã nghe được, học được đi đến giác ngộ bản lai tư tính của mình
Tu: là nương theo trí tuệ, bắt đầu trực nhận được bản tính chân như, mà tu tập gột rửa những thói quen mà lầm từ nhiều kiếp để lại đi đến nhập với một pháp giới tính
Như vậy, các phương pháp nhận thức trên đã phá tan các kiến chấp sai lầm chấp ngã, chấp pháp để đi đến trung đạo và nhận rõ trung đạo là chẳng có chẳng không
2.3 Nhân bản luận của tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu bản thể luận cũng như nhận thức luận trong tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam, bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu những quan điểm của triết học Phật giáo Việt Nam về vấn đề nhân bản luận Tìm hiểu nhân bản luận trong tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam là quá trình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi sau:
- Con người là gì? Con người được sinh ra từ đâu? Sau khi chết rồi con người sẽ
đi đâu? Vị trí của con người trong đạo Phật?
- Quan niệm của Phật về các vấn đề : Bình đẳng, tự do, dân chủ,…
- Có phải cuộc sống chỉ toàn khổ đau? Và con đường giải thoát khỏi khổ đau trong đạo Phật là gì?
Tứ diệu đế là giáo lý kinh điển của Phật giáo về sự đau khổ của con người và con đường giải thoát
2.3.1 Tứ diệu đế
Tứ diệu đế được xem là bốn chân lý vĩ đại đã được đức Phật rút ra trong quá trình đi tìm con đường giải thoát khổ đau cho con người, những kinh nghiệm khổ đau mà bản thân đã trải qua là những kinh nghiệm sâu sắc Do đó, thuyết tứ diệu đế
Trang 17được xem như là một quá trình biện chứng thực tại ngay đời sống của người dựa trên
cơ sở tương quan nhân quả
2.3.1.1 Khổ đế
Trong tứ đế, Phật đưa ra đầu tiên là vấn đề khổ Theo Phật giáo, đời là bể khổ
Ở đời có vạn sự khổ, vạn sự có thể biến thành cái khổ mà khái quát lại có 8 cái khổ phổ biến:
1 Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chi phối nên khổ (khổ trong lúc sinh và khổ trong đời sống)
2 Lão khổ: Con người ta luôn mong muốn trẻ mãi không già nhưng cái già theo thời gian vẫn đến Con người đến lúc già thì thân thể hao mòn, suy kém, trí tuệ
lu mờ, khổ cả thể xác lẫn tinh thần làm cho người ta phiền não
3 Bệnh khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu, thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ
4 Tử khổ: Khổ của sự chết, con người sợ nhất là cái chết vì phải xa lìa vĩnh viễn tất cả bà con, của cải nên khi chết thì phiền não vô cùng
5 Cầu bất đắc khổ: Khổ của sự mong cầu, hy vọng mà không toại nguyện Con người ta thường hay chạy theo những gì mình ưa thích, mong cầu hết cái này đến cái khác Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu được rồi lại lo giữ nó, nếu nó mất đi thì luyến tiếc
6 Ái biệt li khổ: Nỗi khổ khi phải chia ly
7 Oán tăng hội khổ: Là cái khổ gây ra do sự thù ghét, hiềm khích nhau mà cứ gần gũi, chung đụng
8 Ngũ uẩn thủ khổ: là sắc, thụ, tưởng, hành, thức Năm nỗi khổ ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp
Tóm lại, khổ đau là một thực tại như thực đối với con người, khổ đế là một chân
lý khách quan hiện thực, khổ hay hình thái bất an là kết quả của hàng loạt nhân duyên được tạo tác từ tâm thức Như vậy, tri nhân thực tại là một cách trực tiếp đi vào soi sáng mọi hình thái khổ đau của con người Để thấu hiểu triệt để cái căn nguyên của khổ đau thì con người không thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn mà phải đi vào soi sáng bản chất nội tại của nó
Trang 182.3.1.2 Tập đế
Sau khi đưa ra vấn đề khổ đau, Phật đề cập đến nguyên nhân tạo thành khổ đau Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt Những nguyên nhân ấy không phải tìm đâu xa mà ở ngay trong mỗi chúng ta Có 12 nguyên nhân gây ra sự đau khổ được thể hiện trong thuyết thập nhị nhân duyên:
1 Vô minh: là sự không hiểu biết chánh pháp, không thông hiểu bản chất cuộc sống Vì do vô minh mà con người chỉ lo bám víu thực tại, chỉ lo tìm kiếm lợi lạc riêng cho mình, mong muốn được hạnh phúc, vui sướng vĩnh cữu mà quên rằng nó không bền vững và sẽ tan biến
2 Hành: là hành động, hành vi của thân, khẩu, ý gây nên nghiệp quả Yếu tố này
do vô minh dẫn đến, chính vì không hiểu biết mà con người hành động theo tham, sân, si mà không biết chế ngự nên tội lỗi, khổ đau, buồn phiền theo sau
3 Thức: là yếu tố do Hành dẫn đến Thức là sự nối tiếp, tái sinh hay nhận biết Khi hành động không Chánh kiến sẽ dẫn đến nhận thức sai lầm nên vô minh nhiều hơn
4 Danh Sắc: là yếu tố do thức dẫn đến Danh Sắc là 2 phần bao hàm nên một con người gồm tâm và thân Thấu hiểu sai lệch làm Tâm (Danh) có khuynh hướng
lệ thuộc vào quan kiến đó dẫn đến bản ngã xuất hiện
5 Lục Căn: là yếu tố do Danh Sắc dẫn đến bao gồm: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân,
Ý và nó chỉ có khi con người tồn tại
6 Xúc: là yếu tố do Lục Căn dẫn đến Bên cạnh Lục Căn gồm có Lục Trần: Sắc, Thịnh, Hương, Vị, Xúc, Pháp Cả 2 Lục Căn và Lục Trần cấu tạo nên Xúc của con người Tiếp xúc với thế giới xung quanh sinh ra các cơ quan cảm giác
7 Thọ: là yếu tố do Xúc dẫn đến Thọ là cảm giác hạnh phúc, đau khổ hay không hạnh phúc, không đau khổ, là sự nhân, thụ hưởng Khi Xúc phát xuất thì Thọ xảy ra cùng lúc
8 Ái: là yếu tố do Thọ dẫn đến Các xúc cảm bên ngoài tác động vào con người làm phát sinh tham ái đối với các giác quan đó
9 Thủ: là yếu tố do Ái dẫn đến Chỉ sự bám chặt, bám víu, bám chấp đời sống,
là yếu tố dẫn con người đi trong vòng luân hồi mãi mãi
Trang 1910 Hữu: là yếu tố do Thủ dẫn đến, ý chỉ nghiệp quả Vì mãi bám víu nên con người tạo nghiệp quả nhằm đem lại lợi ích cho mình qua 3 hành động (thân, khẩu, ý)
11 Sanh: là yếu tố do Hữu dẫn đến Là sự hình thành ngũ uẩn trong bào thai người
mẹ Do Nghiệp Qủa mà Thức tái sanh trở lại bào thai người mẹ hình thành con người để thụ lãnh Nghiệp đã vay
12 Lão và tử: là yếu tố do sanh dẫn đến, là giai đoạn mà ai cũng phải trãi qua nếu còn mang nặng ngũ uẩn
Tóm lại, nguyên nhân khổ đau là do chính con người, khổ hay không là do lòng mình Hay nói cách khác, tuỳ theo cách nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng, vị kỹ hay phiền não khuấy động, chi phối và ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc và hạnh phúc Tuy nhiên, tập đế có hạn chế là chưa đề cập đến nguyên nhân đến từ xã hội Đặc biệt là chưa nhắc tới quan hệ giai cấp trong xã hội Luận điểm này thể hiện rõ từ trào hướng nội trong nhận thức luận Phật giáo
2.3.1.3 Diệt đế
Sau khi đưa ra vấn đề khổ đau và nguyên nhân gây khổ đau, Phật giáo đưa ra phương pháp diệt khổ (Diệt đế) Đạo Phật quan niệm nguyên nhân khổ là do sự vận hành của thập nhị nhân duyên, trong đó nguồn gốc sâu xa là sự vô minh Vậy muốn diệt khổ phải đi ngược lại sự vận hành của 12 nhân duyên bắt đầu từ diệt trừ vô minh
Vô minh bị diệt, trí tuệ bừng sáng, hiểu rõ bản chất tồn tại, thực tướng vũ trụ và con người, không còn tham dục và kéo theo là không tạo nghiệp dẫn đến thoát vòng luân hồi sinh tử và đến được cõi Niết bàn
2.3.1.4 Đạo đế
Sau khi đã biết được khổ, nguyên nhân của khổ đau, phương pháp diệt khổ, cuối cùng là con đường đi đến diệt trừ đau khổ Phật giáo đưa ra bát chính đạo – tám con đường đúng đắn để diệt khổ:
- Chính kiến: thấy, xem và hiểu sự vật một cách đúng đắn
- Chính tư duy: suy nghĩ đúng đắn
Trang 20- Chính ngữ: lời nói đúng đắn (không nói dối, không nói lời ác, không chia rẽ; phải nói lời có ích, nói đúng chỗ, đúng lúc)
- Chính nghiệp: hành vi đúng, ứng xử đúng, làm điều thiện
- Chính mệnh: sinh sống lượng thiện, tiết chế dục vọng và giữ giới luật
- Chính tịnh tiến: cố gắng, nỗ lực phấn đấu một cách đúng đắn; siêng năng học tập,
tu luyện, tìm kiếm và truyền bá chân lí của đức Phật
- Chính niệm: thường xuyên tâm niệm chính pháp, nhớ Phật, niệm Phật
- Chính định: Tập trung tư tưởng cao độ để suy nghĩ về tứ đế, vô ngã, vô thường
để kiên định con đường chân chính của đức Phật
Muốn thực hiện được bát chính đạo thì phải có phương pháp thực hiện nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và khuyến khích làm điều thiện
có lợi ích cho mình và cho người Nội dung của phương pháp đó là Ngũ giới và Lục
Như vậy, Phật giáo nằm vững trên nền tảng đau khổ Mặc dù nhấn mạnh vào sự hiện hữu của đau khổ, nhưng Phật giáo không phải là giáo lý bi quan Phật giáo không hoàn toàn bi quan, cũng không hoàn toàn lạc quan, mà chỉ thực tiễn Phật giáo không chỉ đề cập đến trạng thái đau khổ mà còn vạch ra con đường để thoát khổ và tiến đến hạnh phúc
2.3.2 Những quan điểm về nhân sinh quan Phật giáo
2.3.2.1 Con người
Con người là sự kết hợp của ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) gồm hai yếu
tố chính: yếu tố sinh lý (sắc) và yếu tố tinh thần (thụ, tưởng, hành, thức) Yếu tố tinh thần chỉ phát huy tác dụng khi nó được gắn với một thân thể Sắc nhân chỉ tồn tại trong một thời gian rồi bị huỷ diệt
Trang 21Như vậy, theo Phật giáo, con người chỉ là một giả hợp sinh lý tuân theo quy luật: sinh, tục, dị, diệt Con người là do nhân duyên hoà hợp, không có một đấng tối thượng siêu nhiên tạo ra con người cũng như con người không phải tự nhiên mà sinh
ra Khi nhân duyên hoà hợp thì con người sinh, khi nhân duyên ta rã thì con người chết Song theo Phật giáo, chết chưa là hết mà có sự luân hồi Con người không phải
là thực thể trường tồn mà chỉ là giả hợp của ngũ uẩn Trong thời gian ngũ uẩn kết hợp, các việc thiện ác được thực hiện, gây nghiệp báo ở kiếp sau
2.3.2.2 Vị trí của con người trong đạo Phật
Đạo Phật chủ trương tự do, bình đẳng, từ bi, bác ái ở con người Những quan điểm đó được Phật thực hiện ngay trong giáo hội của mình: thu nạp tất cả mọi người
ở mọi đẳng cấp, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo Không dừng lại ở sự bình đẳng giữa con người với con người mà Phật còn nêu lên sự bình đẳng giữa các chúng sinh: người trước, vật sau tiến bước trên con đường giải thoát
Tự do theo quan niệm của Phật là con người sống trong an lạc, giải thoát, không
có áp bức, nô lệ, cũng không bị chi phối bởi ngũ dục Từ đó, Phật chú trọng đến giải phóng con người ra khỏi xiềng xích của dục vọng bằng phương pháp tu hành diệt dục Để sống tự do thì con người phải đấu tranh với bản thân mình để diệt trừ dục vọng và đấu tranh chống mọi áp bức bất công
Người ta gọi đạo Phật là đạo từ bi, người tu hành là người giàu lòng từ bi Từ bi
là đem lại sự an lạc, hạnh phúc cho người khác, cứu khổ cứu nạn chúng sinh, quên đi lợi ích của bản thân mình Tuy nhiên, từ bi không phải là không đấu tranh, luôn thụ động trước những bất công, áp bức, tham nhũng mà phải dùng sức mạnh từ bi để giáo hoá hay hơn thể nữa là đấu tranh
Vấn đề giải thoát là vấn đề cơ bản trong đạo Phật nhằm giải thoát con người khỏi cuộc sống đau khổ trong vô minh Việc giải phóng này là con người phải tự lực đảm nhiệm, không ai có thể thay được
Như vậy, Phật giáo đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và cao quý Hạnh phúc của con người là do con người xây đắp nên Con người thấm nhuần giáo lý Phật, con người vị tha, từ bi, hỉ xả sẽ kiến lập một xã hội hoà bình, an lạc, công bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, của tập thể Trái lại, con người ích kỷ
Trang 22chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn bạo, độc ác thì cái gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã hội của những con người ấy là xã hội áp bức bóc lột
Kết luận chương 2: Nhìn chung, tư tưởng triết học Phật giáo Việt Nam mặc
dù có một số yếu tố duy vật vô thần và biện chứng nhưng bản thể luận Phật giáo lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm chủ quan (vì giải thích nguồn gốc của khồ từ trong tâm, diệt khổ cũng từ trong tâm) Phật giáo cho rằng nguyên nhân cơ bản của cái khổ là
vô minh; và sự sáng suốt, giác ngộ của con người là yếu tố quyết định sự giải thoát con người khỏi mọi đau khổ Nhận thức luận của Phật giáo cũng có tính chất duy tâm Phật giáo không thừa nhận vai trò của nhận thức cảm tính và tư duy, cũng như vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức Mặc dù Phật giáo lên án rất gay gắt chế độ người bóc lột người, chống lại chủ nghĩa duy tâm của Bàlamôn giáo nhưng Phật giáo không chủ trương giải phóng con người bằng cách mạng xã hội Đứng trước bể khổ của chúng sinh, Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ không cải tạo thế giới hiện thực Phật cho cuộc đời là giả, ảo, mọi ham muốn đời thường đều là tội lỗi; thế nhưng Niết bàn, cái mà Phật cho là thực tại thì không có gì làm bằng chứng Phật giáo chủ trương xa lánh cuộc đời, phủ nhận sự biến đổi, cải tạo xã hội bằng thực tiễn cách
mạng