1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học hàm số bậc nhất và bậc hai nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh

78 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 8,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy phát huy tính tích cực học tập của học sinh... - Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học chủ đ nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh.. Từ đ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Toán đãtạo điều kiện giúp em học tập và đạt được kết quả như ngày hôm nay Đặc

biệt em xin cảm ơn cô giáo hướng dẫn: Th.S Đào Thị Hoa – Tổ phương pháp

đã nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp em hoàn thành khóaluận tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Được sự hướng dẫn của cô giáo Đào Thị Hoa, kết hợp với sự nỗ lựccủa bản thân, em đã hoàn thành đề tài khoá luận tốt nghiệp: “Xây dựng hệthống câu hỏi trong dạy học vectơ nhằm phát huy tính tích cực học tập củahọc sinh”

Em xin cam đoan khoá luận này là kết quả của việc học tập, nghiên cứu

và nỗ lực của bản thân em, không trùng lặp với kết quả của các tác giả khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Trang 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Cấu trúc khóa luận

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Cơ sở lý luận

1.1 Một số vấn đề chung về tính tích cực học tập của học sinh

1.1.1 Khái niệm về tính tích cực học tập của học sinh

1.1.2 Những biểu hiện về tính tích cực học tập của học sinh

1.1.3 Một số nguyên tắc dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập củahọc sinh

1.2 Một số vấn đề về câu hỏi trong dạy học

1.2.1 Khái niệm câu hỏi

1.2.1.1 Câu hỏi

1.2.1.2 Câu hỏi dạy học

1.2.2 Ưu – nhược điểm của việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học1.2.3 Phân loại câu hỏi

1.2.3.1 Phân loại câu hỏi theo mức độ tư duy

1.2.3.2 Phân loại câu hỏi theo chức năng dạy học

1.2.3.3 Phân loại câu hỏi theo hình thức tổ chức dạy học

1.2.4 Yêu cầu của câu hỏi trong dạy học

1.2.5 Kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học

Trang 4

1.2.6 Nguyên tắc sử dụng câu hỏi trong dạy học

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Kết quả điều tra ý kiến của học sinh

2.2 Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên

3 Kết luận

.

1 Mục tiêu chương trình

2 Nội dung của chương

3 Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy

phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Trang 5

Giáo

Trang 6

tích cực học tập của học sinh ”.

2 Mục đích nghiên cứu:

Trang 7

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu về tính tích cực học tập của học sinh

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng hệ thống câuhỏi trong dạy học

- Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học chủ đ

nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu lí luận

- Quan sát, điều tra

phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 8

Vậy “tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là củangười hành động” <I.K.Kharlamop>.

* Tính tích cực học tập

Tính tích cực học tập về thực chất là tính tích cực nhận thức TheoI.F.Kharlamop thì: “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của họcsinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trongquá trình nắm kiến thức” [3 trang 43]

Nó diễn ra trên các phương diện như: Tri giác tài liệu, thông hiểu tàiliệu, ghi nhớ, luyện tập, vận dụng… với những hình thức đa dạng

Hứng thú học tập và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tínhtích cực sản sinh nếp tư duy độc lập, suy nghĩ độc lập, là mầm mống của sángtạo

Trang 9

1.1.2 Những biểu hiện về tính tích cực học tập của học sinh:

Tính tích cực học tập của học sinh được biểu hiện dưới nhiều hình thức

và cấp độ khác nhau

* Các hình thức biểu hiện :

sau:

- Xúc cảm học tập: Thể hiện ở sự hứng thú, sốt sắng thực hiện các yêu

vui vẻ, thích phát biểu ý kiến

của giáo viên

thường xuyên giơ tay phát biểu ý kiến, bổ sung câu trả lời của bạn, yêu cầugiải đáp khi chưa hiểu rõ, ghi chép cẩn thận

- Kết quả lĩnh hội: nhanh, chính xác, tái hiện lại được khi cần, biết vậndụng kiến thức, kĩ năng trong các tình huống khác nhau

* Các cấp độ của tính tích cực học tập:

- Tính tích cực bắt chước, tái hiện: Đây là mức độ thấp của tính tíchcực học tập,

dung bài giảng, tạo điều kiện nâng cao tính tích cực

- Tính tích cực tìm tòi: mức độ này tính độc lập cao hơn mức độtrước Học sinh không chỉ bắt chước, tái hiện lại tri thức mà tự mình phát hiện

ra vấn đề, tự mình xác định phương hướng và tìm cách giải đáp, kiểm tra, thử

Trang 10

lại, đánh giá kết quả đạt được Đây cũng là tiền đề của tính tích cựcsáng tạo.

- Tính tích cực sáng tạo: Đây là mức độ biểu hiện tính tích cực caonhất Học sinh

Với mức độ này, học sinh đã cókhả năng tự tư duy, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa…

Do đó, thông qua những biểu hiện hằng ngày, giáo viên dựa vào nhữngdấu hiệu để phát hiện học sinh có tính tích cực hay không? Mức độ tính tíchcực thế nào? Từ đó định hình hệ thống câu hỏi trong bài giảng để khơi gợi vàphát huy tính tích cực đồng thời phù hợp với mức độ tích cực của học sinh

1.1.3 Một số nguyên tắc dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh:

Trong những năm gần đây trong giáo dục học, vấn đề tính tích cực củahọc sinh trong học tập vẫn được tiếp tục nghiên cứu và đã nêu lên một loạtnhững nguyên tắc lí luận dạy học cần lưu ý khi thực hiện việc dạy học nhằmtích cực hoá hoạt động học tập của học sinh Những nguyên tắc đó được phátbiểu như sau:

Nguyên tắc 1: Việc dạy học phải được tiến hành ở mức độ khó khăn cao.

Yêu cầu của nguyên tắc này là sự cần thiết phải cuốn hút học sinh vàocông tác nhận thức tích cực, kích thích tính tò mò, học hỏi, phát huy hết khả năng của học sinh sao cho học sinh huy động hết mức trí - lực của mình

Nguyên tắc 2: Việc nắm vững kiến thức lý thuyết phải chiếm ưu thế.

Yêu cầu phải nắm vững tài liệu lý thuyết, lĩnh hội tư tưởng và khái niệm quan trọng, thâm nhập vào bản chất của các hiện tượng vật thể

Trang 11

Sách, tài liệu học tập và tài liệu khoa học là nguồn vô tận các kiến thứcnhiều mặt, là phương tiện quan trọng để nhận thức thế giới xung quanh.Những kiến thức lý thuyết trong sách và tài liệu là công cụ để phát triển nănglực tư duy, trí tuệ, áp dụng vào cuộc sống để cải tạo và phát triển cuộc sống.

Do đó, phải dạy cho học sinh tự lực làm việc với tài liệu học tập đểnắm vững củng cố kiến thức lý thuyết, đồng thời tiếp thu được kĩ năng kĩ xảo

Nguyên tắc 3: Trong quá trình dạy học phải duy trì nhịp độ khẩn

củng cố khi nghiên cứu kiến thức mới.

Việc dừng lại để nghiên cứu một tài liệu sẽ gây nên sự nhàm chán, mệtmỏi vì tính chất đơn điệu của nó Do đó khi đã hiểu một vấn đề rồi thì phảichuyển sang nghiên cứu một vấn đề khác, còn việc lĩnh hội tài liệu đã học sẽđược đào sâu khi nghiên cứu tài liệu mới

.

Sự phát triển của học sinh phải là một trong những đường trục của quátrình dạy học Khía cạnh đặc biệt quan trọng của sự phát triển là sự biến đổi

về chất của bản thân hoạt động nhận thức và tư duy nói chung

Trong quá trình dạy học, học sinh tiếp thu tri thức, nâng cao tầm hiểubiết, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo, các quan điểm, phẩm chất đạo đức, ý chí.Như vậy, quá trình phát triển của học sinh được thực hiện trong hệ thống côngtác dạy học, sẽ bao gồm một tổ hợp và phức tạp những vấn đề tâm lý học,giáo dục học

Khoa học đã chỉ ra rằng, con người mới chỉ sử dụng dưới 15% khảnăng có sẵn của mình, do vậy, trong dạy học người giáo viên cần chăm lo tới

sự phát triển không chỉ học sinh khá mà cả những học sinh yếu

Trang 12

Tóm lại, phương pháp giáo dục phải được xây dựng dựa trên nhữngnguyên tắc này để làm cho học sinh trở thành chủ thể tích cực trong hoạt độnghọc tập hay chính là tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.

1.2 Một số vấn đề về câu hỏi trong dạy học:

1.2.1 Khái niệm câu hỏi:

Như vậy câu hỏi mang đặc điểm:

- Tìm hiểu thông tin, sự hiểu biết về sự vật hiện tượng hoặc đặt ra yêucầu với đối tượng được hỏi

- Đòi hỏi sự trả lời

1.2.1.2 Câu hỏi dạy học:

Câu hỏi dạy học được xuất phát từ khái niệm câu hỏi nhưng được thuhẹp trong phạm vi quá trình dạy học

Ví dụ 1: Hãy nêu định nghĩa hàm số bậc nhất?

Đây là câu hỏi dạy học giúp giáo viên kiểm tra kiến thức của học sinh.Câu hỏi dạy học là câu nói lên vấn đề nhận thức đòi hỏi học sinh phảisuy nghĩ, cân nhắc rồi đưa ra câu trả lời, bao gồm cả yêu cầu hoặc nêu ra mộtnhiệm vụ cho học sinh thực hiên

Trang 13

Ví dụ: Hàm số y ax2 bx c(a 0) là hàm số bậc nhất đúng hay sai?+ Câu hỏi mở là câu hỏi đòi hỏi câu trả lời chi tiết hơn có thể có nhiềuhướng trả lời Câu hỏi mở khiến học sinh phải suy nghĩ và giúp giáo viên hiểu

rõ hơn mức độ hiểu bài của học sinh

Ví dụ: Cho đồ thị (H) của hàm số y 1 Hỏi muốn có đồ thị của hàm

x

số y 2x 1

Khi gặp câu hỏi này, học sinh phải suy nghĩ: Trước tiên là phải biếtcách tịnh tiến một đồ thị Sau đó áp dụng vào (H), học sinh tư duy và căn cứvào các kiến thức đã học để giải quyết câu hỏi

Trong quá trình dạy học, giáo viên cần đặt những câu hỏi hướng vào

đáp được câu hỏi trọng tâm là giải quyết được vấn đề cơ bản đưa ra

viên thường xây dựng một hoặc nhiều câu hỏi gợi mở Tùy theo mức độ câuhỏi và khả năng tư duy của học sinh để đặt câu hỏi đảm bảo cho học sinh làchủ thể của quá trình dạy học, chủ động lĩnh hội tri thức

Ví dụ: Câu hỏi trọng tâm: Vẽ đồ thị hàm số y

Các câu hỏi gợi mở:

1 Tìm toạ độ đỉnh?

Trang 14

3 Sự biến thiên của hàm số?

Tất cả những câu hỏi đóng, mở, câu hỏi trọng tâm, câu hỏi gợi mở màgiáo viên sử dụng trong dạy học đều là những câu hỏi dạy học Như vậy, câuhỏi trong dạy học là những câu hỏi phản ánh nhu cầu tìm tòi kiến thức mớitrong dạy học, kiểm tra, vận dụng kiến thức, hướng vào đối tượng nhận thức

và đòi hỏi sự giải quyết Nó góp phần nâng cao hiệu quả trong dạy học nhất làtrong cơ chế dạy học lấy học sinh làm trung tâm

1.2.2 Ƣu – nhƣợc điểm của việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học:

Trong bất kì giờ học nào, việc đặt câu hỏi là không thể thiếu Câu hỏiđược sử dụng dưới cả hình thức nói lẫn viết Tuy nhiên, câu hỏi nói do đặcđiểm nhanh, gọn, ít thời gian nên được sử dụng thường xuyên hơn Nhữnggiáo viên có kinh nghiệm đều xem câu hỏi là phương tiện để truyền đạt trithức và sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi để xây dựng nên hệ thống câu hỏi tronggiảng bài nhờ những ưu điểm sau:

* Đối với giáo viên:

đánh giá năng lực của học sinh, đồng thời nhận được tin phản hồi tức thì vềmức độ tiếp thu kiến thức của học sinh

- Câu hỏi trong dạy học còn được giáo viên dùng để khắc sâu, củng cốkiến thức trong quá trình truyền đạt Nó cũng là biện pháp gợi động cơ họctập gây hứng thú cho học sinh

- Câu hỏi trong dạy học giúp giáo viên phát hiện những ý tưởng và giảđịnh sai của học sinh để từ đó có thể kiểm tra và sửa lỗi cho học sinh

Trang 15

- Câu hỏi dạy học tạo điều kiện cho giáo viên rèn luyện cho học sinhnhững phẩm chất trong giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và nhận xét ýkiến của người khác.

* Đối với học sinh :

- Việc sử dụng câu hỏi trình bày logic các vấn đề và truyền đạt đượclogic này cho học sinh sẽ khuyến khích các em khám phá ra tri thức, pháttriển tư duy và kĩ năng suy nghĩ cấp độ cao

- Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tạo điều kiện cho học sinh bày tỏ

ý kiến của mình và thực hành sử dụng những ý tưởng, từ ngữ mà giáo viên đãdạy cho

- Câu hỏi dạy học tạo không khí hoạt động sôi nổi, thú vị, kích thíchhứng thú học tập của học sinh khi học sinh trả lời đúng và được giáo viênkhen

- Câu hỏi dạy học tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện các phẩm chấtnhư: kĩ năng diễn đạt, thái độ giao tiếp với thầy cô, bạn bè…

Câu hỏi dạy học có rất nhiều ưu điểm Tuy nhiên, để xây dựng được hệthống câu hỏi dạy học phát huy được hết các ưu điểm trên đòi hỏi giáo viênphải có kĩ thuật đặt câu hỏi

Bên cạnh đó, nếu giáo viên không có kĩ năng đặt câu hỏi cũng sẽ gâykhó khăn cho học sinh

- Diễn đạt câu hỏi không đúng ý làm học sinh dễ hiểu lầm

- Câu hỏi quá dài dòng không đúng trọng tâm khiến học sinh bị phântán sự tập trung, khó tiếp thu và nắm bắt ý tưởng của giáo viên Hỏi quá khó

sẽ gây tâm trạng chán nản

- Sử dụng hệ thống câu hỏi quá nhiều, không chọn lọc sẽ làm mất thờigian

Trang 16

Do đó, đòi hỏi trong việc xây dựng hệ thống câu hỏi, giáo viên phải có

sự chuẩn bị kĩ lưỡng, am hiểu nội dung và khả năng tư duy của học sinh đểđặt câu hỏi cho phù hợp

1.2.3 Phân loại câu hỏi:

Trong quá trình dạy học, có những câu hỏi chỉ đơn thuần là yêu cầu họcsinh nhớ lại kiến thức và có tác dụng củng cố kiến thức mới học, luyện trínhớ Cũng có những câu hỏi nhấn mạnh đến những điểm chính của vấn đề vàthông tin cho giáo viên biết học sinh tiếp thu được đến đâu, lại có những câuhỏi dành cho các kĩ năng bậc cao hơn như khả năng hiểu và áp dụng các kháiniệm, nguyên tắc liên quan đến kiến thức đã học

loại câu hỏi sau:

+ Dạng câu hỏi dùng để kiểm tra kiến thức, kĩ năng khai thác kiến thứcnhư gợi nhớ thông tin, đặt tên, kiểm soát, quan sát, câu hỏi giả định

giá, giải quyết vấn đề

Lộc – 2000”, câu hỏi được phân loại như sau:

+ Câu hỏi theo chức năng dạy học

+ Câu hỏi theo hình thức tổ chức dạy học

Nếu phân loại câu hỏi theo các loại tiết dạy:

+ Câu hỏi dạy bài mới

+ Câu hỏi dạy bài luyện tập

+ Câu hỏi dạy bài ôn tập

Nếu phân loại câu hỏi theo tình huống điển hình trong dạy học Toán:+ Câu hỏi trong dạy học khái niệm Toán học

Trang 17

+ Câu hỏi trong dạy chứng minh định lí Toán học

+ Câu hỏi trong dạy giải Toán

1.2.3.1 Phân loại câu hỏi theo mức độ tƣ duy:

Năm 1956, Benjamin Bloom đã nêu ra 6 cấp độ nhận thức: biết, hiểu,vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Ứng với từng cấp độ nhận thức, câuhỏi cũng được chia thành 6 cấp độ từ thấp đến cao: Câu hỏi mức độ biết, câuhỏi mức độ hiểu, câu hỏi mức độ vận dụng, câu hỏi mức độ tổng hợp và câuhỏi mức độ đánh giá

+ Câu hỏi mức độ biết: Giúp học sinh tái hiện lại kiến thức, nhắc lại các

sự kiện, định nghĩa, quy tắc…

Câu hỏi thường bắt đầu bằng các từ để hỏi: ai, khi nào, ở đâu, hãy liệt

kê, định nghĩa, phát biểu, nêu…

Ví dụ: Hãy nêu khái niệm hàm số bậc nhất?

khác nhau, lý giải nguyên nhân…

Câu hỏi thường bắt đầu: Hãy tóm tắt, mô tả, phân biệt, so sánh…

Ví dụ: Hãy phân biệt hàm số bậc nhất và bậc hai?

+ Câu hỏi mức độ vận dụng: Giúp học sinh vận dụng các kiến thức đãbiết để giải quyết vấn đề

Câu hỏi thường bắt đầu với các từ để hỏi: Hãy chứng minh, giải thích,dựa vào công thức, định lí đã biết…

Ví dụ: Chứngminh hàm số g(x) 1 x 1 x là hàm số lẻ?

+ Câu hỏi mức độ phân tích: Giúp học sinh có khả năng phân tíchnhững vấn đề, chia nhỏ vấn đề để có thể hiểu được, tìm hiểu sâu hơn về mộtkhía cạnh nào đó, cấu trúc của đối tượng…

Câu hỏi thường là: Hãy phân tích, giải thích, phân loại, sắp xếp…

Trang 18

+ Câu hỏi mức độ tổng hợp: Giúp học sinh có thể tổng hợ

khác để giải quyết vấn đề

Câu hỏi thường là: Hãy kết luận, tổng quát hóa, tổng hợp kiến thức…

Ví dụ: Sau khi vẽ đồ thị hàm số y 2x2 3x 1, hãy nêu cách vẽ tổng

+ Câu hỏi mức độ đánh giá: Giúp học sinh có khả năng nhận định, đánhgiá, nêu ra giá trị của vấn đề hoặc nêu ý kiến của riêng mình, bảo vệ quanđiểm của mình

Câu hỏi thường là: Hãy kiểm tra, nhận xét, nêu cách giải khác, nêu ýkiến bản thân…

Ví dụ: Có phải mỗi đường thẳng trong mặt phẳng toạ độ đều là đồ thị

của một hàm số nào đó không? Vì sao?

Trong sự phân loại này, câu hỏi mức độ hiểu, biết, vận dụng là nhữngcâu hỏi ở mức độ tư duy thấp

1.2.3.2 Phân loại câu hỏi dạy học theo chức năng:

Trong quá trình dạy học, dựa vào chức năng của quá trình dạy học cócác loại câu hỏi sau :

+ Câu hỏi nhằm mục tiêu khai thác kiến thức: Đòi hỏi học sinh phải suynghĩ, trao đổi, khám phá vấn đề từng bước một để chiếm lĩnh tri thức

Câu hỏi thường bắt đầu: Hãy giải thích, hãy chứng minh, hãy dựđoán…

Câu hỏi nhằm mục tiêu khai thác kiến thức chính là những câu hỏiđược xếp vào cấp độ vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá

Trang 19

+ Câu hỏi nhằm mục tiêu củng cố, kiểm tra kiến thức: Được dùng đểkiểm tra bài cũ của học sinh hoặc giúp học sinh nhớ lại kiến thức cũ có liênquan đến kiến thức mới hoặc có thể được dùng để phục vụ cho các câu hỏinhằm mục tiêu khai thác.

Câu hỏi thường là: Hãy phát biểu, hãy nhắc lại…

Ví dụ: Hãy nhắc lại khái niệm hàm số?

1.2.3.3 Phân loại câu hỏi theo hình thức tổ chức dạy học:

+ Câu hỏi cho hoạt động cá nhân: là câu hỏi một đối một với nội dungvấn đề giải quyết có phạm vi hẹp giúp giáo viên chuẩn đoán khó khăn hoặcchỗ học sinh bế tắc đồng thời hình thành cho học sinh những năng lực cá nhânnhư: rèn luyện ngôn ngữ, ý chí tự lực tự cường

+ Câu hỏi cho hoạt động nhóm: là câu hỏi mà đối tượng giải quyết câuhỏi là một nhóm gồm hai hay nhiều học sinh, câu hỏi thường có phạm virộng, có nhiều yêu cầu cần giải quyết, cần nhiều ý kiến đóng góp

Mục đích của câu hỏi là hình thành cho học sinh khả năng hợp tác, tinhthần đoàn kết, phương pháp làm việc

Ngoài những câu hỏi tự luận đã được phân loại ở trên, trong quá trìnhdạy học, giáo viên còn dùng đến các câu hỏi trắc nhiệm làm phong phú thêmgiờ học

Câu hỏi trắc nghiệm đƣợc phân loại nhƣ sau:

+ Câu hỏi nhiều lựa chọn: Nêu một câu hỏi dẫn hoặc câu phát biểukhông đầy đủ được nối tiếp bởi 3, 4, 5… câu trả lời hoặc 3, 4, 5… cụm từ bổsung trong đó chỉ có một câu trả lời đúng

Ví dụ: Cho đường thẳng (d) : y = 0,5x Hỏi ta sẽ được đồ thị của hàm

số nào khi tịnh tiến (d)

Trang 20

+ Câu hỏi loại điền khuyết: Những câu hỏi bài tập dạng này có chứanhững chỗ trống để học sinh điền những cụm từ thích hợp vào chỗ đó Nhữngcụm từ này có thể được cho sẵn hoặc do học sinh nghĩ ra.

Ví dụ: Hàm số bậc nhất có dạng … trong đó a và b là …?

+ Loại ghép đôi: Những câu hỏi, bài tập dạng này thường gồm hai cộtthông tin, mỗi cột có nhiều dòng Học sinh phải chọn ra những kết hợp hợp lýgiữa một dòng của cột này với một trong những dòng thích hợp của cột kia

1.2.4 Yêu cầu của câu hỏi trong dạy học:

+ Câu hỏi phải bám sát nội dung bài học tức câu hỏi đặt ra phải hướngvào trọng tâm của bài học và phải xây dựng câu hỏi gợi mở cho những câuhỏi trọng tâm

+ Câu hỏi phải đa dạng về hình thức câu hỏi

+ Câu hỏi dạy học phải đảm bảo tính vừa sức tức

+ Câu hỏi phải đa dạng về hình thức tổ chức dạy học

+ Câu hỏi phải đảm bảo thời lượng tiết học

+ Câu hỏi phải phát huy năng lực tư duy sáng tạo của học sinh

+ Giáo viên nên dự kiến câu trả lời và xác định xem có thể trả lời cáccách khác nhau như thế nào hoặc học sinh có thể hỏi ngược lại như thế nào vàxác định xem câu hỏi đó có thực sự cần thiết hay không?

1.2.5 Kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học:

Kĩ thuật đặt câu hỏi tốt nhất là phải khuyến khích tất cả học sinh tronglớp suy nghĩ

Khi đặt câu hỏi cần tránh bầu không khí căng thẳng, thường xuyên thayđổi ngữ giọng, giọng nói phải to, rõ ràng và cần nhấn mạnh những vấn đềtrọng tâm Sau khi đặt câu hỏi nên dừng lại đôi chút để học sinh động não suynghĩ câu trả lời, không nên chỉ định học sinh nêu câu trả lời trước khi đặt câuhỏi Khuyến khích các em trả lời bằng cách đặt câu hỏi từ những câu đơn

Trang 21

giản, đặc biệt nếu đây là học sinh mới Hãy tỏ ra hài lòng với câu trả lời củacác em và luôn khen ngợi câu trả lời đúng Hãy sử dụng ánh mắt và ngôn ngữ,

cử chỉ để liên lạc với các học sinh khác trong lớp Cho học sinh thời gian đểchuẩn bị sẵn sàng chuyển sang câu hỏi mới, nội dung mới

1.2.6 Nguyên tắc sử dụng câu hỏi trong dạy học:

+ Trước hết nên suy nghĩ trước các câu hỏi mình sẽ sử dụng trong bàigiảng, đặc biệt các câu hỏi khiến người nghe suy nghĩ

+ Câu hỏi dạy học phải đảm bảo tính khoa học

+ Câu hỏi dạy học đưa ra phải đảm bảo tính thống nhất giữa nội dung,phương pháp và hình thức

+ Câu hỏi dạy học phải đảm bảo tính vừa sức và yêu cầu phát triển+ Câu hỏi dạy học phải đảm bảo sự thống nhất giữa hoạt động điềukhiển của thầy và hoạt động học tập của trò

+ Câu hỏi dạy học phải đảm bảo thời lượng tiết học

2.1 Kết quả điều tra ý kiến của học sinh:

* Nội dung phiếu điều tra: xem phụ lục 1

* Kết quả và nhận xét kết quả:

Sau khi phát phiếu cho 150 học sinh, qua thống kê, phân tích các phiếuđiều tra ta có kết quả sau:

Trang 22

+ Có 22% học sinh trả lời rằng thường xuyên được giáo viên gọi phátbiểu, 60% thỉnh thoảng được gọi, 18% học sinh không bao giờ được gọi lênbảng phát biểu bài Điều này cho thấy việc bao quát của giáo viên chưa tốt.

+ Có 93% học sinh thích phát biểu bài, 7% không thích Điều này chothấy hầu hết học sinh đều thích phát biểu bài

+ Có 70% học sinh trả lời rằng có tâm lý bình thường khi trả lời sai,30% có tâm lý không tốt khi trả lời câu hỏi sai

.+ Có 58% học sinh trả lời rằng giáo viên giải đáp tỉ mỉ đáp án câu hỏikhi học sinh trả lời sai, 37% chọn đáp án “Cho một vài gợi ý để học sinh tiếptục trả lời” và 5% học sinh chọn “cách khác” Chứng tỏ có một lượng khôngnhỏ giáo viên có ý thức giúp học sinh tư duy tích cực trong học tập

+ Có 45% học sinh cho rằng giáo viên chỉ gọi những em chủ độngmuốn phát biểu, 46% trả lời các thành viên trong lớp đều tham gia xây dựngbài, 9% trả lời giáo viên giảng bài đơn độc Như vậy giáo viên chưa phân bốđược câu hỏi đều khắp lớp, chưa đáp ứng được yêu cầu của ba đối tượng khá,giỏi, trung bình

+ Có 67% ý kiến cho rằng câu hỏi của giáo viên rõ ràng, dễ hiểu, cònlại 33% ý kiến ngược lại Điều này chứng tỏ giáo viên cần rèn luyện thêm kĩnăng đặt câu hỏi

+ Có 55% học sinh trả lời rằng thời gian mà giáo viên cho các em suynghĩ là vừa, 24% trả lời thời gian là ngắn và 21% trả lời là thời gian quá dài.Như vậy thời gian giáo viên dành cho các em suy nghĩ vẫn chưa phù hợp vớinăng lực của các em

+ Khi không hiểu bài, số lượng học sinh hỏi giáo viên là rất ít Có đến30% học sinh trả lời rằng “Không bao giờ chủ động hỏi giáo viên”, 63% trảlời “có nhưng rất ít”, 7% trả lời “thường xuyên” Điều này cho thấy khả năng

Trang 23

hạn chế của giáo viên trong việc khuyến khích học sinh chủ động hỏi khikhông hiểu.

2.2 Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên:

* Nội dung phiếu điều tra: xem phụ lục 2

* Kết quả và nhận xét kết quả:

Qua thống kê, phân tích các phiếu điều tra ta có kết quả sau:

+ Đa số giáo viên đều coi sách giáo khoa như là phương tiện hỗ trợ chứkhông là tài liệu duy nhất cho việc giảng dạy Họ đều gia công chế biến lạicác hoạt động theo hướng hoàn thiện hơn nhằm thích nghi với từng đối tượng

chấp nhận hoàn toàn những chỉ dẫn trong sách

+ Kết quả còn 5/8 giáo viên đôi khi còn áp đặt kiến thức cho học sinh,dẫn dắt bài không tự nhiên, câu hỏi đưa ra còn đơn giản

+ Một số ít giáo viên (1/8) còn ít chú ý đến việc phối hợp các hình thứccâu hỏi dạy học Mà như ta đã biết, các câu hỏi trắc nghiệm, câu hỏi dạngđiền khuyết…có rất nhiều tác dụng trong việc phát hiện sai lầm của học sinh,đặc biệt là gợi động cơ, gây hứng thú học tập cho học sinh

3 Kết luận

Như vậy, qua thực trạng trên, việc xây dựng và sử dụng câu hỏi trongdạy học còn chưa được quan tâm nhiều Khi sử dụng trong dạy học vẫn chưakhoa học và chưa đạt kết quả cao Do vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quảcủa quá trình dạy học, mỗi sinh viên sư phạm cần trang bị những tri thức, kĩnăng, kĩ xảo cần thiết về xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học

Trang 24

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐN

NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH.

2 Nội dung của chương:

bài, dự kiến được thực hiện trong 6 tiết, phân bố cụ thể như sau:

Trang 25

.

Trang 27

x 13

12

3

12

Trang 30

( ; 0]

Trang 32

-

Trang 35

-(x)(x)

g( x)

+ f ( x) g( x)

( x)2

f (x) g(x)

Trang 37

( ; 0)

Ngày đăng: 12/05/2018, 11:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Văn Hương - Nguyễn Chí Thanh, Một số phương pháp dạy học môn toán theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh THCS, Nxb đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp dạy học môntoán theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh THCS
Nhà XB: Nxb đạihọc sư phạm
2. Trevor Kerry, Dạy học ngày nay, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học ngày nay
Nhà XB: Nxb giáo dục
3. I. F. Kharlamop(1979), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thếnào
Tác giả: I. F. Kharlamop
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1979
4. Nguyễn Bá Kim (2002), Phương pháp dạy học môn toán, Nxb đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: Nxb đại học sưphạm
Năm: 2002
5. Lê Thị Xuân Liên, Xây dựng hệ thống câu hỏi góp phần phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học môn toán ở trường THCS, Luận án tiến sĩ giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống câu hỏi góp phần phát huy tính tíchcực học tập của học sinh trong dạy học môn toán ở trường THCS
6. Lê phước Lộc (2000), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
Tác giả: Lê phước Lộc
Nhà XB: Nxbgiáo dục
Năm: 2000
7. Nhiều tác giả (2005), Luật giáo dục, Nxb chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2005
10. Đoàn Quỳnh (Tổng chủ biên), Nguyễn Huy Đoan (chủ biên), Nguyễn Xuân Liêm, Đặng Hùng Thắng, Trần Văn Vuông (2010), Đại số 10 nâng cao, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại số 10nâng cao
Tác giả: Đoàn Quỳnh (Tổng chủ biên), Nguyễn Huy Đoan (chủ biên), Nguyễn Xuân Liêm, Đặng Hùng Thắng, Trần Văn Vuông
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2010
11. Đoàn Quỳnh (Tổng chủ biên), Nguyễn Huy Đoan (chủ biên), Nguyễn Xuân Liêm, Đặng Hùng Thắng, Trần Văn Vuông (2010), Sách giáo viên Đại số 10 nâng cao, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáoviên Đại số 10 nâng cao
Tác giả: Đoàn Quỳnh (Tổng chủ biên), Nguyễn Huy Đoan (chủ biên), Nguyễn Xuân Liêm, Đặng Hùng Thắng, Trần Văn Vuông
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w