1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo kỹ thuật ĐÓNG GÓP DỰ KIẾN DO QUỐC GIA TỰ QUYẾT ĐỊNH CỦA VIỆT NAM

76 392 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 3,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BUR1 Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất CBDRM Chương trình quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng CBICS Dự án tăng cường năng lực thực hiện chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu

Trang 1

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Báo cáo kỹ thuật

ĐÓNG GÓP DỰ KIẾN

DO QUỐC GIA TỰ QUYẾT ĐỊNH

CỦA VIỆT NAM

Hà Nội, tháng 11 năm 2015

Trang 2

Báo cáo kỹ thuật Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết

định của Việt Nam

Nhóm biên soạn chính

Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Thục, Phạm Văn Tấn, Huỳnh Thị Lan Hương, Nguyễn Văn Thắng, Đào Minh Trang, Nguyễn Văn Minh, Chu Thị Thanh Hương

Các chuyên gia kỹ thuật

Nguyễn Minh Bảo, Nguyễn Mộng Cường, Trần Ánh Dương, Nguyễn Thị Hải, Hoàng Mạnh Hòa, Vương Xuân Hòa, Đoàn Thị Xuân Hương, Trần Mai Kiên, Đào Xuân Lai, Nguyễn Lanh, Nguyễn Cẩm Linh, Bùi Huy Phùng, Vũ Tấn Phương, Hoàng Văn Tâm, Mai Văn Trịnh, Hoàng Đức Trọng, Lê Nguyên Tường

Anna Schreyoegg, Axel Michaelowa, Carsten Warnecke, Gesine Hansel, Markus Hagemann, Matthias Honegger, Hannes Böttcher, Ralph O Harthan, Jenty Kirsch Wood, Koos Neefjes, Wilderspin Ian

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại Mỗi quốc gia đều phải có những đóng góp cụ thể để ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm góp phần bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất cho thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau

Là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu, Việt Nam đã tích cực, chủ động xây dựng Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định (INDC) của mình Nhiệm vụ này được Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các

Bộ, ngành liên quan triển khai thực hiện

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thành lập Tổ công tác liên ngành với sự tham gia của các Bộ, ngành, các nhà khoa học và Hội đồng tư vấn của Uỷ ban quốc gia về biến đổi khí hậu (VPCC) để xây dựng INDC của Việt Nam

Hàng chục Hội thảo tham vấn cấp quốc gia, cấp ngành đã được tổ chức với sự tham gia của đại diện các Bộ, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan nghiên cứu, VPCC, đại diện các doanh nghiệp cũng như các đối tác phát triển quốc tế để góp ý cho Dự thảo INDC Đồng thời, Dự thảo cũng đã được các Bộ, ngành xem xét, cho ý kiến chính thức Các ý kiến đóng góp đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp thu, hoàn thiện trước khi trình Thủ tướng Chính phủ quyết định Được sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ, ngày 29 tháng 09 năm

2015, INDC của Việt Nam đã được đệ trình Ban Thư ký Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) đúng thời hạn

INDC của Việt Nam gồm các đóng góp về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (KNK) và thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó có đóng góp vô điều kiện và đóng góp có điều kiện Các đóng góp vô điều kiện là các hoạt động sẽ được thực hiện bằng nguồn lực trong nước, các đóng góp có điều kiện là những hoạt động có thể được thực hiện nếu nhận được hỗ trợ

về tài chính, công nghệ và tăng cường năng lực từ quốc tế

Trong điều kiện kinh tế - xã hội của một nước đang phát triển, chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam đã cố gắng có những đóng góp thể hiện nỗ lực cao nhất và

có thể đạt được

Để triển khai thực hiện INDC, Việt Nam cần phải chuẩn bị về mọi mặt, từ thể chế, con người, đến công nghệ và nguồn lực Việt Nam sẽ giành ưu tiên cao nhất để thực hiện phần đóng góp vô điều kiện đã cam kết Phần còn lại cần có sự hỗ trợ quốc tế và sự tham gia tích cực của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước

Nhân dịp này tôi xin cảm ơn Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) và Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) đã hỗ trợ để Việt Nam hoàn thành xây dựng INDC bảo đảm chất lượng và đúng hạn Mong rằng UNDP, GIZ và các đối tác phát triển khác sẽ tiếp tục hỗ trợ để Việt Nam triển khai thực hiện INDC trong thời gian tới

Nguyễn Minh Quang

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC HÌNH viii

I Tổng quan về INDC 1

1.1 Giới thiệu 1

1.1.1 Quá trình hình thành 1

1.1.2 Mối liên hệ giữa INDC với các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính 3

1.2 INDC trong thỏa thuận khí hậu toàn cầu giai đoạn sau năm 2020 7

1.2.1 INDC trong Thỏa thuận toàn cầu mới về khí hậu và triển vọng cho giai đoạn sau năm 2020 7

1.2.2 Tổng hợp INDC của các quốc gia trên thế giới 9

II Quá trình xây dựng INDC ở Việt Nam 12

2.1 Quá trình về Quản lý 12

2.2 Quá trình về Kỹ thuật 12

2.3 Quá trình Tham vấn 13

III Nội dung INDC của Việt Nam 17

3.1 Giới thiệu 17

3.2 Bối cảnh quốc gia 18

3.2.1 Tổng quan Error! Bookmark not defined 3.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu 19

3.2.3 Phát thải khí nhà kính của Việt Nam 24

3.3 Hợp phần giảm nhẹ phát thải khí nhà kính 29

3.3.1 Các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trước 2020 29

3.3.2 Mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính giai đoạn 2021 - 2030 29

3.3.3 Các phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính 30

3.3.4 Tác động của các phương án đến kinh tế – xã hội và môi trường 46

3.4 Hợp phần thích ứng với biến đổi khí hậu 47

3.4.1 Sự cần thiết bao gồm hợp phần thích ứng trong INDC 47

3.4.2 Các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu đến năm 2020 48

3.4.3 Thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030 51

3.4.4 Tác động của các giải pháp thích ứng đến kinh tế - xã hội và môi trường 53

IV Thuận lợi và khó khăn trong thực hiện INDC của Việt Nam 53

4.1 Đối với các giải pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính 53

4.1.1 Thuận lợi 53

4.1.2 Khó khăn 54

4.2 Đối với các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu 55

Trang 5

4.2.1 Thuận lợi 55 4.2.2 Khó khăn 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 6

BUR1 Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất

CBDRM Chương trình quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng

CBICS Dự án tăng cường năng lực thực hiện chiến lược quốc gia về biến

đổi khí hậu CCWG Nhóm làm việc Phi chính phủ về BĐKH

CDM Cơ chế phát triển sạch

COMAP Mô hình quá trình phân tích giảm nhẹ phát thải KNK toàn diện

COP Hội nghị các Bên tham gia Công ước khung Liên Hợp Quốc về biến

đổi khí hậu CTR Chất thải rắn

Cục KTTVBĐKH Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSH Đồng bằng sông Hồng

Dự án NAMA Dự án “Hỗ trợ các hành động giảm nhẹ biến đổi khí hậu phù hợp với

điều kiện quốc gia tại Việt Nam”

EB Ban chấp hành quốc tế về Cơ chế Phát triển sạch

MRV Đo đạc, Báo cáo và Thẩm định

NAMA Các hành động giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp với điều kiện quốc

gia NBD Nước biển dâng

NĐT Kyoto Nghị định thư Kyoto

Trang 7

NLTT Năng lượng tái tạo

UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp quốc

UNFCCC Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu

Viện KHKTTVBĐKH Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

VPCC Hội đồng tư vấn của Uỷ ban quốc gia về biến đổi khí hậu

WB Ngân hàng Thế giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính 4

Bảng 1.2 Phân biệt giữa NAMA, INDC và GGS 5

Bảng 1.3 Tóm tắt INDC của một số Bên nước có lượng phát thải lớn 9

Bảng 1.4 Tóm tắt INDC của một số quốc gia thuộc ASEAN 10

Bảng 3.1 GDP theo giá so sánh 2010 phân theo khu vực kinh tế 18

Bảng 3.2 Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 2010 theo thành phần kinh tế 18

Bảng 3.3 Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng phân theo loại năng lượng 19

Bảng 3.4 Giả định về điện năng sản xuất của BAU 25

Bảng 3.5 Kết quả kiểm kê KNK năm 2010 và ước tính cho năm 2020 và 2030 của lĩnh vực năng lượng 25

Bảng 3.6 Kết quả kiểm kê KNK năm 2010 và ước tính cho năm 2020 và 2030 của lĩnh vực nông nghiệp 26

Bảng 3.7 Kết quả kiểm kê KNK năm 2010 và ước tính cho năm 2020 và 2030 của lĩnh vực LULUCF 26

Bảng 3.8 Kết quả kiểm kê năm 2010 và ước tính cho năm 2020 và 2030 của lĩnh vực chất thải 27

Bảng 3.9 Phát thải KNK năm 2010 và ước tính phát thải cho các năm 2020 và 2030 28

Bảng 3.10 Giả thiết đối với các phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong năng lượng 31

Bảng 3.11 Chi phí và tiềm năng giảm nhẹ của các phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong năng lượng 32

Bảng 3.12 Các phương án giảm nhẹ phát thải KNK trong năng lượng do quốc gia tự thực hiện 33

Bảng 3.13 Các phương án giảm nhẹ phát thải KNK trong năng lượng khi có thêm sự hỗ trợ quốc tế 34

Bảng 3.14 Giả thiết đối với các phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực nông nghiệp 34

Bảng 3.15 Chi phí và tiềm năng giảm nhẹ của các phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp 36

Bảng 3.16 Các phương án giảm nhẹ phát thải KNK trong nông nghiệp do quốc gia tự thực hiện 37

Bảng 3.17 Các phương án giảm nhẹ phát thải KNK trong nông nghiệp khi có thêm sự hỗ trợ quốc tế 38

Bảng 3.18 Giả thiết đối với các phương án tăng hấp thụ khí nhà kính trong lĩnh vực LULUCF 39

Bảng 3.19 Chi phí và tiềm năng giảm nhẹ của các phương án tăng hấp thụ khí nhà kính trong lĩnh vực LULUCF 39

Bảng 3.20 Các phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong LULUCF do quốc gia tự thực hiện 42

Bảng 3.21 Các phương án đề xuất trong lĩnh vực LULUCF khi có hỗ trợ quốc tế 42

Bảng 3.22 Giả thiết chung đối với các phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực chất thải 43

Bảng 3.23 Giả thiết riêng cho từng phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực chất thải 43

Bảng 3.24 Các phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực chất thải do quốc gia tự thực hiện 44

Bảng 3.25 Các phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực chất thải khi có hỗ trợ quốc tế 45

Bảng 3.26 Mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đến năm 2030 so với kịch bản BAU 45

Bảng 3.27.Tổng nhu cầu tài chính thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính giai đoạn 2021-2030 46

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Để nhiệt độ vào cuối thế kỷ tăng ở mức dưới 2○C, tổng lượng phát thải phải được

giới hạn ở mức dưới 1000GtC (IPCC, 2014) 1

Hình 1.2 Tiến trình đàm phán quốc tế về biến đổi khí hậu 2

Hình 1.3 Lộ trình hình thành INDC 3

Hình 1.4 Mối liên kết giữa NAMA, INDC và GGS 6

Hình 1.5 Các Bên nước đã đệ trình INDC 8

Hình 2.1 Hội thảo khởi động INDC 13

Hình 2.2 Cuộc họp kỹ thuật của Tổ công tác INDC 14

Hình 2.3 Làm việc tập trung xây dựng INDC 14

Hình 2.4 Hội thảo tham vấn với VPCC và các bên liên quan về dự thảo INDC của Việt Nam 15 Hình 2.5 Hội thảo công bố INDC của Việt Nam tại Hà Nội 16

Hình 2.6 Hội thảo “Đóng góp của Việt Nam cho thỏa thuận toàn cầu mới về khí hậu” tại TP Hồ Chí Minh 16

Hình 2.7 Hội thảo “Đóng góp của Việt Nam cho thỏa thuận toàn cầu mới về khí hậu” tại Đà Nẵng 17

Hình 3.1 Phát thải KNK năm 2010 và ước tính cho năm 2020 và 2030 (triệu tấn CO2tđ) 28

Hình 3.2.Đường cong chi phí của các phương án giảm nhẹ phát thải KNK trong lĩnh vực năng lượng 33

Hình 3.3 Đường cong chi phí của các phương án giảm nhẹ phát thải KNK trong lĩnh vực nông nghiệp 37

Hình 3.4 Đường cong chi phí của các phương án tăng hấp thụ KNK trong lĩnh vực LULUCF 41

Hình 3.5 Đường cong chi phí của các phương án giảm nhẹ phát thải KNK khí nhà kính trong lĩnh vực chất thải 44

Trang 10

I Tổng quan về INDC

1.1 Giới thiệu

Các Bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (Công ước Khí hậu - UNFCCC) đang trong quá trình đàm phán một thỏa thuận quốc tế mới về biến đổi khí hậu (BĐKH) cho giai đoạn sau năm

2020 Theo tính toán của Ban liên Chính

phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), để giữ nhiệt

độ trung bình toàn cầu vào cuối thế kỷ tăng

không quá 2oC so với thời kỳ tiền công

nghiệp, thì cả thế giới phải khống chế tổng

lượng phát thải KNK do con người gây ra

đến cuối thế kỷ ở mức dưới 1000 tỷ tấn CO2

tương đương (CO2tđ) (

Do thuật ngữ INDC vẫn chưa được định nghĩa trong bất cứ quyết định nào

của Hội nghị các bên (COP) cho nên vẫn còn khá

nhiều sự không rõ ràng liên quan đến phạm vi

của INDC

- Dự kiến (Intended): Thuật ngữ "dự

kiến" liên quan đến thực tế là tình trạng

pháp lý của các đóng góp và hình thức cuối

cùng của các đóng góp này theo Thỏa thuận

khí hậu toàn cầu mới sau 2020 vẫn chưa

được quyết định Ngoài ra, nó thể hiện rằng

các đóng góp có thể sẽ được xem xét hoặc

điều chỉnh

- Do quốc gia tự quyết định (Nationally determined): Thuật ngữ "quốc gia quyết

định" nhấn mạnh rằng những đóng góp sẽ được xây dựng bởi các quốc gia chứ không phải

là quyết định chung

- Đóng góp (Contribution): INDC đã được quy định tại Warsaw là đóng góp "nhằm

đạt được các mục tiêu của Công ước" Đó là "đạt được sự ổn định của nồng độ KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn chặn tác động nguy hiểm đến hệ thống khí hậu” Mức độ như

vậy cần phải đạt được trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái tự nhiên thích ứng với BĐKH, bảo đảm việc sản xuất lương thực không bị đe doạ và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế tiến triển một cách bền vững” INDC cũng có thể đóng góp vào nhiều mục tiêu trong nước liên quan đến việc chuyển đổi sang nền kinh tế các-bon thấp, bao gồm cả lợi ích trong hiệu quả năng lượng, giảm phá rừng, đảm bảo chất lượng không khí Ngoài ra, INDC cho phép các Bên thể hiện sự đóng góp quốc gia vào nỗ lực toàn cầu của tất

cả các Bên Thuật ngữ "đóng góp" được sử dụng mà không ảnh hưởng đến tính chất pháp

lý của mức đóng góp hoặc loại hình đóng góp “Đóng góp” theo cách hiểu của nhiều nước

đang phát triển còn bao gồm cả thích ứng, tài chính, tăng cường năng lực, hỗ trợ và chuyển giao công nghệ chứ không chỉ là “giảm nhẹ phát thải KNK” Thời gian “đóng góp” có thể là ngắn hạn (<5 năm), trung hạn (6-10 năm) và dài hạn (trên 10 năm)

Hiện nay, chưa có hướng dẫn rõ ràng về phạm vi INDC, tuy nhiên, các quốc gia đều hiểu rằng INDC sẽ bao gồm mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK của quốc gia để góp phần vào

Nguồn: IPCC, 2014

Hình 1.1 Để nhiệt độ vào cuối thế kỷ tăng ở mức dưới 2 ○ C, tổng lượng phát thải phải được giới hạn ở mức dưới

1000GtC (IPCC, 2014)

Trang 11

sự "ổn định nồng độ KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy

hiểm đến hệ thống khí hậu” (Điều 2, mục tiêu của Công ước Khí hậu) Nhiều nước đang

phát triển muốn bao gồm cả các thông tin về thích ứng, tài chính và các vấn đề khác trong INDC

Như vậy, INDC sẽ là một đầu vào quan trọng cho quá trình chuẩn bị đàm phán về Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020 tại Pari (Pháp) Thuật ngữ "đóng góp" có thể được hiểu như một sự thỏa hiệp cho "cam kết", được sử dụng cho các nước phát triển; và

"hành động giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp điều kiện quốc gia", vẫn đang được sử

dụng cho các nước đang phát triển COP 20 (2014) đã xác định đây là nghĩa vụ của các

Bên, theo nguyên tắc trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và tuỳ thuộc vào năng lực và

hoàn cảnh quốc gia Về tổng thể, INDC sẽ là các nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết vấn đề BĐKH, đảm bảo mục tiêu 2oC

Từ COP 13 (2007) thế giới đã hình thành một hướng tiếp cận mới về giảm nhẹ phát

thải KNK đối với các nước đang phát triển, được gọi là “các hành động giảm nhẹ phát thải

KNK phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA)”

Về định nghĩa, NAMA là các hành động tự nguyện và hỗ trợ phát triển bền vững NAMA được xác định dựa vào kinh nghiệm và thực tiễn thay vì các quy tắc của Công ước Khí hậu, nhằm mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK so với “phát triển thông thường” (BAU) đến năm 2020 Nếu chia theo hình thức huy động vốn thì NAMA có thể được phân làm hai loại: NAMA đơn phương và NAMA được hỗ trợ Nếu chia theo hình thức tạo tín chỉ thì có NAMA tạo tín chỉ trực tiếp và NAMA không tạo tín chỉ trực tiếp (NAMA chính sách)

Vai trò của NAMA trong Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020 có thể được tóm tắt như sau:

Trang 12

- NAMA có thể là một phần của các hành động quốc gia và chiến lược tăng trưởng xanh; là phương tiện liên quan đến hỗ trợ tài chính và kỹ thuật quốc tế, là công cụ để thực hiện các cam kết hỗ trợ quốc tế theo Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020

- NAMA có nhiều đặc điểm phù hợp với Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020:

có sự tham gia của nhiều bên liên quan và nhiều dạng hành động, dễ dàng kết hợp với các công cụ khác như cơ chế thị trường, cam kết ràng buộc

- Hiện tại có một số cơ chế hỗ trợ cho quá trình hình thành và thực hiện NAMA như Quỹ Khí hậu Xanh (GCF)

- NAMA có thể được chuyển đổi hoặc lồng ghép vào INDC, liên kết với các cơ chế khác trong khuôn khổ Công ước Khí hậu

Quá trình hình thành và xây dựng các hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK của các quốc gia thuộc Phụ lục I và không thuộc Phụ lục I được tóm tắt trong Bảng 1.1 Trước năm

2020, NAMA được xem là công cụ giúp các nước đang phát triển thực hiện việc giảm nhẹ phát thải KNK Tuy nhiên, giai đoạn sau 2020, tất cả các quốc gia đều có trách nhiệm thực hiện INDC

Bảng 1.1 Các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính Thời gian Trước 2008 2008 - 2012 2013-2020 Sau 2020

Phụ lục I

Mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK cho toàn

bộ nền kinh tế

Giảm nhẹ phát thải KNK theo NĐT Kyoto giai đoạn 1

Giảm nhẹ phát thải KNK theo NĐT Kyoto giai đoạn 2 INDC

Mối liên hệ giữa NAMA và INDC có thể được tóm tắt như sau:

- NAMA có thể là các hành động thực hiện INDC

- NAMA có thể là điểm khởi đầu để xác định INDC

- NAMA có thể được coi là “đóng góp” (như vậy có thể làm giảm tính chất tự nguyện, nếu INDC trở thành cam kết)

- Các Bên đã đệ trình mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK trong NAMA theo Thỏa thuận Copenhagen có thể đổi thành INDC

INDC và NAMA có mối liên kết mật thiết Tuy nhiên, NAMA không phải là INDC Cụ thể là do tính chất tự nguyện của NAMA (một trong những bí quyết thành công của NAMA)

và tính chất ràng buộc ngầm của INDC (đặc biệt là nếu sau này chuyển đổi thành các cam kết), đó chính là khác biệt then chốt Mặt khác, NAMA và INDC đều cung cấp khuôn khổ linh hoạt để có thể đa dạng hóa các hành động giảm nhẹ phát thải KNK, trong khi đó, vẫn đảm bảo các định hướng phát triển của quốc gia

Trang 13

Bên cạnh đó, NAMA có một vai trò trong sự hình thành và phát triển của INDC NAMA có thể được xem là một phần của INDC và có thể là điểm khởi đầu để xác định INDC

từ dưới lên Với mục tiêu rõ ràng, NAMA có thể trở thành một trong những công cụ quan trọng để thực hiện INDC Theo đó, INDC sẽ là mục tiêu tổng thể, và NAMA sẽ là các hành động để đạt được mục tiêu đó INDC có thể thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện NAMA

2) NAMA, INDC, và Chiến lược tăng trưởng xanh

Mặc dù chưa có một định nghĩa chính thức nhưng khái niệm Chiến lược phát triển

theo hướng phát thải thấp (Low Emission Development Strategy - LEDS) thường bao gồm

kế hoạch hay chiến lược phát triển kinh tế quốc gia hướng tới một nền kinh tế phát thải thấp và/hoặc tăng trưởng kinh tế với khả năng chống chịu BĐKH Thuật ngữ LEDS đã được đề cập cụ thể trong các văn bản đàm phán, cũng như đã được đề cập trong Thỏa thuận Copenhagen với nhận thức rằng LEDS không thể thiếu đối với phát triển bền vững

Có thể thấy LEDS không khác nhiều so với Chiến lược tăng trưởng xanh (GGS) Việc xây dựng và thực hiện GGS được xem là đầu tư cho kế hoạch quốc gia toàn diện, tổng hợp và hiệu quả hơn; giúp ưu tiên lựa chọn các hành động giảm nhẹ phát thải KNK và tạo điều kiện thuận lợi để tích hợp vào khuôn khổ các chính sách dài hạn

Các yếu tố quan trọng của GGS bao gồm: (1) Là công cụ chính sách xác định các hành động giảm nhẹ phát thải KNK ưu tiên của quốc gia; (2) Tập trung đạt được mục tiêu phát triển thông qua các hành động giảm nhẹ phát thải KNK; (3) Giúp cải thiện hệ thống chính sách để tăng đầu tư từ lĩnh vực tư nhân vào các hành động giảm nhẹ phát thải KNK

NAMA và INDC được đánh giá là các công cụ hỗ trợ thực hiện GGS

- NAMA là hành động giảm nhẹ phát thải KNK của các quốc gia đang phát triển phù hợp với năng lực và hoàn cảnh quốc gia NAMA, trong bối cảnh này, được xem là mục tiêu ngắn và trung hạn của một quốc gia (giai đoạn 2012-2020) dựa trên GGS NAMA là một công cụ để chuyển các mục tiêu ngắn và trung hạn vào các kế hoạch hành động (KHHĐ) để thực hiện các kế hoạch và GGS

- Một cách tương tự, INDC được xác định cho giai đoạn sau 2020 trên phạm vi toàn quốc trong bối cảnh khả năng và hoàn cảnh đất nước để giảm nhẹ phát thải KNK Như vậy, INDC cũng có thể được coi là một mục tiêu ngắn và trung hạn để thực hiện GGS Mặt khác, INDC là một biện pháp toàn diện bao gồm các mục tiêu, kế hoạch và chiến lược giảm nhẹ phát thải KNK, do đó sẽ củng cố các mục tiêu của GGS

Bảng 1.2 Phân biệt giữa NAMA, INDC và GGS

Là công cụ chính sách nhằm xác định nguồn phát thải và ưu tiên hóa các phương án giảm nhẹ phát thải KNK

Thành

phần - Dự án; - Chính sách & chiến lược;

- Nghiên cứu và phát triển;

Trang 14

và tăng cường năng lực - Chính sách và hành động

được xác định dựa vào

kinh nghiệm và thực tiễn

thay vì các quy tắc của

Công ước Khí hậu;

phương và đa phương:

đầu tư công để thu hút

đầu tư của tư nhân

- “Đóng góp" cho giảm nhẹ

phát thải KNK;

- “Đóng góp" bao gồm thích ứng, tài chính, tăng cường năng lực, hỗ trợ

và chuyển giao công

nghệ;

- Về tổng thể, INDC là nỗ lực của cộng đồng trong giải quyết BĐKH, đối chiếu giữa việc cắt giảm

KNK với mục tiêu 2°C;

- Áp dụng từ 2020 trở đi

- Tổng thể tầm quốc gia, mang tính dài hạn, được xây dựng bởi các bên liên quan trong nước, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội từ các hoạt động giảm nhẹ phát

thải KNK;

- Giúp tăng cường cơ sở

để thành phần tư nhân đầu tư vào các hoạt động

giảm nhẹ phát thải KNK;

- Dài hạn, năng động, quá trình theo chu kỳ kéo dài nhiều năm hoặc thập

niên;

- Cần có cam kết giảm nhẹ phát thải KNK tự nguyện của quốc gia, thí dụ: giảm

so với BAU hoặc năm cơ

sở…

Trong quá trình đàm phán, tất cả các Bên thừa nhận rằng sẽ chuẩn bị INDC của họ phù hợp với các nguyên tắc công bằng và "Trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và tuỳ thuộc vào năng lực và hoàn cảnh quốc gia" Như vậy “phù hợp quốc gia” - cốt lõi của NAMA – cũng chính là một hình thức của "Trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và tuỳ thuộc vào năng lực và hoàn cảnh quốc gia" đối với các nước đang phát triển Điều này có nghĩa là các NAMA có thể được lồng ghép trong INDC

Như vậy, bản chất của mối quan hệ giữa NAMA, INDC và GGS là: NAMA và INDC là mục tiêu ngắn và trung hạn, trong khi đó GGS là chiến lược dài hạn của quốc gia để tăng trưởng kinh tế - xã hội với khả năng chống chịu với BĐKH NAMA là công cụ thông qua INDC để thực hiện các mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK trong các chiến lược dài hạn của quốc gia (Hình 1.4)

Hình 1.4 Mối liên kết giữa NAMA, INDC và GGS

Tóm lại, NAMA có thể được xem là một phần của INDC, là điểm khởi đầu để xác định INDC theo cách từ dưới lên Các nước đang phát triển có thể sử dụng NAMA như một công

Trang 15

cụ để thực hiện INDC INDC có thể được coi là mục tiêu tổng thể và NAMA là các hành động cụ thể để đạt được mục tiêu đó Theo quan điểm này thì NAMA có thể tiếp tục được thực hiện như một thành phần của INDC sau năm 2020 Năng lực và thể chế về xác định, xây dựng và thực hiện NAMA, bao gồm cả Đo đạc, Báo cáo và Thẩm định (MRV), có thể hỗ trợ việc xây dựng INDC và thực hiện các hành động giảm nhẹ phát thải KNK để đạt được mục tiêu của INDC

INDC được coi là mục tiêu ngắn và trung hạn để thực hiện GGS và phát triển bền vững INDC là một phương thức để các quốc gia xác định và thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK và thích ứng với BĐKH Đối với các nước phát triển, mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK được áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế Đối với các nước đang phát triển mục tiêu

có thể là giảm nhẹ phát thải KNK so với BAU, hoặc giảm cường độ phát thải theo GDP so với năm cơ sở Đối với các nước kém phát triển, mục tiêu có thể là các chính sách, mục tiêu ngành nhằm tạo điều kiện giảm nhẹ phát thải KNK

Thích ứng với BĐKH cũng là một thành phần của INDC Thích ứng tốt với BĐKH thì hiệu quả sẽ không chỉ giới hạn trong phạm vi một địa phương, một khu vực mà còn vượt ra khỏi phạm vi quốc gia Thích ứng tốt sẽ giảm tổn thất và thiệt hại, tăng khả năng chống chịu

và từ đó đóng góp tốt hơn trong giảm nhẹ phát thải KNK

1.2 INDC trong Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020

1.2.1 INDC trong Thỏa thuận toàn cầu mới về khí hậu và triển vọng cho giai đoạn sau năm 2020

Thỏa thuận mới về BĐKH sẽ "áp dụng cho tất cả các Bên” Điều này có nghĩa là, không giống như NĐT Kyoto với các cam kết giảm nhẹ phát thải KNK cho các Bên thuộc Phụ lục I, các quy định của Thoả thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020 sẽ áp dụng cho tất cả các Bên tham gia Công ước Khí hậu

Theo quan điểm của các nước phát triển, INDC chỉ cần bao gồm các hành động giảm nhẹ phát thải KNK, trong khi đó, hầu hết các nước đang phát triển (trừ các nước kém phát triển) có quan điểm rằng INDC cần phải bao gồm tất cả các yếu tố Điều này có nghĩa là nhu cầu thích ứng của một quốc gia có liên quan chặt chẽ đến các nỗ lực giảm nhẹ phát thải KNK toàn cầu

Các yếu tố giảm nhẹ phát thải KNK trong INDC sẽ được xem là các cam kết quốc gia nhằm giảm nhẹ phát thải KNK trong khoảng thời gian xác định Mặc dù thỏa thuận mới được

áp dụng cho tất cả các Bên, tuy nhiên, các Bên sẽ có những hành động giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp với nguyên tắc "Trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và tuỳ thuộc vào năng lực và hoàn cảnh quốc gia"

Mặc dù hiện nay chưa có thỏa thuận nào đạt được, song lại có đề nghị nêu rõ rằng các cam kết có thể bao gồm (không phân biệt giữa hai loại của các quốc gia) từ các mục tiêu định lượng giảm nhẹ phát thải KNK cho toàn bộ nền kinh tế (bắt buộc đối với các nước phát triển), đến các mục tiêu giảm cường độ phát thải KNK hoặc giảm so với BAU (đối với các nước đang phát triển) và các mục tiêu chính sách, mục tiêu năng lượng tái tạo (NLTT) hoặc mục tiêu hiệu quả năng lượng cho các nước kém phát triển Các Bên cũng có thể đề xuất nhiều mục tiêu, bao gồm cả các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn và các quốc gia có thể bổ sung thêm thông tin về hành động trong nước để nâng cao mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK của các quốc gia so với thời kỳ trước năm 2020

Tại COP 20 (2014), các Bên đã thống nhất nội dung của INDC cần minh bạch, thuận lợi cho việc giải trình; có thể bao gồm các thông tin về năm cơ sở, khung thời gian triển khai, phạm vi thực hiện, các giả định và phương pháp luận áp dụng (đặc biệt đối với việc xác định mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK); giải trình lý do quốc gia coi đóng góp đó là công bằng và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của quốc gia cũng như góp phần đạt được mục tiêu cuối

Trang 16

cùng của Công ước khí hậu Bên cạnh đó, các quốc gia kêu gọi các nước phát triển và các

tổ chức quốc tế hỗ trợ cho xây dựng và thực hiện INDC tại các nước có nhu cầu hỗ trợ và yêu cầu Ban Thư ký Công ước Khí hậu công bố INDC của các Bên lên trang thông tin điện

tử của mình và tổng hợp báo cáo về INDC của các quốc gia vào tháng 10 năm 2015

Cũng tại COP20, các quốc gia đã thống nhất về nội dung cơ bản của INDC và thời hạn đệ trình INDC trong quý I năm 2015 đối với các quốc gia “sẵn sàng làm việc này”; các quốc gia khác sẽ đệ trình INDC “sớm nhất có thể” trước khi COP21 diễn ra (tại Paris, năm 2015) Tuy nhiên, việc triển khai xây dựng INDC của nhiều nước đang phát triển phụ thuộc vào hỗ trợ quốc tế Với cam kết hỗ trợ tài chính đến hết 2015 ở mức khá thấp như hiện nay, kinh phí hỗ trợ cho xây dựng INDC cũng không nhiều

Đến thời hạn không chính thức là ngày 01 tháng 10 năm 2015, có 148 Bên nước đệ trình INDC cho Ban Thư ký Công ước Khí hậu, tổng lượng phát thải KNK của các Bên nước này chiếm 90% tổng lượng phát thải toàn cầu Còn 48 Bên nước, với tổng lượng phát thải chiếm 10% tổng lượng phát thải toàn cầu, chưa đệ trình INDC của mình

Có thể thấy, INDC đã tạo được bước đột phá trong đàm phán về BĐKH Đây là lần đầu tiên trong quá trình đàm phán toàn cầu về BĐKH, hầu như tất cả các Bên đã dự kiến đóng góp giảm nhẹ phát thải KNK Mức đóng góp là tích cực hơn so với các cam kết cũng như thông báo trước đây của các Bên

Mức độ đóng góp của các Bên nước là khá ấn tượng Hơn 150 quốc gia đã đệ trình cam kết chiếm khoảng 90% hoạt động kinh tế toàn cầu và gần 90% lượng KNK liên quan đến năng lượng toàn cầu Theo vùng trên thế giới, tất cả các nước ở Bắc Mỹ, gần như tất cả các nước ở châu Âu, khoảng 90% ở châu Phi, hai phần ba các nước đang phát triển ở châu

Á, 60% các nước ở Mỹ La tinh và một phần ba các nước ở Trung Đông đã nộp INDC Các quốc gia này hiện đang chiếm khoảng 90% nhu cầu nhiên liệu hóa thạch toàn cầu và gần 80% sản lượng nhiên liệu hóa thạch trên toàn cầu

Các hình thức đóng góp trong INDC bao gồm mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK theo giá trị tuyệt đối so với năm cơ sở; giảm nhẹ phát thải KNK so với "kịch bản phát triển thông thường, BAU"; giảm nhẹ cường độ phát thải trên một đơn vị sản lượng kinh tế; giảm nhẹ phát thải KNK bình quân đầu người; hoặc các chính sách và biện pháp liên quan đến giảm nhẹ phát thải KNK Một số INDC xác định đóng góp là vô điều kiện Trong khi đó, một số INDC xác định đóng góp vô điều kiện – thực hiện bằng nguồn lực trong nước và đóng góp

có điều kiện – thực hiện khi có hỗ trợ về tài chính hoặc các yếu tố khác

Theo ước tính của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA, 2015), nếu các Bên thực hiện

nghiêm chỉnh cam kết trong INDC thì nhiệt độ Trái đất vào cuối thế kỷ có thể tăng khoảng 2,5 đến 2,7oC

Trang 17

Hình 1.5 Các Bên nước đã đệ trình INDC) Nhằm đạt được mục tiêu này, các nước phát triển cần cam kết giảm nhẹ phát thải KNK mạnh mẽ và các nước đang phát triển cũng cần có những đóng góp cụ thể Trong bối cảnh đó, Hội nghị các Bên tham gia Công ước Khí hậu lần thứ 19 (COP19) tại Ba Lan năm 2013 đã kêu gọi tất cả các Bên xây dựng

“Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định” (INDC), trong đó, đề xuất các mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK, cùng góp phần đạt được mục tiêu của Công ước khí hậu

1.1.1 Quá trình hình thành

Nghị định thư Kyoto (NĐT Kyoto) đang trong giai đoạn cam kết lần thứ 2, từ 2013 đến 2020 Chính vì vậy, các Bên thuộc Công ước Khí hậu đang đàm phán một thỏa thuận quốc tế mới cho giai đoạn sau năm 2020, nhằm hạn chế sự tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu vào cuối thế kỷ ở mức dưới 2oC Theo các phân tích thì nếu chỉ có các nước phát triển thực hiện cam kết giảm nhẹ phát thải KNK, mà những nước khác không hành động thì lượng phát thải vượt ngưỡng 2oC là khoảng 8Gt CO2tđ Nhằm khống chế mức tăng nhiệt độ

ở mức dưới 2oC, các nước phát triển cần cam kết mạnh về giảm nhẹ phát thải KNK và các nước đang phát triển cũng cần có những đóng góp cụ thể

Ý tưởng về INDC được hình thành từ COP 15 ở Copenhagen để chuẩn bị cho một

quá trình đàm phán cho một thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020 INDC là "đóng góp"

của các Bên nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của Công ước Khí hậu

Tuy đã được đề cập tại COP 15 (2009), nhưng mãi đến COP 19 (2013), các Bên mới

quyết định (1/CP.19): “Kêu gọi tất cả các Bên bắt đầu hoặc đẩy mạnh quá trình chuẩn bị cho

Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định (Intended Nationally Determined Contributions – INDC)” và “Các Bên sẽ đệ trình INDC trước COP 21 (dự kiến trong quý I năm 2015) nhằm tạo điều kiện cho sự rõ ràng, minh bạch về những đóng góp được xác định”

Hình 1.2 Tiến trình đàm phán quốc tế về biến đổi khí hậu

Do thuật ngữ INDC vẫn chưa được định nghĩa trong bất cứ quyết định nào của Hội nghị các bên (COP) cho nên vẫn còn khá nhiều sự không rõ ràng liên quan đến phạm vi của INDC

- Dự kiến (Intended): Thuật ngữ "dự kiến" liên quan đến thực tế là tình trạng pháp lý

của các đóng góp và hình thức cuối cùng của các đóng góp này theo Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020 vẫn chưa được quyết định Ngoài ra, nó thể hiện rằng các đóng góp

có thể sẽ được xem xét hoặc điều chỉnh

UNFCCC COP3 ……… COP11 COP12 COP13 COP14 COP15 COP16 COP17 COP18 COP19 COP20 COP21

NĐT Kyoto

Ký và Phê chuẩn

Có hiệu lực

Giai đoạn cam kết đầu tiên (2008 – 2012)

CMP1 CMP2 CMP3 CMP4 CMP5 CMP6 CMP7 CMP8 CMP9 CMP10 CMP11

2014

Lộ trình Bali:

Nhằm đạt thỏa thuận vào 2009 cho sau 2020

2015 1988

Thỏa thuận Cancun

Tài chính và & mục tiêu giảm nhẹ cho 2020, tài chính thích ứng và chuyển giao công nghệ

Nền tảng Durban:

Giai đoạn cam kết thứ

2 của KP, Durban Platform nhằm đạt thỏa thuận mới vào 2015

Thỏa thuận Copenhagen:

Công bố của các nền kinh tế ngoài tiến trình của UNFCCC

Cánh cổng Doha:

Kết thúc quá trình Bali: Chi tiết cho giai đoạn cam kết thứ 2

Con đường Warsaw

Hạn chót cho thỏa thuận toàn cầu sau 2020

Hiệu triệu Lima:

INDC được

áp dụng cho tất cả các Bên

Paris

Trang 18

- Do quốc gia tự quyết định (Nationally determined): Thuật ngữ "quốc gia quyết

định" nhấn mạnh rằng những đóng góp sẽ được xây dựng bởi các quốc gia chứ không phải

là quyết định chung

- Đóng góp (Contribution): INDC đã được quy định tại Warsaw là đóng góp "nhằm

đạt được các mục tiêu của Công ước" Đó là "đạt được sự ổn định của nồng độ KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn chặn tác động nguy hiểm đến hệ thống khí hậu” Mức độ như

vậy cần phải đạt được trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái tự nhiên thích ứng với BĐKH, bảo đảm việc sản xuất lương thực không bị đe doạ và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế tiến triển một cách bền vững” INDC cũng có thể đóng góp vào nhiều mục tiêu trong nước liên quan đến việc chuyển đổi sang nền kinh tế các-bon thấp, bao gồm cả lợi ích trong hiệu quả năng lượng, giảm phá rừng, đảm bảo chất lượng không khí Ngoài ra, INDC cho phép các Bên thể hiện sự đóng góp quốc gia vào nỗ lực toàn cầu của tất

cả các Bên Thuật ngữ "đóng góp" được sử dụng mà không ảnh hưởng đến tính chất pháp

lý của mức đóng góp hoặc loại hình đóng góp “Đóng góp” theo cách hiểu của nhiều nước

đang phát triển còn bao gồm cả thích ứng, tài chính, tăng cường năng lực, hỗ trợ và chuyển giao công nghệ chứ không chỉ là “giảm nhẹ phát thải KNK” Thời gian “đóng góp” có thể là ngắn hạn (<5 năm), trung hạn (6-10 năm) và dài hạn (trên 10 năm)

Hiện nay, chưa có hướng dẫn rõ ràng về phạm vi INDC, tuy nhiên, các quốc gia đều hiểu rằng INDC sẽ bao gồm mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK của quốc gia để góp phần vào

sự "ổn định nồng độ KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy

hiểm đến hệ thống khí hậu” (Điều 2, mục tiêu của Công ước Khí hậu) Nhiều nước đang

phát triển muốn bao gồm cả các thông tin về thích ứng, tài chính và các vấn đề khác trong INDC

Như vậy, INDC sẽ là một đầu vào quan trọng cho quá trình chuẩn bị đàm phán về Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020 tại Pari (Pháp) Thuật ngữ "đóng góp" có thể được hiểu như một sự thỏa hiệp cho "cam kết", được sử dụng cho các nước phát triển; và

"hành động giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp điều kiện quốc gia", vẫn đang được sử

dụng cho các nước đang phát triển COP 20 (2014) đã xác định đây là nghĩa vụ của các

Bên, theo nguyên tắc trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và tuỳ thuộc vào năng lực và

hoàn cảnh quốc gia Về tổng thể, INDC sẽ là các nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết vấn đề BĐKH, đảm bảo mục tiêu 2oC

Trang 19

Từ COP 13 (2007) thế giới đã hình thành một hướng tiếp cận mới về giảm nhẹ phát

thải KNK đối với các nước đang phát triển, được gọi là “các hành động giảm nhẹ phát thải

KNK phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA)”

Về định nghĩa, NAMA là các hành động tự nguyện và hỗ trợ phát triển bền vững NAMA được xác định dựa vào kinh nghiệm và thực tiễn thay vì các quy tắc của Công ước Khí hậu, nhằm mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK so với “phát triển thông thường” (BAU) đến năm 2020 Nếu chia theo hình thức huy động vốn thì NAMA có thể được phân làm hai loại: NAMA đơn phương và NAMA được hỗ trợ Nếu chia theo hình thức tạo tín chỉ thì có NAMA tạo tín chỉ trực tiếp và NAMA không tạo tín chỉ trực tiếp (NAMA chính sách)

Vai trò của NAMA trong Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020 có thể được tóm tắt như sau:

- NAMA có thể là một phần của các hành động quốc gia và chiến lược tăng trưởng xanh; là phương tiện liên quan đến hỗ trợ tài chính và kỹ thuật quốc tế, là công cụ để thực hiện các cam kết hỗ trợ quốc tế theo Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020

- NAMA có nhiều đặc điểm phù hợp với Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020:

có sự tham gia của nhiều bên liên quan và nhiều dạng hành động, dễ dàng kết hợp với các công cụ khác như cơ chế thị trường, cam kết ràng buộc

- Hiện tại có một số cơ chế hỗ trợ cho quá trình hình thành và thực hiện NAMA như Quỹ Khí hậu Xanh (GCF)

- NAMA có thể được chuyển đổi hoặc lồng ghép vào INDC, liên kết với các cơ chế khác trong khuôn khổ Công ước Khí hậu

Trang 20

Quá trình hình thành và xây dựng các hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK của các quốc gia thuộc Phụ lục I và không thuộc Phụ lục I được tóm tắt trong Bảng 1.1 Trước năm

2020, NAMA được xem là công cụ giúp các nước đang phát triển thực hiện việc giảm nhẹ phát thải KNK Tuy nhiên, giai đoạn sau 2020, tất cả các quốc gia đều có trách nhiệm thực hiện INDC

Bảng 1.1 Các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính Thời gian Trước 2008 2008 - 2012 2013-2020 Sau 2020

Phụ lục I

Mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK cho toàn

bộ nền kinh tế

Giảm nhẹ phát thải KNK theo NĐT Kyoto giai đoạn 1

Giảm nhẹ phát thải KNK theo NĐT Kyoto giai đoạn 2 INDC

Mối liên hệ giữa NAMA và INDC có thể được tóm tắt như sau:

- NAMA có thể là các hành động thực hiện INDC

- NAMA có thể là điểm khởi đầu để xác định INDC

- NAMA có thể được coi là “đóng góp” (như vậy có thể làm giảm tính chất tự nguyện, nếu INDC trở thành cam kết)

- Các Bên đã đệ trình mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK trong NAMA theo Thỏa thuận Copenhagen có thể đổi thành INDC

INDC và NAMA có mối liên kết mật thiết Tuy nhiên, NAMA không phải là INDC Cụ thể là do tính chất tự nguyện của NAMA (một trong những bí quyết thành công của NAMA)

và tính chất ràng buộc ngầm của INDC (đặc biệt là nếu sau này chuyển đổi thành các cam kết), đó chính là khác biệt then chốt Mặt khác, NAMA và INDC đều cung cấp khuôn khổ linh hoạt để có thể đa dạng hóa các hành động giảm nhẹ phát thải KNK, trong khi đó, vẫn đảm bảo các định hướng phát triển của quốc gia

Bên cạnh đó, NAMA có một vai trò trong sự hình thành và phát triển của INDC NAMA có thể được xem là một phần của INDC và có thể là điểm khởi đầu để xác định INDC

từ dưới lên Với mục tiêu rõ ràng, NAMA có thể trở thành một trong những công cụ quan trọng để thực hiện INDC Theo đó, INDC sẽ là mục tiêu tổng thể, và NAMA sẽ là các hành động để đạt được mục tiêu đó INDC có thể thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện NAMA

2) NAMA, INDC, và Chiến lược tăng trưởng xanh

Mặc dù chưa có một định nghĩa chính thức nhưng khái niệm Chiến lược phát triển

theo hướng phát thải thấp (Low Emission Development Strategy - LEDS) thường bao gồm

kế hoạch hay chiến lược phát triển kinh tế quốc gia hướng tới một nền kinh tế phát thải thấp và/hoặc tăng trưởng kinh tế với khả năng chống chịu BĐKH Thuật ngữ LEDS đã được đề cập cụ thể trong các văn bản đàm phán, cũng như đã được đề cập trong Thỏa thuận Copenhagen với nhận thức rằng LEDS không thể thiếu đối với phát triển bền vững

Trang 21

Có thể thấy LEDS không khác nhiều so với Chiến lược tăng trưởng xanh (GGS) Việc xây dựng và thực hiện GGS được xem là đầu tư cho kế hoạch quốc gia toàn diện, tổng hợp và hiệu quả hơn; giúp ưu tiên lựa chọn các hành động giảm nhẹ phát thải KNK và tạo điều kiện thuận lợi để tích hợp vào khuôn khổ các chính sách dài hạn

Các yếu tố quan trọng của GGS bao gồm: (1) Là công cụ chính sách xác định các hành động giảm nhẹ phát thải KNK ưu tiên của quốc gia; (2) Tập trung đạt được mục tiêu phát triển thông qua các hành động giảm nhẹ phát thải KNK; (3) Giúp cải thiện hệ thống chính sách để tăng đầu tư từ lĩnh vực tư nhân vào các hành động giảm nhẹ phát thải KNK

NAMA và INDC được đánh giá là các công cụ hỗ trợ thực hiện GGS

- NAMA là hành động giảm nhẹ phát thải KNK của các quốc gia đang phát triển phù hợp với năng lực và hoàn cảnh quốc gia NAMA, trong bối cảnh này, được xem là mục tiêu ngắn và trung hạn của một quốc gia (giai đoạn 2012-2020) dựa trên GGS NAMA là một công cụ để chuyển các mục tiêu ngắn và trung hạn vào các kế hoạch hành động (KHHĐ) để thực hiện các kế hoạch và GGS

- Một cách tương tự, INDC được xác định cho giai đoạn sau 2020 trên phạm vi toàn quốc trong bối cảnh khả năng và hoàn cảnh đất nước để giảm nhẹ phát thải KNK Như vậy, INDC cũng có thể được coi là một mục tiêu ngắn và trung hạn để thực hiện GGS Mặt khác, INDC là một biện pháp toàn diện bao gồm các mục tiêu, kế hoạch và chiến lược giảm nhẹ phát thải KNK, do đó sẽ củng cố các mục tiêu của GGS

Bảng 1.2 Phân biệt giữa NAMA, INDC và GGS

Là công cụ chính sách nhằm xác định nguồn phát thải và ưu tiên hóa các phương án giảm nhẹ phát thải KNK

Thành

phần - Dự án; - Chính sách & chiến lược;

- Nghiên cứu và phát triển;

- Cam kết;

- Hai loại NAMA: đơn

phương và có tài trợ; có

thể bao gồm tài chính,

chuyển giao công nghệ,

và tăng cường năng lực

- Mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK định lượng,

được xác định dựa vào

kinh nghiệm và thực tiễn

thay vì các quy tắc của

Công ước Khí hậu;

phương và đa phương:

đầu tư công để thu hút

- “Đóng góp" cho giảm nhẹ

phát thải KNK;

- “Đóng góp" bao gồm thích ứng, tài chính, tăng cường năng lực, hỗ trợ

và chuyển giao công

nghệ;

- Về tổng thể, INDC là nỗ lực của cộng đồng trong giải quyết BĐKH, đối chiếu giữa việc cắt giảm

KNK với mục tiêu 2°C;

- Tổng thể tầm quốc gia, mang tính dài hạn, được xây dựng bởi các bên liên quan trong nước, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội từ các hoạt động giảm nhẹ phát

thải KNK;

- Giúp tăng cường cơ sở

để thành phần tư nhân đầu tư vào các hoạt động

giảm nhẹ phát thải KNK;

Trang 22

đầu tư của tư nhân - Áp dụng từ 2020 trở đi - Dài hạn, năng động, quá

trình theo chu kỳ kéo dài nhiều năm hoặc thập

niên;

- Cần có cam kết giảm nhẹ phát thải KNK tự nguyện của quốc gia, thí dụ: giảm

so với BAU hoặc năm cơ

sở…

Trong quá trình đàm phán, tất cả các Bên thừa nhận rằng sẽ chuẩn bị INDC của họ phù hợp với các nguyên tắc công bằng và "Trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và tuỳ thuộc vào năng lực và hoàn cảnh quốc gia" Như vậy “phù hợp quốc gia” - cốt lõi của NAMA – cũng chính là một hình thức của "Trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và tuỳ thuộc vào năng lực và hoàn cảnh quốc gia" đối với các nước đang phát triển Điều này có nghĩa là các NAMA có thể được lồng ghép trong INDC

Như vậy, bản chất của mối quan hệ giữa NAMA, INDC và GGS là: NAMA và INDC là mục tiêu ngắn và trung hạn, trong khi đó GGS là chiến lược dài hạn của quốc gia để tăng trưởng kinh tế - xã hội với khả năng chống chịu với BĐKH NAMA là công cụ thông qua INDC để thực hiện các mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK trong các chiến lược dài hạn của quốc gia (Hình 1.4)

Hình 1.4 Mối liên kết giữa NAMA, INDC và GGS

Tóm lại, NAMA có thể được xem là một phần của INDC, là điểm khởi đầu để xác định INDC theo cách từ dưới lên Các nước đang phát triển có thể sử dụng NAMA như một công

cụ để thực hiện INDC INDC có thể được coi là mục tiêu tổng thể và NAMA là các hành động cụ thể để đạt được mục tiêu đó Theo quan điểm này thì NAMA có thể tiếp tục được thực hiện như một thành phần của INDC sau năm 2020 Năng lực và thể chế về xác định, xây dựng và thực hiện NAMA, bao gồm cả Đo đạc, Báo cáo và Thẩm định (MRV), có thể hỗ trợ việc xây dựng INDC và thực hiện các hành động giảm nhẹ phát thải KNK để đạt được mục tiêu của INDC

INDC được coi là mục tiêu ngắn và trung hạn để thực hiện GGS và phát triển bền vững INDC là một phương thức để các quốc gia xác định và thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK và thích ứng với BĐKH Đối với các nước phát triển, mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK được áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế Đối với các nước đang phát triển mục tiêu

có thể là giảm nhẹ phát thải KNK so với BAU, hoặc giảm cường độ phát thải theo GDP so với năm cơ sở Đối với các nước kém phát triển, mục tiêu có thể là các chính sách, mục tiêu ngành nhằm tạo điều kiện giảm nhẹ phát thải KNK

Trang 23

Thích ứng với BĐKH cũng là một thành phần của INDC Thích ứng tốt với BĐKH thì hiệu quả sẽ không chỉ giới hạn trong phạm vi một địa phương, một khu vực mà còn vượt ra khỏi phạm vi quốc gia Thích ứng tốt sẽ giảm tổn thất và thiệt hại, tăng khả năng chống chịu

và từ đó đóng góp tốt hơn trong giảm nhẹ phát thải KNK

1.2 INDC trong Thỏa thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020

1.2.1 INDC trong Thỏa thuận toàn cầu mới về khí hậu và triển vọng cho giai đoạn sau năm 2020

Thỏa thuận mới về BĐKH sẽ "áp dụng cho tất cả các Bên” Điều này có nghĩa là, không giống như NĐT Kyoto với các cam kết giảm nhẹ phát thải KNK cho các Bên thuộc Phụ lục I, các quy định của Thoả thuận khí hậu toàn cầu mới sau 2020 sẽ áp dụng cho tất cả các Bên tham gia Công ước Khí hậu

Theo quan điểm của các nước phát triển, INDC chỉ cần bao gồm các hành động giảm nhẹ phát thải KNK, trong khi đó, hầu hết các nước đang phát triển (trừ các nước kém phát triển) có quan điểm rằng INDC cần phải bao gồm tất cả các yếu tố Điều này có nghĩa là nhu cầu thích ứng của một quốc gia có liên quan chặt chẽ đến các nỗ lực giảm nhẹ phát thải KNK toàn cầu

Các yếu tố giảm nhẹ phát thải KNK trong INDC sẽ được xem là các cam kết quốc gia nhằm giảm nhẹ phát thải KNK trong khoảng thời gian xác định Mặc dù thỏa thuận mới được

áp dụng cho tất cả các Bên, tuy nhiên, các Bên sẽ có những hành động giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp với nguyên tắc "Trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và tuỳ thuộc vào năng lực và hoàn cảnh quốc gia"

Mặc dù hiện nay chưa có thỏa thuận nào đạt được, song lại có đề nghị nêu rõ rằng các cam kết có thể bao gồm (không phân biệt giữa hai loại của các quốc gia) từ các mục tiêu định lượng giảm nhẹ phát thải KNK cho toàn bộ nền kinh tế (bắt buộc đối với các nước phát triển), đến các mục tiêu giảm cường độ phát thải KNK hoặc giảm so với BAU (đối với các nước đang phát triển) và các mục tiêu chính sách, mục tiêu năng lượng tái tạo (NLTT) hoặc mục tiêu hiệu quả năng lượng cho các nước kém phát triển Các Bên cũng có thể đề xuất nhiều mục tiêu, bao gồm cả các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn và các quốc gia có thể bổ sung thêm thông tin về hành động trong nước để nâng cao mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK của các quốc gia so với thời kỳ trước năm 2020

Tại COP 20 (2014), các Bên đã thống nhất nội dung của INDC cần minh bạch, thuận lợi cho việc giải trình; có thể bao gồm các thông tin về năm cơ sở, khung thời gian triển khai, phạm vi thực hiện, các giả định và phương pháp luận áp dụng (đặc biệt đối với việc xác định mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK); giải trình lý do quốc gia coi đóng góp đó là công bằng và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của quốc gia cũng như góp phần đạt được mục tiêu cuối cùng của Công ước khí hậu Bên cạnh đó, các quốc gia kêu gọi các nước phát triển và các

tổ chức quốc tế hỗ trợ cho xây dựng và thực hiện INDC tại các nước có nhu cầu hỗ trợ và yêu cầu Ban Thư ký Công ước Khí hậu công bố INDC của các Bên lên trang thông tin điện

tử của mình và tổng hợp báo cáo về INDC của các quốc gia vào tháng 10 năm 2015

Cũng tại COP20, các quốc gia đã thống nhất về nội dung cơ bản của INDC và thời hạn đệ trình INDC trong quý I năm 2015 đối với các quốc gia “sẵn sàng làm việc này”; các quốc gia khác sẽ đệ trình INDC “sớm nhất có thể” trước khi COP21 diễn ra (tại Paris, năm 2015) Tuy nhiên, việc triển khai xây dựng INDC của nhiều nước đang phát triển phụ thuộc vào hỗ trợ quốc tế Với cam kết hỗ trợ tài chính đến hết 2015 ở mức khá thấp như hiện nay, kinh phí hỗ trợ cho xây dựng INDC cũng không nhiều

Đến thời hạn không chính thức là ngày 01 tháng 10 năm 2015, có 148 Bên nước đệ trình INDC cho Ban Thư ký Công ước Khí hậu, tổng lượng phát thải KNK của các Bên nước này chiếm 90% tổng lượng phát thải toàn cầu Còn 48 Bên nước, với tổng lượng phát thải chiếm 10% tổng lượng phát thải toàn cầu, chưa đệ trình INDC của mình

Trang 24

Có thể thấy, INDC đã tạo được bước đột phá trong đàm phán về BĐKH Đây là lần đầu tiên trong quá trình đàm phán toàn cầu về BĐKH, hầu như tất cả các Bên đã dự kiến đóng góp giảm nhẹ phát thải KNK Mức đóng góp là tích cực hơn so với các cam kết cũng như thông báo trước đây của các Bên

Mức độ đóng góp của các Bên nước là khá ấn tượng Hơn 150 quốc gia đã đệ trình cam kết chiếm khoảng 90% hoạt động kinh tế toàn cầu và gần 90% lượng KNK liên quan đến năng lượng toàn cầu Theo vùng trên thế giới, tất cả các nước ở Bắc Mỹ, gần như tất cả các nước ở châu Âu, khoảng 90% ở châu Phi, hai phần ba các nước đang phát triển ở châu

Á, 60% các nước ở Mỹ La tinh và một phần ba các nước ở Trung Đông đã nộp INDC Các quốc gia này hiện đang chiếm khoảng 90% nhu cầu nhiên liệu hóa thạch toàn cầu và gần 80% sản lượng nhiên liệu hóa thạch trên toàn cầu

Các hình thức đóng góp trong INDC bao gồm mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK theo giá trị tuyệt đối so với năm cơ sở; giảm nhẹ phát thải KNK so với "kịch bản phát triển thông thường, BAU"; giảm nhẹ cường độ phát thải trên một đơn vị sản lượng kinh tế; giảm nhẹ phát thải KNK bình quân đầu người; hoặc các chính sách và biện pháp liên quan đến giảm nhẹ phát thải KNK Một số INDC xác định đóng góp là vô điều kiện Trong khi đó, một số INDC xác định đóng góp vô điều kiện – thực hiện bằng nguồn lực trong nước và đóng góp

có điều kiện – thực hiện khi có hỗ trợ về tài chính hoặc các yếu tố khác

Theo ước tính của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA, 2015), nếu các Bên thực hiện

nghiêm chỉnh cam kết trong INDC thì nhiệt độ Trái đất vào cuối thế kỷ có thể tăng khoảng 2,5 đến 2,7oC

Hình 1.5 Các Bên nước đã đệ trình INDC

Nguồn: CAIT Climate Data Explorer; http://cait.wri.org/indc/

1.2.2 Tổng hợp INDC của các quốc gia trên thế giới

INDC của các Bên nước đã đệ trình lên Ban thư ký Công ước Khí hậu có thể truy cập tại địa chỉ:

Trang 25

Bảng 1.3 Tóm tắt INDC của một số Bên nước có lượng phát thải lớn

Canada 847,08 “Canada dự định đến năm 2030 sẽ cắt giảm 30% lượng phát thải KNK của toàn nền kinh tế so với mức năm 2005”

Trung

Quốc 10.684,29

“Trung Quốc đã quyết định các hoạt động đến năm 2030 như sau: Đạt đỉnh phát thải CO2 vào khoảng năm 2030 và cố gắng đạt sớm hơn; Giảm nhẹ phát thải KNK CO2 trên một đơn vị GDP từ 60% đến 65% so với 2005; Tăng 20% tỷ lệ của năng lượng phi hóa thạch trong tiêu thụ năng lượng cơ sở; và tăng sinh khối rừng vào khoảng 4,5 tỷ m3 so với 2005 Bên cạnh đó, Trung Quốc sẽ tiếp tục chủ động thích ứng với BĐKH bằng cách tăng cường cơ chế và năng lực để ứng phó hiệu quả với các rủi ro của BĐKH trong các lĩnh vực chính như nông nghiệp, lâm nghiệp, tài nguyên nước, cũng như ở các thành phố, ven biển và các khu vực dễ bị tổn thương về sinh thái và tăng cường các hệ thống cảnh báo sớm và ứng phó khẩn cấp và các cơ chế phòng chống và giảm nhẹ thiên tai"

Ấn Độ 2.887,08

Ấn Độ thông báo INDC cho giai đoạn 2021-2030 như sau:

"Đề xuất và tiếp tục tuyên truyền lối sống lành mạnh và bền vững; Thực hiện lộ trình phát triển sạch hơn và thân thiện với khí hậu hơn so với lộ trình từ trước đến này mà vẫn đảm bảo mức phát triển kinh tế tương đương; Giảm 33 đến 35% cường độ phát thải trên GDP vào năm 2030 so với mức năm 2005; Đạt khoảng 40% công suất lắp đặt tích lũy từ các nguồn năng lượng phi hóa thạch vào năm 2030 thông qua chuyển giao công nghệ và tài chính quốc tế bao gồm Quỹ Khí hậu xanh (GCF); Tăng bể hấp thụ các-bon lên 2,5 đến 3

tỷ tấn CO2tđ thông qua tăng độ che phủ rừng vào năm 2030; Thích ứng tốt hơn với BĐKH thông qua tăng các khoản đầu

tư vào các chương trình phát triển trong các lĩnh vực dễ bị tổn thương với BĐKH, cụ thể là nông nghiệp, tài nguyên nước, khu vực Himalaya, các khu vực ven biển, y tế và quản

lý thiên tai; Huy động nguồn vốn sẵn có trong nước và bổ sung từ các nước phát triển để thực hiện các hành động giảm nhẹ phát thải KNK và thích ứng nói trên dựa trên các thông tin về nhu cầu và thiếu hụt các nguồn lực; Tăng cường năng lực, xây dựng các khuôn khổ quốc gia và quốc tế nhằm phổ biến nhanh chóng của công nghệ hiện đại thân thiện với khí hậu ở Ấn Độ và cho việc hợp tác nghiên cứu và phát triển các công nghệ như vậy trong tương lai"

Nhật Bản 1.207,3 "INDC của Nhật Bản hướng tới giai đoạn sau năm 2020 như

Trang 26

sau: cắt giảm 26,0% lượng phát thải KNK năm tài chính (FY)

2030 so với năm tài chính 2013 (tương đương với mức giảm 25,4% so với năm tài chính 2005) (khoảng 1,042 tỷ tấn CO2tđ

so với phát thải năm 2030), đảm bảo tương ứng với tỷ lệ trong nguồn năng lượng sơ cấp, đặt ra các mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK khả thi thông qua các tính toán theo cách tiếp cận từ dưới lên và có xét đến các chính sách, giải pháp

và công nghệ cụ thể, những hạn chế về công nghệ và chi phí, và xác định lượng giảm nhẹ phát thải KNK và hấp thụ có thể đạt được dựa trên các giải định"

Hàn Quốc 661,39

“Hàn Quốc đặt kế hoạch đến năm 2030 giảm 37% lượng phát thải KNK so với mức BAU là 850,6 triệu tấn CO2tđ đối với toàn bộ các ngành kinh tế” INDC cũng bao gồm hợp phần thích ứng

Nga 2.216,59

“Giới hạn lượng phát thải KNK tại mức 70-75% so với mức năm 1990 có thể là một chỉ tiêu dài hạn, tùy thuộc khả năng hấp thụ KNK tối đa của rừng”

Hoa Kỳ 6.135,03

“Hoa Kỳ dự định đạt mục tiêu vào năm 2025 cắt giảm 28% lượng phát thải KNK của toàn nền kinh tế so với mức năm 2005 và sẽ nỗ lực tối đa để cắt giảm 28% lượng phát thải KNK”

26-Nguồn: CAIT Climate Data Explorer; http://cait.wri.org/indc/

Bảng 1.4 Tóm tắt INDC của một số quốc gia thuộc ASEAN

Quốc gia

Phát thải KNK năm 2011, bao gồm LULUCF (MtCO 2tđ )

sẽ giảm tối đa 3.100 Gg CO2tđ so với BAU là 11.600 Gg

CO2tđ vào năm 2030; (ii) sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF): Căm-pu-chia dự định thực hiện hành động tự nguyện và có điều kiện để thực hiện đạt được các mục tiêu của tăng độ che phủ rừng lên 60% diện tích đất của

cả nước vào năm 2030 Khi không thực hiện bất kỳ các hoạt động nào, lượng hấp thụ ròng từ LULUCF dự kiến sẽ giảm còn 7.897 Gg CO2 vào năm 2030 so với lượng hấp thụ dự kiến là 18.492 Gg CO2 vào năm 2010" INDC của Căm-pu-chia còn bao gồm hợp phần thích ứng

In-đô-nê-xi-a cam kết cam kết giảm 26% lượng phát thải KNK vô điều kiện so với kịch bản phát triển thông thường vào năm 2020 In-đô-nê-xi-a cam kết giảm 29% lượng phát thải KNK so với BAU vào năm 2030" Đóng góp có điều kiện:

" In-đô-nê-xi-a cũng đặt mục tiêu khuyến khích hợp tác quốc

tế, điều được kỳ vọng sẽ giúp In-đô-nê-xi-a giảm 41% lượng

Trang 27

phát thải KNK vào năm 2030" In-đô-nê-xi-a cũng đã đệ trình Phụ lục về "Chiến lược Chống chịu với khí hậu của In-đô-nê-xi-a ", bao gồm cả "Tình trạng dễ bị tổn thương của In-đô-nê-xi-a trước BĐKH" và "Các hành động ưu tiên nhằm chống chịu với khí hậu"

tế Các hoạt động trên đã được liệt kê trong Bảng 1 của INDC cùng với các ước tính sơ bộ lượng giảm nhẹ phát thải KNK dự kiến tương ứng Các ước tính này được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau và cần được xem xét và cập nhật đảm bảo tính nhất quán và sự chính xác trong các phương pháp phân tích dữ liệu khi có thêm các số liệu và thông tin tin cậy" INDC của Lào bao gồm cả hợp phần thích ứng

My-an-ma 184,71

"My-an-ma sẽ thực hiện các biện pháp giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp với nhu cầu phát triển bền vững như là đóng góp vào các hoạt động toàn cầu nhằm giảm lượng phát thải KNK trong tương lai, với điều kiện nhận được các hỗ trợ quốc tế INDC của My-an-ma đã trình bày các chính sách và chiến lược hiện có và sắp được ban hành nhằm đưa ra khung chính sách thực hiện các hành động đã được xác định

và ưu tiên các hành động giảm nhẹ phát thải KNK trong tương lai" INDC của My-an-ma bao gồm cả hợp phần thích ứng

Phi-lip-pin 157,59

"Phi-lip-pin dự định đến năm 2030 giảm khoảng 70% lượng phát thải KNK so với BAU của giai đoạn 2000-2030 Các hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK sẽ được thực hiện đối với các lĩnh vực: năng lượng, giao thông, chất thải, lâm nghiệp

và ngành công nghiệp Đóng góp giảm nhẹ sẽ được thực hiện tùy thuộc vào mức độ Phi-lip-pin nhận được các hỗ trợ tài chính, bao gồm phát triển và chuyển giao công nghệ và tăng cường năng lực" INDC của Phi-lip-pin còn bao gồm hợp phần thích ứng

Xing-ga-po 56,13

"Xing-ga-po thông báo dự định đến năm 2030 sẽ cắt giảm 36% cường độ phát thải KNK so với năm 2005 và ổn định lượng phát thải với mục tiêu đạt đỉnh vào khoảng năm 2030" Xing-ga-po cũng đệ trình Phụ lục cùng với các thông tin kèm theo về bối cảnh quốc gia và các nỗ lực thích ứng

Thái Lan 375,71

"Thái Lan dự định cắt giảm khoảng 20% lượng phát thải khí thải KNK so với BAU vào năm 2030 Mức đóng góp có thể tăng lên đến 25%, tùy thuộc vào việc tiếp cận với phát triển

và chuyển giao công nghệ, nguồn lực tài chính và tăng cường năng lực thông qua một thỏa thuận toàn cầu công bằng và tham vọng theo Công ước khí hậu" INDC của Thái Lan còn bao gồm hợp phần thích ứng

Việt nam 251,18

“Bằng nguồn lực trong nước, đến năm 2030 Việt Nam sẽ giảm 8% tổng lượng phát thải KNK so với BAU, trong đó: Giảm 20% cường độ phát thải trên một đơn vị GDP so với năm 2010; Tăng độ che phủ rừng thành 45% Mức đóng góp 8% ở trên có thể được tăng lên thành 25% khi nhận được hỗ trợ quốc tế” INDC của Việt Nam bao gồm hợp phần thích ứng

Trang 28

Nguồn: Dữ liệu khí hậu CAIT; http://cait.wri.org/indc/

II Quá trình xây dựng INDC ở Việt Nam

Việt Nam là một trong số các quốc gia đã nhanh chóng triển khai xây dựng INDC Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT) chủ trì, phối hợp với các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT), Tài chính (TC), Công Thương (CT), Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT), Giao thông Vận tải (GTVT), Xây dựng (XD), Ngoại giao (NG); Khoa học và Công nghệ (KHCN) xây dựng INDC của Việt Nam

Ba quá trình được thực hiện trong xây dựng INDC của Việt Nam bao gồm: (i) Quá trình về Quản lý; (ii) Quá trình Kỹ thuật; và (iii) Quá trình Tham vấn

- Bộ TNMT đã có Quyết định số 119/QĐ-BTNMT ngày 22/01/2015 về việc thành lập

Tổ công tác xây dựng INDC của Việt Nam Tổ công tác bao gồm 16 thành viên đại diện từ Bộ TNMT, Bộ NNPTNT, Bộ KHĐT, Bộ TC, Bộ NN và Bộ CT

- Hợp tác quốc tế: Quá trình xây dựng INDC đã nhận được sự hỗ trợ của UNDP thông qua dự án “Tăng cường năng lực thực hiện chiến lược quốc gia về BĐKH” (CBICS) và của Chính phủ Đức thông qua dự án “Hỗ trợ các hành động giảm nhẹ biến đổi khí hậu phù hợp với điều kiện quốc gia tại Việt Nam” (NAMA) Đồng thời, Nhóm làm việc Phi chính phủ về BĐKH (CCWG) và các cơ quan quốc tế khác tại Việt Nam cũng có những đóng góp về nội dung trong các đợt tham vấn về INDC của Việt Nam

2.2 Quá trình về Kỹ thuật

Bốn hoạt động kỹ thuật trong xây dựng INDC của Việt Nam bao gồm:

- Xác định và phân tích các thông tin hiện có;

- Phân tích và xác định các hành động giảm nhẹ phát thải KNK ưu tiên;

- Phân tích và xác định các hành động thích ứng ưu tiên;

- Xây dựng INDC

2.3 Quá trình Tham vấn

Tổ công tác xây dựng INDC của Việt Nam đã thực hiện các đợt làm việc tập trung của Tổ, đã tổ chức các hội thảo tham vấn với các cơ quan liên quan, VPCC và các đối tác quốc tế tại Việt Nam

Các thành viên của Tổ công tác cũng đã tham dự và chia sẻ kinh nghiệm xây dựng INDC tại các diễn đàn quốc tế

Từ tháng 8/2014 đến tháng 10/2015, Tổ công tác INDC đã tổ chức nhiều cuộc họp kỹ thuật, nhiều đợt làm việc tập trung và hội thảo tham vấn ý kiến các bên liên quan để hoàn thiện INDC và Báo cáo kỹ thuật INDC của Việt Nam

Trang 29

Việc xây dựng INDC của Việt Nam, có thể được chia ra làm 3 giai đoạn: (i) giai đoạn xây dựng; (ii) giai đoạn tham vấn và (iii) giai đoạn công bố

Giai đoạn xây dựng

Hội thảo khởi động INDC đã được tổ chức vào ngày 11/8/2014 với sự tham gia của đại diện các Bộ: TNMT, KHĐT, NNPTNT, CT và các đối tác phát triển khác Tại hội thảo, lần đầu tiên khái niệm về INDC đã được giới thiệu và giải thích, bao gồm các cách hiểu khác nhau về INDC trên thế giới, mối quan hệ giữa INDC, Cơ chế phát triển sạch (CDM) và NAMA cũng như những khó khăn của Việt Nam trong quá trình xây dựng INDC Hội thảo còn cung cấp những thông tin ban đầu về nỗ lực xây dựng INDC của Việt Nam, cụ thể là các hợp phần chính trong INDC Bên cạnh đó, đại diện của các Bộ, ngành cũng trình bày về các hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK đang được thực hiện tại Bộ, ngành, đây là cơ sở cho xây dựng và thực hiện INDC của Việt Nam

Hình 2.1 Hội thảo khởi động INDC

Tiếp đó, hội thảo “Xây dựng nội dung giảm nhẹ của INDC của Việt Nam” đã được tổ chức vào ngày 10/2/2015 nhằm cung cấp thông tin và thảo luận phương pháp luận để tính toán các phương án giảm nhẹ phát thải KNK trong các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, LULUCF và chất thải nhằm xây dựng nội dung giảm nhẹ phát thải KNK cho INDC Việt Nam và tham vấn kỹ thuật với các bên liên quan thông qua thảo luận nhóm

Đến tháng 04/2015, Hội thảo giữa kỳ về xây dựng nội dung giảm nhẹ phát thải KNK và thích ứng với BĐKH của INDC của Việt Nam đã được tổ chức nhằm chia sẻ và tham vấn ý kiến các bộ và các bên liên quan về các nội dung ban đầu của hợp phần giảm nhẹ phát thải KNK và thích ứng với BĐKH

Từ tháng 8/2014 đến tháng 10/2015, đã có 8 cuộc họp kỹ thuật giữa các thành viên của Tổ công tác INDC được tổ chức tại Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Viện KTTVBĐKH) và Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Cục KTTVBĐKH) Mục đích của các cuộc họp này là nhằm thảo luận và đưa ra các quyết định quan trọng về các nội dung chính của INDC Việt Nam, kế hoạch xây dựng INDC, các hạn chế cần khắc phục khi xây dựng INDC và phương hướng hoàn thiện INDC trong tương lai

Trang 30

Hình 2.2 Cuộc họp kỹ thuật của Tổ công tác INDC

Bên cạnh các cuộc họp kỹ thuật, Tổ công tác INDC còn tổ chức 6 lần làm việc tập trung, kéo dài từ 3 ngày đến 1 tuần, nhằm huy động các thành viên của Tổ công tác và các chuyên gia kỹ thuật tại cùng một địa điểm để phân tích và soạn thảo INDC và Báo cáo kỹ thuật INDC của Việt Nam

Hình 2.3 Làm việc tập trung xây dựng INDC

Trang 31

Giai đoạn tham vấn

Sau một thời gian làm việc tích cực và hiệu quả, Tổ công tác INDC đã hoàn thành dự thảo INDC và Báo cáo kỹ thuật của INDC để xin ý kiến tham vấn của VPCC và các Bộ, ngành liên quan

Hội thảo tham vấn với VPCC về dự thảo INDC của Việt Nam được tổ chức vào ngày 18/05/2015 Tại hội thảo, Tổ công tác INDC đã nhận được nhiều ý kiến góp ý từ các thành viên của VPCC, đại diện các Bộ, ngành liên quan, CCWG cũng như các đối tác phát triển

Hình 2.4 Hội thảo tham vấn với VPCC và các bên liên quan về

dự thảo INDC của Việt Nam

Dựa trên các ý kiến đóng góp của VPCC, Tổ công tác INDC đã hoàn thiện thêm INDC

và gửi xin ý kiến các Bộ, ngành Hội thảo tham vấn lần thứ 2 dự thảo INDC đã được tổ chức vào ngày 8/7/2015 nhằm tiếp tục chia sẻ nội dung cập nhật của INDC, báo cáo kỹ thuật INDC của Việt Nam và tiếp tục xin ý kiến của các Bộ, ngành và các bên liên quan Bên cạnh các ý kiến đóng góp tại Hội thảo, các Bộ, ngành đã có những đóng góp chính thức bằng văn bản gửi đến Bộ TNMT Tất cả các ý kiến đóng góp của các Bộ, ngành và các bên liên quan đều được

Tổ công tác INDC tiếp thu, chỉnh sửa trong INDC hoặc giải trình đầy đủ

Giai đoạn công bố

Nhờ sự chỉ đạo sát sao và tích cực của lãnh đạo Bộ TNMT, sự nỗ lực của các thành viên Tổ công tác INDC, các chuyên gia kỹ thuật và sự tham gia tích cực của các Bộ, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan nghiên cứu, đại diện các doanh nghiệp cũng như các đối tác phát triển quốc tế nên Việt Nam đã đệ trình INDC lên UNFCCC đúng thời hạn INDC của Việt Nam có thể truy cập tại:

http://www4.unfccc.int/submissions/INDC/Published%20Documents/Viet%20Nam/1/VIETNAM'S%20INDC.pdf

Hội thảo công bố INDC của Việt Nam đã được tổ chức tại Hà Nội (12/10/2015) và các hội thảo tiếp theo về “Đóng góp của Việt Nam cho Thỏa thuận toàn cầu mới về khí hậu” được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh (23/10/2015) và Đà Nẵng (30/10/2015)

Trang 32

Hình 2.5 Hội thảo công bố INDC của Việt Nam tại Hà Nội

Hình 2.6 Hội thảo “Đóng góp của Việt Nam cho thỏa thuận toàn cầu mới về khí hậu” tại

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 33

Hình 2.7 Hội thảo “Đóng góp của Việt Nam cho thỏa thuận toàn cầu mới về khí hậu”

an toàn cho người dân, bảo vệ tài sản, xây dựng nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh

và đạt mục tiêu phát triển bền vững của đất nước; đồng thời tích cực cùng cộng đồng quốc

tế thực hiện Công ước Khí hậu, góp phần bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất và giữ cho nhiệt

độ trung bình toàn cầu tăng không quá 2°C vào cuối thế kỷ 21

Thực hiện Quyết định số 1/CP.19 ngày 31 tháng 01 năm 2014 của Hội nghị lần thứ

19 (COP19) các Bên tham gia Công ước Khí hậu và Công văn số 1454/VPCP-QHQT ngày

11 tháng 8 năm 2014 của Văn phòng Chính phủ, Ban Chỉ đạo thực hiện Công ước khí hậu

và NĐT Kyoto đã chủ trì, phối hợp với Ban công tác đàm phán của Việt Nam về BĐKH và các Bộ liên quan xây dựng INDC của Việt Nam đóng góp vào thỏa thuận mới về BĐKH toàn cầu, dự định sẽ được thông qua tại COP21 Paris, Pháp vào cuối năm 2015

Ngày 22 tháng 01 năm 2015, Bộ TNMT đã ban hành Quyết định số 119/QĐ-BTNMT

về việc thành lập Tổ công tác xây dựng INDC của Việt Nam, bao gồm 16 thành viên, đại diện từ Bộ TNMT, Bộ NNPTNT, Bộ KHĐT, Bộ TC, Bộ NG và Bộ CT Hoạt động xây dựng INDC của Việt Nam đã nhận được hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ dự án “Tăng cường năng lực thực hiện chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu” (dự án CBICS, do UNDP tài trợ) cho việc xây dựng hợp phần thích ứng và từ dự án “Hỗ trợ các hành động giảm nhẹ BĐKH phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA) tại Việt Nam” (dự án NAMA, do Chính phủ Đức tài trợ) cho việc xây dựng hợp phần giảm nhẹ phát thải KNK

Việc hoàn thành xây dựng INDC thể hiện các cam kết của Việt Nam, một Bên không thuộc Phụ lục 1 của Công ước Khí hậu trong việc triển khai các hoạt động ứng phó với

Trang 34

mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK và thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021-2030 và một số thông tin liên quan khác

3.2 Bối cảnh quốc gia

3.2.1 Tổng quan

1) Vị trí địa lý

Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam Á, phần lãnh thổ đất liền có tọa độ từ 8°27’ đến 23°23’vĩ Bắc, 102°8’ đến 109°30’ kinh Đông, có diện tích trên 331.051 km2, vùng biển khoảng một triệu km2 với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ biển như hai quần đảo Hoàng Sa (thuộc thành phố Đà Nẵng) và quần đảo Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa), các đảo và quần đảo khác

2) Tình hình kinh tế - xã hội

 Tình hình kinh tế

GDP các năm 2008, 2009, 2010, 2011 và 2012 theo giá so sánh năm 2010 được

trình bày trong Error! Reference source not found

Bảng 3.1 GDP theo giá so sánh 2010 phân theo khu vực kinh tế

Đơn vị: tỷ đồng

Năm Tổng số

Trong đó Nông, lâm nghiệp

và thủy sản

Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2011, 2012, Tổng cục Thống kê 2012, 2013

GDP bình quân đầu người tăng từ 1.168 USD năm 2010 lên khoảng 1.200 USD năm 2012

Theo mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp Tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản

phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP

Bảng 3.2 Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 2010

theo thành phần kinh tế

Đơn vị: tỷ đồng

Năm Tổng số

Chỉ số phát triển (Năm trước = 100) - %

Trong đó Kinh tế Nhà nước Kinh tế

ngoài Nhà nước

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

Trung ương

Địa phương

2009 2.681.900,2 112,5 445.527,7 69.569,8 1.050.172,5 1.116.630,2

2010 2.963.499,7 110,5 497.407,4 69.700,6 1.150.867,3 1.245.524,4

2011 3.233.178,2 109,1 559.828,3 68.279,9 1.238.729,7 1.366.340,3

2012 3.516.651,7 108,8 617.098,7 67.160,1 1.329.276,3 1.503.116,6

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2012, Tổng cục Thống kê, 2013

Ngành Giao thông vận tải phát triển khá nhanh Giao thông đường bộ chiếm tỷ lệ

Trang 35

cao nhất trong vận chuyển hành khách và hàng hóa, tiếp sau là đường thủy

Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng ở Việt Nam tăng từ 43.202 KTOE năm 2008 lên 47.873 KTOE năm 2012 Diễn biến tiêu thụ năng lượng cuối cùng phân theo loại

năng lượng giai đoạn 2008 - 2012 được thể hiện trong Error! Reference source not

Điện 5.844 6.615 7.461 8.140 9.063 Năng lượng phi thương mại 14.710 14.704 13.875 13.938 14.086

đảm bảo an ninh lương thực trong nước và xuất khẩu

Diện tích rừng cả nước năm 2010 là 13.388.100 ha với độ che phủ đạt 39,5%, trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 10.304.800 ha và rừng trồng là 3.083.300 ha Từ năm

2008 đến năm 2012, diện tích rừng và tỷ lệ che phủ rừng tăng dần

 Tình hình dân số

Thống kê năm 2013, dân số Việt Nam là 89,70 triệu người, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 50,24 triệu người, mật độ dân số trung bình là 271 người/km2, tỷ lệ tăng dân

số là 1,05%, tuổi thọ trung bình của người dân là 73,1

3.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu

1) Biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trong 50 năm qua nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5oC trên phạm

vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam

Xu thế chung của nhiệt độ là tăng trên hầu hết các vùng, tuy nhiên, có những khu vực nhỏ thuộc vùng ven biển Trung Bộ và Nam Bộ như Thừa Thiên – Huế, Quảng Ngãi, Tiền Giang nhiệt độ có xu hướng giảm Đáng lưu ý là ở những nơi này, lượng mưa có xu hướng tăng trong cả mùa khô và mùa mưa

Lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng lên chút ít hoặc thay đổi không đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5% đến hơn 10% tại đa phần các vùng khí hậu phía Bắc và tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam Xu thế diễn biến của lượng mưa năm tương tự như lượng mưa mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc Vùng Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác, nhiều nơi đến 20% Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu, nhất là trong những năm gần đây Số ngày mưa lớn cũng có xu thế tăng lên tương ứng

Trang 36

Số lượng xoáy thuận nhiệt đới hoạt động trên khu vực Biển Đông có xu hướng tăng nhẹ, trong khi đó số cơn ảnh hưởng trực tiếp hoặc đổ bộ vào đất liền Việt Nam không có xu hướng biến đổi rõ ràng Số các cơn bão mạnh (mạnh hơn cấp 12) có xu thế gia tăng

Hạn hán, bao gồm hạn tháng và hạn mùa có xu thế tăng lên nhưng với mức độ không đồng đều giữa các vùng và giữa các trạm trong từng vùng khí hậu Hiện tượng nắng nóng có dấu hiệu gia tăng rõ rệt ở nhiều vùng trong cả nước, đặc biệt là ở Trung Bộ và Nam

Bộ

Số liệu mực nước quan trắc tại các trạm hải văn Việt Nam cho thấy xu thế biến đổi trung bình của mực nước biển dọc bờ biển Việt Nam là khoảng 2,8 mm/năm Số liệu mực nước đo đạc từ vệ tinh từ năm 1993 đến 2010 cho thấy, xu thế tăng mực nước biển trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam tăng khoảng 2,9 mm/năm

2) Kịch bản biến đổi khí hậu

Theo kịch bản phát thải trung bình, vào cuối thế kỷ 21 khí hậu Việt Nam có những thay đổi như sau (Bộ TNMT, 2012):

- Về nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình tăng từ 2 đến 3oC trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác Nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ 2,2 đến 3,0oC, nhiệt độ cao nhất trung bình tăng từ 2,0 đến 3,2oC Số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 35oC tăng từ 15 đến 30 ngày trên phần lớn diện tích cả nước

- Về lượng mưa: Lượng mưa năm tăng trên hầu khắp lãnh thổ, mức tăng phổ biến từ

2 đến 7%, riêng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3% Xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mưa mùa mưa tăng Lượng mưa ngày lớn nhất tăng thêm so với thời kỳ 1980-1999 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam

Bộ Tuy nhiên ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay

- Mực nước biển dâng: Mực nước biển dâng cao nhất ở vùng từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 đến 82cm, thấp nhất ở vùng Móng Cái trong khoảng từ 49 đến 64cm; trung bình toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 57 đến 73cm

Theo kịch bản phát thải cao (A1FI), vào cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng trung bình toàn Việt Nam là vào khoảng từ 78 đến 95cm, trong đó, tăng cao nhất là ở vùng từ Cà Mau đến Kiên Giang (85 đến 105cm), tăng thấp nhất là ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu (66 đến 85cm)

3) Tác động của biến đổi khí hậu

Lĩnh vực tài nguyên nước

Trong những năm gần đây, dòng chảy các hệ thống sông, suối ở Việt Nam đều thiếu hụt so với trung bình nhiều năm, có nơi tới 60 - 90%; mực nước nhiều nơi đạt mức thấp nhất lịch sử đã gây thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, mặn xâm nhập sâu vào vùng cửa sông

(Nguyễn Văn Thắng, 2010; Trần Thanh Xuân và nnk, 2011)

Theo kịch bản BĐKH (Bộ TNMT, 2012), vào thời kỳ 2040-2059, dòng chảy năm trên các sông Hồng - Thái Bình, Cả, có xu hướng tăng khoảng 5%; dòng chảy sông Mê Công vào Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tăng khoảng 4 - 12% Dòng chảy mùa lũ trên các sông Hồng - Thái Bình, Cả, Ba, Thu Bồn có xu hướng tăng từ 2 - 9%, dòng chảy trên hệ thống sông Đồng Nai có thể giảm từ 4 - 7% Đối với sông Mê Công, so với thời kỳ 1985-

2000, dòng chảy mùa lũ (tại Kratie) trung bình thời kỳ 2010-2050 có thể tăng khoảng 5 - 11%

Trang 37

và dòng chảy mùa cạn (tại Tân Châu) có thể tăng khoảng 10% (Trần Thanh Xuân và nkk,

2011) Dòng chảy trung bình mùa cạn ở các sông Đà, Gâm, Hiếu giảm khoảng 1,5%; sông

Ba giảm 10%; còn các sông khác cũng đều giảm từ 3,0 - 10% (Trần Thục và Hoàng Minh

Tuyển, 2011) BĐKH có thể gây suy giảm đáng kể mực nước ngầm, đặc biệt là giai đoạn

sau 2020, tại vùng ĐBSCL, nếu lượng dòng chảy mùa khô giảm khoảng 15 - 20% thì mực

nước ngầm có thể hạ thấp khoảng 11 m so với hiện tại (Bộ TNMT, 2010)

Trên các lưu vực sông, nhất là ở hạ lưu, lũ lụt ngày càng gia tăng và nghiêm trọng Đỉnh lũ cao nhất năm có xu hướng liên tục tăng ở hầu hết các lưu vực sông, trừ một số vùng như hạ lưu sông Hồng - Thái Bình và sông Ba do có sự điều tiết của các hồ, đập Khu vực ven biển miền Trung và Nam Bộ, lũ lớn và đặc biệt lớn xảy ra nhiều hơn và nghiêm trọng hơn Ở khu vực ven biển miền Trung, lũ lịch sử đã xảy ra trên các sông vào những năm

1996, 1998, 1999, 2000, 2003, 2008, 2009; còn ở ĐBSCL đã xảy ra vào các năm 1996,

2000, 2001…

Lũ quét và trượt lở đất cũng xảy ra nhiều hơn, khốc liệt hơn ở vùng núi Bắc Bộ, ven biển miền Trung và Tây Nguyên Theo số liệu thống kê của Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương, từ năm 1989 đến năm 2007, năm nào cũng xảy ra lũ quét với tổng cộng 194 trận, tổng thiệt hại lên tới hơn 1.860 tỉ đồng

Trong điều kiện BĐKH, chế độ mưa thay đổi và khó dự báo, vì thế nguy cơ xảy ra lũ lụt và lũ quét ngày càng cao

Mặn ở ĐBSCL có năm xâm nhập sâu vào cửa sông tới 60 - 70 km, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống Đầu năm 2010, nước có độ mặn từ 3‰ - 6‰ đã xâm nhập sâu vào đất liền trên 20km ở một số huyện của tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng làm cho 20.000 ha lúa đông xuân bị nhiễm mặn và hơn 45.000 ha lúa khác thiếu nước ngọt Tại Hậu Giang ở một

số nơi đã đo được độ mặn lên tới 7‰ (IMHEN và UNDP, 2015)

Vào cuối thế kỷ 21, chiều sâu xâm nhập ứng với độ mặn 1‰ có thể tăng lên trên 20

km trên các sông Đồng Nai, Tiền, Hậu; khoảng 10 km trên sông Thái Bình (IMHEN và

UNDP, 2015) Đến giữa thế kỷ 21, ở ĐBSCL, so với trung bình thời kỳ 1990 - 1999, diện tích

có độ mặn trên 4‰ được dự báo là có thể chiếm 45% diện tích toàn vùng, tăng gần 400.000 ha; và vùng chịu ảnh hưởng của độ mặn trên 1‰ có thể chiếm khoảng 60% diện tích toàn vùng, tăng khoảng 450.000 ha Gần 4/5 diện tích vùng bán đảo Cà Mau có khả năng bị mặn

xâm nhập (ngoại trừ phần diện tích Tây sông Hậu) (Trần Thanh Xuân và nnk, 2011)

Trong những năm qua, các đợt hạn nặng đã xuất hiện nhiều hơn, trong đó, tần suất hạn cao chủ yếu tập trung vào các tháng thuộc vụ đông xuân (từ tháng 1 đến tháng 4) và vụ

hè thu (từ tháng 5 đến tháng 8) (Bộ TNMT, 2012) Một số năm hạn điển hình gây thiệt hại

lớn đối với kinh tế - xã hội là các đợt hạn hán năm 1997-1998, năm 2004-2005 và năm 2010

(Phan Văn Tân và nnk, 2010)

Trong tương lai có thể xuất hiện nhiều hơn những đợt hạn nặng trên nhiều vùng của Việt Nam Hạn có thể sẽ gia tăng trong suốt thế kỷ 21, với tốc độ cao ở các khu vực hạn

nặng như Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và tương đối thấp ở các vùng khác (Nguyễn Văn

Thắng và nnk, 2013) Đối với khu vực Trung Bộ giai đoạn 2011-2050, hạn có thể diễn ra

nhiều hơn và với mức độ khắc nghiệt hơn (Vũ Thanh Hằng và nnk, 2011) Đến năm 2020,

các chỉ số hạn thủy văn có khả năng gia tăng khoảng 0,3 - 0,6 ở khu vực miền Bắc và 0,6 - 0,9 ở khu vực Nam Trung Bộ trong các thời đoạn tháng kiệt và mùa kiệt, tương ứng với mức hạn nhẹ và vừa, tuy nhiên đến giữa thế kỷ 21, hạn sẽ có thể xảy ra với các mức độ ngày

càng cao hơn (IMHEN và UNDP, 2015)

Trang 38

kg/ha, tương đương với sản lượng 37.010 tấn (Đinh Vũ Thanh và nnk, 2014)

Diện tích canh tác nông nghiệp bị thu hẹp do nước biển dâng có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất ngũ cốc, đe dọa trực tiếp nguồn thức ăn chăn nuôi Nhiệt độ tăng sẽ làm cây cỏ nhanh già hơn, giảm nhanh chất lượng và giảm hàm lượng các chất dinh dưỡng

(Đinh Vũ Thanh và nnk, 2014)

Lượng cá tự nhiên có nguy cơ bị suy giảm do nhiệt độ tăng; NBD làm ngập một phần diện tích vùng ĐBSCL và ĐBSH vào năm 2070, ảnh hưởng đến sản xuất và nuôi trồng thủy sản Các ao hồ bị ngập do lũ có thể làm thuỷ sản nuôi thoát khỏi hệ thống ao, đầm BĐKH làm thay đổi thời vụ, tăng dịch bệnh, giảm năng suất BĐKH làm suy giảm nguồn lợi thủy

sinh và suy giảm chất lượng đất (Đinh Vũ Thanh và nnk, 2014)

BĐKH cũng có ảnh hưởng không nhỏ đối với cơ sở hạ tầng các cảng cá, nơi neo đậu tránh trú bão, các trạm xăng dầu ven biển và tàu thuyền của ngư dân

Lĩnh vực lâm nghiệp

Tác động của BĐKH đến lâm nghiệp bao gồm: tăng nguy cơ cháy rừng, thay đổi

phân bố các hệ sinh thái rừng tự nhiên, tác động đến rừng trồng và rừng ngập mặn (Vũ Tấn

Phương và nnk, 2010; WB, 2010; UNDP, 2010; Phạm Minh Thoa, 2013; Trần Văn Đạt và nnk, 2013)

Nguy cơ cháy rừng tăng nhanh ở tất cả các vùng sinh thái, tuy nhiên, tăng mạnh hơn

ở vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên Mặc dù diện tích rừng của Việt Nam đã tăng trong thời gian qua, nhưng chất lượng rừng lại có chiều hướng suy giảm Diện tích rừng

nguyên sinh ước tính chiếm khoảng 7% tổng diện tích rừng (FAO, 2012), trong khi rừng thứ

sinh nghèo kiệt chiếm gần 70% tổng diện tích rừng cả nước, đây là loại rừng rất dễ xảy ra cháy Ước tính hiện nay có khoảng 6 triệu ha rừng dễ cháy Các loại rừng có nguy cơ cháy

cao gồm rừng thông, rừng tràm, rừng tre nứa, rừng bạch đàn, rừng khộp (Vũ Tấn Phương,

2010)

Một số hệ sinh thái tự nhiên (rừng khộp, rừng ngập mặn, rừng kín nửa rụng lá, rừng kín lá rộng thường xanh) có nguy cơ thay đổi (thu hẹp và/hoặc mở rộng) vùng phân bố do điều kiện khí hậu thay đổi, trong đó nguy cơ thu hẹp vùng phân bố đối với rừng khộp, rừng

ngập mặn và rừng kín nửa rụng lá là khá cao (Trevor H.Booth và nnk, 1999; Vũ Tấn

Phương, 2008; WB, 2010; UNDP, 2010; Phạm Minh Thoa, 2013) Dưới tác động của BĐKH,

vùng khí hậu thích hợp cho phân bố của rừng khộp là 4,6% vào năm 2020 sẽ giảm xuống còn khoảng 1,5% vào năm 2050 và rừng khộp có thể không còn ở Tây Nguyên vào năm

2100

Ở vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), BĐKH và NBD có tác động làm thu hẹp diện tích của hệ sinh thái rừng ngập mặn, do nguy cơ xói lở vùng ven biển gia tăng mạnh mẽ

Ngày đăng: 12/05/2018, 11:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w