1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng CNTT trong dạy học khái niệm về quan hệ vuông góc ở trường phổ thông theo phương pháp dạy học tích cực

57 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 801,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đối tượng 3, 25 không phải là một phần tử của A hay ta còn nói “số 3không chia hết 25”, bởi vì không tồn tại bất cứ một số tự nhiên q nào saocho 25 = 3 q.Tuy về mặt Toán học, khái niệm

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xã hội chúng ta hiện nay việc ứng dụng Công nghệ thông tin(CNTT) đã được áp dụng ở hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội vàmang lại hiệu quả thiết thực Đối với ngành giáo dục và đào tạo, CNTT đã vàđang mang lại hiệu quả to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy và học,hình thức dạy học và quản lý giáo dục

Cùng với việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa thì việc đổi mớiphương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục là hết sức cần thiết.Hiện nay, ngoài các phương pháp dạy học truyền thống, việc ứng dụng CNTTtrong dạy học đã góp phần làm cho giờ học trở nên sinh động, hiệu quả, kíchthích được tính tích cực, sáng tạo của học sinh

Qua nghiên cứu chương trình sách giáo khoa môn Toán ở trung học phổthông (THPT), bản thân tôi nhận thấy có nhiều nội dung khi dạy học rất cần

sự hỗ trợ của CNTT để tiết kiệm thời gian trên lớp, đảm bảo nội dung cầntruyền đạt, làm đơn giản hoá các vấn đề mang tính trừu tượng cao, phát huytính tích cực của học sinh nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học Trongmôn Toán ở trường THPT, phân môn hình học không gian là một trong nhữngnội dung khá khó và trừu tượng đối với nhiều học sinh Để có thể dạy học tốtmôn Toán nói chung cũng như phân môn hình học không gian nói riêng, tôi

đã lựa chọn đề tài “Ứng dụng CNTT trong dạy học khái niệm về quan hệ vuông góc ở trường phổ thông theo phương pháp dạy học tích cực ” làm

khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm phát huy được hứng thú và tính tích cực của học sinh đối với

việc học tập nội dung khái niệm về quan hệ vuông góc trong không gian

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

1

SVTH: Nguyễn Thị Lan Lớp K33C -Toán

Trang 2

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

1

SVTH: Nguyễn Thị Lan Lớp K33C -Toán

Trang 3

Bước đầu giúp cho giáo viên và học sinh tiếp cận với phương pháp

dạy học hiện đại, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh theo

phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp sử dụng một số phần mềm chuyên dụng trong dạy học

môn toán ở phổ thông

Thiết kế và xây dựng tập tư liệu thông tin hỗ trợ tổ chức dạy học theo

phương pháp tích cực các khái niệm về quan hệ vuông góc trong không gian –Hình học 11 nâng cao

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận các tài liệu về PPDH tích cực, về phương pháp

dạy học môn Toán, …

Tổng kết kinh nghiệm tham khảo các giáo án, bài giảng theo phương

pháp dạy học này

Nghiên cứu cách sử dụng một số phần mềm ứng dụng để thiết kế bài

giảng điện tử theo PPDH tích cực:

- Phần mềm trình diễn MS PowerPoint, Violet,

- Phần mềm hình học động Cabri Geometry, Geometer’s Sketchpad.Nghiên cứu nội dung chương trình, sách giáo khoa môn Toán phần

quan hệ vuông góc trong không gian - Hình học 11 nâng cao

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

SVTH: Nguyễn Thị Lan 3 Lớp K33C-Toán

Trang 4

- Phương pháp dạy học (PPDH) tích cực để chỉ những PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.

- PPDH tích cực còn có thể được hiểu một cách ngắn gọn là PPDH hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

1.1.2 Hệ thống phân loại các PPDH

- Hiện nay, chúng ta chưa có sự thống nhất trên phạm vi quốc tế việcphân loại các PPDH Hệ thống phân loại các PPDH hiện naykhông thống nhất, nó tùy thuộc vào việc người ta có thể xem xétPPDH dưới các phương diện khác nhau, từ đó đưa ra các loại phươngpháp khác nhau

- PPDH với cách truyền thông tin tới HS bằng hoạt động bên ngoài:+ PPDH thuyết trình;

+ PPDH giảng giải minh họa;

+ PPDH gợi mở- vấn đáp;

+ PPDH trực quan

- PPDH với tình huống điển hình trong quá trình dạy học các môn học:+ Môn toán: PPDH định nghĩa khái niệm, PPDH định lý toán học,PPDH quy tắc và phương pháp toán học, PPDH bài tập toán học

Trang 5

+ Môn vật lý: PPDH định nghĩa khái niệm, PPDH định luật vật lý,PPDH bài tập vật lý, PPDH thực hành thí nghiệm, …

+ Môn văn: PPDH kể chuyện văn học, PPDH thơ ca, PPDH phân tíchtác phẩm văn học, …

1.1.3 Đặc trƣng của PPDH tích cực

- Dạy học phải kích thích nhu cầu và hứng thú học tập của HS

Theo tâm lý học thì tư duy của con người chỉ tích cực khi họ có nhu cầuhứng thú với hoạt động đó Nhà tâm lý học Xô Viết V.P Simonov đã mô tảtính tích cực hoạt động học tập của HS phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn và lôicuốn của nhiệm vụ học tập - nhu cầu là một hàm phụ thuộc vào hiệu số củakiến thức cần thiết và kiến thức đã có được biểu diễn theo công thức sau:

T = N(KCT – KĐC)

Ở đây:

T là mức độ tích cực của HS;

N là nhu cầu nhận thức;

KCT là kiến thức, kỹ năng cần thiết của HS;

KĐC là kiến thức, kỹ năng đã có của HS

Do đó, trong dạy học theo phương pháp tích cực GV cần thiết và trướctiên phải làm cho HS có nhu cầu học tập và bị cuốn hút vào nhiệm vụ học tập

- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tự học tức là rèn luyện cho người học có được phươngpháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự chiếm lĩnh tri thức, ví dụ như biết tự lựcphát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn, biết linhhoạt vận dụng những điều đã học vào những tình huống mới, từ đó sẽ tạo chongười học lòng ham học, ham hiểu biết Do vậy, trong quá trình dạy học cầnchú ý dạy cho người học phương pháp tự học, tạo ra sự chuyển biến từ việchọc tập thụ động sang học tập chủ động

Trang 6

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hìnhthành hoàn toàn bằng con đường độc lập cá nhân Thông qua việc thảo luận,tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định haybác bỏ, qua đó người học nâng kiến thức của mình lên một trình độ mới Nhờ

đó, kĩ năng cũng như phương pháp học tập của học sinh dần được nâng cao vàngày càng phát triển hơn

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức là hoạtđộng hợp tác trong nhóm nhỏ Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất

là phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phốihợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động nhómnhỏ sẽ không có hiện tượng ỷ lại, tính cách năng lực của mỗi thành viên đượcbộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ, giúp

đỡ nhau cùng tiến bộ

- Kết hợp sự đánh giá của GV với sự đánh giá của HS

Trong dạy học, việc đánh giá HS là một việc quan trọng, nhằm mụcđích đánh giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động của đồng thời cả HS và GV

Trong PPDH tích cực, GV phải hướng dẫn HS tự đánh giá kiến thứccủa mình để tự điều chỉnh cách học tập, cũng như phải tạo điều kiện để các

HS tham gia vào việc đánh giá lẫn nhau Từ đó, hình thành cho HS biết tựđánh giá đúng và điều chỉnh kịp thời các hoạt động học tập của mình Đóchính là năng lực rất cần thiết mà nhà trường cần phải trang bị cho các HSgiúp họ có thể thành công trong học tập cũng như trong cuộc sống

- Dạy học thông qua các hoạt động học tập của HS

Trong dạy học, theo quan điểm tích cực, GV phải đặt HS vào nhữngtình huống thực tiễn, tình huống gợi vấn đề và HS được trực tiếp quan sát,thảo luận, làm thí nghiệm và tự rút ra kết luận cần thiết

Trang 7

Đối với môn toán, GV tạo ra và đặt HS vào các tình huống toán họcthực tiễn, đồng thời tổ chức để cho HS có thể trực tiếp tham gia trải nghiệmvào các dạng khác nhau của hoạt động toán học sau đây:

+ Hoạt động trí tuệ chung: Quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, tương

tự hóa, khái quát hóa, trừu tượng hóa,…

+ Hoạt động nhận dạng và thể hiện kiến thức toán học

+ Hoạt động toán học phức hợp: Chứng minh toán học, định nghĩa kháiniệm toán học, giải bài toán (giải phương trình, giải toán dựng hình, giải toántìm tập hợp điểm,…)

+ Hoạt động trí tuệ phổ biến của toán học: Lật ngược vấn đề, xét tínhgiải được, mô hình hóa và thể hiện,…

+ Hoạt động ngôn ngữ: HS phát biểu, trình bày nội dung kiến thức toánhọc dưới các dạng khác nhau hoặc lập luận biến đổi mệnh đề, chứng minhmệnh đề toán học

Đặc điểm của môn toán là khoa học suy diễn, trong đó mọi kiến thứctoán học đều được rút ra từ các tiên đề hoặc điều đã biết bằng suy luận lôgic

Do đó, nhiệm vụ hàng đầu của dạy học toán ở trường phổ thông là phải dạycho HS suy nghĩ một cách đúng đắn, hợp lý Vì vậy, dạy học toán ở trườngphổ thông bằng các hoạt động toán học thực chất là cho HS trực tiếp được tậpdượt cách suy nghĩ thông qua việc trải nghiệm các hoạt động toán học phứchợp

Từ những nghiên cứu trên, ta thấy một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn đốivới sự đổi mới PPDH Toán là GV cần phải có nhận thức đúng đắn, rõ ràng, cụthể về tổ chức dạy học theo PPDH tích cực đối với các tình huống dạy học

điển hình của môn Toán Quan điểm đó là dạy học các tình huống Toán học

như thế nào được coi là tích cực và như thế nào được coi là thụ động (hay ít tích cực)?

Trang 8

Dạy học tích cực Dạy học thụ động (ít tích cực) Dạy

học

khái

niệm

+ Phân tích tìm các dấu hiệu đặc

trưng của khái niệm toán học.

+ Hoạt động gợi động cơ suy

đoán định lí - Nêu nội dung định

Dạy + Tóm tắt nội dung bài toán + Tóm tắt nội dung bài toán

học + Phân tích tìm đường lối chứng + Hoạt động chứng minh toán học.

bài minh toán học.

tập + Hoạt động chứng minh toán

toán học

học + Kiểm tra và khai thác bài toán.

Kết luận: Như vậy chúng ta thấy quan điểm nổi bật của PPDH tích cực

đối với môn Toán ở trường phổ thông là tổ chức các hoạt động học tập cho

HS theo phương châm coi trọng việc tìm ra đường lối chứng minh toán học, không chỉ chú trọng vào việc dạy học chứng minh toán học.

Trang 9

N : A =

1.2 Dạy học khái niệm Toán học

1.2.1 Đại cương về định nghĩa khái niệm

a Khái niệm

Khái niệm là một hình thức tư duy phản ánh một lớp đối tượng Do đó

một khái niệm có thể được xem xét theo hai phương diện: bản thân lớp đối

tượng xác định khái niệm được gọi là ngoại diên, còn toàn bộ các thuộc tính chung của lớp đối tượng này được gọi là nội hàm của khái niệm đó.

Giữa nội hàm và ngoại diên có một mối liên hệ mang tính quy luật, nội

hàm càng được mở rộng thì ngoại diên càng bị thu hẹp và ngược lại Thật vậy,nếu ta mở rộng nội hàm của khái niệm hình bình hành, chẳng hạn bằng cách

bổ sung đặc điểm “có một góc vuông” thì ta sẽ được lớp các hình chữ nhật làmột bộ phận thực sự của lớp các hình bình hành

Nếu ngoại diên của khái niệm A là một bộ phận của khái niệm B thì

khái niệm A được gọi là một khái niệm chủng của B, còn khái niệm B được gọi là một khái niệm loại của A.

b Khái niệm đối tượng và khái niệm quan hệ

Ở trên có nêu khái niệm phản ánh một lớp đối tượng Điều đó có gì sai

hay không, trong khi có những tác giả phân biệt khái niệm về một đối tượng,

chẳng hạn “hình chóp” với khái niệm về một quan hệ, chẳng hạn “chia hết”?

Thật ra, dưới góc độ Toán học, một quan hệ n ngôi là một tập con của tíchĐềcac của n tập hợp Quan hệ chia hết là một tập con A của tích Đềcac

Trang 10

- Đối tượng (3, 25) không phải là một phần tử của A (hay ta còn nói “số 3không chia hết 25”), bởi vì không tồn tại bất cứ một số tự nhiên q nào saocho 25 = 3 q).

Tuy về mặt Toán học, khái niệm về một quan hệ cũng là một trườnghợp riêng của khái niệm về một đối tượng, nhưng trong dạy học, sự phân biệtgiữa khái niệm về đối tượng với khái niệm về quan hệ lại là cần thiết dưới góc

độ sư phạm, nhất là trong tình hình học sinh còn mơ hồ về khái niệm quan hệ

khi họ nói về “phương trình tương đương”, “phương trình hệ quả” hoặc phát biểu: “Tiếp tuyến là một đường thẳng chỉ có một điểm chung với đường

tròn”.

c Định nghĩa khái niệm

Định nghĩa một khái niệm là một thao tác lôgic nhằm phân biệt lớp đối

tượng xác định khái niệm này với các đối tượng khác, thường bằng cách vạch

ra nội hàm của khái niệm đó

Các định nghĩa thường có cấu trúc sau:

chủng)

Ví dụ: “Hình vuông là một hình chữ nhật có hai cạnh liên tiếp bằng

nhau” Trong định nghĩa này, từ mới là hình vuông, loại hay miền đối tượng là hình chữ nhật, còn sự khác biệt về chủng là hai cạnh liên tiếp bằng nhau.

Miền đối tượng (loại) và các thuộc tính về chủng tạo thành đặc trưng

của khái niệm Đặc trưng của khái niệm là điều kiện cần và đủ để xác địnhkhái niệm đó Nói chung, có nhiều cách nêu đặc trưng của cùng một kháiniệm, tức là có thể định nghĩa cùng một khái niệm theo nhiều cách khác nhau.Chẳng hạn, hình vuông ngoài định nghĩa đã nêu trong ví dụ trên, còn có thể

Trang 11

được định nghĩa theo một cách khác ví dụ như “hình vuông là hình thoi có

một góc vuông”.

Khi xét một đối tượng xem có thuộc ngoại diên của một khái niệm nào

đó hay không, người ta thường quan tâm những thuộc tính của đối tượng đó:những thuộc tính nào nằm trong nội hàm của khái niệm đang xét thì được coi

là thuộc tính bản chất, còn những thuộc tính nào không thuộc nội hàm củakhái niệm đó thì được coi là thuộc tính không bản chất đối với khái niệm đangxem xét

Giả sử cho tứ giác ABCD (hình vẽ).

A B Nếu xét xem ABCD có phải là một hình

vuông hay không thì “AB= BC” là một trong các thuộc tính bản chất, còn nếu xét xem tứ

giác đó có phải là hình bình hành hay không thì

D C thuộc tính đó là không bản chất

Trong định nghĩa theo cấu trúc đã nêu ở đầu mục này, từ chỉ miền đối

tượng hay loại phải tương ứng với một khái niệm đã biết Một khả năng vi

phạm điều kiện này là đưa ra những định nghĩa vòng quanh, ví dụ“phép cộng

là phép tìm tổng của hai hay nhiều số”; “tổng của hai hay nhiều số là kết quả thực hiện phép cộng”.

d Khái niệm không định nghĩa

Định nghĩa một khái niệm mới thường dựa vào một hay nhiều khái

niệm đã biết Ví dụ để định nghĩa hình vuông ta cần định nghĩa hình chữ nhật;

để định nghĩa hình chữ nhật, ta cần định nghĩa hình bình hành; để định nghĩa hình bình hành ta cần định nghĩa tứ giác; Tuy nhiên, quá trình trên không

thể kéo dài vô hạn, tức là phải có khái niệm không định nghĩa, được thừa nhận

Trang 12

làm điểm xuất phát, gọi là những khái niệm nguyên thủy, chẳng hạn người tathừa nhận điểm, đường thẳng, mặt phẳng là những khái niệm nguyên thủytrong Toán học.

Ở trường phổ thông, chúng ta thấy có một số khái niệm cũng khôngđược định nghĩa vì lí do sư phạm, mặc dù chúng có thể được định nghĩa trongToán học

Đối với những khái niệm không định nghĩa ở trường phổ thông, cần mô

tả, giải thích thông qua những ví dụ cụ thể để học sinh hình dung được nhữngkhái niệm này, hiểu được chúng một cách trực giác

1.2.2 Vị trí của khái niệm và yêu cầu dạy học khái niệm

a Vị trí của dạy học khái niệm

Trong việc dạy học Toán, cũng như việc dạy học bất cứ một khoa học

nào ở trường phổ thông, điều quan trọng bậc nhất là hình thành một cách vững

chắc cho học sinh một hệ thống khái niệm Đó là cơ sở của toàn bộ kiến thức

Toán học của học sinh, là tiền đề quan trọng để xây dựng cho họ khả năng vậndụng các kiến thức đã học

Quá trình hình thành các khái niệm có tác dụng lớn đến việc phát triểntrí tuệ, đồng thời góp phần giáo dục thế giới quan cho học sinh qua việc nhậnthức đúng đắn quá trình phát sinh và phát triển của các khái niệm Toán học

b Yêu cầu của dạy học khái niệm

Việc dạy học các khái niệm Toán học ở trường trung học phổ thôngphải làm cho học sinh dần dần đạt được các yêu cầu sau:

- Nắm vững các đặc điểm đăc trưng cho một khái niệm

- Biết nhận dạng khái niệm, tức là biết phát hiện xem một đối tượng chotrước có thuộc phạm vi một khái niệm nào đó hay không, đồng thời biết thểhiện khái niệm

- Biết phát biểu rõ ràng, chính xác định nghĩa của một số khái niệm

Trang 13

- Biết vận dụng khái niệm trong những tình huống cụ thể trong hoạt độnggiải Toán và ứng dụng vào thực tiễn.

- Biết phân loại khái niệm và nắm được mối quan hệ của một khái niệmvới những khái niệm khác trong một hệ thống khái niệm

Các yêu cầu trên đây có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Song vì lí do sưphạm, các yêu cầu trên luôn được đặt ra với mức độ như nhau đối với từngkhái niệm

Ví dụ đối với những khái niệm như “hình bình hành”, “đạo hàm”, …học sinh phải phát biểu được định nghĩa một cách chính xác và vận dụng được

các định nghĩa đó trong khi giải bài tập, còn đối với khái niệm “chiều” của

vectơ, chương trình lại không đòi hỏi học sinh phải nêu định nghĩa tườngminh mà chỉ cần hình dung định nghĩa này một cách trực giác dựa vào kinhnghiệm sống của bản thân mình

1.2.3 Một số hình thức định nghĩa khái niệm thường gặp ở trường phổ

thông

a Định nghĩa theo phương pháp loài ─ chủng

* Nội dung: Định nghĩa theo phương pháp loài ─ chủng là một hình thức

định nghĩa nêu lên khái niệm loài và đặc tính của chủng

Khái niệm được định nghĩa = Khái niệm loài + Đặc tính của chủng.+ Ví dụ 1: “Hình thoi là hình bình hành có hai cạnh liên tiếp bằngnhau” Trong định nghĩa này:

- Hình bình hành là khái niệm loài;

- Hai cạnh liên tiếp bằng nhau là đặc tính của chủng

+ Ví dụ 2: “Số nguyên tố là số tự nhiên lớn hơn 1 và chỉ có hai ước số

là 1 và chính nó” Ở đây:

- Số tự nhiên là khái niệm loài;

- Chỉ có hai ước số chung là 1 và chính nó là đặc tính của chủng

Trang 14

+ Ví dụ 3: Trong mặt phẳng, cho một điểm cố định và một số k không

uuuur uuuurđổi khác 0, phép biến hình biến mỗi điểm M thành M’ sao cho

được gọi là phép vị tự tâm O tỉ số k Kí hiệu V(O, k).

Ở định nghĩa này, ta thấy:

+ Phép biến hình là khái niệm loài;

* Nội dung: Định nghĩa bằng quy ước là hình thức định nghĩa gán cho đối

tượng cần định nghĩa một đối tượng cụ thể nào đó

c Định nghĩa bằng phương pháp tiên đề

* Nội dung: Người ta chọn ra một đối tượng cơ bản, quan hệ cơ bản và thừa

nhận chúng gọi là các tiên đề Từ đó đi định nghĩa các khái niệm khác,chứng minh các tính chất khác bằng suy luận hợp logic

+ Ví dụ 1: Quan hệ tương đương được định nghĩa như sau:

Cho tập X cùng quan hệ tương đương , (X, ) được gọi là quan hệtương đương, nếu thỏa mãn 3 tính chất sau:

i) Tính chất phản xạ;

ii) Tính chất đối xứng;

Trang 15

iii) Tính chất bắc cầu.

Trang 16

: X X X

x X : xeexx ;

x X , x X : xx x x e

+ Ví dụ 2: Ta định nghĩa khái niệm nhóm như sau:

Tập X ( X ) cùng phép toán hai ngôi được gọi là nhóm nếu

a,b a c

i) * có tính chất kết hợp;

thỏa mãn:

ii)Có phần tử đơn vị e X sao cho

iii)Tồn tại phần tử nghịch đảo

d Định nghĩa bằng phương pháp mô tả

* Nội dung: Định nghĩa bằng phương pháp mô tả là hình thức định nghĩa

chỉ ra những đối tượng trong thực tiễn có hình ảnh gần gũi với đối tượngcần định nghĩa, quan hệ cần định nghĩa hoặc chỉ ra quy trình tạo ra chúng(mô tả theo kiểu kiến thiết)

+ Ví dụ 1: Các khái niệm “điểm trong mặt phẳng, đường thẳng, mặtphẳng” là các khái niệm không định nghĩa, chúng được định nghĩa theophương pháp mô tả

+ Ví dụ 2: Góc lượng giác trong Đại số 10 (định nghĩa theo quy trìnhtạo ra chúng) Cho hai tia Ou, Ov Nếu tia Om quay chỉ theo chiều dương (haychỉ theo chiều âm) xuất phát từ tia đầu Ou đến trùng với tia cuối Ov thì ta nói:

Tia Om quét một góc lượng giác tia đầu Ou, tia cuối Ov.

1.2.4 Các quy tắc định nghĩa khái niệm

a Quy tắc 1: Định nghĩa phải tương xứng

Định nghĩa theo quy tắc này nghĩa là phạm vi của khái niệm định nghĩa

và khái niệm được định nghĩa phải bằng nhau

Định nghĩa không tương xứng là định nghĩa mà phạm vi của khái niệmquá hẹp hay quá rộng so với khái niệm được định nghĩa

+ Ví dụ 1: “Số vô tỉ là số thập phân vô hạn không tuần hoàn” là địnhnghĩa đúng, phù hợp, định nghĩa tương xứng

Trang 17

+ Ví dụ 2: “Số vô tỉ là căn số của những số hữu tỉ trong trường hợpnhững số này không thể khai căn được” là định nghĩa không tương xứng vìkhái niệm được định nghĩa có phạm vi hẹp hơn so với phạm vi khái niệm định

nghĩa, ví dụ số e và số là những số vô tỉ nhưng không là kết quả của phép

khai căn nào

+ Ví dụ 3: “Số vô tỉ là số thập phân vô hạn” là định nghĩa không tương

xứng vì khái niệm được định nghĩa có phạm vi rộng hơn khái niệm định

nghĩa, chẳng hạn có những số thập phân vô hạn như 1 , 1 , nhưng chúng

3 9không phải là số vô tỉ mà là các số hữu tỉ

b Quy tắc 2: Định nghĩa không được vòng quanh

Định nghĩa theo quy tắc này có nghĩa là định nghĩa phải dựa vào khái niệm đã biết, đã được định nghĩa

+ Ví dụ 1: Định nghĩa về số đo góc “độ là 1

90 của góc vuông, gócvuông là góc có số đo 900 ” là định nghĩa vòng quanh

+ Ví dụ 2: “Góc nhị diện là góc tạo bởi hai nửa mặt phẳng đi qua mộtđường thẳng” là định nghĩa không đúng vì khái niệm góc chưa xác định Vìthế, ta phải định nghĩa góc nhị diện như sau: “Góc nhị diện là phần khônggian giới hạn bởi hai nửa mặt phẳng cùng đi qua một đường thẳng”

c Quy tắc 3: Định nghĩa phải tối thiểu

Định nghĩa theo quy tắc này nghĩa là trong nội dung khái niệm địnhnghĩa không chứa những thuộc tính có thể suy ra được những thuộc tính cònlại

+ Ví dụ 1: Định nghĩa “hình bình hành là tứ giác phẳng có các cạnh songsong và bằng nhau” vi phạm quy tắc này vì ở định nghĩa thừa một trong haiđiều kiện song song hoặc bằng nhau

Trang 18

+ Ví dụ 2: Định nghĩa “số nguyên tố là số tự nhiên lớn hơn 1 và chỉ cóhai ước số là 1 và chính nó” thừa điều kiện “là 1 và chính nó” nhưng vì lý do

sư phạm nên người ta đưa vào trong định nghĩa để học sinh hiểu rõ hai ước đó

là hai ước cụ thể nào

d Quy tắc 4: Định nghĩa không dùng lối phủ định nếu loài không được phân chia thành hai tập hợp triệt để (tức là khái niệm loài không bao gồm hai khái

niệm mâu thuẫn)

+ Ví dụ 1: “Hình thoi không phải là hình tam giác” là định nghĩa chỉnêu lên dấu hiệu xem xét một hình không phải là hình tam giác, chưa chỉ rađược đặc trưng của hình thoi

+ Ví dụ 2: “Số siêu việt là những số thực không đại số” là định nghĩađúng vì khái niệm loài là tập số thực được phân chia thành hai tập hợp gồmtập hợp số đại số và tập hợp số siêu việt, hai tập số này là hai tập hợp tách rờinhau nhưng hợp của chúng tạo thành tập số

1.2.5 Những con đường tiếp cận khái niệm

Con đường tiếp cận một khái niệm được hiểu là quá trình hoạt động và

tư duy dẫn tới một sự hiểu biết về khái niệm đó nhờ định nghĩa tường minh,nhờ mô tả, nhờ trực giác, ở mức độ nhận biết một đối tượng hoặc một tìnhhuống có thuộc về khái niệm đó hay không

Trong dạy học, người ta phân biệt ba con đường tiếp cận khái niệm:

Con đường quy nạp;

Con đường suy diễn;

Con đường kiến thiết

Sau đây, ta sẽ đi sâu vào từng con đường nói trên

a Con đường quy nạp

Xuất phát từ một số những đối tượng riêng lẻ như vật thật, mô hình,hình vẽ, thầy giáo dẫn dắt học sinh phân tích, so sánh, trừu tượng hóa và khái

Trang 19

quát hóa để tìm ra dấu hiệu đặc trưng của một khái niệm thể hiện ở nhữngtrường hợp cụ thể này, từ đó đi đến một định nghĩa tường minh hay một sựhiểu biết trực giác về khái niệm đó tùy theo yêu cầu của chương trình.

Quy trình tiếp cận một khái niệm theo con đường quy nạp:

i) Giáo viên đưa ra những ví dụ cụ thể để học sinh thấy sự tồn tại hoặc tácdụng của một loạt đối tượng nào đó;

ii)Giáo viên dẫn dắt học sinh phân tích, so sánh và nêu bật những đặc điểmchung của các đối tượng đang được xem xét Có thể đưa ra đối chiếu mộtvài đối tượng không có đủ các đặc điểm đã nêu;

iii) Giáo viên gợi mở để học sinh phát biểu một định nghĩa bằng cáchnêu tên và các đặc điểm đặc trưng của khái niệm

Con đường quy nạp có ưu điểm là thuận lợi cho việc huy động hoạtđộng tích cực của học sinh, góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung và tạocho họ nâng cao tính độc lập trong việc đưa ra định nghĩa Tuy nhiên, conđường này đòi hỏi tốn nhiều thời gian nên không phải bao giờ cũng có điềukiện thực hiện

Con đường quy nạp thường được sử dụng trong điều kiện như sau:

- Chưa phát hiện được một khái niệm loại nào làm điểm xuất phát cho conđường suy diễn

- Đã định hình được một số đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm cầnhình thành, do đó có đủ vật liệu để có thể thực hiện phép quy nạp

b Con đường suy diễn

Một số khái niệm được hình thành theo con đường suy diễn, đi ngayvào định nghĩa khái niệm mới như một trường hợp riêng của một khái niệmnào đó mà học sinh đã được học

Quy trình tiếp cận một khái niệm theo con đường suy diễn được thựchiện theo các bước như sau:

Trang 20

i) Xuất phát từ một khái niệm đã biết, thêm vào nội hàm của khái niệm đó một

số đặc điểm mà ta quan tâm

ii)Phát biểu một định nghĩa bằng cách nêu tên khái niệm mới và định nghĩa nónhờ một khái niệm tổng quát hơn cùng với những đặc điểm để hạn chế một

bộ phận trong khái niệm tổng quát đó

iii) Đưa ra một số ví dụ minh họa cho khái niệm vừa được định nghĩa

Việc định nghĩa hình chữ nhật, hình thoi như những trường hợp riêngcủa hình bình hành, định nghĩa hàm số mũ, hàm số lôgarit và những hàm sốlượng giác như những trường hợp riêng của khái niệm hàm số là những ví dụ

về việc tiếp cận khái niệm theo con đường suy diễn

Con đường suy diễn có ưu điểm là tiết kiệm thời gian và thuận lợi choviệc tập luyện cho học sinh tự học những khái niệm Toán học thông qua sách

và tài liệu, hoặc nghe những báo cáo khoa học trên lĩnh vực Toán học Tuynhiên, con đường này hạn chế về mặt khuyến khích học sinh phát triển nhữngnăng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa vàkhái quát hóa

Con đường này thường được sử dụng khi phát hiện ra một khái niệmloại làm điểm xuất phát cho con đường suy diễn

c Con đường kiến thiết

Quy trình tiếp cận một khái niệm theo con đường kiến thiết thường diễn

ra như sau:

i) Xây dựng một hay nhiều đối tượng đại diện cho khái niệm cần được hìnhthành, hướng vào những yêu cầu tổng quát nhất định xuất phát từ nội bộToán học hay từ thực tiễn

ii)Khái quát hóa quá trình xây dựng những đối tượng đại diện, đi tới đặcđiểm đặc trưng cho khái niệm cần hình thành

iii) Phát biểu định nghĩa đã được gợi ý

Trang 21

1 với a 0 ).

1, do đó

Con đường này mang cả những yếu tố quy nạp lẫn suy diễn Yếu tố suydiễn thể hiện ở chỗ xuất phát từ những yêu cầu tổng quát để xây dựng một haynhiều đối tượng đại diện cho khái niệm cần hình thành Yếu tố quy nạp thểhiện ở chỗ khái quát hóa quá trình xây dựng những đối tượng đại diện riêng lẻ

đi đến đặc điểm tổng quát đặc trưng cho khái niệm cần định nghĩa

Ví dụ ta đi định nghĩa lũy thừa với số mũ nguyên âm (học sinh đã được

ii) Khái quát hóa quá trình xây dựng đối tượng đại diện

Một cách tổng quát, để đảm bảo lũy thừa với số mũ âm cũng có các tínhchất cơ bản của lũy thừa với số mũ tự nhiên, ta cần phải định nghĩa:

Trang 22

trình hình thành khái niệm Tuy nhiên, con đường này nói chung dài, tốnnhiều thời gian.

Trang 23

Con đường kiến thiết thường được sử dụng trong điều kiện sau:

- Chưa định hình được những đối tượng thuộc ngoại diên khái niệm, do đó conđường quy nạp không thích hợp;

- Chưa phát hiện được một khái niệm loại nào làm điểm xuất phát cho conđường suy diễn

1.2.6 Hoạt động củng cố khái niệm

Quá trình hình thành khái niệm chưa kết thúc khi phát biểu được địnhnghĩa khái niệm đó Một khâu rất quan trọng là củng cố khái niệm, khâu nàythường được thực hiện bằng các hoạt động sau đây:

Nhận dạng và thể hiện khái niệm

Hoạt động ngôn ngữ

Khái quát hóa, đặc biệt hóa và hệ thống hóa những khái niệm đã học.Sau đây, ta sẽ đi sâu vào từng hoạt động

a Nhận dạng và thể hiện khái niệm

Nhận dạng và thể hiện khái niệm là hai dạng hoạt động theo chiềuhướng trái ngược nhau, có tác dụng củng cố khái niệm, tạo tiền đề cho việcvận dụng khái niệm

+Ví dụ 1: (nhận dạng khái niệm hình chóp đều) Phải chăng mọi hìnhchóp có đáy là một đa giác đều luôn là một hình chóp đa giác đều?

+Ví dụ 2: (thể hiện một khái niệm hình chóp đều) Cho hình lập phươngABCD.A’B’C’D’, các đường thẳng AC và BD cắt nhau tại O Các đườngthẳng A’C’ và B’D’ cắt nhau tại O’ Hãy vẽ hai hình chóp đều có đáy là hìnhvuông ABCD

Khi tập dượt cho học sinh nhận dạng và thể hiện khái niệm, chúng tacần lưu ý:

Thứ nhất, cần sử dụng cả những đối tượng thuộc ngoại diên lẫn những

đối tượng không thuộc ngoại diên khái niệm đó (phản ví dụ)

Trang 24

Thứ hai, đối với những đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm đang

xét thì cần đưa ra cả những trường hợp đặc biệt của khái niệm đó Việc đưa ranhững trường hợp đặc biệt, trong đó một đối tượng mang những thuộc tínhnổi bật nhưng không phải là thuộc tính bản chất đối với khái niệm đang xétvừa giúp học sinh hiểu biết sâu sắc về đặc trưng của khái niệm, lại vừa rènluyện cho họ khả năng trừu tượng hóa thể hiện ở chỗ biết phân biệt và táchđặc điểm bản chất khỏi những đặc điểm không bản chất

Thứ ba, đối với những đối tượng không thuộc ngoại diên của khái niệm

đang xét, trong trường hợp đặc trưng của khái niệm có cấu trúc hội, các phản

ví dụ thường được xây dựng sao cho chỉ trừ một thành phần trong cấu trúchội, còn các thuộc tính thành phần khác đều được thỏa mãn Sau đây ta đưa ramột ví dụ như sau:

Theo định nghĩa hàm số, tính chất đặc trưng của khái niệm này có thể

được phân tích thành hội của hai điều kiện đơn p1

p2 như sau:

- Điều kiện p1 : Với mỗi số thực x X đều tồn tại số thực tương ứng

y Y (điều kiện tồn tại);

- Điều kiện p2 : Với mỗi số thực x X thì số thực tương ứng y Y là

duy nhất (điều kiện duy nhất)

Trên cơ sở đó, có thể đưa ra hai phản ví dụ sau đây:

Phản ví dụ 1: R

x a (vi phạm điều kiện

Phản ví dụ 2: N

p1 )

n a một ước của n (vi phạm điều kiện p2 )

Thứ tư, trường hợp đặc trưng của khái niệm có cấu trúc hội của hai điều

kiện, cần làm rõ cấu trúc này để học sinh nhận dạng khái niệm đó một cách dễdàng hơn

Trang 25

b Hoạt động ngôn ngữ

Cho học sinh thực hiện những hoạt động ngôn ngữ vừa có tác dụngcủng cố khái niệm lại vừa góp phần phát triển ngôn ngữ cho HS, đây là nhiệm

vụ mà tất cả các bộ môn trong nhà trường đều có trách nhiệm thực hiện:

- Phát biểu lại định nghĩa bằng lời lẽ của mình và biết cách thay đổi phátbiểu, diễn đạt định nghĩa dưới những dạng ngôn ngữ khác nhau;

- Phân tích, nêu bật những ý nghĩa quan trọng chứa đựng trong định nghĩamột cách tường minh hay ẩn tàng

c Khái quát hóa, đặc biệt hóa và hệ thống hóa

Để củng cố khái niệm, thầy giáo có thể thực hiện nhiều hoạt động khácnữa, trước hết là:

- Khái quát hóa, tức là mở rộng khái niệm, chẳng hạn vận tốc tức thời củamột chuyển động tới khái niệm đạo hàm của một hàm số;

- Đặc biệt hóa, ví dụ như xét những hình bình hành đặc biệt với một góc vuông

để được hình chữ nhật hoặc với hai cạnh liên tiếp bằng nhau để được hìnhthoi;

- Hệ thống hóa, chủ yếu là biết sắp khái niệm mới vào hệ thống khái niệm

đã học, nhận biết mối quan hệ giữa các khái niệm khác nhau trong một hệthống khái niệm, đặc biệt chú ý quan hệ chủng - loại giữa hai khái niệm

Trang 26

Aj với ij;

Rộng hơn nữa, việc vận dụng khái niệm để giải quyết những vấn đề nảysinh trong Toán học và trong đời sống không những có tác dụng củng cố kháiniệm mà còn là mục đích sâu xa của việc học tập khái niệm

1.2.7 Dạy học phân chia khái niệm

Khi ta định nghĩa khái niệm, thì nội hàm và ngoại diên của nó được xácđịnh Ngoại diên của khái niệm sẽ được sáng tỏ hơn nữa nhờ sự phân chiakhái niệm Biết phân chia khái niệm là một biểu hiện của việc nắm vững cáckhái niệm Toán học cũng như những khái niệm thuộc bất cứ môn học nào

Ví dụ với việc phân chia khái niệm số phức thành số thực và số ảo rồilại phân chia tiếp tục số thực thành số hữu tỉ và số vô tỉ, học sinh thấy đượcnhiều khía cạnh về ngoại diên của khái niệm số phức đó là: tập hợp số phức

có hai tập con là tập số thực và tập số ảo; hai tập con này không có phần tửnào chung và hợp của chúng choán hết tập số phức; tập hợp số thực đến lượt

nó lại có hai tập con là tập số hữu tỉ và tập số vô tỉ; hai tập con này không cóphần tử nào chung và hợp của chúng choán hết tập số thực

Tuy nhiên trên thực tế, có những học sinh hiểu sai khái niệm hoặc giảiToán sai do phân chia khái niệm sai, chẳng hạn họ coi một hàm số là lẻ bởi vì

nó không phải là hàm số chẵn hoặc kết luận hai đường thẳng nào đó trongkhông gian là song song với nhau chỉ vì chúng không cắt nhau Để học sinhbiết phân chia khái niệm, trước hết chúng ta cần cho họ hiểu đúng thế nào làphân chia khái niệm

Một khái niệm có ngoại diên là A được phân chia thành các khái niệm

có ngoại diên tương ứng A1, A2 , ,

Trang 27

Tập luyện cho học sinh phân chia khái niệm tạo tiền đề cần thiết để biệnluận trong những bài Toán quỹ tích, dựng hình, để chứng minh phản chứng vàgiải nhiều bài Toán khác dựa trên sự phân chia bài toán.

1.3 Tác động của CNTT đối với sự đổi mới PPDH Toán

1.3.1 Thực tiễn việc ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay

Thực tế ở các trường THPT hiện nay đều được trang bị phòng máy,phòng đa năng, nối mạng Internet, tin học được đưa vào giảng dạy chính thứcvới vai trò là một môn học trong suốt ba năm lớp 10, 11, 12 ở trường THPT.Một số trường còn trang bị thêm các thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim,máy quét hình, và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT tương đối tốtcho GV có thể sử dụng thuận tiện vào quá trình dạy học của mình

Hiện nay, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở trường phổ thông mớichỉ là bước khởi đầu, các tiết dạy học có ứng dụng CNTT chưa phổ biến.Thông thường, chỉ những tiết thao giảng hoặc tiết hội thi giáo viên dạy giỏi

Trang 28

các cấp mới có ứng dụng CNTT Nhiều tiết dạy học toán khi ứng dụng CNTTthường dễ lạm dụng, trong đó diễn ra có việc trình chiếu toàn bộ nội dung bàigiảng, nên dẫn tới việc đạt hiệu quả không cao.

Các kiến thức, kỹ năng về CNTT ở một bộ phận giáo viên còn hạn chế,chưa đủ vượt ngưỡng để có thể đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh.Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới dừng lại

ở việc xoá mù tin học nên giáo họ chưa đủ kiến thức, kĩ năng và năng lực để

có thể ứng dụng CNTT Việc nghiên cứu ứng dụng thành tựu của CNTT đểđổi mới PPDH chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó khôngnhiều

Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa xácđịnh hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý cònbất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bịphục vụ cho dạy học như máy chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộnên chưa triển khai rộng khắp Việc kết nối và sử dụng Internet chưa đượcthực hiện triệt để và có chiều sâu, sử dụng không thường xuyên do thiếu kinhphí, do tốc độ đường truyền hạn chế

1.3.2 Tác động của CNTT đối với sự đổi mới PPDH Toán

 CNTT trợ giúp cho GV dạy toán có thể dễ dàng tạo được sự thu hút với HS

và lôi cuốn học sinh một cách mạnh mẽ vào các nhiệm vụ học toán, từ đó làmcho họ có hứng thú hơn và say mê hơn đối với môn Toán:

+ Khai thác mạng máy tính Internet, để chọn ra các hình ảnh trong thực

tế cuộc sống có liên quan tới bài học Đây là phương tiện hiệu quả để cho GV

tổ chức hoạt động gợi động cơ mở đầu trong dạy học toán

+ Tạo ra các hình vẽ, đồ thị có tính chuẩn mực cao, trực quan và hấpdẫn với HS Tạo ra các bảng biểu, sơ đồ, biểu đồ thay thế việc sử dụng bảngphụ của GV

Ngày đăng: 12/05/2018, 11:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w